Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở của việc sử dụng Bản đồ Tư duy trong thiết kế các bàigiảng và sử dụng các bài giảng đó để giảng dạy chương I- phần B: “Chuyểnhoá vật chất và năng lượ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ PHÚ
SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY DẠY HỌC CHƯƠNG
“CHUYỂN HOÁ VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG Ở ĐỘNG VẬT”
- SINH HỌC 11 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (BAN NÂNG CAO)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy
học (Bộ môn Sinh học)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khao học: PGS TS Mai Văn Hưng
HÀ NỘI - 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể Thầy Cô Trường Đại học Giáo dục
- Đại học Quốc Gia Hà Nội, phòng Quản lý đào tạo và Nghiên cứu khoa học, phòng Tư liệu đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ.
Bằng lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn TS Mai Văn Hưng, người thầy đã dành nhiều thời gian, công sức và tâm trí trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo cùng các em học sinh trường THPT Lê Xoay và trường THPT Yên Lạc I thuộc tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện cho tôi khảo sát tình hình thực tế việc dạy học và tổ chức thực nghiệm sư phạm.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân và đồng nghiệp đã động viên, giúp dỡ tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2009
Tác giả Nguyễn Thị Phú
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài………
2 Lịch sử nghiên cứu………
3 Mục đích nghiên cứu………
4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu………
4 5 Giả thuyết khoa học………
4 6 Nhiệm vụ nghiên cứu………
4 7 Phạm vi nghiên cứu ………
4 8 Phương pháp nghiên cứu………
5 9 Cấu trúc nội dung luận văn………
6 Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận ………
1.1.1 Khái niệm Bản đồ Tư duy………
1.1.2 Lợi ích của Bản đồ Tư duy………
1.1.3 Mối liên quan giữa Bản đồ Tư duy và hoạt động của bộ não 1.1.4 Phương thức thành lập Bản đồ Tư duy………
1.1.5 Bản đồ Tư duy trên máy tính ………
1.1.6 Sử dụng Bản đồ Tư duy trong dạy học ………
1.2 Cơ sở thực tiễn ………
1.2.1 Quan điểm xây dựng chương trình và SGK Sinh học mới… 1.2.2 Tình hình daỵ hocc̣ Sinh hocc̣ ơ trương THPT hiêṇ nay ……
̉̉ 1.2.3 Thái độ học tập và mức độ nắm vững kiến thức Sinh học của HS 1.2.4 Cấu trúc chương trình và nội dung kiến thức chương “Chuyển hoá vật chất và năng lượng ở động vật”………
Chương 2: SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY THIẾT KẾ CÁC BÀI
Trang 52.1 Sử dụng trong dạy mới một mục, một bài hay một chương……
- 4-2.1.1 Phương thức sử dụng Bản đồ Tư duy trong dạy mới một mục, một bài hay một chương………
2.1.2 Quy trình sử dụng Bản đồ Tư duy trong dạy mới một chương, bài, mục kiến thức mới………
2.1.3 Giáo án minh hoạ………
2.2 Sử dụng Bản đồ Tư duy trong chữa bài tập ………
2.2.1 Phương thức sử dụng Bản đồ tư duy trong chữa bài tập cho học sinh ………
2.2.2 Quy trình sử dụng Bản đồ Tư duy trong chữa bài tập cho học sinh ………
2.2.3 Câu hỏi minh hoạ………
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM………
3.1 Mục đích thực nghiệm………
3.2 Nội dung thực nghiệm………
3.2.1 Thiết kế một số bài dạy theo hướng sử dụng Bản đồ Tư duy 3.2.2 Sử dụng các bài dạy đã được thiết kế để giảng dạy trên lớp 3.3 Phương pháp thực nghiệm………
3.3.1 Bố trí thực nghiệm………
3.3.2 Xử lí số liệu
3.4 Kết quả thí nghiệm………
3.4.1 Thiết kế một số bài theo định hướng Bản đồ Tư duy………
3.4.2 Thực nghiệm giảng dạy………
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ………
1 Kết luận ………
28 29
34 37 37
39 44 47 47 47 47 47 48 48 48 51 51 88 96 96 97
Trang 6-
Trang 75-MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước Việt Nam đang trong thời kì hội nhập Để thành công trên conđường hội nhập đó, chúng ta rất cần những con người có năng lực, bản lĩnh,sáng tạo, biết chia sẻ, hợp tác, sẵn sàng thích ứng trong môi trường năngđộng Hơn bất cứ ngành nghề nào khác, giáo dục phải là lá cờ đầu của mỗiquốc gia trong đổi mới nhận thức và tư duy Nghị quyết Trung ương 2 khóaVIII đã chỉ ra rằng “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lựcthúc đẩy, là điều kiện cơ bản để thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội, xâydựng và bảo vệ đất nước” Thực tế này đòi hỏi ngành Giáo dục phải đổi mớimột cách toàn diện về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chứcthực hiện Đặc biệt cần chú ý đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theohướng phát huy tính tích cực, chủ động, tư duy sáng tạo của người học nhằmđáp ứng nhu cầu về đào tạo nguồn nhân lực hiện nay
Bên cạnh đó, sự bùng nổ về công nghệ thông tin vừa là thời cơ, vừa làthách thức đối với ngành Giáo dục Việt Nam Làm thế nào để đối tượngngười học có thể cập nhật một lượng thông tin lớn là một câu hỏi khó Bêncạnh việc tìm ra một phương pháp dạy học nhằm đạt hiệu quả cao thì việc bồidưỡng kĩ năng chọn lọc, xử lí và biểu đạt thông tin là vấn đề đặt ra cấp thiếtđối với mỗi giáo viên trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay
Trong quá trình dạy học, kĩ năng khái quát hóa, sơ đồ hóa kiến thức có một
vị thế quan trọng Nó là tiền đề cho sự sáng tạo và phát triển tư duy Sử dụng bản
đồ tư duy trong thiết kế và giảng dạy các học phần thuộc môn Sinh học là việclàm cần thiết trong thực tế dạy học tại các trường THPT hiện nay Đặc biệt là vớihọc phần Sinh lí cơ thể người và động vật vốn rất dài và khó nhớ đối với họcsinh PTTH thì lại càng cần phải khái quát hoá và tóm lược một cách hiệu quảnhất nhưng vẫn sinh động để học sinh có thể áp dụng các kiến thức vào trongđời sống thường ngày cũng như trong các bài thi Đó là lý do
Trang 8chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng Bản đồ Tư duy dạy học chương “Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật” – Sinh học 11 – Trung học phổ thông (Ban nâng cao)” để nghiên cứu và trình bày trong luận văn này.
2 Lịch sử nghiên cứu
Những hình thức đầu tiên của bản đồ tư duy đã được sử dụng từ rất xaxưa bởi nhiều nhà thông thái, các nhà khoa học, giáo dục học, và cả một bộphận dân chúng Những bản vẽ tương tự như bản đồ tư duy ngày nay đượckhám phá lần đầu tiên trên các tảng đá, được vẽ bởi Tyros vào thế kỷ thứ 3,phác thảo những KN của Aristotle, sau đó là những phác thảo của RamonLlull (1235 - 1315), một nhà triết học thế kỷ 13, ngoài ra người ta còn tìmthấy rất nhiều ghi chép của Da Vinci hay Darwin có cấu trúc tương tự nhưbản đồ tư duy
Hình 1.3: Bản ghi chép của Darwin (1) và Da Vinci (2) có dạng bản đồ tư duy
Trang 9Được nghiên cứu bởi Allan M Collins và M Ross Quillian trong thờigian đầu những năm 1960 Tiến sĩ Collins được coi là cha đẻ của bản đồ tưduy hiện đại.
Vào những năm 1960, Tony Buzan, một nhà tâm lý học người Anh, đãnghiên cứu phát triển và đăng ký bản quyền phát minh cho Bản đồ tư duyhiện đại của mình Bản đồ tư duy hiện đại cũng giống như một công cụ đanăng của não bộ, ứng dụng trong mọi lĩnh vực và đang được sử dụng bởi hơn
250 triệu người, từ các nhà khoa học, kỹ sư GV hay HS…tại rất nhiều quốcgia trên thế giới Bộ sách viết về Bản đồ tư duy đã được dịch ra hơn 30 thứtiếng và xuất bản ở hơn 100 nước trên thế giới Cho tới năm 2008, một sốcuốn sách trong bộ sách về Bản đồ tư duy của ông đã được dịch ra tiếng Việtbởi nhóm New Thinking Group và đã được xuất bản tại Việt Nam Đa phầntrong các cuốn sách này là nghiên cứu về cách lập bản đồ tư duy trong cáccông việc từ lớn nhất cho tới nhỏ nhất trong cuộc sống như đi mua sắm, muaquà, chuẩn bị cho một chuyến du lịch, hoạch định một chiến lược kinh doanh,
… Còn lại một số cuốn sách trong bộ sách đó viết về Bản đồ tư duy trong họctập Tuy nhiên trong số các cuốn sách đó cũng chỉ bàn qua về việc sử dụngBản đồ tư duy trong các môn học như như Toán học, Lịch sử, Địa lý, Anhvăn chứ chưa nghiên cứu sâu trong từng môn học, nhất là chưa khai thác vềvấn đề sử dụng bản đồ Tư duy trong dạy học Sinh học
Hiện tại trong nước có tập bài giảng về môn “Lí luận dạy học hiện đại”
có 1 phần giảng về Bản đồ tư duy Còn để nghiên cứu ứng dụng về Bản đồ tưduy cụ thể trong từng môn học còn rất hiếm
3 Mục đích nghiên cứu
Sử dụng bản đồ tư duy trong thiết kế và sử dụng bài giảng để giảng dạychương I - phần B: “Chuyển hoá vật chất và năng lượng ở động vật” - Sáchgiáo khoa Sinh học lớp 11 nâng cao để giảng dạy có hiệu quả cao hơn, giúphọc sinh nhanh chóng nắm bắt được cốt lõi của vấn đề và có các ứng dụng
Trang 10kiến thức một cách sáng tạo trong đời sống hằng ngày.
4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Sử dụng Bản đồ Tư duy dạy học chương “Chuyển
hoá vật chất và năng lượng ở động vật”
Khách thể nghiên cứu: Giáo viên dạy sinh học và học sinh các lớp thuộcban Khoa học Tự nhiên thuộc trường THPT Lê Xoay và trường THPT YênLạc I
5 Giả thuyết khoa học
Sử dụng bản đồ tư duy thiết kế các bài giảng để giảng dạy làm tăng hiệuquả truyền tải các nội dung trong chương trình Sinh học phổ thông tới họcsinh
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở của việc sử dụng Bản đồ Tư duy trong thiết kế các bàigiảng và sử dụng các bài giảng đó để giảng dạy chương I- phần B: “Chuyểnhoá vật chất và năng lượng ở động vật”-Sách giáo khoa Sinh học lớp 11 nângcao
Điều tra thực trạng việc dạy học bộ môn Sinh học ở một số trường
THPT
Sử dụng Bản đồ tư duy thiết kế được từng bài giảng cụ thể trong chương
“Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật”
Xây dựng hệ thống đề kiểm tra để so sánh giữa lớp đối chứng và lớp thựcnghiệm
Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết khoa học của luận văn,
từ đó có thể vận dụng vào thực tiễn dạy học
Trang 11lớp 11 nâng cao.
Đề tài nghiên cứu trên các đối tượng khảo sát là học sinh thuộc 4 lớp 11(học Ban Khoa học Tự nhiên) tại trường THPT Lê Xoay và trường THPTYên Lạc I trong các giờ Sinh học
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu tổng quan các tài liệu có liên quan như: Lí luận dạy học Sinhhọc, tâm lí học sư phạm, lí luận dạy học hiện đại; các luận văn, luận án, cáctài liệu hướng dẫn chuyên môn; các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụnăm học của ngành Giáo dục; đặc biệt là các tài liệu liên quan đến Bản đồ tưduy
8.2 Phương pháp điều tra
Trao đổi với giáo viên giảng dạy môn Sinh học tại các trường THPT vềthực trạng giảng dạy môn Sinh học
Sau khi dạy học bằng bài giảng được thiết kế trên cơ sở bản đồ tư duy,lập phiếu khảo sát nhằm đánh giá tính tích cực, chủ động của học sinh khitham gia học tập bằng các bài giảng này
8.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Chứng minh bằng thực nghiệm so sánh kết quả giảng dạy bằng haiphương pháp: truyền thống không sử dụng bản đồ tư duy và có sử dụng bản
đồ tư duy cho cùng mỗi bài dạy ở các lớp học sinh có trình độ nhận thứctương đương nhau
Trang 12hóa năng lượng ở động vật” nói riêng.
9 Cấu trúc nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn còn được cấu trúc trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiến
Chương 2: Sử dụng Bản đồ Tư duy thiết kế các bài giảng chương “Chuyểnhoá vật chất và năng lượng ở động vật” – Sinh học 11 (ban nâng cao)
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm Bản đồ Tư duy
Bản đồ Tư duy (Mind Map) là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc vàhình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng.Trong đó, tư duy của con ngườiđược thể hiện dưới dạng sơ đồ, bản đồ Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay hìnhảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng cácnhánh tượng trưng cho các ý chính và đều được nối với trung tâm [8, tr.20]
Các nhánh chính lại được phân thành các nhánh nhỏ nhằm nghiên cứuchủ đề ở mức độ sâu hơn Những nhánh nhỏ này lại tiếp tục phân thành nhiềunhánh nhỏ hơn, nhằm nghiên cứu vấn đề ở mức độ sâu hơn nữa Nhờ sự kếtnối giữa các nhánh, các ý tưởng cũng có sự liên kết dựa trên mối quan hệ củabản thân chúng, điều này khiến Bản đồ Tư duy có thể bao quát được các ýtưởng trên một phạm vi sâu , rộng mà một bản liệt kê các ý tưởng thôngthường không thể làm được [8, tr 21]
Một bản đồ tư duy thông thường có cấu trúc gồm hai phần chính: các từhình ảnh (hay từ khóa) và các đường nối liên kết chúng với nhau Ở vị trítrung tâm bản đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ý tưởng hay
KN chủ đạo Ý trung tâm sẽ được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp 1bằng các nhánh chính, từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh đến các từkhóa cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các
KN hay hình ảnh luôn được nối kết với nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ramột “bức tranh tổng thể” mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng [8]
Trang 14Hình 1.2: Cấu trúc của bản đồ tư duy
Bản đồ Tư duy là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng
Bản đồ Tư duy là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộnão của bạn rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Nó là một phương tiện ghichép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó [7, tr 24]
Bản đồ Tư duy là một công cụ tuyệt vời để sắp xếp ý nghĩ của bạn Tất
cả các Bản đồ Tư duy đều giống nhau ở một số điểm Chúng đều sử dụngmàu sắc, có một cấu trúc cơ bản được phát triển rộng ra từ trung tâm, chúngdùng các đường kẻ, các biểu tượng, từ ngữ và hình ảnh theo một bộ các quytắc đơn giản, cơ bản, tự nhiên và dễ hiểu Với một Bản đồ Tư duy, một danhsách dài những thông tin đơn điệu có thể biến thành một bản đồ đầy màu sắc,sinh động, dễ nhớ, được tổ chức chặt chẽ Nó kết hợp nhịp nhàng với cơ chếhoạt động tự nhiên của não bộ [7, tr 25]
Bản đồ Tư duy có thể được so sánh với bản đồ của một thành phố Trungtâm của Bản đồ Tư duy giống với trung tâm thành phố và tượng trưng cho ýtưởng quan trọng nhất của bạn Những con đường chính tỏa ra từ trung tam,tượng trưng cho các nhánh chính trong quá trình tư duy của bạn Các conđường nhỏ hơn hay các nhánh đường tượng trưng cho các nhánh tư duy tỏa ra
Trang 15từ nhánh chính và cứ tiếp tục như vậy … Các hình ảnh hay hình khối đặc biệt
có thể tượng trưng cho tầm nhìn chứa đựng sở thích, đam mê hay những ýtưởng đặc biệt thú vị [7, tr 25]
1.1.2 Lợi ích của Bản đồ Tư duy
Bản đồ Tư duy cho ta một cái nhìn tổng quan về một vấn đề hay mộtlĩnh vực rộng lớn
Bản đồ Tư duy cho ta cách học nhanh hơn, hiệu quả hơn để có thể vượtqua các kì thi với điểm số tốt
Bản đồ Tư duy giúp ta tổ chức và phân loại tốt các luồng suy nghĩ của chúng ta.Bản đồ Tư duy giúp ta ghi nhớ tốt hơn
Bản đồ Tư duy cho phép chúng ta có thể vẽ bản đồ các tuyến đường hayđưa ra các lựa chọn, và cho ta biết nơi ta sẽ tới và nơi ta đã đi qua
Bản đồ Tư duy cho phép ta tập hợp số lượng lớn dữ liệu vào một chỗ.Bản đồ Tư duy giúp giải quyết các vấn đề bằng cách chỉ ra cho ta những con đường sáng tạo mới mẻ Với phương thức tiến dần từ trung tâm ra xung quanh, Bản đồ Tư duy khiến tư duy của chúng ta cũng phải hoạt động tương tự Từ đó các
ý tưởng của bạn sẽ phát triển và chẳng bao lâu chúng ta lại thông tin sau này sẽ dễ dàng, đáng tin cậy hơn so với khi sử dụng kĩ thuật ghi chép truyền thống.
1.1.3 Mối liên quan giữa Bản đồ Tư duy và hoạt động của bộ não
Trong bản đồ tư duy, hình ảnh trung tâm là não bộ của chúng ta Bộ nãocủa loài người bao gồm hai bán cầu não thực hiện các nhiệm vụ trí tuệ khácnhau và luôn có sự phối hợp liên kết với nhau Bán cầu não trái xử lý thôngtin, con số, từ ngữ, đường kẻ, danh sách giúp con người đưa ra lý luận vàphân tích vấn đề Bán cầu não phải cảm nhận mức độ, nhịp điệu, màu sắc,hình dạng, bản đồ… giúp con người cảm nhận và mơ mộng Mức độ hợp tácgiữa chúng càng cao thì hoạt động của bộ não càng hiệu quả Việc lập bản đồ
tư duy giúp chúng ta sử dụng cả hai bán cầu não, nhờ đó mà chúng trở nênmạnh mẽ hơn, khả năng trí tuệ và sáng tạo được tăng cường [8]
Trang 16Bản đồ tư duy là những công cụ tư duy thực sự hiệu quả, chúng kích thích
bộ não hoạt động và liên kết các ý tưởng với nhau, nó chính là sự biểu thị chocách tư duy của bộ não, dựa trên các quy luật tư duy, đó là: Mọi thông tin tồn tạitrong não bộ của con người đều cần có các mối nối, liên kết để có thể được tìmthấy và sử dụng Khi có một thông tin mới được đưa vào, để được lưu trữ vàtồn tại, chúng cần kết nối với các thông tin cũ đã tồn tại trước đó
Trong bản đồ tư duy, hình ảnh hay từ khóa thể hiện chủ đề của bản đồđược đặt ở vị trí trung tâm, các ý khác tỏa ra xung quanh, điều này đượcTony Buzan giải thích dựa trên những cơ sở nghiên cứu của ông về hoạt độngcủa bộ não Thông thường trong các văn bản, con người có quy tắc quétthông tin từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, tuy nhiên bộ não lại có xuhướng tự nhiên là quét toàn bộ trang một cách phi tuyến tính Trong khi nãotrái nắm bắt các đường nối và hình ảnh, từ ngữ thì não phải nhạy bén với màusắc và hình dạng Chính vì vậy các từ khóa trên bản đồ có thể được thể hiệnbởi các hình ảnh, mật mã, ký hiệu… và đường nối thường được biểu thịbằng rất nhiều màu sắc, điều này giống như một cách kích thích cho các báncầu não cùng hoạt động phối hợp với nhau và tạo hứng thú cho người vẽcũng như người sử dụng bản đồ tư duy đó Các nơron thần kinh sẽ nảy nởnhững ý tưởng sáng tạo, trí tưởng tượng của chúng ta sẽ rộng mở
Bản đồ Tư duy làm cho ta thấy thích nhìn, đọc, suy tưởng và nhớ lại
Bản đồ Tư duy cũng là tấm bản đồ tuyệt vời cho trí nhớ Nó cho phép bạn
tổ chức các sự kiện, các suy nghĩ theo cơ chế hoạt động tự nhiên của bộ não conngười ngay từ lúc bắt đầu Điều này có nghĩa là việc nhớ và gợi thần kinh kếtnối với nhau để cho ra các phương thức xử lí thông tin Bộ não của chúng ta làmviệc với các hình ảnh trực giác với sự kết nối phù hợp với chúng Bộ não củachúng ta sử dụng các từ ngữ để hiểu các hình ảnh và liên tưởng Chúng tạo rabức tranh ba chiều với nhiều sự liên tưởng đặc biệt mang tính các nhân củachúng ta Suy nghĩ của trí não tỏa ra theo tất cả các hướng [54, tr.42-43]
Trang 17Trong đối thoại hàng ngày, chúng ta thu thập “ngay lập tức” dòng chảyliên tục của dữ liệu dễ dàng và tinh tế đến mức ta còn không chú ý rằng bộnão của chúng ta đang làm được những việc mà ngay cả những người chế tạo
ra các siiêu máy tính của thế giới cũng chỉ dám mơ ước chúng ta mỗi ngườiđều có một siêu máy tính tuyệt vời nhất và nó ở ngay tronmg đầu mỗi chúng
ta Đó cũng chính là sức mạnh “siêu máy tính” mà Bản đồ Tư duy mang lại.Các Bản đồ Tư duy là sự phản ánh quá trình tư duy và khả năng thu nhận
hình ảnh của bộ não Đây là cơ chế hoạt động của bộ não chúng ta: Hình ảnh với các mạng lưới Liên tưởng Đây là cơ chế hoạt đọng của Bản đồ Tư duy: Hình ảnh với các mạng lưới Liên tưởng [54 tr 44-45]
Như vậy, Bản đồ Tư duy hoạt động dựa trên chính các nguyên tắc hoạtđộng của não bộ chúng ta, cơ quan có khả năng hoạt động tuyệt vời nhất trong cơthể chúng ta Do đó, Bản đồ Tư duy có khả năng xử lí thông tin cực kì hiệu quả
1.1.4 Phương thức thành lập Bản đồ Tư duy
1.1.4.1 Bảy bước để tạo nên Bản đồ Tư
duy Bước 1: Tạo trung tâm
Bắt đầu từ trung tâm của một tờ giấy trắng và kéo sang 1 bên Chúng ta bắt đầu từ trung tâm là vì bắt đầu từ trung tâm cho bộ não của chúng ta, sự tự
do để trải rộng một cách chủ động và thể hiện phóng khoáng hơn, tự nhiên
hơn [54 tr 46] Bước 2: Dùng hình ảnh cho ý tưởng trung tâm
Dùng một hình ảnh hay bức tranh cho ý tưởng trung tâm của Bản đồ Tưduy mà ta đã bắt đầu tạo ra Chúng ta dùng hình ảnh hay bức tranh cho ýtưởng trung tâm bởi vì một hình ảnh có giá trị tương đương cả nghìn từ vàgiúp bạn sử dụng trí tưởng tượng của mình Một hình ảnh trung tâm thú vịhơn, giúp bạn tập trung vào những điểm quan trọng và làm bộ não của bạnphấn chấn hơn [54 tr 46]
Bước 3: Luôn sử dụng màu sắc
Chúng ta cần luôn sử dụng màu sắc vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não
Trang 18như hình ảnh Màu sắc mang đến cho Bản đồ Tư duy những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo.[54 tr
46-47] Bước 4: Kết nối các nhánh
Nối các nhánh chính tới hình ảnh trung tâm và nối các nhánh cấp hai,cấp ba với nhánh cấp một và cấp hai…Như chúng ta đã biết, bộ não củachúng ta làm việc bằng sự liên tưởng Khi chúng ta nối các nhánh với nhau,chúng ta sẽ hiểu và nhớ mọi thứ dễ dàng hơn nhiều
Sự kết nối các nhánh chính cũng tạo nên hay thiết lập cấu trúc nền tảng trong những suy nghĩ của chúng ta Điều này rất giống với phương thức mà cây trong thiên nhiên nối các nhánh toả ra từ thân của nó Nếu như còn có chỗ thiếu sót giữa thân và các nhánh chính của nó hoặc giữa các nhánh chính và nhánh bé hơn, với nhánh nhỏ thì tự nhiên sẽ không phát triển đúng như nó đang có nữa Không có kết nối trong Bản đồ Tư duy của bạn thì mọi thứ (đặc
biệt là trí nhớ và kiến thức của chúng ta ) sẽ rời rạc [54 tr 47] Bước 5: Vẽ
nhiều nhánh cong hơn đường thẳng
Chúng ta cần vẽ nhiều nhánh cong hơn đường thẳng bởi vì chẳng có gì mang lại sự buồn tẻ cho não hơn các đường thẳng Giống như các nhánh cây, các đường cong có tổ chức sẽ lôi cuốn và thu hút được sự chú ý của mắt hơn
rất nhiều.[54 tr 48] Bước 6: Sử dụng một từ khoá trong mỗi dòng
Bởi các từ khoá mang lại cho Bản đồ Tư duy của chúng ta nhiều sức mạnh và khả năng linh hoạt cao Mỗi từ hay mỗi hình ảnh đơn lẻ giống như một cấp số nhân, mang đến những sự liên tưởng và liên kết của nó diện mạo đặc biệt Khi chúng ta
sử dụng những từ khoá riêng lẻ, mỗi từ khoá đều không bị ràng buộc, do vậy nó có khả năng khơi dậy các ý tưởng mới, các suy nghĩ mới Các cụm từ hoặc các câu đều mang lại tác động tiêu cực Một Bản đồ Tư duyvới nhiều từ khoá bên trong giống như một bàn tay với nhiều ngón tay cùng làm việc Ngược lại, mỗi Bản đồ Tư duy
có nhiều cụm từ hay nhiều câu lại giống như một bàn tay mà tất cả các ngón tay đều
bị giữ trong những thanh nẹp cứng nhắc [54 tr 48]
Trang 19Bước 7: Dùng những hình ảnh xuyên suốt
Chúng ta dùng các hình ảnh xuyên suốt Bản đồ Tư duy vì chúng cũng giống như hình ảnh trung tâm, mỗi hình ảnh cũng có giá trị của một ngàn từ
Vì vậy, nếu chúng ta chỉ có mười hình ảnh trong Bản đồ Tư duy của mình thì
nó đã ngang bằng với mười nghìn từ của những lời chú thích [54 tr 49]
1.1.4.2 Thí dụ cụ thể về sáng tạo Bản đồ Tư duy
Chúng ta thực hiện sáng tạo Bản đồ Tư duy đầu tiên với chủ đề “Hoaquả” là một chủ đề rất dễ hiểu và dễ tưởng tượng
Cấp độ 1
Đầu tiên, lấy một tờ giấy trắng và vài chiếc bút màu Xoay tờ giấy theochiều ngang khiến nó trông rộng hơn Tại trung tâm của tờ giấy, bạn vẽ mộthình ảnh của Hoa quả mà bạn hình dung trong đầu Sử dụng bút màu tô theo ýthích của bạn [54 tr 49]
Cấp độ 2
Sau đó, vẽ vài nhánh to, toả ra từ hình ảnh Hoa quả trung tâm Sử dụng một màu khác cho mỗi nhánh Những nhánh đó sẽ diễn tả những suy nghĩ chính của chúng ta về “Hoa quả” đó Chúng ta có thể đưa vào bao nhiêu nhánh tuỳ ý khi chúng ta tạo bản đồ Tư duy nhưng để dễ hiểu, chúng ta giới hạn số nhánh đó là 5.Trên mỗi nhánh, ghi bằng các chữ in hoa to, rõ ràng năm từ khoá đầutiên chợt nảy ra trong đầu chúng ta khi ta nghĩ tới chủ đề “Hoa quả”
Ngay lúc này, chúng ta có thể thấy Bản đồ Tư duy của chúng ta trướchết là sản phẩm của các đường kẻ và các từ Vì vậy, chúng ta có thể phát triển
nó, làm cho nó tốt hơn bằng cách thêm vào cho nó những thành phần quantrọng của các bức tranh và các hình ảnh từ trí tưởng tượng của chúng ta
“Một bức tranh có giá trị bằng một ngàn từ” Do vậy sẽ tiết kiệm nhiều thờigian và năng lượng lãng phí để viết hàng ngàn từ trong lời chú giải của chúng
ta Đồng thời cũng dễ nhớ hơn
Đối với mỗi từ khoá, chúng ta vẽ theo một bức tranh ngay bên cạnh để
Trang 20diến tả và nhấn mạnh nó Dùng các bút màu và một chút tưởng tượng củachúng ta Không cần phải là một tác phẩm nghệ thuật mà chỉ cần lột tả được ýtưởng của chúng ta [ 54 tr 50- 52]
Cấp độ 3
Bây giờ, hãy sử dụng sự liên tưởng để mở rộng Bản đồ Tư duy này trong phạm vi tiếp theo của nó Trở lại với Bản đồ Tư duy của chúng ta, nhìn lại năm từ khoá mà chúng ta đã đặt trên nhánh chính Các từ khoá này sẽ khuấy động những
ý tưởng xa hơn trong đầu chúng ta Ví dụ như, nếu nói rằng chúng ta nói đến từ
“quả cam” thì chúng ta có thể nghĩ đến màu sắc, đến nước ép, đến vitamin C,…
Vẽ các nhánh xa hơn từ mỗi từ khoá sao cho phù hợp với những liên tưởng
mà chúng ta đã tạo ra Hơn nữa, số nhánh mà chúng ta có hoàn toàn phụ thuộc vào
số ý tưởng mà chúng ta đã đưa ra - số ý tưởng này có thể là vô hạn Tuy nhiên, để đơn giản, dễ hiểu thì chúng ta chỉ vẽ 3 nhánh con Trên các nhánh con này, chúng
ta thực hiện đúng như đã làm ở giai đoạn đầu: viết ra rõ ràng các từ điền vàocác nhánh này Sử dụng các từ chính trên nhánh để mô tả ba từ khoá mới củachúng ta Sau đó chúng ta sẽ tô màu và đưa hình ảnh lên các nhánh con này.Như vậy là Bản đồ Tư duy về “Hoa quả” đã được hoàn thành Chúng tanhận thấy một Bản đồ tư duy hoàn thiện chứa đựng rất nhiều các biểu tượng,
mã, đường kẻ, nhiều từ, nhiều màu sắc và hình ảnh Bản đồ Tư duy diễn đạttất cả các đường chỉ đạo mà chúng ta cần thiết phải đặt ra để có được phầnlớn kết quả mong muốn [54 tr 52-54]
1.1.5 Bản đồ Tư duy trên máy tính
Máy tính có thể rất hữu ích khi chúng ta vẽ Bản đồ Tư duy Mặcdù vẫn
là não chúng ta đưa ra các ý tưởng , xong các phần mềm mới nhất có thể chophép chúng ta vẽ một Bản đồ Tư duy trên màn hình máy tính Chúng ta có thểghi thông tin này trong một tài liệu và sau đó chuyển giao thông tin này tớinhững người khác Bản đồ Tư duy trên máy tính cho phép chúng ta lưu trữmột số lượng các dữ liệu vô cùng lớn trong mẫu Bản đồ Tư duy sẵn có, để bổ
Trang 21sung những lời chỉ dẫn tham khảo từ những dữ liệu đó, để luân phiên cácnhánh từ một phần của Bản đồ Tư duy tới các phần khác, từ đó có thể bố trílại toàn bộ Bản đồ Tư duy nhằm làm sáng tỏ thông tin mới.
Hiện nay, nhiều công ty đang sử dụng Bản đồ Tư duy trên máy tính đểlưu trữ và chia sẻ thông tin giúp cho các dự án đi đúng hướng Việc sử dụngBản đồ Tư duy trên máy tính cùng với Bản đồ Tư duy vẽ tay là sự kết hợpmang lại hiệu quả to lớn
Hơn nữa, Bản đồ tư duy có thể kết hợp phần mềm Powerpoint (phần mềmdành riêng cho thuyết trình) để tạo hiệu quả cao trong thuyết trình hay tronggiảng dạy Thực tế, trong mỗi bài giảng bằng phần mềm Powerpoint, học sinhthường chờ đợi những hình ảnh tân tién nhất Những Bản đồ Tư duy máy tínhhay bất kì Bản đồ Tư duy nào cũng đều tránh cho chúng ta phải liệt kê một loạtcác từ và cụm từ quan trọng theo từng hàng khiến cho học sinh cảm thấy nhàmchán Trong thực tế, thuật ngữ Powerpoint khá dễ hiểu, nó có nghĩa là một mạnghợp nhất các ý tưởng và hình ảnh chủ đạo Do đó có thể nói rằng Bản đồ Tư duy
là một công cụ thuyết trình Powerpoint và chúng luôn thu hút được hoạc tròquan tâm khiến học sinh có thể dễ dàng thu thập, sáng tạo và phát triển các luồngthông tin Các chương trình Bản đồ Tư duy như “Mind Genius”có thể giúpchúng ta xây dựng một Bản đồ Tư duy điện tử sinh động nhất Ngoài ra còn cócác phần mềm khác như Imind maps, Freemind… Bắt đầu bằng việc xây dựngmột Bản đồ Tư duy gốc (cái nhìn tổng quát của bạn) về chủ đề Mỗi ý tưởng cơbản (các nhánh chính) sẽ tự động chuyển thành những tiêu đề chính của bài học.theo mỗi nhánh này, sẽ có những Bản đồ tư duy chi tiết hơn xây dựg từ nó.Trong rất nhiều trường hợp, chúng ta sẽ thấy để phát triển được những nhánhchính của Bản đồ Tư duy, chúng ta cần tìm hiểu sâu hơn về những chi tiết nhỏ.Quá trình này có thể tiếp diễn cho đến khi chúng ta có một cái nhìn đầy đủ nhất.Phần mềm Bản đồ Tư duy trên máy tính cho phép chúng ta thành lập Bản đồ Tưduy với 30 cấp độ
Trang 221.1.6 Sử dụng Bản đồ Tư duy trong dạy học
Trong học tập, Bản đồ Tư duy giúp bạn hiểu sâu hơn, nhớ lâu hơn, ghi chépnhàn hơn và có nhiều phát biểu sáng giá hơn Sử dụng Bản đồ Tư duy, học sinh
sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và pháttriển tư duy Không những thế, từ đó giáo viên sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng
sự linh hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất là sẽ giúp học sinh nắm đượckiến thức thông qua một "bản đồ" thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu,nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngônngữ của mình Vì vậy việc sử dụng Bản đồ Tư duy giúp học sinh học tập mộtcách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não
Không những thế, để thiết lập nên một Bản đồ Tư duy, các học sinh sẽ phải
sử dụng đến bố cục màu sắc, đường nét, các nhánh hay cả việc sắp sếp các ý saocho vừa súc tích, trực quan, dễ hiểu và dễ tiếp thu Từ đó góp phần giúp các
em phát triển khả năng thẩm mỹ, việc sắp xếp ý tưởng một cách khoa học
Sử dụng Bản đồ Tư duy dẫn đến việc các em tự chiếm lĩnh kiến thứcmột cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng lại rất hiệu quả, đồng thời kích thíchhứng thú học tập của học sinh
Từ Bản đồ Tư duy, các học sinh hay nhóm học sinh có thể thảo luận đểgóp ý, bổ sung bằng cách vẽ thêm đường nhánh, ghi thêm chú thích, rồithảo luận chung trước lớp để cùng hoàn thiện cũng như nâng cao kỹ năng vẽBản đồ Tư duy cho các em
Giáo dục đúng nghĩa phải là môi trường học tập an toàn và bình đẳng, thânthiện và dân chủ, tạo được hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em cảm nhậnđược sự thoải mái khi việc học tập của mình vừa gắn với kiến thức cơ bản củachương trình, vừa thông qua sự thâm nhập, trải nghiệm của chính bản thân trongcác hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các hoạt động tập thể vui mà học
Cách áp dụng Bản đồ Tư duy trong học tập sẽ góp phần mang lại nhiềukết quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của học sinh và
Trang 23phương pháp giảng dạy của giáo viên Từ đó, tạo điều kiện điều kiện thuậnlợi cho mỗi học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tậpcũng như có được những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống.
Trong chương “Chuyển hoá vật chất và năng lượng ở động vật”, chúng
ta hoàn toàn có thể áp dụng triệt để Bản đồ Tư duy để thiết kế và giảng dạymỗi bài học Mỗi khi bắt đầu một chủ đề mới, chúng ta yêu cầu học sinh ghicác từ khoá vào một tờ giấy trắng và từ đó vẽ các nhánh với những từ liênquan để chi tiết hoá các ý tưởng, kiến thức và sự hiểu biết của các em về chủ
đề Vẽ Bản đồ Tư duy là một quá trình dễ làm nhưng cũng đầy thử thách,điều đó sẽ làm cho các em thích thú với quá trình đó cũng như khi các emhăng hái cùng nhau đóng góp ý kiến về một vấn đề Chúng ta cũng hoàn toàn
có thể sử dụng Bản đồ Tư duy trong việc chữa các bài tập cho học sinh vàtrong khâu kiểm tra bài cũ của mỗi tiết học
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Quan điểm xây dựng chương trình và SGK Sinh học mới:
Từ năm học 2002 -2003 Bộ giáo dục đào tạo đã đã triển khai đại tràchương trình và SGK mới ở bậc THPT Chương trình và SGK Sinh học mới
đã được viết lại trên quan điểm mới, trong đó đi sâu vào đổi mới phươngpháp dạy và học trong nhà trường:
- Bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, hiện đại, kĩ thuật tổng hợp và thiết thực:chương trình mới đảm bảo những nội dung kiến thức cơ bản của môn học, đồngthời cập nhật những vấn đề mới, phản ánh những thành tựu nổi bật của côngnghệ sinh học trong thời gian qua và vấn đề môi trường có tính toàn cầu
- Quán triệt quan điểm sinh thái và tiến hóa: Các đối tượng tìm hiểu cầnđược đặt trong mối quan hệ mật thiết giữa cấu tạo và chức năng, giữa cơ thể
và môi trường Các sinh vật về cơ bản được trình bày theo hệ thống tiến hóa
từ nhóm có tổ chức đơn giản đến nhóm có tổ chức phức tạp Các cấp độ tổchức sống được trình bày từ các hệ nhỏ đến các hệ lớn
-Cấu trúc chương trình THCS và THPT: Chương trình được thiết kế
Trang 24theo mạch kiến thức và theo kiểu đồng tâm, mở rộng qua các cấp học Cáckiến thức SH ở bậc THCS đề cập tới các đối tượng cụ thể, chương trìnhTHPT được trình bày theo các cấp tổ chức sống, từ các hệ nhỏ đến các hệlớn: tế bào→ cơ thể→ quần thể→ loài→ quần xã→ hệ sinh thái- sinh quyển.Các kiến thức trình bày trong chương trình là nhữn kiến thức sinh học đạicương, chỉ ra những nguyên tắc tổ chức, những qui luật vận động chung chogiới sinh vật Quan điểm này được thể hiện theo các ngành nhỏ trong SH: Tếbào học, Di truyền học, Tiến hóa, Sinh thái học đề cập những qui luật chung,không phân biệt từng nhóm đối tượng.
- Phản ánh phương pháp đặc thù của môn học: tăng cường quan sát, thínghiệm thực hành nhằm đào tạo những kỹ năng TN cơ bản và tích cực hóahoạt động của HS
- Thể hiện sự tích hợp các mặt giáo dục và quan hệ liên môn: Chươngtrình thể hiện tính liên môn cao với các bộ môn khác như Công nghệ, Hóahọc, Vật lý , đồng thời tích hợp giáo dục các nội dung về bảo vệ môi trường,bảo vệ sức khỏe sinh sản
1.2.2 Thực trạng việc dạy học Sinh học ở một số trường THPT thuộc tỉnh Vĩnh Phúc hiêṇ nay
Nhằm taọ cơ sởthưcc̣ tiêñ cho đềtài , chúng tôi đã tiến hành khảo sát thựctrạng DH Sinh học ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
- Mục tiêu khảo sát:
+ Đanh gia mưc đô c̣nhâṇ thưc cua GV vềtầm quan trọng của việc đưa
các phương pháp dạy học mang tính gợi mở tri thức vào trong các giờ học
+ Tìm hiểu quy trình chuẩn bị và tiến hành hoạt động DH trên lớp ,các phương pháp và kỹ thuật DH của GV , đồdùng DH trưcc̣ quan thường
được sử dụng trong DH Sinh học tại trường THPT
+ Khảo sát tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong DH Sinh
học ở trường THPT
Trang 25- Đối tượng khảo sát : 35 GV hiêṇ đang trưcc̣ tiếp giảng daỵ môn Sinh hocc̣ tại các trường THPT tại tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phương pháp tiến hành : Phỏng vấn và phát phiếu điều tra trực tiếp
- Kết quảđiều tra khảo sát của chúng tôi thu đươcc̣ như sau :
Bảng 1.1: Kết quả điều tra GV về thực trạng DH sinh học ở trường THPT
Nôịdung câu hoi khao sa t
- Giải thích, minh họa
- Sử dụng phương tiện trực quan
Trang 27-19-Theo kết qua trong bang trên , chúng ta có thể thấy thực trạng DH mônSinh hocc̣ noi chung va DH Sinh hocc̣ noi riêng co nhưng vấn đềsau :
̉́
- Hiện tại đa số các thầy cô vẫn sử dụng các phương pháp dạy họctruyền thống như : thuyết trình giảng giải,giải thích và minh hoạ, làm việc vớisách giáo khoa tài liệu tham khảo Những phương thức này chỉ có thể làmđầy bộ nhớ học sinh chứ không cho học sinh một tư duy sáng tao
- Một số giáo viên tiến bộ hơn thì đã có những phương thức mang tínhtích cực hơn như : sử dụng phương tiện trực quan, sử dụng tình huống có vấn
đề, sử dụng Grap, tích hợp kiến thức, tổ chức làm việc nhóm DH hệ thốnghóa kiến thức Những phương pháp này có tiến bộ , có gợi mở được tri thứccho học sinh nhưng chưa cho học sinh có độ sáng tạo vô hạn
- Rất ít giáo viên dạy học sử dụng Bản đồ Tư duy và dạy học theo dự
án Các phương pháp này có khả năng cho học sinh tự hoạch định vấn đề, tựtạo ra độ sáng tạo vô hạn cho bản thân trong mọi vấn đề
Về tình hình cơ sở vật chất, đồ dùng DH, giáo cụ trực quan 78 % GVđược hỏi đều cho biết đồ dùng DH hiện nay trong trường khá đầy đủ và cóthể sử dụng bình thường, 30% trong số đó cho biết hầu hết các thiết bị đềumới được nhập về trường trong năm học vừa rồi nên còn rất mới, và đủ cả 3khối lớp, chỉ có 22% cho biết mới có một số đồ dùng đã được đưa về trườngnăm vừa rồi, còn lại hầu hết là đồ dùng đã cũ, trong số đó rất nhiều cái khôngthể sử dụng được nữa 100% GV trả lời nhà trường đã có đủ máy tính, máychiếu để phục vụ DH, tuy nhiên 20% GV cho biết máy tính và máy chiếu rấthay bị hỏng, hoặc chất lượng không tốt
Khi được hỏi về mức độ thường xuyên sử dụng đồ dùng DH, 67 % GV chobiết đồ dùng DH ở trường ít khi được sử dụng, thậm chí 38% GV cho biếtkhông thường xuyên cho HS thực hiện bài thực hành theo phân phối chương
Trang 28trình, mặc dù số tiết thực hành môn sinh học không nhiều Lý do được đưa ranhiều nhất là vì mặc dù đã có cán bộ thí nghiệm giúp đỡ, nhưng GV vẫn cótâm lý không coi trọng các bài thực hành.
Khi soạn giáo án và chuẩn bị bài mới, chỉ có 46% GV cho biết thỉnh thoảng
có chuẩn bị sử dụng đồ dùng trực quan vào DH, 25% GV thường không sử dụng
đồ dùng DH trên lớp, trừ khi dự giờ hoặc thao giảng 64 % GV nếu sử dụng đồdùng DH trên lớp thì chỉ để minh họa cho bài giảng của mình để HS dễ hiểu, chỉ
có một số ít GV khẳng định có sử dụng đồ dùng trực quan vào việc khai tháckiến thức cho HS, kích thích các em phân tích và giải quyết nhiệm vụ bài học.Chính vì vậy, 60% GV cho rằng sử dụng đồ dùng DH, giáo cụ trực quan trên lớp
có hiệu quả hơn, nhưng là để giúp cho HS hiểu hơn những gì GV thuyết trình,
và đỡ công sức cho GV khi giảng giải kiến thức Chỉ có 14% GV khẳng định nếucho HS làm việc độc lập với giáo cụ trực quan và hướng dẫn các em thảo luận sẽđem lại hiệu quả rất tốt cho giờ học
Về khả năng ứng dụng công nghệ thông tin: 86% GV có thể sử dụngMicrosoft word để soạn thảo văn bản, nhưng chỉ có 57% GV khẳng định có thể
tự soạn một bài trình chiếu sử dụng trên lớp Công cụ được sử dụng phổ biếnnhất là powerpoint (60%), và violet (40%) Khi được hỏi về sử dụng internet, có14% GV thừa nhận chưa bao giờ sử dụng internet, 57% GV có sử dụng internetthường xuyên, trong đó chủ yếu là để đọc báo, tham khảo giáo án, gửi và nhậnthư điện tử Chỉ có một số ít GV khẳng định có thể khai thác hầu hết các tàinguyên từ internet cho việc DH Qua điều tra, chúng tôi cũng nhận thấy có nhiềutrường THPT đang cố gắng đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào
DH, khuyến khích các thầy cô sử dụng các bài giảng điện tử, tuy nhiên thực tế sốlượng giờ học ứng dụng công nghệ thông tin chưa nhiều 57% GV thừa nhậnchưa dạy giờ nào trong năm học này bằng máy tính và máy chiếu, kể cả chỉ để
hỗ trợ bài học như một giáo cụ trực quan Chỉ có
Trang 2920% GV đã dạy khoảng 5 tiết có sử dụng sự hỗ trợ của công nghệ thông tin.Chính vì vậy khi được yêu cầu nhận xét về lợi ích của công nghệ thông tinđem lại, 18% GV thực sự ủng hộ việc ứng dụng công nghệ thông tin vào DH
vì cho rằng nó đem lại hiệu quả cao, còn 53% GV cho rằng thực chất việc ứngdụng công nghệ thông tin đem không đem lại hiệu quả như mong đợi Theochúng tôi điều này cũng rất dễ giải thích vì khả năng làm chủ công nghệ của
GV chưa cao, nên hiệu quả sử dụng nó vào DH còn nhiều hạn chế là tất nhiênQua nhưững con sốtrên , chúng ta có thể nhận thấy bản thân các GV hiệnđang daỵ môn Sinh hocc̣ taịcác nhàtrường cũng không nhâṇ thức đúng vai trò của phương thức dạy học trong viêcc̣ linhữ hôịtri thức cũng như phát triển
tư duy cho HS, vì vậy ch ất lượng của hoạt động DH cũng khó có thể đem lại hiêụ quảnhư mong muốn
1.2.3 Thái độ học tập và mức độ nắm vững kiến thức Sinh học của HS
- Phương pháp tiến hành : Phỏng vấn và phát phiếu điều tra trực tiếp
- Kết quả điều tra khảo sát của chúng tôi thu được như sau :
Trang 30Bảng 1.3: Kết quả điều tra thái độ học tập và mức độ
nắm vững kiến thức Sinh học của HS
1 Thái độ với môn học:
- Yêu thích môn học
- Chỉ coi môn học là một nhiệm vụ
- Không hứng thú với môn học
2 Kết quả học tập năm học trước:
- Học bài cũ, trả lời những câu hỏi và bài tập giao về nhà
- Không học bài cũ vì không hiểu bài
- Học bài cũ nhưng chỉ học thuộc lòng một cách máy móc
- Không học bài cũ vì không thích học môn Sinh học
- Nghiên cứu trước bài học theo nội dung hướng dẫn củaGV
- Tự đọc nội dung, tìm hiểu các kiến thức trong bài họcngay cả khi không có nội dung hướng dẫn của GV
- Tìm đọc thêm các tài liệu có liên quan ngoài SGK để nắmvững hơn các kiến thức
- Xem nội dung trả lời các câu hỏi/bài tập ở các tài liệu đểkhi GV hỏi có thể trả lời được nhưng không hiểu gì
Trang 31- Không chuẩn bị gì cả
- Suy nghĩ để trả lời câu hỏi GV đặt ra
- Nghe bạn trả lời để nhận xét và đánh giá
- Chuẩn bị câu trả lời của mình để bổ sung ý kiến cho bạn
- Không suy nghĩ gì vì dự đoán không bị gọi lên bảng
- Xem lại bài để đối phó nếu bị GV gọi lên bảng
- Suy nghĩ cách trả lời câu hỏi / bài tập va hăng hai tham
gia phat biểu
- Hiểu nhưng không vận dụng được các kiến thức
- Học thuộc lòng nhưng không hiểu bản chất
- Không thuộc và không hiểu bản chất của kiến thức
Tư kết qua khao sat, chúng tôi có một số nhâṇ xet như sau :
Vềphương phap hocc̣ tâpc̣, đa sốHS chi lam bai tâpc̣
hỏi và bài tập GV đã giao cho
vẹt, đocc̣ thuôcc̣ lòng mànhiều khi không hiểu gì cả 28,75% HS không bao giờ
Trang 32học bài cũ Có 6,25% HS chuẩn bi c̣bài mới trước khi đến lớp nếu GV hướng
dâñ trước, 2,25% HS xem nội dung trả lời các câu hỏi/bài tập ở các tài liệu để
khi GV hỏi có thể trả lời được nhưng không hiểu gì 3,5% HS chủđôngc̣ chuẩn bị
bài , và chỉ có 2% HS tham khảo thêm các tài liêụ khác đểchủđôngc̣ nắm
vưng cac KN SốHS thưa nhâṇ không bao giơ chuẩn bi c̣trươc bai hocc̣ la 18%
Trong giơ hocc̣, khi GV kiểm tra kiến thưc cu , có tới 13,25 % HS thương
có thái độ không chú ý , thâṃ chi không biết GV đang hoi gi
lơi se giơ laịvơ đểtim câu tra lơi vi trươc đo chưa hocc̣ bai
% HS se suy nghi tim câu tra lơi va 27,5 % HS co c hú ý tới câu trả lời của
̉ữ
bạn để nhận xét bổ xung
Trong giơ hocc̣ trên lơp, khi GV
trả lời câu hỏi, tuy nhiên vâñ cótới 22,25 % HS cóthái đô c̣thu c̣đôngc̣, không suy
nghĩ, chờbaṇ khác hoặc GV trả lời hộ Như vâỵ cóthểthấy viêcc̣ phát huy tinh́
tích cực chủ động của HS trong giờ học còn nhiều hạn chế , viêcc̣ tiếp thu kiến
thức của HS còn mang tinh́ thu c̣đôngc̣, vì vậy rất dễ hiểu là hiệu q uả của giờ học
không cao 56,75% HS hiểu các kiến thức Sinh hocc̣ môṭcách máy móc theo cách
học thuộc lòng nhưng không nắm được bản chất kiến thức, do vâỵ không
thểsử dungc̣ kiến thức đa ữhocc̣ đểtư duy hay tiếp thu môṭ kiến thức mới 18,5%
HS thâṃ chi không hềnhơ hầu hết cac kiến thức sinh hocc̣ đa hocc̣ trong chương
̉́
trình vì không hiểu và cũng không học thuộc lòng cáckiến thức
Tư nhưng thưcc̣ trangc̣ đo ,
thông qua sổđiểm chinh cua nha trương Trong năm hocc̣
25% HS đaṭloaịgioi môn Sinh hocc̣
kém lên tới 11,5% Nhưng con sốtrên cho thấy viêcc̣ daỵ va hocc̣ Sinh hocc̣trong nha trương con nhiều bất
nguyên nhân như từ phiá GV , HS, chương trinh̀ đào taọ… Chúng tôi cho rằng
các phương pháp giảng dạy môn Sinh học trong nhà trường THPT hiện nay
Trang 33chưa thu hút được học sinh quan tâm tới môn Sinh học cũng như chưa pháthuy được tính sáng tạo, khả năng tự tổ chức học tập của học sinh Chúng tôicũng cho rằng các phương pháp mới như phương pháp dạy học theo dự án,phương pháp sử dụng Bản đồ Tư duy trong dạy học sẽ cho hiệu quả cao hơn.
1.2.4 Cấu trúc chương trình và nội dung kiến thức chương “Chuyển hoá vật chất và năng lượng ở động vật”
Chương “Chuyển hoá vật chất và năng lượng ở động vật ”chương trìnhSinh học 11 – Ban nâng cao gồm có 7 tiết, trong đó có 6 tiết lý thuyết và 1 tiếtthực hành Các bài này đề cập đến các vấn đề cụ thể như sau:
Bài 15: Tiêu hoá
Bài này đề cập đến khái niệm về tuêu hoá; tiêu hoá ở các nhóm động vậtkhác nhau; đặc biệt là nhóm động vật ăn thịt và ăn tạp
Bài 16: Tiêu hoá (tiếp theo)
Bài này đề cập đến vấn đề tiêu hoá ở động vật ăn thực vật, đặc biệt lưu ýtới biến đổi Sinh học ở động vật nhai lại
Bài 17: Hô hấp
Bài này đề cập đến khái niệm về hô hấp; trao đổi khí giữa cơ thể với môitrường ở các nhóm động vật; vận chuyển oxi, cacbonic trong cơ thể và traođổi khí ở tế bào (hô hấp trong)
Bài 18: Tuần hoàn
Bài này đề cập đến vấn đề tiến hoá của hệ tuần hoàn; nêu rõ về hệ tuầnhoàn hở và hệ tuần hoàn kín
Bài 19: Hoạt động của các cơ quan tuần hoàn
Bài này đề cập đến vấn đề quy luật hoạt động của tim và hệ mạch; điềuhoà hoạt động tim - mạch
Trang 34Bài 20: Cân bằng nội môi
Bài này đề cập đến khái niệm và ý nghĩa của cân bằng nội môi;cơ chế đảm bảo cân bằng nội môi
Sách giáo khoa trình bày theo hướng tiến hoá của từng hệ cơ quan ở cácnhóm sinh vật khác nhau sau đó mới đi vào cấu trúc từng hệ cơ quan Đây làthuận lợi rất lớn để sử dụng Bản đồ Tư duy dạy học chương này bởi chúng
dễ sơ đồ hoá dưới dạng Bản đồ Tư duy trong cả các kiến thức mới cũng nhưtrong các bài tập luyện tập Đồng thời khi sử dụng các Bản đồ Tư duy trongcác bài này cũng sẽ làm cho học sinh dễ hiểu, dễ phát huy tính sáng tạo cũngnhư phát huy tính hệ thống trong suy nghĩ của các em
Từ những cơ sở trên, chúng tôi nghiên cứu đưa Bản đồ Tư duy vào sửdụng trong thiết kế và giảng dạy chương “Chuyển hoá vật chất và nănglượng ở động vật”
Trang 35Chương 2: SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY THIẾT KẾ CÁC BÀI GIẢNG CHƯƠNG “CHUYỂN HOÁ VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG Ở ĐỘNG VẬT” - SINH HỌC 11
2.1 Sử dụng trong dạy mới một mục, một bài hay một chương
2.1.1 Phương thức sử dụng Bản đồ Tư duy trong dạy mới một mục, một bài hay một chương
Giảng dạy Sinh học trong trường trung học phổ thông hiện nay, hìnhthức phổ biến là giáo viên hệ thống nội dung trong sách giáo khoa thành các ýmột cách rõ ràng mạch lạc; sau đó dùng các phương pháp thuyết trình đểgiảng giải cho học sinh nội dung đã phân tích Hình thức tích cực hơn là giáoviên soạn sẵn hệ thống câu hỏi theo cấu trúc nội dung; sau đó dạy theo hìnhthức vấn đáp Ngay khi dạy học bằng hình thức vấn đáp, học trò vẫn ở trạngthái bị động vì khi học sinh chưa nắm được nội dung tổng thể của bài họcnhưng đã phải trả lời các câu hỏi của thầy Vậy nênđể phát huy hết năng lựchọc tập của học sinh trong giờ học, giáo viên nên cho học sinh sử dụng Bản
đồ Tư duy để sơ đồ hoá toàn bộ các hoạt động trọng tâm của bài học troingmột sơ đồ Tư duy Đây chính là hoạt động sử dụng Bản đồ Tư duy trong dạymới một mục, một bài hay một chương
Khi sử dụng Bản đồ Tư duy trong dạy mới một mục, một bài hay mộtchương, đầu tiên chúng ta nên yêu cầu học sinh đọc lướt qua chương, bài đómột lượt, biểu diễn những tiểu mục chính và những tiêu đề của các chương, bài
và các mục Các tiểu mục này sẽ là những nhánh chính của Bản đồ Tư duy, sẽtoả ra từ hình ảnh ở chính giữa Hình ảnh ở trung tâm thể hiện tên chương, bàihoặc mục đó Với cấu trúc như vậy, chúng ta có thể điền thêm vào Bản đồ Tưduy các chi tiết trong khi chúng ta dạy mới kiến thức của các phần này
Bản đồ Tư duy - bản thân nó đã là một hệ thống tự sắp xếp và tổ chứctốt, sẽ nắm được diễn tiến của chương, bài, mục; tăng khả năng hiểu và đọc
Trang 36hiểu, giúp học sinh học tập nhanh chóng và thú vị hơn, nhất là tăng cường khả năng nhớ cũng như phát huy tính sáng tạo cho học sinh.
2.1.2 Quy trình sử dụng Bản đồ Tư duy trong dạy mới một chương, bài, mục kiến thức mới
Học sinh đọc nội dung kiến thức mới và tóm lược nội dung
Xây dựng từ khoá và hình ảnh trung tâm
Phát hiện các ý tương ứng các nhánh của Bản đồ Tư duy
Tô màu và đưa ra hình ảnh minh hoạ cho Bản đồ Tư duy
2.1.2.1 Học sinh đọc bài và tóm lược nội dung
Bước này có vai trò quan trọng là:
- Giúp học sinh có cái nhìn bao quát về mặt nội dung của kiến thức
toàn mục, toàn bài hoặc toàn chương Từ đó học sinh có thể có được mộthình ảnh trung tâm và các ý tưởng chi tiết của Bản đồ Tư duy để hình thànhmột hệ thống Bản đồ Tư duy cho bài học
- Giúp học sinh quen dần với việc đọc nhanh, nhớ nhanh và đưa ra ý tưởng mạch lạc cho một chương, bài, mục kiến thức
Tiến trình thực hiện như sau:
Trang 37Giáo viên yêu cầu chuẩn bị sẵn sách giáo khoa và bút chì; tự đọc nộidung kiến thức cần phân tích Sau đó mỗi học sinh thực hiện theo cá nhân cácthao tác sau:
- Căn cứ vào nội dung, chia các mục kiến thức thành các ý, các ý có sự phân cấp lớn nhỏ rõ ràng
- Đọc lại nội dung từng ý, tìm trong đó một từ khái quát thể hiện nộidung của cả ý; sau đó dùng bút chì viết từ đó vào lề của cuốn sách giáo khoangang hàng với vị trí của ý đó trong sách (nếu trong ý đó không có sẵn từkhoá thì tự nghĩ ra một từ khái quát nội dung của cả ý)
- Xác định mối liên hệ về mặt nội dung giữa các ý và vai trò của từng ý trong việc làm rõ nội dung tổng thể của cả mục kiến thức
Phạm vi áp dụng:
- Chúng tôi nhận thấy hình thức tổ chức dạy học này nên thực hiện đốivới những bài hoặc những mục kiến thức có nhiều ý, đòi hỏi họic sinh cần hệthống và làm rõ vai trò của từng ý
- Nội dung sách giáo khoa khá đơn giản, do đó giáo viên chỉ cần tổ chứccho học sinh tóm lược nội dung của bài trong những tiết đầu giúp các em cóthể nắm vững kĩ năng Những tiết học sau đó sẽ làm nhanh bước này với mụctiêu là giúp học sinh có cái nhìn bao quát về bài học, từ đó phát hiện đượchình ảnh trung tâm và các nhánh để thành lập Bản đồ Tư duy
Giải pháp đảm bảo hiệu quả:
Trong bước này, học sinh chưa cần hiểu sâu nội dung mà chỉ cần hìnhdung được logic tổng thể của nội dung Giáo viên có thể tạo áp lực cho họcsinh bằng cách gọi một số em trình bày kết quả của mình sau khi tự đọc sách
2.1.2.2 Xây dựng từ khoá và hình ảnh trung tâm
Hình thức dạy học phổ biến hiện nay là giáo viên căn cứ trên logic nội dungbài học, xây dựng một loạt các câu hỏi và thông qua phương pháp vấn đáphướng học sinh chiếm lĩnh kiến thức theo mức độ khó tăng dần hoặc chuyển tiếp
Trang 38giữa các nội dung kiến thức Hoặc hình thức dạy học cổ điển nhất thườngđược các thầy cô có tuổi áp dụng là thuyết trình thao thao bất tuyệt những gìthuộc nội dung bài học cho học sinh nghe từ đầu tiết đến cuối tiết học Tuynhiên, theo chúng tôi, cần tổ chức cho học sinh tự xây dựng được Bản đồ Tưduy về nội dung kiến thức của mỗi bài học, trong đó bước rất quan trọng làxây dựng từ khoá và hình ảnh trung tâm Bước này có ý nghĩa quan trọng là:
- Giúp giáo viên có được thông tin phản hồi đầu tiên của các em về bàihọc Từ đó hướng dẫn các em xây dựng Bản đồ Tư duy hoàn thiện về bài họcnhằm giúp các em khắc sâu kiến thức và phát huy tính sáng tạo
- Kích thích hứng thú của học sinh vì hình ảnh và từ khoá trung tâm sẽ docác em cùng nhau đề xuất xây dựng nên chứ chúng ta không bắt buộc các emphải công nhận một cách áp đặt
Chúng tôi nhận thấy hình thức tổ chức để học sinh có thể đưa ra hìnhảnh và từ khoá trung tâm có thể theo hình thức dạy học nhóm hoặc để họcsinh hoạt động theo cá nhân đều được Tuy nhiên, tổ chức dạy học theo hìnhthức chia nhóm sẽ có phần sôi động hơn Sau đây chúng tôi đưa ra cách thứcxây dựng hình ảnh trung tâm trên cơ sở hình thức dạy học theo nhóm
Tiến trình thực hiện như sau:
- Giáo viên chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm sẽ thảo luận để đưa ra
từ khoá và hình ảnh trung tâm và viết các ý tưởng được đưa ra này ra giấy
-Sau thời gian hoạt động nhóm, giáo viên yêu cầu học sinh nộp các bản
ý tưởng, đồng thời cử đại diện các nhóm viết các ý tưởng trung tâm của nhóm
mình lên bảng
- Giáo viên cùng học sinh lựa chọn từ khoá và hình ảnh trung tâm saocho phù hợp nhất với nội dung bài học, đây là điểm khởi đầu của một bản đồ
Tư duy mà chúng ta xây dựng
Trang 40-31-Giải pháp đảm bảo hiệu quả:
Trong trường hợp không có nhóm học sinh nào đưa ra được hình ảnhtrung tâm phù hợp với nội dung bài học thì giáo viên sẽ gợi mở cho học sinh
để dẫn dắt học sinh tìm ra ý tưởng phù hợp với nội dung bài học
2.1.2.3 Phát hiện các ý tương ứng các nhánh của Bản đồ Tư duy
Trong quá trình xây dựng Bản đồ Tư duy, vấn đề cực kì quan trọng là xâydựng các ý tưởng chi tiết hay các nhánh ở các cấp độ khác nhau của bản đồ tưduy Nếu như xây dựng ý tưởng và hình ảnh trung tâm nêu bật được chủ đề củabài học thì các nhánh nhỏ hơn sẽ giúp học sinh phát hiện và ghi nhớ các kiếnthức cụ thể, các ý tưởng sáng tạo rõ ràng theo từng cấp độ khác nhau
Bước này có ý nghĩa quan trọng là:
- Giúp giáo viên có được thông tin phản hồi chi tiết của các em về bàihọc Từ đó hướng dẫn các em xây dựng Bản đồ Tư duy hoàn thiện về bài họcnhằm giúp các em phát hiện và ghi nhớ từng mục kiến thức cụ thể
- Kích thích hứng thú của học sinh vì hình ảnh và các nhánh ý tưởng chitiết sẽ do các em cùng nhau đề xuất xây dựng nên chứ chúng ta không bắtbuộc các em phải công nhận một cách áp đặt
Chúng tôi nhận thấy hình thức tổ chức để học sinh có thể đưa ra các ýtương ững các nhánh của Bản đồ Tư duy có thể theo hình thức dạy học nhómhoặc để học sinh hoạt động theo cá nhân đều được Tuy nhiên, tổ chức dạyhọc theo hình thức chia nhóm sẽ có phần sôi động hơn Sau đây chúng tôiđưa ra cách thức xây dựng các ý tưởng và hình ảnh tương ứng các nhánh củaBản đồ tư duy trên cơ sở hình thức dạy học theo nhóm
- Giáo viên chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm sẽ thảo luận để đưa racác ý tưởng tương ứng các nhánh của Bản đồ tư duy và viết các ý tưởngđược đưa ra này ra giấy