1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa ngôn ngữ và văn hóa nga trường đại học ngoại ngữ đại học quốc gia hà nội đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ

117 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 368,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những điểm mạnh 63CỦA SINH VIÊN KHOA NN&VH NGA TRƯỜNG ĐHNN-ĐHQGHN ĐÁP ỨNG YẾU CẦUĐÀOTẠO THEO HỌC CHẾ TÍNCHỈ trước yêu cầu dạy và học theo học chế tín chỉ lấy tự học làm cốt, tăng cường t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Chuyên ngành:

Mã số:

Quản lý giáo dục 601405

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG QUỐC BẢO

HÀ NỘI - 2009

Trang 3

1.4.1 Vị trí, vai trò của công tác quản lý sinh viên trong các trường đại học 28

CỦA SINH VIÊN KHOA NN&VH NGA TRƯỜNG ĐHNN

-ĐHQGHN

2.2 Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên khoa NN&VH 43 Nga trường ĐHNN-ĐHQGHN trước yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ

2.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên 54 khoa NN&VH Nga

thức về vai trò tự học

Trang 4

2.4.1 Những điểm mạnh 63

CỦA SINH VIÊN KHOA NN&VH NGA TRƯỜNG ĐHNN-ĐHQGHN

ĐÁP ỨNG YẾU CẦUĐÀOTẠO THEO HỌC CHẾ TÍNCHỈ

trước yêu cầu dạy và học theo học chế tín chỉ lấy tự học làm cốt, tăng

cường trao đổi, thảo luận và có chỉ đạo chặt chẽ

hướng dẫn sinh viên tự học có hiệu quả

đẩy giảng viên cải tiến phương pháp giảng dạy giúp sinh viên tự học tốt

với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ tạo điều kiện cho sinh viên tự học

hướng tới hoạt động tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ

3.4 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 86

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Nhân loại đang bước vào thế kỷ 21 với sự phát triển nhanh chóng củakhoa học và công nghệ Kinh tế tri thức đang ngày càng mở rộng, với quátrình toàn cầu hoá có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của mỗi quốc gia,mỗi dân tộc, từng cộng đồng, từng gia đình và cá nhân

Việt Nam chúng ta cũng đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, nhằm đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp,văn minh hiện đại và hội nhập quốc tế Điều đó đặt ra nhiệm vụ cho ngànhgiáo dục- đào tạo là phải “…đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,

có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lýtưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tựhọc, khả năng thực hành, lòng say mê và ý chí vươn lên”

Tự học là một yêu cầu không thể thiếu đối với mỗi công dân nói chung,thế hệ trẻ, sinh viên nói riêng Tự học đã trở thành vấn đề cấp thiết đối vớigiáo dục và đào tạo nước ta Hoạt động tự học có ý nghĩa quyết định biến quátrình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Để hoạt động tự học của sinh viên đạtđược những thành quả như mong đợi thì đổi mới công tác quản lý giáo dụcđược xem như giải pháp quan trọng

Chuyển đổi phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ tạo sự thay đổilớn về phong cách, thói quen dạy - học của cả thầy và trò Đối với hình thứcđào tạo này thì khối lượng giờ dạy trên lớp sẽ giảm đi, mà giờ tự học, tựnghiên cứu của sinh viên sẽ tăng lên Vì vậy việc tự học, tự nghiên cứu củasinh viên có vai trò hết sức quan trọng, mang tính quyết định hiệu quả chấtlượng đào tạo

Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga nói riêng và trường Đại học Ngoại

Trang 7

chất lượng học tập của sinh viên, hội nghị nghiên cứu khoa học cũng đã nhiềunăm đề cập đến vấn đề tự học của sinh viên … và làm thế nào để kích thíchsinh viên ngoại ngữ tích cực hơn nhằm nâng cao kết quả học tập Đồng thờicũng đã có một số giải pháp như: đổi mới phương pháp giảng dạy theohướng phát huy tính tích cực, tính sáng tạo, đặc biệt là công tác quản lý, tổchức của trường đối với hoạt động tự học song các biện pháp đó chưa đượcchú ý và quan tâm đúng mức nên kết quả vẫn chưa được như mong muốn.

Do vậy, ngoài việc đổi mới phương pháp dạy học thì việc cải tiến một số biệnpháp trong công tác quản lý để nâng cao hoạt động tự học cho sinh viên củatrường là một vấn đề cấp thiết Nhất là trong giai đoạn hiện nay, trường Đạihọc Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội đang chuyển đổi sang đào tạo theohọc chế tín chỉ thì vấn đề tự học càng trở nên là vấn đề đặc biệt quan tâm

Chính vì vậy tôi đã chọn hướng nghiên cứu với tên đề tài: “Quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất biện pháp quản lýhoạt động tự học của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở khoaNgôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN đáp ứngyêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tự học của sinh viên các trường đại học 3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa

Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh viên

Trang 8

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Văn hoá Nga đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ

5 Giả thuyết khoa học

Nếu tìm được biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoaNgôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia HàNội phù hợp, đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ thì chất lượng hoạtđộng học tập của sinh viên sẽ được nâng cao, đáp ứng mục tiêu đào tạo củanhà trường trong giai đoạn hiện nay

6 Phạm vi đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoaNgôn ngữ và Văn hoá Nga Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia HàNội từ năm học 2006-2007 đến nay

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

- Thu thập, nghiên cứu, phân tích xử lý tài liệu

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ:

- Sử dụng công cụ thống kê để xử lý số liệu

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn trình bày trong 3 chương Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Trang 9

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ

và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội theohọc chế tín chỉ

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ

và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội đápứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ

Trang 10

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Những quan điểm về tự học:

Trong lịch sử phát triển giáo dục, tự học là vấn đề được quan tâmnghiên cứu từ lâu cả về lý luận và thực tiễn, nhằm phát huy vai trò của ngườihọc và nâng cao chất lượng của hoạt động tự học Song từng giai đoạn lịch sửnhất định, ở mỗi quốc gia tự học được nghiên cứu đề cập dưới nhiều khíacạnh khác nhau

Khổng Tử (551-479 trước công nguyên), nhà tư tưởng nổi tiếng và nhà

sư phạm vĩ đại của Trung Quốc, về phương pháp giáo dục ông đã đề cao việc tựhọc, tự luyện, tu nhân, trú trọng phát huy mặt tích cực, sáng tạo, năng lực nộisinh Đề cập đến việc học tập, Khổng Tử xác định “Học nhi thời tập chí”, việchọc tập theo ông phải gắn liền với thực hành để thông suốt những điều đã học.Ông đề cập và nhấn mạnh mối quan hệ tác động giữa việc học tập và tư duytrong học tập, ông cho đó là hai yếu tố ràng buộc không thể thiếu của một vấnđề: “Học nhi bất tư vong, tư nhi bất học tất đãi” Ông cho rằng học mà khôngnghĩ thì mờ tối, nghĩ mà không học thì khó nhọc, mất công Do vậy, với ông việchọc tập và tự học là cần thiết và gắn bó mật thiết với nhau

Socrat (469-309 trước công nguyên) đã từng nêu khẩu hiệu “Anh hãy

tự biết lấy anh” qua đó, mong muốn học trò phát hiện ra “chân lý” bằng cáchđặt câu hỏi để dần dần tìm ra kết luận

Raja Roy Singh, nhà giáo dục Ấn Độ trong tác phẩm “Giáo dục cho thế

kỷ XXI, những triển vọng của Châu Á Thái Bình Dương” đã đưa ra quanđiểm về quá trình “Nhận biết dạy- học”, và ông chủ trương rằng người họcphải là người tham gia tích cực vào quá trình “Nhận biết dạy - học” Theoông “Sự học tập do người học chủ đạo”

Một trong những đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất trong xã hội học tập

Trang 11

ngữ), hay “Bác học không có nghĩa là ngừng học” (Đác-uyn) Quan niệm tựhọc và học tập suốt đời nổi lên trong thời đại ngày nay như một chìa khoá mởcửa đi vào thế kỉ 21 - thế giới của nền kinh tế tri thức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tấm gương sáng ngời về ý chí quyết tâmtrong tự học, tự rèn luyện Người luôn cho rằng học tập giúp con người tiến

bộ, nâng cao phẩm chất, mở rộng hiểu biết, làm thay đổi hiệu quả lao động.Người đã động viên toàn dân: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập

là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được do đó

mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập”

Khi bàn về vấn đề tự học, giáo sư Tạ Quang Bửu cũng đã viết “Tự học

là khởi nguồn của phong cách tự đào tạo đồng thời là cái nôi nuôi dưỡng sựsáng tạo Ai giỏi tự học ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, người đó sẽtiến xa hơn”

Tự học - tự đào tạo là một vấn đề được nghị quyết Đại hội Đảng toànquốc lần thức VIII và Trung ương II (khoá VIII) đề cập đến rất đậm nét: “Tậptrung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, sáng tạocủa học sinh” (NQĐH VIII), “bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tựnghiên cứu cho học sinh, phát triển mạnh phong trào tự học - tự đào tạothường xuyên và rộng khắp trong toàn dân…”

Trong bối cảnh đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc

tế hiện nay, nhất là khi nước ta chính thức là thành viên của tổ chức thươngmại thế giới (WTO), đã đặt ra những yêu cầu mới cho giáo dục và đào tạo.Đòi hỏi GD-ĐT phải tự đổi mới Một trong những nội dung đổi mới giáo dụcđược đề cập nhiều hơn cả là đổi mới phương pháp dạy - học, nhất là phươngpháp học tập - tự học

Trong khoa học, đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về vấn đề

tự học như: “Quá trình dạy - tự học” của giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, giáo sư

Vũ Văn Tảo; “Luận bàn về kinh nghiệm tự học” của giáo sư Nguyễn Cảnh

Trang 12

Toàn, “Tự học - chìa khoá vàng của giáo dục” của giáo sư Phan Trọng Luận,

và nhiều công trình nghiên cứu về tự học của các giáo sư, tiến sĩ, các nhànghiên cứu giáo dục như: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo,

Hà Thị Đức…với mục đích nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên, góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo

1.1.2 Những quan điểm dạy và học theo tín chỉ:

Xuất phát từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi sinhviên có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đạihọc phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thựctiễn cuộc sống, vào năm 1982 Viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế hệthống chương trình đào tạo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trìnhmềm dẻo cấu thành bởi các môđun mà mỗi sinh viên có thể lựa chọn một cáchrộng rãi Có thể xem đó là điểm mốc khai sinh học chế tín chỉ

Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi hầu nhưtrong mọi trường đại học Hoa Kỳ Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng

hệ thống tín chỉ trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình:các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan,Malaisia, Indonesia, Ấn Độ… Tại Trung Quốc từ cuối thập kỷ 80 đến nay hệthống tín chỉ cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường đại học Vào năm

1999, 29 Bộ trưởng đặc trách giáo dục đại học ở các nước trong Liên minh

Châu Âu đã ký Tuyên ngônBoglona nhằm hình thành Không gian Giáo dục

đại học Châu Âu thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung quan

trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng học chế tín chỉ trong toàn hệthống giáo dục đại học để tạo thuận lợi cho việc cơ động hoá, liên thông hoạtđộng học tập của sinh viên trong khu vực Châu Âu và trên thế giới

Trước năm 1975, một số trường đại học chịu ảnh hưởng của Mỹ tạiMiền Nam Việt Nam đã áp dụng tín chỉ: Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học

Trang 13

Trong quá trình “Đổi mới” ở nước ta từ cuối 1986 chuyển nền kinh tế

kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hộichủ nghĩa, GDĐH ở nước ta cũng có nhiều thay đổi Hội nghị Hiệu trưởngđại học tại Nha Trang hè 1987 đã đưa ra nhiều chủ trương đổi mới GDĐH,trong đó có chủ trương triển khai trong các trường đại học quy trình đào tạo 2

giai đoạn và môđun hoá kiến thức Theo chủ trương đó, học chế “học phần”

đã ra đời và triển khai trong toàn bộ hệ thống các trường đại học và cao đẳngnước ta từ năm 1988 đến nay Học chế học phần được xây dựng trên tinh

thần tích luỹ dần kiến thức theo các môđun (môn học) trong quá trình học tập, tức là theo ý tưởng học chế tín chỉ xuất phát từ Mỹ Tuy nhiên, về một số

phương diện, học chế học phần chưa thật sự mềm dẻo như học chế tín chỉcủa Mỹ, do đó nó được gọi là “sự kết hợp niên chế với tín chỉ”, tuy nhiênnhững khó khăn về đời sống xã hội nói chung và trong các trường đại học nóiriêng lúc đó chưa cho phép đặt vấn đề thực hiện học chế môđun hoá triệt để

Vào năm 1993, khi những khó khăn chung của đất nước và của cáctrường đại học có phần dịu bớt, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương tiến thêmmột bước, thực hiện học chế học phần triệt để hơn, theo mô hình học chế tínchỉ của Mỹ Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh là nơi đầutiên áp dụng học chế tín chỉ từ năm 1993, rồi các trường Đại học Đà Lạt, Đạihọc Cần Thơ, Đại học Thuỷ Sản Nha Trang… và một số trường đại học khác

áp dụng từ năm 1994 và các năm sau đó

Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN bắt đầu chuyển đổi sang đàotạo theo học chế tín chỉ từ năm học 2006-2007 Mặc dù trong các hội thảo vềnâng cao chất lượng học tập của sinh viên, hội nghị nghiên cứu khoa họccũng đã đề cập nhiều đến vấn đề tự học của sinh viên nhưng nghiên cứu vềhoạt động tự học theo học chế tín chỉ thì vẫn còn mới lạ, nhất là đối với sinhviên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga, nhiều sinh viên ngay từ khi đăng ký dựthi vào khoa đó không phải vì học giỏi ngôn ngữ đó, cũng không phải vì niềm

Trang 14

say mê mà chủ yếu là giải pháp tình thế dẫn đến kết quả học tập của các emkhông được cao Chính vì vậy, là một cán bộ quản lý sinh viên của khoa, tácgiả đi sâu vào việc nghiên cứu tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động tự họccủa sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ -ĐHQGHN góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên khoaNN&VH Nga nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục của Nhà trườngtrong xu hướng đào tạo theo học chế tín chỉ.

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Sinh viên:

Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “student” có nghĩa

là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức Nóđược dùng tương đương với từ “student” trong tiếng Anh, “Etudiant” trongtiếng Pháp và “Cmgenm” trong tiếng Nga để chỉ những người đang theo học

Theo X.L.Rubinsen quan niệm: “sinh viên” là đại biểu của một nhóm

xã hội đặc biệt được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng để chuẩn bịcho hoạt động lao động và sản xuất vật chất cho xã hội Nhóm sinh viên rất cơđộng được tổ chức theo một mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bị thựchiện vai trò xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong lĩnh vực xã hội, sinhviên là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ tri thức được đào tạo thành người laođộng có tay nghề cao tham gia hoạt động tích cực

Quy chế công tác HSSV trong các trường đạo tạo của Bộ Giáo dục vàđào tạo thì “sinh viên” là người đang học hệ Đại học và Cao đẳng

Như thế, nếu không xét về hình thức gọi tên thì sự ra đời của thuật ngữ

“sinh viên” đã gắn liền với lịch sử ra đời của trường đại học (hơn 700 nămđối với SV thế giới và gần 300 năm đối với sinh viên Việt nam)

Trang 15

Theo cách phổ biến hiện nay trong xã hội thì khái niệm “sinh viên”được Nhà nước thể chế hoá, pháp lý hoá thuật ngữ này bằng luật định TrongLuật giáo dục đã thống nhất cách gọi đối với sinh viên như sau:

Sinh viên là người đang học tại các trường cao đẳng, trường đại học[3,tr.73]

Như vậy, tất cả những người đang học ở bậc cao đẳng và đại học đềuđược gọi là sinh viên

Ngày nay, “học, học nữa, học mãi” (Lênin) là khẩu hiệu của toàn xã hội

và học tập là công việc suốt đời Các trường cao đẳng và đại học mở rộng cửacho tất cả những ai có nguyện vọng và điều kiện không phân biệt lứa tuổi,giới tính, giàu nghèo… đều có thể học bằng nhiều con đường, hình thức khácnhau: chuyên tu, tại chức, văn bằng 2… Do đó, với khái niệm SV như trên thìngoại diên của nó rất rộng

Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài này chỉ nghiên cứu với đối tượng làsinh viên hệ chính quy thì có thể thu hẹp nội hàm của khái niệm này như sau:

đình về kinh tế

tầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập, chuẩn bị

nghề nghiệp chuyên môn để bước vào một nhóm xã hội mới là tầng lớp tri thức trẻ

1.2.2 Quản lý, các chức năng quản lý

1.2.2.1 Quản lý:

Trang 16

Thuật ngữ “quản lý” (từ Hán Việt) gồm hai quá trình tích nhau Quátrình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định” Quá trình

“lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống (tổ chức) vào thế “pháttriển” Nếu chỉ “quản” thì tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “lý” thì tổ chức phát triểnkhông bền vững Do đó trong “quản” phải có “lý” và ngược lại để làm cho hệthống ở trạng thái cân bằng động, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quảtrong môi trường tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bênngoài tổ chức [9, tr.1]

Quản lý là sự điều khiển một hệ thống hoạt động xã hội ở tầm vĩ môcũng như vi mô vì vậy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận

có những định nghĩa khác nhau

K.Marx đã từng nói đến sự cần thiết của quản lý: “Bất kỳ một lao động

xã hội nào được tiến hành trên một quy mô tương đối lớn cũng đều cần có sựquản lý, nó xác lập mối quan hệ hài hoà giữa các công việc riêng rẽ và thựctiễn những chức năng chung nhất xuất phát từ sự vận động của toàn cơ cấusản xuất khác với vận động của từng bộ phận độc lập trong nền sản xuất ấy.Một nghệ sĩ vĩ cầm tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì phải có nhạctrưởng” [4, tr.480]

Còn theo H.Koontz “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo

sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức.Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó conngười có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất

và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [12, tr.33]

F.W.Taylor (1856-1915), người được coi là cha đẻ của thuyết quản lýkhoa học đã nêu lên tư tưởng cốt lõi trong quản lý là: “Mọi loại công việc dùnhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt chẽ” Theo ông:

“Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và cái đó làm thế

Trang 17

Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạtđộng quản lý là tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chứcnhằm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức” [19, tr.1].

Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổchức, định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị,văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, cácnguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường vàđiều kiện cho sự phát triển của đối tượng”[20, tr.7]

Tóm lại, hoạt động quản lý luôn tồn tại hai thành tố đó là chủ thể quản

lý và khách thể quản lý Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay một nhómngười có chức năng quản lý, điều khiển tổ chức để tổ chức vận hành và đạtđược mục tiêu Khách thể quản lý là những người chịu sự tác động chỉ đạocủa chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung

1.2.2.2 Chức năng quản lý:

Chức năng của quản lý là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phảithực hiện để đạt mục đích, mục tiêu quản lý đề ra Có nhiều cách phân chia vềchức năng quản lý nhưng cơ bản thống nhất ở bốn chức năng cơ bản:

Kế hoạch là văn bản trong đó xác định mục tiêu, mục đích của một tổchức và những con đường, các biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu,mục đích đó Chức năng kế hoạch hoá có 3 nội dung cơ bản là:

+ Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức;

Trang 18

+ Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này.

các mục tiêu, xác định các hoạt động ưu tiên

- Chức năng tổ chức:

Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối cácnguồn lực để thực hiện các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa họccho con người, công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác động bộphận tạo nên một tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so vớitổng số các hiệu quả của các tác động thành phần Công tác tổ chức bao gồm:

tổ chức

- Chức năng chỉ đạo:

Chỉ đạo là quá trình điều khiển, điều hành, tác động, huy động và giúp

đỡ con người, tổ chức trong hệ thống thực hiện nhiệm vụ Chỉ đạo là quátrình tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họhoàn thành những công việc nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức

Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:

- Chức năng kiểm tra:

Để hoàn thành chức năng lãnh đạo, người lãnh đạo hệ thống cần thiết

và phải thực hiện chức năng kiểm tra của quản lý Lãnh đạo mà không kiểm

Trang 19

Kiểm tra theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:

Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thànhmột chu trình quản lý Chu trình quản lý bao gồm bốn giai đoạn với sự thamgia của hai yếu tố quan trọng thông tin và quyết định Trong đó thông tin cóvai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của mộtquá trình quản lý tiếp theo

Sơ đồ 1.1 Các chức năng trong một chu trình quản lý

Dạy là quá trình hoạt động của thầy, thông qua sự truyền đạt nội dung

mà chỉ đạo (tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra) hoạt động của trò, nhằm làm chotrò đạt tới mục đích dạy học [21, tr.91]

Trang 20

Học là quá trình con người lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

và những phương thức hành vi mới, do vậy ta thấy học chính là hoạt độngnhằm tạo ra sự thay đổi kinh nghiệm của người học một cách bền vững Đểlĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội, con người có nhiều cách chiếm lĩnhkhác nhau Đó có thể là do được truyền thụ, do tự quan sát, đúc kết từ laođộng, môi trường sống…v.v

Học có thể diễn ra một cách ngẫu nhiên trong cuộc sống hàng ngày và

nó diễn ra mọi nơi, mọi lúc Cách học này diễn ra khi tiến hành công việc qualao động sản xuất, hoạt động vui chơi…, cách học này không có chủ định dẫnđến kết quả tri thức mà người học nắm được sẽ rời rạc và không có hệ thống

lại Nhưng thực tiễn có thể tự cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con

người thì đòi hỏi con người phải nắm được các quy luật của tự nhiên, xã hội

và quy luật về sự hình thành, phát triển con người Nói cách khác, ngoài việclĩnh hội những tri thức mang tính kinh nghiệm ra, con người cần phải nắm bắtđược những tri thức khoa học, những năng lực thực tiễn mới mà cách họcngẫu nhiên không tạo ra được Để có được những năng lực đó người ta tiếnhành một hoạt động hướng vào để thực hiện mục tiêu đó là hoạt động học (cóchủ định)

Quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất của hoạt động chỉ đạo củathầy với hoạt động lĩnh hội tự giác, tích cực, tự lực, sáng tạo của trò, nhằmlàm cho cho trò đạt được mục đích dạy học [21, tr.91]

Quá trình dạy - học là một hệ thống toàn vẹn gồm ba thành tố cơ bản:thầy, trò, tri thức Ba thành tố này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vàonhau, quy định lẫn nhau theo những quy luật riêng nhằm kết hợp chặt chẽ quátrình dạy của thầy với quá trình học của trò làm cho dạy học cộng hưởng với

tự học tạo ra chất lượng và hiệu quả trong giáo dục

Trang 21

Sơ đồ 1.2 Cấu trúc của quá trình dạy - học

Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não,suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổnghợp…) và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất củamình, rồi cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trungthực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại,lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi…)

để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đóthành sở hữu của mình” [22, tr59-60]

Theo giáo sư Vũ Văn Tảo: “Học, cốt lõi là tự học, là quá trình pháttriển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phúgiá trị con người mình bằng cách thu nhận, xử lý và điều chỉnh thông tin từmôi trường sống xung quanh mình”[24, tr.1]

Theo quan điểm của tác giả Lê Khánh Bằng: “Tự học là tự mình suynghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnhvực khoa học nhất định” [16, tr.3]

Trang 22

Có nhiều cách tự học:

- Tự mình mò mẫm (người học không có điều kiện đi học, các tri thức họ

có được là do sự tìm tòi trải nghiệm của chính bản thân họ trong cuộc sống)

vấn nhất định, đã có một thời gian dài học với thầy)

1.3.1.2 Đặc điểm của học chế tín chỉ:

- Kiến thức được cấu trúc thành các mô-đun (học phần)

trọn vẹn trong một học kỳ và được đánh giá độc lập với các học phần khác

chỉ được quy định bằng một số tiết học trên lớp tương đương với 15 tiết lý thuyết;30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45-90 giờ thực tập tại cơ sở; 45-

60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn

thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị bài ở nhà

- Quá trình học tập là sự tích luỹ kiến thức của người học theo từng học phần (tín chỉ).

Trang 23

- Lớp học tổ chức theo từng học phần, sinh viên đăng ký học các học

phần ở đầu mỗi kỳ học Một năm học có thể gồm 2 học kỳ chính (15 tuần học và 3tuần thi ) và có thể có một học kỳ hè (5 tuần học và 1 tuần thi), hay gồm 3 học kỳ(12 tuần học và 3 tuần thi) hoặc chia làm 4 học kỳ (10 tuần học và 2 tuần thi)

- Đánh giá thường xuyên, thang điểm 4 bậc (A, B, C, D hay 4, 3, 2, 1)

- Quy định khối lượng kiến thức phải tích luỹ cho từng văn bằng Dựa

vào khối lượng tín chỉ đã tích luỹ để xếp năm học phù hợp cho người học

- Có hệ thống cố vấn học tập: Mỗi cố vấn học tập phụ trách một số sinh

viên kể từ lúc vào trường cho đến khi ra trường Cố vấn học tập phải nắm vữngtình hình học tập của sinh viên mình phụ trách, tư vấn cho sinh viên chọn chươngtrình và tiến trình học phù hợp và giúp sinh viên đăng ký học từng học kỳ

- Chương trình đào tạo mềm dẻo, có nhiều khả năng lựa chọn cho sinh

viên và tạo điều kiện dễ dàng cho sinh viên chuyển ngành hoặc học một lúc 2chương trình

- Không có thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khoá luận tốt nghiệp

đối với các chương trình cao đẳng và đại học

(Theo Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ

ban hành theo Quyết định số 43/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/8/2007) 1.3.1.2 Các ưu điểm của học chế tín chỉ:

- Hiệu quả trong giáo dục và đào tạo:

Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình tích luỹ kiến thức

và kỹ năng của sinh viên để dẫn đến văn bằng Với học chế này, sinh viênđược chủ động thiết kế kế hoạch học tập cho mình, được quyền lựa chọn chomình tiến độ học tập thích hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh riêng.Điều đó đảm bảo cho quá trình đào tạo trong các trường đại học trở nên mềm

Trang 24

dẻo hơn, đồng thời cũng tạo khả năng cho việc thiết kế chương trình liên thông giữa các cấp đào tạo đại học và giữa các ngành đào tạo với nhau.

phần khác nhau dựa theo những quy định chung về cơ cấu và khối lượng của từnglĩnh vực kiến thức Nó cho phép SV dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong tiếntrình học tập khi thấy cần thiết mà không cần phải học lại từ đầu

học mới một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường laođộng và tình hình lựa chọn ngành nghề của SV

chung, tạo thuận lợi cho SV khi cần chuyển trường cả trong nước và ngoài nước.

- Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo

học phần chứ không phải theo năm học, do đó việc hỏng một học phần nào đókhông cản trở quá trình học tiếp tục, SV không bị buộc phải quay lại học từ đầu Chính vì vậy giá thành đào tạo thấp hơn so với đào tạo theo niên chế

cho SV nhiều trường, nhiều khoa, tránh các môn học trùng lặp nhiều nơi; ngoài ra

SV có thể học môn lựa chọn ở các khoa khác nhau Cách tổ chức trên cho phép sửdụng được đội ngũ giảng viên giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng môn học

1.3.1.3 Các nhược điểm của học chế tín chỉ:

- Cắt vụn kiến thức:

Phần lớn các môđun trong học chế tín chỉ được quy định tương đối nhỏ,

cỡ 3 hoặc 4 tín chỉ, do đó không đủ thời gian để trình bày thật sự có đầu, có đuôi,theo một trình tự diễn biến liên tục, từ đó gây ấn tượng kiện thức bị cắt vụn Vìvậy người ta thường khắc phục bằng cách không thiết kế các môđun

Trang 25

quá nhỏ dưới 3 tín chỉ, và trong những năm cuối người ta thường thiết kế cácmôn học hoặc tổ chức các kỳ thi có tính tổng hợp để SV có cơ hội liên kết,tổng hợp các kiến thức đã học.

- Khó tạo nên sự gắn kết giữa sinh viên:

Các lớp học môđun không ổn định, khó xây dựng tập thể gắn kết chặtchẽ như các lớp theo khoá học nên việc tổ chức sinh hoạt đoàn thể của SVgặp không ít khó khăn Vì nhược điểm này mà có SV nói học chế tín chỉ

“khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, không coi trọng tính cộng đồng” Tuynhiên người ta thường khắc phục bằng cách xây dựng các tập thể tương đối

ổn định qua các lớp khoá học trong năm thứ nhất và đảm bảo sắp xếp một sốbuổi xác định không bố trí thời khoá biểu để SV có thể cùng tham gia các sinhhoạt đoàn thể chung

1.3.2 Dạy - học theo học chế tín chỉ:

1.3.2.1 Nội dung hoạt động giảng dạy theo học chế tín chỉ:

chuẩn bị tài liệu, dụng cụ học tập; thông báo các quy định của giảng viên đối vớisinh viên trong quá trình giảng dạy

1.3.2.2 Hoạt động giảng dạy theo các loại giờ tín chỉ:

- Giờ lý thuyết:

Ngoài việc hướng dẫn sinh viên nắm rõ được vấn đề đã nêu trong đềcương học phần về mục tiêu, nội dung tự học, học liệu, cách thức kiểm tra-đánh giá thường xuyên, giảng viên có trách nhiệm xây dựng kịch bản cho mộtgiờ lên lớp:

Trang 26

+ Xác định thời gian, chủ đề, nội dung, yêu cầu cho giờ lên lớp lý thuyết;

+ Trình bày cấu trúc nội dung dạy học và các yêu cầu cần thực hiện;

tập trên lớp hoặc tự học ở nhà

Giờ thảo luận có thể được tổ chức theo các cách dưới đây

thảo luận trên lớp

và gửi cho giảng viên trước giờ thảo luận trên lớp Tại giờ thảo luận trên lớp,giảng viên phân tích những vấn đề cốt lõi của nội dung thảo luận và hướngdẫn sinh viên xử lý tiếp những nội dung cần mở rộng hay còn vướng mắc,chưa giải quyết được khi thảo luận ở nhà

thuyết trình của nhóm Tại giờ thảo luận trên lớp, đại diện các nhóm trình bày bàithuyết trình và cùng tranh luận, giảng viên phân tích những vấn đề cốt lõi của nộidung thảo luận và hướng dẫn sinh viên xử lý tiếp những nội dung cần mở rộng haycòn vướng mắc, chưa giải quyết được khi thảo luận ở nhà

Một số yêu cầu cơ bản đối với giờ thảo luận:

viên chỉ định và không nên vượt quá 10 sinh viên/nhóm

nêu rõ yêu cầu cần đạt được, những sản phẩm phải báo cáo, các lưu ý về tài liệutham khảo

Trang 27

sinh viên trong quá trình thảo luận, nhấn mạnh những điểm quan trọng của nội dung thảo luận.

- Giờ bài tập: Giờ bài tập là thời gian lên lớp dành cho sinh viên làm

bài tập hoặc chữa bài tập đã giao cho sinh viên tự làm ở nhà

Một số yêu cầu đối với giờ bài tập:

cầu phản ánh được nội dung đó trong quá trình làm bài tập

thực hiện như các bài tập lớn, giảng viên cần xây dựng kịch bản tổ chức giờ

bài tập và thông báo trước để sinh viên chuẩn bị

- Giờ thực hành: Bao gồm giờ thực hành của học phần có cả lý thuyết

và thực hành; giờ thực hành của học phần thực hành, thực tập

Một số yêu cầu đối với giờ thực hành:

cần chuẩn bị

Trang 28

Một số yêu cầu cơ bản đối với giờ tự học xác định:

gian sinh viên thực hiện nội dung giờ tự học xác định

1.3.3 Dạy học theo tín chỉ đòi hỏi SV phải biết tự học:

1.3.3.1 Đặc điểm tự học của sinh viên ở các trường đại học:

Tại “Báo cáo về tình hình giáo dục” của Chính phủ -2004 đã ghi rõ:…

“Mục tiêu của của giáo dục không chỉ đào tạo nhân lực mà còn là phát triểncon người Việt Nam với đầy đủ bản lĩnh sắc thái Việt Nam” Cũng tại Báocáo trên, còn nhấn mạnh: Đối với người học, giờ đây Học không phải chỉ có 4trụ cột “Học để biết, để làm, để cùng chung sống với nhau và để làm người”

mà còn cần phải biết tìm tòi, sáng tạo, biết độc lập, tự lực suy nghĩ, biết đưa

ra quyết định của mình và làm chủ được thị trường đưa đất nước tiến kịp cácnước phát triển

Tự học luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình học tập và phát triểncủa mỗi người Bàn về vai trò của tự học nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đãphát biểu: “Tự học tự đào tạo là con đường phát triển suốt mỗi cuộc đời, mỗicon người trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau, đócũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam Chấtlượng và hiệu quả của giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sángtạo của người học, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Quy

mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học” Trích thư gửiHội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo 6/1/1998

Trang 29

“ Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nghiệp vụ, có trình

độ, có lý tưởng cách mạng, có quyết tâm vươn lên những đỉnh cao của vănhoá, khoa học hoặc chỉ đạo việc thực hiện những nhiệm vụ chuyên môn domình phụ trách, có tiềm lực để từng bước tiến hành giải quyết các vấn đề thựctiễn do cuộc sống đặt ra trong phạm vi “nghề nghiệp” của mình với phươngchâm “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Trên ý nghĩa đó,việc tự học của sinh viên không còn giống tự học của học sinh ở phổ thông.Đối với sinh viên đại học việc tự học có vai trò đặc biệt quan trọng Phần lớn

SV khi mới bước chân vào ngưỡng của đại học thường ngỡ ngàng và lúngtúng với cách giảng dạy và học tập mới bởi họ đã quá quen với cách học ởphổ thông Học đại học là đi sâu vào một chuyên ngành để chuẩn bị cho mộtnghề trong tương lai Do đó, sinh viên phải tự trang bị cho mình những hiểubiết cơ bản, vững vàng về nghề đó, đồng thời phải có nhiều hiểu biết khác nữatheo yêu cầu của cuộc sống Giờ đây, công việc tự học của sinh viên trở nênrất quan trọng, rất nặng nề, nó trở thành một bộ phận cấu thành của giáo dụcđại học Do phương pháp học tập ở trường đại học khác cơ bản so vớiphương pháp học ở phổ thông, ở đại học không có sự kiểm tra hàng ngày củagiáo viên nên việc học tập của sinh viên phần lớn là tự học Sinh viên tự đề ra

kế hoạch và tự thực hiện kế hoạch Các bài kiểm tra chính là kết quả học tập

và nghiên cứu của sinh viên Việc tự học của sinh viên đại học còn có một đặcđiểm; đó là hoạt động tự học diễn ra liên tục, trong một phạm vi lớn nhằmlĩnh hội rất nhiều tri thức Sinh viên đại học phải tự tìm tòi tài liệu, chọn đọctài liệu sao cho thích hợp với môn học và phải tỏ ra thật sự khoa học trongcông tác tự học mới đạt được kết quả Tự học của sinh viên đại học với sự nỗlực cao, tự giác cao; sinh viên thực sự làm chủ thời gian, phương pháp, phảiquan tâm đến chất lượng học tập của bản thân để từ đó có phương hướngnâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho mình, chuẩn bị cho ngày mai lập nghiệpbằng sự tự tin tuyệt đối

Trang 30

Hoạt động tự học của SV đại học gắn liền với sự hướng dẫn của thầy.

Hoạt động này sẽ diễn ra ở 2 phạm vi: tự học trên lớp và tự học ngoài giờ lên lớp.

cùng dạng để làm nhằm rèn luyện những kiến thức cần học cho thuần thục

Ngày nay khi khoa học, công nghệ thông tin phát triển mạnh, thông tinbùng nổ thì những kiến thức nhà trường chỉ là kiến thức nền tảng để trên cơ

sở đó người học vươn ra tiếp thu kiến thức trong gia đình và ngoài xã hội.Vấn đề tự học lúc này trở thành con đường cơ bản để nâng cao trình độ hiểubiết cho bản thân Để hoàn thành tốt chương trình ở bậc đại học và cũng là đểchuẩn bị cho mình một hành trang tốt khi bước vào cuộc đời, mỗi sinh viêncần xây dựng cho mình kế hoạch học tập khoa học và sáng tạo phù hợp vớinăng lực của bản thân

1.3.3.2 Tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ:

Trang 31

Tự học được đánh giá là rất quan trọng và nó càng trở nên quan trọnghơn đối với đào tạo theo tín chỉ Học theo tín chỉ là phải áp dụng phươngpháp học tích cực, đó là phương pháp lấy tự học và học cái cốt lõi là chính.Phương pháp học này phát huy tính năng động và sáng tạo của sinh viên SVphải tự hình thành tính tự giác học tập, khi đã có nhu cầu thì SV sẽ tự tìmđược phương pháp học tập phù hợp Mô hình đào tạo này vừa là thách thứcnhưng cũng là cơ hội cho SV mới rèn luyện và thích nghi, để tự tin hơn trong

xu thế hội nhập

Đào tạo theo học chế tín chỉ sinh viên phải vừa tiếp thu kiến thức trênlớp thông qua bài giảng của giảng viên, vừa thảo luận, làm bài tập trên lớp vàtìm kiếm tích luỹ kiến thức ngoài lớp học (qua các tài liệu mà giảng viên yêucầu đọc, qua các bài tập, thí nghiệm mà giảng viên giao) vừa tự học ở nhà,thư viện…Giờ học trên lớp giảm mà tăng thời gian thảo luận, học nhóm vàthời gian tự học Để lĩnh hội được kiến thức đòi hỏi mỗi sinh viên phải hiểu

rõ được bản chất của học chế tín chỉ, từ đó mới tìm ra được phương pháp họctập phù hợp với từng loại hình lớp học

- Học lý thuyết trên lớp:

Giờ học lý thuyết sinh viên không chỉ ghi chép những lời thầy cô giảngtrên lớp một cách thụ động mà phải nghe, suy ngẫm và nắm được “linh hồn”những vấn đề mà thầy cô truyền đạt Thầy cô đặt vấn đề thế nào? Tại sao lạiđặt vấn đề như vậy? Nguyên tắc để giải quyết vấn đề là gì? Sinh viên chưacần nắm rõ những chi tiết cụ thể Vì thế sinh viên không đến lớp sẽ không cóđược bức tranh tổng quát của học phần, của từng chương, từng mục

- Học thảo luận trên lớp:

Giờ thảo luận trên lớp là giờ để làm rõ những vấn đề của giờ lý thuyết

áp dụng vào những bài toán cụ thể Nếu như giờ lý thuyết sinh viên chủ yếu

là nghe, suy ngẫm thì giờ thảo luận sinh viên phải nói nhiều và tranh luận Ưu

Trang 32

tiên đặt câu hỏi hơn là trả lời, không nên nôn nóng hiểu sâu, mà phải hiểunhững vấn đề cơ bản trước.

- Học ở nhà:

Học cách tự đọc tài liệu, tham khảo giáo trình để hiểu sâu “linh hồn”của từng chương và tiến tới cả học phần Cụ thể việc đọc sách, tài liệu phảiđược thực hiện theo các bước sau:

Tự triển khai những vấn đề cụ thể của học phần như giải bài tập, thiết

kế, chuẩn bị câu hỏi cho các giờ thảo luận trên lớp Tăng cường trao đổi bàitheo nhóm

1.3.3.3 Những khó khăn trong việc tự học theo tín chỉ:

Khó khăn chủ yếu liên quan đến việc tự học là sinh viên chưa cóphương pháp học, thái độ học tập đúng Sinh viên chưa có động cơ tự học,chưa tìm hứng thú học, tự học chưa trở thành nhu cầu của họ Đặc biệt, nhiềusinh viên chưa có các kỹ năng quan trọng của việc tự học, chưa có phươngpháp tự học đúng đắn, hợp lý và khoa học Cụ thể:

hợp với điều kiện của mình

bè, hỏi thầy giáo hay bất cứ ai có khả năng)

làm bài tập…

Trang 33

- Chưa biết cách tận dụng hết các điều kiện thuận lợi trong hoàn cảnh của mình và không biết cách khắc phục khó khăn trong quá trình tự học

Ngoài ra, các yếu tố khách quan, những yếu tố ngoại lực ảnh hưởng đến việc tự học của SV như: cơ sở vật chất, môi trường…

1.4 Quản lý tự học theo học chế tín chỉ.

1.4.1.Vị trí, vai trò của công tác quản lý sinh viên trong các trường đại học:

Trong số những người được giáo dục - đào tạo để có đủ sức làm chủnền khoa học, công nghệ hiện đại của nước nhà sau này thì SV là người tiêubiểu, là những người đang được đầu tư, đang được đào tạo ở giai đoạn cuốicùng trong nhà trường một cách có hệ thống Đó là nguồn lực con người laođộng có chất lượng và có trình độ cao, có chuyên môn sâu, là lực lượng ưu

tú về học vấn trong thanh niên, được Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể,gia đình và toàn xã hội quan tâm chăm sóc và đặt nhiều tin tưởng, hy vọng

Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo nói chung và công tác quản lý nóiriêng thì công tác quản lý SV góp phần hỗ trợ tích cực cho hoạt động dạy -học, cũng như đảm nhận mọi mặt của công tác quản lý Quản lý SV từ cáckhâu hành chính, giáo vụ, đến giáo dục ngoài giờ, giáo dục chính trị tưtưởng, đạo đức và tổ chức phong trào SV… sẽ hỗ trợ và tạo điều kiện về vậtchất và tinh thần học tập để SV rèn luyện trở thành nguồn nhân lực có chấtlượng và trình độ cao Công tác quản lý sinh viên có ý nghĩa quyết định trongviệc đổi mới bền vững yếu tố con người về chất lượng nhận thức thức tri thức

và hành động Quản lý SV là mảng công tác trọng tâm thiết yếu của nền giáodục đại học nước ta

1.4.2 Quản lý tự học - các nội dung quản lý tự học:

Nghị quyết đại hội IX “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy - học … Phát huy tinh thần độc lậpsuy nghĩ sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoànthiện học vấn và tay nghề…”

Trang 34

Nếu như đào tạo theo niên chế, sinh viên phải học theo tất cả những gìnhà trường sắp xếp thì ngược lại, đào tạo theo học chế tín chỉ có nhiều ưuđiểm vượt trội Sinh viên có thể chủ động học theo điều kiện và năng lực củamình Sinh viên được phép lựa chọn nội dung, phương thức học tập, kếhoạch học để đạt được mục tiêu đã chọn Trong quá trình học có thể tuỳ yêucầu của xã hội, sở thích và khả năng của mình, sinh viên có thể thay đổi mụctiêu, nội dung, phương pháp học tập Nói một cách hình tượng là, tổ chức đàotạo đã vạch ra cho sinh viên một bản đồ trên đó có những hướng đi khác nhau

mà sinh viên có thể chọn để đi tới mục tiêu đào tạo Chính vì vậy việc quản lýhoạt động tự học cực kỳ quan trọng đối với sinh viên Giúp các em có sự lựachọn đúng đắn phù hợp với khả năng của mình Với ý nghĩa quan trọng đóquản lý tự học theo học chế tín chỉ có những nội dung sau:

- Thay đổi nhận thức của giảng viên và sinh viên trước yêu cầu dạy

- học theo học chế tín chỉ.

Bất kỳ một hoạt động nào muốn đạt được kết quả tốt thì trước hết bảnthân con người đó phải có nhận thức đúng đắn về việc làm của mình, phải cómục đích, động cơ rõ ràng Theo thuyết “nhu cầu” về động cơ của A.Maslow,các nhu cầu được xếp theo hình tháp từ thấp tới cao: nhu cầu cơ bản - sinhhọc; nhu cầu về an toàn, nhu cầu về sự được thừa nhận, nhu cầu được tôntrọng và nhu cầu tự thể hiện Động cơ tự học của sinh viên cũng có nhiều thứbậc khác nhau Bên cạnh đó mỗi giảng viên, sinh viên phải biết thích ứng vớimột môi trường, hoàn cảnh mới với những yêu cầu, đòi hỏi mới chưa hề cótrong kinh nghiệm của bản thân Chúng ta cần đến sự “thích ứng” khi phảilàm quen, xâm nhập vào môi trường đó - như một điều kiện, một phẩm chấtquan trọng của con người tồn tại, phát triển Nói ngắn gọn, “thích ứng” là sựthay đổi, điều chỉnh bản thân (về ý thức, thói quen, hành vi…) cho phù hợpvới những yêu cầu của hoàn cảnh mới nhằm duy trì sự tồn tại, phát triển

Trang 35

- Xây dựng hệ thống cố vấn học tập có chất lượng hướng dẫn sinh viên tự học có hiệu quả:

Đối với đào tạo tín chỉ thì hệ thống cố vấn học tập có vai trò hết sức tolớn Để việc học tập của sinh viên đạt kết quả tốt thì việc đăng ký các họcphần phù hợp với bản thân là một việc làm hết sức quan trọng Nhiều sinhviên tự bản thân các em chưa đánh giá được đúng năng lực học tập cũng nhưchưa lường hết được hoàn cảnh điều kiện cụ thể của mình dẫn đến lựa chọn,đăng ký các môn học không phù hợp do vậy kết quả học tập không cao Lúcnày các em rất cần sự hỗ trợ, tư vấn từ các cố vấn học tập Cố vấn học tậpchính là những người nắm vững quy chế đào tạo, các quy định hướng dẫncủa nhà trường về công tác đào tạo tín chỉ; phải nắm chắc năng lực, hoàncảnh điều kiện của sinh viên, tư vấn sinh viên chọn chương trình, tiến trìnhhọc phù hợp và giúp sinh viên đăng ký học từng học kỳ

- Quản lý hoạt động dạy của giảng viên thúc đẩy giảng viên cải tiến phương pháp dạy học:

Hoạt động dạy của giáo viên mang tính quyết định chất lượng giáo dục

- đào tạo nói chung và chất lượng dạy học nói riêng Bởi vậy quản lý hoạtđộng dạy là một biện pháp quan trọng hàng đầu trong việc thực hiện nâng caochất lượng dạy-học

Quản lý hoạt động dạy của giảng viên là quản lý chương trình, nộidung và phương pháp dạy học thông qua quy chế chuyên môn, thông qua chỉđạo việc đổi mới phương pháp dạy học, thông qua kiểm tra đánh giá việc thựchiện mục tiêu giảng dạy của giảng viên đối với từng học phần Trưởng bộmôn chịu trách nhiệm kiểm tra, đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viêntheo đề cương học phần đã ban hành của tổ bộ môn mình Đầu mỗi học kỳ,

Tổ trưởng bộ môn tổ chức sinh hoạt chuyên môn để thông báo, thảo luận vềnhững nội dung chuyên môn hay những vấn đề về phương pháp giảng dạy, kỹ

Trang 36

năng tư vấn học phần, phát triển tài liệu, dụng cụ học tập, phương pháp kiểmtra - đánh giá để giúp giảng viên nâng cao chất lượng giảng dạy.

Giảng viên phải chuẩn bị bài giảng nghiêm túc, giảng dạy theo đúng đềcương môn học đã được phê duyệt; sử dụng các phương pháp dạy tiên tiến phùhợp với đào tạo tín chỉ; cung cấp danh mục tài liệu, hướng dẫn sinh viên tự học,

tự nghiên cứu và phải có hình thức kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của sinhviên Hoạt động giảng dạy trong phương thức đào tạo tín chỉ có nhiều điểm khácbiệt và phức tạp hơn nhiều so với đào tạo theo niên chế Để tổ chức quản lý tốthoạt động giảng dạy nhà trường phải có quy chế, quy định hướng dẫn phù hợp

và một hệ thống quản lý theo dõi kiểm tra một cách chặt chẽ

- Hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị:

Trong đào tạo tín chỉ, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy,học tập có ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả học tập của sinh viên Để nhàtrường phát triển, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ đào tạo ra những sản phẩm cóchất lượng thì càng đòi hỏi phải đầu tư và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất,trang thiết bị cho hoạt động dạy - học như phòng làm việc riêng cho thầy để

có điều kiện tư vấn trả lời sinh viên, phương tiện Internet, thư viện với đầy

đủ học liệu cho người học, máy tính, projetor, phòng thí nghiệm…

- Phối kết hợp đồng bộ giữa các đơn vị chức năng hướng tới hoạt động tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ.

Đào tạo theo học chế tín chỉ mang lại nhiều lợi ích trong công tác giáodục đào tạo ở trường đại học: nó làm cho sinh viên chủ động hơn trong họctập, đặc biệt nó tạo ra một tác phong công nghiệp đối với mọi hoạt động củanhà trường

Tuy nhiên việc triển khai học chế tín chỉ cũng gặp rất nhiều khó khăn

về phía những người trực tiếp thực hiện: trước hết, đối với sinh viên, nhữngngười đã được “chăn dắt” từ trường phổ thông khi bước vào đại học hết sức

Trang 37

phải mất thời gian dài để thích ứng Đối với giảng viên, khó khăn lớn nhất làtình trạng quá tải hiện nay của hoạt động giảng dạy làm họ không còn đủ thờigian đầu tư vào việc cải tiến phương pháp giảng dạy và các hoạt đông khác

mà học chế tín chỉ đòi hỏi Hơn nữa, học chế tín chỉ làm cho mức độ tự do củagiáo viên giảm nhiều vì học phải được gắn với các giờ học và lớp học xácđịnh phân bố trong suốt cả học kỳ, rất khó bố trí tập trung thời gian cho cáchoạt động ở ngoài trường Từ đó cần có những vận động để hoạt động hoásinh viên và nâng cao trách nhiệm của giáo viên thì việc triển khai học chế tínchỉ mới thuận lợi

Chính vì vậy cần phải có sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng đối với tất

cả các đơn vị chức năng, tất cả cán bộ quản lý, giảng viên Để việc đào tạotheo học chế tín chỉ đạt hiệu quả phải có sự chỉ đạo rất kiên quyết của BanGiám hiệu, vai trò lãnh đạo của Hiệu trưởng, sự phối hợp đồng bộ giữa cácđơn vị trong trường, giảng viên nhận thức được trách nhiệm và tham gia vàoquá trình đào tạo bằng cả tấm lòng của người thầy

1.4.3 Các biện pháp quản lý tự học

Các biện pháp quản lý là tổ hợp các phương pháp, cách thức tiến hànhcủa chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý

đã đề ra Các biện pháp quản lý hoạt động tự học bao gồm:

Thay đổi nhận thức của giảng viên và sinh viên trước yêu cầu dạy học theo học chế tín chỉ lấy tự học làm cốt, tăng cường trao đổi thảo luận và

-có sự chỉ đạo chặt chẽ

tự học có hiệu quả

tiến phương pháp dạy học giúp sinh viên tự học tốt

theo tín chỉ tạo điều kiện cho sinh viên tự học

Trang 38

- Phối kết hợp đồng bộ giữa các đơn vị chức năng hướng tới hoạt động

tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ

Tiểu kết chương 1.

Sau khi trình bày các khái niệm và các thuật ngữ có liên quan tới đề tài

với mục đích cuối cùng làm sáng tỏ khái niệm về Biện pháp quản lý hoạt

động tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ, chương 1 của luận văn đã đi

vào tìm hiểu mục đích và nội dung của công tác quản lý hoạt động tự học củasinh viên theo học chế tín chỉ cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến công tácquản lý hoạt động tự học của sinh viên Qua đó, toàn bộ chương 1 đã chochúng ta một cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động tự học của SV theohọc chế tín chỉ Những cơ sở lý luận này là nền tảng và định hướng cho việctìm hiểu thực trạng cũng như đề xuất các giải pháp cho công tác quản lý hoạtđộng tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại họcNgoại ngữ - ĐHQGHN đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ

Trang 39

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH

VIÊN KHOA NN&VH NGA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐHQGHN

2.1 Khái quát về trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội.

2.1.1 Quá trình thành lập trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

Năm 1955, Trường Ngoại ngữ đặt tại khu Việt Nam Học xá (BạchMai-Hà Nội) được thành lập theo đề nghị của Bộ Giáo dục và được Thủtướng Chính phủ đồng ý Ngày 5 tháng 9 năm 1955, Trường khai giảng khoáhọc đầu tiên Năm 1958, Trường Đại học Ngoại ngữ được sát nhập vàotrường Đại học Sư phạm Hà Nội và trở thành khoa Ngoại ngữ, đến năm 1963phát triển thành 4 khoa ngoại ngữ: khoa Nga văn, khoa Anh văn, khoa Trungvăn, khoa Pháp văn

Ngày 14 tháng 8 năm 1967, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số128/CP thành lập trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội trên cơ sở 4khoa ngoại ngữ được tách ra từ trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Ngày 10 tháng 12 năm 1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 97/CPthành lập Đại học Quốc gia Hà Nội trên cơ sở sát nhập 3 trường đại học:Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vàTrường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội Là thành viên của Đại họcQuốc gia Hà Nội, năm 1995 trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nộiđược đổi tên thành Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN

2.1.2 Mục tiêu chiến lược phát triển của Trường

Trong giai đoạn hội nhập và phát triển, Trường Đại học Ngoại ĐHQGHN xác định rõ sứ mạng của Nhà trường, đó là “Đào tạo và bồi dưỡnggiáo viên ngoại ngữ cho hệ thống giáo dục quốc dân và hầu hết các lĩnh vực kinh

ngữ-tế xã hội của đất nước; đào tạo cán bộ biên dịch, phiên dịch, chuyên gia nghiêncứu ngoại ngữ; đồng thời thực hiện đào tạo ngoại ngữ và tiếng Việt cho ngườinước ngoài, từ đó định ra các mục tiêu cơ bản để hoàn thành nhiệm vụ chiếnlược mà Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và đào tạo và ĐHQGHN

Trang 40

giao phó, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hội nhậpquốc tế của đất nước”.

Với sứ mạng đó, Nhà trường đã không ngừng phấn đấu phát triển quy

mô và loại hình đào tạo, nâng cao chất lượng đạo tạo, chất lượng nghiên cứukhoa học, đào tạo chuyên gia ngoại ngữ chất lượng cao theo danh mục cácngành đào tạo, loại hình đào tạo ở các trình độ đại học và sau đại học để giảngdạy ngoại ngữ ở các cấp học, bậc học, nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá nướcngoài; xây dựng và phát triển các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ, văn hoánước ngoài và việc dạy - học ngoại ngữ ở Việt nam cho phù hợp với điềukiện, hoàn cảnh của Việt Nam

Hiện nay, Nhà trường có 9 khoa đào tạo, 5 trung tâm nghiên cứu và 01trường THPT chuyên Ngoại ngữ với 8 ngành đào tạo chính là các thứ tiếng Anh,Nga, Pháp, Trung Quốc, Đức, Nhật, Hàn Quốc, Ả Rập Năm học 2007-2008 Nhàtrường đã mở thêm một số ngành mới là tiếng Tây Ban Nha và tiếng Thái Lan(hiện này tiếng Thái Lan được giảng dạy là ngoại ngữ 2) Nhà trường đào tạoliên kết trong nước trong nước bằng tiếng Anh các chuyên ngành Quản trị kinhdoanh, Tài chính ngân hàng, Kinh tế đối ngoại với trường ĐH Kinh tế-ĐHQGHN và Du lịch-tiếng Anh với trường ĐH KHXH&NV - ĐHQHGHN…Đào tạo liên kế ngoài nước bằng tiếng Pháp các chuyên ngành Kinh tế-Quản lý,Quản lý doanh nghiệp, Công nghệ thông tin ứng dụng vào quản lý kinh tế vàQuản trị Du lịch; đào tạo bằng tiếng Trung Quốc các chuyên ngành NN&VHTrung Quốc, Tiếng Hán-Thương mại với trường ĐH Thiểm Tây và ĐH HoaĐông, Thượng Hải, Trung Quốc Đây chính là bước đột phá, một hướng đimới của Nhà trường nhằm thu hút sinh viên, và một lần nữa khẳng định vị thếcủa Nhà trường trong bối cảnh hội nhập

Hàng năm Nhà trường tuyển sinh khoảng 1200 sv đại học chính quy,

200 học viên sau đại học, 2000 sv hệ vừa học vừa làm, 200 sv hệ chuyên tu,

Ngày đăng: 29/10/2020, 21:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w