ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ---NGUYỄN THỊ HÀ TIẾN SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI LỚP 11 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHƯƠNG TRÌNH CHUẨ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-NGUYỄN THỊ HÀ TIẾN
SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC TRONG
DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI LỚP 11 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-NGUYỄN THỊ HÀ TIẾN
SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC TRONG
DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI LỚP 11 TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trịnh Đình Tùng
HÀ NỘI - 2012
Trang 37 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực 9 quan quy ước trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
1.1.Cơ sở lý luận của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy 9
học lịch sử
1.1.2 Các loại đồ dùng trực quan quy ước 10
Trang 41.1.3 Đặc điểm của quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông 21
1.1.4 Vai trò của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học 26
lịch sử
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong 29
dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay
1.2.1 Tình hình trang bị dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học 30
lịch sử ở trường phổ thông
1.2.2 Tình hình sử dụng dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học 35
lịch sử ở trường phổ thông
1.2.3 Một số vấn đề đặt ra với việc sử dụng dụng đồ dùng trực quan quy 36
ước trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Chương II: Phương pháp sử dụng dụng đồ dùng trực quan quy ước 39 trong dạy học lịch sử thế giới lớp 11 trung học phổ thông (chương
trình chuẩn) Thực nghiệm sư phạm
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của lịch sử thế giới lớp 11 THPT 39
– chương trình chuẩn
2.1.2 Nội dung cơ bản của lịch sử thế giới lớp 11 THPT – chương trình 39
chuẩn
2.2 Xây dựng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử thế giới 41
lớp 11 trung học phổ thông (chương trình chuẩn)
2.2.1 Những yêu cầu của việc xây dựng đồ dùng trực quan quy ước 41
2.2.2 Phương pháp xây dựng đồ dùng trực quan quy ước 46
2.3 Các phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học 65
lịch sử thế giới lớp 11 trung học phổ thông (chương trình chuẩn)
2.3.1 Những yêu cầu chung khi sử dụng đồ dùng trực quan quy ước 65
Trang 52.3.2 Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học 68
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 1.1 Biểu đồ cơ cấu kinh tế huyện Cần Giờ
Hình 2.1 Lược đồ trận phản công Xtalingrat năm 1942 Hình 2.2 Lược đồ Đức xâm lược Ba Lan 1/9/1939
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông có vai trò rất quan trọng trong việc “giúphọc sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằmhình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và tráchnhiệm công dân” [6,tr 17-18] theo mục tiêu giáo dục ở trường phổ thông mà Luật Giáodục của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nêu Bởi vì, môn Lịch sử cungcấp cho học sinh những tri thức cơ bản, hiện đại, có hệ thống về lịch sử thế giới và lịch
sử dân tộc Trên cơ sở đó giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lý tưởng độc lập dântộc và cách mạng XHCN, tinh thần quốc tế chân chính; rèn luyện năng lực tư duy vàthực hành, thực hiện một cách hoàn chỉnh các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và pháttriển Những tri thức này là một bộ phận cấu thành không thể thiếu đối với thế hệ trẻViệt Nam
Tuy nhiên, thực tế dạy học ở trường phổ thông hiện nay, chất lượng dạy họcLịch sử vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Sở dĩ có tình trạng này là do một sốnguyên nhân chủ yếu sau đây:
Giáo viên chưa đánh giá đúng vai trò, vị trí của phương pháp dạy học đối vớiviệc giáo dục, do đó chưa khắc phục những yếu kém trong dạy học, vẫn theo “đườngmòn”, kinh nghiệm chủ nghĩa trong truyền thụ kiến thức
Do sự tồn tại quan niệm không đúng về bộ môn lịch sử, coi đây là „môn phụ”nên không chú ý đúng mức đến chất lượng bộ môn Các giáo viên bộ môn chưa quantâm đến việc cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học
Do việc “học lệch”, và tư tưởng “thực dụng”, “học gì thi nấy” của học sinhnhằm đạt kết quả môn học chứ không nhằm trang bị hiểu biết cho bản thân trong họctập Tình trạng này làm cho không ít người quan niệm rằng việc “đổi mới”, “cải tiến”phương pháp dạy học lịch sử trở nên không cần thiết, miễn sao “nhớ nhiều để ghi lạitrong bài làm” là đạt yêu cầu
Trang 9Giáo viên ngại sử dụng đồ dùng trực quan trong việc nâng cao chất lượng bộmôn Một phần do trang bị đồ dùng còn thiếu thốn, mặt khác do kĩ năng khai thác đồdùng của giáo viên con hạn chế, thời gian hạn hẹp… Chỉ khi nào giáo viên nắm vữngnhững nguyên tắc và phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước thì khi đó việcxây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước mới trở nên thuân tiện, dễ dàng và đạthiệu quả cao.
Chính vì những lý do trên khiến cho việc dạy – học Lịch sử ở trường phổ thôngtrở nên nặng nề, khô cứng, nhàm chán Vì vậy hiệu quả bài học không cao, học sinhkhông hứng thú nên chưa đảm bảo chất lượng bộ môn
Từ thực tiễn trên, việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thôngphải theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Muốn vậy trách nhiệmtrước hết thuộc về người giáo viên: phải biết kết hợp một cách linh hoạt các phươngpháp dạy học khác nhau nhằm đạt mục tiêu giáo dục đề ra Trong đó phương pháp trựcquan có ý nghĩa quan trọng
Phương pháp trực quan không chỉ giúp giáo viên “nhàn” trong dạy học mà còngây hứng thú cho học sinh Đặc biệt, đồ dùng trực quan quy ước còn góp phần tích cựcvào việc tạo biểu tượng, hình thành khái niệm lịch sử, phát triển tư duy cho học sinh
mà đồng thời còn làm cho bài học thêm phong phú, sinh động hơn
Xuất phát từ những lý do trên mà tôi chọn vấn đề “Sử dụng đồ dùng trực quan
quy ước trong dạy học lịch sử thế giới lớp 11 trung học phổ thông (chương trình chuẩn)” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học sư phạm, chuyên ngành lý luận và
phương pháp dạy học bộ môn lịch sử
2 Lịch sử vấn đề
Đồ dùng trực quan có vị trí rất quan trọng đối với nhận thức của học sinh tronghọc tập nói chung và học tập lịch sử nói riêng, nên từ lâu, vấn đề này được các nhànghiên cứu giáo dục quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu
Trang 102.1 Tài liệu nước ngoài
Các cuốn “Giáo dục hoc” của T.A Ilina, tập I,II (NXB GD, H, 1973), cuốn
“Giáo dục học” của N.V Savin (NXB GD, H, 1983); cuốn “Lý luận dạy học ở trường phổ thông” của I Ia Lecnevà M.N Xcatkin (NXB GD, H, 1980, cuốn “Những cơ sở của lí luận dạy học”, tập I, II, III của B.P Êxipốp (NXB GD, H, 1971), cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào?” của I.F Kharlamôp, Tập I, II
(NXB GD, H, 1978)… đã nêu lên những vấn đề lí luận cơ bản về vai trò, ý nghĩa củaphương pháp trực quan trong dạy học Phương pháp trực quan được xem là phươngpháp có hiệu quả trong việc phát huy tính tính cực học tập của học sinh, là cơ sở để họcsinh khắc sâu, ghi nhớ kiến thức, hiểu bản chất vấn đề và hình thành khái niệm
Về giáo dục Lịch sử, các chuyên khảo: “Phương pháp dạy học lịch sử ở
trường phổ thông” của Vaghin đã dành một chương: “Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan” để nêu lên các vấn đề về vai trò, ý nghĩa, các loại và phương pháp sử
dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử.
N.G Đairi trong quyển “Chuẩn bị giờ học Lịch sử như thế nào” (NXB Giáo
dục, H, 1973) đã trình bày ý nghĩa của việc tạo hình ảnh trong dạy học lịch sử và khẳngđịnh rằng đồ dùng trực quan là một phương tiện để tạo hình ảnh cụ thể về sự kiện…
“Tính cụ thể, tính hình ảnh của sự kiện có một giá trị lớn lao, bởi vì chúng cho phéphình dung lại quá khứ” [5,tr 25]
2.2 Tài liệu trong nước
2.2.1 Tài liệu giáo dục học
Trong các giáo trình “Giáo dục học” của Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt, Tập I-II (NXB GD, H, 1987); “Giáo dục học đại cương” của Phạm Viết Vượng (NXB ĐH QGHN, H, 1996) và “Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại” của Thái Duy
Tuyên (NXB GD, H, 1999) các tác giả đã khẳng định trực quan là một nguyên tắcdạy học và trong hệ thống các phương pháp dạy học, phương pháp trực quan có vai trò,
ý nghĩa quan trọng, đặc biệt với môn Lịch sử
Trang 112.2.2 Các tài liệu giáo dục lịch sử
Về tài liệu giáo dục lịch sử, trước hết phải kể đến các giáo trình phương pháp
dạy học lịch sử như: Lê Khắc Nhãn và các tác giả khác của “Sơ thảo phương pháp
giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông cấp 2 – 3” Tập II (NXB Giáo dục, H, 1961);
Phan Ngọc Liên – Trần Văn Trị “Phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông
cấp 3”, (NXB Giáo dục, H, 1966); Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng,
Nguyễn Thị Côi: “Phương pháp dạy học lịch sử” (NXB ĐHSP, H, 2002) đã dành
nhiều chương trình bày về phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan…Các tác giả nàykhông chỉ nêu lên vai trò, ý nghĩa của đồ dùng trực quan mà còn trình bày cụ thể cácphương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử
Ngoài ra, còn nhiều tài liệu viết về phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan
trong dạy học lịch sử, như Phan Ngọc Liên - Phạm Kì Tá… “Đồ dùng trực quan
trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông cấp II” (NXB GD, H, 1976); Nguyễn Thị
Côi – Trịnh Đình Tùng: “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm” (NXB ĐHQG, H,
1995); Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Sĩ Quế, Lê Đình Cương, Đào Hữu
Hậu: “Nội dung và phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa lịch sử treo tường” Tập
1
(NXB GD, H, 2002); Phan Ngọc Liên: “Bản đồ trong dạy học lịch sử ở trường phổ
thông”, Báo cáo đề tài cấp Nhà nước “Bản đồ giáo khoa” (Cục đo đạc và bản đồ Nhà
nước, H, 1987); Ngô Đạt Tam: “Một số vấn đề về lí thuyết và thực tiễn trong xây
dựng bản đồ giáo khoa địa lý (ở trường phổ thông trung học Việt Nam)” (Luận án
PTS, ĐHSP Hà Nội I, 1987); Lâm Quang Dốc: “Bản đồ giáo khoa (Dùng cho sinh
viên khoa sử)” (NXB ĐHQG, H, 1997) … Ngoài trình bày lý luận và phương pháp
trực quan cũng như đồ dùng trực quan trong giảng dạy lịch sử, các công trình này cũng
đề xuất các biện pháp sư phạm cụ thể
Chúng ta còn phải kể đến nhiều bài viết đăng trên các tạp chí Nghiên cứu lịch
sử, Nghiên cứu giáo dục, như các bài “Xây dựng bản đồ trong dạy học lịch sử ở
trường phổ thông” của Trịnh Tùng và Kiều Thế Hưng (NCGD số 6, 1994); “Một số vấn đề về phương pháp sử dụng bản đồ trong dạy học lịch sử” của Trịnh Tùng
Trang 12(Thông báo khoa học – Trường Đại học sư phạm Hà Nội I, Tập số 4, 1993); “Một số
vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay” của Phan Ngọc Liên; “Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan nhằm phát huy tích cực hoạt động độc lập của học sinh trong dạy học lịch sử” của
Trịnh Đình Tùng; “Đổi mới việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong dạy học lịch
sử ở trường phổ thông” của Nguyễn Thị Côi (Tài liệu hội nghị đổi mới phương pháp
dạy học và học tập môn lịch sử ở trường trung học phổ thông và trường trung học cơ
sở, Tập 1, Bộ Giáo dục và Đào tạo- Vụ THPT, H, 1999)
Các bài viết trên tuy đề cập nhiều khía cạnh khác nhau về việc sử dụng đồ dùngtrực quan, song đều khẳng định vai trò, ý nghĩa của đồ dùng trực quan trong dạy họclịch sử và sự cần thiết phải sử dụng các biện pháp sư phạm có hiệu quả
Tất cả các công trình trên là những tài liệu tham khảo có giá trị gợi ý cho ngườiviết nhiều vấn đề lí luận, cách sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử, để vậndụng vào dạy học các bài cụ thể
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử, luậnvăn đi sâu tìm hiểu vai trò, ý nghĩa của đồ dùng trực quan quy ước cũng như phươngpháp sử dụng nhằm nâng cao chất lượng dạy học phần lịch sử thế giới lớp 11 chươngtrình chuẩn
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mực đích nêu trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Tìm hiểu tình hình thực tế về trang bị, xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quanquy ước ở trường trung học phổ thông hiện nay, trong đó cần quan tâm nhiều đến tínhhiệu quả đối với bài học lịch sử cũng như những khó khăn, hạn chế khi sử dụng đồ
dùng trực quan quy ước
- Nghiên cứu lí luận về phương pháp dạy học lịch sử, đặc biệt là phương pháp
sử dụng đồ dùng trực quan nói chung và đồ dùng trực quan quy ước nói riêng để sử
Trang 13dụng trong dạy học phần lịch sử thế giới lớp 11 trung học phổ thông - chương trình chuẩn.
- Nghiên cứu nội dung cơ bản của khóa trình lịch sử thế giới ở lớp 11, từ đó xácđịnh những kiến thức cơ bản cần sử dụng đồ dùng trực quan quy ước
- Lựa chọn, xây dựng và đề xuất phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan quyước khi dạy lịch sử thế giới lớp 11 trung học phổ thông (chương trình chuẩn) Đây là nhiệm vụ cơ bản của đề tài
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở một số trường phổ thông, qua đó đánh giáhiệu quả của đồ dùng, đồng thời trao đổi, rút kinh nghiệm, tiếp thu những ý kiến đónggóp của giáo viên phổ thông nhằm hoàn thiện hơn nữa việc sử dụng đồ dùng trực quanquy ước trong dạy học lịch sử
5 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ướctrong dạy học lịch sử thế giới lớp 11 trung học phổ thông (chương trình chuẩn)
6 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của đề tài, luận văn chỉ giới hạn ở việc tìm hiểu một cách kháiquát những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạyhọc Nội dung của luận văn tập trung đi sâu vào nghiên cứu phương pháp sử dụng đồdùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử thế giới ở lớp 11 trung học phổ thông(chương trình chuẩn) và tiến hành điều tra thực tế, thực nghiệm sư phạm các nội dungnày
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Cơ sở phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo Đặcbiệt luận văn bám sát những cơ sở lí luận của các nhà giáo dục học, tâm lí học và giáodục lịch sử trong việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước
Trang 147.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu lý luận về trực quan, phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trongdạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, các tài liệu giáo dục, giáo dục lịch sử vànhững vấn đề lịch sử có liên quan đến đề tài Trên cơ sở đó xác định những quan điểm
lí luận cơ bản, những nguyên tắc, phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ướctheo xu hướng đổi mới phương pháp dạy học “lấy học sinh làm trung tâm”, nhằm tíchcực hóa, hoạt động hóa hoạt động học tập của học sinh
Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa lịch sử lớp 11, nhất là chương trìnhlịch sử thế giới để xác định kiến thức cơ bản cũng như đề xuất các loại đồ dùng trựcquan quy ước cần và có thể sử dụng khi dạy học những nội dung lịch sử thuộc giaiđoạn này, đồng thời cũng đưa ra phương pháp sử dụng cụ thể
- Nghiên cứu thực tiễn và thực nghiệm sư phạm
Nghiên cứu thực tiễn trang bị, sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, đồ dùngtrực quan quy ước nói riêng qua điều tra, dự giờ, thăm lớp, phỏng vấn, phát phiếu thămdò… ở một số trường trung học phổ thông trên địa bàn Hải Phòng Từ đó, luận văn rút
ra những ưu điểm cũng như hạn chế của việc trang bị, sử dụng đồ dùng trực quan quyước ở trường trung học phổ thông hiện nay
Đưa đồ dùng trực quan quy ước xuống trường phổ thông, kết hợp với giáo viên
sở tại tiến hành thực nghiệm sư phạm (có đối chứng), so sánh, phân tích phiếu kiểm tranhận thức của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Trên cơ sở đó, luận văn rút
ra những kết luận nhằm làm rõ vấn đề, những dự kiến mà đề tài đặt ra
8 Đóng góp của luận văn
- Nêu được thực trạng trang bị và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
- Tìm hiểu, nêu nguyên nhân khách quan và chủ quan của thực trạng trên
- Đề xuất phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch
sử thế giới lớp 11 trung học phổ thông - chương trình chuẩn
Trang 159 Ý nghĩa của luận văn
9.1 Ý nghĩa khoa học
Qua đề tài người viết mong muốn bổ sung nâng cao hiểu biết của bản thân về líluận dạy học bộ môn nói chung, lí luận về đồ dùng trực quan quy ước nói riêng, cũngnhư phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử
9.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu đề tài sẽ giúp cho bản thân hiểu biết một cách sâu sắc những cơ sở
lí luận và thực tiễn của việc trang bị, sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy họclịch sử ở trường thổ thông hiện nay cũng như biết cách vận dụng những hiểu biết trênvào thực tiễn công tác nghiên cứu, giảng dạy
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và phụ lục, nội dung luận văn được trìnhbày trong 2 chương
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước
trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Chương II: Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học phần
lịch sử thế giới lớp 11 trung học phổ thông (chương trình chuẩn) Thực nghiệm sưphạm
Trang 16PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở
TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1 Cơ sở lí luận của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử
1.1.1 Quan niệm về đồ dùng trực quan
Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông có nhiều loại đồ dùng trực quan khácnhau, cách sử dụng và hiệu quả cũng khác nhau Hiện nay có nhiều cách phân loại đồdùng trực quan, về cơ bản chúng ta có thể chia thành 3 nhóm lớn sau đây [19,tr 64]:
a Nhóm đồ dùng trực quan hiện vật lịch sử: gồm những di tích lịch sử, di tíchcách mạng (như Cung điện Mùa Đông – Nga, Cung điện Vécxai – Pháp, chiến hạm RạngĐông…) Di vật khảo cổ, di vật của một thời kì lịch sử (trống đồng, mũi tên đồng,…) Đồdùng trực quan hiện vật là một loại tài liệu gốc rất có giá trị và có ý nghĩa
to lớn về mặt nhận thức Thông qua việc tiếp xúc với những di tích hay những dấu vếtcòn lại – bằng chứng hiển nhiên về sự tồn tại thực của mỗi thời kì lịch sử - học sinh sẽ
có những hình ảnh cụ thể, chân thực về quá khứ và từ đó có tư duy lịch sử đúng đắn
b Nhóm đồ dùng trực quan tạo hình: gồm các loại phục chế, sa bàn, tranh ảnh lịchsử… Các loại đồ dùng trực quan thuộc nhóm này có khả năng khôi phục lại hình ảnhcon người, đồ vật, biến cố, hiện tượng quá khứ một các sinh động, xác thực Tuy nhiên,
ở nước ta hiện nay phương tiện trực quan tạo hình chưa được chú ý xây dựng Một sốtranh lịch sử, phim truyện lịch sử chưa được sử dụng rộng rãi trong trường phổ thông.Chỉ một số trường phổ thông mới đưa loại đồ dùng trực quan này vào dạy học lịch sử
c Nhóm đồ dùng trực quan quy ước bao gồm nhiều loại khác nhau: bản đồ, sơ đồ,
đồ thị, niên biểu… Trong các loại đồ dùng trực quan được sử dụng hiện nay ở trường
Trang 17phổ thông, đồ dùng trực quan quy ước được sử dụng nhiều nhất và thường xuyên bởi
vì, ở rất nhiều nơi do điều kiện kinh tế chưa cho phép nên việc sử dụng đồ dùng trựcquan quy ước vẫn có ưu thế hơn các nhóm đồ dùng trực quan khác và loại đồ dùng dạyhọc chủ đạo ở trường phổ thông hiện nay
1.1.2 Các loại đồ dùng trực quan quy ước
Đồ dùng trực quan quy ước là những bản đồ, ký hiệu hình học đơn giản được
sử dụng trong dạy học lịch sử, loại đồ dùng này là đồ dùng mà giữa người thiết kế đồ dùng, người sử dụng và người học có một quy ước ngầm nào đó (về màu sắc, kí hiệu hình học và tỉ lệ xích).
Đồ dùng trực quan quy ước tạo cho học sinh những hình ảnh tượng trưng, khiphản ánh những mặt chất lượng và số lượng của quá trình lịch sử, đặc trưng khuynhhướng phát triển của hiện tượng kinh tế, chính trị - xã hội của đời sống con người
Đồ dùng trực quan quy ước luôn thể hiện trong không gian, thời gian, địa điểm,cùng một yếu tố địa lí nhất định Thông qua quan sát đồ dùng trực quan quy ước, đọc
kí hiệu, nội dung lịch sử được biểu hiện Việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ướctrong dạy học lịch sử còn góp phần phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tưduy và ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng đọc bản đồ Trong dạy học lịch sử ở trường phổthông, đồ dùng trực quan quy ước không chỉ là phương tiện để cụ thể hóa sự kiện, hiệntượng lịch sử mà còn là cơ sở để hình thành khái niệm cho học sinh, phát triển năng lực
tư duy, khả năng thực hành cho học sinh
Các loại đồ dùng trực quan quy ước có tác dụng rất tốt trong việc tạo cho họcsinh những hình ảnh tượng trưng khi phản ánh những mặt chất lượng và số lượng củaquá trình lịch sử, đặc trưng, khuynh hướng phát triển của hiện tượng kinh tế, chính trị -
xã hội của đời sống Đồ dùng trực quan quy ước gồm nhiều loại khác nhau:
+ Bản đồ lịch sử là loại đồ dùng trực quan quy ước dùng để phản ánh những sự
kiện, hiện tượng lịch sử trong mối quan hệ về thời gian và không gian (địa lí) cụ thể.Thông qua bản đồ lịch sử, học sinh có thể hình dung được vị trí địa lí cũng như sự phân
bố không gian, sự phát triển theo thời gian của các sự kiện, hiện tượng lịch sử trên các
Trang 18lãnh thổ khác nhau trên bề mặt Trái Đất Đồng thời, bản đồ lịch sử còn giúp học sinhsuy nghĩ và giải thích các hiện tượng lịch sử về mối quan hệ nhân quả, về tính qui luật
và trình tự phát triển của chúng, giúp các em củng cố, ghi nhớ các kiến thức đã học
Về mặt hình thức, bản đồ lịch sử là loại bản đồ chuyên đề (từ bản đồ địa lí), chonên trên bản đồ lịch sử không cần có nhiều chi tiết về các điều kiện tự nhiên nhưkhoáng sản, sông hồ, địa hình… Trên bản đồ lịch sử cần có những kí hiệu thể hiện biêngiới quốc gia, các thành phố, các vùng kinh tế, các địa điểm xảy ra những biến cố quantrọng như các cuộc khởi nghĩa, các trận đánh, các chiến dịch…
Về nội dung, bản đồ lịch sử có thể chia làm hai loại chính là bản đồ tổng hợp vàbản đồ chuyên đề Bản đồ tổng hợp phản ánh những sự kiện lịch sử quan trọng nhấtcủa một nước hay nhiều nước có liên quan ở một thời kì nhất định, trong điều kiện tựnhiên nhất định (đặc biệt là biên giới các quốc gia vào thời điểm diễn ra sự kiện) Ví
dụ, các bản đồ “Sự thay đổi bản đồ chính trị châu Âu theo hệ thống Vécxai –
Oasinhtơn”, “Chiến tranh thế giới thứ nhất”, “Chiến tranh thế giới thứ hai”… Bản
đồ chuyên đề lại diễn tả những sự kiện riêng rẽ hay một mặt của quá trình lịch sử, nhưdiễn biến một trận đánh, sự phát triển kinh tế của một nước trong một giai đoạn lịch sử
Ví như, các bản đồ “Chiến trường châu Á - Thái Bình Dương (1941-1945)”, “Cách
mạng Tân Hợi – 1911”…
Trong thực tế dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, bản đồ là loại đồdùng trực quan qui ước được sử dụng nhiều nhất và được coi là một nguồn cung cấpkiến thức, một tư liệu học tập, nghiên cứu quan trọng
Việc nhận thức đúng vai trò, ý nghĩa của bản đồ trong dạy học lịch sử là rất cầnthiết, nhưng điều quan trọng hơn là biết sử dụng có hiệu quả Chúng ta cần phải biếtphân loại bản đồ lịch sử cũng như đặc điểm của từng loại Nó có ảnh hưởng to lớn tớiviệc thực hiện nhiệm vụ dạy học Tuy nhiên, để sử dụng tốt và có hiệu quả bản đồ,chúng ta cần phải biết phân loại bản đồ trong dạy học lịch sử cũng như đặc điểm củatừng loại
Trang 19Khoa học bản đồ ngày càng phát triển thì sự phân loại cũng ngày càng phongphú Mỗi hình thức phân loại đều có giá trị nhất định Bản đồ có thể phân chia theo tỉ
lệ, nội dung, mục đích sử dụng… Bản thân các bản đồ được sử dụng trong dạy học lịch
sử đã là thành quả của sự phân loại trong hệ thống bản đồ theo dấu hiệu mục đích sửdụng – bản đồ giáo khoa lịch sử - là đồ dùng dạy, học phục vụ giảng dạy và học tậplịch sử ở nhà trường phổ thông nói chung Việc phân loại theo mục đích sử dụng phảnánh tính đa dạng của nhiệm vụ cần giải quyết với việc dùng bản đồ nào đó
Việc sử dụng những tiêu chí làm cơ sở phân loại là do mục đích yêu cầu của bản
đồ đặt ra như phục vụ kịp thời, chính xác và đúng đối tượng Cho nên, mặc dù bản thânbản đồ giáo khoa lịch sử đã mang đặc tính, chỉ tiêu phân loại rõ rệt (phục vụ giảng dạy
và học tập lịch sử), song hệ thống bản đồ giáo khoa cũng còn được tiếp tục phân loạitrong quá trình xây dựng và sử dụng
Đối với bản đồ giáo khoa lịch sử ở nước ta hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau
về cách phân loại Bản đồ giáo khoa lịch sử theo các sự kiện như bản đồ lịch sử về tìnhhình kinh tế, bản đồ lịch sử về chiến sự, bản đồ lịch sử về diễn biến cách mạng… Có ýkiến phân loại bản đồ lịch sử theo lịch sử của các thời đại, theo sự kiện của từngnước… Có ý kiến phân loại bản đồ các loại: loại bản đồ cơ bản, tổng hợp; loại bản đồchuyên đề; loại bản đồ - sơ đồ… Chúng tôi nhất trí với cách phân loại bản đồ giáo khoalịch sử theo “loại hình bản đồ”[14,tr 54] Sử dụng tiêu chí này có tác dụng quan trọngvới quá trình xây dựng và sử dụng bản đồ Theo loại hình, bản đồ giáo khoa lịch sửđược phân thành các loại sau:
Bản đồ trong sách giáo khoa lịch sử là một nguồn cung cấp kiến thức quan
trọng trong dạy học lịch sử Đây là một trong những loại kênh hình không thể thiếutrong những cuốn sách giáo khoa lịch sử Song do khuôn khổ sách giáo khoa nhỏ lại inđen trắng hoặc in màu cho nên bản đồ trong sách giáo khoa thường có tỉ lệ nhỏ và nộidung biểu hiện rất hạn chế Tuy nhiên, bản đồ trong sách giáo khoa vẫn có vai trò quantrọng, không chỉ minh họa cho phần chữ, mà còn bổ sung nội dung mà phần chữ khôngthể trình bày hết được Vì vậy, ngoài chức năng minh họa, cụ thể hóa các sự kiện lịch
Trang 20sử, bản đồ trong sách giáo khoa lịch sử còn là một nguồn tư liệu nghiên cứu quantrọng.
Trong giờ học trên lớp, học sinh sử dụng bản đồ trong sách giáo khoa để theodõi bài giảng, đối chiếu với bản đồ treo tường nhằm xác định vị trí xảy ra các sự kiện.Trong tự học ở nhà, học sinh sử dụng bản đồ trong sách giáo khoa để quan sát, tìm hiểusâu sắc nội dung, hoàn thành các bài tập Ngoài ra bản đồ trong sách giáo khoa còn lànguồn tài liệu cơ sở để thầy trò xây dựng bản đồ treo tường phục vụ việc dạy trên lớp
Bản đồ treo tường là bản đồ dùng phổ biến trong dạy học ở trên lớp Bản đồ
treo tường không chỉ có vị trí, vai trò quan trọng trong dạy học lịch sử (như đã trìnhbày ở phần chung nêu trên) mà do đặc trưng riêng, bản đồ treo tường còn có vị trí, ýnghĩa đặc biệt cần thiết trong dạy học lịch sử
Trong thực tế học tập các bộ môn của học sinh phổ thông hiện nay, quĩ thời giandành cho bộ môn lịch sử rất khiêm tốn, thời gian học ở nhà càng ít hơn, chủ yếu là họcsinh học tập, nắm bắt kiến thức lịch sử ngay trên lớp Do đó, vấn đề làm sao cho họcsinh có được biểu tượng lịch sử rõ nét ngay trên lớp là điều giáo viên bộ môn phải chú
ý giải quyết Bản đồ treo tường là một trong những phương tiện dạy học đáp ứng tốtyêu cầu trên và có thể được xem là một loại chủ lực phổ biến nhất trong bản đồ giáokhoa nhà trường Trong “vốn liếng” đồ dùng trực quan được trang bị và xây dựng phục
vụ giảng dạy lịch sử ở hầu hết các trường phổ thông, phổ biến nhất và chiếm tỉ lệ caovẫn là bản đồ giáo khoa lịch sử treo tường
Theo lý luận dạy học hiện đại, bản đồ treo tường không chỉ để minh họa cho nộidung sách giáo khoa mà còn là nguồn cung cấp kiến thức mới hoặc để tiến hành củng
cố ôn tập, kiểm tra, đồng thời có thể thực hiện chức năng của một bản đồ câm
Mặt khác, bản đồ treo tường còn làm cho học sinh chú ý có tính tập thể để theodõi bài học ở trên lớp, đồng thời có tác dụng lớn đối với mỗi học sinh về ý nghĩa giáodưỡng, giáo dục và đặc biệt đối với sự phát triển tư duy của học sinh về nhiều mặt –kích thích sự hứng thú học tập; phát huy tính tích cực năng động của học sinh trong các
Trang 21hoạt động tư duy (quan sát, khái quát, suy luận, liên hệ thực tiễn,…); rèn luyện các kĩnăng thực hành và óc thẩm mĩ.
Bản đồ treo tường không chỉ góp phần thành công với bài học trên lớp mà ngay
cả với bài học ngoại khóa ngoài trời, ở nơi thực địa
Hiện nay, bản đồ treo tường được xây dựng từ hai nguồn: do các cơ quan chứcnăng của Nhà nước xây dựng, in và phát hành hoặc do thầy trò tự xây dựng Các bản
đồ treo tường có thể chia làm hai loại:
- Bản đồ giáo khoa treo tường với nội dung đầy đủ theo yêu cầu của bài giảng,của cấp học để dùng tại lớp Khi giáo viên trình bày tại lớp, học sinh vừa nghe giảng vừanhìn lên bản đồ để theo dõi, tiếp nhận kiến thức
- Bản đồ giáo khoa treo tường được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu của phươngpháp truyền thụ, trên đó chỉ có một số yếu tố cơ sở, còn những nội dung khác được đưathêm vào dần dần theo bài giảng Giáo viên trình bày đến đâu vẽ thêm vào đến đó, họcsinh vừa nghe giảng vừa theo dõi việc làm của giáo viên và làm theo
Nói tóm lại, bản đồ lịch sử treo tường có thể được coi như loại chủ lực của hệthống bản đồ giáo khoa lịch sử Nó có khả năng biểu tượng rất phong phú về nội dung
Át-lát giáo khoa lịch sử là một tập hợp có hệ thống gồm nhiều bản đồ được
đóng thành tập theo một kết cấu, bố cục nội dung chặt chẽ, lôgic Nhìn chung, nội dungcủa át-lát phong phú, chi tiết hơn nội dung lịch sử phản ánh trên bản đồ trong sách giáokhoa và bản đồ treo tường Ngoài hệ thống bản đồ, trong át-lát còn có cả biểu đồ, tranhảnh minh họa… Do đó, át-lát được xem là một trong những tư liệu tốt để thầy trònghiên cứu, tìm hiểu bổ sung cho bài giảng trên lớp, đồng thời cũng rất bổ ích, thuậnlợi cho hoạt động tự học, tự nghiên cứu ở nhà
Át-lát giáo khoa lịch sử phù hợp với chương trình học tập lịch sử của các lớphọc, phù hợp với đối tượng sử dụng và tiến trình giảng dạy lịch sử trong nhà trường.Các bản đồ trong át-lát thường có kích thước lớn hơn các bản đồ trong sách giáo khoa,được sử dụng nhiều màu sắc và nội dung lịch sử được thể hiện trên nhiều trang bản đồ
Trang 22Át-lát giáo khoa lịch sử thường được giáo viên sử dụng phối hợp với bản đồ treotường và lược đồ, bản đồ trong sách giáo khoa, nhằm tìm hiểu kiến thức mới, ôn tập,kiểm tra kiến thức cũ và đồng thời rèn luyện kĩ năng đọc bản đồ cho học sinh Với cácbản đồ trong át-lát, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh so sánh, đối chiếu và khái quátnhững kiến thức tiếp thu được qua bài giảng Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta át-lát giáokhoa lịch sử chưa được chú ý xây dựng và sử dụng rộng rãi trong dạy học lịch sử.
Bản đồ câm (còn gọi là bản đồ công tua hay bản đồ trống) là loại bản đồ mà
trên đó không thể hiện đầy đủ các nội dung lịch sử được phản ánh trong sách giáo khoa
mà chỉ thể hiện những nét cơ bản về phạm vi lãnh thổ, lưới chiếu bản đồ, mạng lướithủy văn, các tuyến đường giao thông và các điểm dân cư quan trọng làm nền,…Những yếu tố này có tác dụng định hướng cho nội dung lịch sử mà giáo viên sẽ đưadần vào trong quá trình giảng bài với hình thức vẽ bằng phấn, mảnh giấy ghi sẵn kíhiệu, số hiệu và hình ảnh,…
Về hình thức, bản đồ câm có thể được vẽ trên giấy để treo tường hoặc phổ biếnhơn là giáo viên vẽ sẵn trên bảng đen Tương ứng với bản đồ câm treo tường cho giáoviên là một bản đồ câm có tỉ lệ nhỏ được đóng thành tập dùng cho học sinh sử dụnghọc tập ở nhà, gọi là “bản đồ bài tập” Trong giờ học, học sinh thường để trống trênbàn, vừa nghe giảng vừa ghi chép, vừa chuyển những nội dung mà giáo viên vừa điềntrên bản đồ câm treo tường vào bản đồ câm của mình
Bản đồ câm có mối liên hệ chặt chẽ với nội dung lịch sử trong sách giáo khoa,bản đồ trong sách giáo khoa, bản đồ treo tường và át-lát Nếu giáo viên biết hướng dẫnhọc sinh khai thác các mối liên hệ này là tạo điều kiện để các em hoạt động nhận thứcmột cách tích cực và tự giác Tuy nhiên, những bản đồ câm loại này vẫn chưa được xâydựng và sử dụng phổ biến ở nước ta
Bản đồ nổi (mô hình, sa bàn) là loại bản đồ thường được xây dựng để giảng
dạy những nội dung lịch sử có liên quan đến yếu tố địa hình (chiến dịch Véc-đoong,chiến dịch Xtalingrát…) Bản đồ nổi không thể hiện trên mặt phẳng như các bản đồkhác mà được đắp nổi bằng đất sét, xi măng, thạch cao, bột giấy hoặc dập nổi trên chất
Trang 23dẻo Bản đồ này có giá trị trực quan cao giúp học sinh hiểu rõ mối quan hệ ảnh hưởng của địa hình đối với sự kiện lịch sử.
Bản đồ nổi đòi hỏi kĩ thuật xây dựng phức tạp; nó cồng kềnh khó di chuyển; độchính xác kém so với các loại bản đồ khác… Nên trong thực tế dạy học cũng ít đượcxây dựng và sử dụng
+ Niên biểu lịch sử là loại đồ dùng trực quan quy ước nhằm hệ thống hóa các sự
kiện quan trọng theo thứ tự thời gian, đồng thời nêu lên mối liên hệ giữa các sự kiện
sơ bản của một nước hay nhiều nước trong từng thời kì
Niên biểu lịch sử giúp học sinh dễ ghi nhớ được diễn biến sự kiện cơ bản nhấttheo trình tự thời gian Thông qua niên biểu, học sinh có thể nắm vững mối liên hệ củacác sự kiện trong quá trình phát triển của nó, từ đó rút ra khái quát về bản chất các sựkiện Do đó, niên biểu giúp học sinh nhận thức lịch sử một cách có hệ thống, nhận thấyqui luật chung và biểu hiện cụ thể của qui luật ấy qua diễn biến của lịch sử Trong dạyhọc lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, chúng ta thường sử dụng các loại niên biểusau:
Niên biểu tổng hợp là bảng liệt kê những sự kiện lớn xảy ra trong một thời gian
dài Loại niên biểu này không những giúp học sinh ghi nhớ những sự kiện chính, màcòn nắm được các mốc thời gian đánh dấu mối quan hệ của các sự kiện quan trọng Ví
như, niên biểu “Các sự kiện chính của lịch sử thế giới cận đại” được sử dụng trong
bài ôn tập, tổng kết…
Thế kỉ XVI-XVIII Các cuộc cách mạng tư sản đã xác lập hệ thống CNTB trên
phạm vi thế giớiThế kỉ XIX CNTB chuyển sang giai đoạn ĐQCN
Thế kỉ XIX-XX Phong trào công nhân thế giới và phong trào chống chủ nghĩa
thực dân ở châu Á, Phi, Mĩ Latinh
Trang 241914-1918 Chiến tranh thế giới thứ nhất
Niên biểu tổng hợp cũng còn được sử dụng để trình bày những mặt khác nhaucủa một sự kiện xảy ra ở một nước trong một thời gian hay trong nhiều thời kì Ví dụ,
niên biểu “Diễn biến chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)” có thể được xây dựng
theo mẫu sau:
Thời gian Diễn biến chính trên các mặt trận
Châu Âu Bắc Phi Châu Á - Thái Bình Dương
Niên biểu chuyên đề đi sâu trình bày nội dung một vấn đề quan trọng nổi bật
nào đấy của một thời kì lịch sử nhất định Thông qua niên biểu chuyên đề, học sinh
hiểu được bản chất sự kiện một cách toàn diện, đầy đủ Ví như, niên biểu “Các giai
đoạn chính của các nước tư bản giữa hai cuộc chiến tranh thế giới 1919-1939” giúp
học sinh thấy rõ sự thăng trầm của các nước tư bản là nguyên nhân của cuộc chiếntranh thế giới thứ hai:
1918-1923 Cao trào cách mạng ở các nước tư Thúc đẩy phong trào đấu tranh ở các
bản Âu – Mĩ nước thuộc địa Á, Phi, Mĩ Latinh1924-1929 Các nước tư bản ổn định tạm thời Phục hồi nền kinh tế, chính trị của các
nước tư bản1929-1933 Khủng hoảng kinh tế thế giới Đặt các nước tư bản trước nguy cơ
sụp đổ, làm ra đời CNPX1933-1939 Các nước tư bản thoát khỏi khủng Đặt loài người trước họa phát xít và
hoảng, chạy đua vũ trang nguy cơ chiến tranh thế giới mới
Trang 25Niên biểu chuyên đề chỉ ghi những sự kiện cơ bản, nêu được nội dung chủ yếucủa mỗi giai đoạn song lại vừa khôi phục đúng bức tranh quá khứ, vừa thấy rõ sự pháttriển lôgic của lịch sử.
Niên biểu so sánh dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiện xảy ra cùng một lúc
trong lịch sử, nhằm làm nổi bật bản chất đặc trưng của các sự kiện ấy, hoặc để rút ra
một kết luận khái quát có tính chất nguyên lí Ví như, “Niên biểu thống kê sản lượng
một số sản phẩm công nghiệp của Anh, Pháp, Italia, Đức năm 1937” nhằm so sánh
tốc độ phát triển của các nước này, đồng thời rút ra kết luận có tính chất qui luật về sựphát triển không đều giữa các nước đế quốc, về việc nảy sinh mâu thuẫn giữa chúng
Một dạng khác của niên biểu so sánh là bảng so sánh Bảng so sánh có thể dùng
số liệu và cả tài liệu – sự kiện chi tiết để làm rõ bản chất, đặc trưng của các sự kiện
cùng loại hay khác loại Ví như, bảng so sánh “Sự khác nhau giữa cách mạng vô sản
và cách mạng tư sản” Qua bảng so sánh này, với các mục: động lực, lãnh đạo, mục
tiêu, kết quả, hướng phát triển… học sinh sẽ thấy những khác nhau cơ bản giữa cáchmạng vô sản và cách mạng tư sản, tính chất và triển vọng của mỗi loại cách mạng
+ Sơ đồ lịch sử là loại đồ dùng trực quan nhằm cụ thể hóa nội dung sự kiện
bằng những mô hình hình học đơn giản Nó diễn tả một cơ cấu xã hội, một chế độ
chính trị, mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử Sơ đồ không tạo cho học sinh biểutượng rõ ràng về sự kiện lịch sử Tuy nhiên, sơ đồ giúp cho sự phân tích các đặc trưng
và nêu lên mối liên hệ nhân quả một cách dễ dàng và từ đó thuận lợi cho việc hìnhthành khái niệm cho học sinh
Ví như, khi dạy học bài Nhật Bản, học sinh được quan sát “Sơ đồ cơ cấu xã hội
Nhật Bản trước Minh Trị duy tân”:
Triều đình
Thiên hoàng
Mạc phủ (Tô-ku-ga-oa)Tướng quân
Đaimyô
Trang 26Nông dânThị dânBằng sự phân tích cơ cấu, địa vị của các tầng lớp xã hội, học sinh sẽ hiểu đượcbản chất xã hội Nhật Bản là xã hội phong kiến bóc lột, có sự phân biệt giữa các đẳngcấp nên mâu thuẫn là điều không thể tránh khỏi Đây chính là nguyên nhân làm đấtnước suy yếu và đặt Nhật Bản trước nguy cơ bị xâm lược bởi các nước tư bản phươngTây
Cũng tương tự như vậy, bằng việc sử dụng “Sơ đồ công xã Pa-ri”, học sinh dễ
dàng hiểu được bản chất dân chủ tập trung của nhà nước công xã
+ Đồ thị lịch sử là sự biểu hiện quá trình phát triển, sự vận động của một sự
kiên lịch sử trên cơ sở sử dụng số liệu, tài liệu thống kê trong bài học Đồ thị có thểbiểu diễn bằng một mũi tên để minh họa sự vận động đi lên, sự phát triển của một sự
kiện, hiện tượng lịch sử Ví dụ như, đồ thị “Thu nhập quốc dân của Mĩ (1933-1941)”.
Tỉ đôla Mĩ (USD)
Năm
Đồ thị này được thể hiện bằng một mũi tên biểu hiện tốc độ tăng trưởng thunhập quốc dân của Mĩ trong suốt thời gian từ năm 1933 đến năm 1941, trong đó cácmốc thời gian được chọn để lập đồ thị là các năm 1933, 1935, 1937, 1939, 1941 Qua
đồ thị, học sinh sẽ dễ dàng nhận biết được tốc độ tăng trưởng thu nhập quốc dân của
Mĩ theo các mốc thời gian cụ thể Từ đó, các em sẽ rút ra được những kết luận chung
Trang 27về tốc độ tăng trưởng kinh tế của Mĩ trong suốt thời gian từ năm 1933 đến năm 1941.
Đồng thời, học sinh dễ dàng nhận thức được trong hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế
chung nhưng nước Mĩ đã nhanh chóng thoát khỏi khủng hoảng và tiếp tục đưa nền
kinh tế phát triển đi lên
+ Biểu đồ là sự biểu hiện tổng giá trị của hiện tượng trên một đơn vị lãnh thổ
được lấy theo ranh giới hành chính bằng cách dùng các biểu đồ với kích thước tương ứng
với tổng giá trị sản lượng của chúng bố trí trên phạm vi lãnh thổ
Hình 1.1 Biểu đồ cơ cấu kinh tế huyện Cần Giờ
Biểu đồ có thể được thực hiện dưới dạng biểu đồ chiều dài, biểu đồ diện tích
(hình vuông, hình tròn) hoặc biểu đồ thể tích (hình khối, hình cầu)… Việc sử dụng
biểu đồ giúp học sinh dễ dàng xác đinh được giá trị của các hình tượng và mối quan hệ
giữa chúng Do đó, biểu đồ rất có ưu thế trong việc giúp học sinh so sánh trị số giá trị
của các sự kiện và thấy được bản chất của các sự kiện đó Ví như, sử dụng biểu đồ
“Tổng sản lượng một số sản phẩm công nghiệp của Liên Xô (1929-1938)”
1938 1929
Trang 28Qua quan sát biểu đồ và phân tích số liệu trên biểu đồ, học sinh sẽ thấy được sảnlượng các sản phẩm công nghiệp của Liên Xô tăng qua các năm; năm 1929 đạt 53 triệutấn, đến năm 1938 tăng lên 177,2 triệu tấn Trong đó, tỉ trọng các sản phẩm: than, gang,thép tăng lên cũng rất cân đối và ổn định Qua đó chứng tỏ nền kinh tế phát triển liêntục và hợp lí Nếu chỉ dùng lời nói và các số liệu thì học sinh thấy rắc rối, khó nhớ vàkhó tạo biểu tượng cho học sinh, nhưng khi sử dụng biểu đồ thì trở nên dễ dàng, họcsinh sẽ có ấn tượng sâu sắc với sự kiện và nhớ lâu hơn.
1.1.3 Đặc điểm của quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng là một quá trình tổ chức hoạt độngnhận thức của học sinh Hiệu quả của hoạt động nhận thức của học sinh phụ thuộc vàonhiều yếu tố như nội dung, phương pháp và các phương tiện dạy học… Trong phươngtiện dạy học, đồ dùng trực quan có vị trí rất quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp đếnchất lượng Nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục học và tâm lí học đã chứng minhrất rõ hiệu quả sư phạm của việc sử dụng đồ dùng trực quan và coi trực quan là mộttrong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học
J.A Cômenxki (1592 -1670) – người Xlavơ là nhà giáo dục học đầu tiên đưa rayêu cầu phải đảm bảo tính trực quan trong dạy học Ông viết: “Điều cần thiết là khởiđiểm của nhận thức bao giờ cũng xuất phát từ những cảm giác (vì chẳng có gì có trong
óc, mà trước đó lại chưa có trong cảm giác) Và do đó có lẽ cần bắt đầu dạy học khôngphải từ việc giải thích bằng lời về các vật, mà phải đi từ sự quan sát chúng một cáchhiện thực” [9,tr 20] Do đó, Cômenxki đặt nguyên tắc trực quan làm qui tắc “vàngngọc” cho giáo viên “…Cung ứng cho sự tri giác bằng cảm giác tất cả những gì có thểđược… Nếu những vật thể nào đó có thể tri giác được cùng một lúc bắng nhiều giácquan, thì hãy cứ để cho chúng được lĩnh hội ngay lập tức bằng nhiều giác quan…”[9,tr 20]
Nhà sư phạm vĩ đại người Nga K.D Usinxki (1824 – 1870) cũng quan niệmrằng hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ chúng ta là những hình ảnh
mà chúng ta thu thập được bằng trực quan Ông cho rằng con đường nhận thức thực tại
Trang 29có giá trị nhất của trẻ em là sự qui nạp, nghĩa là con đường từ quan sát tới khái quáthóa và kết luận Vì con đường nhận thức bằng qui nạp rất có hiệu quả trong công tácnghiên cứu khoa học và trong quá trình dạy học, nên theo Usinxki “tính trực quan phải
là cơ sở quan trọng nhất của việc dạy học” [9,tr 52] Cho nên, để phát triển tư duy củacác em thì phải phát triển năng lực quan sát của các em: “nếu như việc học tập có xuhướng làm phát triển trí thông minh của các em thì công việc học tập đó phải rèn luyệnnăng lực quan sát của các em” [28,tr 181]
Trên quan điểm nhận thức của chủ nghĩa Mác-Lênin, các nhà lí luận dạy họcXô-viết cũng đánh giá rất cao vị trí, tầm quan trọng của phương pháp trực quan, coitrực quan là phương pháp nhận thức quan trọng nhất L.V Savin đã nhận xét: “Nếukhông có quan sát các sự kiện đa dạng của cuộc sống, của lao động con người, đờisống xã hội, các quan sát được giáo viên hướng dẫn và được tổ chức, thì không thể nàohình dung được việc thực hiện có kết quả các nhiệm vụ gắn chặt với dạy học với cuộcsống” [28,tr 180]
Các tác giả cuốn “Những cơ sở của lí luận dạy học”, do B.P Exipốp chủ biên,
cũng chỉ rõ rằng không có các cảm giác, không có nhận thức cảm tính, không có giaiđoạn có ý nghĩa rộng rãi và sâu sắc đó của quá trình nhận thức mà Lênin tóm tắt trongkhái niệm “Sự trực quan sinh động” thì không thể có bất kì một sự nhận thức nào Trên
cơ sở phân tích mối quan hệ của các nhân tố trong quá trình nhận thức, các tác giả đềuđánh giá cao vai trò của nhận thức cảm tính, mà trước hết là sự quan sát: “… Kiến thứcthực sự bắt đầu từ tri giác, từ sự quan sát hay hành động thực tiễn…” [9,tr 236]
Các nhà lí luận dạy học ở nước ta cũng khẳng định vị trí quan trọng của phươngpháp trực quan, coi trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạyhọc Theo nguyên tắc này, trong quá trình dạy học “phải làm cho học sinh tiếp xúc trựctiếp với những sự vật, hiện tượng, hay những hình tượng của chúng, từ đó đi đến nắmnhững khái niệm, những qui luật, những lí thuyết khái quát” [24,tr 188] Đặc biệt,trong dạy học lịch sử, do đặc điểm của bộ môn, các nhà giáo dục lịch sử cũng đánh giácao vị trí, vai trò của nguyên tắc này trong việc “tạo cho học sinh những biểu tượng và
Trang 30hình thành khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học hay những đồdùng trực quan minh họa về sự vật” [20,tr 137].
Bản chất của quá trình dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng ở trườngphổ thông là tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh Dưới sự tổ chức, hướng dẫncủa giáo viên, học sinh tiến hành các hoạt động nhận thức, nắm vững tri thức và pháttriển năng lực nhận thức, dần dần hình thành cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng,nhân cách và đạo đức Quá trình đó cũng tuân theo qui luật nhận thức chung có tínhchất xã hội – lịch sử của loài người: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ
tư duy trừu tượng đến thực tiễn…” [11,tr 189]
Việc “trực quan sinh động” trong nhận thức lịch sử không thể bắt đầu từ cảmgiác trực tiếp về hiện thực lịch sử đã qua, mà từ những biểu tượng được tạo nên trên cơ
sở các sự việc cụ thể Đồ dùng trực quan nói chung, đồ dùng trực quan quy ước nóiriêng rất có ưu thế trong việc tạo biểu tượng lịch sử Cho nên, để có hình ảnh lịch sử cụthể làm cơ sở cho nhận thức quá khứ cần phải sử dụng đồ dùng trực quan để học sinh
có thể tạo biểu tượng một cách chân thực nhất
Nhiệm vụ của việc dạy học, trước hết là giúp cho học sinh biết quan sát đúng vàlàm phong phú tâm hồn bằng những hình ảnh đầy đủ chính xác, sáng tạo Từ việc quansát, học sinh sẽ đi tới công việc của tư duy trừu tượng; nhưng bản thân các đồ dùngtrực quan không thể gây ra sự quan sát tích cực của học sinh nếu như nó không đượcquan sát trong tình huống có vấn đề, trong những nhu cầu cần thiết phải trả lời một vấn
đề cụ thể Điều này khẳng định rằng dù đánh giá cao vai trò của phương pháp trựcquan, nhưng không tách nó ra ngoài hệ thống phương pháp giảng dạy “Nguyên tắctrực quan là cách học không chỉ dựa vào lời nói mà còn dựa vào hình ảnh cụ thể màhọc sinh trực tiếp thu nhận được, nhằm tạo cho học sinh những biểu tượng và hìnhthành các khái niệm” [19,tr 36]
Học tập lịch sử có những đặc trưng riêng, có nhiều nét khác với các bộ mônkhoa học tự nhiên, như khi nghiên cứu, tìm hiểu quá khứ xã hội loài người học sinhkhông trực tiếp tiếp xúc với những sự kiện đã qua vì nó không tái diễn trở lại Các sự
Trang 31kiện này chỉ xảy ra trong khoảnh khắc và không thể tách riêng ra, giữ lại để nghiên cứu[17,tr 176-177-178] Vì vậy, sự cần thiết sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch
sử cũng do những đặc trưng của bộ môn qui định Sử dụng đồ dùng trực quan trongdạy học lịch sử không giống như môn học khác khi tiến hành thí nghiệm, thực hành.Việc sử dụng đồ dùng trực quan nhằm tái tạo hình ảnh quá khứ một cách trung thực màchỉ có “lời nói của giáo viên, dù có sinh động, giàu hình tượng và chi tiết đến đâu, cũngkhông thể đem lại cho các em một hình ảnh thật cụ thể, chính xác về hiện thực lịch sử”[32,tr 40] Các sự kiện, hiện tượng lịch sử dù được miêu tả hay đến mấy thì cũngkhông đủ sức thuyết phục bằng cách cho học sinh quan sát các đồ dùng trực quan Trên
cơ sở đồ dùng trực quan, cùng với kiến thức khoa học và các phương tiện khác, họcsinh sẽ “khôi phục” lại hình ảnh quá khứ đúng như sự kiện đã xảy ra một cách kháchquan Nói cách khác, trong dạy học lịch sử, lời nói không thể thay thế hoàn toàn đồdùng trực quan Lời nói chỉ là phương tiện tạo nên trực quan bên trong, còn đồ dùngtrực quan mới giúp tạo nên hình ảnh một cách chân thực, cụ thể Do đó, sử dụng đồdùng trực quan để khôi phục lại bức tranh quá khứ là công việc rất quan trọng, có tácdụng giúp cho nhận thức cảm tính của học sinh có hiệu quả và là cơ sở để thực hiệngiai đoạn nhận thức lý tính tốt hơn
Nhận thức của học sinh cũng giống như nhận thức chung của xã hội loài người
là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào ý thức học sinh, quá trình nhận thức củahọc sinh cũng diễn ra theo qui luật “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng…”.Tuy nhiên, quá trình nhận thức của loài người diễn ra theo con đường mò mẫm, thử sai,tức là khám phá những cái chưa biết, đi vào thế giới khách quan một cách độc lập, pháthiện và chứng minh những cái mà loài người chưa hề biết trong tự nhiên, xã hội và tưduy để tìm ra những chân lí mới, quy luật mới, bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại,thì nhận thức của học sinh nói chung, khi học lịch sử nói riêng, lại không phải tìm racác mới, cái chưa biết mà là tiếp nhận một cách sáng tạo những tri thức lịch sử đã đượcthừa nhận, những tri thức này rất tinh giản nhưng khoa học, tạo cơ sở cho các em khôiphục lại bức tranh quá khứ
Trang 32Do đặc trưng của bộ môn lịch sử là sự kiện không lặp lại, không tiến hành thínghiệm được, học sinh không thể trực tiếp quan sát sự kiện lịch sử đã xảy ra, nên nhậnthức lịch sử không phải bắt đầu từ cảm giác mà từ sự kiện cơ bản, chân xác Tuy vậy,
do lịch sử diễn ra từ quá khứ đến hiện tại mà “nhận thức của học sinh lại từ gần đếnxa” [17,tr 184], nên học sinh dễ rơi vào tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử Để khắc phụctình trạng này, trong học tập lịch sử, giáo viên cần tạo cho học sinh một biểu tượngchân thực về quá khứ qua các thao tác sư phạm, từ đó học sinh có thể tri giác các sựkiện, khôi phục lại hình ảnh của quá khứ
Quá trình hình thành kiến thức lịch sử là quá trình học sinh đi từ chưa biết đếnbiết, hiểu biết không đầy đủ đến hiểu biết sâu sắc các sự kiện quá khứ Trên cơ sở các
sự kiện, học sinh trải qua quá trình nhận thức để tạo biểu tượng rồi hình thành kháiniệm Muốn có khái niệm thật sâu sắc lâu dài thì cần dựa trên cơ sở biểu tượng phongphú, chính xác, sinh động Bởi vì, không có biểu tượng sẽ không có khái niệm hoặckhái niệm rỗng, không có nội dung phong phú Chính vì vậy, để có hình ảnh lịch sử cụthể, phong phú, làm cơ sở cho nhận thức quá khứ thì phương pháp trực quan là phươngpháp khả thi và tối ưu nhất bên cạnh sử dụng các phương pháp dạy học khác
Đối tượng dạy học ở cấp trung học phổ thông là các em học sinh có độ tuổi từ
16 đến 18 Đây là lứa tuổi có sự biến đổi lớn về tâm lý so với cấp trung học cơ sở Ởlứa tuổi này, tính chủ động của các em đã phát triển mạnh và có sự biến đổi rất sâu sắc
cả về chất và lượng Đặc biệt trong hoạt động tư duy, “trình độ tư duy lôgic đã pháttriển và các em có khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sángtạo, các thao tác tư duy ngày càng hoàn thiện” [4,tr 42] Hơn nữa, lúc này các em đãhình thành được khá nhiều quan niệm thực tế về thế giới khách quan, khá nhiều sự kiện
và khái niệm lịch sử Nếu ở cấp trung học cơ sở, nhận thức của học sinh luôn mangtính cụ thể, nhận thức cảm tính nhiều hơn nhận thức lí tính và đồ dùng trực quan chủyếu giúp các em dễ nắm được sự kiện, hiện tượng… một cách cụ thể Ở cấp trung họcphổ thông, “các em đã biết phân tích nội dung cơ bản của khái niệm trừu tượng, nắmđược mối quan hệ nhân quả trong mỗi sự kiện, hiện tượng Hoạt động nhận thức của
Trang 33các em cũng đòi hỏi tính năng động và độc lập cao” [4,tr 44] Vì vậy sử dụng đồ dùngtrực quan, nhất là đồ dùng trực quan quy ước là rất phù hợp với lứa tuổi học sinh cấptrung học phổ thông, vì bản thân đồ dùng trực quan qui ước mang trong nó những đặcđiểm đòi hỏi sự tư duy, phân tích và sự hoạt động độc lập cao Đồ dùng trực quan quyước có tác dụng lớn đối với học sinh trung học phổ thông trong việc nêu rõ mối liên hệtương hỗ giữa các sự kiện, hiện tượng, nêu rõ bản chất nội tại của sự kiện – hiện tượng,chỉ rõ sự phát triển của lịch sử và chứng minh qui luật lịch sử Đồ dùng trực quan quyước, như “bản đồ, biểu đồ… không chỉ đem lại cho học sinh những biểu tượng bênngoài về sự kiện lịch sử mà còn là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử,
là phương tiện rất có hiệu lực để hình thành các khái niệm lịch sử quan trọng nhất giúphọc sinh nắm vững các qui luật của sự phát tiển xã hội” [31,tr 40]
1.1.4 Vai trò của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử
Đồ dùng trực quan có vai trò rất quan trọng trong dạy học lịch sử Có nhiều loại đồdùng trực quan, mỗi loại có ý nghĩa khác nhau Đối với đồ dùng trực quan quy ướctrong dạy học lịch sử, ý nghĩa của nó được biểu hiện ở những mặt sau đây:
a Về mặt cung cấp kiến thức
Do việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông có đặc điểm là học sinh không đượctrực tiếp tiếp xúc với các sự kiện, hiện tượng của đời sống xã hội, việc trình bày miệngcủa giáo viên dù sinh động đến đâu cũng không thể đem lại một hình ảnh cụ thể, đầy
đủ về quá khứ Vì vậy, đồ dùng trực quan giúp học sinh “trực quan sinh động” quákhứ
“Trực quan sinh động” trong học tập lịch sử gắn liền với tạo biểu tượng lịch sử,không tạo được biểu tượng thì hình ảnh học sinh thu được sẽ nghèo nàn, hiểu biết lịch
sử không sâu sắc, không phát triển được tư duy, không có cơ sở để hình thành kháiniệm Nhưng khi biểu tượng được hình thành và tham gia vào hoạt động của tư duy thì
“tư duy trở nên sinh động, gợi cảm, say sưa, hồi hộp và khẩn trương Điều này gópphần làm cho việc vạch ra nội dung khái niệm của đối tượng tư duy được đầy đủ, sâusắc hơn Đồng thời biểu tượng mở rộng làm phong phú thêm ý, làm cho nó có sức
Trang 34thuyết phục trực tiếp và sự hấp dẫn đầy cảm xúc” [26,tr 70] Điều này đã được lý luận
và thực tiễn xác nhận Chúng tôi tập trung vào đồ dùng trực quan quy ước để làm sáng
tỏ điều này
Quan sát việc dạy học bài 6 “Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918)” ở
lịch sử lớp 11, chúng tôi nhận thấy rằng, nếu giáo viên chỉ sử dụng lời nói thì rất khótạo được cho học sinh biểu tượng về pháo đài Véc-đoong mà đế quốc Đức chọn làmđiểm quyết chiến chiến lược với quân Pháp hòng kết thúc chiến tranh có lợi cho mình.Khi giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan qui ước thì việc giảng dạy có hiệu quả, hấp
dẫn hơn Bằng cách sử dụng bản đồ Chiến tranh thế giới thứ nhất, giáo viên miêu tả
cho học sinh thấy Véc-đoong là một thành phố có vị trí chiến lược rất quan trọng, xungyếu ở phía đông Pa-ri, nhưng Pháp ít quan tâm đến vị trí này nên bố trí phòng thủ sơlược Nếu Véc-đoong thất thủ thì Pa-ri bị uy hiếp nghiêm trọng nên quân Đức có dãtâm “làm cho Pháp chảy hết máu”, tan rã về quân sự, từ đó buộc phải đầu hàng… Trên
cơ sở miêu tả và phân tích như vậy, học sinh sẽ nhận thức và hiểu được tại sao đoong được tướng Phankenhan của Đức chọn làm “cỗ máy xay thịt” và có biểu tượngsâu sắc về vai trò và vị trí của pháo đài Véc-đoong trong chiến tranh thế giới thứ nhất
Véc-Đồ dùng trực quan nói chung, đồ dùng trực quan quy ước nói riêng không chỉ cóvai trò trong việc tạo biểu tượng cho học sinh mà còn giúp các em hiểu được bản chất
và những mối liên hệ của sự kiện Chỉ khi nào học sinh hiểu sâu sắc bản chất của sựkiện và nắm vững mối liên hệ giữa các sự kiện thì việc hình thành khái niệm mới diễn
ra thuận lợi và đúng đắn Đồ dùng trực quan là phương tiện rất có hiệu lực trong việcgiúp học sinh hình thành những khái niệm lịch sử quan trọng cũng như nắm vữngnhững quy luật của sự phát triển xã hội
Khi dạy học bài 3 “Trung Quốc” trong chương trình lịch sử lớp 11, học sinh
không thể nào chỉ dựa vào lời nói của giáo viên mà hình thành được khái niệm “cáchmạng dân chủ tư sản kiểu mới” Để hình thành khái niệm này, giáo viên cần thiết phải
sử dụng bảng so sánh với khái niệm “cách mạng dân chủ tư sản” về các tiêu chí: lựclượng lãnh đạo, lực lượng tham gia, mục tiêu của cuộc cách mạng, hướng phát triển
Trang 35sau khi cách mạng thành công… để các em phân biệt khái niệm và hiểu được khái niệm “cách mạng tư sản kiểu mới” cũng như thấy được bản chất của nó b Về mặt giáodục
Cùng với việc bồi dưỡng kiến thức, đồ dùng trực quan qui ước còn có vai trò rấtlớn trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho học sinh
Ví dụ, việc sử dụng bản đồ “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)” kết hợp
với bảng thống kê số liệu về hậu quả của chiến tranh, học sinh sẽ thấy được sự tàn phácủa chiến tranh, sự thiệt hại về người và của đối với nhân loại, đặc biệt đối với nhândân lao động trên thế giới khi bị cưỡng bức tham gia vào guồng máy chiến tranh Từ
đó, các em sẽ trân trọng nền hòa bình mà các em đang có, biết ơn các thế hệ cha anh đãđấu tranh không mệt mỏi vì hòa bình của đất nước và thế giới Tương tự như vậy, khi
giáo viên kết hợp miêu tả và sử dụng lược đồ “Thuộc địa của các nước đế quốc ở
châu Phi (cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX)” giúp cho học sinh nhận thức đây là quá
trình xâm chiếm thuộc địa và tranh giành lẫn nhau giữa các nước đế quốc nhằm nô dịchnhân dân các nước châu Phi để phục vụ cho nhu cầu của tầng lớp tư sản thống trị tạicác nước đế quốc… làm nảy sinh ở các em sự căm thù đối với thế lực xâm lược, từ đó
có tinh thần cảnh giác đối với các âm mưu diễn biến hòa bình hiện nay và ủng hộ cũngnhư tự hào với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu Phi nói riêng và của nhân dân
bị áp bức trên thế giới nói chung Từ đó hình thành cho học sinh tinh thần đoàn kếtquốc tế, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa…
c Về mặt phát triển
Đồ dùng trực quan nói chung, đồ dùng trực quan quy ước nói riêng không chỉ cótác dụng cung cấp kiến thức, giáo dục học sinh mà nó còn có tác dụng rất lớn trongviệc phát triển toàn diện học sinh Với ưu thế của mình, đồ dùng trực quan quy ước gópphần tích cực làm “phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữcủa học sinh” [17,tr 62] Khi được quan sát bản đồ, sơ đồ … cùng với lời giảng vànhững câu hỏi gợi mở của giáo viên, các em được rèn luyện khả năng quan sát, năng
Trang 36lực tư duy trừu tượng và năng lực thực hành bộ môn; đồng thời còn giúp ích trong việcphát triển tư duy ngôn ngữ, tư duy biện chứng cho học sinh.
Ví dụ, dạy học bài “Công xã Pa-ri” chúng tôi nhận thấy rằng, khi quan sát “Sơ
đồ bộ máy công xã”, học sinh không chỉ hình dung được bộ máy chính quyền của công
xã mà còn thấy bản chất của công xã – nhà nước kiểu mới Sự quan sát, phân tích vànhận thức được bản chất của sơ đồ làm cho khả năng tư duy, óc quan sát của các emphát triển, ngôn ngữ trình bày ngày càng lưu loát, chính xác và sinh động
Với tất cả ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục và phát triển, đồ dùng trực quan quyước nếu được sử dụng tốt sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trườngphổ thông, tạo ra hứng thú cho học sinh với việc học tập, tìm hiểu lịch sử Nó thực sự
là “chiếc cầu nối” giữa quá khứ với hiện tại
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay
Để tìm hiểu thực tiễn sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học hiện nay ra sao,chúng tôi tiến hành điều tra thực tế ở một số trường phổ thông trên địa bàn thành phốHải Phòng như: trường THPT An Dương, trường THPT An Hải, trường THPT NguyễnTrãi, trường THPT Tân An
Nội dung tiến hành điều tra theo hướng sau:
- Với học sinh: về hứng thú học tập bộ môn, mức độ hiểu kiến thức khi giờ học có sửdụng đồ dùng trực quan quy ước
- Với giáo viên:
+ Quan niệm về đồ dùng trực quan quy ước
+ Tình trạng trang bị và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước
+ Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước
Trên cơ sở kết quả kiểm tra đó, chúng tôi tiến hành phân tích và rút ra thực tiễncủa vấn đề sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử ở trường phổthông hiện nay
Trang 371.2.1 Tình hình trang bị đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Đồ dùng trực quan quy ước là loại phương tiện rất quan trọng trong dạy học lịch
sử ở trường phổ thông Trong các cuộc hội thảo khoa học các nhà giáo dục lịch sửnước ta đều thống nhất rằng “muốn đổi mới phương pháp phải đồng thời cải tiến vềmặt nội dung hình thức lên lớp, phương tiện dạy học và cả ý thức xã hội” [7,tr 71].Qua điều tra thực tiễn ở các trường phổ thông chúng tôi nhận thấy hầu hết giáo viênđều ý thức được tầm quan trọng của đồ dùng trực quan quy ước và coi việc sử dụng đồdùng trực quan quy ước là một trong những biện pháp hữu hiệu của việc đổi mớiphương pháp dạy học lịch sử Tuy vậy, những chuyển biến trong đổi mới về phươngpháp, phương tiện dạy học và cả ý thức xã hội vẫn còn rất chậm chạp
Trong phạm vi luận văn này, để hiểu rõ thực tế trang bị và sử dụng đồ dùng trựcquan quy ước trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, chúng tôi đã tiếnhành điều tra, khảo sát cơ bản thông qua phiếu thăm dò, dự giờ, trao đổi với giáo viêndạy lịch sử ở một số trường phổ thông trên địa bàn thành phố Hải Phòng
a Đối với loại đồ dùng trực quan quy ước do Nhà nước cung cấp
Trong nhiều năm qua, các cơ quan chức năng đã có rất nhiều cố gắng trong việcxây dựng và trang bị đồ dùng trực quan cho nhà trường phổ thông Đi đầu trong việccung cấp và trang bị đồ dùng trực quan quy ước cho việc dạy học lịch sử ở trường phổthông là trung tâm bản đồ và tranh ảnh giáo dục – Nhà xuất bản giáo dục (trước đây làtrung tâm bản đồ giáo khoa – Tổng công ty cơ sở vật chất và thiết bị trường học).Trung tâm có những cố gắng rất lớn trong việc nghiên cứu, biên soạn và sản xuất cácloại đồ dùng trực quan quy ước phục vụ dạy học lịch sử ở trường phổ thông Những cốgắng đó thể hiện qua số lượng sản phẩm tăng liên tục qua các năm Nếu trước nhữngnăm 90 mới chỉ có một vài bản đồ được trang bị cho bộ môn lịch sử ở trường phổthông thì đến năm 1995 đã có 16 bản đồ, đến năm 2003 là 52 bản đồ Bên cạnh việcbiên soạn và sản xuất các đồ dùng trực quan đó, trung tâm cũng rất quan tâm đến việc
biên soạn các tài liệu hướng dẫn sử dụng như xuất bản cuốn “Nội dung và phương
Trang 38pháp sử dụng bản đồ giáo khoa lịch sử treo tường – Tập I”… Những cố gắng ấy đã
phần nào đáp ứng được yêu cầu bức thiết của việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Tuy nhiên, các loại đồ dùng trực quan quy ước trên mới chỉ tập trung ở bản đồgiáo khoa lịch sử treo tường, chưa đề cập đến các loại hình khác như biểu đồ, sơ đồ, đồthị Cụ thể: trong tổng số 52 sản phẩm trên thì có 01 niên biểu, 01 tài liệu hướng dẫn sửdụng, còn lại là bản đồ giáo khoa treo tường Ngay trong thể loại bản đồ thì cũngkhông cân đối giữa bản đồ Việt Nam (36 bản đồ) và bản đồ lịch sử thế giới (14 bản đồ)[37,tr 31]
Tại các trường mà đề tài có tiến hành điều tra thực nghiệm thì tình hình trang bị
đồ dùng, thiết bị dạy học bộ môn còn rất hạn chế Đồ dùng trực quan quy ước phục vụmôn học mới chỉ tập trung ở bản đồ, còn thiếu vắng các đồ dùng trực quan qui ướckhác như niên biểu, biểu đồ, đồ thị… Tuy nhiên, các đồ dùng trực quan này cũng đều
do các cơ quan chức năng của nhà nước cung cấp Các đồ dùng trực quan nói chung,
đồ dùng trực quan quy ước nói riêng do Nhà trường, tổ chuyên môn và giáo viên bộmôn tự xây dựng còn ít
Theo số liệu điều tra của trung tâm bản đồ và tranh ảnh giáo dục, trong việctrang bị đồ dùng trực quan treo tường (tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ, biểu đồ…) ở cáctrường phổ thông thì số lượng đồ dùng trực quan quy ước không đầy đủ Có trườngchưa được trang bị đủ số lượng đồ dùng trực quan quy ước theo yêu cầu, có trườngchưa trang bị được một nửa và thậm chí có trường không có đồ dùng trực quan quyước nào [37,tr 45]
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đồ dùng trực quan quy ước nói chung, bản đồnói riêng đã được in và phát hành nhưng chưa được trang bị đủ, thậm chí là chưa có tạicác trường phổ thông thì có nhiều, là do cơ chế bao cấp cũ đã xóa bỏ, mà hoạt độngkinh doanh thiết bị dạy học lại không mấy hấp dẫn “lãi thì làm, ít lãi thì không làm,không coi phục vụ sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ làm mục đích hoạt động, là lí do tồntại” [7,tr 217] Mặt khác, một nguyên nhân chủ quan rất quan trong khác là sự thiếu
Trang 39năng động, linh hoạt, tâm huyết của bản thân các trường phổ thông mà trước hết là vaitrò của tổ chuyên môn và giáo viên bộ môn.
Về chất lượng của các loại đồ dùng trực quan quy ước do trung tâm bản đồ vàtranh ảnh giáo dục biên soạn và phát hành thì hơn hẳn các loại đồ dùng trực quan quyước do thầy trò tự làm trên các mặt nội dung, kĩ thuật thiết kế, biên tập, in ấn Hệ thốngnền địa lí được lựa chọn kĩ, có cả lưới kinh – vĩ độ giúp học sinh có thể xác định tọa độthực của sự kiện, các yếu tố địa hình, sông, hồ… đều được thể hiện phù hợp với yêucầu nội dung lịch sử Còn nội dung lịch sử được thể hiện bằng các kí hiệu hình ảnhtượng trưng phong phú, dễ nhận biết, màu sắc hài hòa, đẹp và rõ ràng mạch lạc… Nhìnchung đồ dùng trực quan qui ước loại này đảm bảo tốt các yêu cầu về tính khoa học,tính tư tưởng, tính sư phạm và tính thẩm mĩ, phục vụ tốt cho việc dạy học lịch sử ởtrường phổ thông
Tuy vậy, trong thực tế sử dụng ở trường phổ thông, các loại đồ dùng trực quanquy ước này cũng bộc lộ nhiều hạn chế Về mặt nội dung, trên bản đồ còn trình bàyquá nhiều sự kiện làm cho nội dung bản đồ quá nặng so với yêu cầu của sách giáo khoa
và trình độ của học sinh như bản đồ “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945),… Về
mặt hình thức, bản đồ còn sử dụng quá nhiều kí hiệu, hình tượng kiến cho học sinh khó
đọc, khó phân biệt các sự kiện như bản đồ “Phong trào nông dân Yên Thế (1884)”…
Một số bản đồ có bố cục phản ánh một khu vực quá nhỏ do đó học sinh khó có cái nhìntổng thể, bao quát, khó xác định vị trí của nơi xảy ra sự kiện như bản đồ chiến trườngchâu Á – Thái Bình Dương và quá trình bành trướng của phát xít Nhật,… Thậm chí,trên nhiều bản đồ còn trình bày cả niên biểu, đồ thị, tranh ảnh,… để làm rõ thêm nộidung bản đồ Việc cung cấp thêm các tranh ảnh, niên biểu, đồ thị,… là nguồn tư liệutốt, thuận tiện để giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác trên lớp, song việc thể hiệnnhư vậy lại dễ phân tán sự tập trung chú ý của học sinh khi theo dõi bản đồ hoặc cácnội dung biểu hiện sẽ quá nhỏ không đảm bảo sự quan sát của học sinh cả lớp, như bản
đồ phong trào nông dân Đàng Ngoài thế kỉ XVIII, bản đồ khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kì
và binh biến Đô Lương…
Trang 40b Đồ dùng trực quan quy ước do thầy trò tự xây dựng
Việc tự xây dựng đồ dùng dạy học ở nước ta từ lâu đã trở thành một phong tràosâu rộng, mang ý nghĩa kinh tế, khoa học và giáo dục sâu sắc, biểu hiện rõ qua cáccuộc thi đồ dùng dạy học toàn quốc (1981, 1985, 1990, 1994) Cũng chính vì vậy màHội nghị thiết bị dạy học giá thành hạ năm 1980 tại Bănglađét có nhận xét: “Chỉ ViệtNam mới có phong trào sâu rộng được đông đảo giáo viên hưởng ứng, tập hợp được trítuệ sáng tạo của nhiều người” [6,tr 55]
Qua khảo sát thực tế ở trường phổ thông trong nhiều năm gần đây có thể thấy rõ
đồ dùng trực quan quy ước do thầy trò tự xây dựng là loại đồ dùng dạy học khá phổbiến và phần nào đáp ứng được nhu cầu về thiết bị dạy học bộ môn Ngay ở các trườngvùng cao, vùng sâu, thầy trò cũng đã rất cố gắng tự xây dựng đồ dùng trực quan quyước để khắc phục kịp thời những thiếu thốn về đồ dùng dạy học
Kế hoạch xây dựng đồ dùng dạy học nói chung, đồ dùng trực quan quy ước nóiriêng ở một số trường đã được đề ra ngay từ đầu năm học hoặc đầu mỗi học kì, nhưng
ở một số trường khác chưa chú ý, còn tùy tiện trong xây dựng và sử dụng loại trựcquan này Nhìn chung giáo viên và học sinh chỉ thực sự bắt tay xây dựng đồ dùng dạy họckhi bài sắp dạy có yêu cầu hoặc có đợt phát động phong trào làm đồ dùng dạy học, dự thigiáo viên giỏi,…
Cách thức xây dựng đồ dùng trực quan quy ước ở hầu hết các trường mới chỉ làphóng to bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong sách giáo khoa hoặc trong các tài liệu lịch
sử khác lên giấy rôki, có thêm bớt những nội dung lịch sử cho phù hợp với nội dungsách giáo khoa, có tô màu để phân biệt các khu vực tính chất hoặc làm nổi rõ các kíhiệu, hình tượng… Một số giáo viên đã sao chép lại bản đồ treo tường địa lí hình thể và
vẽ thêm nội dung lịch sử lên trên giấy hoặc đã cố gắng vẽ dạng bản đồ câm treo tường,các nội dung lịch sử sẽ được đưa dần vào trong quá trình giảng bài bằng phấn màu, lắpghép mảnh bìa…
Chất lượng của các đồ dùng trực quan quy ước này nhìn chung chưa cao, chưađồng đều, nhất là ở những trường thiếu sự quan tâm hướng dẫn chu đáo của giáo viên