1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức hoạt động ngoại khóa trong dạy học phần tiếng việt chương trình ngữ văn 10 trung học phổ thông

125 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 182,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những khái niệm, những công thức, trithức, việc dạy học cũng phải quan tâm đến quá trình hình thành và phát triển các kĩnăng, các quan hệ giao tiếp, các mối liên hệ gắn bó giữa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LƯU HỒNG XUÂN

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT–CHƯƠNG TRÌNH NGỮ

VĂN 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin được gửi lời cảm ơn đến quí thầy cô trong trường Đại học Giáo Dục –Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành tốt khóahọc

Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Thị Ban đãtận tình, tâm huyết hướng dẫn, cùng quý thầy cô trong Hội đồng khoa học đã dànhthời gian đọc, đóng góp ý kiến quí báu giúp tôi trong suốt quá trình nghiên cứu vàthực hiện đề tài

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các emhọc sinh các trường THPT trên địa bàn quận Đống Đa, trường THPT Đống Đa –

Hà Nội đã tạo mọi điều kiện cho tôi điều tra khảo sát và thực nghiệm sư phạm đểhoàn thành luận văn

Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhậnđược sự chỉ dẫn, đóng góp của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp để luận vănhoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 11 năm 2013

Tác giả

Lưu Hồng Xuân

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BGH: Ban giám hiệu

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục các chữ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC 9

1.1 Khái quát về hoạt động ngoại khóa 9

1.1.1 Quan niệm về ngoại khóa 9

1.1.2 Đặc điểm của ngoại khóa 11

1.2 HĐNK trong dạy học Tiếng Việt 13

1.2.1 Nội dung ngoại khóa Tiếng Việt 13

1.2.2 Các hình thức ngoại khóa Tiếng Việt 16

1.2.3 Vai trò và tác dụng của ngoại khóa trong dạy học Tiếng Việt 22

1.3 Thực trạng HĐNK trong dạy học Tiếng Việt ở lớp 10 THPT 27

1.3.1 Khảo sát thực trạng trạng HĐNK trong dạy học Tiếng Việt ở lớp 10 THPT 27 1.3.2 Những nhận xét rút ra từ kết quả khảo sát 39

Chương 2: ĐỀ XUẤT NỘI DUNG VÀ CÁCH THỨC TỔ CHỨC NGOẠI KHÓA TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT - NGỮ VĂN 10 42

2.1 Nguyên tắc lựa chọn nội dung và cách thức tổ chức ngoại khóa 42

2.1.1 Đảm bảo đáp ứng được mục đích dạy học bám sát nội dung chương trình và phù hợp với phương pháp đặc trưng của việc dạy học Tiếng Việt ở trường THPT 42 2.1.2 Đảm bảo phù hợp với đặc điểm tâm lí và khả năng nhận thức của học sinh THPT 43

2.1.3 Đảm bảo tạo hứng thú và sự sáng tạo trong học tập cho học sinh 45

2.1.4 Đảm bảo tích hợp nội dung dạy học ở trường THPT 47

2.2 Phân tích chương trình Tiếng Việt - Ngữ văn 10 THPT từ góc nhìn ngoại khóa 49 2.3 Đề xuất nội dung và cách thức tổ chức ngoại khóa trong dạy học Tiếng Việt ở lớp 10 THPT 52

Trang 6

2.3.1 Tổ chức trò chơi, hội thi Tiếng Việt 54

2.3.2 Tham quan dã ngoại 56

2.3.3 Đọc ngoại khóa 61

2.3.4 Tổ chức CLB „„Em yêu Tiếng Việt” 65

2.3.5 Tổ chức cho học sinh diễn kịch 69

2.4 Những lưu ý khi tổ chức ngoại khóa 74

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 75

3.1 Mục đích thực nghiệm 75

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 75

3.3 Nội dung thực nghiệm 75

3.3.1 Tổ chức trò chơi, hội thi Tiếng Việt 75

3.3.2 Tham quan dã ngoại 88

3.4 Kết quả thực nghiệm 90

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 96

iv

Trang 7

Bảng: 1.6 Đánh giá của giáo viên Ngữ văn về thái độ tham gia của học sinh trunghọc phổ thông về nội dung các HĐNK tiêu biểu 33Bảng: 1.7 Đánh giá của BGH về tầm quan trọng của HĐNK 34Bảng: 1.8 Đánh giá của BGH về kết quả thực hiện chức năng quản lí các HĐNK 34Bảng: 1.9 Đánh giá của BGH về hiệu quả của HĐNK 36Bảng: 1.10 Nhận thức của BGH về mức độ quan trọng của các nội dung HĐNK 37

Bảng: 1.11 Đánh giá của BGH về nhận thức, biểu hiện hành vi tham gia HĐNKcủa HS 38

Bảng 3.1 Kết quả thực nghiệm tại trường THPT Đống Đa, Hà Nội 91

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động ngoại khóa

Trong giáo dục học nói chung cũng như trong dạy học các môn học nóiriêng, HĐNK (HĐNK ) là một nội dung quan trọng bổ trợ, mở rộng nội dung dạyhọc chính khóa, tạo sự hấp dẫn cho học sinh trong quá trình học tập Trong xuhướng đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, Bộ Giáo dục đã ban hành nhiều chỉthị, văn bản liên quan đến việc đẩy mạnh các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.Nội dung của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đã được xác định trong Điều 26,Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông

có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BGD ĐT ngày02/04/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) nêu: “Nhà trường phối hợp vớicác tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục ngoài nhà trường thực hiện các hoạt độnggiáo dục ngoài giờ lên lớp Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm cácHĐNK về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông,phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật nhằm phát triểntoàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt đông vui chơi, tham quan du lịch, giaolưu văn hóa, giáo dục môi trường; các hoạt động xã hội, từ thiện phù hợp với đặcđiểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh”[22, tr 14]

Công tác ngoại khóa là một phần quan trọng, có mối quan hệ gắn bó khăngkhít với chính khóa Ngoại khóa là một hoạt động bổ sung và nâng cao chất lượngcủa chính khóa lên một bước Bên cạnh những khái niệm, những công thức, trithức, việc dạy học cũng phải quan tâm đến quá trình hình thành và phát triển các kĩnăng, các quan hệ giao tiếp, các mối liên hệ gắn bó giữa người học với hiện thựccuộc sống, và việc này liên quan mật thiết đến HĐNK Thực tiễn trong những nămgần đây ở các nhà trường phổ thông hiện nay, hoạt động dạy học Tiếng Việt nóichung và HĐNK Tiếng Việt nói riêng ít được tổ chức, lãnh đạo nhà trường và giáoviên bộ môn chưa có sự đầu tư cho hoạt động này vì họ thường chú trọng công tácchuyên môn Vì thế, kinh nghiệm tổ chức HĐNK còn hạn chế, nếu có tổ chức thìnội dung và hình thức các buổi sinh hoạt ngoại khóa cứ lặp đi, lặp lại làm cho họcsinh nhàm chán, ít hứng thú tham gia nên hiệu quả đạt được chưa cao

1

Trang 9

1.2 Xuất phát từ thực trạng dạy học Tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay

Ở nhà trường phổ thông, Tiếng Việt là một môn học giữ vai trò vô cùng quantrọng có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh (HS) những tri thức về ngôn ngữ học và

hệ thống tiếng Việt, cùng với những quy tắc hoạt động và sản phẩm của nó trongmọi hoạt động giao tiếp Mặt khác, vì tiếng nói là công cụ của tư duy nên TiếngViệt còn đảm nhận thêm một chức năng khác – chức năng trang bị cho HS công cụ

để tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học trong nhà trường Tư duy vượt trội

và giao tiếp thành công phụ thuộc rất lớn vào khả năng sử dụng ngôn ngữ của mỗi

cá nhân Tuy vậy, trong chương trình phổ thông, việc dạy Tiếng Việt chưa đượcchú trọng, bởi sách giáo khoa (SGK) vẫn còn nặng về lý thuyết khô khan Tìnhtrạng nội dung lí thuyết và bài tập thực hành mang nặng tính chất ngôn ngữ, nênhiệu quả dạy học Tiếng Việt trong nhà trường nhìn chung còn chưa cao, năng lực

sử dụng tiếng Việt của HS còn yếu kém Nhiều giáo viên (GV) chỉ quan tâm đếndạy Văn mà chưa thật quan tâm đến việc hướng HS học Tiếng Việt để giao tiếp vàgiao tiếp hiệu quả; cũng có những GV quan tâm đến việc dạy Tiếng Việt theo địnhhướng giao tiếp nhưng gặp khó khăn trong quá trình giảng dạy Từ thực tế giao tiếpvới HS, cũng như qua các bài kiểm tra, bài viết của các em, các thầy cô giáo đều cóchung nhận xét: “kĩ năng trình bày, diễn đạt của HS phần nhiều chưa tốt”; có em có

ý tưởng nhưng “không biết trình bày”, “lúng túng khi diễn đạt, nói (viết) vụng về,

sơ sài” hoặc “lập luận thiếu chặt chẽ, thiếu logic”, khiến người nghe khó nắm bắtđược vấn đề các em muốn trình bày Dạy nhiều, học nhiều và có thể biết nhiều songvẫn còn thiếu nhiều hiểu biết đến nơi đến chốn về cách thức và nghệ thuật sử dụngTiếng Việt Và kết quả tất yếu là năng lực Tiếng Việt của các em chưa đủ đáp ứngyêu cầu giao tiếp trong công việc học tập cũng như trong lĩnh vực giao tiếp xã hội

Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn đặc biệt là phần Tiếng Việt là tăngcường các HĐNK cho HS trong quá trình học tập để môn học này gắn bó hơn vớiđời sống, hạn chế được những bất cập Theo những tinh thần nêu trên, qua quá trìnhnghiên cứu sách giáo khoa Ngữ văn 10, với mong muốn góp phần vào việc nghiêncứu, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học Ngữ văn ở trường trung học phổthông (THPT) nói chung và dạy học phần Tiếng Việt nói riêng, chúng tôi chọn

Trang 10

nghiên cứu đề tài: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ TRONG DẠY HỌCTIẾNG VIỆT–CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1.Các nghiên cứu ở nước ngoài

Giáo dục hiểu theo nghĩa xã hội học là một hiện tượng xã hội, bản chất là sựtiếp nối kinh nghiệm xã hội, lịch sử qua các thế hệ Quá trình giáo dục được tổchức, thực hiện một cách có ý thức theo định chuẩn xã hội Giáo dục khi đó có mụctiêu, nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức xã hội Ở các nước phát triểntrên thế giới và trong khu vực như Mỹ, Hàn Quốc, Singapore… ngoại khóa nóichung, ngoại khóa Văn học nói riêng là một phần không thể thiếu được trongchương trình đào tạo của mình Mục tiêu cuối cùng của giáo dục nhằm phát triểntoàn diện nhân cách được giáo dục (phổ biến là HS), sự phát triển toàn diện nhâncách, sự phát triển về thể chất (thể lực, thể hình, thể năng), tâm trí (trí tuệ, tình cảm)

và năng lực thực tiễn (Mác gọi là năng lực kĩ thuật tổ chức, Phương tây gọi là kĩnăng xã hội, UNESCO gọi là kĩ năng sống)

Muốn đạt được mục tiêu của giáo dục nêu trên thì giáo dục không khuôn gọntrong thời gian trên lớp học mà phải mở rộng trong không gian xã hội, tổ chứcHĐNK là hướng đến các yêu cầu đó HS không chỉ là khách thể mà cuối cùng phải

là chủ thể của quá trình giáo dục, giáo dục không chỉ diễn ra trên lớp, trong trườnghọc mà phải thực hiện lớp, ngoài trường theo phương thức kết hợp giáo dục giữanhà trường và xã hội thông qua các hình thức như học tập, lao động, vui chơi, giáodục, sinh hoạt ngoài trời, thăm quan, du lịch, hoạt động trong môi trường, sinh hoạttập thể, v.v…

Đây chính là tư tưởng giáo dục lớn của nhân loại và dân tộc Giáo dục nhàtrường gắn liền với giáo dục xã hội, giáo dục gia đình Chẳng hạn, Khổng Tử (551– 479 trước Công nguyên) – một triết gia, một nhà giáo dục lỗi lạc của Trung Hoa

cổ đại muốn rằng qua giáo dục để tạo ra lớp người “Trị quốc” cũng phải học gắnvới hành Ông khẳng định “Đọc thuộc ba trăm thước kinh thư giỏi, giao cho việchành chính không làm được, giao cho việc đi sứ không có khả năng đối đáp, họckiểu như vậy chẳng có ích gì”

3

Trang 11

Đặc biệt J.A Cômenxki (1592 – 1670) được coi là “Ông tổ của nền sư phạmhiện đại” đã có những đóng góp lớn lao cho nền giáo dục trên thế giới Trong đó, ôngđặc biệt quan tâm đến việc kết hợp học tập ở trên lớp và hoạt động ngoài lớp nhằm giảiphóng hình thức học tập “Giam hãm trong bốn bức tường” của hệ thống nhà trườnggiáo hội thời trung cổ Ông khẳng định “học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trongsách vở mà còn lĩnh hội kiến thức từ mặt trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ”

Thomas More (1478–1535) – Nhà giáo dục Không tưởng đầu thế kỷ XVI đãđánh giá rất cao vai trò của lao động đối với con người và đối với xã hội Việc giáodục con người phải thực hiện kết hợp giáo dục nhà trường và giáo dục ngoài nhàtrường, trong lao động và hoạt động xã hội

Pétxtalôzi (1746–1827) – Một nhà giáo dục lớn của Thụy Sĩ và thế giới trongthế kỷ 19, với lòng nhân ái sâu sắc, ông muốn cứu vớt trẻ em con nhà nghèo bằng conđường giáo dục thông qua thực nghiệm giáo dục, đó là việc ông dựng ra “trại mới” -

ở đây trẻ em vừa được học tập, vừa lao động (trồng cây thiên thảo, sản xuất thuốcnhuộm vải ) ngoài lớp, ngoài trường học Theo ông hoạt động ngoài lớp khôngnhững tạo ra của cải vật chất mà là con đường để giáo dục toàn diện học sinh

C Mác (1818 – 1883) và F Anghen (1820 – 1895) – Người sáng lập họcthuyết cách mạng XHCN và là ông tổ của nền giáo dục hiện đại Ông xác định mụcđích nền giáo dục XHCN là tạo ra “con người phát triển toàn diện” Muốn vậy phảitheo phương thức giáo dục kết hợp với lao động vật chất” Đây chính là phươngthức giáo dục hiện đại

V.I Lênin (1870–1924) người phát triển học thuyết giáo dục XHCN Mác vàF.Anghen đã vận dụng phương thức giáo dục này vào thực tiễn là một trong nhữngnguyên tắc của giáo dục XHCN Trong bài phân tích “nhiệm vụ của Đoàn thanhniên” (1920) Người nói “chỉ có thể trở thành cộng sản khi biết lao động và hoạtđộng xã hội cùng với công nhân vô sản”

K Cơrupxkaia (1869 – 1939) – Nhà giáo dục Xô Viết vĩ đại đã phản ánh sâusắc ý nghĩa của hoạt động lao động, hoạt động chính trị xã hội Bà đã vận dụngphương pháp luận Mác xít vào việc nghiên cứu khoa học giáo dục và đặt nền móngphương pháp luận nghiên cứu khoa học xã hội chủ nghĩa

Trang 12

Hay A Macarencô (1888 – 1939) – Nhà giáo dục Xô Viết vĩ đại bỏ công làmmột cuộc thực nghiệm giáo dục vĩ đại trong gần 20 năm “ Trại lao động Goocki vàDecZinxki” nhằm cải tạo trẻ em phạm pháp

Như vậy, tư tưởng giáo dục trong nhà trường kết hợp với giáo dục ngoàinhà trường, kết hợp giáo dục lao động sản xuất đã được nhiều nhà giáo dục vĩ đạitrên thế giới đề cập tới và thử nghiệm thành công

2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

- Về HĐNK

Đã có rất nhiều nghiên cứu về hoạt động này Nghiên cứu HĐNK ở trườngphổ thông nhấn mạnh vai trò chủ thể trong hoạt động tập thể.; Nghiên cứu đề cậpđến các hình thức tổ chức HĐNK ; Nghiên cứu về công tác quản lý tổ chức HĐNK Tiêu biểu như:

Năm 1995, Chương trình Khoa học – Công nghệ cấp Nhà nước KX.05 với

đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước KX.05.10: “Vị trí, vai trò hoạt động củaMặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” do PGS TS Nguyễn Viết Vượng chủ nhiệm đềtài đã bước đầu xây dựng hệ thống các quan điểm lý luận, nhận thức mới, làm tiền

đề đổi mới tổ chức, hoạt động của các tổ chức, đoàn thể nhân dân trong thời kỳ quá

độ lên Chủ nghĩa Xã hội Trong đề tài đã xác định vị trí, vai trò, tính chất, chứcnăng, đặc điểm của các mặt trận, các đoàn thể, tổ chức xã hội

Luận án tiến sĩ giáo dục học của Nguyễn Thị Thành nghiên cứu về “Biệnpháp tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh trung học phổthông” Công trình đi sâu phân tích khẳng định vai trò hoạt động giáo dục ngoài giờlên lớp (NGLL) trong việc hỗ trợ các hoạt động giáo dục khác trong việc hình thànhnhững phẩm chất nhân cách, kỹ năng sống cho HS Vấn đề tác giả đặt ra là: nhàtrường và xã hội dần từng bước tổ chức hoạt động vui chơi, giải trí có tính kỹ thuật,nghệ thuật để các em phát triển năng khiếu, tài năng của mình và sâu xa hơn là quacác hoạt động đó mà tác động tới việc hình thành nhân cách của HS

Công trình nghiên cứu: “Tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinhlớp 6 ”, tác giải Phạm Hoàng Gia bằng cách tác động tới cha mẹ HS, các lực lượnggiáo dục về định hướng giá trị và coi trọng hơn nữa kết quả học tập cho thấy tổ

5

Trang 13

chức hoạt động học tập, nếu lồng ghép được ý nghĩa tập thể thì nhân cách của HScũng được phát triển.

Hà Nhật Thăng trong cuốn “Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục” [24, tr.44] cũng đã đề cập đến sự cần thiết mục tiêu, nội dung, một số nguyên tắc tổ chứchoạt động giáo dục, hệ thống kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục và phương pháp

tổ chức hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm (GVCN) lớp

Trong sách “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” Hà Nhật Thăng (Tổngchủ biên kiêm chủ biên) – Sách giáo viên từ lớp 6, 7, 8, 9, [24, tr 45 - 48] cũng đãnêu lên mục tiêu, nội dung chương trình hoạt động giáo dục NGLL, phương tiện,trang thiết bị cho việc tổ chức hoạt động giáo dục NGLL, đánh giá kết quả tổ chứchoạt động giáo dục NGLL của HS, đồng thời hướng dẫn thực hiện cụ thể các chủđiểm giáo dục

Trong các bài viết của tác giả Nguyễn Dục Quang đã đề cập vấn đề đổi mớinội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục NGLL, giáo dụcquốc tế cho học sinh qua các hoạt động giáo dục NGLL [2., tr 22, 38, 39, 43], ngoài

ra còn không ít các khóa luận đại học và luận văn thạc sỹ nghiên cứu vấn đề này ởnhững khía cạnh khác nhau

Như vậy, đã có rất nhiều tác giả đề cập tới vấn đề HĐNK , song các tác giảhầu hết chỉ đưa ra các hình thức tổ chức, các biện pháp quản lý hoạt mà chưa phântích các biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả hoạt động này cho HS, chưa làm nổibật vai trò thế mạnh của HĐNK trong việc hình thành nhân cách HS góp phần nângcao chất lượng giáo dục toàn diện các trường THPT trong giai đoạn hiện nay Cácchương trình trên cũng chưa đi sâu nghiên cứu các biện pháp tổ chức HĐNK chođối tượng HS THPT

- Về ngoại khóa Tiếng Việt

Trong các giáo trình về lí luận và phương pháp dạy học văn đều có dành mộtphần bàn về ngoại khóa và các HĐNK Văn học nói chung, ngoại khóa Tiếng Việt nóiriêng, như: "Hoạt động văn học ngoài nhà trường, vị trí của công tác ngoại khóa vănhọc", "Công tác ngoại khóa văn học với nhiệm vụ đào tạo con người toàn diện của nhàtrường xã hội chủ nghĩa", "Nguyên tắc HĐNK văn học" của GS Phan Trọng Luận;

"Tổ chức và hướng dẫn học sinh đọc ngoại khóa văn học" của TS.Trần Thanh

Trang 14

Bình; gần đây nhất, một số hội thảo đáng chú ý đề cập đến vấn đề HĐNK như: Hộithảo "Hiệu quả của HĐNK đối với việc nâng cao chất lượng dạy-học trong nhà trườngphổ thông" của Viện Nghiên cứu giáo dục-Trung tâm Đánh giá và kiểm định chấtlượng giáo dục; Hội thảo "Công tác quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ởtrường phổ thông" của Trường Cán bộ quản lí giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh cũng

đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề xung quanh HĐNK , hoạt động ngoại khóa văn học

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề xuất nội dung và cách thức tổ chức HĐNK trong dạy họcTiếng Việt 10 - THPT nhằm củng cố, khắc sâu, mở rộng kiến thức tiếng Việt chohọc sinh Thông qua đó, phát huy tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo của HS;tạo cho các em hứng thú học tập và yêu thích môn học này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

(1) Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu như: về tínhtích cực, năng lực sáng tạo; việc tổ chức dạy học ngoại khóa Tiếng Việt, việc vậndụng kiến thức vào việc tổ chức một số HĐNK Tiếng Việt lớp 10 THPT

(2) Khảo sát thực trạng dạy học ngoại khóa Tiếng Việt tại một số trường THPT thuộc địa bàn thành phố Hà Nội

(3) Đề xuất nội dung và cách thức tổ chức ngoại khoá cho một số đơn vị kiến thức

về Tiếng Việt 10 – THPT

(4) Tổ chức thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của đề xuất và rút ra một số kết luận cần thiết

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chương trình Tiếng Việt 10 và việc tổ chức ngoại khoá Tiếng Việt lớp 10 - THPT

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Các bài học trong chương trình Tiếng Việt - Ngữ văn 10 THPT

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Đọc và phân tích các tài liệu, văn bản để tìm hiểu các khái niệm thuật ngữ vàvấn đề lý luận liên quan đến hoạt động ngoại khóa, biện pháp tổ chức hoạt động

7

Trang 15

ngoại khóa, đặc điểm tâm lý, phương pháp giáo dục học sinh THPT, nghiên cứuđịnh hướng, đổi mới giáo dục Việt Nam và chương trình đổi mới giáo dục THPT.

5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Sử dụng nhóm phương pháp này nhằm xem xét, phân tích các biện pháp,cách thức tổ chức HĐNK cho HS ở các trường THPT, đảm bảo tính chân thực,khách quan của đối tượng nghiên cứu

(1) Phương pháp quan sát: Quan sát các kỹ năng, thao tác của HS khi tổ chức hoặc

tham gia các HĐNK

(2) Phương pháp tọa đàm: Trò chuyện trao đổi với HS, GV, phụ huynh, để đánh

giá nhận thức, hành vi, thái độ của HS, đánh giá những biện pháp tổ chức HĐNK (3) Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các của các chuyên gia với các

nhà quản lý thu nhập các thông tin cần thiết liên quan đến đề tài biện pháp tổ chứcHĐNK , nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THPT

5.3 Các phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Phân tích những kinh nghiệm trong và ngoài nước của việc tổ chức HĐNK

ở các trường THPT, từ đó đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động phù hợp với từng địa phương, từng trường THPT

5.4 Phương pháp thực nghiệm

Tổ chức thực nghiệm một số biện pháp tổ chức HĐNK ở trường THPT đềxuất nhằm kiểm chứng tính khả thi và kết quả của các hoạt động ở trường THPT vềmột số nội dung đã chọn và đánh giá mức độ hoàn thành của luận văn so với mụcđích nghiên cứu của đề tài

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn trình bày thành 3chương :

Chương 1 : Cơ sở khoa học của việc tổ chức HĐNK Tiếng Việt

Chương 2 : Đề xuất nội dung và cách thức tổ chức ngoại khóa trong dạy họcTiếng Việt - chương trình Ngữ văn 10 THPT

Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC

1.1 Khái quát về hoạt động ngoại khóa

1.1.1 Quan niệm về ngoại khóa

Từ điển Tiếng Việt giải thích ngoại khóa là: ” môn học hoặc hoạt động giáo

dục ngoài giờ, ngoài chương trình chính thức (nói khái quát): phân biệt với nộikhóa” [2., tr 66] Cách cắt nghĩa này chủ yếu nhìn từ phương diện ngôn ngữ, vìvậy, chưa làm rõ được vị trí, vai trò cũng như quan hệ mật thiết giữa HĐNK(HĐNK ) và chính khóa Bởi, ngoại khóa không đơn thuần là một nội dung thứ yếuđộc lập với chính khóa mà song hành, hỗ trợ trực tiếp cho chương trình chính khóa

Ở Việt Nam, những năm gần đây, cùng với việc đổi mới nội dung, phươngpháp dạy học ở các bậc học thì HĐNK ngày càng được các nhà giáo dục chú trọnghơn Trước hết, đó là sự thay đổi nhận thức về vai trò của HĐNK trong chươngtrình giáo dục Sau những giờ học tập căng thẳng trên lớp, thời gian dành chonhững HĐNK giúp học sinh chủ động tham gia, vui vẻ xả stress, nâng cao được kĩnăng sống; tham gia những HĐNK , HS còn có điều kiện gần gũi nhau hơn, chia sẻvới nhau những kiến thức mà mình đã học tập được, rèn luyện bản lĩnh tuổi trẻ,tính tự lập, lòng dũng cảm, sự nhanh nhẹn tháo vát và tinh thần tương thân tương

ái trong quan hệ cộng đồng, bạn bè Ngoại khóa cũng là một loại hình hoạt độnggiáo dục đào tạo nằm trong những phạm vi quy phạm giáo dục của nhà trường Đónhững hoạt động ngoài thời gian trên lớp, có hoặc không có sự chỉ đạo hay hướngdẫn của GV, đối tượng tham gia chính là HS; có nội dung liên quan trực tiếp haygián tiếp đến môi trường dạy và học mang tính giáo dục cao

Xã hội hiện đại đòi hỏi người có học vấn không chỉ có khả năng lấy ra từ trínhớ các tri thức dưới dạng có sẵn, đã lĩnh hội ở nhà trường phổ thông; mà còn phải cónăng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức một cách độc lập; khả năng đánh giá các sựkiện, các tư tưởng, các hiện tượng mới một cách thông minh, sáng suốt khi gặp vấn đềtrong cuộc sống, trong lao động và trong mối quan hệ giữa người với người Nội dungkiến thức được hình thành và phát triển trong quá trình được đào tạo trong nhà trường

và quá trình tự học phải góp phần quan trọng để phát triển hứng

9

Trang 17

thú và năng lực nhận thức của học sinh; cung cấp cho HS những kĩ năng cần thiết cho việc tự học và tự giáo dục sau này.

Tuy nhiên, những nội dung kiến thức được trình bày trong SGK không đủđáp ứng được yêu cầu phát triển con người mới theo mong muốn Chính vì vậy,bên cạnh các hoạt động phục vụ chương trình chính khóa, phải có các HĐNK HĐNK là dịp để HS củng cố, đối chiếu những kiến thức đã được học và giúp các

em phát huy cao độ tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc tiếp thu tri thức mới

HĐNK là hoạt động giáo dục sự lĩnh hội và hoạt động thẩm mĩ, là các hoạtđộng nằm ngoài chương trình học chính khóa, thường mang tính chất tự nguyệnhơn là bắt buộc, là một hoạt động không đặt sự giảng dạy của GV lên hàng đầu, màxem trọng hoạt động tự giác, sự vận dụng sáng tạo của HS Các HĐNK cho phép

HS tự thể hiện ý kiến và suy nghĩ, góp phần xây dựng kỹ năng lãnh đạo và áp dụngkiến thức vào thực tế HS biết cách học một cách kiên nhẫn để đạt đến mục tiêu,phát triển tài năng hay kỹ năng cũng như xây dựng nhân cách trong quá trình tựhọc tập HS có thể tham gia HĐNK ở lớp/trường hoặc ngoài xã hội với nhiều lựachọn khác nhau: thể thao, văn hóa, nghệ thuật

Về hiệu quả của HĐNK , các nhà giáo dục khẳng định: “Bên cạnh chứcnăng củng cố, mở rộng kiến thức và kỹ năng của một môn học nào đấy được học ởchương trình chính khóa, HĐNK đáp ứng yêu cầu đa dạng hoá hình thức học tập,khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện tư duy sáng tạo, phát triển‟‟; HĐNKgóp phần “ rèn luyện kỹ năng sống, các kiến thức xã hội và các năng lực khác chohọc sinh” [3.tr 17]

Ngoài tác dụng tích cực đối với người học, HĐNK “còn góp phần hoànthiện khả năng chuyên môn và kỹ năng sư phạm của người thầy trong quá trìnhchuẩn bị và "đồng hành" với người học khám phá kiến thức mới.” [3.tr 50] Chính

vì vậy, hiện nay ngoại khóa là một nội dung không thể thiếu trong chương trìnhgiáo dục ở tất cả các bậc học Tuy nhiên, HĐNK là những hoạt động được thựchiện ngoài giờ học, tuỳ thuộc vào hứng thú, sở thích, nguyện vọng của mỗi HStrong khuôn khổ khả năng và điều kiện tổ chức có được của nhà trường

Trang 18

Như vậy, HĐNK là một thuật ngữ dùng để chỉ các hình thức hoạt động nằm ngoài chương trình học chính khóa, kết hợp dạy học với vui chơi, nhằm mục đích gắn việc giảng dạy, học tập trong nhà trường với thực tế xã hội.

1.1.2 Đặc điểm của ngoại khóa

Nhiệm vụ trung tâm mà nhà trường phổ thông ngày nay đang ra sức phấnđấu chính là nhiệm vụ rèn luyện đào tạo con người mới phát triển toàn diện về trí,đức, thể, mĩ,… Để đảm đương được nhiệm vụ to lớn đó, nhà trường phải nỗ lựcphấn đấu với tất cả những khả năng có thể có của mình Những kết quả nghiên cứutâm - sinh lý của HS và điều tra xã hội gần đây trên thế giới cũng như ở nước tacho thấy thanh thiếu niên có những thay đổi trong sự phát triển tâm-sinh lý, đó là sựthay đổi có gia tốc Trong điều kiện phát triển của các phương tiện thông tin đạichúng, trong bối cảnh hội nhập, mở rộng giao lưu, HS được tiếp nhận nhiều nguồnthông tin đa dạng, phong phú từ nhiều mặt của cuộc sống, có hiểu biết nhiều hơn,linh hoạt và thực tế hơn Trong học tập, HS không thỏa mãn với vai trò của ngườitiếp thu thụ động, không chỉ chấp nhận các giải pháp đã có sẵn được đưa ra Nhưvậy, ở lứa tuổi này nảy sinh một yêu cầu và cũng là một quá trình là sự lĩnh hội độclập các tri thức và phát triển kĩ năng Nhưng các phương thức học tập ở HS nếumuốn được hình thành và phát triển một cách có chủ định thì cần thiết phải có sựhướng dẫn đồng thời tạo các điều kiện thuận lợi nhất

Trong công tác ngoại khóa, năng lực hoạt động tự lập của HS được phát huy.Các em tìm hiểu, nghiên cứu, suy nghĩ và tự mình trình bày các kiến thức mà tự mìnhkhám phá được GV không phải là người lên lớp giảng bài, truyền thụ kiến thức, ởđây công tác độc lập của HS chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng Ngoài tác dụng giáodục tư tưởng, tình cảm, mở rộng, bổ sung cho kiến thức nội khóa, phát triển tài năng

cá nhân, nâng cao khả năng hoạt động tự lập, trình độ thực hành và khả năng làm việctập thể của HS được phát huy rõ rệt Công tác ngoại khóa được tổ chức tốt còn có tácdụng gắn liền HS với đời sống một cách có hiệu quả HĐNK là một cầu nối giúp HSvận dụng kiến thức vào đời sống, sinh hoạt gần gũi với tập thể, với nhân dân hơn mộtbước Ngoại khóa không chỉ nhằm mục đích phục vụ nội khóa như bổ sung, nâng cao,đào sâu kiến thức và kĩ năng của chính khóa; nó còn có tác dụng tốt đối với việc giảngdạy của giáo viên, củng cố mối quan hệ đúng đắn giữa

11

Trang 19

thầy và trò.

Đối với GV, giờ học ngoại khóa giúp họ hiểu hơn về HS của mình, phát hiệnđược khả năng của các em, từ đó mà điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho phùhợp; GV có thêm vốn kiến thức thực tế để bài giảng phong phú hơn, và họ tự tinhơn khi truyền thụ kiến thức cho HS

Trong Báo cáo chính trị của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tai Đạihội lần thứ III đã khẳng định: "Công tác giáo dục và đấu tranh tư tưởng phải gắnliền với cuộc sống, nó phải cụ thể, tinh tế, linh hoạt, có lí có tình, không được trừutượng, giản đơn, rập khuôn cứng nhắc" [21] GV phải biết đi sâu vào tâm hồn, tìnhcảm của các em để uốn nắn và xây dựng Chính trong HĐNK , GV có điều kiệngần gũi với HS để nắm vững những biểu hiện về đạo đức, tư tưởng, tình cảm củacác em ngay trong sinh hoạt hằng ngày cũng như trong sinh hoạt tập thể Phạm vinhững giờ lên lớp không cho phép GV hiểu được sâu sắc đối tượng mà mình giáodục vì tình cảm, đạo đức của HS không phải là những khái niệm, những công thức,những câu lí luận trong sách vở Thời gian học tập trên lớp thì hạn chế mà nhu cầuhiểu biết của HS là không có giới hạn Công tác ngoại khóa được tổ chức một cáchhợp lí và có chất lượng sẽ mở rộng và nâng cao vốn hiểu biết của HS

HĐNK là hình thức dạy học mang tính tích hợp cao, có tác dụng phát triển kiếnthức và rèn luyện kĩ năng toàn diện cho người học, là một trong những con đường đểphát triển năng lực trong mỗi cá nhân HS trong nhà trường phổ thông, tạo ra môitrường thuận lợi để HS phát triển tư duy, hình thành nhân cách đáp ứng theo yêu cầucủa xã hội Nó đóng một vai trò quan trọng trong việc bổ sung các kĩ năng và kinhnghiệm sống cho HS, giúp HS trở thành một con người toàn diện và thú vị hơn

HĐNK cũng góp phần đổi mới phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyềnthụ một chiều như bấy lâu nay của ta, giúp HS rèn luyện thói quen, biết cách tự học

và hợp tác trong học tập; tích cực, chủ động, sáng tạo trong phát hiện và giải quyếtvấn đề để tự chiếm lĩnh tri thức mới; giúp HS tự đánh giá năng lực của bản thân;đồng thời góp phần giúp GV phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng lựcđặc biệt, đem lại chất lượng mới cho giáo dục phổ thông nói riêng, cho ngành giáodục và đào tạo Việt Nam nói chung

Điều lệ trường trung học (Điều 26) quy định: "Nhà trường phối hợp với các

Trang 20

tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục ngoài nhà trường thực hiện các hoạt động giáo dụcngoài giờ lên lớp Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các HĐNK về khoahọc, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xãhội, giáo dục giới tính, pháp luật nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu;các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hóa, giáo dục môi trường;các hoạt động xã hội, từ thiện phù hợp với đặc điểm sinh lí tuổi học sinh" [22, tr 14].Quy định này cũng đồng thời là những nội dung cụ thể mà HĐNK phải hướng đến Tổchức thực hiện các HĐNK cũng là tổ chức thực hiện điều lệ.

HĐNK là một khoa học sử dụng tổng hợp tri thức của nhiều hình thứchọc tập Đồng thời nó còn là một trong những biện pháp hiệu lực nhằm gắn liềnviệc giảng dạy và học tập văn học với đời sống, góp phần đào tạo và xây dựng conngười toàn diện cho xã hội

1.2 HĐNK trong dạy học Tiếng Việt

1.2.1 Nội dung ngoại khóa Tiếng Việt

Mục tiêu của hoạt đông ngoại khóa là nhằm củng cố, khắc sâu những tri thức đãhọc qua các môn học trên lớp, mở rộng, nâng cao hiểu biết cho học sinh về các lĩnhvực đời sống xã hội, tăng vốn hoạt động thực tiễn… Chương trình Ngữ văn hiện nayđược xây dựng theo tinh thần tích hợp, gắn bó chặt chẽ giữa phân môn Văn học -Tiếng Việt - Làm văn Mục đích của môn Ngữ văn là rèn luyện năng lực cảm thụ cáiđẹp trong văn học nghệ thuật, biết sử dụng tiếng Việt để giao tiếp có hiệu quả, biết yêunước, yêu xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở đó, người dạy phải xây dựng nội dung ngoạikhóa sao cho phù hợp.Về nội dung của HĐNK đối với GV, kinh nghiệm cho thấyngười phụ trách ngoại khoá phải nắm bắt được những vấn đề khó khăn từ thực tếgiảng dạy của đồng nghiệp, có thể là những vấn đề thuộc về kiến thức, về kĩ năng,phương pháp giảng dạy Cũng có thể là những vấn đề khó khăn từ phía HS: trình độ,tâm lý tiếp nhận Người chủ trì ngoại khoá phải tập hợp được nhiều ý kiến tranh luậncủa các thành viên tham dự, phải coi đó là điều bình thường, là dấu hiệu chứng tỏnhững vấn đề, những nội dung mà người chủ trì ngoại khoá đưa ra đã thực sự là vấn

đề được quan tâm Đồng thời, người chủ trì tổ chức ngoại khoá cũng cần đưa ra đượcnhững đề xuất, cách thức giải quyết các vấn đề khó khăn, bức xúc một cách kịp thời,thể hiện được tiếng nói và trí tuệ, quyết tâm của cả tập thể Người tổ

13

Trang 21

chức cần tôn trọng và hiểu biết điều này để phát huy trí tuệ của tập thể, của đồngnghiệp trong điều kiện tốt như thế Việc dạy tiếng chỉ có hiệu quả khi quá trình dạyhọc trở thành quá trình tổ chức và hoạt động giao tiếp Kết quả của HĐNK phụ thuộcrất nhiều vào phương pháp làm việc giữa thầy và trò Nó tạo ra không khí thân mật,gần gũi giữa thầy và trò; tạo ra những tranh luận khoa học cần thiết giữa các nhóm HSvới nhau Thể hiện ở chỗ: mỗi HS đều tham gia vào hoạt động và bộc lộ hết mình GVđóng vai trò dẫn dắt HS thực hiên các thao tác cần thiết, trên cơ sở phân tích mục đích

- yêu cầu - nội dung của buổi ngoại khoá nhằm phát triển hứng thú nhận thức - sángtạo ở các em Khi hướng dẫn HS tham gia vào quá trình này, GV đã phát huy được tínhtích cực, chủ động, của các em qua các mặt: sưu tầm tư liệu, chuẩn bị bài, phát biểu ýkiến, đánh giá và vận dụng… Việc làm này hình thành ở HS nhu cầu tự học, cách tíchluỹ và khai thác kiến thức Mặt khác, nhiều "mẫu" trong SGK mặc dù đã được chọnlọc nhưng vẫn không thể phong phú, đa dạng bằng thực tiễn nói năng hàng ngày.Nhiều công thức, qui tắc, khái niệm trừu tượng chưa được hiểu sâu, hiểu kĩ ở phầnchính khoá sẽ được phản ánh sinh động, cụ thể hơn trong thực hành giao tiếp qua hệthống ngữ liệu được HS tập hợp HS sẽ biết rút ra những qui tắc, thể thức cần thiết choviệc sử dụng tiếng Việt, hình thành nên kĩ năng, kĩ xảo Những nhận xét, kết luận củacác em sẽ không mang tính sơ lược, phiến diện mà trở nên có cơ sở khoa học nhờđược kiểm chứng bằng phản xạ, bằng trực cảm tự nhiên của người bản ngữ Kiến thứcđược hình thành theo lối qui nạp như vậy sẽ chắc chắn hơn, hiệu quả hơn so với lốidạy "chay", thuần tuý thuyết trình

Nội dung của HĐNK nói riêng và ngoại khóa phần Tiếng Việt trong chươngtrình Ngữ văn THPT nói chung rất phong phú và đa dạng thể hiện qua các hoạt độngnhư đọc sách, văn nghệ, nghiên cứu, tham quan, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sinh hoạtcâu lạc bộ (CLB), tổ chức triển lãm… nhờ đó các kiến thức tiếp thu được ở trên lớp có

cơ hội được áp dụng, mở rộng trên thực tế, đồng thời có tác dụng nâng cao hứng thúhọc tập môn Ngữ văn ở trường phổ thông Tiếng Việt là một môn học mang tính đặcthù: học tiếng Việt để sử dụng nó thành thạo trong giao tiếp hằng ngày Thông qua bàihọc ngoại khóa giúp học sinh nắm được những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt, đồngthời có ý thức rèn luyện thói quen và năng lực sử dụng tiếng Việt theo yêu cầu đó Rènluyện về tiếng Việt để rèn luyện về tư duy lôgic, giúp HS có cơ sở học tốt các môn

Trang 22

học khác: biết phân tích - phán đoán, có khả năng rút ra kết luận và suy luận một cáchkhoa học, biết cách giải quyết có hiệu quả những tình huống vấn đề trong học tập vàcuộc sống Trên nền tảng về kiến thức và kỹ năng, HS khi học tiếng Việt phải có nănglực hành động, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp và năng lực tự khẳng định Phảixác định rằng ngoại khoá trong chương trình chung của môn học về HĐNK thườngtiến hành sau những bài học (lý thuyết) ở phần chính khoá, được nhấn mạnh lại ở phầnnày nên GV cần bao quát phạm vi tri thức - kĩ năng thể hiện nó trong hệ thống củaphân môn để đề ra yêu cầu thực hiện nó với thời lượng thích hợp, tránh làm xáo trộnchương trình và trùng lặp về kiến thức Tốt nhất là phần chính khoá chỉ nên giới thiệu

ở một chừng mực cần thiết cho sự hiểu biết tối thiểu về một mặt nào đó của vấn đề đểqua đó gợi trí tò mò, ham tìm tòi, phát hiện ở HS, đặt cơ sở cho việc trình bày nó sâuhơn, đầy đủ hơn trong phần ngoại khoá Trong phần Tiếng Việt 10, cần phải căn cứ vàonội dung bài học chính khóa để xác định nội dung và hình thức tổ chức HĐNK Ví dụ,sau khi học xong bài học Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, HS hiểu được đặc điểm củaphong cách ngôn ngữ này trong giờ học chính khóa trên lớp Qua ngoại khóa sân khấuhóa văn học, các em được xem và được biểu diễn các trích đoạn chèo cổ dân gian,chơi các trò chơi đố vui Tiếng Việt, giải đáp các ô chữ, học sinh được mở rộng thêmkiến thức về phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, lời ăn tiếng nói vừa gần gũi bình dị, vừa

tế nhị và hết sức duyên dáng của ông bà ta xưa Từ đó các em biết vận dụng hiểu biết

về phong cách ngôn ngữ sinh hoạt để tạo lập và lĩnh hội văn bản phù hợp phong cách.Hay qua hình thức sinh hoạt CLB, tổ chức các đêm thơ, các buổi văn nghệ, HS sẽđược sắm vai các liền anh liền chị, hát những bài hát giao duyên, giã bạn quan họ, rồigiao lưu với các thầy cô giáo trong tổ bộ môn để tìm hiểu thêm ý nghĩa của các bài cadao dân ca mà mình vừa thể hiện, qua đó các em cũng được thực hành về các phép tu

từ ẩn dụ và hoán dụ, phép điệp và phép đối trong chương trình Tiếng Việt lớp 10 thậtthú vị và sâu sắc Muốn đạt được điều đó, người tổ chức các HĐNK phải lựa chọn nộidung ngoại khoá đảm bảo tính thiết thực - bổ ích, tính thực tiễn - khả thi, tính ứng dụng

- thực hành cao tránh đưa vấn đề ra một cách chung chung, sơ lược, phiến diện.Những nội dung chủ đề tìm hiểu về Tiếng Việt vừa phải có ý nghĩa - tức là phải đượckhái quát từ nhiều dạng hoạt động và sử dụng tiếng Việt không mang tính khiên cưỡng

và cá biệt - lại vừa phải phù hợp đặc điểm tâm lý - nhận

15

Trang 23

thức của HS Tiếng Việt đang trên đà phát triển mạnh mẽ, để theo kịp với đà pháttriển của xã hội về mọi mặt cho nên những vấn đề ngoại khoá cũng cần được

"soạn" theo sát hướng phát triển này, qua đó giúp HS đón nhận được những tri thức

- thành tựu mới của Việt ngữ học như: ngôn ngữ học văn bản, ngữ pháp chức năng,ngữ nghĩa học, ngữ dụng học… góp phần củng cố thêm những khái niệm vốn rấttrừu tượng và khó hiểu đối với HS mà ở phần chính khoá chưa có điều kiện nhấnmạnh, đào sâu (như: tiền giả định, hàm ngôn, hàm ý, hàm ẩn, ý nghĩa tình thái, ngữcảnh…) Ngoài ra, khi tiến hành một nội dung ngoại khoá nào đấy, GV cũng cầngiúp HS nhận ra đặc điểm loại hình của tiếng Việt - một thứ tiếng tiêu biểu cho loạihình ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính, không biến hình (biểu hiện ở các phươngdiện khác nhau của nó) Việc phân tích, miêu tả tiếng Việt cần xuất phát từ lời ăntiếng nói hằng ngày của người Việt để rút ra qui tắc sử dụng nó, tránh bị ảnh hưởng

từ những ngôn ngữ xa lạ như các tiếng châu Âu

Thông qua HĐNK Tiếng Việt, người học đã trưởng thành và học tập được rấtnhiều, rất sâu sắc những vấn đề mà trong các hoạt động chính khóa không đủ đáp ứng

1.2.2 Các hình thức ngoại khóa Tiếng Việt

Cơ sở lựa chọn hình thức ngoại khóa là phải đảm bảo số lượng, năng lực,điều kiện và hoàn cảnh của học sinh Do điều kiện hòan cảnh để xác định hình thức,không lặp lại cái cũ, cách thức tiến hành ở các lớp và các thời điểm là phải khácnhau Ngay cả tên Câu lạc bộ dù không thay đổi thì nội dung thực hiện cũng khácnhau Giáo viên không nên áp đặt mà nên xuất phát từ nhu cầu thực sự của học trò

Việc phát triển hứng thú cho HS trong HĐNK đòi hỏi GV phải lựa chọn nộidung và cụ thể hoá hình thức ngoại khoá; đồng thời sáng tạo thêm những cách làmmới và vận dụng nó một cách linh hoạt sao cho phù hợp với điều kiện, tình hìnhthực tế ở từng địa phương, tôn trọng tính tiếp thu vừa mức, vừa sức của HS HĐNK

có thể được tổ chức dưới nhiều dạng: dạng tập thể, dạng nhóm theo năng khiếu,dạng thường kì hay đột xuất nhân những dịp kỉ niệm hay lễ hội Ví dụ: cắm trạichào mừng ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, thành lập Đoàn TNCS HCM;học nhảy cuối tuần

HĐNK có thể do tổ bộ môn, GVCN, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và học sinh của một lớp, một khối lớp hay toàn trường thực hiện Đối với

Trang 24

phần Tiếng Việt trong chương trình ngữ văn 10 THPT có rất nhiều hình thức tổchức HĐNK Ở bậc Tiểu học, tư duy của HS thường mang tính trực quan, cảmtính, bao giờ cũng phải gắn liền với những sự vật, hình ảnh được tri giác cụ thể -trực tiếp Còn bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông thì các em đã biết tư duytrừu tượng Người tổ chức căn cứ vào những đặc điểm thực tế của HS mà lựa chọnhình thức ngoại khóa phù hợp, sinh động, gây hứng thú, tránh sự đơn điệu, gò bó,căng thẳng Phải làm sao để những "trò chơi ngôn ngữ" cũng như những vấn đề vềtiếng mẹ đẻ mà người thầy gợi ra có sức hấp dẫn, lôi cuốn được tất cả HS tronglớp, huy động các em tham gia tích cực vào quá trình tìm kiếm ngữ liệu, khám phátri thức, chủ động phát hiện vấn đề, biết bảo về quan điểm, biết trình bày kết quảkhảo sát của mình trên cơ sở cùng tham gia một hoạt động tập thể… Để làm đượcđiều này, vai trò của GV rất quan trọng: định hướng trò chơi, gợi ý cách hiểu vấn

đề, sửa những lỗi sau trong khi sắp xếp phân loại ngữ liệu, đưa ra nhận xét, đánhgiá chính xác, động viên và khích lệ tinh thần tập thể ở các em

Do đó, việc truyền giảng các khái niệm chuyên sâu - các thuật ngữ khoa họckhông dễ dàng và đơn giản GV cần chuẩn bị những tài liệu hấp dẫn và đa dạng,những hình thức là trò chơi trí tuệ giúp HS phát triển lời nói, làm giàu vốn từ, nângcao năng lực biểu đạt cả trong nói và viết Có những hình thức ngoại khoá sau đây:

•Dạ hội Tiếng Việt

Ở bậc THCS, các trò chơi ngôn ngữ vẫn tiếp tục được thực hiện nhưng có

mở rộng hơn với những hình thức phong phú, đa dạng, mới lạ hơn như:

Trang 25

• Kết bạn

• Ô quan

• Chơi bài tạo câu…

Lên bậc PTTH, khi trình độ tư duy của HS phát triển ở mức khái quát hơn,trừu tượng hơn và năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ của các em trở nên hoàn thiện hơnthì một số hình thức trên không còn phù hợp nữa do hiệu quả nhận thức và tính ứngdụng không cao Một số hình thức ngoại khoá khác vẫn được kế thừa nhưng đượcnâng cao hơn về yêu cầu-quy mô-tính chất (phù hợp với việc cung cấp dung lượngkiến thức cho HS ở bậc này nhiều hơn và cao hơn ở bậc dưới)

Chẳng hạn, cùng thực hiện trò chơi ngôn ngữ với mục đích luyện phản ứngnhanh, mở rộng vốn từ và kết hợp từ, nếu ở bậc Tiểu học, HS chỉ đơn giản gọi tênnhanh các vật đưa ra trong dạng hình vẽ, hoặc cho trước một chữ cái rồi gọi nhanhtên các loài cây, con vật… thì ở bậc PTTH lại áp dụng hình thức "qua hình vẽ đoán

ý nghĩa của từ, ngữ" Ví dụ: Còn ở hình thức thi đố, nếu ở bậc Tiểu học, HS chỉdừng ở mức tìm những từ mà đọc từ trái sang phải, từ phải sang trái đều như nhau(những âm tiếng có phụ âm đầu và phụ âm cuối giống nhau như: nan, ngang, các,tốt, chếch…) thì lên bậc PTTH, khi đố chữ, đố hình ảnh - sự vật, HS được yêu cầuphải liên hệ, suy luận ở mức cao hơn: phải nắm được ý nghĩa sự vật trong cáctrường đồng nghĩa, phân biệt được hiện tượng đồng âm giữa các từ cũng như nhận

ra sự chuyển nghĩa phức tạp của từ trong ngữ cảnh sử dụng

Cách này phát huy khả năng liên tưởng, liên hệ phong phú của HS, rèn chocác em thói quen tư duy chính xác Người nào đoán được đúng, được nhiều thìngười đó có vốn từ phong phú, có khả năng trực cảm cao về tiếng mẹ đẻ HS vừađược mở rộng kiến thức và văn hoá - xã hội - lịch sử qua ý nghĩa của các thành ngữ

- tục ngữ vừa biết cách phân tích cấu trúc của nó (tính chất cân xứng về vần điệu,

âm thanh trong câu tục ngữ; tính chất "đối" hoặc "so sánh" trong thành ngữ)

Ngoài ra, ở bậc PTTH còn có thể áp dụng những hình thức như:

Sưu tầm tài liệu, ngữ liệu:

Đây là hình thức ngoại khoá theo hướng tích hợp nhiều nội dung của một phânmôn sau một số bài học cụ thể Việc học lý thuyết liên tục sẽ tạo ra áp lực nặng nề,căng thẳng đối với HS nhất là khi các em cần phải ghi nhớ và nắm bắt hàng loạt

Trang 26

các thuật ngữ-khái niệm khoa học chuyên sâu, trừu tượng trong một phân môn(phần từ ngữ có: từ đồng nghĩa, từ đa nghĩa, từ ghép phân loại, từ Hán - Việt Phầnngữ pháp có: câu ghép chính phụ, câu ghép đẳng lập, các thành phần phụ của câunhư đề ngữ, trạng ngữ, thành phần biệt lập…) mặc dù việc cung cấp hệ thống kháiniệm này là rất cần thiết để giúp HS giải quyết tốt phần bài tập thực hành và lấy đólàm cơ sở để tiếp thu nội dung kiến thức ở phần sau.

Để khắc phục trình trạng này, sau bốn, năm bài cùng phân môn, GV cần chọn ramột số khái niệm cần yếu đối với sự hiểu biết của HS rồi yêu cầu các em sưu tầm tưliệu là những câu thơ, câu đó, truyện vui, truyện cười dân gian…, có liên quan đếnviệc dùng từ, dùng câu, dùng dấu câu, liên quan đến việc sử dụng các biện pháp tu từnhư đảo ngữ, nghịch ngữ, cách nói lái, chơi chữ… (có thể chia HS thành nhóm yêucầu nội dung cần tìm hiểu) Mục đích cần đạt được ở hình thức này là:

• Phát hiện ra quy tắc và cách dùng của những đơn vị ngôn ngữ trong nhữngphong cách chức năng khác nhau

• Thấy được tác dụng biểu đạt của những phương tiện ngôn ngữ khi nó được dùng một cách "đắc địa"

• Khơi gợi, phát triển, củng cố và làm sâu sắc thêm những kiến thức lý thuyết vừa học vào hoạt động thực hành ngôn ngữ

Ví dụ, khi sưu tầm những câu đối mà Nguyễn Khuyến làm cho người vợ cóchồng chết làm nghề mổ thịt lợn, nghề thợ nhuộm, nghề thợ rèn… một mặt HS hiểuđược rõ hơn khái niệm về "trường nghĩa" qua việc tập hợp các từ có nét nghĩachung nào đó giống nhau, mặt khác cũng sẽ hiểu thêm về liên tưởng đồng âm, vềnghĩa hàm ẩn, về lối chơi chữ độc đáo mang đậm màu sắc Á Đông của người Việt,nhờ cách dùng từ nghệ thuật, tài tình của tác giả

Hoặc khi sưu tầm những truyện cười dân gian, HS phát hiện ra tính "nhậpnhằng" về ngôn ngữ và những "ẩn ý" tạo nên những hiện tượng bất ngờ thú vị do hiệuquả biểu đạt của từ đồng âm (đánh tráo khái niệm), từ đa nghĩa, do cách dùng dấu câu,dùng ngữ điệu - những phương tiện có giá trị tạo nên tiếng cười của văn bản

Ngoại khoá theo chủ đề :

Tức là giúp HS đi sâu vào một vấn đề, một phạm vi, một phương diện cụ thể nào đó của tiếng Việt để hiểu biết về nó được sâu sắc hơn, kỹ càng hơn Hình thức

19

Trang 27

này thường được tiến hành sau khi kết thúc một chương hay một phân môn Nóđòi hỏi HS phải chuẩn bị hệ thống ngữ liệu công phu hơn (biết cách xử lý tư liệuphù hợp với đối tượng khảo sát), bao quát được những nội dung kiến thức cơ bảncủa phần đã học (biết cách hệ thống hoá kiến thức và sắp xếp đó theo trình tự nhấtđịnh), có năng lực phân tích vững vàng (để trình bày vấn đề một cách mạch lạc, rõràng)… GV cần lưu ý HS tới mục đích cần đạt được của vấn đề tìm hiểu, nhữngcông việc cần chuẩn bị (của tổ, của nhóm), các thao tác (các bước) tiến hành vàcuối cùng là trình bày kết quả khảo sát (bằng một bài viết 1-2 trang đánh máy)

Ví dụ như: tìm hiểu về những phương tiện tạo nên lối nói hàm ẩn trong giaotiếp của người Việt; về những cách thức (thủ pháp) đặt tiêu đề cho văn bản trongphong cách báo chí, phong cách nghệ thuật; tìm hiểu ý nghĩa của các ẩn dụ từ qua một

số đoạn trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du; về cách dùng biện pháp so sánh tu từqua một số bài ca dao… Mục đích của hình thức này là giúp HS từ việc tìm hiểu mộtnội dung cụ thể của tiếng Việt gắn với một phạm vi nhất định, thấy được bối cảnh giaotiếp có ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng phong cách, việc lựa chọn phương tiệnbiểu đạt phải phù hợp với các nhân tố của hoạt động giao tiếp Trên cơ sở đó, HS vừatích luỹ được kiến thức, vừa vận dụng nó một cách hiệu quả

Tổ chức trò chơi :

Trò chơi nhỏ là nơi để HS thực sự thoải mái, giải tỏa căng thẳng và giao lưuhọc hỏi lẫn nhau, có thêm các kiến thức Tiếng Việt gần gũi với cuộc sống Có nhiềuhình thức tổ chức trò chơi nhỏ như: Trò chơi ô chữ: các câu hỏi hàng ngang, hàngdọc về các kiến thức Tiếng Việt cơ bản sẽ giúp HS nắm vững kiến thức hơn

Đố vui Tiếng Việt :

Là một hình thức ngoại khóa rất phổ biến Ngoài việc chuẩn bị nội dung câu hỏithật phong phú, hấp dẫn, vừa bao quát được chương trình ôn tập, vừa mở rộng hiểubiết thuộc lĩnh vực văn chương, thì hình thức đố vui cũng là vấn đề quan trọng để buổingoại khoá thành công Hiện nay nhờ sự phát triển của khoa học, của công nghệ thôngtin, chúng ta có thể vận dụng nhiều cách để tổ chức đố vui như: viết câu đố trên giấyrôki, dán kín những phần trả lời, học sinh đoán đến đâu, bóc tách đến đó; đưa nội dunglên chương trình Powerpoint, dùng công nghệ tin học để điều khiển buổi ngoại khoáthì càng hấp dẫn, vì ngoài nội dung câu hỏi, còn kèm theo nhạc nền, tranh

Trang 28

ảnh minh hoạ, các phần thi hiện lên theo từng phần hiệu ứng, rất có hiệu quả.

Tổ chức câu lạc bộ Tiếng Việt:

CLB là một hình thức tập trung những người cùng sở thích, sở trường nào đó

để hoạt động nhằm mở rộng tầm nhận thức, hiểu biết về văn hoá, khoa học kĩ thuật,giáo dục lòng yêu lao động, ý thức đạo đức, giúp phát triển toàn diện các khả năng sángtạo và các năng khiếu của con người Tổ chức câu lạc bộ Tiếng Việt là điều kiện tốt đểcác cá nhân yêu thích môn Ngữ văn có môi trường phát huy khả năng của mình Đốitượng của câu lạc bộ là các học sinh yêu thích Tiếng Việt ở các lớp, có thể tổ chứcthành các nhóm ở mỗi lớp và có các hạt nhân của nhóm để lãnh đạo nhóm

Các thành viên của CLB tham gia trên tinh thần tự nguyện Tuỳ theo điềukiện tổ chức mà hoạt động của câu lạc bộ có thể tiến hành ở phạm vi toàn trườnghoặc các khối lớp Hoạt động theo từng khối lớp có thuận lợi là có sự đồng đều vềtrình độ và nội dung học tập Sinh hoạt câu lạc bộ theo tháng hoặc các khoảng thờigian phù hợp

Hình thức sinh hoạt CLB có thể trực tiếp hoặc có thể qua mạng Internet Cácchủ đề được CLB đề cập đến rất đa dạng và phong phú, thường thì mổi buối sinhhoạt CLB nêu ra và thảo luận một đến hai nội dung Ví dụ: Tổ chức các buổi thảoluận về các vấn đề về Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Hay sưu tầm

tranh ảnh tư liệu để trao đổi thông tin phục vụ bài Khái quát lịch sử Tiếng Việt.

- Tổ chức thi giữa các nhóm tham gia ngoại khoá

- Tổ chức các buổi giao lưu tìm hiểu kiến thức

- Viết báo nội bộ trong phạm vi CLB

Một vấn đề quan trọng trong tổ chức CLB là cơ sở vật chất, kinh phí phục vụcho hoạt động Kinh phí có thể do các thành viên đóng góp, ngoài ra có thể tìmkiếm sự ủng hộ của các tổ chức trong và ngoài nhà trường Trong quá trình hoạtđộng, cần phối hợp với các tổ chức trong trường, đặc biệt là với Đoàn thanh niên,điều đó sẽ tạo nhiều thuận lợi trong hoạt động của CLB

Hội thi tìm hiểu kiến thức Tiếng Việt:

Hội thi là một trong những cách thức hoạt động hấp dẫn, lôi cuốn học sinh,đạt hiệu quả tốt trong vấn đề giáo dục, rèn luyện và định hướng giá trị cho ngườitham gia, là dịp để mỗi cá nhân hoặc tập thể thể hiện khả năng của mình, khẳng

21

Trang 29

định thành tích, kết quả của quá trình tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu trong học tập

và trong các hoạt động tập thể tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh trong học tập và họchỏi lẫn nhau trong học sinh Qui mô của hội thi, đối tượng tham gia, cách thức tổchức hội thi như thế nào phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu, ý nghĩa, tính chất và nộidung của hội thi: có thể tổ chức trong phạm vi một lớp, một khối hoặc toàn trường;

có thể tổ chức vào các thời gian khác nhau của năm học; đối tượng tham gia hội thi

là các cá nhân hoặc nhóm học sinh với mục tiêu: Tạo được một ngân hàng câu hỏivới đầy đủ các mức dễ, trung bình, khó, và rất khó theo từng chủ đề để tiện tổ chức;Các câu hỏi có thể là trắc nghiệm hay tự luận, lý thuyết hay thực hành nhưng phảingắn gọn, rõ ràng, đáp án chính xác và gần với chương trình và cuộc sống; Thể hiệnnội dung bằng sân khấu hóa, hùng biện, trả lời nhanh và có xen lẫn văn nghệ để giảilao, tạo thêm phần hấp dẫn, sôi nổi

Tuy nhiên, trước khi tiến hành hình thức ngoại khóa này, cần lưu ý nhữngvấn đề sau: Xin ý kiến của ban giám hiệu nhà trường, các tổ chức trong trường để

có thể phối hợp thực hiện, họp tổ chuyên môn bàn về kế hoạch tổ chức hội thi; Lập

kế hoạch chi tiết cho hội thi, bao gồm nội dung các công việc, phân công phụ trách,người thực hiện, thời gian, địa điểm cụ thể, nguồn kinh phí Công bố chủ đề, nộidung thi, hình thức thi, thời gian cho đối tượng tham gia.; Mời các gương điểnhình tiên tiến gần gũi với đối tượng học sinh đang giảng dạy (học sinh cũ củatrường, những người thành đạt trong địa bàn)

Cần xác định rằng ngoại khóa chỉ đóng vai trò bổ trợ nên tuyệt đối không đểngoại khóa lấn át nội khóa Ngoại khóa phần Tiếng Việt không lấn át phần văn học

và Làm văn nhất là về thời gian Căn cứ vào kinh phí mà tổ chức hoạt động cho phùhợp, hiệu quả tránh phô trương, hình thức

1.2.3 Vai trò và tác dụng của ngoại khóa trong dạy học Tiếng Việt

Điều 3 của Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghirõ: "Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lí học đi đôi với hành,giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà

trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội" [26, tr 3] Và trong Điều

lệ trường tiểu học cũng nêu rõ tại điều 26:

1." Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trên lớp và hoạt động ngoài giờ

Trang 30

lên lớp nhằm rèn luyện đạo đức, phát triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, giúp đỡ họcsinh yếu kém phù hợp đặc điểm tâm lí, sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học " [23, tr 6].

2." Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm hoạt động ngoại khóa, hoạtđộng vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hóa; hoạt động bảo vệmôi trường; lao động công ích và các hoạt động xã hội khác" [23, tr 6]

Có thể khẳng định, trong giáo dục Việt Nam, hoạt động giáo dục NGLLđược xem xét với tư cách là một nội dung nhằm giáo dục học sinh toàn diện trongnhà trường phổ thông HĐNK Tiếng Việt là một bộ phận của hoạt động dạy họcvăn và đây không là vấn đề mới Từ lâu, nó đã trở thành một bộ phận cấu thànhkhông thể tách rời của quá trình giáo dục, do tập thể sư phạm của nhà trường tổchức và lãnh đạo, thông qua hoạt động của tổ bộ môn Nhất là trong bối cảnh cuộccải cách giáo dục ở nước ta đang diễn ra toàn diện, sôi nổi, trong đó có sự đổi mớithật sự của việc dạy và học bộ môn Ngữ văn, thì HĐNK văn học với những hìnhthức phong phú, thiết thực, phù hợp càng trở nên quan trọng và bổ ích Cụ thể:

- Về kiến thức: Mục đích của HĐNK Tiếng Việt là góp phần củng cố mở rộng,khắc sâu thêm kiến thức đã học trong giờ học chính khóa, tạo cho HS cơ hội được đạtvào trong một tình huống giao tiếp thực mà giờ học chính khóa các em phải tưởngtượng giả định để từ đó có cơ hội thực hành, dần hình thành những kĩ năng giao tiếptốt Nội dung của HĐNK rất phong phú và đa dạng thể hiện qua các hoạt động xã hội,văn nghệ, thể dục thể thao, tham quan, lao động, nghiên cứu khoa học v.v

Qua HĐNK Tiếng Việt, học sinh được phát triển cân đối về trí tuệ, đạo đức, thể dục mà

mĩ dục HĐNK Tiếng Việt phát huy tính năng động chủ quan, tính tích cực xã hội, tinhthần sẵn sàng vì người khác của học sinh Đồng thời tạo điều kiện cho giáo viên pháthiện sở thích, thiên hướng cá nhân và phát triển năng lực hoạt động nghệ thuật sáng tạocủa học sinh Ngoại khóa là một hoạt động NGLL khác với giờ học chính thức, là mộthoạt động giáo dục cơ bản được thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổchức nhằm góp phần thực hiện quá trình đào tạo nhân cách học sinh, đáp ứng nhu cầu

đa dạng của đời sống xã hội Hoạt động này do nhà trường quản lí, tiến hành ngoài giờdạy học trên lớp theo chương trình, kế hoạch dạy học Nó được tiến hành xen kẽ hoặcnối tiếp chương trình dạy học trong phạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã hội donhà trường chỉ đạo, diễn ra trong suốt năm học

23

Trang 31

và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình giáo dục và đào tạo, làm cho quá trình

đó có thể thực hiện mọi nơi, mọi lúc Đây là một trong những mảng hoạt động giáodục quan trọng ở nhà trường phổ thông Hoạt động này có ý nghĩa hỗ trợ cho giáodục chính khóa, góp phần hoàn thiện nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và tài năngsáng tạo của học sinh; nhờ vậy mà các kiến thức tiếp thu được trên lớp có cơ hộiđược áp dụng, mở rộng thêm trên thực tiễn; bổ sung, củng cố, mở rộng những trithức đã học trên lớp; nâng cao những hiểu biết về văn học; rèn luyện kĩ năng tựkiểm tra đánh giá kết quả học tập rèn luyện của học sinh HĐNK là một bộ phậnkhông thể thiếu của quá trình giáo dục ở trường phổ thông Đối với môn Tiếng Việt,

để trả lời câu hỏi vì sao cần phải dạy học chính khóa kết hợp với ngoại khóa trướchết cần xuất phát từ mục đích - yêu cầu cụ thể của việc dạy học môn này Tiếng Việt

là một môn học mang tích đặc thù: học tiếng Việt để sử dụng nó thành thạo tronggiao tiếp hằng ngày Cũng cần phải nói thêm, tiếng Việt là công cụ để giao tiếp và

tư duy; vậy nên không có cách dạy học tiếng Việt nào hiệu quả hơn là dạy học tiếngViệt trong giao tiếp, thông qua giao tiếp và bằng giao tiếp Như vậy, ngoại khóa sẽ

là một môi trường tuyệt với để tổ chức dạy học tiếng Việt hiệu quả

Rèn luyện về tiếng Việt để rèn luyện về tư duy lôgic, giúp HS có cơ sở học tốt cácmôn học khác: biết phân tích - phán đoán, có khả năng rút ra kết luận và suy luậnmột cách khoa học, biết cách giải quyết có hiệu quả những tình huống vấn đề tronghọc tập và cuộc sống

- Về kĩ năng: HĐNK thực chất là sự tiếp nối hoạt động chính khóa trên lớp, làcon đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hànhđộng, tạo cơ hội cho HS rèn luyện thói quen sống trong cộng đồng và phát huy tối đanăng lực giao tiếp Ngoài ra, HĐNK còn giúp cho HS rèn kĩ năng tư duy HĐNK có tácdụng quan trọng trong việc bổ sung các kỹ năng và kinh nghiệm sống cho HS, điều màhầu hết các trường phổ thông hiện nay đều rất quan tâm Qua HĐNK ,

HS được rèn luyện một số kĩ năng như: Tập nghiên cứu một vấn đề, thuyết minhtrình bày trước đám đông, tập sử dụng những dụng cụ, thiết bị thường gặp trongđời sống, những máy móc từ đơn giản tới hiện đại Bên cạnh đó, HĐNK còn rèn cho

HS kĩ năng hợp tác để giải quyết các vấn đề đặt ra Vai trò của GVCN đối vớiHĐNK rất quan trọng Đặc biệt GVCN là người trực tiếp chỉ đạo, cố vấn và giúp

Trang 32

các em hoàn thành được những kỹ năng cơ bản như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ nănghoạt động, kĩ năng làm việc nhóm tự nhận thức bản thân, kỹ năng xây dựng quan hệ

"chuẩn hoá" đối với GV và SV ngành Ngữ văn

-Về giáo dục: Một yêu cầu lớn đặt ra trong việc bồi dưỡng HS có năngkhiếu nói riêng, dạy học đối với HS phổ thông nói chung là luôn phải nuôi dưỡng,phát triển hứng thú của các em đối với môn học, đặc biệt là đối với môn Ngữ văn.Việc bồi dưỡng niềm say mê hứng thú đối với việc học văn, được thực hiện trướchết là thông qua các hoạt động chính khoá trên lớp, nhưng do những đặc trưng của

bộ môn, các HĐNK Tiếng Việt cũng đóng vai trò rất quan trọng

Ở ngoại khóa Tiếng Việt, HS có thể thể hiện những niềm đam mê về một lĩnhvực văn hóa, văn học cụ thể nào đó; đồng thời những năng khiếu riêng của học sinhđược thể hiện một cách rõ nét nhất Việc giảng dạy Ngữ văn đóng một vai trò hết sứcquan trọng trong việc hình thành, phát huy và bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt Sựphát triển của đất nước ta sẽ không thể thực hiện được nếu không nâng cao hơn nữatrình độ văn hóa của nhân dân, và thiếu sự trưởng thành về mặt tinh thần của thế hệmới Muốn vậy, mỗi con người mới phải sử dụng tốt tiếng Việt Bên cạnh đó, nó còngóp phần quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh thêm hiểu, thêm yêutiếng mẹ đẻ Nó là công cụ giúp các em giao lưu với di sản văn hóa và tinh thần củađất nước, lý giải tính chất cao cả và vẻ đẹp của tâm hồn con người, bồi dưỡng conngười trong chính bản thân mình Công tác ngoại khóa, nhất là công tác ngoại khóa

về Tiếng Việt không hề mâu thuẫn gì với nội dung giáo dục và giáo

25

Trang 33

dưỡng của nhà trường hiện nay, mà trái lại còn bổ sung và nâng cao chất lượngcủa chính khóa lên một bước mới HĐNK Tiếng Việt góp phần giữ gìn sự trongsáng của tiếng Việt, chống lại sự xâm nhập từ bên ngoài của nền văn hóa phi nghệthuật, những thế lực đen tối không ngừng tấn công vào thanh thiếu niên Về lâu dài,HĐNK Tiếng Việt trong nhà trường phổ thông có nhiệm vụ hướng dẫn thị hiếunghệ thuật đúng đắn, rèn luyện óc thẩm mĩ, lối sống năng động hài hòa cho HS Sự

đa dạng của các hình thức HĐNK Tiếng Việt có tác dụng giáo dục HS một cách tếnhị, tinh vi và sâu sắc

HĐNK nhằm giúp HS có những hiểu biết và thái độ đúng đắn về các giá trịvăn hóa, xã hội của dân tộc và nhân loại Với mục đích tiếp nối hoạt động dạy học

là nhằm khắc sâu các bộ môn văn hóa bằng cách tổ chức ngoài giờ học Từ đó giúp

HS trang bị đầy đủ khả năng để có thể hòa nhập với xã hội

HĐNK góp phần giáo dục tính tổ chức, tính kế hoạch, tinh thần làm chủ vàhợp tác trên cơ sở những hoạt động thực tế Ngoại khóa được thực hiện cơ bản dựatrên sự tự nguyện, tự giác của học sinh cộng với sự giúp đỡ thích hợp của GV sẽđộng viên HS nỗ lực hết mình giải quyết những vấn đề đặt ra HĐNK làm cho quátrình dạy bộ môn thêm phong phú đa dạng, làm cho việc học tập của HS thêm hứngthú sinh động, tạo cho các em lòng hăng say yêu công việc, đó là điều kiện để pháttriển năng lực sẵn có của HS Trong khi tiến hành HĐNK , HS được tự mình nghiêncứu, tự mình tìm hiểu vấn đề và tranh luận với bạn bè trong sự cân nhắc kĩ càng.Chính vì thế HĐNK góp phần đắc lực trong việc phát triển trí lực và khả năng sángtạo và tinh thần tập thể của HS

Trong hai hoạt động thì hoạt động chính khóa là tiền đề cơ sở, là nền tảng;HĐNK là đòn bẩy, là điều kiện Nếu biết vận dụng, phối hợp đồng bộ, sáng tạo các hoạtđộng thì sẽ giúp cho công tác dạy học Ngữ văn đạt được hiệu quả giáo dục cho HS nhưmong muốn, góp phần tích cực nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của các nhàtrường THPT hiện nay Đó là hệ thống các hoạt động tập thể cho HS, được tổ chứcngoài giờ lớp, với những kĩ năng thực hành trong cuộc sống, đồng thời bổ sung và hoànthiện những tri thức mà HS được học trong giờ chính khóa qua đó hoàn thiện quá trìnhgiáo dục nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS Từ đó, các em bướcđầu có ý thức về nghề nghiệp mà mình sẽ chọn trong tương lai

Trang 34

HĐNK cũng có vai trò rất quan trọng đối với GV để gần gũi với HS, nắm vững khảnăng, tâm lí của HS, vì vậy việc áp dụng các phương pháp thích hợp hơn, hiệu quảgiảng dạy sẽ cao hơn.

1.3 Thực trạng HĐNK trong dạy học Tiếng Việt ở lớp 10 THPT

1.3.1 Khảo sát thực trạng trạng HĐNK trong dạy học Tiếng Việt ở lớp 10 THPT

1.3.1.1 Mục đích khảo sát

Chúng tôi tổ chức khảo sát để thấy được thực trạng của HĐNK đang diễn ra tại các trường

THPT với những nội dung sau :

Đối với học sinh: Nhận thức của học sinh về vai trò của hoạt động ngoại khóa.;Nhận thức của học sinh về những biểu hiện cụ thể mục tiêu hoạt động ngoại khóa; Mức

độ tham gia của học sinh đối với các nội dung HĐNK phần Tiếng Việt trong môn Ngữvăn 10 THPT: Những thuận lợi và khó khăn của HS khi tham gia HĐNK

Đối với giáo viên : Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của HĐNK ;Đánh giá của GV về thực trạng tổ chức các hình thức HĐNK ; Đánh giá của GVNgữ văn về thái độ tham gia của HS THPT về nội dung các HĐNK tiêu biểu

Đối với BGH : Đánh giá của BGH về tầm quan trọng của HĐNK ; Đánh giácủa BGH về kết quả thực hiện chức năng quản lí các HĐNK ; Đánh giá của BGH vềhiệu quả của HĐNK ; Nhận thức của BGH về mức độ quan trọng của các nội dungHĐNK ; Đánh giá của BGH về nhận thức, biểu hiện hành vi tham gia HĐNK củaHS; Đánh giá của BGH về những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến HĐNK

1.3.1.2 Đối tượng khảo sát

Đối tượng khảo sát bao gồm: BGH, GV dạy Ngữ văn, HS của một số trườngTHPT trên địa bàn thành phố Hà Nội

- BGH : 18 người, gồm Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng

- Giáo viên dạy văn: 88 người

- Học sinh khối lớp 10 với số lượng 600

1.3.1.3 Kết quả khảo sát

Đối với học sinh

(1) Nhận thức của học sinh về vai trò của HĐNK

27

Trang 35

Để tìm hiểu thực trạng mức độ nhận thức của học sinh THPT về các HĐNK hiện

nay có vai trò nhƣ thế nào, chúng tôi nêu câu hỏi 1 ở mẫu khảo sát số 3 (phụ lục

3) dành cho học sinh THPT gồm 4 mức độ quan trọng khác nhau Kết

quả thu đƣợc qua bảng thống kê tính theo tỉ lệ % nhƣ sau:

Bảng: 1.1 Nhận thức của học sinh về vai trò của HĐNK

Trong 4 nội dung trên, chúng tôi nhận thấy HS đã xác định HĐNK có một

vai trò quan trọng (41.66%) trong hoạt động học tập của mình Vẫn có 70 học sinh

cho là HĐNK không quan trọng, chiếm tỉ lệ 11.68%, điều này phản ánh các em

chƣa thật sự hiểu và nắm bắt đƣợc vai trò, tầm quan trọng của HĐNK đối với hoạt

động học tập; và một bộ phận HS chỉ mong muốn đƣợc GV cung cấp tri thức cho

mình mà không muốn tự mình khám phá, tìm hiểu

(2) Nhận thức của HS về những biểu hiện cụ thể mục tiêu HĐNK

Trang 36

Bảng: 1.2 Nhận thức của học sinh về những biểu hiện cụ thể mục tiêu HĐNK

Trong 6 mục tiêu trên có những biểu hiện học sinh đồng ý có sự lựa chọn

nhiều, đó là các nội dung 4,6 với tỉ lệ cao hơn 90 % (cụ thể là 91%, 94%) Kết quả

bảng cho thấy, nhận thức của học sinh về các mục tiêu của HĐNK là tương đối khá,

cụ thể như sau:

Mục tiêu bồi dưỡng thái độ tích cực tham gia các hoạt dộng giáo dục ngoài

giờ lên lớp, đồng thời các HĐNK giúp gắn bó nhà trường với địa phương, gồm các

mục tiêu 1, 2; tương đương với mức độ nhận thức 70%, 60%; mức độ đồng ý của

học sinh trung bình là 65%

Mục tiêu 5 là mục tiêu phù hợp tâm lí lứa tuổi học sinh, tương đương mức

độ nhận thức là 68.3%

Mục tiêu nâng cao tình cảm yêu mến của học sinh đối với bộ môn, gồm các

mục tiêu 3, 4, 6; tương đương với mức độ nhận thức la 52%, 91%, 94%; mức độ đồng

Trang 37

ý trung bình đạt 79% Trong 3 nhóm mục tiêu HĐNKnâng cao tình cảm yêu mến của HS đối với bộ môn có tỉ lệ học sinh nhận thức caonhất là 79%, điều đó chứng tỏ các em rất xem trọng kiến thức mà các môn học cungcấp, đồng thời thái độ học tập, không khí các buổi học cũng rất quan trọng trongviệc tiếp thu tri thức mới Tuy nhiên trong đó, chúng tôi cũng nhận thấy mục tiêu 3,mục tiêu nâng cao tình cảm yêu mến bộ môn, có tỉ lệ HS đồng ý chưa thật cao, chỉđạt 52 %, còn nhiều HS phân vân và không đồng ý với mục tiêu này Điều này phảnánh một thực trạng nội dung và cách thức HĐNK có hạn Vì vậy, những người làmgiáo dục cần tăng cường các HĐNK

Trang 38

30

Trang 39

Nhận xét:

Từ kết quả bảng trên, chúng tôi nhận thấy các hình thức tổ chức HĐNK củanhà trường được các em hứng thú tham gia và đạt hiệu quả giáo dục cao vì phùhợp với nhu cầu, sở thích lứa tuổi sôi nổi, năng động thích các hoạt động bên ngoàitrường lớp, không bị bó buộc, giúp các em bộc lộ năng khiếu và trưởng thành trongnhân cách

Cụ thể là các hình thức hoạt động được HS yêu thích và đạt hiệu quả giáodục cao gồm các hình thức hoạt động: (9, 14); có tỉ lệ (90%, 95%), tỉ lệ trung bình92.5%; và hiệu quả tương ứng (95%, 87%), tỉ lệ trung bình là 91%

Bên cạnh các hình thức thu hút được sự quan tâm yêu thích của học sinh, cònmột số hình thức chưa thu hút các em tham gia như: Đọc tất cả các tác phẩm cótrong chương trình; sinh hoạt trong các CLB Tiếng Việt và các hoạt động sáng tácvăn chương Nguyên nhân là do năng lực tổ chức, quản lí của cán bộ, GV và khảnăng tự làm việc của HS còn hạn chế; nội dung chưa thật hấp dẫn, hình thức xơcứng, chậm đổi mới Một bộ phận GV và HS còn thờ ơ với các hoạt động này Cóthể thấy mức độ tự đánh giá, mức độ thích và hiệu quả các HĐNK của các emtương đối hợp lí Các em có thể không yêu thích một số hình thức tổ chức HĐNKnhưng các em vẫn ý thức được hiệu quả cao do những hình thức này mang lại tronghoạt động tiếp thu tri thức của mình

Đối với giáo viên

(1) Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của HĐNK

Để tìm hiểu nhận thức của GV về tầm quan trọng của HĐNK trong việc nângcao chất lượng giáo dục toàn diện cho HS THPT, chúng tôi nêu câu hỏi 1 theo mẫu(phụ lục 2) Kết quả thu được như sau:

Bảng: 1.4 Thực trạng nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của HĐNK

Rất quan trọngQuan trọng

Ít quan trọngKhông quan trọng

Trang 40

Nhận xét:

Trong 4 nội dung trên, chúng tôi nhận thấy GV đã xác định HĐNK có mộtvai trò rất quan trọng trong hoạt động học tập của HS Không có GV nào cho làHĐNK không quan trọng, không có vai trò gì trong việc giáo dục toàn diện cho HSngày nay HĐNK được đánh giá cao rất cao tầm quan trọng của mình vì hoạt độngnày phù hợp với đặc điểm tâm-sinh lí, hứng thú, nguyện vọng của Nó giúp các emđược phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo từ nhận thức đến hành động để tựđiều chỉnh hành vi trong tổ chức, thiết kế các hoạt động của cá nhân và tập thể từ đóvươn lên hoàn thiện bản thân Chính việc xác định này đã giúp một vai trò thuận lợi

về mặt tâm lí cho giáo viên khi tổ chức cho học sinh tham gia các HĐNK , đặc biệt

là ngoại khóa Ngữ văn

(2) Đánh giá của GV về thực trạng tổ chức các hình thức HĐNK

Để tìm hiểu thực tế các mức độ tổ chức nhà trường đã sử dụng những hình thức tổchức hoạt động đem lại hiệu quả giáo dục được HS yêu thích, chúng tôi nêu câu hỏi

2 (phụ lục 2) Kết quả thu được theo tỉ lệ phần trăm như sau:

Từ kết quả khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy cả 6 loại hình HĐNK đượcđưa ra, ngoại trừ loại hình 2 ít được tổ chức thực hiện hơn các loại hình khácnhưng hiệu quả đạt được rất cao Điều này chứng minh môt thực tế là HS ngày nayrất thực tế, không thích những gì được cho là sách vở, không thích diễn giải màkhông có gì chứng minh

Ngày đăng: 29/10/2020, 21:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w