Những sự thay đổi cơ bản này đặt ra một vấn đề quan trọng trongphương pháp dạy học của giáo viên là phải có kiến thức liên môn sâu rộng, tổchức cho học sinh có khả năng sử dụng kiến thức
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THU NGA
TÍCH HỢP LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC LÀM VĂN THUYẾT MINH Ở LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thời Tân
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết, với tấm lòng thành kính, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắctới người thầy hướng dẫn khoa học: TS Lê Thời Tân – người đã tận tình chỉbảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo khoa Ngữ văn sau đạihọc trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô giáoTrường Đại học sư phạm I Hà Nội đã dạy bảo, tạo điều kiện giúp đỡ tôi tronghọc tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô phảnbiện đã có những nhận xét và đánh giá cho Luận văn này
Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình và các bạn bè đồngmôn đã giúp đỡ, động viên tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành Luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2014
Người thực hiện luận văn
Nguyễn Thu Nga
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: VẤN ĐỀ TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY LÀM VĂN THUYẾT MINH Ở NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG – LÍ LUẬN VÀ THỰCTIỄN 8
1.1 Cơ sở lí luận 8
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 8
1.1.2 Vị trí, vai trò và nhiệm vụ của phần làm văn trong Bộ môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông 23
1.1.3 Nhiệm vụ của phần văn thuyết minh trong dạy làm văn ở lớp 10 THPT 27
1.1.4 Mối quan hệ mật thiết giữa môn văn và các bộ môn khác 28
1.1.5 Vai trò và ý nghĩa của việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy làm văn thuyết minh lớp 10 THPT 30
1.2 Cơ sở thực tiễn 31
1.2.1 Về phía giáo viên 31
1.2.2 Về phía học sinh 33
Chương 2: NỘI DUNG VÀ HƯỚNG TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC LÀM VĂN THUYẾT MINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 34
2.1 Nội dung cơ bản và kiến thức liên môn có thể sử dụng trong phần làm văn thuyết minh ở trường THPT 34
2.1.1 Nội dung cơ bản của phần làm văn thuyết minh 35
2.1.2 Xác định kiến thức liên môn có thể sử dụng trong dạy học làm văn thuyết minh 35 2.2 Những yêu cầu khi tích hợp kiến thức liên môn của phần làm
Trang 5văn thuyết minh ở trường THPT 35
2.1.1 Dạy học theo hướng tích hợp liên môn phải đảm bảo những yêu cầu chung của dạy học 35
2.1.2 Lựa chọn nội dung tích hợp liên môn phải hợp lý, tự nhiên, tránh gượng ép 37
2.1.3 Đảm bảo giảm tải được kiến thức, rút ngắn được thời gian học tập 37 2.3 Một số biện pháp tích hợp kiến thức liên môn của phần làm văn thuyết minh ở lớp 10 trường THPT 38
2.3.1 Tích hợp kiến thức lịch sử để tạo hứng thú học tập làm văn thuyết minh 38
2.3.2 Tích hợp kiến thức địa lí để tạo hứng thú học tập phần làm văn thuyết minh 64
2.3.3 Tích hợp kiến thức công dân trong làm văn thuyết minh nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh 71
2.3.4.Tích hợp kiến thức liên môn kết hợp với môn tin học và công nghệ thông tin để gây hứng thú học tập làm văn thuyết minh 73
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77
3.1 Những vấn đề chung 77
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 77
3.1.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 78
3.1.3 Nội dung và các bước tiến hành triển khai thực nghiệm 78
3.2 Kết quả thực nghiệm 88
3.2.1 Kết quả bài kiểm tra mức độ nhận thức của học sinh sau bài học 88
3.2.2 Kết quả bài trắc nghiệm về mức độ hứng thú của học sinh sau khi học bài 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 95
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
TrangBảng 3.1: Bài Thực hành làm văn thuyết minh tại hai lớp thực
nghiệm và đối chứng 88Bảng 3.2: Điều tra về mức độ hứng thú của học sinh sau giờ học
thực nghiệm 88
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khối lượng kiến thức, tri thức của nhân loại ngày càng nhiều Với lượngthời gian hữu hạn giáo viên không thể trang bị những kiến thức cần thiết chohọc sinh bằng các hình thức dạy học truyền thống Đặc biệt là xuất phát từ yêucầu của việc Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầucông nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, chúng ta cần tìm ra những đổi mới trongdạy và học ở nhà trường phổ thông
Như chúng ta đã biết, mỗi một phương pháp giảng dạy dù cổ điển hay hiệnđại đều nhấn mạnh lên một khía cạnh nào đó của cơ chế dạy học hoặc nhấnmạnh lên mặt nào đó thuộc về vai trò của người thầy Cho dù các phương phápthể hiện hiệu quả như thế nào thì nó vẫn tồn tại một vài khía cạnh mà ngườihọc và người dạy chưa khai thác hết Chính vì thế mà không có một phươngpháp giảng dạy nào được cho là lý tưởng Mỗi một phương pháp đều có ưuđiểm của nó, do vậy người giáo viên cần xây dựng cho mình một phương phápriêng phù hợp với mục tiêu, bản chất của vấn đề cần trao đổi, phù hợp vớithành phần nhóm lớp học, các nguồn lực, công cụ dạy học sẵn có và cuối cùng
là phù hợp với sở thích của mình
Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ươngkhóa XI đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và họctheo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụngkiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều,ghi nhớ máy móc Trước sự quan tâm đặc biệt của dư luận đối với Nghị quyếtđổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo vừa được Trung ương thôngqua, Bộ Giáo dục chỉ đạo “Chúng ta sẽ có sự thay đổi trong quan điểm, mụctiêu, phương pháp, nguyên tắc chỉ đạo, điều hành hoạt động giáo dục của nhà
Trang 8Do đó việc chuyển từ cách dạy, cách học hiện nay là “nặng” về truyền thụkiến thức của thầy cho học trò, sang phương thức chú trọng hình thành phẩmchất và năng lực cho học sinh; chuyển từ phương pháp dạy các kiến thức khoahọc hiện nay sang phương thức dạy cho học sinh tự học là việc rất cần thiết Hiện nay chương trình SGK Ngữ văn ở trường phổ thông đã có nhiều đổimới về nội dung và phương pháp biên soạn Tuy nhiên vẫn còn hạn chế: nhiềunội dung trùng lặp ở lớp dưới và lớp trên, của nhiều môn học khác nhau Dovậy, từ năm học 2011 - 2012 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa Chuẩn kiến thức,
kĩ năng và Hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học môn Ngữ văn đểđảm tính lôgic, tính thống nhất giữa các bộ môn, tránh những nội dung trùnglặp, góp phần khắc phục tình trạng quá tải trong giảng dạy, học tập Đồng thờitạo điều kiện để giáo viên và học sinh thực hiện tốt yêu cầu đổi mới phươngpháp dạy học, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dụctrung học Những sự thay đổi cơ bản này đặt ra một vấn đề quan trọng trongphương pháp dạy học của giáo viên là phải có kiến thức liên môn sâu rộng, tổchức cho học sinh có khả năng sử dụng kiến thức của các môn học có liên quanvào học tập ngữ văn để tránh sự trùng lặp, mất thời gian, giúp học sinh lĩnh hộikiến thức nhẹ nhàng, sinh động mà vững chắc.Làm thế nào để tích hợp kiếnthức liên môn trong dạy và học làm văn thuyết minh nhằm nâng cao chất lượngdạy và học làm văn, kích thích sự hứng thú cho học sinh Bên cạnh đó cũnglàm cho việc tích hợp liên môn tạo điều kiện tốt giúp giảm tải chương trìnhsách giáo khoa cho học sinh Để hoàn thành nhiệm vụ này đòi hỏi giáo viêndạy văn không chỉ có kiến thức vững vàng về bộ môn văn mà còn phải cónhững hiểu biết vững chắc về các bộ môn địa lý, lịch sử, nghệ thuật, khoahọc…để vận dụng vào bài giảng làm phong phú và hấp dẫn thêm bài giảng
Về vấn đề tích hợp kiến thức, hiện có những băn khoăn về khả năng tíchhợp theo kiểu “nhặt” mỗi môn một chút (Văn một chút, Sử một chút, Địa một
Trang 9chút “trộn” vào với nhau thành môn mới không khác gì bình mới rượu cũ,nhiều thứ góp lại thành một) Nhưng ta phải xác định đây không phải là sự cópnhặt một cách tùy tiện những kiến thức của môn khoa học này, khoa học kia
mà là lựa chọn có chủ đích những kiến thức khoa học của cuộc sống, nhữngkiến thức góp phần hình thành năng lực, phẩm chất của học sinh theo lộ trình
từ lớp dưới lên lớp trên, từ nhỏ đến lớn được đưa vào để giảng dạy Khi giảngdạy kiến thức liên quan đến địa lý, về đất nước Việt Nam, về những vùng đất
cụ thể, không có lý gì lại không nói về những sự kiện, những nhân vật, nhữnganh hùng, những nhà văn hóa, nhà quản lý, những người có công đối với vùngđất đó, đất nước đó Rồi cũng không có lý gì phải tách bạch với việc học một
tư liệu lịch sử với những cảm nhận về văn chương về văn học của học sinh.Thực tế dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông trước đây cũng như từ khi triểnkhai chương trình giảm tải, nhiều giáo viên vẫn chưa hiểu hết tầm quan trọngcủa kiến thức liên môn và tìm phương pháp sử dụng thích hợp để góp phầnnâng cao chất lượng dạy học bộ môn
Từ những lí do trên tôi chọn đề tài: "Tích hợp liên môn trong dạy học làm văn thuyết minh ở lớp 10 trung học phổ thông" làm đề tài cho luận văn của
mình
Đề tài đi vào xác định những kiến thức liên môn có liên quan cần sử dụng
để tích hợp trong dạy học làm văn thuyết minh lớp 10 ở trường THPT Đồngthời đề xuất các biện pháp sử dụng kiến thức liên môn để tạo hứng thú học tậpcho học sinh trong dạy học làm văn thuyết minh Đối tượng nghiên cứu của đềtài là quá trình sử dụng tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học làm vănthuyết minh ở lớp 10 Các nghiên cứu khảo sát được tiến hành trên phạm vitrường THPT Ngọc Hồi - huyện Thanh Trì - Hà Nội
2 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề sử dụng tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học nói chung và
Trang 10dục học Trong quá trình nghiên cứu, tìm tòi chúng tôi đã tiếp cận một số tàiliệu ngoài nước thông qua tài liệu dịch, tài liệu trong nước liên quan đến vấn đề
sử dụng tích hợp kiến thức liên môn như
2.1 Tài liệu nước ngoài
2.1.1 Tài liệu giáo dục học
Nhà giáo dục học T.A.I.Lina nhấn mạnh: “Ngày nay không có một khoa học nào được giảng dạy mà lại không sử dụng những số liệu của các khoa học tiếp cận khác, những tài liệu, những sự kiện và những thí dụ lấy từ trong cuộc sống hàng ngày và từ các lĩnh vực tri thức khác nhau [29, tr 245] Trong phần nhiệm vụ của việc giảng dạy kĩ thuật tổng hợp tác giả cho rằng: “Việc xác lập mối liên hệ giữa các bộ môn nhằm vạch ra cho học sinh thấy mối liên hệ qua lại của các khoa học” [29, tr 153].
Nhà giáo dục học I.A Cai - Rốp, N.K Gôn – Sa - Rốp - B.P.Ét - Si-Pốp,L.V Dan - Cốp nêu ra những yêu cầu đối với trình độ của giáo sư trong đó các
ông nhấn mạnh: “Giáo sư không chỉ có tri thức phong phú về chuyên môn nghiệp vụ của mình mà phải chú ý đến sự phát triển của những môn khoa học gần gũi với môn chuyên nghiệp chủ yếu của mình” [17, tr 87].
Nhà giáo dục học N.U.Savin nêu rõ: Nền học vấn phổ thông phán ánh đầy đủ
và chính xác nhất tri thức khoa học và thực tiễn của nhân loại và nó thực sự là
toàn diện “Ở đó đã kết hợp một cách hữu cơ các tri thức về tự nhiên, xã hội
và tư duy con người đã đạt được sự hài hòa giữa học vấn về nhân văn và về tự nhiên ” [24, tr 99].
Trong cuốn “Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi” của Giselle
O Martin – Kniep có đề cập đến quy trình xây dựng các đơn vị bài học tích
hợp là gì có nêu: Tích hợp chương trình có nhiều hình thức khác nhau “Tích hợp nội dung là hình thức kết nối nội dung trong nội bộ môn học và giữa các môn học với nhau” [11, tr 27].
Trang 112.1.2 Tài liệu ngữ văn
Một số tài liệu đề cập đến vấn đề này như bộ sách Thiết kế dạy học Ngữ văn THCS theo hướng tích hợp của Trương Dĩnh, Bài tập rèn luyện kĩ năng tích hợp Ngữ văn THCS [9]; Giáo trình phương pháp dạy học tiếng Việt [14] của Nguyễn Thanh Hùng ; Đoàn Thị Kim Nhung với Phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường THCS [22]; Luận án Hệ thống đề kiểm tra nhằm đánh giá năng lực Ngữ văn THCS theo yêu cầu tích hợp [32] của Nguyễn Thị Hồng
Vân Ngoài ra còn một số bài báo bàn về quan điểm tích hợp trong môn Ngữvăn và dạy học Ngữ văn của Trần Bá Hoành, Nguyễn Thanh Hùng, Đỗ ChuNgọc, Nguyễn Khắc Phi Vũ Thị Sơn, Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử,…
Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học” nêu một cáchkhái quát nhất và tương đối đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng kiến
thức liên môn: “Tiềm năng giáo dục thế giới quan cho học sinh đặc biệt được khai thác trong mối liên hệ giữa các môn học Các mối liên hệ giữa các môn học, phản ánh bản chất biện chứng của nhận thức khoa học, giúp xem xét một
sự vật hay một hiện tượng từ nhiều quan điểm khác nhau [21, tr 123] Đặng Thành Hưng cho rằng: “Trong khoa học giáo dục còn có những bộ môn, chuyên ngành, liên môn lấy những liên hệ qua lại làm đối tượng [16, tr 15].
Trần Bá Hoành trong “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sáchgiáo khoa” nhấn mạnh phương pháp tích cực trong đó đề cập vấn đề giáo dục
theo mục tiêu với nội dung “liên môn” và “xuyên môn” Ngoài ra, vấn đề trên
còn được đề cập đến trong các bài báo, tạp chí giáo dục như bài viết của
Nguyễn Quang Vinh “Dạy học các môn học theo quan điểm liên môn” (trên tạp chí NCGD số 10/1986), Trần Đức Minh “Vận dụng quan điểm liên môn - một yếu tố nâng cao tính tích cực học tập của học sinh” (trên tạp chí NCGD số
4/1999) Mỗi bài viết tuy chỉ nghiên cứu sâu một khía cạnh của vấn đề, nhưngđều khẳng định sự cần thiết và nêu rõ vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng kiến
Trang 123 Mục đích nghiên cứu
Đề tài đi sâu vào xác định những kiến thức liên môn có liên quan cần sửdụng để tích hợp trong dạy học làm văn thuyết minh lớp 10 ở trường THPT.Đồng thời đề xuất các biện pháp sư phạm sử dụng kiến thức liên môn để tạohứng thú học tập cho học sinh trong dạy học làm văn thuyết minh
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những bài dạy lí thuyết làm văn thuyết minh trong sách giáo khoa Ngữvăn cơ bản lớp 10 tập 1 và tập 2, NXB Giáo dục,2006 có thể dùng để tích hợpkiến thức liên môn trong dạy học
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các nghiên cứu khảo sát được tiến hành trên phạm vi khối lớp 10, trườngTHPT Ngọc Hồi - huyện Thanh Trì - Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp phân tích: đọc và phân tích các tài liệu về văn, lịch sử, địa lí,giáo dục công dân; chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10, phần làm vănthuyết minh, các tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài để xây dựng hệthống kiến thức liên môn phù hợp
Phương pháp tổng hợp: chúng tôi sẽ lựa chọn những kiến thức ở các môn học
có liên quan đến kiến thức làm văn thuyết minh để tổng hợp nội dung kiến thứccần và có thể sử dụng kiến thức liên môn - Nghiên cứu thực tiễn
Đề tài khảo sát thực tế việc dạy học làm văn thuyết minh ở trường phổthông hiện nay Đối tượng khảo sát là giáo viên văn trường THPT Ngọc Hồi vàhọc sinh trường THPT Ngọc Hồi
Đối với giáo viên: đề tài khảo sát thực tế việc dạy học làm văn thuyếtminh nói chung và sử dụng kiến thức liên môn nói riêng trong dạy học làm vănthuyết minh thông qua phỏng vấn, điều tra xã hội học, dự giờ, thăm lớp
Trang 13Đối với học sinh: tiến hành điều tra tình hình học tập, tâm lý của học sinh lớp
10 trường THPT Ngọc Hồi thông qua sổ điểm, kiểm tra miệng, kiểm tra viết vàtrắc nghiệm khách quan
- Thực nghiệm sư phạm: Soạn một bài thực nghiệm theo những dự kiến vềbiện pháp mà luận văn đưa ra, tiến hành dạy học thực nghiệm ở trường THPTNgọc Hồi nhằm kiểm chứng những biện pháp mà đề tài nêu ra, từ đó rút ranhững kết luận khoa học và khẳng định tính khả thi của đề tài
- Sử dụng phương pháp toán học thống kê trên cơ sở so sánh các giá trị thuđược giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng để đánh giá hiệu quả của nhữngbiện pháp dạy học mà đề tài đưa ra
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Vấn đề tích hợp kiến thức liên môn trong dạy làm văn thuyết minh ở trường trung học phổ thông - lý luận và thực tiễn
Chương 2: Nội dung và hướng tích hợp kiến thức liên môn trong dạy làm văn thuyết minh ở trường trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm và kết luận khoa học
Trang 14CHƯƠNG 1VẤN ĐỀ TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY LÀM VĂNTHUYẾT MINH Ở NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG – LÍ LUẬN
VÀ THỰCTIỄN1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Lí thuyết làm văn thuyết minh
Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đờisống nhằm cung cấp tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân của các sựvật, hiện tượng trong xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích.Văn bản thuyết minh được sử dụng rất rộng rãi, ngành nghề nào cũng cần đến
Ví dụ: Mua một cái ti vi, máy giặt, tủ lạnh đều phải kèm theo bản thuyếtminh để ta hiểu được tính năng, cấu tạo, cách sử dụng, cách bảo quản Muamột hộp bánh, trên đó cũng có ghi xuất xứ, thành phần các chất làm nên bánh,ngày sản xuất, hạn sử dụng, trọng lượng tính Đến danh lam thắng cảnh ta bắtgặp các bảng quảng cáo giới thiệu lai lịch, sơ đồ thắng cảnh Ra ngoài phố, tabắt gặp các bảng quảng cáo giới thiệu sản phẩm Cầm quyển sách, ở bìa sau cóthể có lời giới thiệu tóm tắt nội dung Trong sách giáo khoa có bài trình bày thínghiệm hoặc trình bày sự kiện lịch sử, trình bày tiểu sử nhà văn, giới thiệu tácphẩm được trích Tất cả đều là văn bản thuyết minh Hai chữ “thuyết minh” ởđây bao hàm cả ý nghĩa giải thích, trình bày, giới thiệu cho được rõ hơn
Thuyết minh nhằm làm cho người đọc hiểu đúng về đối tượng chứkhông cốt giúp người đọc hình dung, có những xúc cảm chủ quan về đối tượngnhư miêu tả, biểu cảm Thuyết minh không xây dựng cốt truyện, diễn biến sựviệc như kể chuyện (tự sự) Thuyết minh trình bày nguyên lí, cách thức, quyluật của đối tượng chứ không dùng lập luận, suy luận, lí lẽ… để giải quyết vấn
đề bằng luận điểm, luận cứ như văn nghị luận Văn bản thuyết
Trang 15minh có dùng giải thích nhưng là giải thích bằng tri thức khoa học: cơ chế, quyluật của sự vật, cách thức sử dụng và bảo quản một cách khách quan….còn giảithích trong văn nghị luận là dùng dẫn chứng, lí lẽ để làm
sáng tỏ vẫn đề nhằm trình bày cách hiểu, quan điểm, đánh giá đối tượng củangười viết Khác với các văn bản nghị luận, tự sự, miêu tả, biểu cảm, hànhchính - công vụ, văn bản thuyết minh chủ yếu trình bày tri thức một cách kháchquan, giúp con người hiểu biết đặc trưng, tính chất của sự vật, hiện tượng vàbiết cách sử dụng chúng vào mục đích có lợi cho con người Do đó việc trìnhbày văn bản thuyết minh phải chính xác, rõ ràng, chặt chẽ, hấp dẫn Điều đó cónghĩa người viết phải cung cấp cho người đọc những tri thức có thực về đốitượng Người viết không vì tình cảm riêng, vì lợi ích mà hư cấu, bịa đặt, tưởngtượng ra những điều không có trong đối tượng để giới thiệu Ngôn ngữ của bàithuyết minh cần chính xác, giản dị, gần gũi với đời sống và phù hợp với ngườiđọc cũng như đối tượng được giới thiệu Một văn bản thuyết minh dành chongười đọc phổ thông thì ngôn từ, cách trình bày nội dung phải dễ hiểu, khôngdùng nhiều thuật ngữ chuyên môn Còn một văn bản thuyết minh dành chongười đọc có trình độ chuyên môn về đối tượng được giới thiệu thì nội dung vàngôn từ dùng được chuyên môn hóa nhiều hơn Việc đưa văn bản thuyết minhgắn liền với tư duy khoa học Nó đòi hỏi chính xác, rạch ròi Muốn làm đượcvăn bản thuyết minh phải tiến hành điều tra, nghiên cứu học hỏi tri thức Việcđưa văn bản thuyết minh vào nhà trường là cung cấp cho học sinh một kiểu vănbản thông dụng, rèn luyện kỹ năng trình bày các tri thức có tính chất kháchquan, khoa học, nâng cao năng lực tư duy và biểu đạt cho học sinh Bài giảngcủa các thầy, cô giáo thuộc tất cả các bộ môn đều là bài thị phạm tốt cho vănbản thuyết minh Chỉ cần có ý thức hướng dẫn học sinh có thể làm được Loạivăn bản này giúp cho học sinh quen với lối làm văn có tri thức, có tính kháchquan, khoa học, chính xác
Trang 16Đối tượng của văn thuyết minh là các hiện tượng xã hội như lịch sử, conngười, chính trị, tôn giáo; là các hiện tượng tự nhiên như địa lí, động vật, thựcvật, hiện tượng thời tiết; là các vật dụng trong đời sống như cách làm nấu ănmột món ăn, đan áo, gieo trồng; là văn học nghệ thuật….Có thể nói đối
tượng của văn thuyết minh vô cùng phong phú, mọi hiện tượng, sự vật trongđời sống đều có thể là đối tượng thuyết minh, mọi ngành nghề đều cần đếnthuyết minh
Để đảm bảo nguyên tắc giáo dục “Học đi đôi với hành”, “Lý luận gắnvới thực tiễn” thì học sinh phải nắm vững phương pháp thuyết minh, biết vậndụng các phương thức thuyết minh một cách hợp lý ở mỗi lĩnh vực đời sống,khoa học Giáo viên phải cho học sinh thấy đây là một loại văn bản khác hẳnvới tự sự vì không có sự việc, diễn biến, khác với miêu tả vì không đòi hỏimiêu tả cụ thể cho người đọc “cảm thấy” mà cốt là làm cho người ta hiểu, khácvới văn bản nghị luận vì ở đây cái chính là trình bày nguyên lý, quy luật, cáchthức chứ không phải là luận điểm, suy luận, lý lẽ , khác với văn bản hànhchính - công vụ là văn bản trình bày quyết định, nguyện vọng, thông báo của aiđối với ai ; nghĩa là văn bản thuyết minh là một kiểu văn bản riêng, mà các loạivăn bản ấy không thay thế được
Học sinh đã học cách giải thích trong nghị luận Nhưng nghị luận giảithích chủ yếu là dùng luận điểm, luận cứ để làm sáng tỏ vấn đề Ở văn bảnthuyết minh lại là giải thích bằng cơ chế, quy luật của sự vật, cách thức sửdụng và bảo quản đồ vật Đây là một kiểu giải thích bằng tri thức khoa họckhác với giải thích trong nghị luận nhằm phát biểu quan điểm
Muốn làm tốt bài văn thuyết minh học sinh cần nắm vững các yêu cầuquan sát phương pháp thuyết minh và tuân thủ các bước: Tìm hiểu đề bài, xâydựng bố cục và nội dung, viết bài văn
- Yêu cầu:
Trang 17Yêu cầu đối với bài văn thuyết minh là phải có tri thức về đối tượng cầnthuyết minh Không có tri thức thì không thể làm bài văn thuyết minh được Trithức bắt nguồn từ việc học tập, tích luỹ hàng ngày từ sách báo, đặc biệc từ việcquan sát, tìm hiểu của học sinh.
Nói kiến thức về đối tượng tức là hiểu biết đối tượng thuyết minh (sựvật, hiện tượng, phương pháp ) là cái gì, có ý nghĩa gì đối với con người,nghĩa là nắm bắt được bản chất, đặc trưng của sự vật
- Quan sát
Muốn có tri thức về đối tượng thì trước hết phải biết quan sát Quan sátkhông phải đơn giản là nhìn, xem mà còn phải xét để phát hiện đặc điểm tiêubiểu của sự vật, phân biệt cái chính, phụ Đặc điểm tiêu biểu là đặc điểm có ýnghĩa phân biệt sự vật này với sự vật khác, ví dụ: cao, thấp; dài, ngắn; to, nhỏ;vuông, tròn; nóng, lạnh phải biết và trở thành thói quen tra cứu từ điển, sáchgiáo khoa, đặc biệt là phải biết phân tích, chẳng hạn: Đối tượng có thể chia làmmấy bộ phận, mỗi bộ phận có đặc điểm gì, quan hệ giữa các bộ phận ấy vớinhau ra sao Làm được như vậy các em sẽ có tri thức để thuyết minh
- Phương pháp
Phương pháp thuyết minh là một vấn đề then chốt của bài văn thuyếtminh Nắm được phương pháp học sinh biết sẽ phải ghi nhận thông tin nào, lựachọn những số liệu nào để thuyết minh một sự vật, hiện tượng Nếu hiểu cấutạo của sự vật thì phải trình bày sự vật theo các thành phần cấu tạo đó Nếuhiểu sự vật theo quá trình hình thành của nó thì phải trình bày theo quá trình đó
từ trước đến sau Nếu sự vật có nhiều bộ phận và phương diện thì lần lượt trìnhbày từng bộ phận, phương diện cho đến hết Như thế là trình bày theo trình tựđặc trưng của bản thân sự vật
Một số phương pháp thuyết minh cụ thể thường gặp mà yêu cầu họcsinh phải nắm vững và vận dụng một cách linh hoạt Đó là:
Trang 19Học sinh phải xác định được đối tượng thuyết minh thuộc loại sự vật,hiện tượng gì và chỉ rõ đặc điểm riêng nổi bật của đối tượng trong loại sự vật,hiện tượng đó.
Đây là phương pháp mà các em phải luyện tập nhiều để tránh những lỗithường gặp như định nghĩa quá rộng, quá hẹp hay trùng lặp không làm chongười đọc nhận thức được sự vật
Ví dụ: “Ngữ văn là môn dạy học và viết văn”, hay “Bão là một hình thứcvận động của không khí ” đều là những định nghĩa không phù hợp, quá hẹphoặc quá rộng
* Phương pháp liệt kê: là kể ra các thuộc tính, biểu hiện cùng loại
* Phương pháp nêu ví dụ: là phương pháp thuyết minh có sức thuyếtphục được sử dụng phổ biến Yêu cầu ví dụ được chọn phải khách quan, trìnhbày phải có thứ tự
* Phương pháp nêu số liệu: là một loại ví dụ dùng vào trường hợp các sựvật có biểu hiện đặc trưng ở số lượng Ví dụ: Nói một tượng phật lớn, thì phảinói cáo bao nhiêu, vai rộng bao nhiêu, Chẳng hạn: Một tượng phật ở Nhạc Sơn
- Tứ Xuyên - Trung Quốc cao 71m, rộng 24m, trên mu bàn chân tượng có thể
để 20 chiếc xe con Thế là người đọc hình dung được quy mô to lớn của tượngphật
* Phương pháp so sánh:
Cũng là một phương pháp sử dụng phổ biến Ví dụ: thuyết minh cờ vua
có thể so sánh với cờ tướng: Cờ vua và cờ tướng đều dùng quan tướng đứngđầu, chia 2 phe đối mặt nhau Tướng và vua khi đã bị “chiếu tướng” thì đềuthua Nhưng cờ vua khác cờ tướng là con “Vua” có uy lực, mạnh mẽ, khi cờtàn nó có thể ra trận giết đối phương, còn “Tướng” trong cờ tướng thì chỉ được
đi loanh quanh trong cung cấm
Trang 2117
Trang 22Đối với sự vật đa dạng, nhiều cá thể thì nên phân loại để trình bày cho
rõ ràng Một đối tượng có nhiều bộ phận, nhiều mặt thì phân ra từng bộ phận,từng mặt mà trình bày lần lượt
Sau khi nắm vững được yêu cầu, cách quan sát và phương pháp thuyếtminh, học sinh phải tuân thủ các bước để làm một bài văn thuyết minh: Tìmhiểu đề bài; tìm ý, dàn ý; viết đoạn văn
- Tìm hiểu đề, tìm ý
Việc tìm hiểu đề bài trong quá trình làm bài tập làm văn là việc đầu tiên
và rất quan trọng để tìm ý cho bài văn, đảm bảo cho bài văn không lạc đề, đủ
ý Việc làm này có ý nghĩa quyết định đối với kết quả bài làm Riêng đối vớivăn thuyết minh đọc kỹ đề và tìm ý vô cùng quan trọng Các em phải nắmđược yêu cầu của đề bài Đề nêu gì? (Đối tượng thuyết minh), đối tượng đó cóđặc điểm, hình dáng, cấu tạo đặc biệt là phải nắm vững tính chất của đề Bởi
đề văn thuyết minh nêu các đối tượng người làm bài trình bày tri thức vềchúng Để làm bài văn thuyết minh cần tìm hiểu kỹ đối tượng thuyết minh, xácđịnh rõ phạm vi tri thức về đối tượng đó
Tìm ý cho bài văn thuyết minh là tìm tri thức về đối tượng được trình bày trongbài viết Việc tìm ý là yếu tố cơ bản đảm bảo thành công của bài bởi muốn giớithiệu chính xác, đầy đủ, khách quan về một đối tượng thì ta cần có tri thức vềđối tượng đó Tri thức được tích lũy nhờ quan sát, nhờ đọc tài liệu và hỏi hannhững người có kinh nghiệm, hiểu biết Những tri thức đó sẽ được huy độngkhi làm bài, hiểu biết càng phong phú thì nội dung bài viết càng có sức thuyếtphục Tìm ý cho bài văn thuyết minh cũng dùng cách đặt câu hỏi Những câuhỏi sau thường được đặt ra để định hướng, tìm ý Đối tượng thuyết minh là gì?Đặc điểm nào là tiêu biểu của đối tượng? Ngoài ra, đối tượng còn có nhữngđặc điểm phụ nào? Nguồn gốc, cấu tạo của đối tượng có gì đáng chú ý? Đốitượng có giá trị, ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống con người
Trang 23trong quá khứ, hiện tại, tương lai? Câu hỏi phải phù hợp với đối tượng và mục đích thuyết minh.
- Lập dàn ý: Là công việc cần thiết trong quá trình làm một bài văn.Dàn ý là hệ thống các ý được sắp xếp mạch lạc, hợp lý, khoa học, nhằmgiải quyết những yêu cầu mà đề bài đặt ra Các ý đó được thể hiện dưới dạngcác hình thức tiêu đề ngắn gọn
Dàn ý có thể ví như cái khung, cái sườn của bài văn Vì thế, làm dàn ý làkhâu vô cùng quan trọng trước khi làm bài văn
Muốn có kỹ năng này phải kết hợp sự hiểu biết về đặc điểm dàn ý và sựrèn luyện thành thạo các thao tác dàn ý Các thao tác rèn luyện để hình thành
kỹ năng làm dàn ý bài văn thuyết minh có thể có các thao tác sau:
- Thao tác xác định nội dung, tính chất của đề
- Thao tác lựa chọn tri thức, các tư liệu cần thiết để làm dàn ý
- Thao tác hệ thống hoá để sắp xếp các ý đã có theo một trình tự hợp lý, chặt chẽ, khoa học
- Thao tác trình bày từng bộ phận, từng mặt của đối tượng
Thao tác trên gắn liền với hoạt động tư duy và việc sử dụng ngôn ngữ
Vì thế, rèn luyện các thao tác trên cũng chính là rèn luyện các thao tác tư duy
và khả năng sử dụng ngôn ngữ Để có kỹ năng làm dàn ý, điều quan trọng làphải luyện tập thực hành các thao tác đó nhiều lần từ đơn giản đến phức tạp, từthấp đến cao, khắc phục dần sự lúng túng ban đầu để dần dần đạt sự thuầnphục Bí quyết dẫn đến sự thuần thục là kiên trì, bền bỉ, say mê luyện tập
Làm dàn ý cho các kiểu bài nói chung và dàn ý cho bài văn thuyết minhnói riêng thường có 3 phần: Mở bài, thân bài và kết bài Quan trọng nhất làphần thân bài Nghĩa là chia thành ý lớn, ý nhỏ, sắp xếp các ý theo một trình tự
Trang 24Chẳng hạn, ở dạng bài thuyết minh về một thứ đồ dùng ta có thể lựachọn và sắp xếp các ý theo đặc điểm, cấu tạo, cách sử dụng, cách bảo quản, ýnghĩa của đồ dùng đối với cuộc sống con người.
Dạng bài thuyết minh về một thể loại văn học ta lại lựa chọn và sắp xếpcác ý theo một trình tự khái quát đặc điểm về thể loại sau đó đến từng đặc điểm
cụ thể rồi khẳng định lại giá trị, ý nghĩa của thể loại trong nền văn học
Khi làm dàn ý cho dạng bài thuyết minh về một phương pháp (cách làm)
ta lựa chọn và sắp xếp các ý theo trình tự: Nguyên liệu - cách làm - yêu cầuthành phẩm
Còn đối với dạng bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một
di tích lịch sử thì việc làm dàn ý, cách sắp xếp các ý thường theo không gian,
từ xa đến gần, những đặc điểm nổi bật của từng cảnh quan, kiến trúc
1.1.1.2.Tổng quan về dạy học tích hợp
a Quan niệm về tích hợp
Quan điểm tiếp cận tích hợp cho phép xem xét các sự vật, hiện tượngtrong một cách nhìn tổng thể đang trở thành xu hướng tất yếu trong giáo dụcngày nay
Các môn, các ngành học ứng dụng tiếp cận tích hợp ở nhiều mặt khácnhau Trong đó, tích hợp kiến thức và tích hợp dạy học là cơ bản nhất Tíchhợp kiến thức là sự liên kết, kết hợp, lồng ghép tri thức của các khoa học khácnhau thành một tập hợp kiến thức thống nhất Còn tích hợp dạy học là quá trìnhdạy học trong đó có sự lồng ghép, những tri thức khoa học, những quy luậtchung gần gũi với nhau, qua đó người học không chỉ lĩnh hội được tri thứckhoa học của môn học chính mà cả tri thức của khoa học được tích hợp, từ đóhình thành cho người học cái nhìn khái quát hơn đối với các khoa học có cùngđối tượng nghiên cứu, đồng thời có được phương pháp xem xét vấn đề mộtcách lôgic, biện chứng
Trang 25Khi đề cập tới câu hỏi thếnào là khoa học tích hợp, chúng ta thường tậptrung vào tính từ“tích hợp” Tiến sĩ A.V Baez nguyên chủ tịch tổ chức IUNC,cho rằng các khoa học trở thành “tích hợp” khi chúng không còn bị“phân chia”nữa Tồn tại của sự vật, hiện tượng vốn đã là một thực thể toàn vẹn Con ngườinghĩ ra cách “phân chia” chúng để mở rộng dần phạm vi hiểu biết cho mình.Như vậy, sự“phân chia” đó chỉ là hình thức, không phải là bản chất của sự tồntại Vì vậy, mọi tranh luận của chúng ta về“mức độ” và “cách thức” tích hợpchỉ nên coi là cách diễn tả ý muốn sửa chữa các hậu quả của việc “phân chia”không thể tránh được Tuy nhiên, cần phân biệt xu hướng tích hợp các khoahọc trong tiến trình phát triển với xu hướng tích hợp các môn học trong quátrình dạy học, chúng khác nhau về cả nguyên nhân và nội dung Xu hướng tíchhợp các khoa học khi nghiên cứu đối tượng đều tuân theo quy luật nhận thức
về toàn thể bộ phận theo nhiều tầng bậc xoáy ốc Ngày nay, khoa học tiếp tụcphân hoá sâu song song với tích hợp liên môn Đặc biệt, do hình thái khoa học
ở thế kỷ XX đã chuyển từ phân tích - cấu trúc lên tổng hợp - hệ thống làm xuấthiện các gian ngành, liên ngành với tốc độ phát triển ngày càng nhanh Trongkhi đó, dạy học phản ánh sự phát triển của khoa học, và vì thời gian học tậptrong nhà trường không thể kéo dài nhiều nên xuất hiện xu hướng phải dạy từcác môn học riêng rẽ sang dạy tích hợp các khoa học
Như vậy, “Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiếnthức khái niệm thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất,dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong cácmôn học đó”
Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp Nội hàmkhoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay
là sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên
Trang 26một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy Hiểu như vậy,tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, làtính liên kết và tính toàn vẹn Liên kết phải tạo thành một thực thể toàn vẹn,không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp Tính toàn vẹn dựa trên sựthống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thànhphần bên cạnh nhau Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ đượcthụ đắc, tác động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau tronglĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống.
Các mức độ tích hợp kiến thức trong dạy học:
Tích hợp (Integration): Là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiếnthức giáo dục và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bóchặt chẽ với nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được
đề cập trong bài học Trong mức độ này, nội dung chủ yếu của bài học hay mộtphần nội dung môn học có sự trùng hợp với nội dung giáo dục
Kết hợp (Infusion) hay còn gọi là lồng ghép giáo dục trong nội dungmôn học: Chương trình môn học được giữ nguyên, các vấn đề giáo dục đượclựa chọn rồi lồng ghép vào chương trình môn học ở chỗthích hợp sau mỗi bài,mỗi chương, hay hình thành một chương riêng Trong mức độ này, một số nộidung của bài học hay một phần nhất định của nội dung môn học có liên quantrực tiếp với nội dung giáo dục
Liên hệ (Permeation): Chương trình môn học được giữ nguyên Ở hìnhthức này, các kiến thức giáo dục không được nêu rõ trong sách giáo khoa,nhưng dựa vào kiến thức bài học ở chỗthuận lợi, giáo viên có thể bổ sung cáckiến thức đó bằng cách liên hệ với nội dung nào đó của giáo dục hướng nghiệpvào bài giảng trên lớp dưới hình thức các ví dụ khi phân tích một cách hợp lí.Trong mức độ này, ở một số phần nội dung của môn học, bài học, các ví dụ,bài tập, bài làm…là một dạng vật liệu để giúp liên hệ một cách hợp lí với nộidung giáo dục
Trang 27b Dạy học tích hợp
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học, kỹ thuật và côngnghệ, tri thức của loài người đang tăng lên một cách nhanh chóng Khôngnhững thông tin ngày càng nhiều mà với sự phát triển của các phương tiệncông nghệ thông tin, ngày càng có nhiều cơ hội để mỗi người dễ dàng tiếp cậncác thông tin mới nhất Trước tình hình trên đòi hỏi giáo viên phải biết dạy tíchhợp các khoa học, dạy cho học sinh cách thu thập, chọn lọc, xử lí các thông tin,biết vận dụng các kiến thức học được vào các tình huống của đời sống thực tế
Xu thế phát triển của khoa học ngày nay là tiếp tục phân hóa sâu, songsong với tích hợp liên môn, liên ngành ngày càng rộng Việc giảng dạy cácmôn khoa học trong nhà trường phải phản ánh sự phát triển hiện đại của khoahọc, bởi vậy không thể cứ tiếp tục giảng dạy các khoa học như là những lĩnhvực tri thức riêng rẽ Mặt khác, khối lượng tri thức khoa học đang tăng nhanhchóng và thời gian học tập trong nhà trường lại có hạn, do đó phải chuyển từdạy các môn học riêng rẽ sang dạy các môn học tích hợp
Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về dạy học tích hợp
Theo UNESCO, dạy học tích hợp các khoa học được định nghĩa là “mộtcách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thốngnhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hay quá sớm sự saikhác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau”
Khái niệm dạy học tích hợp các khoa học còn bao gồm cả việc dạy họctích hợp các khoa học với công nghệ học Định nghĩa này nhấn mạnh sự phụthuộc lẫn nhau giữa hiểu biết khái niệm và nguyên lý khoa học với ứng dụngthực tiễn
Tuy có những cách định nghĩa khác nhau nhưng chúng lại thống nhấtbiện chứng với nhau ở tư tưởng chính là việc thực hiện một mục tiêu “kép”
Trang 28trong dạy học (một là mục tiêu dạy học thông thường của một bài học, hai làmục tiêu được tích hợp trong nội dung bài học đó).
Các nhà giáo dục đã khẳng định rằng: Đến nay không còn là lúc bànđến vấn đề cần hay không, mà chắc chắn là cần phải dạy học tích hợp Đâycũng là ý kiến kết luận của Hội đồng liên quốc gia về giảng dạy khoa học, với
sự bảo trợ của UNESCO tổ chức tại Varna (Bungri) “Hội nghị tích hợp việcgiảng dạy các khoa học” tháng 9/1968
c Quan điểm về sự tích hợp các môn học
Theo DHainaut (1988), có thể chấp nhận bốn quan điểm tích hợp khácnhau đối với các môn học
- Quan điểm “trong nội bộ môn học”, trong đó chúng ta ưu tiên các nội dung của môn học Quan điểm này nhằm duy trì các môn học riêng rẽ
- Quan điểm “đa môn”, trong đó chúng ta đề nghị những tình huống,những “đề tài” có thể được nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau Ví
dụ, giáo dục hướng nghiệp có thể được thực hiện thông qua nhiều môn họckhác nhau (Sinh học, Giáo dục công dân, Văn học, Toán học, Địa lý, Vật lý,Hoá học, các môn công nghệvà lao động, v.v…Theo quan điểm này, nhữngmôn học tiếp tục được tiếp cận một cách riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thờiđiểm trong quá trình nghiên cứu các đề tài Như vậy, các môn học không thực
Trang 29- Quan điểm “xuyên môn”, trong đó chúng ta chủ yếu phát triển những
kĩ năng mà học sinh có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống, đó là những kĩ năng xuyên môn Có thể lĩnh hội những kĩ năng nàytrong từng môn học hoặc qua những hoạt động chung của nhiều môn học Hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á đã thực hiện quan điểm tích hợp ở những mức độ nhất định Trong những năm 70 và 80 của thế kỉ 20, UNESCO
đã có những hội thảo với các báo cáo vềviệc thực hiện quan điểm tích hợp của những nước tới dự Trong những chương trình mới nhất của một số nước, quanđiểm tích hợp được ghi rõ trong chương trình như Pháp, Hoa Kì,v.v…Theo thống kê của UNESCO, từ năm 1960 đến năm 1974 đã có 208 chương trình môn khoa học thể hiện quan điểm tích hợp ở những mức độ khác nhau từ liên môn, kết hợp đến tích hợp hoàn toàn theo những chủ đề (trong số 392 chương trình được điều tra) Từ năm 1960, đã có nhiều hội nghị quốc tế bàn về việc phát triển chương trình theo hướng tích hợp Năm 1981, một tổ chức quốc tế đãđược thành lập để cung cấp các thông tin về các chương trình môn tích hợp (môn Khoa học) nhằm thúc đẩy việc áp dụng quan điểm tích hợp trong việc thiết kếchương trình các môn khoa học trên thế giới
ỞViệt Nam, việc xây dựng chương trình và sách theo quan điểm tích hợp vẫn còn là vấn đề chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ ỞTHSC và THPT tích hợp môn học còn đang được nghiên cứu thử nghiệm trong phạm vi hẹp, mà chưa được triển khai đại trà Vấn đề kết hợp các nội dung giáo dục của một số môn theo một số nguyên tắc nhất định để tạo thành môn học tích hợp cho cấp THCS của Việt Nam cũng đã được thực hiện để đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học ở trường THCS Xu hướng tích hợp không chỉ nhằm rút gọn thời lượng trình bày tri thức của nhiều môn học, mà quan trọng hơn là tập dượt cho học sinh cách vận dụng tổng hợp các tri thức vào thực tiễn, vì để giải quyết một vấn đề thực tiễn thường phải huy động tri thức của nhiều môn
Trang 30học Dạy từng môn học riêng sẽ đem lại những tri thức hàn lâm có hệ thống,nhưng khó vận dụng vào thực tiễn.
Hiện nay, vấn đề cần hay không cần tích hợp các môn học khác nhaukhông đặt ra nữa Câu trả lời là khẳng định: Cần phải tích hợp các môn học.Những nhu cầu của xã hội đòi hỏi chúng ta phải hướng tới quan điểm liên môn
và xuyên môn
Quan điểm liên môn, trong đó chúng ta phối hợp sự đóng góp của nhiềumôn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống Quan điểm xuyên môn,trong đó chúng ta tìm cách phát triển ở học sinh những kĩ năng xuyên môn,nghĩa là những kĩ năng có thể áp dụng ở rộng rãi mọi nơi
1.1.1.3 Về vấn đề dạy học liên môn
“Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thốngnhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tuợng.Các sự vật, hiện tuợng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khácnhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của vật chất.Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, màtồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xácđịnh Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng, liên hệ
là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyểnhóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, củamột hiện tượng trong thế giới”
Đối với văn học càng phải có quan điểm toàn diện khi nhận thức các vấn
đề, bởi một trong những nguyên lí của triết học là nguyên lí về mối liên hệ phổbiến, các sự vật hiện tượng đều có quan hệ với nhau Vì vậy khi nhận thức mộtvấn đề cần phải đặt nó trong tọa độ chiều dọc hoặc chiều ngang để thấy được mốiquan hệ giữa chúng, không nên xem xét hiện tượng, sự kiện một cách đơn lẻ
Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới luôn có mối quan hệ gắn bóvới nhau, tồn tại trong sự tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau theo những
Trang 31quan hệ xác định Sự thay đổi sự vật, hiện tượng này có thể bắt nguồn từ sựthay đổi sự vật hiện tượng khác, và đồng thời nó sẽ ảnh hưởng đến một sự vật,hiện tượng khác nữa Do đó, khi nhận thức về một vấn đề, chúng ta phải cóquan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng
ở một mối liên hệ rồi vội vàng kết luận bản chất và quy luật của chúng Vì vậy,
để nhận thức đúng đắn một vấn đề phải đặt chúng trong mối liện hệ giữa các
bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật, hiện tượng đó, trong
sự tác động qua lại giữa sự vật đó với sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp
và mối liên hệ gián tiếp, trên cơ sở đó ta mới nhận thức đúng và đầy đủ mộtvấn đề
Con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội Trong cuộc sống, conngười không ngừng hoàn thiện bản thân mình, và để tồn tại trong xã hội conngười phải có tri thức Con người tiếp nhận kiến thức thông qua quá trình họctập, học trong nhà trường, học ngoài xã hội Tri thức con người tiếp nhận baogồm tri thức tự nhiên và tri thức xã hội Có như vậy, con người mới phát triểnmột cách toàn diện
Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng trong dạyhọc nói chung và dạy học văn nói riêng, đây được coi là một quan niệm dạyhọc hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, đồng thời nâng caochất lượng giáo dục
Dạy học liên môn là hình thức tìm tòi những nội dung giao thoa giữacác môn học với môn văn, những khái niệm, tư tưởng chung giữa các môn học,tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số môn học có liên hệ vớinhau “Từ những năm 60 của thế kỉ XX, người ta đã đưa vào giáo dục ý tưởngtích hợp ( inte’gration, integration) trong việc xây dựng chương trình dạy học.Tích hợp là một khái niệm của lí thuyết hệ thống, nó chỉ trạng thái liên kết cácphần tử riêng rẽ thành cái toàn thể, cũng như quá trình dẫn đến trạng thái này”
Trang 32Tùy theo khoa học cụ thể mà có thể tích hợp các môn khoa học khác lạivới nhau như: Lí - Hóa - Sinh, Văn - Sử - Địa Ở mức độ cao, sự tích hợp này
sẽ hình thành những môn học mới, chứ không phải là một sự lắp ghép thôngthường các môn riêng rẽ lại với nhau Các môn vẫn giữ vị trí độc lập với nhau,chỉ tích hợp những phần gần nhau Ở mức độ thấp, việc tích hợp được thựchiện trong mối quan hệ liên môn Những môn được học riêng rẽ nhưng cần chú
ý đến những nội dung có liên quan đến các bộ môn khác, không trình bày trùnglặp trong biên soạn sách giáo khoa và quá trình dạy học mà chỉ khai thác, vậndụng các kiến thức có liên quan đến các bộ môn khác
Về phương diện dạy học, dạy học theo quan điểm liên môn có ba mức độ: ởmức độ thấp, giáo viên nhắc lại tài liệu, sự kiện, kĩ năng các môn có liên quan,cao hơn đòi hỏi học sinh nhớ lại và vận dụng kiến thức đã học của các môn họckhác, và cao nhất đòi hỏi học sinh phải độc lập giải quyết các bài toán nhậnthức bằng vốn kiến thức đã biết, huy động các môn có liên quan theo phươngpháp nghiên cứu
Khoa học lịch sử thuộc nhóm khoa học xã hội nên giữa chúng có quan hệ vớinhau, giữa Lịch Sử - Văn Học, giữa Lịch Sử - Triết học, kiến thức của các môn
có thể bổ sung, hổ trợ cho nhau, muốn hiểu được một tác phẩm văn học phảihiểu được hoàn cản h sáng tác tức là phải biết hoàn cảnh lịch sử, kiến thức củatriết học sẽ giúp ta hiểu về lực lượng sản xuất là gì, sự đấu tranh giữa các mặtđối lập là động lực cho xã hội phát triển
1.1.2 Vị trí, vai trò và nhiệm vụ của phần làm văn trong Bộ môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông
Trang 33suy nghĩ, tình cảm của người học sinh trước một hiện tượng về văn học, về cuộc sống.
- Làm văn là phần thực hành của Văn học và tiếng Việt, song song và tươngứng với phần văn học Chính vì vậy, làm văn là một hoạt động có tính chấtthực hành tổng hợp về kiến thức và kỹ năng
*Về kiến thức:
Đó không chỉ là sự tổng hợp các kiến thức tích lũy trong đọc- hiểu vănbản văn học sử, lý luận văn học mà còn là sự hiểu biết kiến thức từ các bộmôn, các lĩnh vực khác (lịch sử, địa lí, âm nhạc, hội họa…) đặc biệt là nhữngkiến thức xã hội
Ví dụ:
- Kiến thức lí thuyết làm văn (lập dàn ý, chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu, miêu
tả và biểu cảm…) sẽ được huy động để giải quyết đề văn tự sự
- Kiến thức về các thể loại văn học dân gian đã học được dùng để khái quát đặc trưng của nền văn học này
- Kiến thức về các tác giả, tác phẩm nói lên nỗi khổ của người phụ nữ sẽ được tổng hợp lại để giải quyết một nhận định làm văn về thân phận người phụ nữ…
* Về kỹ năng:
Tất cả các kỹ năng như kỹ năng tư duy, diễn đạt, kỹ năng nghe- viết, kỹ năng tìm hiểu đề, tìm ý, dựng đoạn, lập dàn ý… đều được sử dụngtrong quá trình làm văn Vì thế, làm văn là hoạt động có khả năng rèn luyện kỹnăng diễn đạt có tính chất tổng hợp:
nói-đọc Kỹ năng đọc hiểu văn bản, chú ý đến những chi tiết liên quan đến hành động
và lời nói của nhân vật
Ví dụ: Khi đọc tác phẩm “Hồn Trương Ba da hàng thịt” thì ta phải chú ý:+ Hành động cử chỉ của hai nhân vật: Hồn Trương Ba với vẻ uất ức, tức giận, bất lực còn xác hàng thịt thì tỏ vẻ thương hại
Trang 34+ Xưng hô: Hồn Trương Ba xưng “mày- ta” khinh bỉ, xem thường; còn xác hàng thịt xưng “ông- tôi” ngang hàng, thách thức…
- Cách làm dàn ý cho văn bản nghị luận về tác phẩm truyện, nhân vật… để làmdàn ý
- Kỹ năng tư duy chính xác, nhạy bén, trong sáng, rõ ràng (lập luận, trình bày vấn đề logic, khả năng phân tích, bình luận, đánh giá, đối chiếu…)
Ví dụ: Khi phân tích nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm “Chí Phèo” của NamCao , học sinh phải nắm được những đặc điểm tiêu biểu của Chí Phèo để lậpdàn ý, sắp xếp những luận điểm, luận cứ luận chứng một cách phù hợp, logicvới yêu cầu của đề bài Khi phân tích, học sinh có thể so sánh, đối chiếu nhânvật Chí Phèo với một số nhân vật khác trong các tác phẩm khác như nhân vật
AQ trong tác phẩm “AQ chính truyện” của Lỗ Tấn để làm rõ hơn tính cáchnhân vật Chí Phèo Từ đó cho thấy có sự đặc sắc trong các miêu tả của tác giảcũng như có sự sự gặp gỡ trong tính cách của hai nhân vật này Cho thấy sựảnh hưởng trong tư tưởng của các nhà văn
- Kỹ năng nói đúng, nói lưu loát, trôi chảy, nói hay, lôi cuốn
Ví dụ: Khi bình luận về một hiện tượng đời sống như văn hóa giao tiếp củagiới trẻ ngày nay thi học sinh phải tìm hiểu thực tế diễn ra như thế nào để nóicho đúng, đưa ra những nhận xét, đánh giá của riêng mình đối với vấn đề này
và phải tạo được hứng thú cho người nghe
- Kỹ năng viết nhanh, viết đúng, viết hay Thời gian để làm một bài văn là cóhạn Vì vậy, học sinh phải có kỹ năng viết nhanh Và muốn viết hay trước hếtphải viết đúng
Ví dụ: Khi phân tích bài “Trao duyên” của Nguyễn Du, học sinh phải biết đượcnội dung đoạn trích nói về nỗi đau của Thúy Kiều khi phải trao mối duyên củamình cho em là Thúy Vân đồng thời thấy được tài miêu tả tâm lý nhân vật bậcthầy của Nguyễn Du Nếu như không biết được tác phẩm mình phân tích nói vềđiều gì, chủ đề ra sao thì học sinh không thể viết đúng được
Trang 35Khi đã viết đúng, vấn đề của học sinh là phải diễn đạt làm sao cho hay, cho hấpdẫn.
Qua làm văn, kiến thức chung và kiến thức văn học của học sinh đượccủng cố và phát triển lên một bước cơ bản về chất, kiến thức lẻ tẻ được hệthống hóa, phạm trù hóa, kiến thức chết trở thành kiến thức sống, kiến thức tảnmạn trở thành kiến thức định hướng: thao tác và kỹ năng văn học lẻ tẻ bộ phậnđược huy động tổng lực qua quá trình làm văn
1.1.2.2 Vai trò, nhiệm vụ
Vì là một hoạt động có tính thực hành nên làm văn có nhiệm vụ
- Củng cố, hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức về tác giả, tác phẩm, về xu hướng, giai đoạn văn học
Ví dụ: Khi phân tích về bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu, học sinh sẽ có thêmnhững hiểu biết về tác giả Tố Hữu, về tập thơ “Việt Băc”, về những khó khăngian khổ của đồng bào ta, về tinh thần lạc quan của những người lính cũng nhưtình cảm chân thành của đồng bào miền núi đối với cán bộ chiến sĩ cáchmạng…
- Hình thành, củng cố những hiểu biết về xã hội (thông qua việc cho các emtrình bày một vấn đề- thường là vấn đề được các em quan tâm như văn bảnquảng cáo, hay cho học sinh bình luận, bác bỏ một vấn đề, nghị luận xã hội…)
- Trang bị những hiểu biết về lý thuyết làm văn với những đặc điểm, phương pháp làm bài văn nghị luận
Ví dụ: Muốn làm một bài văn, bất kì là phân tích, chứng minh, giải thích haybình luận thì học sinh vẫn phải biết cách phân tích đề bài, biết cách lập dàn ý
Lý thuyết làm văn của bài “Phân tích đề, lập dàn ý cho bài nghi luận văn học”
sẽ giúp học sinh viết được một bài văn hay mà không bỏ sót ý
- Rèn luyện kỹ năng dùng từ, viết câu, dựng đoạn, xây dựng dàn ý, bố cục bài
Trang 36đánh giá về cách dùng từ, viết câu, bố cục bài văn của học sinh Học sinh sẽdựa vào đó rút kinh nghiệm để những bài viết sau này không mắc phải nhữnglỗi đó nữa.
- Giáo dục tư tưởng, tình cảm, bồi dưỡng tâm hồn nhân cách cho học sinh(giúp học sinh nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa văn và người, giáo dụctác phong bền bỉ, cẩn thận, tinh thần trách nhiệm, tích cực, trung thưc, có chínhkiến, chịu tìm tòi, đào sâu suy nghĩ…)
Ví dụ: Khi giáo viên ra đề cho học sinh là “Em hãy bình luận câu danh ngôn
“Bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người”, học sinh sẽ nhậnthức được rằng chỉ có học mới làm cho mình tự tin trong cuộc sống Kiến thứcđược ví như một thứ đồ trang sức để làm đẹp cho mình và cho đời Chính vìvậy, thông qua làm văn, học sinh được giáo dục về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn
1.1.3 Nhiệm vụ của phần văn thuyết minh trong dạy làm văn ở lớp 10 THPT
Phần văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn lớp 10 chủ yếu họcsinh sau khi được nhắc lại kiến thức đã học từ THCS và học thêm một sốphương pháp thuyết minh thì việc đầu tiên là rèn luyện kĩ năng viết đoạn vănthuyết minh Với yêu cầu là:
+Nắm vững các kiến thức về đoạn văn thuyết minh và kĩ năng viết đoạn văn thuyết minh
+ Có đủ tri thức cần thiết và chuẩn xác để làm rõ ý của đoạn
Trang 37sự vật, sự việc hiên tượng quen thuộc trong thực tế đời sống; hoặc một tác giả,tác phẩm văn học.
1.1.4 Mối quan hệ mật thiết giữa môn văn và các bộ môn khác
1.1.4.1 Mối quan hệ giữa kiến thức văn học và lịch sử
Giữa văn học và khoa học nói chung, sử học nói riêng có mối liên hệchặt chẽ Khoa học lịch sử dựa vào những nhân vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử
có thật trong một giai đoạn nhất định để khôi phục lại bức tranh quá khứ mộtcách chân xác, khách quan, còn văn học dựa trên chất liệu cuộc sống để xâydựng hình tượng, cốt truyện, mỗi tác phẩm văn học đều mang trong mình dấu
ấn của thời đại Khi sáng tác một tiểu thuyết, nhà văn phải nghiên cứu các tàiliệu lịch sử Khi tìm hiểu nội dung một tác phẩm văn học phải tìm hiểu hoàncảnh sáng tác, bối cảnh lịch sử của nó để đặt tác phẩm ấy trong hoàn cảnh cụthể mới có thể hiểu được dụng ý nhà văn cũng như thời đại mà tác phẩm ra đời.Đối tượng của văn học cũng như sử học là toàn bộ thế giới nhưng văn họckhông miêu tả, tái hiện những con người cụ thể, cá biệt có thật trong đời sốngnhư lịch sử mà xuất phát từ những mẫu hình có thật để dựng nên những hìnhtượng văn học giàu tính nghệ thuật khiến học sinh dễ hình dung kiến thức vànhớ lâu Vì vậy, vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học văn giúp học sinhhiểu biết đầy đủ hơn về sự kiện lịch sử xảy ra liên quan đến tác phẩm văn học
để từ đó học sinh sẽ có nền tảng để hiểu và khai thác văn bản
1.1.4.2 Mối quan hệ giữa kiến thức văn học và địa lí
Khoa học địa lí có mối liên hệ đặc biệt với văn học, vì nghiên cứu vănhọc phải xuất phát từ những sự kiện cụ thể, diễn ra trong một bối cảnh nhấtđịnh - diễn ra trong một thời gian và không gian nhất định Một tác phẩm vănhọc gắn liền với một hay nhiều vị trí không gian địa lý phù hợp với văn cảnh Nhiều vấn đề của tác phẩm văn học xảy ra bắt nguồn từ đặc điểm địa lí hoặc do
Trang 38đặc biệt quan trong trong dạy học văn Có những tác phẩm văn học được ra đời
ở những vùng miền khác nhau và ít nhiều chịu ảnh hưởng của văn hóa vùngmiền Nếu chúng ta không hiểu không gian địa lí đó thế nào thì chúng ta chưathể đi sâu để khai thác thấu đáo và hiểu được dụng ý nghệ thuật của nhà văn
Do đó vận dụng kiến thức liên môn là cần thiết để kết hợp giữa địa lí và vănhọc nhằm rút gần khoảng cách không gian địa lí với tác phẩm văn học
1.1.4.3 Mối quan hệ giữa kiến thức văn học và giáo dục công dân
Trong nhà trường phổ thông môn ngữ văn vừa đáp ứng yêu cầu về trithức vừa gắn với rèn giũa cho học sinh có được công cụ để đáp ứng các yêucầu của cuộc sống Do đó mối quan hệ giữa kiến thức môn văn và giáo dụccông dân cũng có những thuận lợi riêng bởi quá trình tiếp nhận tác phẩm vănhọc đã giúp cho con người có được những thói quen, những tình cảm lànhmạnh, những suy ngẫm để tự rèn luyện, tự điều chỉnh bản thân Chức năng tiếpnhận văn học không chỉ đơn thuần là quá trình người đọc tiếp xúc với tác phẩmvăn học mà nó còn diễn ra quá trình nhận thức ở họ khi người đọc và ngườihọc có ý thức cao về những vấn đề trong tác phẩm văn học Quá trình học văn
ở trường THPT đối với lứa tuổi học sinh chính là quá trình thầy cô giúp các emtiếp xúc tác phẩm, hiểu ra cái đúng, cái hay của nó và bằng tài năng của mìnhngười thầy phải cảm thụ, cảm nhận một cách toàn diện để sau đó từng bướcđưa học sinh bước vào tác phẩm mà phân tích, cảm thụ và hiểu tác phẩm mộtcách đầy đủ, đúng đắn Môn văn và giáo dục công dân đều có vai trò giáo dục
và trang bị cho học sinh những kĩ năng sống cần thiết bởi vì học sinh THPTđang ở giai đoạn hình thành và hoàn thiện nhân cách Do đó mối liên quan mậtthiết giữa môn văn và giáo dục công dân giúp học sinh có những phương tiệncần thiết và kĩ năng quan trọng cho cuộc sống giúp giáo viên giáo dục học sinh
về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn Việc tích hợp kiến thức liên môn giữa văn vàcông dân là cần thiết cho việc dạy học văn của giáo viên và phù hợp với xu thếdạy học hiện nay
Trang 391.1.5 Vai trò và ý nghĩa của việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy làm văn thuyết minh lớp 10 THPT
1.1.5.1 Vai trò
Sử dụng tích hợp liên môn là một nguyên tắc cần tuân thủ trong dạy học
ở trường phổ thông nói chung và môn văn nói riêng
Sử dụng tích hợp liên môn được coi là một nguồn kiến thức quan trọngkhông thể thiếu trong dạy học văn nói chung và dạy học làm văn thuyết minhnói riêng Mặt khác, sử dụng tích hợp kiến thức liên môn còn là biện pháp đổimới phương pháp dạy học Nếu sử dụng tốt tích hợp kiến thức liên môn và gâyhứng thú học tập cho học sinh sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học văn
1.1.5.2 Ý nghĩa
- Về mặt giáo dưỡng: sử dụng tích hợp liên môn đảm bảo được tính toàn vẹncủa kiến thức trên cơ sở sử dụng kiến thức các môn học khác và ngược lại.Tích hợp liên môn còn giúp học sinh tránh được những lỗ hổng kiến thức khihọc tách rời các môn học Nhờ đó, các em hiểu được sâu sắc kiến thức văn học
và gây được hứng thú học tập cho học sinh
- Về kĩ năng: Việc sử dụng tích hợp kiến thức liên môn nhằm gây hứng thú chohọc sinh trong dạy học văn là một trong những biện pháp cơ bản thúc đẩy quátrình nhận thức của học sinh đạt kết quả cao Nếu hiểu được kiến thức thì các
em sẽ hình thành các kĩ năng như : phân tích, so sánh, nhận định, đánh giá vàbiết liên hệ kiến thức đã học vào cuộc sống
- Về mặt giáo dục: bộ môn ngữ văn ở nhà trường phổ thông có ưu thế trongviệc giáo dục con người phát triển toàn diện về mặt nhân cách Khi chúng tahọc dạy học văn các tác phẩm văn chương sẽ giúp học sinh có những tình cảmyêu, ghét, lo lắng, hồi hộp, khâm phục,…điều đó sẽ tạo cơ sở cho việc giáo dụcđạo đức tư tưởng tình cảm cho học sinh
Trang 401.2 Cơ sở thực tiễn
Để hiểu rõ thực tiễn sử dụng tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học làmvăn thuyết minh nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh THPT, tôi đã tiếnhành điều tra thực tế ở trường THPT Ngọc Hồi – Thanh Trì – Hà Nội Thôngqua việc điều tra, phỏng vấn giáo viên môn văn và các em học sinh qua dự giờ,thăm lớp, tôi đã thu được kết quả về tình hình thực tiễn sử dụng tích hợp kiếnthức liên môn trong dạy học làm văn thuyết minh như sau:
1.2.1 Về phía giáo viên
1.2.1.1 Thực trạng của việc dạy học làm văn ở trường THPT hiện nay
Có nhiều giáo viên tâm huyết đã có những biện pháp đổi mới nhằm nângcao chất lượng phần làm văn để nhằm nhằm rèn luyện kỹ năng tư duy chínhxác, nhạy bén, kỹ năng diễn đạt đúng và hay bằng ngôn ngữ những hiểu biết,suy nghĩ, tình cảm của người học sinh trước một hiện tượng về văn học, vềcuộc sống Tuy nhiên việc dạy và học phân môn làm văn thuyết minh hiện naycòn tồn tại nhiều bất cập
1.2.1.2 Thực trạng dạy học làm văn thuyết minh lớp 10 theo hướng tích hợp liên môn
a Nhận thức của giáo viên THPT về dạy học tích hợp
-Qua khảo sát, tôi nhận thấy, vấn đề áp dụng tích hợp trong dạy học Ngữ vănnói chung và dạy làm văn nói riêng đã được giáo viên tiếp cận nhưng chưa thật
sự có chiều sâu Sự tiếp cận ấy có thể chỉ dừng lại ở việc nắm được quan điểm,nguyên tắc xây dựng chương trình và SGK mới là theo định hướng tích hợp và
có hai hình thức tích hợp là: Tích hợp theo chiều ngang và tích hợp theo chiềudọc Thế nhưng tích hợp như thế nào, với nội dung và phạm vi nào thì thực sự
là vấn đề khó khăn với các giáo viên Do vậy dẫn đến thực trạng là nhiều giờdạy, giáo viên chưa chú ý đến việc vận dụng quan điểm tích hợp, dẫn đến việckhai thác bài dạy thiếu tính hệ thống, thiếu chiều sâu, làm cho chất lượng bàidạy không đạt; nhiều giờ dạy, giáo viên tích hợp một cách