Về vấn đề này, “Chiến lược phát triển GD 2001- 2010” đã nêu: “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp GD, chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn ngư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ THẢO
TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN PHI KIM
HÓA HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và cán bộ của trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền thụ cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quí báu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Sửu, đã tận
tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Tam Dương, THPT Tam Đảo – tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Hà Nội, tháng 12 năm 2013
PHẠM THỊ THẢO
Trang 3DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
đktc Điều kiện tiêu chuẩn
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Danh mục viết tắt
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.2 Đổi mới phương pháp dạy và học
1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy và học
1.2.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học
1.3 Phương pháp tự học
1.3.1 Khái niệm tự học
1.3.2 Các hình thức của tự học
1.3.3 Chu trình học
1.3.4 Vai trò của tự học
1.3.5 Những khó khăn HS gặp phải khi tiến hành tự học
1.3.6 Những biện pháp để hướng dẫn và quản lí việc tự học của HS
1.3.7 Hệ dạy học: Tự học – Cá thể hóa – Có hướng dẫn
1.4 Năng lực tự học và kĩ năng tự học
1.4.1 Khái niệm năng lực tự học
1.4.2 Thành phần của năng lực tự học
1.4.3 Kĩ năng tự học
1.4.4 Dấu hiệu của năng lực tự học
1.4.5 Một số năng lực học tập hóa học cần bồi dưỡng cho HS THPT
1.4.6 Đánh giá năng lực tự học
1.4.7 Một số yêu cầu HS cần có để tự học tốt
1.5 Những kĩ năng giáo viên cần có để hỗ trợ học sinh tự học môn hóa học
1.5.1 Kĩ năng xây dựng ngân hàng bài tập và soạn thảo chuyên đề
Trang 51.5.2 Kĩ năng tác động tâm lí
1.6 Bài tập hóa học
1.6.1 Khái niệm bài tập hóa học
1.6.2 Phân loại BTHH
1.6.3 Ý nghĩa và tác dụng của BTHH trong dạy học
1.6.4 Hoạt động của học sinh trong quá trình tìm kiếm lời giải cho BTHH
1.7 Tình hình sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học hiện nay ở trường THPT
1.7.1 Mục đích điều tra
1.7.2 Đối tượng, phương pháp điều tra
1.7.3 Kết quả điều tra
Tiểu kết chương 1
Chương 2: TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN PHI KIM HÓA HỌC 10
2.1 Phân tích nội dung và cấu trúc chương trình phần phi kim HH 10
2.1.1 Chương “Nhóm halogen”
2.1.2 Chương “Oxi – Lưu huỳnh”
2.1.3 Những chú ý về PPDH phần phi kim HH 10
2.2 Hệ thống BTHH phần phi kim HH 10 để hỗ trợ HS tự học
2.2.1 Những nguyên tắc lựa chọn xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học
2.2.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập
2.2.3 Nguyên tắc sắp xếp BTHH
2.2.4 Phân loại và phương pháp giải các dạng bài tập phần phi kim HH 10
2.3 Phương pháp sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học hướng dẫn HS tự học
2.3.1 Sử dụng hệ thống bài tập hướng dẫn HS tự học trong các bài dạy nghiên cứu kiến thức mới
2.3.2 Sử dụng hệ thống bài tập hướng dẫn HS tự học trong các bài luyện
5
Trang 62.3.3 Sử dụng hệ thống bài tập có sử dụng hình vẽ rèn kĩ năng thí nghiệm, thực hành. 75
2.3.4 Sử dụng hệ thống bài tập hướng dẫn HS tự kiểm tra, đánh giá 77
2.4 Giáo án bài dạy có sử dụng BTHH hướng dẫn HS tự học 78
Tiểu kết chương 2 85
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 86
3.1 Mục đích thực nghiệm 86
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 86
3.3 Tiến hành TNSP 86
3.3.1 Đối tượng và địa bàn TNSP 86
3.3.2 Tiến hành TN 87
3.4 Kết quả TNSP 88
3.4.1 Kết quả các bài dạy TNSP 88
3.4.2 Xử lý kết quả TNSP 88
3.4.3 Đánh giá khả năng tự học của HS qua bảng kiểm qua sát và tự đánh giá của HS 93
3.5 Phân tích kết quả TNSP 94
3.5.1 Phân tích định tính kết quả TNSP 94
3.5.2 Phân tích định lượng kết quả TNSP 94
3.6 Nhận xét 95
Tiểu kết chương 3 97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98
Kết luận 98
Khuyến nghị 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 102
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Đối tượng và địa bàn TNSP 86
Bảng 3.2 Bài dạy TN và bài kiểm tra đánh giá 87
Bảng 3.3 Kết quả các bài kiểm tra 88
Bảng 3.4 Bảng phân phối tần số các bài kiểm tra 89
Bảng 3.5 Bảng phân phối tần suất các bài kiểm tra 90
Bảng 3.6 Bảng phân phối tần suất lũy tích các bài kiểm tra 90
Bảng 3.7 Số % HS đạt điểm yếu – kém, trung bình, khá và giỏi 92
Bảng 3.8 Bảng giá trị các tham số đặc trưng của lớp TN và ĐC 93
7
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Chu trình học ba thời 8
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức trong chương Nhóm Halogen 26 Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức trong chương Oxi – Lưu huỳnh 28
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 91
Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 91
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 3 91
Hình 3.4 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 4 91
Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích tổng hợp 4 bài kiểm tra 91
Hình 3.6 Biểu đồ hình cột bài kiểm tra số 1 92
Hình 3.7 Biểu đồ hình cột bài kiểm tra số 2 92
Hình 3.8 Biểu đồ hình cột bài kiểm tra số 3. 92
Hình 3.9 Biểu đồ hình cột bài kiểm tra số 4 92
Hình 3.10 Biểu đồ hình cột 4 bài kiểm tra 93
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước đòi hỏi ngành giáo dục (GD)phải “đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD- đào tạo, khắc phục lối truyền thụ mộtchiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học” Để đạt được mục đích
đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng mà nhà trường phải quan tâm là đổi mớiphương pháp dạy học (PPDH) Về vấn đề này, “Chiến lược phát triển GD 2001-
2010” đã nêu: “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp GD, chuyển từ việc truyền
thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh trong quá trình học tập ” Như vậy, để có thể đào tạo người lao động mới, năngđộng và sáng tạo, có năng lực tự học để thích ứng với nền kinh tế hòa nhập của xãhội, chúng ta cần đưa học sinh (HS) vào vị trí chủ thể hoạt động nhận thức, thôngqua hoạt động tự lực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực trítuệ Điều 28, mục 2 của Luật Giáo dục (2005) cũng quy định: “Phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”.
Để bồi dưỡng năng lực tự học, phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sángtạo cho HS trong dạy học hóa học thì việc sử dụng hệ thống bài tập một cách hợp lý
và khoa học là một trong những biện pháp quan trọng để dạy HS phương pháp tựhọc tạo ra được sự chuyển biến tích cực từ học tập thụ động sang học tập chủ độngcho HS Bài tập hóa học (BTHH) ở trường phổ thông có ý nghĩa quan trọng trongviệc củng cố, đào sâu, mở rộng, hoàn thiện kiến thức lí thuyết và rèn luyện cho HSkhả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Giải BTHH đòi hỏi ở HS sự hoạt độngtrí tuệ tích cực, tự lực và sáng tạo nên có tác dụng tốt đối với sự phát triển tư duy và
hỗ trợ HS tự học một cách tích cực
Tuy nhiên, trong dạy học hóa học (HH) ở trường Trung học phổ thông
9
Trang 10(THPT), thì việc sử dụng BTHH để hỗ trợ HS tự học một cách hiệu quả chưa đượcgiáo viên (GV) quan tâm đúng mức.
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều sách viết về BTHH, trên mạng internetcũng xuất hiện nhiều trang web, nhiều website cung cấp các bài tập để phục vụ choviệc học của HS và việc dạy của GV Đây là thuận lợi, đồng thời cũng là khó khănkhông nhỏ đối với các HS mà sức học còn non yếu, vì các em sẽ thấy choáng ngợptrước cả “núi” bài tập đồ sộ và “hỗn độn” đó Do vậy, việc tuyển chọn các bài tậpsao cho phù hợp với nhiều đối tượng HS, phân loại bài tập theo từng dạng, đưa racác phương pháp giải bài cụ thể để hướng dẫn HS có thể dễ dàng luyện tập, hỗ trợ
HS tự học nhằm góp phần rèn luyện và phát huy tính tích cực, tự lực của HS đang làvấn đề hết sức cần thiết
Với những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài : ”Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học phần phi kim hóa học 10 Trung học phổ thông” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2 Mục đích nghiên cứu
Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học trong dạyhọc phần phi kim HH 10-THPT góp phần nâng cao chất lượng dạy học HH ở trườngTHPT
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề tự học và hướng dẫn HS tự học thông qua việc sử dụng hệ thống BTHH
Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập phần phi kim HH 10 chương trình cơbản trường THPT có tác dụng hỗ trợ HS tự học
Hướng dẫn HS sử dụng hệ thống bài tập đã xây dựng trong quá trình tự học một cách hợp lí, hiệu quả trong các dạng do bài dạy HH
Thực nghiệm sư phạm (TNSP) để đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập đãxây dựng và các biện pháp đã đề xuất, từ đó rút ra kết luận về khả năng áp dụngchúng trong việc hỗ trợ HS tự học HH
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu : Quá trình dạy học HH ở trường THPT
- Đối tượng nghiên cứu : Việc tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ
Trang 11trợ HS tự học phần phi kim HH 10 trường THPT
5 Vấn đề nghiên cứu
"Tuyển chọn, xây dựng và hướng dẫn HS sử dụng hệ thống bài tập phần phikim HH 10 như thế nào để hỗ trợ HS tự học, góp phần nâng cao được chất lượngdạy học HH ở trường THPT?”
6 Giả thuyết khoa học
Nếu tuyển chọn, xây dựng được hệ thống bài tập HH đa dạng, phong phú vàhướng dẫn sử dụng chúng một cách cụ thể, hợp lí trong dạy học thì sẽ có tác dụngtốt cho việc hỗ trợ HS tự học và góp phần nâng cao được chất lượng dạy học HH ởtrường THPT
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung tuyển chọn, xây dựng và phương pháp sử dụng hệ thống bàitập hỗ trợ HS tự học phần phi kim HH 10 Việc TNSP trong năm học 2012 – 2013,được tiến hành ở 2 trường:
+ Trường THPT Tam Đảo, Vĩnh Phúc
+ Trường THPT Tam Dương, Vĩnh Phúc
- Khảo sát và sử dụng các số liệu năm 2013
8 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
9 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Trang 13- Đọc và nghiên cứu các nguồn tài liệu lí luận dạy học có liên quan đến đề tài.
- Phân tích và tổng hợp các tài liệu đã thu thập được
- Điều tra GV và HS bằng các phiếu câu hỏi
- Trao đổi với chuyên gia và đồng nghiệp
- TNSP đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi của hệ thống bài tập và các biện pháp đã đề xuất để hỗ trợ HS tự học phần phi kim HH 10 trường THPT
Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu TNSP
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học phần phi kim HH 10
Chương 3:Thực nghiệm sư phạm
12
Trang 14Đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành HHnghiên cứu về vấn đề sử dụng hệ thống BTHH ở trường THPT ở các khía cạnh, mứcđộ khác nhau như :
1. Cao Thị Thặng (1995), Hình thành kỹ năng giải bài tập hoá học ở trường phổ
thông trung học cơ sở, Luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội.
2.Lê Văn Dũng (2001), Phát triển tư duy cho HS thông qua BTHH, Luận án tiến sĩ.
ĐHSP Hà Nội
3. Vũ Anh Tuấn (2003), Xây dựng hệ thống BTHH nhằm rèn luyện tư duy trong
việc bồi dưỡng HS giỏi hóa học ở trường THPT, Luận án tiến sĩ ĐHSP Hà Nội.
4. Đặng Thị Thanh Bình (2006), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống BTHH bồi
dưỡng HS khá giỏi lớp 10 THPT (ban nâng cao), Luận văn thạc sỹ khoa học, ĐHSP
Hà Nội
5.Đỗ Mai Luận (2006), Phát triển năng lực tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo của
HS qua BTHH vô cơ lớp 11- Ban Khoa học tự nhiên, Luận văn thạc sỹ khoa học,
6. Lê Thị Kim Thoa (2009), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống BTHH gắn với thực
tiễn dùng trong dạy học hóa học ở trường THPT, Luận văn thạc sỹ khoa học, ĐHSP
TpHCM và một số Luận văn thạc sỹ khác
Tuy nhiên việc nghiên cứu sử dụng hệ thống BTHH phần phi kim lớp 10 ở các trường THPT nhằm hỗ trợ HS tự học vẫn chưa được quan tâm đúng mức
Trang 151.2 Đổi mới phương pháp dạy và học [7]
1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy và học
Sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế xã hội chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tậptrung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Sự thay đổi này đòi hỏingành GD cần có những đổi mới nhất định để đáp ứng được yêu cầu nguồn nhânlực cho một xã hội phát triển Sự phát triển mạnh của công nghệ thông tin và khoahọc đang làm thay đổi xã hội Sự thay đổi này đòi hỏi phải xây dựng một xã hội trithức, xã hội học tập Với yêu cầu mới này đòi hỏi ngành GD phải đào tạo nguồnnhân lực theo hướng phát triển năng lực: nhận thức, tư duy, phát hiện và giải quyếtvấn đề, thích ứng, hợp tác, tự học và khả năng tự học suốt đời
Thực trạng GD hiện nay: Chưa chú trọng bỗi dưỡng năng lực cho HS, đặc biệt
là năng lực tự học Chủ yếu là HS học thụ động, học để thi cử vào đại học và cănbệnh thành tích, do đó chỉ chú trọng kĩ năng làm bài Với các yếu tố trên đỏi hỏingành GD nước ta phải đổi mới căn bản và hoàn thiện
1.2.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học
Việc đổi mới PPDH trên thế giới và ở nước ta hiện nay thực hiện theo các xu hướng sau:
1 Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học Chuyển trọngtâm hoạt động từ GV sang HS Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang sáng tạo,tìm tòi, khám phá
2 Cá thể hóa việc dạy học
3.Sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tinvào dạy học
4.Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống Chuyển từ lối học nặng
về tiếp nhận kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức
5 Cải tiến việc kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học
6 Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời
7 Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của HS, theo cấp học, bậc học)
Trong 7 xu hướng đổi mới trên thì việc phát huy tính tích cực và khả năng tựhọc của HS đang là những xu hướng đổi mới quan trọng về phương pháp dạy và họchiện nay
14
Trang 161.3 Phương pháp tự học [11], [15], [24]
1.3.1 Khái niệm tự học
Theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách khoa 2001 tự học là: “…quá
trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thựchành…”
Tiến sĩ Võ Quang Phúc cho rằng: “Tự học là một bộ phận của học, nó cũng
được hình thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người họctrong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầubức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người học,phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quảnhất định trong hoàn cảnh nhất định với nồng độ học tập nhất định”
Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, ngheradio, xem truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham gia giao tiếp với mọi người
để thu nhận tri thức cho mình Người tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ranhững điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cáchghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từđiển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện, … Đối với HS, tự họccòn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, các câu lạc bộ, các nhómthực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập,
tự chủ, tự giác và kiên trì cao
1.3.2 Các hình thức của tự học
Tự học có các hình thức cơ bản sau:
- Tự học hoàn toàn (không có GV): HS tự học thông qua tài liệu, qua tìm hiều thực
tế, học kinh nghiệm của người khác Với hình thức này HS sẽ gặp nhiều khó khăn
do có nhiều lỗ hổng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, không tự đánh giá được kếtquả tự học của mình… Từ đó, HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học
- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: HS tự học lại bài học hay làmbài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổthông Để giúp học sinh có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giákết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ
- Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảng giải,minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận
Trang 17được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức tự học này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình.
-Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựngkiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu,
bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo phần mềm máy tính) Songnếu chỉ dùng tài liệu tự học, HS cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai
- Tự lực hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV ở lớp: Với hình thứcnày cũng đem lại kết quả nhất định Song nếu HS vẫn dùng sách giáo khoa (SGK)hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp phải một số khó khăn khi tiến hành tự học vìthiếu sự hướng dẫn về phương pháp học
Như vậy, mỗi hình thức tự học đều có những mặt ưu điểm và nhược điểm nhấtđịnh Nhằm khắc phục những nhược điểm của các hình thức tự học đã có này và xétđặc điểm của HS THPT chúng tôi thấy cần chú ý đến hình thức hướng dẫn HS tựhọc theo hệ thống bài tập có hướng dẫn và có sự giúp đỡ trực tiếp một phần của GVgọi tắt là “tự học có hướng dẫn qua BTHH”
1.3.3 Chu trình học [23]
Theo Nguyễn Kỳ “Chu trình học là chu trình chủ thể tìm hiểu, xử lý, giải quyết vấn đề hay vật cản của một tình huống học với sự hợp tác của tác nhân và sự
hỗ trợ của môi trường sư phạm” Chu trình học diễn biến theo ba thời : Tự nghiên
cứu (I), Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy (II), Tự kiểm tra, tự điều chỉnh (III)
Hình 1.1 Chu trình học ba thời
Thời (I): Tự nghiên cứu
Trước một tình huống học, chủ thể bắt đầu thấy có nhu cầu hay hứng thú tìm
hiểu, nhận biết vấn đề của tình huống học : Đây là vấn đề gì? Có ý nghĩa ra sao? Có
16
Trang 18thể giải quyết theo hướng nào ? Từ chỗ nhận biết vấn đề, chủ thể tiến hành thu nhận
thông tin có liên quan đến vấn đề đó, xử lý thông tin, xây dựng các giải pháp, thử
nghiệm giải pháp, kết quả, đưa ra kết luận và giải quyết vấn đề Chủ thể ghi lại kết quả “tự nghiên cứu” của thời (I) thành sản phẩm học cá nhân ban đầu.
Sản phẩm này có thể mang tính chủ quan, phiến diện, thiếu khoa học Bằng con đường nào để làm cho sản phẩm ban đầu trở thành khách quan, khoa học thật sự? Đó là con đường người học tự thể hiện mình để hợp tác với các bạn và thầy trong cộng đồng lớp học Đó là các hoạt động học ở thời (II) của chu trình học Thời
(II) : Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy
Qua thời (I), chủ thể đã tự thể hiện mình bằng cách tự đặt mình vào tình
huống, bằng sắm vai, bằng văn bản của sản phẩm học ban đầu Người học tiếp tục
tự thể hiện để hợp tác với các bạn và thầy bằng cách tự trình bày và bảo vệ sản phẩm học của mình, hỏi bạn và thầy về những điều mà không tự trả lời được, tỏ rõ thái độ của mình trước chủ kiến của bạn; tham gia tranh luận Tranh luận có trọng
tài, có kết luận của thầy Tranh luận và kết luận của thầy sẽ giúp chủ thể bổ sung vàosản phẩm ban đầu của mình thành một sản phẩm khách quan, có tính hợp tác, xã hội
thông qua việc “tự kiểm tra, tự điều chỉnh” ở thời (III) Thời (III) : Tự kiểm tra, tự
điều chỉnh
Thảo luận ở cộng đồng lớp và kết luận của thầy đã cung cấp thông tin phản hồi
về sản phẩm học ban đầu của chủ thể Đó là cơ sở để người học so sánh, đối chiếu,
tự kiểm tra lại sản phẩm học, tự đánh giá, tự phê bình và cuối cùng tổng hợp, chốt lại vấn đề rồi tự sửa sai, điều chỉnh, hoàn chỉnh thành sản phẩm khoa học, và tự rút
kinh nghiệm về cách học, cách tư duy, cách giải quyết vấn đề của mình, sẵn sàng
bước vào một tình huống học mới
Chu trình học ba thời “Tự nghiên cứu – Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy –
Tự kiểm tra, tự điều chỉnh” – thực chất cũng chính là con đường “Nhận biết, pháthiện vấn đề, định hướng giải quyết và giải quyết vấn đề” của việc nghiên cứu khoahọc ở tầm vóc và trình độ của người học, dẫn dắt người học đến tri thức khoa học,
đến chân lý mới (đối với người học) và chỉ có thể diễn ra dưới sự hướng dẫn của
thầy.
Ngay tự thời (I), thầy đã hướng dẫn người học cách tự nghiên cứu như giới
thiệu vấn đề (ý nghĩa, mục tiêu, định hướng), hướng dẫn cách thu nhận, xử lý thông
Trang 19tin, cách giải quyết vấn đề và tạo điều kiện thuận lợi cần thiết để trò có thể tự
nghiên cứu, tự tìm ra kiến thức
Ở thời (II), thầy là người tổ chức cách học hợp tác hai chiều đối thoại trò – trò,
trò – thầy, như giúp đỡ cá nhân trình bày, bảo vệ sản phẩm học, tổ chức thảo luận ởcộng đồng lớp học, lái cuộc tranh luận theo đúng mục tiêu Cuối cùng thầy là người
trọng tài kết luận về những gì người học đã tự tìm ra và tranh luận thành tri thức
khoa học
Ở thời (III), thầy là người cố vấn cho trò tự kiểm tra, tự điều chỉnh như cung
cấp thông tin liên hệ ngược về sản phẩm học (kết luận, đánh giá, cho điểm, …),giúp đỡ trò tự đánh giá, tự sửa sai, tự rút kinh nghiệm về cách học
Chu trình học ba thời không có ranh giới rạch ròi, máy móc, tách rời nhau, mà
có thể đan xen, hoà nhập lẫn nhau và có thể biến động theo hoàn cảnh người học.Thời chỉ có nghĩa là vào lúc đó, nổi bật lên vai trò của cá nhân người học, của lớp
hay của thầy Điều cốt yếu là cả ba thời đều diễn ra trên cái nền chung là hành
động học, tự học, tự nghiên cứu, tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của chủ thể, dưới sự hướng dẫn hợp lý của GV Ba thời cũng có thể xem như là ba cách học
tổng quát: cách tự nghiên cứu, cách học hợp tác, cách tự kiểm tra, tự điều chỉnh.Chu trình học ba thời được phát triển theo con đường xoắn ốc nhiều tầng từ tựhọc đến học hợp tác tự điều chỉnh rồi trở lại tự học để dần dần kiến tạo cho bản thânchủ thể trình độ nhận thức và năng lực tự học, tự nghiên cứu, năng lực tư duy, nănglực phát hiện và giải quyết vấn đề
Như vậy, chu trình học là “cuộc hành trình nội tại” phát triển bền vững ở mỗingười học năng lực tự học và thói quen tự học suốt đời “để hiểu”, “để làm”, “để hợptác cùng chung sống” và “để làm người” lao động tự chủ, năng động và sáng tạocủa thế kỷ XXI
1.3.4 Vai trò của tự học
Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượngkiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường Nó giúp khắc phục nghịch lý :học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn
Tự học là giúp tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người bởi lẽ nó là kết quả của
sự hứng thú, sự tìm tòi, nghiên cứu và lựa chọn Có phương pháp tự học tốt sẽ đemlại kết quả học tập cao hơn, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở HS và
18
Trang 20biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.
Tự học của HS THPT còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáodục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông Đổi mớiPPDH theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Vì vậy, tự họcchính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biệnpháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông
Theo phương châm học suốt đời thì việc “tự học” lại càng có ý nghĩa đặc biệtquan trọng đối với HS THPT Vì nếu không có khả năng và phương pháp tự học, tựnghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như đại học, cao đẳng, … HS sẽ khóthích ứng để thu được một kết quả học tập tốt Hơn thế nữa, nếu không có khả năng
tự học thì chúng ta không thể đáp ứng được phương châm “Học suốt đời” mà Hộiđồng quốc tế về giáo dục đã đề ra vào tháng 4 năm 1996
1.3.5 Những khó khăn HS gặp phải khi tiến hành tự học
Khi tiến hành tự học, HS sẽ gặp những khó khăn nhất định như:
- Khó khăn khách quan: Xa GV, xa bạn, phải tự giải quyết việc học …
- Khó khăn chủ quan: tâm lý thiếu tự tin, dễ nản chí khi gặp bế tắc và chưa có kĩ năng tự học như:
+ Sưu tầm tài liệu và phân loại tài liệu học tập
+ Nghiên cứu, phân tích tư liệu thu được
+ Khả năng khắc phục khó khăn khi không có sự giúp
đỡ + Tự kiểm soát và quản lý quá trình học
+ Đánh giá kết quả và hiệu quả tự học
1.3.6 Những biện pháp để hướng dẫn và quản lí việc tự học của HS
1.3.6.1 Thiết kế các tài liệu, bài tập tự học cho HS
Các bài tập tự học chứa nội dung học tập mà HS phải tự hoàn thành Đồngthời nó là bản chỉ dẫn cách học cho HS, là bản cam kết và là hồ sơ để GV đánh giákết quả tự học Vì vậy, việc biên soạn tài liệu tự học có ý nghĩa quan trọng trongviệc hướng dẫn tự học
Khi soạn thảo bài tập tự học, GV cần lựa chọn và quyết định nội dung tự học.Thông thường các nội dung được lựa chọn là những vấn đề cơ bản, đơn giản, mangtính thực tiễn cao, có nhiều nguồn tài liệu để HS tham khảo Phân tích nội dung đã
Trang 21được lựa chọn thành những đơn vị kiến thức nhỏ và theo các mục rõ ràng để dễthiết lập các bài tập và HS dễ soạn đề cương Các bài tập tự học có thể được soạntheo hai dạng: bài tập theo bài học và bài tập theo chủ đề.
+Bài tập theo bài học là các bài tập được soạn thảo chi tiết, cụ thể và thường bámsát nội dung của SGK Bài tập được cấu trúc theo hệ thống phù hợp với hệ thống trithức đã có của HS
+Bài tập theo chủ đề thường dùng để ôn tập, các bài tập được soạn theo chủ đề và thường có đề cương ôn tập kèm theo
Độ khó của các bài tập cũng là vấn đề cần quan tâm Độ khó chủ yếu củangười tự học là không có người trợ giúp khi bế tắc Vì vậy, bài tập đưa ra không nênkhó quá, thường ở mức trung bình, có nâng cao (cần chỉ rõ đây là bài tập nâng cao)
và kèm theo gợi ý, hướng dẫn ngắn gọn Để tránh sự sao chép, các bài làm (cácphiếu giải) nên yêu cầu HS viết tay, không nên đánh máy
1.3.6.2 Giám sát quá trình tự học
Đặc điểm của phương pháp tự học là không đánh giá quá trình học tập Điềunày gây khó khăn không nhỏ cho cả người học, người dạy trong việc kiểm soát quátrình học tập, đánh giá sự tiến bộ của việc học Để khắc phục, có thể thực hiện:
- Cho các bài tập tự kiểm tra để HS tự đánh giá tiến bộ và mức độ hiểu biết của mình và GV nên yêu cầu HS nộp lại bài làm
- Cho đáp án các câu hỏi ghi trên phiếu học tập để HS có thể tự kiểm tra đánh giá mình với người khác
- Cung cấp các bài mẫu và cách giải tối ưu, sau khi HS đã hoàn thành phiếu học tập, HS có thể dùng để tự đánh giá
- Khuyến khích HS tìm bài tập để tự kiểm tra có trong tài liệu giáo khoa GV nên yêu cầu HS nộp lại bài làm
- Yêu cầu HS phát biểu tự đánh giá về quá trình và hiệu quả tự học
- Cho HS đóng vai trò người GV để nâng cao trách nhiệm đối với bạn cùng học …
1.3.6.3 Hướng dẫn nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu quyết định một phần rất lớn chất lượng tự học Vì vậy, người
GV nên lập danh mục các loại tài liệu học tập cho HS Nếu cần, chỉ rõ tài liệu nào làbắt buộc, tài liệu nào là tham khảo Đối với tài liệu bắt buộc nên chỉ rõ số trang kèmtheo bài hỏi
20
Trang 22Sưu tầm và phân loại tài liệu cũng là một trong những kĩ năng cần được hìnhthành trong hoạt động tự học của HS.
1.3.6.4 Đánh giá việc tự học
Hình thức đánh giá phổ biến là làm bài thi ngay sau khi kết thúc các bài tập tựhọc Việc đánh giá cần phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của từng lớp học Bài thi cho
HS thường có 2 mức độ: thấp và cao
Mức độ thấp là bài thi tự cho điểm, còn bài thi có mức độ cao là bài thi giốngnhư bài thi thông thường Khi có những HS không đạt yêu cầu, GV cần dành thờigian và bài tập tự học để HS củng cố Không nên lặp lại những bài tập đã giao
1.3.7 Hệ dạy học: Tự học – Cá thể hóa – Có hướng dẫn
Hệ dạy học lớp bài gồm nhiều hình thức cụ thể chia ra các dạng cơ bản như:
- Dạy học trên lớp (bài học, tự học, các hình thức khác)
- Hệ dạy học: tự học – cá thể hóa – có hướng dẫn.
- Dạy học kĩ thuật tổng hợp – hướng nghiệp
- Hoạt động ngoài lớp, ngoài trường, tự chọn
Trong các hình thức trên, hệ dạy học “Tự học – cá thể hóa – có hướng dẫn” làhình thức dạy học hiện đại Xuất hiện vào năm 1968 do F.S.Killer và J.G.Sherman thiết kế và đã được hoàn thiện dần trong thời gian gần đây
Hệ dạy học “Tự học – cá thể hóa – có hướng dẫn” có những đặc trưng sau:
- Việc học được cá thể hóa cao độ, tức là tự học – cá thể hóa, tôn trọng nhịp độ cá nhân phù hợp với năng lực từng người
- Việc học được khách quan hóa tối đa Nghĩa là: Quan hệ giao tiếp dạy và học,những mệnh lệnh điều khiển của dạy (kể cả kiểm tra) đều được chuyển hóa thànhngôn ngữ viết và được đưa vào tài liệu giáo khoa tự học của HS để họ chấp hành,đây chính là mặt “có hướng dẫn’ chủ yếu của tự học
- Diễn giảng không còn giữ vai trò là nguồn thông tin xuất phát nữa, mà trở thànhnguồn gây động cơ nhận thức khoa học: Giải đáp thắc mắc, tổng kết tư tưởng khoahọc, kích thích tư duy mới tạo nhu cầu chiếm lĩnh chân lí mới, kiến thức mới
- Tài liệu giáo khoa (giáo trình) được chia thành những học phần theo đơn vị kiến thức HS phải chiếm lĩnh đơn vị trước mới được đi vào đơn vị tiếp theo
- Mục tiêu dạy học được được diễn đạt một cách cụ thể, tường minh và có tính đo
Trang 23lường dưới những chuẩn mực về kiến thức, kĩ năng Và việc đánh giá tổng hợp kết quả học tập được thực hiện theo hệ tín chỉ.
- Sử dụng những PPDH và phương tiện kỹ thuật hiện đại bên trong hoặc đồng thờivới tài liệu giáo khoa modun hóa Chẳng hạn, tài liệu giáo khoa tự học có hướngdẫn kèm theo băng (Audio – Tutorial Work book)
1.4 Năng lực tự học và kĩ năng tự học [15], [23]
1.4.1 Khái niệm năng lực tự học
Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức, vận dụng kiến thứcvào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao Năng lực tự học là năng lựcquan trọng vì tự học là chìa khóa tiến vào thế kỉ với quan niệm học suốt đời, xã hộihọc tập Có năng lực tự học mới có thể học suốt đời được
1.4.2 Thành phần của năng lực tự học
Năng lực tự học bao gồm:
Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề đòi hỏi HS phải nhận biết,hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều gócđộ, có hệ thống trên cơ sở những lí luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện racác khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổsung; các bế tắc, nghịch lý cẩn phải khai thông khám phá, làm sáng tỏ…
Năng lực giải quyết vấn đề
Bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập
kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lý thông tin; đềxuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận
Năng lực xác định các kết luận đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giải pháp, biện pháp …) từ quá trình giải quyết vấn đề
Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hìnhthành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết) Trên thực tế córất nhiều trường hợp được đề cập đến trong lúc giải quyết vấn đề, nên HS có thể đichệch hướng vấn đề đang giải quyết hoặc lạc với mục tiêu đề ra ban đầu Vì vậyhướng dẫn cho HS kĩ thuật kết luận đúng không kém phần quan trọng so với kĩthuật phát hiện và giải quyết vấn đề Các quyết định phải dựa trên logic của quátrình giải quyết vấn đề và nhắm đúng mục tiêu
22
Trang 24Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn (vào nhận thức kiến thức mới) Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thực hiện ở chính ngay trongthực tiễn cuộc sống, hoặc là HS vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạothực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có, nghiên cứu, khám phá,thu thập thêm kiến thức mới.
Năng lực đánh giá và tự đánh giá
Dạy học đề cao vai trò tự chủ của HS (hay tập trung vào người học), đòi hỏiphải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích (thậm trí bắt buộc) HS đánh giá và tựđánh giá mình Chỉ có như vậy, họ mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luônluôn tìm tòi sáng tạo, tìm ra cái mới, cái có hiệu quả hơn
1.4.3 Kĩ năng tự học
Các kĩ năng về tự học bao gồm:
- Biết đọc, nghiên cứu giáo trình và tài liệu học tập, chọn ra những tri thức cơ bản, chủ yếu, sắp xếp, hệ thống hóa theo trình tự hợp lý, khoa học
- Biết và phát huy những thuận lợi, hạn chế những mặt còn non yếu của bản thân trong quá trình học ở lớp, ở nhà, ở thư viện, ở phòng thí nghiệm, ở cơ sở thực tế …
- Biết vận dụng các lợi thế, khắc phục các khó khăn, thích nghi với điều kiện học tập (cơ sở vật chất, phương tiện học tập, thời gian học tập …)
- Biết sử dụng linh hoạt các hình thức và phương pháp học tập cho phép đạt hiệu quả học tập cao
- Biết xây dựng kế hoạch học tập trong tuần, tháng, học kì, cả năm, cả khóa học
- Biết và sử dụng có hiệu quả các kĩ thuật đọc sách, nghe giảng trao đổi, thảo luận, tranh luận, xây dựng đề cương, viết báo cáo, thu thập, xử lý thông tin
- Biết sử dụng các phương tiện học tập, đặc biệt là phương tiện nghe nhìn và công nghệ thông tin
- Biết lắng nghe và thông tin tri thức, giải thích tài liệu cho người khác
- Biết phân tích, đánh giá và sử dụng thông tin
- Biết kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của bản thân và bạn học
- Biết vận dụng thực hành, tham gia nghiên cứu, TN, ứng dụng
1.4.4 Dấu hiệu của năng lực tự học
Năng lực tự học được biểu hiện thông qua các dấu hiệu sau:
Trang 25- Có khả năng tự mình tìm tòi nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự nhưng chất lượng cao hơn.
- Không rập khuôn máy móc mà phải luôn thích ứng với các tình huống mới
- Tái hiện kiến thức và thiết lập những mối quan hệ bản chất một cách nhanhchóng
- Vận dụng kiến thức để giải quyết tốt những bài toán thực tế: định hướng nhanh,biết phân tích, suy đoán và vận dụng các thao tác tư duy để tìm tòi cách tư duy đểtìm cách tối ưu và thực hiện có hiệu quả
1.4.5 Một số năng lực học tập hóa học cần bồi dưỡng cho HS THPT
Để học giỏi HH, HS phổ thông cần có kiến thức HH cơ bản vững vàng, sâusắc và hệ thống Bên cạnh đó, không thể thiếu năng lực tư duy sáng tạo, kĩ năngthực hành tốt và phương pháp nghiên cứu khoa học Tất cả những điểm đó thể hiện
ở một số năng lực sau:
1 Năng lực tiếp thu kiến thức: là khả năng nhận thức vấn đề nhanh, có hứng thú, nhất là với những vấn đề mới
2.Năng lực suy luận logic: là khả năng phân tích sự vật, hiện tượng, vấn đề qua cácdấu hiệu đặc trưng của chúng, biết thay đổi góc nhìn, xét đủ các điều kiện và cònbiết quay lại điểm xuất phát để tìm đường đi mới
3 Năng lực lao động sáng tạo: Là khả năng tổng hợp các yếu tố, các thao tác đểthiết kế một dãy các hoạt động nhằm đạt kết quả theo nhiều chiều khác nhau, để tìm
ra con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất Biết vận dụng linh hoạt, mềm dẻo nhữngkiến thức cơ bản, hướng nhận thức đó vào tình huống mới không theo đường mòn
4.Năng lực kiểm chứng: là khả năng biết suy xét đúng – sai từ một loạt sự kiện, tạo
ra các sự tương phản để khẳng định hoặc bác bỏ một vấn đề nào đó, biết rút ra kếtluận sau kiểm nghiệm
5 Năng lực thực hành: HH là môn khoa học TN nên HS cần có khả năng về TN,tiến hành thí nghiệm HH; biết sử dụng thành thạo hệ thống kí hiệu, quy ước, trật tựHH; biết thực hiện các thao tác khi làm thí nghiệm, kiên trì với quá trình thí nghiệmnhằm làm sáng tỏ vấn đề lý thuyết qua TN
Trang 26Đánh giá qua quan sát là thông qua quan sát mà đánh giá thao tác, động cơ,các hành vi, kĩ năng thực hành và kĩ năng nhận thức, chẳng hạn như cách giải quyếtvấn đề trong một tình huống cụ thể.
Để đánh giá năng lực tự học, GV yêu cầu HS tự nghiên cứu một nội dung họctập, HS có thể làm việc độc lập theo nhóm GV có thể quan sát để đánh giá các nănglực và kĩ năng tự học của từng HS trong một nhóm và khả năng hợp tác với cácthành viên trong nhóm
b Đánh giá qua hồ sơ học tập của HS
GV yêu cầu HS về nhà tự học một nội dung học tập với các yêu cầu cụ thể
HS ghi chép lại các kết quả thu thập được trong quá trình tự học của mình vào vởghi chép, GV kiểm tra qua vở ghi Qua đó, GV cũng có đánh giá được kĩ năng vàmột phần hiệu quả tự học của mỗi HS
c Đánh giá đồng đẳng
Trong đó các nhóm HS cùng độ tuổi hoặc cùng lớp sẽ đánh giá công việc lẫnnhau Phương pháp có thể dùng để hỗ trợ cho HS trong quá trình học nhưng chủ yếuđược để hỗ trợ HS trong quá trình học Việc đánh giá đồng đẳng thực hiện qua trìnhbày, bài làm, kết quả phiếu học tập
d Đánh giá qua bài kiểm tra
Bài kiểm tra dưới một số hình thức như: Kiểm tra miệng; Kiểm tra viết qua bàikiểm tra tự luận và trắc nghiệm trong đó tự luận là chủ yếu
e Phương pháp tự đánh giá
GV yêu cầu HS tự đánh giá về các năng lực, kĩ năng tự học của mình sau mộtthời gian tự học qua phiếu điều tra
1.4.7 Một số yêu cầu HS cần có để tự học tốt
Để tự học tốt, HS cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
- Về tư tưởng cần xác định việc học là nhiệm vụ của người HS và không ai có thểthay thế được Để học tốt môn hóa nói riêng và các môn khác nói chung, điều đầutiên phải là sự nỗ lực của bản thân người học, phải tích cực học tập, mong muốn họcgiỏi, học giỏi hôm nay gắn liền với sự thành đạt trong cuộc sống tương lai
- Luôn luôn tìm phương pháp học tập tốt nhất cho mình Đồng thời có ý chí quyếttâm cao độ, thoát khỏi những tình trạng bị động, khắc phục chướng ngại nhận thức,đây là yếu tố cơ bản làm cho năng lực tự học, tự tìm tòi cái mới được nâng lên
Trang 27- HS phải học bằng chính sức của mình, nghĩ bằng cái đầu của mình, nói bằng lời nói của mình và viết theo ý của mình không dập khuôn theo từng câu chữ của GV.
- Mạnh dạn nêu thắc mắc và đặt câu hỏi khi không hiểu bài
- Không dừng lại ở việc tìm ra đáp số của bài tập mà phải biết rút ra những điều bổích cho mình thông qua việc xây dựng tiến trình luận giải, luôn luôn suy nghĩ tìm racách giải hay hơn nữa và phải biết nghiền ngẫm để hiểu sâu sắc từng vấn đề bài toánđưa ra, trong nhiều trường hợp hãy thay đổi một vài dữ kiện của bài toán để xem bàitoán sẽ đi theo hướng nào và tìm cách giải quyết một cách khoa học,
- Phải thường xuyên dành thời gian cho việc ôn tập, hệ thống hóa kiến thức đã học
để thấy được sự logic đồng thời tạo điều kiện để hiểu sâu các kiến thức đã học hơnnữa Chỉ khi HS hiểu được kiến thức một cách sâu sắc thì mới vận dụng kiến thứcmột cách linh hoạt, mềm dẻo và giải quyết được các vấn đề mà bài toán đặt ra.Như vậy, để có thể tự học tốt người HS phải chủ động, tích cực, độc lập suynghĩ để thông hiểu sâu sắc kiến thức, biến kiến thức lĩnh hội được từ nhiều nguồnkhác nhau thành kiến thức của mình và vận dụng nó một cách linh hoạt, sáng tạo
1.5 Những kĩ năng GV cần có để hỗ trợ HS tự học môn HH
Ngoài các kĩ năng như kĩ năng trình bày, diễn đạt, thiết kế giáo án, sử dụngthành thạo các phương tiện dạy học, … thì trong việc sử dụng BTHH hỗ trợ họcsinh tự học môn HH, GV cần chú trọng đến các kĩ năng sau đây :
1.5.1 Kĩ năng xây dựng ngân hàng bài tập và soạn thảo chuyên đề
1.5.1.1 Xây dựng ngân hàng bài tập
Ngân hàng bài tập : Kho lưu trữ các hệ thống bài tập theo chủ đề.
Hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học phải đáp ứng được các yêu cầu :
-Phù hợp với trình độ của HS và đáp ứng nội dung kiểm tra, thi cử ở từng lớp, từng cấp (trường, tỉnh, thành phố, quốc gia)
- Phát huy được trí thông minh, sáng tạo, tính tích cực chủ động của người học
- Rèn luyện các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa…).
- Kích thích sự ham học, say mê tìm tòi của HS đối với môn HH.
Cách soạn thảo bài tập: GV có thể tự xây dựng bài tập hoặc sưu tầm các dạng bài
tập từ các nguồn khác nhau (SGK, SBT, các sách tham khảo, internet, …) Đồng
26
Trang 28thời cũng có thể kết hợp sưu tầm và biến đổi bài tập cho phù hợp với mục đích của
GV và trình độ nhận thức của HS
Cập nhật bài tập mới, sưu tầm cách giải hay
- Liên tục sưu tầm và cập nhật những tư liệu, bài tập mới nhất có liên quan đến
HH, về các chất HH được sử dụng cho đời sống của con người và phát triển côngnghiệp, nông nghiệp thông qua các tài liệu nghiên cứu về lý luận đổi mới PPDH
- Từ thực tế dạy học, các cách giải hay, bài tập mới lạ từ HS, đồng nghiệp cũng cần được thu thập đưa vào ngân hàng bài tập
1.5.1.2 Soạn thảo một chuyên đề hướng dẫn HS tự học
Chuyên đề hướng dẫn HS tự học bao gồm: nội dung kiến thức cơ bản và pháttriển của một bài, một chương, một lớp và HTBT vận dụng với cơ sở lí thuyết đó
Để giúp HS đi sâu vào kiến thức trọng tâm và mở rộng chúng, GV cần soạn thảocác chuyên đề để hỗ trợ việc vận dụng kiến thức của HS vào giải các dạng BTHH
cơ bản và nâng cao Thông qua đó mà HS nắm vững kiến thức và kĩ năng giải cácdạng BTHH tương ứng
Ví dụ chuyên đề các phương pháp giải nhanh bài tập HH định lượng hỗ trợ HS
tự học, rèn kĩ năng giải BTHH
a Xây dựng cơ sở lí thuyết về nội dung của chuyên đề
- Nêu lên những vấn đề lí thuyết cơ bản, trọng tâm xoay quanh nội dung chuyên đề
-Đi sâu vào những phần lí thuyết khó, phức tạp, có tác dụng rèn luyện tư duy và cónhiều cách vận dụng kiến thức trong các dạng bài tập khác nhau
-Dựa trên cơ sở lí thuyết, hệ thống hóa cách giải các dạng bài tập khác nhau theo chuyên đề
Các kiến thức này có thể lấy từ các tài liệu nâng cao và mở rộng kiến thức HH,các tài liệu tham khảo
b Xây dựng hệ thống bài tập của chuyên đề
-Xây dựng hệ thống bài tập theo các chuyên đề từ dạng bài tập điển hình đến bài tập tương tự, bài tập có biến đổi, nâng cao
-Phân tích các bài tập điển hình có minh họa làm rõ sự vận dụng lí thuyết chủ đạo
và phương pháp giải tương ứng
Trang 29-Hệ thống bài tập có thể trình bày theo hai hướng : đặt sau phần cơ sở lí thuyết của toàn bộ chuyên đề hoặc để sau mỗi mục lí thuyết nhỏ trong chuyên đề.
1.5.2 Kĩ năng tác động đến tâm lí HS khi hướng dẫn tự học
GV cần tạo không khí thoải mái, hào hứng trong dạy học và khuyến khích các
em tham gia vào việc giải bài tập cùng với các bạn với tinh thần học hỏi, cố gắngvượt qua chính mình ở thời điểm cần thiết, không nên tạo tâm lí ăn thua, mà cầnđộng viên các em hãy khai thác tối đa nội lực của mình GV tiếp nhận thông tinphản hồi từ HS và điều chỉnh cho phù hợp khi chưa hiểu cách thức làm bài và yêucầu được hướng dẫn lại thì nên vui vẻ, yêu cầu HS làm rõ điều chưa hiểu và giúp
HS hiểu thấu đáo vấn đề, tuyệt đối không la mắng hoặc xúc phạm HS
1.6 Bài tập hóa học [5], [27]
1.6.1 Khái niệm bài tập hóa học
Theo từ điển tiếng việt, bài tập là yêu cầu của chương trình cho HS làm để vậndụng những điều đã học và cần giải quyết vấn đề bằng phương pháp khoa học Theocác nhà lý luận dạy học, bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoànthành chúng, HS vừa nắm được, vừa hoàn thiện một tri thức hay một kỹ năng nào
đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo thí nghiệm Ở nước ta, SGKhoặc sách tham khảo, thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan điểm này
1.6.2 Phân loại BTHH
Có nhiều cách phân loại BTHH:
- Dựa vào hình thức trình bày BTHH được chia làm hai loại: bài tập trắc nghiệm khách quan và bài tập tự luận
- Dựa vào tính chất của BTHH có dạng bài tập định tính (câu hỏi) và bài tập định lượng (BTHH)
-Dựa vào nội dung và yêu cầu của bài tập, BTHH được chia thành các dạng: bài tậpgiải thích, chứng minh, bài tập nhận biết chất, điều chế chất, tính theo PTHH củaphản ứng, lập công thức chất
- Dựa vào mức độ nhận thức của HS, BTHH chia thành các mức độ: biết, hiểu, vận dụng và vận dụng sáng tạo
Như vậy, tùy theo cách sử dụng nội dung dạy học mà có thể phân loại BTHH theo các dạng khác nhau
28
Trang 301.6.3 Ý nghĩa và tác dụng của BTHH trong dạy học
BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy HSvận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứukhoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức của chínhmình
theo công thức và PTHH, kỹ năng thực hành HH, sử dụng ngôn ngữ HH
Phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho HS (HS cần phải hiểu sâu mới hiểu được trọn vẹn)
BTHH phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học tập,
1.6.4 Hoạt động của HS trong quá trình tìm kiếm lời giải cho BTHH
1.6.4.1 Các giai đoạn của quá trình giải bài tập HH
Bao gồm 4 giai đoạn cơ bản như sau
a) Nghiên cứu đầu bài
+ Đọc kĩ đề bài và phân tích các điều kiện và yêu cầu của đề bài (có thể tóm tắt dưới dạng sơ đồ)
+ Chuyển các giả thiết đã cho về các giả thiết cơ bản
+ Viết các PTHH của các phản ứng có thể xảy ra
b) Xây dựng tiến trình luận giải
Trang 31năng đã có hoặc bằng cách giải quyết một vài bài toán cơ bản có liên quan Tínhlogic của tiến trình luận giải được thể hiện qua các bước giải bài tập cụ thể và việc
29
Trang 32thông qua việc trả lời một số câu hỏi như: Để giải quyết vấn đề này cần biết kiến
thức, giá trị nào? Bằng cách nào để xác định được chúng? c) Thực hiện tiến
trình giải
Thực hiện tiến trình giải thực chất là trình bày lời giải một cách tường minhtiến trình luận giải đã xác định để đi từ giả thiết đến cái cần tìm Với các bài tậpđịnh lượng, quá trình thực hiện con đường giải quyết vấn đề thông qua việc sử dụngphương pháp giải các dạng bài tập đã có hoặc sự lập luận logic để tìm ra kết quả
d) Đánh giá việc giải
Bằng cách khảo sát lời giải, kiểm tra lại toàn bộ quá trình giải Có thể đi đếnkết quả bằng cách khác không ? tối ưu hơn không ? tính đặc biệt của bài toán là gì?, Trên thực tế, HS thường bỏ qua giai đoạn nhìn lại các bước giải, khảo sát, phântích kết quả và con đường đã đi GV cần giúp HS hiểu rõ vai trò và tác dụng của giaiđoạn này để rút ra được những kinh nghiệm và phương pháp tự học hiệu quả
1.6.4.2 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải BTHH
Việc giải BTHH chính là quá trình vận dụng kiến thức vào giải quyết cácnhiệm vụ học tập và thực tiễn khác nhau, HS phải tìm được kiến thức, kĩ năng thíchhợp trong vốn kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết một nhiệm vụ mới Thông quaviệc giải BTHH, kiến thức đã được nắm vững một cách thực sự, sâu sắc hơn, quátrình nắm vững kiến thức một cách tự giác, sáng tạo, mối quan hệ giữa lý thuyết vàthực tiễn càng sâu sắc, gần gũi Mặt khác, trong khi vận dụng kiến thức, các thao tác
tư duy được trau dồi, một số kỹ năng kỹ xảo được hình thành và củng cố, hứng thúhọc tập của HS được nâng cao
Để đảm bảo cho HS nắm vững được kiến thức HH một cách chắc chắn cầnphải hình thành cho họ kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức thông qua nhiều hìnhthức tập luyện khác nhau Trong đó, việc giải bài tập một cách có hệ thống từ dễ đếnkhó là một hình thức rèn luyện phổ biến được tiến hành nhiều nhất trong quá trìnhdạy học Theo nghĩa rộng, quá trình học tập là quá trình liên tiếp giải các bài tập Vìvậy, kiến thức sẽ được nắm vững hoàn toàn nếu như họ tự lực, tích cực vận dụnglinh hoạt, dùng kiến thức ấy để giải quyết các bài toán khác nhau Như vậy, giữaviệc nắm vững kiến thức HH và vận dụng kiến thức thông qua việc giải BTHHtrong quá trình nhận thức của HS có mối quan hệ biện chứng gắn bó với nhau:
Trang 331.7 Tình hình sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học hiện nay ở trường THPT
Để tìm hiểu về thực trạng sử dụng BTHH trong việc hỗ trợ HS tự học cho HSTHPT chúng tôi đã tiến hành điều tra 28 GV và 411 HS ở các trường THPT: TrườngTHPT Tam Dương, Trường THPT Tam Dương II, Trường THPT Tam Đảo, TrườngTHPT Vĩnh Yên (tỉnh Vĩnh Phúc) , Trường THPT Nguyễn Siêu (Hà Nội)
1.7.1 Mục đích điều tra
Hiểu rõ được hình thức sử dụng hệ thống bài tập, cách GV hướng dẫn HS giảibài tập trên lớp Đồng thời, tìm hiểu nhận thức của HS về tự học, vai trò của tự học,phương pháp tự học, những khó và các yếu tố tác động đến hiệu quả tự học của HS
1.7.2 Đối tượng, phương pháp điều tra
- Đối tượng điều tra: Việc dạy và học các tiết có sử dụng bài tập ở trường THPT
-Phương pháp điều tra: Phát phiếu điều tra cho các GV dạy HH và HS lớp 10 ở một
số trường THPT khác nhau ở tỉnh Vĩnh Phúc, thành phố Hà Nội Nội dung điều trađược trình bày trong phần Phụ lục
Các phiếu điều tra được thu về và phân tích kết quả
1.7.3 Kết quả điều tra
1.7.3.1 Về việc sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học của GV
Qua phân tích kết quả khảo sát, điều tra ban đầu, chúng tôi nhận thấy thực trạng sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học ở các trường THPT như sau:
1.93% GV cho rằng để nâng cao kết quả học tập của HS cần phải sử dụng thêm hệ thống bài tập ngoài SGK, SBT
2 Tuy nhiên, chỉ có 40% GV thường xuyên sử dụng thêm hệ thống bài tập, trongkhi đó có tới 50% GV chỉ thỉnh thoảng sử dụng, 10% GV không thường xuyên sửdụng do không đủ thời gian để hướng dẫn cặn kẽ (70%), không có hệ thống bài tậpchất lượng hỗ trợ HS tự học (87%)
3 98% GV cho rằng việc xây dựng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học là cần thiết
4 80 % GV yêu cầu tài liệu hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học cần phần loại theonội dung bài học (hoặc theo chương), có hướng dẫn giải bài tập theo các dạng và sử
Trang 35dụng các phương pháp giải khác nhau (75%), có bài giải mẫu cho từng dạng (78%),
có các bài tập tương tự để HS vận dụng, luyện tập và đáp số (90%), có hướng dẫngiải ngắn gọn với bài tập có biến đổi với dạng bài tập mẫu (75%), có bài tập biếnđổi trong mỗi chương để học sinh vận dụng kiến thức và kĩ năng giải (70%)
5 Để tài liệu hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học trong dạy đạt hiệu quả cao nhất,10% GV đồng ý với ý kiến yêu cầu HS đọc tài liệu về bài tập hỗ trợ tự học tự làmbài tập tương tự; 20% GV đồng ý giới thiệu các dạng bài tập, yêu cầu HS đọc tàiliệu hướng dẫn bài tập mẫu, vận dụng vào một số bài tập tương tự, GV kiểm tra;70% GV đồng ý giới thiệu các dạng bài tập, các bước giải, yêu cầu HS đọc tài liệu,hướng dẫn giải bài mẫu, vận dụng giải 3-4 bài tương tự GV tổ chức cho HS trao đổinhóm về các nội dung chưa rõ GV chỉnh lý, nhấn mạnh các bước giải, tổ chức kiểmtra, đánh giá
1 7.3.2 Thực trạng việc tự học của HS qua phiếu điều tra HS
1.Đối với việc giải BTHH, chỉ có 10% HS cảm thấy thích thú, còn lại gần 90% HSthấy bình thường hoặc không thích do các bài tập lộn xộn không theo dạng (85%),không có bài giải mẫu cho từng dạng để vận dụng (75%), không có đáp án số chobài tập tương tự (84%), trong khi đó, HS không nắm được phương pháp giải BTHH(80%) nên khi gặp một bài toán khó, HS phải mày mò tự tìm cách giải (20%) hoặcchán nản không làm (65%)
2 Có tới 90% HS chỉ dành 30 phút đến 60 phút để làm BTHH trước khi đến lớpbằng cách làm trước những bài tập về nhà (75%), đọc, tóm tắt, ghi nhận nhưng chỗchưa hiểu (45%)
3.Để giải thành thạo 1 dạng bài tập, 90% HS đều cho rằng cần GV giải kỹ 1 bài tậpmẫu, HS xem lại bài tập đã giải rồi tự làm lại bài tập đã giải và vận dụng vào một sốbài tương tự, trao đổi với HS khác để làm quen và nhận dạng bài tập, các cách giải,sau đó làm các bài tập tương tự, có sự biến đổi so với bài mẫu
4.Khi thi hoặc kiểm tra, để đạt được kết quả cao, 90% HS cho rằng yếu tố tự học,
tự nghiên cứu của mình là cần thiết
5 85% HS cho rằng tự học giúp hiểu bài tập trên lớp sâu sắc hơn, giúp HS nhớ bàilâu hơn và thực hiện yêu cầu kiểm tra của GV (80%), nội dung bài học thường được
đề cập trong các kỳ thi (90%), rèn luyện thêm khả năng đọc, tư duy, suy luận logic(65%), có thói quen tự học và tự nghiên cứu suốt đời (35%)
32
Trang 366.60% HS sử dụng thời gian tự học để đọc lại bài trên lớp, 75% HS chuẩn bị bài trên lớp theo hướng dẫn của GV, 50% HS để đọc tài liệu tham khảo.
7.85% HS chỉ học bài, làm bài tập cần thiết, 70% HS học theo hướng dẫn, có nộidung câu hỏi, bài tập của GV, 25% HS chỉ học phần nào quan trọng, cảm thấy thíchthú
8.85% HS gặp khó khăn trong khi tự học là thiếu tài liệu học tập, tham khảo, thiếu
sự hướng dẫn cụ thể cho việc học tập, kiến thức rộng khó bao quát
9.35% HS cho rằng tác động hiệu quả đến việc tự học của HS là niềm tin và sự chủđộng của HS, 90% là sự tổ chức, hướng dẫn cụ thể của GV, 92% là có tài liệu hướngdẫn học tập chi tiết Như vậy, các GV và đa số HS đều xác định vai trò tự học của
HS là quan trọng, quyết định đến chất lượng học tập HH Việc xây dựng hệ thốngBTHH và sử dụng chúng trong dạy học có tác dụng tích cực đến sự phát triển nănglực tự học của HS
Tiểu kết chương 1
Trong chương này chúng tôi đã tổng quan những cơ sở lí luận của đề tài về cácvấn đề: xu hướng đổi mới PPDH đi sâu vào hình thức tự học của HS và BTHHđược xác định như là phương pháp, phương tiện sử dụng trong dạy học để hỗ trợ HS
tự học
Chúng tôi đã tiến hành điều tra thực trạng về vệc tự học và việc sử dụngBTHH để hỗ trợ HS tự học qua 28 GV dạy hóa học và 411 HS ở một số trườngTHPT ở tỉnh Vĩnh Phúc và thành phố Hà Nội Từ sự phân tích các phiếu điều tra
GV và HS đã có những nhận xét, đánh giá làm cơ sở cho việc tuyển chọn, xây dựnghệ thống bài tập và đề xuất phương pháp sử dụng chúng trong dạy học phần phi kim
HH 10 trường THPT để hỗ trợ HS tự học
Trang 37CHƯƠNG 2 TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ
HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN PHI KIM HÓA HỌC 10
2.1 Phân tích nội dung và cấu trúc chương trình phần phi kim HH 10
2.1.1.1 Mục tiêu của chương
Việc xác định mục tiêu chương “Nhóm halogen” HH 10 được căn cứ vào chuẩnkiến thức - kĩ năng được qui định bởi bộ GD và đào tạo Nội dung chuẩn kiến thức
- kĩ năng được tham khảo trong tài liệu tham khảo [21]
2.1.1.2 Cấu trúc nội dung kiến thức trong chương
Chương 5 – Nhóm Halogen bao gồm 12 tiết trong đó có 9 tiết học (7 tiết học bài mới và 2 tiết luyện tập), 2 tiết thực hành và 1 tiết kiểm tra cuối chương
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức trong chương Nhóm
Halogen 2.1.1.3 Kiến thức trọng tâm của chương
Kiến thức trọng tâm của chương bao gồm:
*Cấu tạo nguyên tử và phân tử của các halogen
- Bán kính nguyên tử tăng dần từ flo đến iot
Trang 38- Lớp ngoài cùng có 7 electron.
- Phân tử gồm 2 nguyên tử, liên kết là cộng hóa trị không cực
Trang 39Nguyên tố halogen
Cấu hình e lớp ngoài cùng
Cấu tạo phân tử
Độ âm điện
* Tính chất hóa học của các hợp chất halogen
Axit halogenhiđric
Hợp chất có oxiNước Gia – ven và clorua vôi có tính tẩy màu và sát trùng do các muối NaClO
và CaOCl2 là các chất oxi hóa mạnh
* Phương pháp điều chế các đơn chất halogen