ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN THỊ THANH TÂM THÁI ĐỘ CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ VỀ CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUYỆN NÂNG CAO HIỂU BIẾT VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN HỌC ĐƯỜNG LUẬN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ THANH TÂM
THÁI ĐỘ CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
VỀ CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUYỆN NÂNG CAO HIỂU BIẾT
VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN HỌC ĐƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ THANH TÂM
THÁI ĐỘ CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
VỀ CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUYỆN NÂNG CAO HIỂU BIẾT
VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN HỌC ĐƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Chuyên ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên
Mã số: 8310401.05
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thành Nam
HÀ NỘI – 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành chương trình học
và luận văn thạc sĩ Tâm lý học, tôi đã nhận được vô vàn sự hỗ trợ và giúp đỡcủa các cá nhân và các tập thể
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS TS Trần Thành Nam – ngườithầy đầy trí tuệ, nhiệt huyết và luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong quátrình học tập và nghiên cứu đề tài luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô trong khoa Các khoa họcgiáo dục và Trung tâm Thông tin Hướng nghiệp, Nghiên cứu và Ứng dụngTâm lý luôn nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và truyền lại những tri thức quýgiá tới các học viên trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn TS Mai Quốc Khánh – giảng viên trường Đại học Sưphạm Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình thực hiện khảo sát online
và các thầy cô giáo đến từ 64 trường trung học cơ sở trên địa bàn 17 tỉnh,thành phố trong cả nước, đã nhiệt tình tham gia khảo sát
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp –những người luôn động viên, khích lệ và hỗ trợ tôi trong suốt hơn 2 năm hoànthành chương trình học thạc sĩ
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 14 tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Trần Thị Thanh Tâm
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Tổng quan các chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần học đường 6
1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu về chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần học đường 15
1.2 Các hướng nghiên cứu về thái độ 17
1.2.1 Các hướng nghiên cứu về thái độ 17
1.2.2 Các thang đo dùng để nghiên cứu về thái độ 18
1.3 Các khái niệm công cụ 20
1.3.1 Khái niệm thái độ 20
1.3.2 Khái niệm sức khỏe tâm thần (SKTT) 30
1.3.3 Khái niệm sức khỏe tâm thần học đường 31
1.3.4 Chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần học đường 33
1.3.5 Giáo viên trung học cơ sở 36
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 42
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Tổ chức nghiên cứu 43
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 43
2.1.2 Mẫu nghiên cứu 46
Trang 52.2 Tiến trình nghiên cứu 47
2.2.1 Giai đoạn nghiên cứu lý luận 47
2.2.2 Giai đoạn khảo sát thực tế 48
2.3 Phương pháp nghiên cứu 48
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 48
2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 49
2.3.3 Phương pháp thống kê toán học 52
2.4 Đạo đức nghiên cứu 52
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54
3.1 Thực trạng thái độ của GV THCS về chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần học đường 54
3.1.1 Thực trạng nhận thức của GV THCS về chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần học đường 54
3.1.2 Cảm xúc của GV THCS khi tham gia hoặc được mời tham gia chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về SKTT học đường 69
3.1.3 Hành vi của GV THCS đối với chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về SKTT học đường 71
3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nhận thức về SKTT học đường của GV THCS 78
3.2.1 Mối quan hệ giữa sự hiểu biết của GV về SKTT học đường với kinh nghiệm tham gia chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về SKTT học đường 78
3.2.2 Mối liên hệ giữa nhận thức về sự cần thiết của chương trình huấn luyện với sự hiểu biết đầy đủ về SKTT học đường 79
3.2.3 Mối quan hệ giữa nhận thức về lợi ích khi tham gia chương trình tập huấn về SKTT học đường với sự hiểu biết đầy đủ về SKTT học đường 80
Trang 63.2.4 Mối quan hệ giữa giới tính, trình độ học vấn và số năm kinh
nghiệm, số tuổi của GV THCS với sự nhận thức về SKTT học đường 83 3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến cảm xúc của GV THCS về các vấn đề
SKTT học đường 84
3.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến đến mức độ sẵn sàng tham gia các nội dung trong chương trình tập huấn nâng cao hiểu biết về SKTT học đường 86 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 97
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng khách thể nghiên cứu 43Bảng 2.2 Một số đặc điểm khách thể nghiên cứu 46Bảng 3.1 Nhận thức của GV THCS về khái niệm sức khỏe tâm thần 54Bảng 3.2 Nhận thức của GV về mức độ cần thiết của chương trình nâng caohiểu biết về SKTT trong công việc của mình 56Bảng 3.3 Lý do GV tham gia chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết vềSKTT học đường 57Bảng 3.4 Nguồn thông tin mà các GV có thể tiếp cận các chương trình huấnluyện nâng cao hiểu biết về SKTT học đường 60Bảng 3.5 Nhận thức của GV về lợi ích của chương trình nâng cao hiểu biết
về SKTT học đường 62Bảng 3.6 Nhận thức chung của GV THCS về các vấn đề SKTT học đường 66Bảng 3.7 Cảm xúc của GV THCS khi tham gia hoặc được mời tham giachương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về SKTT học đường 70Bảng 3.8 Kinh nghiệm tham gia các chương trình huấn luyện nâng cao hiểubiết về SKTT học đường 72Bảng 3.9 Hành vi của GV THCS về các vấn đề SKTT học đường 73Bảng 3.10 Mức độ sẵn sàng của GV THCS khi được mời tham gia vào từngnội dung của một chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về SKTT họcđường cụ thể 77Bảng 3.11 Mối quan hệ giữa nhận thức về lợi ích khi tham gia chương trình tậphuấn về SKTT học đường với sự hiểu biết đấy đủ về SKTT học đường 81
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Nhận thức của GV THCS về khái niệm SKTT học đường 55Biểu đồ 3.2: Nhận thức của GV THCS về mức độ cần thiết của chương trìnhnâng cao hiểu biết về SKTT học đường 57Biểu đồ 3.3 Lý do GV tham gia chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết
về SKTT học đường 59Biểu đồ 3.4: Nguồn thông tin mà GV THCS có thể tiếp cận các chương trìnhhuấn luyện nâng cao hiểu biết về SKTT học đường 61Biểu đồ 3.5: Nhận thức của GV THCS về lợi ích của chương trình huấn luyệnnâng cao hiểu biết về SKTT học đường 65Biểu đồ 3.6 Nhận thức chung của GV THCS về các vấn đề SKTT học đường 69Biểu đồ 3.7: Cảm xúc của GV THCS khi tham gia hoặc được mời tham giachương trình huấn luyện nâng cao hểu biết về SKTT học đường 71Biểu đồ 3.8: Kinh nghiệm tham gia chương trình huấn luyện nâng cao hiểubiết về SKTT học đường 73Biểu đồ 3.9: Hành vi của GV THCS về vấn đề SKTT học đường 76Biểu đồ 3.10 Mức độ sẵn sàng của GV THCS khi được mời tham gia vàotừng nội dung của một chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về SKTThọc đường cụ thể 78
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sức khỏe tâm thần (SKTT) là một bộ phận không thể tách rời trongđịnh nghĩa về sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong đó sức khỏetâm thần không chỉ có nghĩa là không mắc các rối loạn tâm thần mà còn baohàm trạng thái thoải mái, sự tự tin vào năng lực của bản thân, tính tự chủ,năng lực và khả năng nhận thức tiềm năng của bản thân
Sức khỏe tâm thần học đường được hiểu là những vấn đề về sức khỏetâm thần ở lứa tuổi học đường Theo một nghiên cứu của Ủy ban Y tế Hà Lan– Việt Nam (MCNV) phối hợp với Sở GD-ĐT tỉnh Quảng Trị tiến hành khảosát thực trạng SKTT tại 3 trường THPT, trường THPT Vĩnh Linh, THPT ATúc (Đakrông) và THPT Đông Hà Kết quả của cuộc khảo sát ở Trường
THPT Vĩnh Linh cho thấy, có 104 em (9,03%) có vấn đề về SKTT, 56 em(5,01%) rối loạn về cảm xúc, 27 em (2,42%) có rối loạn về hành vi, 21 em(1,88%) tăng động, 19 em (1,7%) có vấn đề về bạn bè và 22 em (1,97%) cóvấn đề về tiền xã hội
Năm 2011, một nghiên cứu về các vấn đề sức khỏe tâm thần của trẻ em
và vị thành niên trên thế giới đã đưa ra con số thống kê có khoảng 10-20% trẻ
em và vị thành niên chịu ảnh hưởng của các vấn đề sức khỏe tâm thần [16]
Theo thông tư 31 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày18/12/2017 về việc hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinhtrong trường phổ thông chứng tỏ rằng vấn đề sức khỏe tâm thần học đường đãđược quan tâm hơn Trong điều 8 vể tổ chức, cán bộ đã yêu cầu nhà trườngcần có Tổ tư vấn, có giáo viên kiêm nhiệm để thực hiện công tác tư vấn chohọc sinh, những giáo viên đó phải là người có kinh nghiệm và được đào tạo,bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ tư vấn tâm lý (có chứng chỉ nghiệp vụ tưvấn tâm lý học đường theo chương trình do Bộ GD&ĐT ban hành) Như vậy,các thầy cô sẽ là người tham gia trực tiếp vào quá trình hỗ trợ tâm lý cho học
Trang 11sinh trong trường học, vì vậy các thầy cô sẽ cần phải nâng cao hiểu biết về cácvấn đề SKTT học đường.
Lứa tuổi học sinh THCS là lứa tuổi xảy ra hiện tượng dậy thì ở hầu hếtcác em học sinh Đặc trưng của lứa tuổi này là sự phát triển nhanh, mạnh mẽnhưng không cân bằng cả về thể chất và tâm lý Từ đó dẫn đến hàng loạt cácvấn đề khó khăn tâm lý và các vấn đề SKTT xuất hiện Các thầy cô cần phải
là những người có kiến thức để phát hiện sớm và có những sự hỗ trợ sớm chonhững HS đó, tránh gây ra những hậu quả nặng nề
Ngày 22/3/2019 ở trường THCS Phù Ủng (Hưng Yên) đã xảy ra vụviệc 5 em học sinh nữ đánh hội đồng một bạn học sinh khác cùng lớp, ngoài
ra nhóm học sinh này còn quay clip lại và gửi clip cho một số bạn khác cùnglớp như khoe một chiến tích của mình Được biết bạn học sinh bị đánh cóhoàn cảnh rất khó khăn, là học sinh hiền lành và trước kia đã từng bị bắt nạtrất nhiều lần: bắt chép bài hộ, viết bản tường trình, trực nhật lớp … Sau khi sựviệc xảy ra, bạn học sinh đó đã bị sốc tâm lý và phải nhập viện điều trị ở bệnhviện tâm thần Hưng Yên
Từ những lý do trên tôi quyết định thực hiện đề tài: “Thái độ của giáo viên trung học cơ sở về chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần học đường” Luận văn kì vọng có thể trả lời câu hỏi: Thái độ của thầy cô về tính cấp thiết của việc nâng cao hiểu biết về sức khỏe
tâm thần học đường? Mức độ sẵn sàng tham gia của thầy cô đối với những nộidung có trong một chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về sức khỏetâm thần cụ thể là the Guide? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến thái độ củagiáo viên về chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thầnhọc đường? Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp và xây dựng chương trình phùhợp giúp nâng cao hiểu biết của GV THCS về các vấn đề SKTT học đường
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện nhằm tạo tiền đề để xây dựng chương trình
Trang 12tập huấn nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần học đường cho giáo viêntrung học cơ sở trong bối cảnh hiện nay Từ đó góp phần nâng cao hiệu quảtrong công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong trường phổ thông nói riêng vàtrong công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần trong nhà trường và cộng đồng nóichung.
3 Giả thuyết nghiên cứu
Các GV THCS đều nhận thức được tầm quan trọng của chương trình và
có cảm xúc tích cực nếu được mời tham gia vì vậy các GV THCS sẵn sàngtham gia vào các nội dung của chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết vềSKTT học đường
4 Nhiệm vụ nghiên cứu.
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
- Tổng quan các chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về SKTT học đường
- Tổng quan các nghiên cứu về chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần học đường
- Tổng quan các hướng nghiên cứu và các thang đo nghiên cứu về tháiđộ
- Thao tác các khái niệm liên quan đến đề tài: Thái độ, giáo viên trunghọc cơ sở, chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần họcđường, sức khỏe tâm thần, sức khỏe tâm thần học đường
- Nghiên cứu các quy định, thông tư của nhà nước về các hướng dẫn thực hiện hỗ trợ tâm lý cho học sinh phổ thông
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
- Nghiên cứu nhận thức của GV THCS về khái niệm SKTT học đường,mức độ cần thiết của chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về SKTT họcđường, lợi ích của chương trình nâng cao hiểu biết về SKTT học đường
- Nghiên cứu cảm xúc của GV THCS khi được mời tham gia chương
Trang 13trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về SKTT học đường.
- Nghiên cứu mức độ sẵn sàng tham gia vào từng nội dung của chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về SKTT học đường
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, cảm xúc và hành vicủa GV THCS đối với chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về SKTT họcđường
- Ngoài ra, chúng tôi cũng nghiên cứu lý do mà GV sẽ tham gia chươngtrình, nguồn thông tin mà GV có thể tiếp cận được các chương trình huấnluyện nâng cao hiểu biết về SKTT học đường và thời điểm nào phù hợp để tổchức chương trình sao cho có nhiều GV tham gia nhất
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Thái độ của GV THCS về chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết
về sức khỏe tâm thần học đường
5.2 Phạm vi nghiên cứu
345 GV THCS ở các trường THCS trên cả nước, có đại diện ở cả bamiền Bắc – Trung – Nam, có đại diện trường ở khu vực nông thôn, thành phố,bán đô thị, miền núi
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp này để khai thác tài liệu, báo, tạp chí khoa học, các côngtrình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam từ đó xây dựng cơ sở lý luận choluận văn
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Chúng tôi sử dụng bảng hỏi để điều tra về thái độ chung về việc nângcao hiểu biết về SKTT học đường và thái độ về một chương trình nâng cao
hiểu biết về SKTT học đường cụ thể của GV THCS
Trang 146.3 Phương pháp xử lý số liệu
Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 23.0 để sử lý số liệu
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý luận
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan các chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần học đường.
Trên thế giới
Ngay từ những năm đầu thế kỉ 21, ở một số nước trên thế giới đã cónhiều chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần(SKTT) ở trường học và đã đạt được thành công nhất định
- Một số chương trình ở Australia: MindMatters, Schools Research Initiative,Mental Illness Education, Mental health first aid, Sucide Intervention Project,Mental health first aid treining for high school teachers
- Một số chương trình ở Hoa Kì: The Science of Mental Illness curiculum supplemant, Mental Illness Awereness Week program, The Guide
- Một số chương trình ở Anh và Đức: Mental Health Awareness in Actionprogram, “Crazy? So what! It’s normal to be different”
- Malawi và Tanzania: The African Guide: Malawi version (AGMv)
- Campuchia: The Guide
- Canada: the Guide
Trang 16Chương trình Mental Illness Awareness Week nhằm nâng cao nhậnthức của thanh thiếu niên với việc tìm kiếm sự giúp đỡ cho các vấn đề SKTT.Các chủ đề được nói đến trong chương trình gồm có: tâm thần học, ma túy,rượu, tự tử, trầm cảm Hầu hết các học sinh đã tham gia chương trình đềuhứng thú và bày tỏ sự quan tâm đến việc tìm hiểu thêm về các chủ đề SKTT.Các học sinh tham gia chương trình đã có thái độ tích cực với việc tìm kiếm
sự giúp đỡ của các bác sĩ tâm thần Như vậy, bước đầu chương trình cũng đã
có sự thành công nhất định trong việc nâng cao hiểu biết về một số vấn đềSKTT và giúp thay đổi thái độ về việc tìm kiếm sự giúp đỡ từ các bác sĩ tâmthần giúp cho việc can thiệp được thuận lợi hơn [12]
Chương trình MindMatter cung cấp một khung chương trình nhấnmạnh vào việc thúc đẩy sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên trong môitrường học đường theo hướng tiếp cận toàn trường Đây là chìa khóa giúpnâng cao sức khỏe thanh thiếu niên vì nó có tiềm năng phát triển các phản ứngcộng đồng tích hơn với các nhu cầu của thanh thiếu niên Thông qua việc to ramôi trường tiếp cận toàn trường có lợi cho sức khỏe tinh thần và có kết nốivới những lực lượng trong cộng đồng khác, trường học trở thành chìa khóa đểgiải quyết các vấn đề sức khỏe tâm thần cho thanh thiếu niên trên tất cả khíacạnh của cuộc sống Chương trình đã giúp nhận ra vai trò quan trọng của nhàtrường trong việc giải quyết các vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh vàgiúp cho quá trình sàng lọc học sinh có vấn đề để có hướng can thiệp kịp thời[25]
Chương trình “Crazy? So what! It’s normal to be different” được thựchiện với mục đích nâng cao nhận thức về SKTT cho những người trẻ và giảm
kì thị đối với người mắc tâm thần phân liệt dành cho học sinh THCS từ 14 –
18 tuổi Hoạt động chính của dự án là buổi gặp mặt với bệnh nhân tâm thầnphân liệt Chương trình đã giúp làm giảm lối suy nghĩ tiêu cưc, và tăng xu
Trang 17hướng tích cực trong việc cải thiện khoảng cách xã hội Chương trình có mộttên gọi gây tò mò cho người nghe vì vậy có thể thu hút được học sinh thamgia chương trình Ưu điểm của dự án này là chú trọng đến việc tìm bệnh nhântâm thần phân liệt có độ tuổi tương đồng với những người tham gia để ngườitham gia dễ dàng xác định dấu hiệu của người mắc tâm thần phân liệt [30].
Chương trình phòng ngừa tự tử (Sucide Intervention Project) được thiết
kế dựa trên chiến lược giáo dục đồng đẳng nhiều lớp nhằm mục đích sử dụngphương pháp phòng ngừa và can thiệp sớm như một biện pháp nâng cao nănglực phản ứng với vấn đề tự tử trong trường đại học Những người tham giađược đào tạo để có thể nhận ra các vấn đề SKTT ở người khác và họ cảm thấythoải mái khi nói chuyện với các sinh vên khác về các vấn đề SKTT và cókiến thức về các dịch vụ hỗ trợ SKTT dành cho sinh viên Nhìn chung,chương trình có hiệu quả trong việc nâng cao sức khỏe tâm thần bằng cách cảithiện sự tự tin của những người tham gia chương trình trong việc phản ứngvới những sự đau khổ của những người khác [24]
Chương trình Mental Health Awareness in Action program thực hiệnnghiên cứu trên 472 học sinh các trường THCS ở Anh Các học sinh đượctham dự hai hội thảo và hoàn thành khảo sát liên quan đến kiến thức, thái độ
và hành vi về SKTT Trong giai đoạn đầu, các học sinh có phản ứng khá tiêucực về các vấn đề SKTT, ở giai đoạn sau thái độ tích cực tăng lên đáng kể.Qua quá trình nghiên cứu nhận thấy có sự thay đổi lớn đối với những học sinh
nữ và những học sinh có mối quan hệ cá nhân với người có vấn đề về SKTT.Kết quả của chương trình đã tạo ra những thay đổi tích cực về thái độ củanhững người tham gia với những người có vấn đề về SKTT [26]
Chương trình The Science of Mental Illness curiculum supplementnghiên cứu trên 1500 học sinh THCS trên toàn nước Mỹ nhằm đánh giá tácđộng của một chương trình can thiệp về thái độ kì thị liên quan đến các vấn đề
Trang 18SKTT Hai câu hỏi nghiên cứu được kiểm tra là (1) Những kiến thức và thái
độ cơ bản về SKTT của nhóm học sinh này là gì? (2) tham gia vào khóa họcnày có giúp nâng cao hiểu biết và cải thiện thái độ của học sinh về các vấn đềSKTT hay không? Đây là một chuỗi các hoạt động trong chương trình được
hỗ trợ bởi rất nhiều đơn vị liên quan và được công nhận trên nhiều nước Ưuđiểm của chương trình là nội dung kết hợp các khám phá khoa học tiên tiến,
dữ liệu khoa học chính xác và nghiên cứu trường hợp thực tế Chương trìnhchức các thông tin bao quát và sử dụng các chiến lược học tập tích cực, ápdụng tư duy sáng tạo Các module bao gồm cả các hoạt động trên lớp dựa vàosách vở và hoạt động trên trang web, mỗi phần gồm 5-6 bài học được thiết kếtrong khoảng 45 phút được viết dưới dạng kế hoạch bài học để các giáo viênkhông chuyên cũng có thể thực hiện được [32]
Chương trình Mental Illness Education góp phần đáng kể giúp tăngnhận thức của học sinh về sức khỏe tâm thần, và cũng giúp giảm đáng kể sự
kì thị của những người tham gia đối với những người có vấn đề về sức khỏetâm thần Tuy nhiên, chương trình chưa thực sự thành công trong việc khuyếnkhích học sinh tìm kiếm sự trợ giúp [28]
Chương trình Beyondblue Schools Research Initiative được thiết kế để
đánh giá tác động của cách tiếp cận toàn diện đối với việc ngăn ngừa trầmcảm ở thanh thiếu niên, thông qua sự tăng cường các yếu tố bảo vệ từ phíamôi trường và cá nhân trong bối cảnh trường học Các yếu tố bảo vệ từ phíamôi trường gồm có: an ninh và an toàn, sự hỗ trợ xã hội và mối quan hệ xãhội tích cực, sự tham gia và kết nối xã hội Các yếu tố bảo vệ từ phía cá nhângồm có: kỹ năng giải quyến vấn đề, kỹ năng ứng phó và kỹ năng xã hội,phong cách suy nghĩ tích cực Nói chung chương trình đã có hướng tiếp cậnkhá toàn diện và đầy đủ đối với việc ngăn ngừa trầm cảm ở thanh thiếu niên[31]
Trang 19Chương trình Mental health first aid đào tạo những thành viên trongcộng đồng để trợ giúp sớm cho những người mắc các vấn đề về SKTT Khóahọc gồm 12 giờ chia làm 4 bài, mỗi bài 3 giờ Chương trình cung cấp nămbước để sơ cứu tâm lý bao gồm: (1) đánh giá rủi ro vấn đề tự tử hoặc tự hại,(2) lắng nghe không phán xét, (3) trấn an và cung cấp thông tin, (4) khuyếnkhích thân chủ tìm kiếm sự giúp đỡ chuyên nghiệp, (5) khuyến khích những chiếnlược tự lực Chương trình đã mang lại kết quả khả quan cho những
người tham gia chương trình: có sự cải thiện phù hợp với các chuyên gia y tế
về phương pháp điều trị, cải thiện những hành vi giúp đỡ, tự tin hơn trongviệc cung cấp sự trợ giúp và giảm khoảng cách xã hội giữa những người cóvấn đề SKTT Tuy nhiên chương trình chưa có sự đánh giá hiệu quả ở nhữngthân chủ được sự trợ giúp từ những người đã từng tham gia chương trình [17]
Chương trình Mental Health First aid for high school teachers là mộtchương trình đã được chỉnh sửa sao cho phù hợp với đối tượng tham gia lànhững giáo viên THCS và THPT và phù hợp với đối tượng giúp đỡ hướng tới
là các học sinh trong trường học Quy trình đánh giá và đào tạo người thamgia chương trình khá chặt chẽ, suốt cả quá trình thực hiện chương trình,những người tham gia phải thực hiện 3 bài khảo sát: khảo sát đầu vào, khảosát đầu ra và khảo sát theo dõi sau 6 tháng; đồng thời để đánh giá tác động củachương trình đến học sinh thì cũng đã có một khảo sát dành cho học sinh sauquá trình theo dõi 6 tháng Chương trình đào tạo đã giúp giáo viên có thêmkiến thức, thay đổi niềm tin về việc trị liệu, trở nên giống như các chuyên gia
về SKTT, giảm sự kì thị và tăng sự tự tin trong việc giúp đỡ học sinh và đồngnghiệp Hiệu quả của chương trình cũng tác động gián tiếp đến các học sinh,học sinh đã báo cáo rằng họ nhận được nhiều thông tin về SKTT hơn từnhững nhân viên nhà trường Hầu hết các thay đổi được tìm thấy trong
Trang 206 tháng theo dõi sau khóa học Tuy nhiên đối với những học sinh có vấn đềSKTT thì chưa tìm thấy có hiệu quả [13].
Chương trình The Guide là một trong những chương trình giáo dục kiến
thức về SKTT đầu tiên được triển khai trong trường học ở Canada Qua kếtquả đánh giá hiệu quả thực hiện chương trình, các nhà nghiên cứu thấy rằng,
chương trình The Guide có thể được thực hiện bởi các giáo viên trong trường
học, không nhất thiết phải là các chuyên gia về SKTT Vì vậy, góp phầnnhanh chóng lan tỏa và mở rộng mô hình thực hiện giúp chứng minh tác độngtích cực của chương trình và cải thiện hiểu biết, thái độc của học sinh về cácvấn đề SKTT [12]
Chương trình The African Guide: Malawi version (AGMv) là chươngtrình The Guide đã được chỉnh sửa sao cho phù hợp với điều kiện nghiên cứu
ở Malawi và Tanzania Chương trình mang đến một cách tiếp cận hiệu quả vàbền vững để nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần cho các nhà giáo dục và họcsinh trên toàn cầu Góp phần thúc đẩy sức khỏe tâm thần tích cực, giảm sự kì thị.Với quy trình đánh giá 3 vòng: đánh giá đầu vào, đánh giá đầu ra và
đánh giá theo dõi sau 3 ngày, chương trình cho thấy có hiệu quả trong việcnâng cao hiểu biết và thái độ của các nhà giáo dục với các vấn đề SKTT Cóthể nói đây là một chương trình khá mới mẻ ở thời điểm đó đối với Malawinói riêng và những nước đang phát triển nói chung [18]
Chương trình School–base mental health literacy programs là mộtchương trình mới được thích ứng ở Campuchia, chương trình được thiết kế,đánh giá qua nhiều bước, sử dụng thang đo được thiết kế sẵn có trong chươngtrình The Guide Thông qua quá trình thực nghiệm đã cho thấy kết quả tíchcực trong việc nâng cao nhận thức, thái độ của GV và HS về các vấn đềSKTT [25]
Trang 21Tóm lại, hầu hết các chương trình giáo dục SKTT trên thế giới đã đạtđược mục tiêu, chứng minh tính hiệu quả khi đã làm tăng nhận thức, giảm thái
độ kỳ thị, qua đó thúc đẩy hành vi tìm kiếm trợ giúp chuyên nghiệp cho ngườidân, GV cũng như HS
Thông qua tổng quan các chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết
về SKTT trên thế giới, tôi thấy rằng chương trình Mental Health & HighSchool Curriculum Guide (The Guide) là chương trình đã được thực hiện ởnhiểu quốc gia và đã có những bằng chứng chứng minh hiểu quả của chươngtrình Vì vậy, tôi chọn The Guide là chương trình mẫu để tìm hiểu thái độ của
GV THCS về một chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về SKTT họcđường cụ thể
Ở Việt Nam
Cho đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam chưa có nhiều chương trìnhnâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần nói chung và sức khỏe tâm thần họcđường nói riêng Có thể kể đến một vài chương trình điển hình như: Chươngtrình chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh trường học thành phố Hà Nội củabệnh viên tâm thần ban ngày Mai Hương, chương trình chăm sóc sức khỏetâm thần toàn diện “Nối kêt”, chương trình “The Guide” thích ứng ở ViệtNam trong khuôn khổ luận án tiến sĩ của Bùi Thị Thanh Diệu (chương trìnhTâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên, trường Đại học Giáo dục)
Chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh trường học thànhphố Hà Nội Chương trình được thực hiện tại 6 trường học ở 3 quận/ huyệncủa Hà Nội: Đống Đa, Hai Bà Trưng và Từ Liêm, thời gian thực hiện chươngtrình từ tháng 1/2005 – 1/2007 do bệnh viện tâm thần ban ngày Mai Hươngthực hiện Với mục tiêu dài hạn là thành lập mô hình dịch vụ chăm sóc SKTThọc sinh trường học có thể nhân rộng về sau và mục tiêu ngắn hạn là khảo sát
Trang 22thực trạng các vấn đề SKTT học sinh trên mẫu nghiên cứu tại Hà Nội; xâydựng mạng lưới can thiệp sớm, tuyên truyền giáo dục, bảo vệ và chăm sócSKTT trẻ em lứa tuổi học đường tại các tuyến y tế cơ sở, y tế trường học vàtại bệnh viện tâm thần ban ngày Mai Hương [1].
Chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh trường học thànhphố Hà Nội có các hoạt động để thúc đẩy sức khỏe tâm thần dưới dạng cácbuổi tập huấn: tập huấn cho những cán bộ đảm nhận công tác tập huấn, tậphuấn kiến thức về SKTT cho giáo viên, tập huấn kiến thức vể SKTT cho cha
mẹ học sinh, tập huấn kiến thức về SKTT cho nhân viên y tế trường học vànhân viên y tế cộng đồng, tập huấn kiến thức về SKTT cho cán bộ lãnh đạocác cấp Có thể thấy, chương trình đã có sự tiếp cận toàn diện các nguồn lựcxung quanh học sinh để có thể hỗ trợ tốt nhất cho các vấn đề SKTT họcđường của học sinh
Năm 2015, chương trình “Nối kết” do Trung tâm Thông tin hướngnghiệp và Nghiên cứu, Ứng dụng tâm lý (CRISP), trường Đại học Giáo dục
thích ứng từ chương trình Reach Educators, Children and parent – RECAP
của Hoa Kì cho Weiss và Han thiết kế [34] Để phù hợp với điều kiện thực tế
ở Việt Nam, các tác giả chỉ giữ lại một số thành tố: can thiệp lớp học cho toàn
bộ học sinh dựa trên chương trình can thiệp kĩ năng xã hội, hỗ trợ giáo viên
thông qua tư vấn quản lý lớp học, can thiệp cá nhân Chương trình gồm 35 bàihọc về các kĩ năng NỐI KẾT cho HS (40 phút/ bài/ tuần) với các nội dung vềxây dựng nội quy lớp học, kĩ năng thân thiền, kĩ năng lựa chọn hành vi, kĩnăng bộc lộ và kiểm soát cảm xúc, kĩ năng tự chủ do cán bộ tâm lý thựchiện và được GV củng cố trong tuần [4]
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ thực hiện các kĩ năng xã hội sauthực nghiệm của lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng và có ý nghĩa thống
kê, chứng tỏ rằng chương trình NỐI KẾT có hiệu quả trong việc cải thiện các
Trang 23mức độ thực hiện kĩ năng xã hôi, cụ thể là các kĩ năng tự khẳng định, hợp tác
và tự kiểm soát Tuy nhiên, nghiên cứu cũng có một số hạn chế: số lượng mẫuquá nhỏ (chỉ làm ở trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm) không thể khái quát chotoàn bộ trường Tiểu học ở Việt Nam, các diễn giải về hiệu quả trực tiếp củachương trình chăm sóc SKTT NỐI KẾT đến việc cải thiện kĩ năng xã hội cầncẩn trọng vì nghiên cứu này chỉ xem xét mức độ thay đổi kỹ năng xã hội nhưmột kết quả đầu ra [4]
Tác giả Bùi Thị Thanh Diệu cũng đã nghiên cứu tác động của chươngtrình “The Guide” đến hiểu biết về SKTTT của GV và HS Quy trình nghiêncứu chặt chẽ, đảm bảo tính khoa học, có nhóm thực nghiệm và nhóm đốichứng, các tập huấn viên và trợ lý nghiên cứu đều là những người có chuyênmôn: bác sĩ chuyên khoa 2, nhà tâm lý học, nhà tham vấn, nhân viên công tác
xã hội Kết quả nghiên cứu cho thấy, trước tập huấn, giữa nhóm GV thựcnghiệm và nhóm GV đối chứng không có sự khác biệt trong hiểu biết vềSKTT, sau khi tham gia chương trình khả năng nhận diện và tìm kiếm thôngtin về rối loạn tâm thần của GV trong nhóm thực nghiệm tăng lên ngay sautập huấn và được duy trì sau 3 tháng Cùng với dự gia tăng về kiến thức thìthái độ kì thị đối với bệnh tâm thần của các GV cũng giảm xuống, yếu tốnhiềm tin vào sự trợ giúp chuyên nghiệp ở nhóm GV thực nghiệm cũng có xuhướng gia tăng Kết quả này cũng tương tự như ở nhóm học sinh, trong khi
HS ở nhóm thực nghiệm có sự thay đổi tích cực thì HS ở nhóm chứng không
có sự thay đổi [2]
Sau quá trình nghiên cứu và thực nghiệm, tác giả đã đề xuất một số giảipháp nhắm nâng cao hiệu quả chương trình giáo dục SKTT trong trường họcnhư sau:
- Về thời lượng tập huấn: nên là 3 ngày, trong đó 2 ngày tập huấn lý thuyết và 1 ngày thực hành việc giảng dạy nội dung chương trình
Trang 24- Về thời điểm triển khai: cần phải tìm hiểu kĩ kế hoạch năm học và nêntránh các thời điểm có nhiều hoạt động phòng trào hoặc thi cử.
- Hình thức tổ chức chương trình giáo dục SKTT trong trường học: cóthể tổ chức dưới hình thức hoạt động ngoại khóa, truyền thông, các cuộc thi tìmhiểu, triển lãm để thu hút sự quan tâm của học sinh và các lực lượng giáo dụckhác
- Về điều kiện thực hiện chương trình: cần phải có sự đồng ý của cáccấp quản lý, bên cạnh đó cần các công cụ hỗ trợ: máy chiếu, bảng, giấy, bút màu,tài liệu phát tay vì vậy cần có kinh phí
Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, chương trình huấn luyện nâng caohiểu biết về sức khỏe tâm thần học đường dành cho giáo viên còn khá mới
mẻ Vì vậy để một chương trình huấn luyện được triển khai cần phải có nhữngnội dung như sau: Sự kì thị đối với các bệnh tâm thần; hiểu biết về sức khỏetâm thần và bệnh tâm thần; thông tin cụ thể về bệnh tâm thần; kinh nghiệm vềbệnh tâm thần; tìm kiếm sự giúp đỡ; tầm quan trọng của sức khỏe tâm thầntích cực Với những nội dung như vậy chúng tôi sẽ khảo sát với các thầy cô về
sự sẵn sàng tham gia của các thầy cô với những nội dung này và cách thức tổchức phù hợp sao cho có nhiều thầy cô tham gia nhất có thể
1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu về chương trình huấn luyện nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần học đường.
Hiện nay, các chương trình nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thầndựa vào trường học có hai nhóm: một nhóm tập trung vào sức khỏe tâm thần
và các rối loạn tâm thần phổ biển, nhóm thứ hai tập trung vào các rối loạn tâmthần cụ thể Tuy nhiên, có rất ít đánh giá một cách có hệ thống về hiệu quảcủa các chương trình đó [33]
Năm 2007, Kelly và các cộng sự đã nghiên cứu tổng quan các can thiệp
Trang 25nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thân cho thanh thiếu niên Tuy nhiên,nghiên cứu này chỉ tóm tắt các đặc điểm của chương trình can thiệp và độmạnh của bằng chứng được xác định bởi Hội đồng nghiên cứu Sức khỏe và Yhọc Úc (Australian National Health and Medical Research Council) Họkhông đánh giá hiệu quả của các chương trình can thiệp mà họ đã xem xét, vàmột số can thiệp không có sẵn kết quả ở thời điểm công bố [15].
Schachter (2008) và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu một cách có
hệ thống những tài liệu khoa học đã được công bố và chưa được công bố, cóliên quan đến những lợi ích và những tổn hại của các can thiệp dựa vàotrường học, dành cho đối tượng học sinh dưới 18 tuổi để ngăn chặn và loại bỏ
sự kì thị Nhóm nghiên cứu xác đinh có bốn mươi công trình nghiên cứu cóliên quan nhưng chỉ có một tổ hợp định tính được coi là phù hợp Năm hạnchế trong cơ sở bằng chứng đã tạo ra rào cản để đưa ra kết luận về hiệu quả vàtác hại của các can thiệp ở trường học: chất lượng báo cáo kém, bằng chứngthử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát, phương pháp thiết kế nghiên cứu kém,không đồng nhất đáng kể trên mặt lâm sàng, kết quả không nhất quán hoặc vôgiá trị [29]
Năm 2012, các tác giả Wei, Hayden, Kutcher, Zymunt và McGrath đãtiến hành một nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá một cách có hệ thống vềhiệu quả của các chương trình hiểu biết về sức khỏe tâm thần để nâng caonhận thức, giảm thái độ kì thị và cải thiện hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ ởnhóm thanh thiếu niên (12-25 tuổi).Với phương pháp tìm kiếm và đánh giáđộc lập các công trình nghiên cứu trên các thư viện điện tử có uy tín nhưPubMed, PsycINFO, Cochrane Library, CINAH, ERIC, grey literature vàdanh mục tài liệu tham khảo Nghiên cứu nàu là kết quả của 27 bài báo trong
đó 5 nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, 13 nghiên cứu thựcnghiệm và 9 nghiên cứu có kiểm soát trước – sau Trong khi hầu hết các
Trang 26nghiên cứu bao gồm các chương trình kiến thức về SKTT dựa trên trường họcgiúp nâng cao hiểu biết, thái độ và hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ, có 17 nghiêncứu có nguy cơ sai lệch cao, 10 nghiên cứu có nguy cơ sai lệch vừa phải,không có nghiên cứu nào có nguy cơ sai lệch thấp Những hạn chế của cácnghiên cứu bao gồm: thiếu ngẫu nhiên, thiếu kiểm soát các yếu tố gây nhiễu,thiếu độ hiệu lực của thang đo và thiếu báo cáo về sự tiêu hao trong hầu hếtcác nghiên cứu Chất lượng chung của bằng chứng về đầu ra của sự hiểu biết
và hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ ở mức độ rất thấp và đầu ra của thái độ ở mức
ưu điểm và nhược điểm của các chương trình hiểu biết về SKTT hiện tại đểlàm căn cứ quyết định thực hiện chương trình khả thi [33]
1.2 Các hướng nghiên cứu về thái độ
1.2.1 Các hướng nghiên cứu về thái độ
Thái độ là một trong những phạm trù có lịch sử nghiên cứu từ lâu và córất nhiều khía cạnh của thái độ đã được khai thác và nghiên cứu Các hướngnghiên cứu về thái độ gồm có: các nghiên cứu ban đầu và các nghiên cứu mới
về định nghĩa, cấu trúc, chức năng, vai trò của thái độ; các nghiên cứu xâydựng các học thuyết thái độ và các nghiên cứu về thái độ trong các ngữ cảnh
Các nghiên cứu về về định nghĩa, cấu trúc, chức năng, vai trò của thái
độ được tiến hành trong giai đoạn nhiều giai đoạn với những đặc trưng nghiên
Trang 27cứu khác nhau Giai đoạn từ năm 1918 – trước chiến tranh thế giới thứ hai,đây là giai đoạn đầu ra đời khái niệm thái độ do hai nhà tâm lý học người Mỹ
là Thomas và Znaniecki đưa ra khi nghiên cứu về sự thích ứng của ngườinông dân Ba Lan khi di cư sang Mỹ Đặc biệt trong giai đoạn này các tác giảcòn phát hiện ra nghịch lý Piere đó là sự không nhất quán giữa thái độ vàhành vi của con người Giai đoạn từ chiến tranh thế giới thứ hai đến năm
1950, các nhà khoa học chủ yếu nghiên cứu vai trò của thái độ trong việc chỉđạo hành vi, tiêu biểu là các tác giả: Trianodis, Marten, Traver, Fillmore vàKalat Giai đoạn từ những năm 1950 đến nay, giai đoạn này có nhiều ý tưởng,quan điểm mới nhưng cũng có tình trạng khủng hoảng
Các tác giả cũng nghiên cứu các thuyết về thái độ: thuyết bất đồng nhậnthức (Leon Festinger), thuyết tự nhận thức (Daryl Bem), thuyết tự thể hiện(Parye Beny), thuyết hành động hợp lý (Aen và Fishbein), thuyết cân bằng(Heider), thuyết đồng hóa tương phân (Sherif và Hovland), thuyết tâm thế(Uzantze), thuyết định vị (Iadov)
Trong giai đoạn từ năm 2010 – 2017, các tác giả tập trung nghiên cứuthái độ trong ba ngữ cảnh quan trọng Ngữ cảnh thứ nhất là con người, lànhững thay đổi của thái độ có liên quan đến các giá trị, mục tiêu chung, ngônngữ, cảm xúc và sự phát triển của con người Ngữ cảnh thứ hai là các mốiquan hệ xã hội, liên kết thay đổi thay đổi thái độ với người truyền đạt cácthông điệp thuyết phục, phương tiện truyền thông xã hội và văn hóa Ngữcảnh thứ ba mang tính xã hội và làm nổi bật ảnh hưởng của các sự kiện độcđáo, bao gồm các sự kiện xã hội, kinh tế và khí hậu [10]
1.2.2 Các thang đo dùng để nghiên cứu về thái độ
Thái độ của một người có liên quan đến hình ảnh của bản thân và sựchấp nhận của xã hội, vì vậy để giữ hình ảnh bản thân tích cực những câu trảlời về thái độ có thể bị ảnh hưởng bởi mong muốn của xã hôi, họ có thể không
Trang 28nói rõ về thái độ thực sự của họ nhưng họ sẽ trả lời theo cách mà họ cảm thấyđược xã hội chấp nhận Với vấn đề này, các phương pháp đo lường thái độkhác nhau đã được phát triển, tuy nhiên tất cả đều có ưu nhược điểm riêng[20]
Các phương pháp đo lường về thái độ có thể chia thành hai loại cơ bản:
đo lường trực tiếp (thang đo likert và kĩ thuật phân biệt ngữ nghĩa) và đolường gián tiếp (kĩ thuật phóng chiếu và thử nghiệm liên kết ngầm)
Các phương pháp đo lường trực tiếp thường được thiết kế để cung cấpthông tin chính xác và có giá trị về thái độ xã hội của cá nhân, tuy nhiên vẫncòn tồn tại những thiếu sót trong các thang đo tự báo cáo này Có nhiều yếu tốkhác nhau ảnh hưởng đến tính hợp lệ của thang đo thái độ và một trong số đó
là mong muốn của xã hội Những người trả lời thường đưa ra câu trả lời khiến
họ xuất hiện và điều chỉnh tốt, không bị đánh giá, cởi mở và dân chủ Cácthang đo tự báo cáo về thái độ đối với chủng tộc, tôn giáo, tình dục bị ảnhhưởng nặng nề bởi sự thiên vị và mong muốn xã hội Những người được hỏi
có thái độ tiêu cực đối với một nhóm đặc thù có thể không muốn thừa nhậnvới nhà nghiên cứu (hoặc chính bản thân họ) rằng học có những cảm xúc này
Do đó, các câu trả lời trong thang đo thái độ không phải lúc nào cũng phảnánh đúng thực tế 100%
Các phương pháp đo lường gián tiếp thường được dùng để tránh cácvấn đề do mong muốn xã hội khiến họ không nhận thức được vấn đề đangđược đo hoặc họ không chú ý ảnh hưởng của những vấn đề đang được đo.Các biện pháp phóng chiếu chỉ có thể cung cấp thông tin chung chung, khôngđưa ra được một phép đo chính xác về sức mạnh, thái độ vì nó là thang đođịnh tính chứ không phải thang đo định lượng Nhược điểm của phương pháp
đo lường gián tiếp là sự thiếu khách quan và liên quan đến vấn đề đạo đức vì
Trang 29nghiệm thể nghiên cứu thường không biết thái độ của họ đang được nghiên cứu.
1.3 Các khái niệm công cụ
1.3.1 Khái niệm thái độ
1.3.1.1 Lịch sử nghiên cứu khái niệm thái độ
Trong lịch sử các công trình nghiên cứu về thái độ, người đầu tiênnghiên cứu về thái độ là Lagiurxki (1874 - 1917), trong một số tác phẩm củamình ông đã đề cập đến khái niệm thái độ chủ quan ở con người với môitrường Theo ông, đời sống tâm lý thực của con người được chia thành 2 lĩnhvực:
- Cái tâm lý bên trong: khí chất, tính cách và một loạt các đặc điểm tâmsinh lý khác
- Cái tâm lý bên ngoài: hệ thống thái độ của nhân cách với môi trường xung quanh
Như vậy, thái độ là sự biểu hiện ra bên ngoài của tâm lý, phản ứng với sựtác động của môi trường xung quanh Ông hiểu thái độ với môi trường xungquanh là nghĩa rộng, bao gồm thái độ với thiên nhiên, với sản phẩm lao động,với những cá nhân khác, với các nhóm xã hội và với những giá trị tinh thần
Ở phương Tây, năm 1918 – 1920, Thomas và Zaniecki cho rằng: Thái
độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị Như vậy hai ông đãđồng nhất thái độ với định hướng giá trị của cá nhân
Còn Allport vào năm 1935 đã cho rằng: Thái độ là trạng thái sẵn sàng
về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có khảnăng điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động đối với phản ứng của cá nhânhướng đến các khách thể và tình huống mà nó quan hệ Như vậy, thái độ đượccoi như một trạng thái tâm lý và thần kinh của hoạt động, tuy nhiên ông chưa
Trang 30nói đến vai trò của môi trường xã hội, của nhu cầu trong quá trình hình thànhthái độ.
Newcome cho rằng: Thái độ của cá nhân đối với một đối tượng nào đó
là thiên hướng hành động, nhận thức, tư duy, cảm nhận của chủ thể với kháchthể liên quan Theo đó, ông cho rằng thái độ với khách thể sẽ quy định sự sẵnsàng phản ứng của chủ thể
Phillmore định nghĩa: Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng tích cực hay tiêucực đối với đối tượng hay các ký hiệu (biểu tượng) trong môi trường Thái
độ là sự định hướng của cá nhân đến các khía cạnh khác nhau của môi trường
và là cấu trúc có tính động cơ Triandis đã cho rằng: Thái độ của con ngườibao gồm những điều người ta suy nghĩ và cảm thấy về đối tượng cũng như sự
xử sự của họ đối với nó
Như vậy các tác giả trên đều định nghĩa thái độ dựa trên điểm tựa chứcnăng của nó Thái độ thực hiện việc định hướng hành vi ứng xử của conngười, thúc đẩy và tăng cường tính sẵn sàng phản ứng của con người hướngtới đối tượng
Còn trong từ điển các thuật ngữ Tâm lý và Phân tâm học xuất bản tạiNew York năm 1996 lại cho rằng: “Thái độ là một trạng thái ổn định bềnvững, do tiếp thu được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quánđối với một nhóm đối tượng nhất định, không phải như bản thân chúng ra sao
mà chúng được nhận thức ra sao Một thái độ được nhận biết ở sự nhất quáncủa những phản ứng đối với một nhóm đối tượng Trạng thái sẵn sàng có ảnhhưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành động có liên quan đến đối tượng Địnhnghĩa này xem thái độ như một khái niệm chủ yếu thuộc về tâm lý học cánhân
Theo đại từ điển Tiếng Việt:
Trang 31- Thái độ là mặt biểu hiện bề ngoài của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hay việc gì thông qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động.
- Thái độ là ý thức, cách nhìn nhận, đánh giá và hành động theo mộthướng náo đó trước một sự việc
Theo từ điển xã hội do Nguyễn Khắc Viện chủ biên cũng nhấn mạnh:
“tâm thế - thái độ - xã hội đã được củng cố có cấu trúc phức tạp, bao gồm cácthành phần nhận thức, xúc cảm, hành vi”
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm thái độ là: cách nhìnnhận, đánh giá của chủ thể về một đối tượng nào đó, có vai trò định hướnghành vi ứng xử của con người, thúc đẩy và tăng cường tính sẵn sàng phản ứngcủa con người hướng tới đối tượng
1.3.1.2 Cấu trúc của thái độ
Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về thái độ nhưng khi đề cập đến cấutrúc của thái độ thì hầu hết các nhà tâm lý học lại nhất trí với nhau ở cấu trúc
3 thành phần của thái độ là: Nhận thức; xúc cảm - tình cảm và hành vi doSmith đưa ra năm 1942
Mặt nhận thức: Nhận thức là một trong ba mặt của đời sống tâm lý củacon người (nhận thức, tình cảm và hoạt động), có chức năng phản ánh sự vậthiện tượng trong thế giới khách quan, làm sáng tỏ sự vật hiện tượng giúp choquá trình hoạt động của con người trở nên thống nhất hơn Khi phản ánh vềthái độ thì nhận thức thể hiện giá trị, ý nghĩa của đối tượng dù phản ánh đó cóphù hợp hay không phù hợp, đúng hay không đúng, Cá nhân có thể đạt đếnnhững mức độ nhận thức khác nhau về giá trị, ý nghĩa của đối tượng tùy vào
sự hiểu biết đối tượng đó Do đó, nhận thức là nhân tố không thể thiếu trongviệc hình thành nên thái độ cá nhân
Trang 32Mặt xúc cảm – tình cảm: Xúc cảm – tình cảm là sự rung cảm của cánhân đối với sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Có thể là sự thỏamãn hay không thỏa mãn, hài lòng hay không hài lòng về nhu cầu con người.Đây là yếu tố thúc đẩy hoạt động tinh thần của con người Tình cảm là yếu tố
vô cùng quan trọng trong cấu trúc của thái độ vì nếu tình cảm tích cực sẽ thúcđẩy chủ thể hành động tích cực từ đó hình thành nên thái độ tích cực và ngượclại nếu tình cảm tiêu cực sẽ gây ra sự cản trở hoạt động cá nhân
Trong quan hệ với các mặt biểu hiện của thái độ, xúc cảm – tình cảmthể hiện các mức độ khác nhau: về trạng thái: say mê, xúc động, tâm trạng;tính chất: tích cực, trung tính, tiêu cực; về cường độ: mạnh, vừa phải, yếu
Vì vậy, khi nghiên cứu về thái độ thì xúc cảm – tình cảm là một trong nhữngchỉ báo không thể thiếu được
Mặt hành vi: Là những hành động hay ý định hành động của cá nhânđối với đối tượng của thái độ Hành vi là một thành phần cấu thành nên thái
độ Thái độ và hành vi luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau, tuy nhiên trongnhiều trường hợp hành vi và thái độ lại có sự không thống nhất, mâu thuẫnvới nhau Có thể nói, mối quan hệ giữa hành vi và thái độ là mối quan hệ cáibiểu hiện và cái tiềm ẩn
Khi xem xét mối quan hệ giữa 3 yếu tố trên thì theo nguyên tắc quyếtđịnh luận của tâm lý học hoạt động là sự thống nhất giữa ý thức và hành vi,nên ba thành phần trong cấu trúc của thái độ có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau Vì khi nói đến hành vi thì chỉ nói đến mặt nhận thức thì chỉ là sự hiểubiết của con người với đối tượng Do vậy, thái độ phải là sự kết hợp chặt chẽgiữa nhận thức, xúc cảm – tình cảm, hành vi Trên thực tế chúng ta có thể gặpnhững tình huống mà ở đó có sự không cân bằng giữa các thành tố trong cấutrúc thái độ, nhưng ngay sau đó, trạng thái cân bằng được lập lại và tạo ra cácmức độ và các dấu hiệu khác nhau của thái độ Từ việc xem xét và phân tích
Trang 33chúng tôi nhận thấy đây là cấu trúc phù hợp với việc nghiện cứu thái độ củagiáo viên trung học cơ sở về chương trình huấn luyện nâng cao nhận thức vềsức khỏe tâm thần học đường.
Nhận thức
Xúc cảm –
Hành vi tình cảm
Hình 1: Mô hình cấu trúc của thái
độ 1.3.1.3 Chức năng của thái độ
Theo các nhà nghiên cứu cho thấy thái độ có một số chức năng cơ bản sau:
- Chức năng tác động và điều chỉnh hành vi: Chức năng này giữ vai trò
quan trọng nhất, vì khi đứng trước những tình huống trong cuộc sống có nhữngtình huống bất ngờ thì thái độ sẽ phản ứng một cách tức thời nhằm
điều chỉnh hành vi của một cá nhân
-Chức năng tiết kiệm trí lực: Qua những kinh nghiệm của bản thân
trong hoạt động sống, đặc biệt nhờ có những khuôn mẫu, hành vi quen thuộc
đã hình thành, các cá nhân biết cách ứng phó trong các tình huống khác nhaumột cách phù hợp, đơn giản tiết kiệm sức lực
- Chức năng thích nghi: Cá nhân luôn phải thích ứng với môi trường
xung quanh họ Để đạt được mục đích đề ra, nhiều trường hợp cá nhân thay
đổi thái độ do tác động của môi trường
Trang 34- Chức năng thể hiện giá trị: Cá nhân thể hiện những giá trị của bản
thân mình thông qua việc biểu lộ cảm xúc và hành động Nếu một cá nhân
được mọi người đánh giá cao về hành động và cảm xúc, suy nghĩ thì bản thân người đó càng có giá trị với những người xung quanh
- Chức năng tự bảo vệ: Cá nhân thường bào chữa hay tự lí giải mỗi khi
có nhưng xung đột nội tâm giữa hành vi và thái độ, giữa suy nghĩ và hànhđộng nhằm tạo ra một thái độ mới làm giảm bới nhưng mâu thuẫn trong nộitâm mình
1.3.1.4 Đặc điểm của thái độ
* Nhà tâm lý học Liên Xô Rubinstein cho rằng thái độ có những đặcđiểm:
- Thái độ là hệ thống các điều kiện bên trong đáp lại nhưng tác độngbên ngoài và quy định hành vi cụ thể trong sự tác động qua lại với các điều kiện bên ngoài
- Thái độ luôn phát triển trong sự phụ thuộc vào tồn tại xã hội nơi con người sống và hoạt động
- Thái độ cần được coi như các hệ thống chức năng, xem xét về mặt sinh lý học thần kinh
*Allport đã tổng kết các định nghĩa khác nhau về thái độ và đưa ranhững đặc điểm của thái độ là: Thái độ có ảnh hưởng, tác động và điều khiểnhành vi; Thái độ là trạng thái có tổ chức; Thái độ là trạng thái nhất định củatinh thần và hệ thần kinh; Thái độ thể hiện sự sẵn sàng phản ứng; Thái độ dựatrên kinh nghiệm được tiếp thu từ trước [9]
Theo định nghĩa chung về thái độ, thái độ có những đặc điểm sau:
- Thái độ luôn hướng tới một đối tượng cụ thể
Trang 35- Tính bền vững tương đối là một đặc điểm khác của thái độ, khi có nhữngtác động thì nó có thể có những thay đổi phù hợp Hoặc có sự đổi mới trongthái độ khi cá nhân có sự thay đổi vị trí, quan điểm của mình trong xã hội.
- Thái độ có các mức độ phản ứng biểu hiện khác nhau Cùng mộtkhuynh hướng thái độ nhưng mức độ phản ứng biểu hiện có thể là khônggiống nhau thông qua các mức độ nhận thức, xúc cảm – tình cảm, hành vi củacon người
- Thái độ quy định sự sẵn sàng hành động của chủ thể với đối tượngtheo một hướng nhất định Khi cá nhân có thái độ nào đó với đối tượng thì họ
sẽ sẵn sàng hành động với đối tượng đó một cách nhanh chóng theo một hướng thống nhất
- Khi thái độ được hình thành sẽ có tác dụng điều khiển, điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân
Như vậy, trong những hoàn cảnh cụ thể thì thái độ sẽ sẵn sàng phảnánh, chi phối việc lựa chọn và đưa ra những quyết định của con người với đốitượng thông qua mặc nhận thức, xúc cảm – tình cảm và hành vi của conngười
1.3.1.5 Cơ chế hình thành thái độ
Từ việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu về thái độ đã chỉ ra rằng,thái độ được hình thành trong quá trình hoạt động và giao tiếp của cá nhân vớingười khác Hai nhà nghiên cứu người Đức là Vorwerg và Hiebsch đã đưa ra
4 cơ chế để hình thành nên thái độ
Bắt chước: Bắt chước là quá trình cá nhân hình thành thái độ thông quacon đường tự phát Những hành vi và phản ứng được thực hiện mà không cần
sử dụng đến kỹ thuật giáo dục theo một phương thức nào cả
Trang 36Đồng nhất hóa: Tức là con người tự đặt mình vào vị trí của cá nhânkhác để có những suy nghĩ và hành vi như họ Hay nói cách khác là quá trìnhchủ thể thống nhất bản thân mình với người khác dựa trên mối liên hệ xúccảm – tình cảm và chuyển những giá trị, chuẩn mực vào thế giới nội tâm củamình.
Giảng dạy: Là việc hình thành thái độ của con người thông quá sự tácđộng một cách có mục đích của người khác nhằm thông báo truyền thụ trithức, thông tin
Chỉ dẫn: Là quá trình hình thành thái độ đòi hỏi chủ thể phải chủ động,tích cực theo sự chỉ dẫn nào đó trong quá trình tiếp thu và lĩnh hội tri thức
Trong quá trình hình thành thái độ ở cá nhân, các cơ chế không táchbiệt hoàn toàn mà có sự hòa trộn, đan xen với nhau Tùy vào những tìnhhuống cụ thể mà cơ chế này hay cơ chế khác chiếm ưu thế trong quá trìnhhình thành thái độ
1.3.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành thái độ
Thái độ được hiểu là cấu trúc nhận thức của cá nhân về hiện thực kháchquan và cả những cảm xúc và xu hướng hành vi mà cá nhân thể hiện, tác độngđến hiện thực khách quan đó Thực tế cho thấy khi cũng thời gian và cùng đốitượng tác động nhưng mỗi người lại có thái độ nhìn nhận không giống nhau,thậm chí trái ngược nhau Nguyên nhân là quá trình hình thành thái độ là mộtquá trình phức tạp, chịu sự tác động của nhiều yếu tố Bên cạnh yếu tố nhưthông tin về đối tượng thì tính chủ thể trong thái độ được biểu hiện rất rõ Cácyếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển thái độ gồm có: nhu cầu cánhân, thông tin được cung cấp, hoạt động giao tiếp và nhân cách của cá nhân
- Nhu cầu cá nhân:
Trang 37Con người hình thành và phát triển các thái độ trong quá trình thỏa mãncác nhu cầu của mình Người ta sẽ hình thành các thái độ tích cực đối với cáckhách thể có lợi, tiêu cực đối với các khách thể có hại cho họ trên con đườngđạt tới mục đích nào đó để thỏa mãn các nhu cầu nhất định của họ Thực tếcho thấy, thái độ có thể phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau Và như vậy,các nhu cầu khác nhau có thể hình thành nên một thái độ khác nhau.
- Thông tin được cung cấp:
Không phải thái độ nào cũng phản ánh đúng thực tế, nó phụ thuộc rấtlớn vào sự tiếp nhận thông tin Các thông tin khách quan và cập nhật sẽ hìnhthành nên thái độ phù hợp hơn và ngược lại những thông tin cực đoan, sailệch sẽ hình thành nên những thái độ thành kiến, thiếu khách quan ảnh hưởngđến hoạt động của cá nhân đó
- Hoạt động giao tiếp:
Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình hình thành thái độ Giao tiếp làhoạt động xác lập, vận hành các mối quan hệ giữa người với người nhằm thỏamãn nhu cầu nhất định Thông qua giao tiếp các cá nhân tham gia vào các mốiquan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa xã hội, đạo đức, chuẩn mực xã hội Cũngthông qua giao tiếp, cá nhân cũng chịu sự ảnh hưởng về mặt nhận thức, tìnhcảm, hành vi của đối phương về một vấn đề nào đó, vì vậy cũng sẽ ảnh hưởngđến việc hình thành thái độ của cá nhân về một vấn đề nào đó
- Nhân cách của cá nhân:
Mỗi cá nhân với những thông tin được tiếp cận và sự đặc biệt về nhâncách của mình sẽ có những chọn lựa thể hiện những thái độ khác nhau Vớinhững thái độ thể hiện giá trị mà mình chọn, cá nhân vẫn có những tác độngnhất định đến nhóm hoặc cộng đồng xung quanh Theo công trình nghiên cứucủa tác giả Nguyễn Khánh Ly: nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả
Trang 38khác nhau đưa ra kết luận là các cá nhân có xu hướng tiếp cận thái độ phù hợpvới nhân cách của mình Tức là phụ thuộc vào nhận thức, những tư tưởng,tình cảm và hệ giá trị mà cá nhân đang theo đuổi Sự hiểu biết hay kinhnghiệm giúp con người có khả năng khái quát hóa về một đối tượng và sẽ xemxét và chọn lựa thái độ phù hợp với những đặc điểm nhân cách như năng lực,
xu hướng, tính cách, khí chất của mình Những đặc điểm nhân cách này quyđịnh hành động kiên định của một người hay sự phản ứng đối với tình huốngdiễn ra có tính lặp lại Hay nói cách khác, những đặc tính tâm lý nổi bật củamỗi con người tạo ra thế ứng xử (những phản ứng đáp lại) có tính ổn địnhnhất định và nhất quán đối với môi trường xung quanh Vì vậy chính nhữngđặc điểm cá nhân vốn có trong mỗi con người sẽ ảnh hưởng đến thái độ của
họ đối với một sự vật, sự việc hay một ý tưởng nào đó
1.3.1.7 Phân loại thái độ
Có nhiều cách phân loại thái độ nhưng có thể chia thái độ thành 3 loạinhư sau:
- Thái độ tích cực: Luôn định hướng, điều chỉnh hành vi của con ngườicho phù hợp với sự thay đổi của môi trường công việc Thái độ tích cực sẽ thúcđẩy cá nhân lạc quan, hứng thú trong công việc Đặc biệt, với thái độ tích cực cánhân sẽ nỗ lực hết khả năng nhằm đạt thành tích cao nhất và có thể ứng phó vớicác tình huống có thể xảy ra
- Thái độ trung tính: Thái độ không thể hiện sự đồng tình hay phản đối vấn đề nào đó
- Thái độ tiêu cực: ngược lại với thái độ tích cực, thái độ tiêu cực làbiểu hiện sự không đồng tình một vấn đề nào đó Khi đó, thái độ tiêu cực sẽ
gây cản trở việc thực hiện công việc, gây ra tâm lý chán nản, bi quan và
không nỗ lực hoàn thành công việc
Trang 391.3.1.8 Các yếu tố của thái độ
Thông qua những nghiên cứu về thái độ, các nhà tâm lý học đã đề xuấtnhững thang đo để ứng dụng vào cuộc sống, nhà tâm lý học người Đức làBenesch đã đề xuất một bảng đo thái độ gồm 4 yếu tố
- Hướng: Mục tiêu để cá nhân có thái độ hướng tới.
- Mức độ: Cao hay thấp, nhiều hay ít, thường xuyên hay không thường
xuyên
- Cường độ: Mạnh hay yếu, tích cực hay không tích cực, chủ động hay
không chủ động
- Ý nghĩa: Thái độ bộc lộ ra bên ngoài có giá trị như thế nào đối với
đối tượng hay sự việc mà cá nhân đó thể hiện
1.3.2 Khái niệm sức khỏe tâm thần (SKTT).
Theo quan điểm trước đây, sức khỏe tâm thần được hiểu là không cóchẩn đoán với bệnh tâm thần nặng: tâm thần phân liệt, trầm cảm, động kinh(những bệnh có biểu hiện triệu chứng rõ ràng) Song hiện nay quan niệm vềSKTT đã có nhiều thay đổi, nhiều nhà chuyên môn đã đồng ý rằng SKTTkhông chỉ là sự vắng mặt của bệnh tâm thần nặng
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Hoàng Cẩm Tú sử dụng địnhnghĩa: “SKTT là một trạng thái không chỉ có rối loạn hay dị tật bẩm sinh màcòn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, cân bằng về cảm xúc, hòahợp giữa các mối quan hệ gia đình, xã hội, tình cảm và hành vi ứng xử phùhợp với nhu cầu của xã hội”
Định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sức khỏe tâm thần baogồm “hạnh phúc chủ quan, khả năng tự nhận thức, tự chủ, năng lực, sự phụthuộc giữa thế hệ, và khả năng tự hiện thực hóa tiềm năng trí tuệ và tình cảm
Trang 40của một người” WHO tiếp tục tuyên bố rằng hạnh phúc của một cá nhânđược bao hàm trong việc thực hiện các tiềm năng của họ, ứng phó với căngthẳng bình thường của cuộc sống, công việc sản xuất và các đóng góp chocộng đồng.
Sức khỏe tâm thần là nền tảng cho sự khỏe mạnh và hoạt động hiệu quảcủa các cá nhân Sức khỏe tâm thần không chỉ là trạng thái không có rối loạntâm thần, mà còn bao gồm khả năng suy nghĩ, học hỏi và hiểu được cảm xúccủa một người và phản ứng của người khác Sức khỏe tâm thần là một trạngthái cân bằng, cả bên trong cơ thể và với môi trường Các yếu tố thể chất, tâm
lý, xã hội, văn hóa, tinh thần và các yếu tố liên quan khác đều tham gia vàoviệc tạo ra sự cân bằng này Có mối liên hệ không thể tách rời giữa sức khỏetâm thần và thể chất
Tại Việt Nam, theo Bệnh viện Tâm thần TW 1, tỉ lệ mắc 10 chứng rốiloạn tâm thần phổ biến trong năm 2014 là 14,2%, trong đó riêng rối loạn trầmcảm chiếm 2,45% Tỷ lệ tự sát trong năm 2015 là 5,87/100.000 người
1.3.3 Khái niệm sức khỏe tâm thần học đường
Sức khỏe tâm thần là một phần quan trọng của sức khỏe nói chung, baogồm một phổ liên tục từ tình trạng sức khỏe rất tốt đến tình trạng bệnh nặng.Sức khỏe tâm thần học đường là một bộ phận của sức khỏe tâm thần, hướng
về những đối tượng là những người học tập và làm việc trong môi trường họcđường, đặc biệt là học sinh trong các trường học Ngoài việc hướng đến nhómđối tượng khác so với sức khỏe tâm thần nói chung thì sức khỏe tâm thần họcđường cũng có những hoạt động đặc thù nhằm phòng ngừa và trợ giúp chohọc sinh vượt qua những vấn đề khó khăn của bản thân mình Các vấn đề sứckhỏe tâm thần có tác động trực tiếp đến khả năng hoạt động, lao động và họctập của con người, đặc biệt đối với lứa tuổi học sinh Khi vấn đề mới khởiphát hoặc vấn đề nhẹ thì cơ thể có thể điều chỉnh được hoặc có thể vượt qua