1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề hỗ trợ dạy học phần kim loại hóa học lớp 12 nâng cao trung học phổ thông

135 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 4,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các PPDH tích cực cần được vận dụng trong dạy học hóa học ở nhà trường phổ thông hiện nay thì phương pháp dạy học phát hiện và giảiquyết vấn đề đã phát huy được tính tích cực tự gi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ LÝ

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ HỖ TRỢ DẠY HỌC - PHẦN KIM LOẠI HÓA HỌC

LỚP 12 NÂNG CAO - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC

HÀ NỘI - 2012

1

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ LÝ

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ HỖ TRỢ DẠY HỌC - PHẦN KIM LOẠI HÓA HỌC

LỚP 12 NÂNG CAO - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN HÓA HỌC)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Sửu

HÀ NỘI – 2012

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Bảng điểm tổng kết các bài kiểm tra 85Bảng 3.2 Số liệu kết quả các bài kiểm tra 86Bảng 3.3 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích của các bài kiểm tra

87Bảng 3.4 Phần trăm số học sinh đạt điểm yếu kém, trung bình(TB), khá, giỏi

87

Trang 5

5

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Trang

Hình 1.1 Biểu đồ các mức thu giữ thông 10

Hình 1.2 Sơ đồ quy trình vận dụng PPDH phát hiện và giả quyết vấn đề 13

Hình 1.3 Sơ đồ các bước giải quyết vấn đề. 18

Hình 1.4 Quy trình tổ chức dạy học theo dự án 26

Hình 2.1 Sơ đồ nội dung thực hiện dự án sản xuất gang 80

Hình 3.1 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra 1. 88

Hình 3.2 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra 2. 88

Hình 3.3 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra 3 88

Hình 3.4 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra 4 89

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 5

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5

1.2 Lý thuyết nhận thức 6

1.2.1 Nội dung của thuyết nhận thức 6

1.2.2 Các nguyên tắc của lý thuyết nhận thức 7

1.2.3 Ứng dụng của thuyết nhận thức 8

1.2.4 Phương pháp dạy học tích cực theo thuyết nhận thức 9

1.3 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 11

1.3.1 Khái niệm PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề 11

1.3.2 Bản chất của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 12

1.3.3 Quy trình của PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề 12

1.3.4 Tình huống có vấn đề 14

1.3.5 Dạy học sinh cách giải quyết vấn đề 16

1.3.6 Các mức độ của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 18

1.3.7 Sử dụng PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học hóa học ở trường THPT hiện nay 19

1.4 Các phương pháp được sử dụng phối hợp với PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề 22 1.4.1 Phương pháp đàm thoại phát hiện 22

1.4.2 Dạy học theo dự án – PP dạy học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo 24

1.5 Thực trạng sử dụng PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề ở một số trường THPT thuộc thành phố Hải Phòng 28

Tiểu kết chương 1 28

CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẦN ĐỀ HỖ TRỢ DẠY HỌC PHẦN KIM LOẠI HÓA HỌC LỚP 12 NÂNG CAO – THPT 30

2.1 Phân tích nội dung phần kim loại chương trình SGK hóa học lớp 12 nâng cao – THPT 30 2.1.1 Nội dung phần kim loại Hóa học 12 nâng cao – THPT 30

2.1.2 Những chú ý về mặt phương pháp giảng dạy 32

2.2 Xây dựng hệ thống tình huống có vấn đề và hướng dẫn giải quyết các vấn đề trong dạy học phần hóa kim loại lớp 12 nâng cao – THPT 33

2.2.1 Nguyên tắc lựa chọn nội dung kiến thức để xây dựng tình huống có vấn đề 33

7

Trang 8

2.2.2 Xây dựng và giải quyết hệ thống tình huống có vấn đề trong chương 6

34 2.2.3 Xây dựng và giải quyết các tình huống có vấn đề trong chương 7

44 2.2.4 Thiết kế các vấn đề - đề tài học tập giải quyết vấn đề có liên quan đến thực tiễn đời sống trong dạy học phần kim loại lớp 12 nâng cao – THPT.

49 2.3 Thiết kế kế hoạch bài dạy có sử dụng PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề 53

2.3.1 Kế hoạch bài dạy – Tiết 50

53 2.3.2 Kế hoạch bài dạy tiết 64

60 2.3.3 Kế hoạch bài dạy tiết 65

66 2.3.4 Kế hoạch dạy học tiết 66

73 Tiểu kết chương 2……… ……… 81

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82

3.1 Mục đích thực nghiệm 82

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 82

3.3 Kế hoạch thực nghiệm 82

3.3.1 Đối tượng thực nghiệm.

82 3.3.2 Chuẩn bị nội dung

82 3.3.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm.

83 3.4 Kết quả thực nghiệm 84

3.4.1 Phương pháp xử lý số liệu.

84 3.4.2 Kết quả kiểm tra được thống kê ở bảng sau:

Trang 9

86 3.4.4 Phân tích kết quả thực nghiệm 90

3.4.5 Kết luận về thực nghiệm sư phạm.

91 Tiểu kết chương 3 92

KẾT LUẬN CHUNG VÀ KIẾN NGHỊ 93

1 Kết luận 92

2 Những khuyến nghị 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHẦN PHỤ LỤC 97

8

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chúng ta đang sống trong thế kỉ XXI, thế kỉ của trí tuệ và sáng tạo.Tình hình thế giới có nhiều biến động: sự bùng nổ trí thức, khoa học và côngnghệ phát triển như vũ bão Trong nước cũng có nhiều chuyển biến: Nước tatiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo hướng xây dựng một xã hội pháttriển, công bằng, văn minh định hướng xã hội chủ nghĩa và sự hội nhập quốc

tế đánh dấu bởi sự kiện ra nhập WTO của Việt Nam đã đưa đến nhiều cơ hội

và thách thức cho người lao động trong nước Sự phát triển của thời đại đòihỏi nguồn nhân lực Việt Nam phải có đủ trình độ và đủ năng lực đáp ứng yêucầu của tình hình mới Trước biến động trên ngành GD và ĐT nước nhà phải

có chiến lược đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện để đào tạo nguồn nhânlực có kiến thức, kỹ năng và trình độ chuyên môn đáp ứng được nhu cầu của

xã hội trong thời kì đổi mới và từng bước đưa Việt Nam hòa nhập với cácnước trong khu vực và trên thế giới

Cùng với xu thế phát triển chung của thế giới, trong thời gian qua nềngiáo dục của nước ta đang chuyển dần từ trang bị cho học sinh nội dung kiếnthức sang phát triển tiềm năng sáng tạo, bồi dưỡng tư duy khoa học, năng lực

tự tìm tòi chiếm lĩnh trí thức, năng lực giải quyết vấn đề để đáp ứng được vớiyêu cầu thực tiễn cuộc sống

Trên thực tế chất lượng giáo dục nước ta hiện nay còn thấp Nguyênnhân dẫn đến tình trạng này thì có nhiều song vấn đề then chốt hiện nay vẫn làphương pháp day học chưa đổi mới kịp thời

Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010( ban hành kèm quyết định

số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001, của thủ tướng chính phủ)mục 5.2 nêu rõ : “ Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từtruyền thụ thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động

tư duy trong quá trình tiếp cận trí thức, dạy cho người học phương pháp tựhọc, tự thụ nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng

Trang 11

hợp, phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tựchủ của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, …”

Điều 24.2 luật giáo dục quy định : “phương pháp giáo dục phổ thôngphải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh, phù hợp với đặcđiểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩnăng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềmvui, hứng thú học tập cho học sinh ”

Như vậy việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổthông được diễn ra theo 4 bước:

- Phát huy tính tích cực, tự giác chủ động học tập của học sinh

- Bồi dưỡng phương pháp tự học

- Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn

- Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

Trong các PPDH tích cực cần được vận dụng trong dạy học hóa học ở

nhà trường phổ thông hiện nay thì phương pháp dạy học phát hiện và giảiquyết vấn đề đã phát huy được tính tích cực tự giác chủ động, tạo niềm say

mê hứng thú cho học sinh và đây là phương pháp dạy học tích cực phù hợpvới xu thế đổi mới PPDH hiện nay, giúp HS phát triển năng lực phát hiện vàgiải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, cải thiện trí nhớ hiểu sâu vấn đề tănghứng thú học tập

Xuất phát từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài: “ Sử dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề hỗ trợ dạy học - phần kim loại Hóa Học lớp 12 nâng cao –THPT ” 2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyếtvấn đề trong dạy học phần kim loại Hóa Học 12 nhằm nâng cao năng lực tưduy, khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề học tập và vấn đề thựctiễn của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trườngTHPT

10

Trang 12

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các vấn đề lí luận về lý thuyết nhận thức, PPDH tích cực, PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề

- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình hóa học phổ thông và đi sâu vào phần hóa kim loại lớp 12 nâng cao trung học phổ thông

- Xác định nội dung kiến thức và xây dựng hệ thống tình huống có vấn

đề, các nhiệm vụ học tập có liên quan đến thực tiễn dùng trong dạy học phát hiện

và giải quyết vấn đề phần kim loại Hóa học lớp 12 nâng cao

- Đề xuất phương pháp sử dụng các tình huống có vấn đề và thiết kế kếhoạch bài dạy cụ thể

- Thực nghiệm sư phạm đánh giá hiệu quả các đề xuất.

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học hóa học ở trường THPT

- Đối tượng nghiên cứu: Vận dụng PPDH phát hiện và giải quyết vấn

đề trong dạy học chương 6 và 7 phần kim loại Hóa học 12 nâng cao – THPT

5 Mẫu khảo sát

- Tiến hành thử nghiệm với học sinh của 6 lớp 12 tại các trường: THPTCộng Hiền, THPT Tô Hiệu và THPT Lý Thường Kiệt – Thành phố Hải Phòng

6 Câu hỏi nghiên cứu

“Sử dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề như thếnào trong giảng dạy phần kim loại Hóa học 12 nâng cao - THPT để phát huytính tích cực học tập của học sinh?”

7 Giả thuyết khoa học

Nếu giáo viên xây dựng được hệ thống tình huống có vấn đề, nắmvững phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề và vận dụng mộtcách hợp lý, linh hoạt trong sự phối hợp với các PPDH, phương tiện dạy họckhác sẽ hỗ trợ công tác giảng dạy, nâng cao tính tích cực nhận thức của họcsinh và chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT

8 Phương pháp chứng minh luận điểm

11

Trang 13

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích, tổng quan tài liệu về cơ sở lý luận có liên quan đến nội dung đề tài.

- Xây dựng hệ thống tình huống có vấn đề, phương pháp giải quyết vấn

đề và một số đề tài, dự án học tập dùng trong dạy học chương 6 và chương 7 phầnkim loại hóa học 12 – nâng cao

- Giúp HS biết giải quyết một số vấn đề thực tế có liên quan và làmtăng hứng thú học tập cho học sinh thông qua dạy học dự án có sử dụng các tìnhhuống có vấn đề đã xây dựng

- Thiết kế một số giáo án cụ thể có sử dụng PPDH phát hiện và giảiquyết vấn đề và dạy học dự án trong dạy học phần kim loại Hóa học 12 – nângcao

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn được trình bày trong ba chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Sử dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học - phần hóa kim loại lớp 12 nâng cao – Trung học phổ thông

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

12

Trang 14

kể đến như: Nguyễn Cương, Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Thị Sửu, Đặng ThịOanh, Lê Văn Năm, Nguyễn Đình Am,….

Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ cũng đã làm phong phú thêmcác vấn đề mới trong việc nghiên cứu và ứng dụng PP này vào dạy học như:

- Nguyễn Ngọc Bảo (1984) Sử dụng phương pháp chương trình hóahọc – nêu vấn đề khi hình thành các khái niệm hóa học cơ bản đầu tiên cho HSViệt Nam, Luận án phó tiến sĩ Khoa học giáo dục – Liên Xô

- Lê Văn Năm (2002) Sử dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyếtvấn đề - ơrixtic nhằm nâng cao hiệu quả dạy học chương trình hóa đại cương vàhóa vô cơ THPT, luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục – ĐHSP Hà Nội

Ngoài ra còn có một số luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu như :

- Nguyễn Thanh Hương (1998) xây dựng và giải quyết các tình huống

có vấn đề, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học chương “Sự điện ly”, luận văn thạc sĩKhoa học giáo dục Trường ĐHSP Hà Nội

- Vũ Ngọc Tuấn (1998) Nâng cao hiệu quả giảng dạy các bài sản xuấthóa học bằng dạy học nêu vấn đề, Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục TrườngĐHSP Hà Nội

- Nguyễn Thị Thúy (2011) Sử dụng phương pháp dạy học nêu và giảiquyết vấn đề trong dạy học phần hóa phi kim lớp 11 nâng cao- THPT Luận vănthạc sĩ Khoa học giáo dục Trường ĐHSP Hà Nội

Trang 15

Những đóng góp to lớn của các tác giả được nêu trên trong tiến trìnhnghiên cứu về PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề là không thể phủ nhận.Tuy nhiên còn có một số vấn đề trong PP này mà chưa một tác giả nào đề cậpđến đó là:

- Xây dựng tình huống có vấn đề theo nội dung từng bài, từng chương của chương trình hóa học phổ thông hiện hành một cách có hệ thống

- Hướng dẫn HS tự phát hiện, xây dựng và giải quyết các tình huống cóvấn đề của thực tiễn liên quan đến nội dung bài học

- Hướng dẫn HS vận dụng kiến thức đã học vào việc nghiên cứu và giảiquyết các vấn đề thực tế

1.2 Lý thuyết nhận thức [9]

1.2.1 Nội dung của thuyết nhận thức

Lý thuyết nhận thức coi quá trình nhận thức là quá trình xử lý thông tin,trong đó não người được coi như là một hệ thống kỹ thuật có chức năng xử

lý các thông tin thu nhận được

Quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc xác định (cảm giác – trigiác – biểu tượng – khái niệm) và có ảnh hưởng nhất định đến hành vi củachủ thể Con người tiếp nhận những thông tin từ bên ngoài, xử lý và đánh giáchúng, từ đó quyết định hành vi ứng xử của mình

Trọng tâm của thuyết nhận thức là nghiên cứu các hoạt động trí tuệnhư:

- Xác định, phân tích, hệ thống hóa các sự vật hiện tượng

- Nhớ lại kiến thức đã học và bổ sung kiến thức mới

- Giải quyết các vấn đề và phát triển, hình thành các ý tưởng mới

Như vậy, bộ não con người luôn hoạt động để giải quyết các vấn đề trongcuộc sống, học tập và thu nhận kiến thức mới Lý thuyết nhận thức xác định cấutrúc nhận thức của con người không phải là bẩm sinh đã có mà được hình thànhtrong quá trình học tập, kinh nghiệm, trải nghiệm thực tiễn Mỗi người có cấutrúc nhận thức riêng và quá trình hoạt động tư duy khác nhau

14

Trang 16

Vì vậy, muốn có sự thay đổi đối với quá trình nhận thức của con người thìphải có những tác động phù hợp (nội dung, PP, thời gian…) Con người cũng

có thể tự điều chỉnh quá trình nhận thức như: tự đặt ra mục tiêu, xây dựng kếhoạch và thực hiên kế hoạch đó Trong quá trình nhận thức, chủ thể có thể tựquan sát, tự đánh giá, tự điều chỉnh, tự hưng phấn mà không cần kích thíchbên ngoài Với nét đặc trưng này lý thuyết nhận thức thuộc trường phái lýthuyết chủ thể

1.2.2 Các nguyên tắc của lý thuyết nhận thức

Theo lý thuyết nhận thức, các nhà nghiên cứu không chỉ chú trọng đếnkết quả học tập (sản phẩm) mà còn quan tâm đặc biệt đến quá trình học tập,quá trình tư duy diễn ra trong nhận thức của con người Vì vậy lý thuyết nhậnthức đã xác định: Trong học tập người GV có nhiệm vụ tạo ra môi trườnghọc tập thuận lợi, thường xuyên khuyến khích các quá trình tư duy của HSbằng các động tác như: Nêu vấn đề, tạo mâu thuẫn nhận thức, đưa ra các câuhỏi tìm tòi khám phá, tạo cho HS cơ hội học tập và tư duy tích cực

Cách giải quyết vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc pháttriển tư duy Các vấn đề tư duy không được thực hiện thông qua các vấn đềđơn giản, hoặc được đưa vào một cách tuyến tính mà tư duy chỉ xuất hiệnqua các nội dung học tập phức tạp Các vấn đề, nội dung dễ, quen thuộc họcsinh đã biết thì không gây ra kích thích cho hoạt động tư duy

Các PP học tập được xác định có vai trò quan trọng, mang đến hiệu quảcao cho quá trình nhận thức học tập của học sinh Các PP học tập bao gồm tất

cả cách thức làm việc và tư duy mà học sinh sử dụng để tổ chức và thực hiệnquá trình học tập của học sinh thì việc học tập trong nhóm được đánh giá cóvai trò quan trọng nhất vì hoạt động này không chỉ giúp người học học lẫnnhau về kiến thức, kĩ năng, PP, cách thức tư duy mà còn tăng cường đượckhả năng giao tiếp, nhận thức về mặt xã hội

Trong dạy học cần có sự kết hợp hợp lý giữa nội dung kiến thức do GVtruyền đạt và những nhiệm vụ đòi hỏi các hoạt động độc lập, tự tìm tòi khám

Trang 17

phá, thu nhận và vận dụng tri thức của học sinh Như vậy, lý thuyết nhận thứctrong dạy học đã chú trọng đến quá trình nhận thức diễn ra trong việc xử lýthông tin của bộ não con người và các yếu tố kích thích hoạt động tư duy củangười học nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình học tập của mọi đối tượngngười học khác nhau.

1.2.3 Ứng dụng của thuyết nhận thức

Lý thuyết nhận thức được thừa nhận và được ứng dụng rộng rãi trongquá trình dạy học Những kết quả nghiên cứu của lý thuyết này đã được vậndụng trong việc tìm ra con đường tối ưu hóa quá trình dạy học nhằm pháttriển năng lực nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề, đặc biệt là phát triển tưduy sáng tạo Các PP, quan điểm dạy học vận dụng lý thuyết này được quantâm và vận dụng rộng rãi gồm:

- Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

- Ứng dụng PP này đòi hỏi mất nhiều thời gian

- Người GV phải có năng lực sư phạm tốt và yêu cầu cao trong việc chuẩn bị bài học

Ngoài ra cũng có ý kiến cho rằng: Cấu trúc quá trình tư duy trong nãongười không quan sát trực tiếp được mà cũng chỉ suy diễn qua kết quả tưduy nên mô hình dạy học nhằm tối ưu hóa quá trình nhận thức của học sinhcũng chỉ mang tính lý thuyết

Tuy còn một số ý kiến khác nhau nhưng các PPDH, quan điểm dạy học

16

Trang 18

vận dụng lý thuyết nhận thức vẫn được xác nhận là những quan điểm, nhữngPPDH tích cực đang được ngành giáo dục nước nhà quan tâm, coi đó là nhữngđịnh hướng trong sự đổi mới mục tiêu, PP dạy học các môn học hiện nay.

1.2.4 Phương pháp dạy học tích cực theo thuyết nhận thức [4], [5], [6], [14], [16], [22].

1.2.4.2 Những dấu hiệu đặc trưng của dạy và học tích cực

Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh và chú trọngrèn luyện PP tự học

Tăng cường hoạt động học tập của mỗi cá nhân, phối hợp với học hợp tác.Dạy và học chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của học sinh, nhucầu và lợi ích của xã hội

Dạy và học coi trọng hướng dẫn và tìm tòi

Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

1.2.4.3 Biểu đồ các mức độ thu giữ thông tin [4], [5]

Để đánh giá hiệu quả của các PPDH tích cực, các nhà nghiên cứu đãxác định mức độ thu giữ thông tin với việc sử dụng các PPDH khác nhau và

mô tả bằng biểu đồ sau:

Trang 19

KHẢ NĂNG LƯU GIỮ THÔNG TIN

Hình 1.1 Biểu đồ các mức thu giữ thông tin

Như vậy, việc áp dụng PPDH tích cực theo quan điểm của lý thuyết

nhận thức mang lại nhiều lợi ích thiết thực như:

- Qúa trình học tập đạt hiệu quả, bài học sinh động hơn

- Tạo được môi trường giáo dục thân thiện, quan hệ giữa GV-HS và

HS- HS tốt hơn

- Hoạt động học tập phong phú hơn, học sinh được hoạt động nhiều

hơn

- GV có nhiều cơ hội để giúp đỡ học sinh

- Học sinh phát triển được tư duy, tính độc lập, sáng tạo

Trang 20

Từ đó ta thấy những ứng dụng và phát triển của lý thuyết nhận thức trong quá trình học tập thật phong phú và đa dạng Một trong những ứng dụng

18

Trang 21

quan trọng của thuyết nhận thức là dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.

1.3 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

1.3.1 Khái niệm PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề [9]

Theo triết học duy vật biện chứng: Mọi sự vật, hiện tượng trong tự

nhiên và xã hội vốn chứa đựng mâu thuẫn bên trong lòng nó Việc phát hiện

và giải quyết mâu thuẫn đó là động lực thúc đẩy quá trình vận động và pháttriển của sự vật và hiện tượng Do đó phát hiện mâu thuẫn, giải quyết mâuthuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát triển trong quá trình nhận thức

Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề vấn đề, nhiệm vụ trungtâm là tạo ra tình huống có vấn đề (tạo mâu thuẫn nhận thức), phát triển vấn

đề và giải quyết vấn đề Nhiệm vụ đặt ra cho học sinh trong quá trình học tậpchính là mâu thuẫn giữa yêu cầu của nhiệm vụ nhận thức mới với kiến thức vàkinh nghiệm sẵn có của học sinh

Như vậy, cơ sở triết học của PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề là: “chuyển phương pháp biện chứng để giải quyết mâu thuẫn nói chung thànhphương pháp sư phạm và sau đó giải quyết mâu thuẫn trong quá trình tiếp thukiến thức mới”

Theo các nhà tâm lý học: “Các quy luật của tư duy và các quy luật của quá trình tiếp thu kiến thức ở mức độ đáng kể là trùng nhau Do đó,

những quy luật tâm lý của tư duy cũng quyết định quá trình tiếp thu kiếnthức” Mặt khác cũng theo các nhà tâm lý học: “ Con người chỉ bắt đầu tưduy tích cực khi bắt đầu nẩy sinh nhu cầu tư duy, tức là khi đứng trước mộtkhó khăn về nhận thức cần khắc phục, một tình huống có vấn đề”

Theo giáo dục học: Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề đặt học

sinh vào vị trí nhà nghiên cứu “Chính sự lôi cuốn của vấn đề học tập nghiêncứu” đã làm hoạt động hóa nhận thức của học sinh, rèn luyện ý chí và khảnăng hoạt động cho học sinh

Như vậy, PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề đã đáp ứng đượcnguyên tắc tự giác và tích cực trong dạy học và đồng thời biểu hiện sự thốngnhất giữa giáo dục và giáo dưỡng (tức là sự kết hợp giữa truyền thụ kiến thức

19

Trang 22

với rèn luyện phẩm chất đạo đức cho học sinh).

1.3.2 Bản chất của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề [5], [22], [14]

Để hiểu được bản chất của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề chúng ta đi nghiên cứu ba đặc trưng cơ bản của nó sau đây:

- GV đặt ra trước cho học sinh một loạt những bài toán nhận thức cóchứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái phải tìm (vấn đề khoa học) Đâykhông phải là những vấn đề rời rạc, mà là một hệ thống có mối quan hệ logic vớinhau và được cấu trúc lại một cách sư phạm gọi là bài toán nêu vấn đề

- Học sinh tiếp nhận mâu thuẫn của bài toán như mâu thuẫn nội tâmmình và được đặt vào tình huống có vấn đề, tức là trạng thái có nhu cầu bên trongmuốn giải quyết bằng được bài toàn đó

- Trong quá trình giải và bằng cách thức giải bài toán nhận thức (giảiquyết vấn đề) mà học sinh lĩnh hội một cách tự giác và tích cực cả kiến thức, cảcách giải và do đó có được niềm vui sướng của sự phát minh sáng tạo

- Như vậy, khác với dạy học kiểu thông báo, truyền thụ kiến thức truyềnthống, học sinh chỉ có mục đích là giải được bài toán và ghi nhớ kiến thức đã họcđược Trong dạy học nêu vấn đề thì dạy học bằng bài toán nhận thức (vấn đề nhậnthức) là mục đích quan trọng hơn cả Chính bài toán nhận thức đã gây ra nhu cầu vàđộng cơ nhận thức, thúc đẩy sự tìm tòi, sáng tạo của học sinh

1.3.3 Quy trình của PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề [5], [6], [14]

PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề được thực hiện theo quy trình gồm các bước sau:

Bước 1: Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức

- Tạo tính huống có vấn đề

- Phát triển và nhận dạng vấn đề nảy sinh

- Phát biểu vấn đề cần giải quyết

- Đề xuất các giả thuyết

- Lập kế hoạch giải quyết vấn đề

- Thực hiện kế hoạch

Bước 3: Kết luận

Trang 23

- Thảo luận kết quả và đánh giá

- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu

- Phát biểu kết luận

- Đề xuất vấn đề mới

Như vậy giờ học hóa học vận dụng PPDH phát hiện và giải quyết vấn

đề là quá trình hoạt động tương tác giữa GV và HS nhằm tìm ra nội dung kiếnthức mới có thể sơ đồ hóa như sau:

Thảo luận nhóm về vấn đề,

kế hoạch GQVĐ và thực hiện

kế hoạch giảiTiến hành thí nghiệm

Quan sát, ghi chép hiệntượng và rút ra kết luận

Hình 1.2 Sơ đồ quy trình vận dụng PPDH phát hiện và giải quyết vấn

đề 21

Trang 24

1.3.4 Tình huống có vấn đề [8]

1.3.4.1 Khái niệm.

Khái niệm về tình huống có vấn đề được nhiều nhà giáo dục quan tâmnghiên cứu vì thế có rất nhiều định nghĩa và cách định nghĩa khác nhau đượcđưa ra

Quan niệm của tâm lý học

Theo Okon.V: Tình huống có vấn đề là một hiện tượng chủ quan, làmột trạng thái tâm lý của chủ thể, trạng thái lúng túng xuất hiện trong quátrình nhận thức như một mâu thuẫn giữa chủ thể và khách thể nhận thức tronghoạt động của con người.[8]

Theo MI Macmutop: “Tình huống có vấn đề đó là trở ngại về trí tuệcủa con người, xuất hiện khi họ chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự kiện,quá trình thực tế, khi chưa đạt tới mục đích bằng cách thức hành động quenthuộc Tình huống này đòi hỏi con người tìm cách giải thích hay hành độngmới Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt động nhận thức sáng tạo cóhiệu quả Nó quy định sự khởi đầu của tư duy hành động, tư duy hành độngtích cực sẽ diễn ra trong quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề”

Quan niệm lý luận dạy học

Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quancủa bài toán nhận thức được học sinh chấp nhận như một vấn đề học tập mà

họ cần và có thể giải quyết được, kết quả là họ nắm được tri thức mới

Như vậy, tình huống có vấn đề là sự vật hiện tượng chứa đựng mâuthuẫn nhận thức và có tác dụng kích thích hoạt động tư duy của học sinh

1.3.4.2 Cơ chế phát sinh tình huống có vấn đề.

Tình huống có vấn đề chỉ xuất hiện khi một cá nhân đứng trước mộtmục đích cần đạt tới, nhận biết một nhiệm vụ cần giải quyết nhưng chưa biếtgiải quyết bằng cách nào

1.3.4.3 Cách thức xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học hóa học [10]

Cách thứ nhấ (tình huống nghịch lý – bế tắc)

Trang 25

Tình huống có vấn đề được tạo ra khi kiến thức của học sinh đã cókhông phù hợp (không đáp ứng được) với đòi hỏi của nhiệm vụ học tập hoặcvới thực tế Vấn đề đưa ra mới nhìn thì thấy dường như vô lý, trái vớinguyên lý đã công nhận chung Theo nguyên tắc này sẽ tạo ra tình huốngnghịch lý và bế tắc Có thể coi đây là một dạng tình huống có vấn đề với haiđặc điểm hoặc tách ra hai kiểu tình huống nhỏ: nghịch lý và bế tắc.

Tình huống nghịch lý: GV đưa ra tình huống có vấn đề mà mới nhìnthấy dường như rất vô lý, trái ngược với nguyên lý chung đã được côngnhận Tình huống này thường gặp ở các nhà khoa học có những phát minh lỗilạc, khi gặp những sự kiện, hiện tượng khoa học trái với lý thuyết đương thời.Nhờ nghịch lý đó mà các phát minh ra đời Như là các học thuyết về cấu tạochất, lịch sử phát minh và hoàn thiện hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóahọc là những tài liệu quý giá để tạo ra những tình huống nghịch lý

Tình huống bế tắc: Là tình huống (lý thuyết hoặc thực nghiệm) mà khixem xét thì có mâu thuẫn và nếu dùng lý thuyết đã biết để giải quyết thì gặp

bế tắc Khi đó phải vận dụng lý thuyết hoặc quy luật khác để giải thích

Ví dụ:

- Quy luật điền electron vào các phân lớp – sự chèn các phân lớp

elecreon, sự điền electron của các nguyên tố họ d

- Quy luật kim loại mạnh đẩy kim loại yếu ra khỏi dung dịch muối… Tình huống nghịch lý và bế tắc có những nét khác nhau về đặc điểm,

mức độ nội dung kiến thức dẫn đến sự khác nhau về mức độ ơritic Tìnhhuống nghịch lý có tính ơritic sâu sắc hơn và thường hàm chứa trong nhữngnội lý thuyết (các quy luật và những học thuyết hóa học chủ đạo) Tuy nhiên,hai kiểu tình huống này thường chung một nguồn gốc, một biểu hiện mà ta cóthể đồng nhất được

Cách thứ hai (tình huống lựa chọn)

Là tình huống có vấn đề được tạo ra khi học sinh phải lựa chọn giữa hai hay nhiều phương án giải quyết, và chỉ lựa chọn được một phương án duy

23

Trang 26

nhất để đảm bảo việc giải quyết vấn đề đặt ra Đây là tình huống lựa chọn hoặc tình huống bác bỏ.

Cách thứ ba (tình huống “tại sao”)

Là tình huống có vấn đề được xuất hiện khi yêu cầu phải tìm kiếmnguyên nhân của một kết quả, nguồn gốc của một hiện tượng, tìm lời giải đápcho câu hỏi tại sao? Đây là một tình huống phổ biến, thường xuyên và rấthiệu nghiệm trong quá trình nhận thức hóa học nói riêng Trong dạy học hóahọc chúng ta thường xuyên gặp tình huống “tại sao”? Đó là khi cần giải thíchnhững hiện tượng, những tính chất hóa học dựa vào thành phần và cấu tạocủa nguyên tử hay tính chất hóa học Loại tình huống này giúp học sinh tíchlũy được vốn kiến thức vừa có chiều rộng vừa có chiều sâu

1.3.5 Dạy học sinh cách giải quyết vấn đề

1.3.5.1 Tầm quan trọng của giai đoạn giải quyết vấn đề

Nhiệm vụ của giai đoạn này là đi tìm điều chưa biết trong tình huống

có vấn đề Đây là khâu chủ yếu, có tầm quan trọng đặc biệt trong dạy học pháthiện và giải quyết vấn đề Đây cũng là bước chuẩn bị cho các em hình thành

và phát triển năng lực giải quyết sáng tạo các vấn đề trong thực tiễn đời sống

Vì vậy cần phải luyện tập cho học sinh biết cách giải quyết các vấn đề từ đơngiản đến phức tạp trong học tập cũng như trong thực tiễn Cần tổ chức quátrình giải quyết vấn đề học tập như thế nào để ở mức độ nhất định nó giốngnhư quá trình nghiên cứu khoa học, và ở chừng mực nào đó học sinh phải thểhiện như “ nhà nghiên cứu” đang tìm cách giải quyết vấn đề học tập nảy sinh

Muốn vậy, trong quá trình nghiên cứu giải quyết vấn đề học tập, GVđóng vai trò là người dẫn đường và tổ chức các hoạt động tìm tòi của họcsinh, giúp học sinh đánh giá các giả thuyết, giảm nhẹ khó khăn để học sinhgiải quyết vấn đề nhanh chóng Vai trò của GV không phải là nói cái gì mà là

tổ chức hoạt động tìm kiếm tích cực của học sinh như thế nào? Qua đó hìnhthành cho học sinh một cách tuần tự kỹ năng tự mình tìm ra vấn đề và sau đó

Trang 27

cũng tự tìm ra con đường giải quyết tối ưu vấn đề đó.

Như vậy cơ chế chủ yếu của việc đi tìm điều chưa biết trong tình huống có vấn đề là:

- Thường xuyên đưa đối tượng vào hệ thống mới, những mối quan hệ mới mà thông qua chúng những tính chất chưa biết được phát hiện

- Luôn đặt ra những câu hỏi tại sao? Và đi tìm câu trả lời cho câu hỏiđó

1.3.5.3 Quy trình giải quyết vấn đề trong dạy phát hiện và giải quyết vấn đề [10]

Trong quá trình giải quyết vấn đề học tập, GV đóng vai trò là người chỉđạo, hướng dẫn, tổ chức hoạt động tìm tòi của học sinh, giúp các em nhận ravấn đề, xác định phương hướng giải quyết vấn đề, đánh giá các giả thuyết,giảm nhẹ khó khăn để học sinh giải quyết vấn đề được nhanh chóng

Tính hiệu quả của cách thức này còn phụ thuộc vào khả năng, mức độnhận thức, mức độ chuẩn bị và sự phát triển trí tuệ của học sinh quyết định.Tuy hoạt động tìm tòi của học sinh trong khi giải quyết vấn đề rất nhiều vẻnhưng chúng ta có thể phân ra thành các bước cơ bản sau:

25

Trang 28

PPDH PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Đặt vấn đề

2 Phát biểu vấn đề

3 Xác định hướng giải quyết, đề xuất giả thuyết

Không đúng với GT

4 Lập kế hoạch giải theocác giả thuyêt

5 Thực hiện kế hoạch giải

6 Đánh giá việc thực

hiện kế hoạch giải

Xác định GT đúng. 7 Kết luận về lời giải

8 Kiểm tra lại, ứng dụng kiến thức vừa thu được

Hình 1.3 Sơ đồ các bước giải quyết vấn đề.

Quy trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố và tính phức tạp của vấn đềnghiên cưú, trình độ kiến thức và năng lực nhận thức của học sinh… Do đóquá trình vận dụng có thể thay đổi đơn giản hơn hoặc phức tạp hơn

Việc xác định mức độ của PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề tùythuộc vào mức độ của học sinh tham gia giải quyết bài toán Ơrictic, nghĩa làmức độ học sinh tham gia vào việc xây dựng và giải quyết vấn đề học tập

Theo quan điểm này người ta quy ước dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

26

Trang 29

có bốn mức độ sau:

1.3.6 Các mức độ của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề [5]

Mức độ 1: GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề, đồng thời GVgiải quyết vấn đề HS là người quan sát và tiếp nhận kết luận do GV thựchiện Đây là mức thấp nhất và thường áp dụng với HS trung học cơ sở

Mức độ 2: GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề và giải quyết vấn

đề Sau đó GV và HS cùng rút ra kết luận Như vậy mức độ tham gia của HS

đã cao hơn, HS quan sát rút ra kết luận dưới sự gợi ý của GV

Mức độ 3: GV gợi ý để HS phát hiện vấn đề, hướng dẫn HS tìm cáchgiải quyết vấn đề, HS tiến hành giải quyết vấn đề, GV và HS cùng đánh giákết quả và rút ra kết luận

Mức độ 4: HS tự phát hiện vấn đề cần nghiên cứu, nêu giả thuyết, lập

kế hoạch và giải quyết vấn đề, tự rút ra kết luận, GV nhận xét và đánh giá

Như vậy dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề ở giai đoạn cao biếnthành nghiên cứu khoa học

1.3.7 Sử dụng PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học hóa học

ở trường THPT hiện nay

Hóa học là môn khoa học thực nghiệm nên trong quá trình dạy học phảiluôn gắn với thực nghiệm và phương pháp tư duy logic, việc sử dụng PPDHphát hiện và giải quyết vấn đề vào các bài dạy hóa học có thể chia làm hai loạinhư sau:

- Loại bài có sử dụng thí nghiệm

- Loại bài không sử dụng thí nghiệm

1.3.7.1 Quy trình sử dụng PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề trong các bài dạy có sử dụng thí nghiệm [10]

Theo quan điểm của tác giả Lê Văn Năm trong [10] quy trình dạy họcsinh giải quyết các vấn đề trong các bài có sử dụng thí nghiệm được tiến hànhtheo những bước sau:

Bước 1: Đặt vấn đề (Tạo tình huống có vấn đề)

27

Trang 30

GV đặt vấn đề cần nghiên cứu thông qua việc nhắc lại kiến thức cũ vàtiến hành thí nghiệm đã quen biết trong điều kiện mới, từ đó yêu cầu học sinhsuy nghĩ và nhận xét qua quan sát các dấu hiệu của thí nghiệm.

Bước 2: Phát biểu vấn đề

Trên cơ sở phân tích những dấu hiệu, hiện tượng đã quan sát được,giáo viên hướng dẫn học sinh thiết lập mối quan hệ giữa dấu hiệu bề ngoàivới bản chất của các quá trình và trả lời hệ thống câu hỏi nhận thức (câu hỏichứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết)

Bước 3: Xác định phương hướng giải quyết – nêu giả thuyết

GV yêu cầu học sinh đưa ra các giả thuyết, cách thức chứng minh giảthuyết

Bước 4 và 5: Lập kế hoạch giải và giải theo giả thuyết

GV hướng dẫn học sinh nên kế hoạch và tiến hành các hoạt động thựchiện kế hoạch nhằm chứng minh cho giả thuyết Học sinh có thể tiến hànhthực nghiệm (làm thí nghiệm) hoặc nghiên cứu lý thuyết để đưa ra nhữngluận cứ xác thực chứng minh cho giả thuyết ban đầu

Bước 6: Đánh giá việc thực hiện thuật giải

Căn cứ vào kết quả của các hoạt động nghiên cứu ở trên và quá trìnhphân tích so sánh kết quả thu được để đi đến công nhận hay bác bỏ giả thuyếtban đầu

Bước 7: Kết luận về lới giải

GV chỉ ra giả thuyết đúng, chỉnh lý, bổ sung và chốt lại kiến thức mớicần lĩnh hội

Bước 8: Kiểm tra lại kiến thức vừa tiếp thu và dạy học sinh tập vândụng kiến thức

GV tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức vào các tình huống tương

tự hoặc cho học sinh vận dụng kiến thức vừa tiếp thu vào giải quyết các vấn

đề thực tế có liên quan

1.3.7.2 Quy trình sử dụng PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề trong các bài

Trang 31

học nghiên cứu về chất mà không sử dụng thí nghiệm [10]

Đối với những bài học có nội dung không liên quan đến một hiệntượng (biến đổi) hóa học hoặc không có điều kiện tiến hành thí nghiệm, haynhững bài học mang tính chất hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức về cấutạo, tính chất vật lý, tính chất hóa học của một phần trong một chương củaSGK Hoặc là những bài, những phần liên quan đến một vấn đề lý thuyết, mô

tả các vật mẫu, vật liệu, sản phẩm hay trạng thái tự nhiên và ứng dụng của cácchất Với dạng bài này GV cho học sinh nghiên cứu tài liệu và tiến hành dạyhọc bằng phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề theo quy trình sau:

Bước 1: Đặt vấn đề

Dựa vào kiến thức đã học GV yêu cầu học sinh phân tích, so sánh vềcác mối quan hệ giữa cấu tạo với tính chất vật lý, tính chất hóa học: Cấu tạo –tính chất – điều chế; cấu tạo – tính chất – trạng thái tự nhiên… để phát hiện ramâu thuẫn

Bước 2: Phát biểu vấn đề

GV yêu cầu học sinh giải thích về nguyên nhân của tính quy luật vànhững mối quan hệ giữa các hệ thống kiến thức nêu trên

Bước 3: Xác định phương hướng giải quyết – đề xuất giả thuyết

GV đưa ra phương hướng giải quyết, nêu giả thuyết hoặc đưa ra cáccâu hỏi để học sinh tự đề xuất các giả thuyết

Bước 4 và 5: Lập kế hoạch giải và giải theo giả thuyết

Hướng dẫn học sinh nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh

và trả lời các câu hỏi, phủ nhận giả thuyết này, xác nhận giả thuyết kia để điđến thống nhất một vấn đề nào đấy

Bước 6: Đánh giá kế hoạch giải

Kiểm tra hệ thống câu trả lời về nội dung và logic lập luận để xem giảthuyết đúng hay sai

Bước 7: Kết luận về lời giải

GV nêu lên kiến thức cần lĩnh hội, kiến thức cần hệ thống và khắc sâu

29

Trang 32

Bước 8: Kiểm tra lại kiến thức cấn tiếp thu được qua một ví dụ khác

Ví dụ: Khi nghiên cứu tính chất vật lý, tính chất hóa học chung của cáckim loại, giáo viên có thể yêu cầu học sinh nghiên cứu SGK, tài liệu thamkhảo, hệ thống bảng tuần hoàn để xây dựng bảng so sánh, tổng kết, hệ thốnghóa kiến thức Công việc này học sinh có thể tự lập hoặc làm trên lớp dưới sựhướng dẫn của giáo viên

1.4 Các phương pháp được sử dụng phối hợp với PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề.

1.4.1 Phương pháp đàm thoại phát hiện.

1.4.1.1 Khái niệm[6]

“Đàm thoại phát hiện là phương pháp trao đổi gữa GV và HS, trong đó

GV đưa ra hệ thống câu hỏi “ dẫn dắt” gắn bó logic với nhau để học sinh suy

lí, phán đoán, quan sát, tự đi đến kết luận và qua đó mà lĩnh hội được kiếnthức”

1.4.1.2 Đặc điểm

Phương pháp đàm thoại phát hiện có những đặc điểm sau:

- GV tổ chức trao đổi giữa GV và cả lớp, có khi giữa HS với nhau, qua

đó học sinh lĩnh hội được kiến thức

- Trong phương pháp đàm thoại phát hiện có yếu tố tìm tòi, nghiên cứucủa học sinh GV giống như người tổ chức, HS có vẻ như người phát hiện Khikết thúc đàm thoại, học sinh có vẻ như người tự lực tìm ra chân lý

- Hệ thống câu hỏi, lời đáp mang tính chất nêu vấn đề để tạo nên nộidung trí dục chủ yếu của bài học là nguồn kiến thức và là mẫu mực của cách giảiquyết một vấn đề nhận thức Thông qua phương pháp này học sinh không

những lĩnh hội được nội dung trí dục mà còn học được cả phương pháp nhậnthức và cách diễn đạt tư tưởng bằng lời nói

1.4.1.3 Những yêu cầu sư phạm

Trên cơ sở nghiên cứu nhiều giờ học tiến hành theo phương pháp đàm thoại phát hiện có thể nêu ra những yêu cầu sư phạm của phương pháp này

Trang 33

cả sự ham muốn giải đáp.

- Hệ thống câu hỏi – vấn đề phải được lựa chọn và sắp xếp hợp lý Câuhỏi được phân chia thành câu phức tạp và câu đơn giản Câu phức tạp lại đượcchia ra thành những vấn đề nhỏ hơn cho phù hợp với trình độ của học sinh, nhưngkhông nên chia quá nhỏ và rời rạc Câu hỏi phải rõ và xác định

- Số lượng và tính phức tạp của câu hỏi cũng như mức độ phân chiacâu hỏi đó thành những câu hỏi nhỏ phụ thuộc chủ yếu vào: Tính chất phức tạp củavấn đề (đối tượng) nghiên cứu; trình độ phát triển của học sinh, kĩ năng, kĩ xảo củachúng tham gia các bài học đàm thoại

- Khi giải quyết xong mỗi câu hỏi – vấn đề, giáo viên cần tổng kết lạikết quả của việc giải quyết vấn đề nêu ra GV cần khéo léo kết luận vấn đềdựa vào ngôn ngữ, ý kiến và nhận xét của chính học sinh, có thêm những kiếnthức chính xác và cấu tạo lại kết luận cho chặt chẽ, hợp lý và xúc tích Làmnhư vậy học sinh càng hứng thú và tự tin

- Phải lưu ý đến việc điều khiển quản lý cả lớp trong lúc đàm thoại Cầnthực hiện hai nguyên tắc sau:

1 Đàm thoại không phải với từng học sinh riêng rẽ mà với toàn lớp.Phải đặt câu hỏi cho cả lớp và để cho học sinh đủ thời giờ suy nghĩ, sau đó chỉđịnh một học sinh trả lời và yêu cầu các học sinh khác chú ý theo dõi để sau đó cóthể bổ sung

2 GV phải luôn chủ động dẫn dắt lớp theo mình mà không bị động

“theo đuôi” lớp Phải chủ động, sáng tạo, bám sát kế hoạch đã vạch ra từ trước

31

Trang 34

Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề - phương pháp đàm thoạiphát hiện GV sử dụng trong quá trình định hướng, gợi ý, dẫn dắt học sinh ởgiai đoạn phát hiện vấn đề, xây dựng tình huống có vấn đề, đề ra giả thuyếtkhoa học và giải quyết vấn đề.

1.4.2 Dạy học theo dự án – PP dạy học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo [4], [5]

1.4.2.1 Khái niệm

Dạy học dự án (DHDA) xuất hiện từ thế kỷ 16 Đến thế kỷ 20 cơ sở lýluận của dạy học dự án được xây dựng bởi các nhà sư phạm, nhà lý luậnngười Mỹ như: Wood Ward, Richard, J Đewey, U Kilpatrick

Theo các tài liệu nghiên cứu DHDA có thể định nghĩa như sau: DHDA

là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tậpphức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết, thực tiễn và thực hành Nhiệm vụ nàyđược người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ tiến trình học tập,

từ việc xác định mục đích học tập, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án,kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện

Theo [4] học theo dự án (Project Work) là hoạt động học tập nhằm tạo

ra cơ hội cho học sinh tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực và áp dụng sángtạo vào thực tế cuộc sống… Học theo dự án đặt người học vào tình huống cóvấn đề nhưng việc giải quyết vấn đề đòi hỏi sự tự lực cao của người học

(Bộ GD&ĐT 2010 Hội nghi tập huấn về PP và kỹ thuật dạy học tíchcực tại Nghệ An – Dự án Việt Bỉ);http://www.moe.gov.sg/projectwork

1.4.2.2 Đặc điểm của dạy học theo dự án

PPDH theo dự án có những đặc điểm sau:

- Có định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án gắn với thực tiễn, quá trình thực hiện, kết quả dự án có ý nghĩa thực tiễn – xã hội

- Định hướng hứng thú của người học: Chủ đề và nội dung của DA phù hợp khả năng và hứng thú của học sinh

- Phát huy tính tự lực của học sinh: Học sinh hoàn toàn chủ động, tích

Trang 35

cực và tự lực tham gia vào các giai đoạn của quá trình dạy học.

- Định hướng hành động: DHDA mang các vấn đề thực tế vào môitrường học tập Khi giải quyết vấn đề trong dạy học dư án đòi hỏi học sinh phảithực hiện một hệ thống các hoạt động kết nối nhiều vấn đề khác nhau trên mọi lĩnhvực của quá trình học tập

- Định hướng sản phẩm: DHDA đem đến những sản phẩm có thể công

bố, giới thiệu được

- DHDA có tính phức hợp: Nội dung DA có kết hợp tri thức của nhiềulĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau vì thế kết quả DA sẽ vượt qua ranh giớicủa một môn học

1.4.2.3 Nguyên tắc lựa chọn nội dung để xây dựng dự án học tập

DHDA không phù hợp với các bài truyền thụ kiến thức mang tính lýthuyết hệ thống, chỉ có một số bài học về chất có thể dạy theo phương phápnày Vì vậy việc lựa chọn nội dung dạy học thích hợp với PP DHDA cần đảmbảo nguyên tắc sau:

- Đảm bảo tính khoa học và tính thực tiễn

- Nội dung bài học phải có sự liên hệ chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn, gắn tư duy với hành động, gắn nhà trường với xã hội

- Dự án phải phù hợp với năng lực của học sinh

- Thời gian thực hiện dự án phải đảm bảo

- Nội dung, yêu cầu thực hiện dự án phải phù hợp với điều kiện, thiết bịcủa nhà trường

1.4.2.4 Quy trình tổ chức dạy học theo dự án.

Quy trình thực hiện dạy học dự án được tiến hành theo ba bước chủyếu là: Lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch và tổng hợp báo cáo kết quả Ở mỗibước lại có một số hoạt động cụ thể nên ta có thể mô tả quy trình này dướidạng sơ đồ sau:

33

1 Lập kế hoạch

Trang 36

1.1 Lựa chọn chủ đề1.2 Xây dựng tiểu chủ đề1.3 Khơi gợi hứng thú1.4 Lập kế hoạch cácnhiệm vụ học tập

3 Tổng hợp kết quả3.1 Tổng hợp các kết quả3.2 Xây dựng sản phẩm3.3 Trình bày kết quả3.4 Phản ánh lại quátrình học tập

2 Thực hiện nghiên cứu2.1 Thu thập thông tin2.2 Thực hiện điều tra2.3 Thảo luận với các thành viên

2.4 Tham vấn giáo viên hướng dẫn

Hình 1.4 Quy trình tổ chức dạy học theo dự án

1.4.2.5 Ưu nhược điểm của dạy học dự án

Phương pháp dạy học theo dự án có những ưu điểm sau:

- Gắn lý thuyết với thực tế

- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học

- Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm, sáng tạo

- Phát triển năng lực giải quyết vấn đề phức hợp, mang tính tích hợp

- Phát huy năng lực cộng tác làm việc và kỹ năng giao tiếp

Trang 37

- Dạy học theo dự án đòi hỏi GV phải có trình độ chuyên môn nghiệp

Qua thống kê, kết quả cho thấy: 70% trong số các GV được điếu tracho biết hầu như không sử dụng thường xuyên PPDH phát hiện và giải quyếtvấn đề trong quá trình dạy học của mình, 100% GV không sử dụng phươngpháp DHDA, 85% GV không biết về phương pháp DHDA

Khi được hỏi về nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, GV có nêu một

số ý kiến như sau:

- Để vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đềtrong dạy học hóa học đòi hỏi phải có trang thiết bị và phương tiện dạy học cầnthiết mà không phải trường phổ thông nào cũng đáp ứng được

- Để vận dụng có hiệu quả phương pháp này trong giảng dạy người

GV cần nắm vững bản chất quy trình, các hoạt động tác động của GV với họcsinh Người GV phải đầu tư nhiều thời gian trong việc chuẩn bị phương tiện,thiết kế kế hoạch bài dạy và tổ chức các hoạt động trên lớp một cách linhhoạt Vì vậy đòi hỏi GV phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, tinhthần nhiệt huyết và lòng yêu nghề, yêu người

- Học sinh cần có kĩ năng học tập, năng lực tự học và ý thức học tập tích cực tự giác

Tuy vậy GV đều đánh giá PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề làPPDH tích cực và có nhiều ưu thế, nếu GV vận dụng tốt phương pháp nàytrong quá trình dạy học của mình sẽ tạo điều kiện cho học sinh phát huy tínhtích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực giải

35

Trang 38

quyết vấn đề trong thực tiễn cuộc sống (năng lực hành động) Đây là năng lựccần thiết cho người lao động trong thời đại mới.

Kiến thức học sinh có được bằng cách học theo phương pháp dạy họcphát hiện và giải quyết vấn đề sẽ ở mức độ sâu sắc và vững chắc hơn Họcsinh chủ động trong các hoạt động chiếm lĩnh tri thức, nắm được phươngpháp nhận thức, thu nhận kiến thức, đánh giá được kết quả học tập của bảnthân và của người khác Qua hoạt động học tập theo PPDH phát hiện và giảiquyết vấn đề mà năng lực cơ bản của học sinh được hình thành, phát triển.Trong đó năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề thực tế một cáchlinh hoạt và sáng tạo là rất quan trọng

Vậy để khuyến khích GV tích cực sử dụng phương pháp dạy học nàytheo tôi cần phải:

- Giảm tải các nội dung kiến thức mang tính lý thuyết hàn lâm, đưathêm những vấn đề thực tế thiết thực của cuộc sống có liên quan đến nội dung bàihọc vào sách giáo khoa

- Xây dựng hệ thống tình huống có vấn đề trong từng bài, từng chương

cụ thể theo hệ thống sách giáo khoa hiện hành

- Tổ chức các buổi tập huấn giới thiệu và hướng dẫn các phương pháp

và kỹ thuật dạy học mới để phối hợp với PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề,DHDA làm cho việc vận dụng các phương pháp này trở nên đơn giản và dễ dànghơn

- Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề: Khái niệm dạy học nêu vấn

đề, tình huống có vấn đề, quy trình dạy học sinh giải quyết vấn đề và sử dụngPPDH phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học hóa học ở trường phổ

Trang 39

thông hiện nay.

- Phương pháp đàm thoại và dạy học dự án

Tiến hành tìm hiểu thực trạng việc sử dụng PPDH phát hiện và giảiquyết vấn đề qua điều tra 57 GV hóa học của 7 trường THPT thuộc thành phốHải Phòng Kết quả điều tra cho thấy GV nhận thức được tính tích cực củaPPDH phát hiện và giải quyết vấn đề xong sự vận dụng chúng trong dạy họccòn hạn chế

Qua nghiên cứu cơ sở lý luận cho thấy PPDH phát hiện và giải quyếtvấn đề có ý nghĩa tích cực trong việc phát triển tư duy sáng tạo, năng lực tựhọc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp cho học sinh Vì vậy PPDH pháthiện và giải quyết vấn đề cần thiết phải nghiên cứu và áp dụng trong ở trườngTHPT góp phần tích cực hóa hoạt động học

37

Trang 40

Chương 5: Đại cương về kim loại

Chương 6: Kim loại kiềm – Kim loại kiềm thổ - Nhôm

Chương 7: Crom – Sắt – Đồng

Với giới hạn của đề tài chúng tôi nghiên cứu, vận dụng PPDH phát hiện

và giải quyết vấn đề cho chương 6 và chương 7

Các nguyên tố kim loại thuộc hai chương này được nghiên cứu sau khihọc sinh đã được trang bị kiến thức chủ đạo về cấu tạo chất (cấu tạo và liênkết hóa học), định luật tuần hoàn, phản ứng hóa học (các loại phản ứng hóahọc, tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học), lý thuyết về sự điện ly và đặc biệt

là học sinh đã nghiên cứu kiến thức đại cương về kim loại Việc nắm vữngcác nội dung kiến thức trên giúp học sinh có cơ sở, có nền móng vững chắc đểdựa vào đó dự đoán, giải thích tính chất của các đơn chất, hợp chất và sự biếnthiên tính chất của các nguyên tố cũng như tính chất của các hợp chất tạothành từ các nguyên tố đó Đồng thời quá trình nghiên cứu cụ thể tính chấtcủa các đơn chất kim loại và hợp chất của chúng sẽ giúp hoàn thiện và pháttriển một số nội dung trong lý thuyết chủ đạo

Khi nghiên cứu kiến thức cơ bản về các nguyên tố kim loại cần chú ýđến việc làm rõ: Đặc điểm cấu tạo, mối liên hệ giữa cấu tạo với tính chất, mốiliên hệ giữa cấu tạo nguyên tử với các hằng số vật lý, các giá trị năng lượng

Ngày đăng: 29/10/2020, 21:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w