Vì vậy, khi dạy- học phần này, đòi hỏi có những phương pháp dạyhọc phù hợp, để có thể giúp học sinh hình thành, khắc sâu các kiến thức một cáchchủ động, nâng cao hiệu quả việc học tập; C
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN PHẦN SINH THÁI HỌC
-SINH HỌC LỚP 12- TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
HÀ NỘI – 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN PHẦN SINH THÁI HỌC
SINH HỌC LỚP 12- TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN SINH HỌC)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thế Hưng
HÀ NỘI – 2012
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng iii
Danh mục các hình iv
Mục lục v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài. 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ……… 6
1.1 Cơ sở lý luận 6
1.1.1 Cơ sở lý luận của các phương pháp dạy học tích cực 6
1.1.2 Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 47
1.2.1 Thực trạng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy chương trình Sinh học ở các trường THPT huyện Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình 47
1.2.2 Thực trạng việc vận dụng phương pháp dạy học dự án trong dạy học Sinh học ở các trường THPT huyện Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình 49
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC - SINH HỌC 12……….53
2.1 Phân tích chương trình Sinh học 12 53
2.1.1 Cấu trúc chương trình sinh học 12 53
2.1.2 Mục tiêu chương trình sinh học 12 56
2.1.3 Nội dung chương trình sinh học 12 57
v 2.1.4 Cấu trúc, mục tiêu, nội dung, vị trí phần Sinh thái học - Sinh học 12
Trang 42.2 Thiết kế và tổ chức dạy học dự án phần Sinh thái học (Sinh học 12)
2.2.1 Quy trình dạy học dự án
2.2.2 Các nội dung tổ chức dạy học theo dự án trong phần Sinh thái học (Sinh 12)
2.2.3 Xây dựng công cụ đánh giá sản phẩm của học sinh
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1 Mục đích thực nghiệm
3.2 Tổ chức thực nghiệm
3.3 Kết quả thực nghiệm
3.3.1 Sản phẩm của dự án
3.3.2 Bài kiếm tra học sinh
3.3.3 Phiếu điều tra sau học tập
3.4 Đánh giá thực nghiệm
3.4.1 Các phân tích định tính
3.4.2 Các phân tích định lượng
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 5Học sinhPhương pháp
Phương pháp dạy học
Phương pháp dự ánSách giáo khoaSách giáo viênTrung bìnhTrung học phổ thôngTrung học cơ sởThí nghiệm
ii
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 So sánh đặc trưng của PPDH truyền thống và PPDH mới 8
Bảng 1.2 Các mức độ nhận thức theo Bloom 11
Bảng 1.3 Các loại dự án học tập 15
Bảng 1.4 Kết quả điều tra thực trạng vận dụng các PPDH tích cực 47
Bảng 1.5 Kết quả điều tra thực trạng vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học Sinh học THPT 49
Bảng 2.1 Cấu trúc, mục tiêu, nội dung chương trình Sinh thái học (Sinh học12) 60
Bảng 2.2 Các nội dung đánh giá sản phẩm học sinh 84
Bảng 2.3 Các tiêu chí đánh giá sản phẩm học sinh 85
Bảng 3.1 Kết quả thực hiện dự án của các nhóm 92
Bảng 3.2 Kết quả các bài kiểm tra ở lớp thí nghiệm và lớp đối chứng 93
Bảng 3.3 Kết quả điều tra sau học tập về việc vận dụng phương pháp dạy học theo dự án phần Sinh thái học ( Sinh học 12) 94
Bảng 3.4 Kết quả các bài kiểm tra của lớp thí nghiệm và lớp đối chứng 98
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Các đặc điểm của dạy học theo dự án 18
Hình 1.2 Tỷ lệ tiếp thu trung bình với các hình thức học tập khác nhau. 31
Hình 3.1 Biểu đồ điểm TB các lần kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC 98
Hình 3.2 Biểu đồ biến thiên điểm số các bài kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC 99
Hình 3.3 Biểu đồ điểm các bài kiểm tra của lớp thí nghiệm và lớp đối chứng 99
iv
Trang 81.2 Xuất phát từ đặc điểm môn sinh học
Hiện nay khoa học kỹ thuật có tốc độ phát triển rất nhanh chóng Trong sự pháttriển chung đó, Sinh học thuộc nhóm ngành khoa học có tốc độ gia tăng lớn nhất
Sự gia tăng kiến thức Sinh học chi phối không nhỏ đến nội dung, chương trình dạyhọc sinh học trong các trường nói chung và trường Trung học phổ thông nói riêng
Do vậy rất cần một phương pháp dạy- học thực sự có chất lượng, hiệu quả, giúpngười học có thể tự học suốt đời, đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện nay
Sinh học là một ngành khoa học thực nghiệm, kiến thức sinh học xuất phát từđời sống sản xuất và được ứng dụng mạnh mẽ vào thực tiễn sản xuất Phần Sinhthái học (Sinh học 12) theo chương trình cải cách được bổ sung rất nhiều kiến thức
mới và hiện đại Cấu trúc chương trình phần này được thể hiện từ cấp độ cá thể quần thể
quần xã
Hệ sinh thái
Sinh quuyển, có rất nhiều kiến thức liên quanđến thực tiễn Vì vậy, khi dạy- học phần này, đòi hỏi có những phương pháp dạyhọc phù hợp, để có thể giúp học sinh hình thành, khắc sâu các kiến thức một cáchchủ động, nâng cao hiệu quả việc học tập; Có thể áp dụng những phương pháp dạyhọc gắn với thực tế
1.3 Xuất phát từ thực trạng dạy và học chương trình Sinh thái học (Sinh học 12)
Trang 9Hiện nay chương trình Sinh học Trung học phổ thông nói chung và Sinh tháihọc (Sinh học 12) nói riêng có nhiều đổi mới cả về cấu trúc chương trình và nộidung kiến thức Vì vậy việc dạy và học bộ môn sinh học nói chung, Sinh thái học(Sinh học 12) nói riêng cần nhiều đổi mới, để phát huy được năng lực tư duy hệthống – tư duy, năng lực sáng tạo của học sinh nhằm giải quyết các vấn đề tiếp thuđược trong tài liệu sách giáo khoa và thực tiễn cuộc sống.
Việc sử dụng hình thức kiểm tra, đánh giá trong sinh học hiện nay là 100% trắcnghiệm nên học sinh còn yếu các kỹ năng: tư duy, tiếp nhận, trình bày các vấn đề,các cấu trúc kiến thức một cách hoàn chỉnh, nhất là các kỹ năng sáng tạo, phát triểncác vấn đề
Cách dạy, học của một bộ phận giáo viên, học sinh ngày nay còn phiến diện, ítliên hệ với thực tế; Học sinh ít khi được giao các bài tập, công việc về nhà liên quanđến thực tế Người học thiếu các cơ hội hình thành các kỹ năng cần thiết trongnghiên cứu khoa học Do đó, sự hình thành thái độ, nhân sinh quan, thế giới quantrong cuộc sống còn chưa rõ nét
1.4 Xuất phát từ ưu điểm của dạy học theo dự án
Dạy học theo dự án là phương pháp dạy học lấy hoạt động của người học làmtrung tâm Trong suốt quá trình dạy học, người dạy hướng cho người học đạt đếnmục tiêu của bài học nhưng gắn liền với thực tế Với phương pháp dạy học này,người học phải tự mình nghiên cứu, tự giải quyết các vấn đề để lĩnh hội được cáckiến thức và cho ra những kết quả thực tế Do đó, dạy học theo dự án thực sự làphương pháp rất linh hoạt, tạo hứng thú cho người học Nó kích thích được sựmong muốn học tập và tự tìm hiểu kiến thức của học sinh Dạy học theo dự án cònrèn cho người học các kĩ năng cần thiết của xã hội hiện nay như kĩ năng học tập vàđổi mới, kĩ năng thu thập, xử lý thông tin, kĩ năng giao tiếp và cộng tác Đây lànhững kĩ năng hết sức cần thiết để học sinh Việt Nam có thể dễ dàng hòa nhập vớihọc sinh quốc tế khi học tập, sinh hoạt cùng nhau Trong dạy học theo dự án, giáoviên chỉ là hướng dẫn viên và tham vấn khi cần để học sinh phát huy hết khả nănghọc tập và sáng tạo cũng như xử lý các tình huống nảy sinh trong quá trình học tập
2
Trang 10Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học có đặc trưng định hướng vàongười học, định hướng hoạt động, dạy học theo quan điểm tích hợp Dạy học theo
dự án góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xãhội, giúp người học nâng cao năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lựcgiải quyết các vấn đề phức hợp, rèn luyện tinh thần trách nhiệm và khả năng làmviệc cộng tác Thực tế cho thấy, nếu học sinh tự mình thiết kế được quá trình họctập, làm ra được các sản phẩm học tập thì hiệu quả học tập sẽ cao hơn là thụ độngtiếp thu từ người dạy
Xuất phát tưừ viêcc̣ nghiên cưứu lý luâṇ vềphương pháp dạy học và ưu điểm của
dạy học dự án, từ thực tiễn công tác, chúng tôi nhâṇ thấy sư c̣cấp thiết của việcnghiên cưứu và đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy- họcmôn Sinh học Trung học phổ thông nói chung và phần Sinh thái học (Sinh học 12)nói riêng bằng phương pháp dạy học theo dự án
Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Tổ chức dạy học theo dự án phần Sinh thái học (Sinh học 12) - Trung học phổ thông”
2 Mục đích nghiên cứu
Tổ chức dạy học theo dự án phần Sinh thái học (Sinh học 12) - Trung học phổthông nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, hình thành kỹnăng nghiên cứu khoa học, phát triển kỹ năng thực hành, kỹ năng tư duy bậc cao,rèn luyện khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo dự án trong dạy học phần
Sinh thái học (Sinh học 12) - Trung học phổ thông
Trang 11Các biện pháp tổ chức dạy học theo dự án phần Sinh thái học (Sinh học 12) luậnvăn đề xuất sẽ nâng cao chất lượng dạy và học; phát huy tính tính cực, chủ động vàsáng tạo của người học.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học dự án: đặc điểm dạy học theo dự án, ý nghĩacủa dạy học theo dự án, quá trình thiết kế và tổ chức dạy học theo dự án nhằm pháttriển các hoạt động nhận thức tích cực, chủ động của học sinh
- Đánh giá thực trạng việc dạy, học phần Sinh thái học (Sinh học 12) ở một số trường Trung học phổ thông huyện Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình
- Phân tích cấu trúc chương trình và nội dung kiến thức phần Sinh thái học ( Sinhhọc 12)- Trung học phổ thông và các tài liệu khoa học liên quan
- Đề xuất một số biện pháp tổ chức dạy học theo dự án phần Sinh thái học (Sinh học12)- Trung học phổ thông nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
- Tổ chức dạy học dự án một số nội dung trong phần Sinh thái học (Sinh học 12)
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của việc phát huy tính tích cực, chủ động của người học thông qua dạy học theo dự án
6 Phạm vi nghiên cứu
Dạy học theo dự án phần Sinh thái học (Sinh học 12)- Trung học phổ thông (Ban
cơ bản)
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phân tích cơ sở lý luận về các phương pháp dạy học tích cực
- Phân tích phương pháp dạy học dự án: Khái niệm, đặc điểm, ưu nhược điểm, các loại dự án học tập, quy trình dạy học theo dự án…
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phân tích cấu trúc chương trình, sách giáo khoa, nội dung kiến thức Sinh học
12, phần Sinh thái học và các tài liệu khoa học liên quan
4
Trang 12- Điều tra thực trạng việc dạy học phần Sinh thái học- Chương trình Sinh học 12
ở một số trường Trung học phổ thông huyện Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình theo một sốtiêu chí: Kết quả học tập, hứng thú của người học, tính tích cực của người học,phương pháp dạy và phương pháp học
7.3 Phương pháp tham vấn chuyên gia
Phỏng vấn các giáo viên Sinh học, cán bộ lãnh đạo nhà trường và một số cán bộ,giáo viên khác
7.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm trên 2 nhóm đối tượng: nhóm đối chứng vànhóm thí nghiệm là học sinh lớp 12- Trường Trung học phổ thông Đông Tiền Hải-Huyện Tiền Hải- Tỉnh Thái Bình
7.5 Phương pháp thống kê toán học
Xử lý số liệu thu được và kiểm định giả thuyết thống kê các tham số
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Tổ chức dạy học dự án phần Sinh thái học - Sinh học 12
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Khái niệm phương pháp dạy học tích cực: “Active teaching” là một thuật ngữ
được dùng để chỉ những PP giáo dục hay dạy học theo hướng phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tíchcực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tíchcực của người học; trong đó các hoạt động học tập được thực hiện và điều khiển, địnhhướng bởi người dạy, người học không thụ động mà tự lực lĩnh hội nội dung học tập;hoạt động học tập được thực hiện trên cơ sở hợp tác và giao tiếp trong học tập ở mức
độ cao PPDH tích cực không phải là một PPDH cụ thể mà là một khái niệm rộng baogồm nhiều PP, hình thức, kỹ thuật cụ thể khác nhau [4]
Mục đích của các PPDH tích cực: giúp người học phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác,
kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trongthực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập; Làm cho “học” là quátrình kiến tạo; người học tìm tòi khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lýthông tin tự hình thành sự hiểu biết, năng lực, phẩm chất [4]
Đặc trưng của các PPDH tích cực:
thông qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của người học Người học- đối
tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học”, được cuốnhút vào các hoạt động học tập do người dạy tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lựckhám phá những điều mình chưa rõ, chưa có chứ không phải thụ động tiếp thunhững tri thức đã được người học sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đờisống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn
đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức, kỹ năng mới, và
6
Trang 14nắm được PP “làm ra” kiến thức, kỹ năng đó, không dập khuôn theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo [4] [5].
của người học PP tích cực xem việc rèn luyện PP học tập cho người học không chỉ
là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
Trong các PP học thì cốt lõi là PP tự học Nếu rèn luyện cho người học cóđược PP, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậynội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vìvậy ngày nay người ta nhấn mạnh mặt “học” trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra
sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tựhọc ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự họcngay cả trong tiết học có sự hướng dẫn của người dạy [5]
lớp mà trình độ kiến thức, tư duy của người học không đồng đều thì khi áp dụng PPtích cực phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến động hoàn thành nhiệm vụhọc tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi hoạt động độc lập
Trong nhà trường, PP học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặctrường Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyếtnhững vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân đểhoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ, tính cách, năng lựccủa mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn; ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ đượcphát triển [5]
giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạtđộng học của trò mà còn tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt độngdạy của người dạy Trong PP tích cực, người dạy hướng dẫn người học phát triển
kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, người dạycần tạo điều kiện thuận lợi để người học được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánhgiá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trongcuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho người học
Trang 15Với sự trợ giúp của các thiết bị kỹ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là
một công việc nặng nhọc đối với người dạy, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn
để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học [5]
thực tế về cơ sở vật chất, về đội ngũ GV, khả năng của HS, tối ưu các điều kiện hiện
có [4].
- Đem lại niềm vui, tạo hứng thú cho HS, đạt hiệu quả cao; tăng tính tích cực,
chủ động, sáng tạo; tăng khả năng tự học; tăng tính tự tin; tăng khả năng hợp tác
trong học tập và làm việc; tăng cơ hội được đánh giá; chất lượng, hiệu quả dạy học
cao [4]
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, người dạy không còn đóng
vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức,
hướng dẫn các hoạt động độc lập, hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm
lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ theo
yêu cầu của chương trình Trên lớp, HS hoạt động là chính, GV có vai trò là người
gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng,
tranh luận sôi nổi của người học Người dạy phải có trình độ chuyên môn sâu,
rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động
của HS mà nhiều khi diễn biến ngoài dự kiến của người dạy [5]
Có thể so sánh đặc trưng của PPDH truyền thống và dạy học mới như sau:
Bảng 1.1 So sánh đặc trưng của PPDH truyền thống và PPDH mới
PPDH truyền thống
hình thành
kỹ năng, tư tưởng, tìnhcảm
8
truyền
Trang 16minh chân lý của GV.
thức, kỹ năng, kỹ xảo.Học để đối phó với thi
cử Sau khi thi xongnhững
Do đó những phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở trường
THPT bao gồm: Dạy học vấn đáp, Dạy học giải quyết vấn đề, dạy và học hợp tác
trong nhóm nhỏ, dạy học theo dự án [4],[5]
1.1.1.2 Lý thuyết phân loại các trình độ nhận thức của Bloom
Trang 17Benjamin Bloom đưa ra học thuyết về phân loại tư duy chú trọng đến lĩnh vực
nhận thức trong cuốn sách “Thang phân loại tư duy” vào năm 1956 [15] Ông đã
đưa ra cách phân loại mục tiêu giáo dục theo hai lĩnh vực tri thức (cognitive
domain) và cảm xúc (affective domain) “Phân loại Bloom” được dùng như là công cụ quan trọng trong xây dựng mục tiêu giáo dục, đo lường giáo dục, đặt câu
hỏi trong giảng dạy và nghiên cứu, xây dựng và thiết kế bài giảng cũng như hướng dẫn giảng dạy để đạt mục tiêu đã đề ra Theo Bloom, mục tiêu về kiến thức được
chia thành sáu bậc chủ yếu, sắp xếp theo mức độ tăng dần gồm Biết (Knowledge),
Hiểu (Comprehension), Ứng dụng (Application), Phân tích (Analysis), Tổng hợp(Synthesis) và Đánh giá (Evaluation)
Biết (knowledge): Được định nghĩa là sự nhớ lại các dữ liệu đã học đượctrước đây Điều đó có nghĩa là một người có thể nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sựkiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cầnthiết Đây là cấp độ thấp nhất của kết quả học tập trong lĩnh vực nhận thức Thườngmục tiêu giáo dục không dừng ở việc dạy các tri thức thuộc mức “Biết” này
Thông hiểu (comprehension): Được định nghĩa là khả năng nắm được ý nghĩacủa tài liệu Điều đó có thể thể hiện bằng việc chuyển tài liệu từ dạng này sang dạngkhác (từ các từ sang số liệu), bằng cách giải thích tài liệu (giải thích hoặc tóm tắt)
và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng)
Ở mức độ này, người học phải chỉ ra các mối liên hệ giữa các khái niệm Mục tiêugiáo dục loại này đòi hỏi người học phải giải thích, phân biệt, lựa chọn cho phù hợphay suy diễn từ các dữ kiện đã cho Kết quả học tập ở cấp độ này cao hơn so vớinhớ, và là mức thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật
Ứng dụng (application): Được định nghĩa là khả năng sử dụng các tài liệu đãhọc vào một hoàn cảnh cụ thể mới Điều đó có thể bao gồm việc áp dụng các quytắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lý, định luật và lý thuyết Kết quả học tậptrong lĩnh vực này đòi hỏi cấp độ thấu hiểu cao hơn so với cấp độ hiểu trên đây.Phân tích (analysis): Được định nghĩa là khả năng phân chia một tài liệu rathành các phần của nó sao cho có thể hiểu được các cấu trúc tổ chức của nó Điều
đó có thể bao gồm việc chỉ ra đúng các bộ phận, phân tích môí quan hệ giữa các bộ
10
Trang 18phận, và nhận biết được các nguyên lý tổ chức được bao hàm Kết quả học tập ở
đây thể hiện một mức độ trí tuệ cao hơn so với mức hiểu và áp dụng vì nó đòi hỏi
một sự thấu hiểu cả nội dung và hình thái cấu trúc của tài liệu
Tổng hợp (synthesis): Được định nghĩa là khả năng sắp xếp các bộ phận lại
với nhau để hình thành một tổng thể mới Điều đó có thể bao gồm việc tạo ra một
cuộc giao tiếp đơn nhất (chủ đề hoặc bài phát biểu), một kế hoạch hành động (dự án
nghiên cứu), hoặc một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ để phân lớp thông
tin) Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh các hành vi sáng tạo, đặc biệt
tập trung chủ yếu vào việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới
Đánh giá (evaluation): Được định nghĩa là khả năng xác định giá trị của tài
liệu (tuyên bố, tiểu thuyết, thơ, báo cáo nghiên cứu) Việc đánh giá dựa trên các tiêu
chí nhất định Đó có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí
bên ngoài (phù hợp với mục đích), và người đánh giá phải tự xác định hoặc được
cung cấp các tiêu chí Kết quả học tập trong lĩnh vực này là cao nhất trong các cấp
bậc nhận thức vì nó chứa các yếu tố của mọi cấp bậc khác [20]
Bảng 1.2 Các mức độ nhận thức theo Bloom
thành những phần nhỏ hơn đểhiểu đầy đủ hơn
Trang 19Nguồn: http://www.intel.com[21]
Giống như bất cứ mô hình lý thuyết nào, phân loại tư duy của Bloom cũng cónhững mặt mạnh và mặt yếu Điểm mạnh nhất của nó là đã đề cập đến một chủ đềrất quan trọng về tư duy và đề ra một cấu trúc các bậc thang tư duy rất tiện lợi choviệc vận dụng Tuy nhiên, để phân loại một nhóm các câu hỏi và các hoạt động họctập dựa trên thang phân loại tư duy thì những thuật ngữ như “phân tích”, “đánhgiá” ít được thể hiện Thêm vào đó, có rất nhiều hoạt động quan trọng không thểđược sắp xếp trong thang phân loại tư duy và nếu cố gắng thực hiện điều đó sẽ làmgiảm thế mạnh của các cơ hội học tập Hơn nữa, sự hiểu biết về cách thức học tậpcủa học sinh, cũng như cách thức dạy học của giáo viên đã được tăng lên rất nhiều;
và các nhà giáo dục đã nhận ra rằng dạy và học chứa đựng nhiều điều hơn là chỉ cóphát triển tư duy Mặt khác, các nhà giáo dục học và tâm lý học hiện nay còn nhậnthấy ranh giới giữa các bậc mục tiêu nhận thức của Bloom khá mờ nhạt nên đã đề
nghị phân chia mục tiêu nhận thức ra làm 3 bậc: Bậc 1: Nhớ; Bậc 2: Hiểu, vận
dụng; Bậc 3: Tổng hợp, đánh giá Hiện nay, phần lớn các nhà sư phạm đều phân
chia các bậc mục tiêu nhận thức theo các tiêu chí này.
1.1.1.3 Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của người học
Tính tích cực là khả năng biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đốitượng, là khả năng biểu thị cường độ vận động của chủ thể khi thực hiện mộtnhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đấy Tính tích cực học tập - về thực chất là tínhtích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lựccao trong qúa trình chiếm lĩnh tri thức Vì vậy, hình thành và phát triển tính tích cựchọc tập là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục
Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câuhỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mìnhtrước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa
đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tậptrung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước
12
Trang 20những tình huống khó khăn Tính tích cực học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp
giai đoạn: Nhập dữ liệu (nghe, nhìn, đọc)
Xử lý dữ liệu (qua hoạt động của não
bộ)
Xuất dữ liệu (Nói, viết, các hoạt động ngoài ngôn ngữ) Mỗi giai đoạn cónhững vai trò nhất định trong việc phát huy tính tích cực của học sinh Để phát huytính tích cực ở giai đoạn nhập dữ liệu, người dạy cần phải chú ý đến các yếu tố ảnhhưởng, thúc đẩy các yếu tố tích cực và hạn chế các yếu tố tiêu cực Một trong cácyếu tố tích cực là động cơ học tập của học sinh Học sinh có thể học tập dưới tácđộng của các động cơ bên ngoài ( yêu cầu của người dạy, bạn bè, thi đua, thưởngphạt) hoặc động cơ bên trong ( hứng thú, ý thức học tập, mong muốn, khát khao…);càng lên cấp học cao hơn, động cơ bên trong càng phát huy rõ rệt hơn Do vậy, đểphát huy tính tích cực của học sinh trong học tập cần chú ý tới tất cả các yếu tố làmnên tính tích cực của chúng
1.1.2 Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án
1.1.2.1 Khái niệm dạy học theo dự án
Có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về dạy học theo dự án Dạy họctheo dự án được nhiều tác giả coi là một hình thức dạy học vì khi thực hiện một dự
án, có nhiều PPDH cụ thể được sử dụng Tuy nhiên khi không phân biệt giữa hìnhthức và PPDH, người ta cũng gọi là PP dự án, khi đó cần hiểu đó là PPDH theonghĩa rộng, một PPDH phức hợp [6]
Dạy học theo dự án là phương pháp dạy học mà người dạy và người học cùng
nhau giải quyết không chỉ về mặt lý thuyết mà còn về thực tiễn một nhiệm vụ học tập
có tính chất tổng hợp, tạo điều kiện cho người học cùng nhau và tự quyết trong tất cảcác giai đoạn học tập, kết quả là tạo ra được một sản phẩm hoạt động nhất định; Làphương pháp dạy học mà người dạy đóng vai trò là người định hướng các nhiệm vụhọc tập, định hướng quá trình thực hiện cũng như quá trình tạo ra sản phẩm, ngườihọc trực tiếp thực hiện các giai đoạn của dự án học tập; Là phương pháp dạy học màngười học không thụ động tiếp nhận kiến thức từ người dạy mà
Trang 21chủ động tìm tòi, khám phá các kiến thức cần thiết thông qua các nhiệm vụ thực tếliên quan đến bài học.
Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện
một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo racác sản phẩm có thể giới thiệu Sản phẩm này có thể là các báo cáo khoa học, môhình, phần mềm, mẫu vật, tư liệu sưu tầm Nhiệm vụ này được người học thựchiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích,lập kế họach, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình vàkết quả thực hiện Trong dạy học theo dự án, người học thường phải giải quyết cácvấn đề khá lớn, qua nhiều công đoạn Vì vậy, làm việc nhóm là hình thức cơ bản củadạy học theo dự án Người học thực hiện nhiệm vụ học tập thông qua quá trình hợptác với người dạy và bạn bè trong nhóm cũng như thu thập thông tin từ thực tế vànhiều nguồn khác nhau.[6]
Dạy học theo dự án là chiến lược giáo dục mà người học được cung cấp các
tài nguyên, các chỉ dẫn để áp dụng trên các tình huống cụ thể, qua đó người học tíchlũy được kiến thức và khả năng giải quyết vấn đề Thông qua các dự án học tập mànhiều mục tiêu giáo dục được thực hiện và đem lại các hiệu quả trong thời gian dài
Dạy học theo dự án là một mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm Theo
đó, các nhóm HS, dưới sự hướng dẫn của giáo viên mà thực hiện các nhiệm vụ họctập một cách tự lực, độc lập qua những giai đoạn nhất định: đề xuất ý tưởng, lập kếhoạch, thực hiện ý tưởng, tạo sản phẩm, công bố sản phẩm Qua đó, giúp phát triểnkiến thức và các kỹ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở,khuyến khích học sinh tìm tòi, hiện thực hoá những kiến thức đã học trong quá trìnhthực hiện và tạo ra những sản phẩm của chính mình Chương trình dạy học theo dự
án được xây dựng dựa trên những câu hỏi định hướng quan trọng, lồng ghép cácchuẩn nội dung và tư duy bậc cao trong những bối cảnh thực tế [12] [14]
Tóm lại, Dạy học theo dự án vừa là PPDH vừa là hình thức, mô hình dạy học
tích cực khác với các PPDH truyền thống, trong đó các nhiệm vụ học tập, các bàihọc được thể hiện dưới dạng các dự án, dưới sự hướng dẫn của người dạy, các dự
án được thực hiện bởi sự cộng tác làm việc tích cực của các thành viên trong nhóm,
14
Trang 22được hoàn thành dưới dạng các sản phẩm Kiến thức tự lĩnh hội được bổ sung từnhiều nguồn khác nhau, làm phong phú tri thức của người học, đáp ứng các mụctiêu gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, thamgia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lựcgiải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làmviệc của người học [12] [14].
1.1.2.2 Các loại dự án học tập
Dạy học theo dự án có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau.Tùy theo tiêu chí phân loại, mỗi tác giả khi nghiên cứu về dạy học dự án có sự phânchia khác nhau Tiêu chí phân loại có thể là thời gian, số lượng người tham gia hoặcquy mô của dự án, v.v… Sau đây là một số cách phân loại dạy học theo dự án:
Bảng 1.3 Các loại dự án học tập
Tiêu chí phân loại dự án
Trang 23Phân loại theo sự
tham gia của GV
Phân loại theo quỹ
thời gian
Phân loại theo
nhiệm vụ
Trang 2416
Trang 25Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong quá trình tiếnhành dự án, giáo viên có thể tùy vào từng điều kiện cụ thể cũng như nội dung mônhọc để lựa chọn và sử dụng các loại hình trên một cách có hiệu quả.
Đối với dự án môn học, quy mô trung bình hoặc nhỏ đối với chương trìnhTHPT, phổ biến nhất là dự án nhóm hoặc dự án cá nhân, dự án trung bình [12]
1.1.2.3 Mục tiêu của dạy học theo dự án.
Dạy học theo dự án nhằm vào các mục tiêu sau đây:
- Hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn kết nội dung học với cuộc sốngthực; Tạo ra một sản phẩm (Ví dụ: Tổ chức buổi trồng rừng ngập mặn; Tổ chức giớithiệu một sản phẩm phục vụ du lịch sinh thái; Tổ chức cuộc thi “ Hành trình sinhhọc” trong trường )
- Thực hành nghiên cứu (Ví dụ: Động vật và phân loại; Tác động của âmnhạc đối với bò sữa; Dự án nghiên cứu về rác và cách giảm bớt rác trong nhàtrường; Nghiên cứu và so sánh cây phả hệ …)
- Giải quyết một vấn đề (Ví dụ: Làm thế nào để học sinh tham gia vào cáchoạt động bảo vệ môi trường trong nhà trường; Tại sao loài khủng long lại biếnmất; Video trong dạy học sinh học …)
- Rèn luyện, phát triển nhiều kĩ năng: kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề,
kĩ năng tổ chức kiến thức, kĩ năng sống, làm việc theo nhóm, kĩ năng sử dụngCNTT vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm [23]
1.1.2.4 Đặc điểm của dạy học theo dự án
Trong các tài liệu về dạy học dự án có rất nhiều đặc điểm được đưa ra Cácnhà sư phạm Mỹ đầu thế kỷ 20 khi xác lập cơ sở lý thuyết cho PPDH này đã nêu ra
3 đặc điểm cốt lõi của dạy học theo dự án: định hướng người học, định hướng thựctiễn và định hướng sản phẩm Có thể cụ thể hoá các đặc điểm của dạy học theo dự
án như sau:
17
Trang 26Hình 1.1 Các đặc điểm của dạy học theo dự án
Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của
thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ dự
án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học.Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đờisống, xã hội Thông qua đó, có thể kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyếtcũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học; dự
án còn kết hợp tri thức của nhiều môn học hay lĩnh vực khác nhau để giải quyết mộtvấn đề mang tính phức hợp Do đó, có thể nói dạy học theo dự án có đặc điểm: gắnliền với hoàn cảnh, có ý nghĩa thực tiễn xã hội, kết hợp giữa lý thuyết với thực hành
và mang nội dung tích hợp
Định hướng hứng thú người học: người học được tham gia chọn đề tài, nội
dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân, được tham gia thực hiệnnhiệm vụ cũng như tạo ra các sản phẩm, do đó thúc đẩy mong muốn học tập củangười học, tăng cường năng lực hoàn thành những công việc quan trọng và mongmuốn được đánh giá Khi người học có cơ hội kiểm soát được việc học của chínhmình, giá trị của việc học cũng tăng lên Cộng tác với các bạn trong nhóm, trong lớphay tự mình giải quyết các vấn đề được giao cũng là cơ hội làm tăng hứng thú họctập của người học
Tính phức hợp: Nội dung các dự án học tập có sự kết hợp tri thức của nhiều
Trang 27phức hợp Trong quá trình thực hiện dự án, người học phải tìm kiếm thông tin từnhiều nguồn khác nhau, vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau Nguồnthông tin càng phong phú, sự hiểu biết của người học càng rộng và sâu, kỹ năngvận dụng kiến thức liên môn càng thành thạo thì kết quả dự án đạt được càng cao.
Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa
nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thựchành Những kiến thức lý thuyết được thấy, được thực hiện, được thể hiện qua thực
tế và các nghiên cứu thực tế của chính người học Qua các nghiên cứu thực tế màđúc kết được các kiến thức lý thuyết Vì vậy, thông qua các dự án học tập có thểhình thành, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹnăng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học
Tính tự lực cao của người học : Trong dạy học theo dự án, người học tham
gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học: Xác định mục đích,
đề xuất dự án, lập kế hoạch, thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quátrình và kết quả thực hiện, trình bày kết quả dự án Mỗi giai đoạn đều đòi hỏi vàkhuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học Người dạy chủ yếuđóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Vì vậy vừa đòi hỏi, vừa rèn luyện tính tựlực cao của người học
Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm,
trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viêntrong nhóm dạy học theo dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộngtác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa người học và người dạy cũng nhưvới các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi làhọc tập mang tính xã hội
Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được
tạo ra Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, màtrong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạtđộng thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể công bố, giới thiệu, sử dụng.Chính những sản phẩm này có vai trò tác động rất lớn đến quá trình học tập và hứngthú của người học [12]
19
Trang 28Những đặc điểm của bài học được thiết kế theo dự án một cách hiệu quả
Có rất nhiều kiểu dự án được tiến hành trong lớp học Một dự án được coi làhiệu quả khi nó đạt được sự cân bằng giữa khả năng thực hiện của người học với ý
đồ thiết kế của giáo viên, chỉ rõ những công việc người học cần làm Những đặcđiểm dưới đây sẽ giúp nhận diện rõ thế nào là bài học theo dự án hiệu quả
Học sinh là trung tâm của quá trình dạy học Bài học theo dự án được thiết
kế cẩn thận, lôi cuốn người học vào những nhiệm vụ mở và có tính thực tiễn cao.Các nhiệm vụ của dự án kích thích khả năng ra quyết định, niềm cảm hứng, say mêcủa người học trong quá trình thực hiện và tạo ra sản phẩm cuối cùng Người họclĩnh hội kiến thức bài học thông qua việc tìm hiểu và tự quyết định mức độ hoànthành các nhiệm vụ của dự án Người dạy giữ vai trò người hỗ trợ hay hướng dẫn.Người học hợp tác làm việc với nhau trong các nhóm, phát huy tối đa năng lực cánhân khi đảm nhận những vai trò khác nhau
Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các chuẩn.
Những dự án tốt được phát triển dựa trên những nội dung cốt lõi của chương trìnhđáp ứng các chuẩn quốc gia và địa phương Dự án có các mục tiêu rõ ràng gắn vớicác chuẩn và tập trung vào những hiểu biết của người học sau quá trình học Từviệc định hướng vào mục tiêu, người dạy sẽ chọn lựa hình thức dạy học phù hợp,lập kế hoạch đánh giá và tổ chức các hoạt động dạy và học Kết quả của dự án đượcthể hiện, kết tinh trong sản phẩm của người học và quá trình thực hiện nhiệm vụ
Dự án được định hướng theo bộ câu hỏi khung chương trình Câu hỏi khung
chương trình sẽ giúp các dự án tập trung vào những hoạt động dạy học trọng tâm.Người học được giới thiệu về dự án thông qua các câu hỏi gợi mở những ý tưởnglớn, xuyên suốt và có tính liên môn Người học sẽ buộc phải tư duy sâu hơn về cácvấn đề nội dung của môn học theo các chuẩn và mục tiêu Có ba dạng câu hỏikhung chương trình: câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung Câu hỏikhái quát là các câu hỏi rộng, có tính mở, đề cập đến các ý tưởng lớn và các kháiniệm xuyên suốt Các câu hỏi bài học được gắn trực tiếp với dự án, hỗ trợ việc tìmkiếm lời giải cho câu hỏi khái quát, thể hiện mức độ hiểu những khái niệm cốt lõi về
Trang 29dự án của người học Các câu hỏi nội dung thường mang tính thực tiễn cao, bámsát các chuẩn và mục tiêu đã đề ra.
Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên Ngay từ khi
triển khai dự án, các kết quả dự kiến cần phải được làm rõ và phải luôn được rà soátnhiều lần để kiểm chứng mức độ lĩnh hội bằng các phương pháp đánh giá khác nhau.Học sinh sẽ được xem mẫu và hướng dẫn trước để thực hiện công việc có chất lượngnhất, và phải biết rõ điều gì đang chờ đợi ngay từ khi bắt đầu dự án Cần phải tạo cơhội để rà sóat, phản hồi hay điều chỉnh trong suốt quá trình thực hiện dự án
Dự án có liên hệ với thực tế Dự án phải gắn với đời sống thực tế của học
sinh, có thể mời các chuyên gia ngoài cùng tham gia để tạo ra những tình huống dạyhọc Học sinh có thể thể hiện việc học của mình trước những đối tượng thực tế, liên
hệ với các nguồn lực cộng đồng, tham khảo các chuyên gia trong lĩnh vực nghiêncứu, hoặc trao đổi thông qua công nghệ hiện đại
Học sinh thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua sản phẩm hoặc quá trình thực hiện Thông thường các dự án được kết thúc với việc học sinh thể hiện thành
quả học tập của mình thông qua các bài thuyết trình, các văn bản tài liệu, các môhình dàn dựng, các đề án hoặc thậm chí là các sự kiện mô phỏng như một hội thảogiả Những sản phẩm cuối cùng này giúp học sinh thể hiện khả năng diễn đạt và làmchủ quá trình học tập
Công nghệ hiện đại hỗ trợ và thúc đẩy việc học của học sinh Người học
được tiếp cận với nhiều công nghệ khác nhau giúp hỗ trợ phát triển kỹ năng tư duy,cho ý kiến đánh giá về nội dung và hỗ trợ tạo ra sản phẩm cuối Với sự trợ giúp củacông nghệ, học sinh tự chủ hơn với kết quả cuối cùng, có cơ hội “cá nhân hoá sảnphẩm” Người học có thể cộng tác với các lớp học từ xa qua email và các trang web
tự tạo, hoặc trình bày việc học của mình qua các chương trình đa phương tiện
Kỹ năng tư duy là không thể thiếu trong làm việc theo dự án Làm việc theo
dự án sẽ hỗ trợ phát triển cả kỹ năng tư duy siêu nhận thức lẫn tư duy nhận thứcnhư hợp tác, tự giám sát, phân tích dữ liệu, và đánh giá thông tin Trong suốt quátrình thực hiện dự án, các câu hỏi khung chương trình sẽ kích thích người học tưduy và liên hệ với các khái niệm mang ý nghĩa thực tiễn cao
21
Trang 30Chiến lược dạy học đa dạng hỗ trợ phong cách học đa dạng Các chiến lược
dạy học sẽ tạo ra một môi trường học tập đa dạng hơn, thúc đẩy tư duy bậc caohơn Những chiến lược dạy học sẽ giúp đảm bảo cho người học được tiếp cận vớitòan bộ học liệu của chương trình, tạo cơ hội thành công cho mỗi học sinh Tronggiảng dạy có thể kết hợp các kỹ thuật dạy học hợp tác, làm việc nhóm, phân nhánh
tổ chức, nhận xét phản hồi từ giáo viên hoặc từ bạn học [21]
1.1.2.5 Các giai đoạn của dạy học theo dự án
Dựa trên cấu trúc chung của một dự án trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế, nhiều
tác giả phân chia cấu trúc của dạy học theo dự án theo 4 giai đoạn: Quyết định, lập
kế hoạch, thực hiện, kết thúc dự án Dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp,
người ta có thể chia cấu trúc của dạy học dự án làm nhiều giai đoạn nhỏ hơn
Với góc độ tiếp cận theo Chương trình dạy học cho tương lai của Intel, có
thể xác định dạy học theo dự án gồm 5 giai đoạn chính như sau:
Người dạy cũng có thể giới thiệu một số hướng đề tài để học sinh lựa chọn
và cụ thể hóa Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thểxuất phát từ học sinh Giai đoạn này được K.Frey chia thành hai giai đoạn nhỏ là đềxuất ý kiến và thảo luận sáng kiến
Trang 31Hình thành ý tưởng dự án Khi hình thành dự án thì thường kết hợp sự hình
thành ý tưởng từ yêu cầu của nội dung, mục tiêu chương trình, yêu cầu của ngườidạy và hứng thú của người học
Phân tích ý tưởng dự án: Các nhóm học tập phải thảo luận ý tưởng dự án có
thể phát triển thành đề án Người dạy cần khuyến khích động viên người học bày tỏsuy nghĩ thông qua việc thảo luận Các mục tiêu phân tích gồm: hứng thú của ngườihọc, giá trị đề án đối với việc đào tạo, khả năng thực hiện và giá trị sử dụng của dự
án [14]
Giai đoạn 2: Thiết kế dự án
Bước 1: Lập hồ sơ bài dạy
Xây dựng kế hoạch bài dạy Kế hoạch bài dạy thể hiện mục tiêu bài dạy theo
chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chứa đựng thông tin về người soạn bài, tổngquan về bài dạy, các phương tiện, thời gian cần thiết, những môn học có liên quanđến bài dạy, đối tượng bài dạy hướng tới, các bước tiến hành bài dạy, đánh giá họcsinh Đây là phần rất quan trọng trong hồ sơ bài dạy và thể hiện nội dung quan trọngnhất của dự án Phần này thể hiện ý tưởng dự án, nhiệm vụ cụ thể của từng nhómngười học và kiến thức cơ bản của bài dạy [12]
Xây dựng bộ câu hỏi khung định hướng Bộ câu hỏi khung định hướng được
thể hiện trong kế hoạch bài dạy và có nhiệm vụ rất quan trọng Bộ câu hỏi khungđịnh hướng tạo ra một bối cảnh học tập có ý nghĩa thông qua việc thiết lập mối liên
hệ giữa bài học và nhiều lĩnh vực khác trong thực tiễn đồng thời định hướng các dự
án học tập tập trung vào đơn vị kiến thức quan trọng Khi người học thật sự bị lôicuốn vào việc tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi, đó là lúc các em cảm thấy thíchthú với việc học Khi câu hỏi giúp người học nhận ra được mối liên hệ giữa mônhọc với đời sống bản thân, đó là lúc việc học trở nên có ý nghĩa Những câu hỏi nàynhằm khuyến khích người học vận dụng các kĩ năng tư duy mức cao, giúp ngườihọc hiểu rõ bản chất các vấn đề và hình thành được một hệ thống kiến thức
Bộ câu hỏi khung chương trình bao gồm các loại câu hỏi: Câu hỏi khái quát,Câu hỏi bài học và Câu hỏi nội dung [21]
23
Trang 32Câu hỏi khái quát: là những câu hỏi mở, có vai trò khơi dậy tính hứng thú, sự
quan tâm của người học; có phạm vi rất rộng, bao quát toàn diện nhiều lĩnh vực, cóthể liên quan đến nhiều bài học và nhiều môn học; Là những câu hỏi không cónhững câu trả lời cụ thể Câu hỏi khái quát mang những đặc điểm:
- Là yếu tố trọng tâm của dạy học theo dự án Những câu hỏi khái quát thườngcần đến rất nhiều lĩnh vực mới có thể trả lời được và giải quyết theo những khíacạnh khác nhau và có thể được sử dụng cho nhiều thời gian nhất Những câu trả lờicủa chúng ngày càng tối ưu và phức tạp hơn
- Lặp lại một cách tự nhiên trong suốt quá trình học tập và lịch sử của môn học
- Từ câu hỏi khái quát dẫn đến những câu hỏi quan trọng khác Những câu hỏikhái quát sẽ mở rộng vấn đề, mở rộng tính phức tạp và phong phú của chủ đề, gợi
mở hướng nghiên cứu cho cả người dạy và người học
- Giúp giáo viên tập trung vào các khía cạnh quan trọng trong chương trìnhsuốt năm học và có ý nghĩa xuyên suốt các lĩnh vực của môn học
- Đề cập đến những ý quan trọng xuyên suốt nội dung nhiều lĩnh vực (Toán, Khoa học, Văn học, Lịch sử, v.v…)
- Tập trung vào những vấn đề, mối quan tâm, hoặc các chủ đề được đề cậptrong các bài khác
- Giúp học sinh so sánh, đối chiếu và phát hiện những tương đồng Do đó, câuhỏi khái quát cần thích hợp, hấp dẫn và được đề xuất phù hợp với lứa tuổi và vốnngôn ngữ của học sinh
- Giúp phát triển trí tưởng tượng và tạo mối liên hệ giữa môn học với kiến thức và ý tưởng của học sinh
- Không có một câu trả lời hiển nhiên “đúng” cho câu hỏi khái quát, bởi vậyhọc sinh được thử thách trong việc tìm ra nhiều kết quả khác nhau Vì vậy, GV cầnkhuyến khích HS thảo luận và nghiên cứu chuyên sâu, đặt nền tảng cho các câu hỏisau này
Trang 33Ví dụ: “ Làm thế nào để con người hòa nhập cùng thiên nhiên?” có phạm vi rấtrộng, cần dùng kiến thức của nhiều lĩnh vực để trả lời, có thể sử dụng trong nhiềumôn học khác nhau, nhiều bài học khác nhau…
Câu hỏi bài học: Cũng là câu hỏi mở nhưng bó hẹp trong một chủ đề hoặc
bài học cụ thể, gắn với nội dung bài học cụ thể, vì vậy sẽ dễ tiếp cận hơn đối vớingười học Câu hỏi bài học hỗ trợ và phát triển câu hỏi khái quát Nhiều câu hỏi bàihọc trong một khóa học có thể khám phá ra nhiều khía cạnh khác nhau của các câuhỏi khái quát Câu hỏi bài học có những đặc điểm sau:
- Đưa ra các chỉ dẫn liên quan đến chủ đề và môn học cụ thể đối với các câu hỏi khái quát
- Câu trả lời đối với câu hỏi bài học không thuộc loại tự minh chứng Các câuhỏi bài học thường mở ra và gợi ý những hướng nghiên cứu, bàn luận; Câu hỏi bàihọc khai thác các phương diện, tính phức tạp phong phú của vấn đề Chúng đượcdùng để tranh luận chứ không phải dẫn đến một câu trả lời rõ ràng
- Được thiết kế để nhằm khuyến khích và duy trì hứng thú của người học.Các câu hỏi bài học sẽ có hiệu quả hơn nếu như chúng được thiết kế với mục đíchnhằm khuyến khích người học Những câu hỏi như thế thường thúc đẩy và sự tranhluận làm phương tiện để duy trì khám phá của người học Các câu hỏi nên có tính
mở để phù hợp với các sở thích khác nhau, các kiểu học khác nhau, cho phép cónhững câu trả lời duy nhất ứng với câu hỏi và hướng tiếp cận sáng tạo, thậm chí cảnhững vấn đề người dạy không đề cập
Sự khác biệt giữa câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học không quá rõ ràng.Bản thân câu hỏi không xác định nó là câu hỏi khái quát hay câu hỏi bài học Mộtcâu hỏi được sử dụng như câu hỏi khái quát hay câu hỏi bài học phụ thuộc vào việc
sử dụng nó như thế nào Ví dụ câu hỏi: “ Làm thế nào để phát triển bền vững?” Nó
có thể là câu hỏi khái quát nếu nó được sử dụng ở các lớp liên môn như Lịch sử,các lớp khoa học tự nhiên cùng thảo luận về các khía cạnh khác nhau của câu hỏi
Nó có thể là câu hỏi bài học nếu nó chỉ được sử dụng trong một bài cụ thể ( Sinhthái môi trường)
25
Trang 34Câu hỏi nội dung: là các câu hỏi về từng nội dung trong bài dạy Nó trực tiếp
hỗ trợ những chuẩn kiến thức, mục tiêu học tập và có những câu trả lời “đúng” cụthể Là những câu hỏi trợ giúp quan trọng cho câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học
Nó yêu cầu người học trả lời dựa trên nội dung bài học cụ thể Và câu trả lời ở đâyphải rõ ràng, cụ thể, thường là mệnh đề đơn Các câu hỏi này được xếp vào loại cáccâu hỏi “đóng”, kiểm tra khả năng ghi nhớ của người học, yêu cầu người học phảixác định: ai, cái gì, ở đâu, khi nào và chúng được sắp xếp theo tiêu chuẩn về mục
tiêu dạy học Vì thế, trong dạy học theo dự án, người dạy cần tổ chức việc hướng
dẫn của mình xoay quanh hệ thống câu hỏi nhằm kết nối những điều người họcquan tâm với các chuẩn kiến thức trong chương trình để đảm bảo người học đượchọc những nội dung và kĩ năng thích hợp Thông thường, đây là những câu hỏi liênquan đến các định nghĩa, nhận diện thông tin đã biết, nhớ lại nội dung bài học, đâycũng là những câu hỏi thường gặp trong các bài kiểm tra
Các câu hỏi định hướng bài dạy đòi hỏi người học phải nắm vững, hiểu rõcác câu hỏi nội dung, câu hỏi bài học, câu hỏi khái quát Các câu hỏi này sẽ là kimchỉ nam dẫn dắt nội dung và cách làm việc cho toàn bộ hồ sơ dạy học
Bước 2: Phân công nhiệm vụ cụ thể cho người học
Sau khi hoàn thiện hồ sơ bài dạy, giáo viên phân công rõ ràng nhiệm vụ chohọc sinh Mỗi nhóm thực hiện một phần hoặc nhiều phần cụ thể của dự án Việcphân công và giao nhiệm vụ chi tiết của các dự án là cơ sở để kiểm tra quá trình họctập của người học Người dạy phân công nhiệm vụ càng khoa học, dễ hiểu thìngười học càng dễ hình dung cấu trúc của dự án Làm việc theo nhóm là một trongnhững cách thức làm việc hiệu quả nhất trong dạy học theo dự án
Với học sinh THPT, do đặc điểm của tiết học và chương trình học nên ngườidạy cần chú ý đến số lượng nhóm và số người trong từng nhóm sao cho khoa họcnhằm phát huy được tính tích cực và sáng tạo của từng cá nhân Đặc biệt, việc giaonhiệm vụ cho từng nhóm phải thật chi tiết để sẵn sàng với các vướng mắc củangười học
Trong bước này, người dạy cần định hướng cho học sinh bộ công cụ hỗ trợ
dự án để học sinh có thể tiến hành thực hiện dự án Bộ công cụ hỗ trợ thực hiện dự
Trang 35án sẽ là hướng dẫn chi tiết để người học có cơ sở hoàn thành các nhiệm vụ Bộcông cụ cung cấp ban đầu càng đầy đủ thì quá trình làm việc của người học càng ítvướng mắc Tùy từng ý tưởng và hình thức của dự án mà người dạy xây dựng nênnhững bộ công cụ hỗ trợ khác nhau Về cơ bản, công cụ hỗ trợ dự án mà người dạycần cung cấp bao gồm: nguồn học liệu hỗ trợ cho người học và bộ tiêu chí đánh giácác sản phẩm của người học Người học sẽ được biết về các tiêu chí đánh giá trướckhi bắt tay vào thiết kế các dự án Nguồn học liệu là công cụ hỗ trợ thông tin chogiáo viên và học sinh trong suốt quá trình tiến hành dự án.
Với sự hướng dẫn của người dạy và sau khi được tham khảo bài mẫu vàxuất phát từ yêu cầu cụ thể của dự án, người học thảo luận xây dựng kế hoạch thựchiện dự án Tuy nhiên, mỗi dự án có cách triển khai khác nhau song về cơ bản cầnxác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phươngpháp tiến hành và phân công công việc
Một việc quan trọng nữa của người dạy là có thể xây dựng giáo án giới thiệu
dự án Giáo án cho phép người dạy hình dung cụ thể nhất về tiến trình thực hiện bàihọc trên lớp theo phương pháp dạy học theo dự án Nói cách khác, giáo án là mộtbước cụ thể hóa nữa của quy trình dạy học theo dự án đã đưa ra [23]
Giai đoạn 3: Thực hiện dự án
Trong bước này, dự án được định hình Đây là giai đoạn quan trọng nhất củadạy học theo dự án, vì đây là giai đoạn thực sự trải nghiệm của người học; Qua giaiđoạn này kiến thức được hình thành, được kiểm nghiệm qua các hoạt động thựctiễn Quan trọng nhất không chỉ là kiến thức mà các kỹ năng, hành vi, thái độ đềuđược hình thành ở giai đoạn này và phát huy hiệu quả đến các giai đoạn sau nàytrong cuộc sống
Về phía người học Với sự giúp đỡ của người dạy, người học nghiên cứu,
biến đổi hoặc tạo ra thông tin mới trong sự hợp tác để đi đến kết quả chung Cácthành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân Tronggiai đoạn này, người học thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, cáchoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Người học thu thập dữ liệu, tiếnhành các thí nghiệm, trao đổi và hợp tác với các bạn cùng lớp để phân tích, so sánh,
27
Trang 36tính toán, tranh luận Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề đượcthử nghiệm qua thực tiễn Trong quá trình đó, sản phẩm của dự án và thông tin mớiđược tạo ra.
Về phía người dạy Trong quá trình này, người dạy theo dõi quá trình thực
hiện kế hoạch đã xây dựng và sự hợp tác giữa các học sinh nhằm tạo ra một cộngđồng với việc học tập là trung tâm Do vậy, người dạy cần tạo thuận lợi cho sự traođổi thường xuyên và mở giữa các người học, tạo sự tìm kiếm thông tin từ các nguồntài liệu hỗ trợ, sự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ học tập; tạo điều kiện để các nhómthường xuyên đánh giá sự tiến triển của công việc và thường xuyên hướng dẫn, hỗtrợ, động viên, kích thích và điều chỉnh để cùng đạt đến đích [23]
Giai đoạn 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm học sinh
Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo…Trong nhiều dự án, các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành Sảnphẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểudiễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội Sảnphẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm học sinh trong lớp, có thểđược giới thiệu trong nhà trường, hay ngoài xã hội Thông thường, sản phẩm họcsinh phải hoàn thành gồm:
- Bài mẫu trình bày đa phương tiện học sinh (power point)
- Bài mẫu ấn phẩm học sinh (tờ rơi, áp phích, sản phẩm thật)
- Mẫu trang web học sinh (dạng tệp Publisher hoặc dạng html)
Về phía người dạy, cần tạo mọi điều kiện thuận lợi về thời gian, phương tiện
để người học báo cáo sản phẩm Trong buổi báo cáo, người dạy vừa đóng vai trò làquan sát viên, giám khảo và đặc biệt người dạy phải tôn trọng ý kiến người học.Mặt khác, kết thúc buổi báo cáo của người học, người dạy nhận xét và tổng hợpđịnh hướng kiến thức bài học từ các sản phẩm của người học
Về phía người học, các nhóm báo cáo phải chuấn bị sẵn sàng từ phân công
nhiệm vụ báo cáo đến việc thực hiện sao cho người học phải thể hiện được :
- Ý tưởng đã sử dụng để thực hiện dự án
- Tất cả các nhiệm vụ được giao đã được hoàn thành
Trang 37- Các thành viên trong nhóm đã tham gia vào quá trình học tập và phải trênnguyên tắc khoa học và đảm bảo về mặt thời gian Đồng thời các nhóm sẽ có sự chấtvấn chéo, đánh giá chéo và tranh luận bảo vệ ý kiến Tuy nhiên, người dạy cũngphải làm chủ được quá trình thảo luận của người học [23].
Giai đoạn 5: Đánh giá dự án
Người dạy và người học đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng nhưkinh nghiệm đạt được Việc đánh giá các sản phẩm của người học cần căn cứ vàocác tiêu chí đã công bố từ trước bao gồm: công cụ đánh giá Power Point, công cụđánh giá ấn phẩm, công cụ đánh giá trang web Kết quả của dự án cũng có thể đuợcđánh giá từ bên ngoài Việc đánh giá sẽ gồm các mặt sau:
+ Nội dung (tiêu chí) – giá trị của sản phẩm là ở chỗ nào?
+ Rút ra được bài học gì? (kiến thức, kĩ năng, thái độ,…)
+ Làm việc tập thể như thế náo?
+ Sự thoải mái và tích cực tham gia ở mức độ nào?
+ Điều gì cần tiếp tục phát huy ở những lần sau?
Kế hoạch đánh giá bài học theo dự án, phải đảm bảo được:
- Sử dụng nhiều hình thức đánh giá khác nhau
- Đánh giá định kỳ trong các chu trình dạy học
- Đánh giá những mục tiêu quan trọng của bài học
- Khuyến khích học sinh tham gia trong quá trình đánh giá
- Trước khi bắt đầu dự án, cần sử dụng dữ liệu đánh giá để xác định điểm bắtđầu bằng cách chú trọng vào những câu hỏi sau:
+ Học sinh cần chú trọng vào những kiến thức sẵn có nào?
+ Những loại hoạt động chính nào cần phải thực hiện?
+ Học sinh hoạt động nhóm như thế nào để học tập hợp tác?
- Trong suốt dự án, có thể thực hiện cùng đánh giá với học sinh để:
+ Chia sẻ mục tiêu và tiêu chuẩn học tập
29
Trang 38+ Tạo cơ hội cho học sinh tự định hướng, xác lập mục tiêu, lên kế hoạch và thực hành trong quá trình học
+ Giám sát quá trình hướng đến mục đích
+ Giám sát việc học tập và mức độ thấu hiểu
+ Thúc đẩy phản hồi từ bạn học
+ Phân tích quan niệm sai lầm
+ Xác định xem kiến thức có được vận dụng trong các tình huống mới haykhông
- Sau khi hoàn thành dự án, có thể thực hiện cùng đánh giá với học sinh để: + Xác định những lĩnh vực học tập sau tiếp theo
+ Lập kế hoạch cho các cơ hội học tập sớm nhất ngay sau đó
+ Xác lập mục tiêu mới
Như vậy, học sinh sẽ được đánh giá qua các bài tập, hoạt động bằng nhữngcông cụ đánh giá với các tiêu chí cụ thể, rõ ràng Từ đó rút ra những kinh nghiệmcho việc thực hiện các dự án tiếp theo
Giai đoạn thu thập kết quả và công bố sản phẩm của học sinh và đánh giá dự
án cũng có thể được mô tả chung thành giai đoạn kết thúc dự án
Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trongthực tế, chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cầnđược thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khácnhau, có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án
1.1.2.6 Những ưu - nhược điểm của dạy học theo dự án
Cũng giống như bất kì phương pháp dạy học nào khác, dạy học theo dự án
có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Sử dụng dạy học theo dự án, ngườidạy cần tìm ra các giải pháp để phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu để đạtđược kết quả cao nhất
Ưu điểm của dạy học theo dự án:
bộ quá trình học tập, làm cho người học năng động hơn, làm việc hiệu quả hơn,
Trang 39kiến thức về bài học trở nên sâu rộng hơn Hoạt động học chỉ thực sự có chiều sâu
khi người học chủ động Các nhà nghiên cứu phương Tây đã bổ sung và mở rộng
quan điểm của Khổng Tử thành phương pháp học chủ động (the Active learning
Credo) như sau:
“Tôi nghe, tôi quên
Tôi nghe và nhìn, tôi nhớ chút ít
Tôi nghe, nhìn, hỏi, thảo luận, tôi bắt đầu hiểu
Tôi nghe, nhìn, thảo luận và thực hành, tôi bắt đầu học được kĩ năng và kiến
Rõ ràng khi người học được chủ động tiếp nhận kiến thức, được ứng dụng
lý thuyết vào thực tiễn thì kiến thức được lưu giữ sâu hơn trong trí nhớ của họ
Trang 4031