1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng Kinh tế đầu tư: Phần 1 - ĐH Phạm Văn Đồng

62 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 750,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(NB) Bài giảng Kinh tế đầu tư: Phần 1 cung cấp những thông tin như đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của môn học, những vấn đề cơ bản của đầu tư phát triển, nguồn vốn đầu tư, quản lý và kế hoạch hóa đầu tư, kết quả và hiệu quả của đầu tư phát triển.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

KHOA KINH TẾ

BÀI GIẢNG MÔN: KINH TẾ ĐẦU TƯ

(Dùng cho đào tạo tín chỉ - Bậc Đại học)

Lưu hành nội bộ - Năm 2019

Người biên soạn: Th.S Huỳnh Thị Thanh Dung

Trang 2

MỤC LỤC CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC 5

1.1 Hoạt động đầu tư và mối quan hệ giữa môn học kinh tế đầu tư với các môn

học khoa học khác thuộc lĩnh vực đầu tư 5

1.1.1 Đầu tư và phạm vi nghiên cứu của môn học kinh tế đầu tư 5

1.1.2 Mối quan hệ giữa môn kinh tế đầu tư với các môn học khác 6

1.2 Đối tượng nghiên cứu của môn học 6

1.2.1 Đối tượng nghiên cứu 6

1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

1.3 Cơ sở lý luận và cơ sở phương pháp luận của môn học 7

1.3.1 Cơ sở lý luận 7

1.3.2 Cơ sở phương pháp luận của môn học 7

1.4 Khái quát nội dung nghiên cứu của môn học 8

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 9

2.1 Bản chất của đầu tư phát triển 9

2.1.1 Khái niệm về đầu tư 9

2.1.2 Những đối tượng tham gia vào thực hiện hoạt động đầu tư 10

2.2 Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng và phát triển 12

2.2.1 Tác động của đầu tư đến tổng cung – tổng cầu 12

2.2.2 Tác động của đầu tư đến tốc độ tăng trưởng 13

2.2.3 Tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế 15

2.2.4 Tác động đến khoa học công nghệ 18

2.3 Các lý thuyết kinh tế về đầu tư 20

2.3.1 Số nhân đầu tư 20

2.3.2.Lý thuyết gia tốc về đầu tư 21

2.3.3 Lý thuyết quỹ nội bộ đầu tư 25

2.3.4 Lý thuyết về đầu tư 26

2.3.5 Lý thuyết tân cổ điển 27

2.3.6 Mô hình Harrod – Domar 29

2.4 Phân loại đầu tư phát triển 31

2.4.1 Theo chức năng quản lý vốn đầu tư 31

2.4.2 Theo nguồn vốn 32

2.4.3 Theo tính chất đầu tư 32

2.4 4 Theo thời gian sử dụng 32

Trang 3

2.4.5 Theo lĩnh vực hoạt động 33

2.4.6Theo tính chất sử dụng vốn đầu tư 33

2.4.7 Theo ngành đầu tư 33

CHƯƠNG 3: NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ 34

3.1 Khái niệm và bản chất của nguồn vốn đầu tư 34

3.1.1 Khái niệm 34

3.1.2 Vai trò của vốn đầu tư và nguyên tắc quản lý sử dụng 34

3.2 Các nguồn huy động vốn đầu tư 35

3.3 Điều kiện huy động có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư 37

3.3.1 Tạo lập và duy trì năng lực trưởng thành nhanh và nền vững cho nền kinh tế 37

3.3.2 Đảm bảo ổn định môi trường vĩ mô 38

3.3.3 xây dựng các chính sách huy động các nguồn vốn hiệu quả 38

CHƯƠNG 4: QUẢN LÝ VÀ KẾ HOẠCH HÓA ĐẦU TƯ 40

4.1 Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý đầu tư 40

4.1.1 Khái niệm quản lý đầu tư 40

4.1.2 Mục tiêu 40

4.1.3 Nguyên tắc quản lý đầu tư phát triển 40

4.2 Nội dung, phương pháp và công cụ quản lý đầu tư 41

4.2.1 Nội dung quản lý đầu tư phát triển: 41

4.2.2.Trách nhiệm quản lý nhà nước về đầu tư phát triển 42

4.3 Kế hoạch hóa hoạt động đầu tư phát triển 46

4.3.1 Bản chất của kế hoạch đầu tư 46

4.3.2 Nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư 46

4.3.3 Trình tự lập kế hoạch đầu tư 47

CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 48

5.1 Kết quả của hoạt động đầu tư phát triển 48

5.1.1 Khối lượng vốn đầu tư thực hiện 48

5.1.2 Tài sản cố định huy động 49

5.2 Hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển 49

5.2.1 Khái niệm và phân loại hiệu quả hoạt động đầu tư 49

5.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án đầu tư 50

5.2.4 Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội các dự án đầu tư 55

CHƯƠNG 6: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ LẬP DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 62

Trang 4

6.1 Khái niệm dự án đầu tư 62

6.1.1 Sự cần thiết phải tiến hành các hoạt động đầu tư theo dư án 62

6.1.2 Khái niệm và yêu cầu của một dự án đầu tư 63

6.1.3 Công dụng của dự án đầu tư 65

6.2 Nội dung phân tích, đánh giá dự án đầu tư (dự án khả thi) 66

6.2.1 Nghiên cứu cơ hội đầu tư 67

6.2.2 Nghiên cứu tiền khả thi 69

6.2.3 Nghiên cứu khả thi 69

6.2 4 Lập dự án đầu tư theo hướng dẫn của bộ kế hoạch đầu tư 72

CHƯƠNG 7: THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ 83

7.1 Khái niệm, mục đích và yêu cầu của thẩm định dự án đầu tư 83

7.1.1 Khái niệm 83

7.1.2 Sự cần thiết phải thẩm định dự án đầu tư 83

7.1.3 Ý nghĩa của việc thẩm định dự án đầu tư 83

7.1.4 Yêu cầu của việc thẩm định dự án đầu tư 84

7.1.5 Mục đích của thẩm định dự án đầu tư 84

7.2 Căn cứ tiến hành thẩm định 85

7.3 Phương pháp thẩm định dự án đầu tư 86

7.3.1 Phương pháp so sánh các chỉ tiêu 86

7.3.2 Phương pháp thẩm định theo trình tự 86

7.3.3 Thẩm định dựa trên phân tích rủi ro 88

7.4 Nội dung thẩm định dự án đầu tư 88

7.4.1 Thẩm định các văn bản pháp lý 88

7.4.2 Thẩm định mục tiêu của dự án đầu tư 88

7.4.3 Thẩm định về thị trường 89

7.4.4 Thẩm định về kỹ thuật công nghệ 89

7.4.5 Thẩm định về tài chính 90

7.4.6 Thẩm định về kinh tế - xã hội 91

7.4.7 Thẩm định về môi trường sinh thái 91

7.5 Nội dung của thẩm định dự án đầu tư 92

7.5.1 Các quy định của thẩm định dự án 92

7.5.2.Nội dung thẩm định 96

7.5.3 Phương pháp thẩm định dự án đầu tư 98

CHƯƠNG 8: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẤU THẦU TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ 103

Trang 5

8.1 Khái niệm và vai trò đấu thầu 103

8.1.1 Khái niệm 103

8.1.2 Vai trò 103

8.1.3 Nguyên tắc 104

8.1.4 Điều kiện tham gia thầu 104

8.2 Hình thức và phương pháp lựa chọn nhà thầu 105

8.2.1 Hình thức 105

8.2.2 Phương pháp lựa chọn nhà thầu 106

8.3 Lập kế hoạch đấu thầu cho một dự án đầu tư 107

8.3.1 Lập kế hoạch đấu thầu 107

8.3.2 Trách nhiệm và hồ sơ trình duyệt kế hoạch đấu thầu 108

8.3.3 Kế hoạch lựa chọn nhà thầu 110

8.4 Trình tự các bước thực hiện đấu thầu đối với một số gói thầu 110

8.4.1 Quy trình lựa chọn nhà thầu 110

8.5 Phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu và lựa chọn nhà thầu 112

8.5.1.Trình tự đánh giá hồ sơ dự thầu 112

8.5.2.Phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu 113

8.5.3 Lựa chọn nhà thầu 116

CHƯƠNG 9: QUAN HỆ QUỐC TẾ TRONG ĐẦU TƯ 117

9.1 Bản chất và vai trò của đầu tư quốc tế 117

9.1.1 Bản chất của đầu tư quốc tế 117

9.1.2 Vai trò của đầu tư quốc tế 117

9.2 Các hình thức đầu tư quốc tế 118

9.2.1 Các hình thức đầu tư cơ bản 118

9.3.2 Các hình thức đầu tư quốc tế tại Việt Nam 119

9.3 Chuyển giao công nghệ trong đầu tư 120

9.3.1 Bản chất, của chuyển giao công nghệ 120

9.3.2 Vai trò của chuyển giao công nghệ 121

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

Trang 6

CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC

1.1 Hoạt động đầu tư và mối quan hệ giữa môn học kinh tế đầu tư với các môn học khoa học khác thuộc lĩnh vực đầu tư

1.1.1 Đầu tư và phạm vi nghiên cứu của môn học kinh tế đầu tư

Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được kết quả lớn hơn so với nguồn lực hy sinh

Nguồn lực hy sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động

và trí tuệ Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực

Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà

xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn

Một đặc điểm khác của đầu tư là thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm Những hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án

Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội) Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến

quyền lợi của xã hội, của cộng đồng

Loại đầu tư đem lại kết quả không chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế xã hội được thụ hưởng, không chỉ làm tăng tài sản cua người đầu tư mà cả của nền kinh tế chính là đầu tư phát triển

Đầu tư phát triển, đầu tư tài chính, đầu tư thương mại là 3 loại đầu tư luôn tồn tại và có mối quan hệ tương hỗ với nhau Đầu tư phát triển tạo tiền đề để tăng tích lũy, phát triển đầu tư tài chính và đầu tư thương mại Ngược lại, đầu tư tài chính và đầu tư thương mại hỗ trợ và tạo điều kiện để tăng cường đầu tư phát triển

Trang 7

1.1.2 Mối quan hệ giữa môn kinh tế đầu tƣ với các môn học khác

Cùng nghiên cứu các hiện tượng diễn ra trong lĩnh vực đầu tư và liên qua đến đầu tư có nhiều môn khoa học như: Kinh tế xây dựng, tổ chức kế hoạch hóa thi công, kế toán đầu tư và xây dựng cơ bản, thống kê đầu tư và xây dựng cơ bản, kỹ thuật xây dựng,… Các môn học này khác nhau và khác môn học kinh tế đầu tư ở đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, nhưng lại có quan hệ với nhau, hỗ trợ cho nhau trong khi tiến hành nghiên cứu và thực hiện các nhiệm vụ của mình

Kinh tế xây dựng nghiên cứu các vấn đề về kinh tế thuộc lĩnh vực đầu tư một giai đoạn của quá trình hình thành và thực hiện các công cuộc đầu tư của nền kinh

tế Môn kinh tế đầu tư lại cung cấp các kiến thức về các khái niệm, phạm trù, các nguyên tắc tổ chức quản lý, các quy luật đặc thù của hoạt động đầu tư trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế

1.2 Đối tƣợng nghiên cứu của môn học

1.2.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Môn kinh tế đầu tư là môn khoa học kinh tế thuộc linhc vực khoa học xã hội nghiên cứu các vấn đề kinh tế trong lĩnh vực hoạt động đầu tư phát triển gọi tắt là đầu tư

Quá trình tiến hành một công cuộc đầu tư kể từ khi bắt đầu chi phí các nguồn lực cho đến khi các thành quả của quá trình đầu tư phát huy tác dụng và ngừng hoạt động có nhiều công việc phải làm với tính chất kỹ thuật rất đa dạng, đòi hỏi phải sử dụng kiến thức của rất nhiều ngành kinh tế - kỹ thuật, phải biết sử dụng và phối hợp trong việc sử dụng đội ngũ các chuyên gia thuộc các lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật khác nhau vào quá trình thực hiện đầu tư theo từng giai đoạn và toàn bộ các công cuộc đầu tư

Để sử dụng các nguồn lực đã chi cho công cuộc đầu tư một cách tiết kiệm nhất nhằm đạt được những kết quả ngoài dự kiến, hoặc để sử dụng các nguồn lực đã được xác định cho công cuộc đầu tư nhằm đạt được các kết quả tốt nhất, những người làm công tác quản lý kinh tế và khoa học công nghệ trong lĩnh vực đầu tư phải trang bị một cách có hệ thông và toàn diện các kiến thức về kinh tế đầu tư, về

tổ chức quản lý hoạt động đầu tư, về khai thác các nguồn lực cho đầu tư Biết đánh giá các kết quả và hiệu quả của đầu tư, lập và thẩm định các dự án đầu tư, biết tiến hành cách hoạt động nhằm xác lập, triển khai và quản lý các hoạt động đầu tư ngước ngoài của quốc gia và cơ sở…

Trang 8

1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề kinh tế trong lĩnh vực hoạt động đầu tư, môn kinh tế đầu tư trước hết xem xét những vấn đề lý luận chung về đầu tư như khái niệm và bản chất của đầu tư nói chung và đầu tư phát triển nói riêng; vai trò và đặc điểm của đầu tư phát triển trong nền kinh tế; xem xét các nguồn vốn và các giải pháp huy động nguồn vốn đó do đầu tư; xem xét các nội dung của vốn đầu tư và phân loại hoạt động đầu tư nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý và nghiên cứu kinh tế

Trong khi xem xét các vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của mình, môn học kinh tế đầu tư có nhiệm vụ:

- Làm rõ cơ sở khoa học của các vấn đề chung về kinh tế trong hoạt động đầu tư

- Làm rõ cơ sở khoa học của tổ chức quản lý và kế hoạch hóa hoạt động đầu tư

- Làm rõ cơ sở khoa học của đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư

- Làm rõ cơ sở khoa học của những vấn đề về phương pháp lập và thẩm định dự

án đầu tư

- Làm rõ cơ sở khoa học của các vấn đề cơ bản về đấu thầu

- Làm rõ cơ sở khoa học của các vấn đề quốc tế trong đầu tư và chuyển giao công nghệ

1.3 Cơ sở lý luận và cơ sở phương pháp luận của môn học

1.3.1 Cơ sở lý luận

Là môt môn khoa học kinh tế thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, cho nên cũng như các môn khoa học kinh tế, xã hội khác, môn học kinh tế đầu tư … lấy kimh tế chính trị học MácLenin, chủ nghĩa duy vật lịch sử, đường lối chính sách của Đảng

và kinh tế học hiện dại làm cơ sở lý luận xem xét các vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của mình Các môn khoa học này cung cấp các kiến thức về các phạm trù kinh

tế, các quy luật kinh tế, quy luật phát triển xã hội, về thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, về định hướng xã hội chủ nghĩa, về kinh tế thị trường, về giai cấp và đấu tranh giai cấp.… các quy luật và đường lối phát triển hoạt động đầu tư dể các nhà kinh tế đầu tư vận dụng, xem xét khi thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, quản

lý của mình

1.3.2 Cơ sở phương pháp luận của môn học

Trong quá trình nghiên cứu đối tượng và thực hìện các nhiệm vụ cùa mình, môn học kinh tế đầu tư áp dụng phép biện chứng Mác-xít, coi chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sở phuơng pháp luận Ngoài ra, dễ xem xét các vấn đề kinh tế

Trang 9

thuộc lĩnh vực đầu tư., môn học kinh tế đầu tư còn áp dụng các phương pháp của thống kê học, phương pháp toán kinh tế, phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp phân tích tổng hợp, tư duy logíc và một số các phương pháp khác

1.4 Khái quát nội dung nghiên cứu của môn học

Môn học kinh tế đầu tư tập trung xem xét các vấn đề sau đây:

- Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của môn học

- Những vấn đề lý luận chung về đầu tư và đầu tư phát triển

- Nguồn vốn cho đầu tư

- Tổ chức quản lý và kế hoạch hóa hoạt động đầu tư

- Đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư

- Những vấn đề về phương pháp lập và thẩm định dự án đầu tư

- Các vấn đề cơ bản về đấu thầu

- Các vấn đề quốc tế trong đầu tư và chuyển giao công nghệ

Trang 10

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

2.1 Bản chất của đầu tư phát triển

Kinh tế đầu tư cung cấp những kiến thức khoa học về hoạt động đầu tư với hiệu quả tài chính cao nhất, cũng như giúp các cơ quan quản lý Nhà nước thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển

Kinh tế đầu tư là một lĩnh vực quản lý kinh tế quan trọng của Nhà nước, một hoạt động kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp

Theo giác độ KTQD: Định hướng KT – CT – XH của đầu tư, các quan điểm cơ bản về đầu tư, các định hướng lớn về cơ cấu đầu tư, tốc độ đầu tư, các biện pháp và chính sách lớn

Theo giác độ DN: Chiến lược kinh doanh chung, cơ cấu đầu tư, tốc độ phát triển sản xuất kinh doanh, biện pháp huy động vốn, công nghệ,… để thực hiện đầu

2.1.1 Khái niệm về đầu tư

Hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu

tư, có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư

Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Các kết quả đạt được có thể

là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó

Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh

tế xã hội

Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau đây:

Trang 11

Trước hết phải có vốn Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công

nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn

Một đặc điểm khác của đầu tư là thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm

trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm Những hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án

Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã

hội) Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hưởng

đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng

- Đầu tư là quá trình sử dụng vốn để tạo nên các nhân tố sản xuất với chủ trương đầu tư là sinh lời hoặc thỏa mãn như cầu của người bỏ vốn trong tương lai

- Đầu tư là quá trình sử dụng vốn tạo nên các tiềm năng về tài sản để sinh lợi dần trong thời gian

- Đầu tư là quá trình chi vốn và nhận được các khoản thu trong tương lai

- Đầu tư là quá trình quản lý sử dụng tài sản một cách hợp lý

- Đầu tư là sử dụng các khoản tiền tích lũy của XH vào việc tái sản xuất tạo

Trang 12

b Trách nhiệm của chủ đầu tư

- Tổ chức lập dự án đầu tư, xác định rõ nguồn vốn đầu tư, thực hiện các thủ tục về đầu tư và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Tổ chức thực hiện đầu tư

- Quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư

- Trả nợ vốn vay đúng thời hạn và thực hiện các điều kiện đã cam kết khi huy động vốn

- Khi thay đổi chủ đầu tư thì chủ đầu tư mới được thay thế phải chịu trách nhiệm kế thừa toàn bộ công việc đầu tư của chủ đầu tư trước

- Trường hợp chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án phải có bộ máy có đủ năng lực quản lý dự án và đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền

c Quyền hạn của chủ đầu tư

- Chủ đầu tư có quyền yêu cầu các cơ quan hữu quan của nhà nước công bố công khai các quy định có liên quan đến công việc đầu tư

2.1.2.2 Các tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng

Khái niệm: là các tổ chức nghề nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, có tư cách pháp nhân, có đăng ký kinh doanh về tư vấn đầu tư và xây dựng theo quy định của pháp luật

Trách nhiệm của các tổ chức hoạt động tư vấn đầu tư và xây dựng

- Đăng ký hoạt động tư vấn đầu tư và xây dựng tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng

- Thực hiện chế độ bảo hiểm nghề nghiệp tư vấn đầu tư và xây dựng theo quy định của pháp luật Thông tin rộng rãi về năng lực hoạt động của doanh nghiệp

2.1.2.3 Các doanh nghiệp xây dựng

Khái niệm: là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh về xây dựng

Trách nhiệm của DN xây dựng

- Đăng ký hoạt động xây dựng tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

Trang 13

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng

- Thực hiện chế độ bảo hiểm công trình xây dựng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi việc liên quan đến các công trình

2.2 Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng và phát triển

2.2.1 Tác động của đầu tư đến tổng cung – tổng cầu

2.2.1.1 Tác động đến tổng cung

Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính là cung trong nước và cung

từ nước ngoài Bộ phận chủ yếu của cung trong nước là một hàm các yếu tố sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ…

Theo Adam Smith thì vốn đầu tư chính là yếu tố quyết định đến số lao động hữu dụng Việc tăng vốn đầu tư sẽ dẫn đến tăng sức lao động và tăng công cụ sản xuất cả về số lượng và chất lượng, từ đó mở rộng sản xuất Như vậy, từ đầu thế kỷ

18, A.Smith đã bắt đầu đề cập đến vai trò của vốn đến sản xuất

Tới thế kỷ 19, K.Marx đã đề cập đến vốn như là một trong bốn yếu tố tác động đến quá trình tái sản xuất gồm đất đai, lao động, vốn và tiến bộ khoa học kỹ thuật

Kế thừa những tư tưởng trên, các nhà kinh tế tân cổ điển tiêu biểu là Cobb và Douglas đã phân tích rõ vai trò của vốn thông qua hàm sản xuất:

Y = A.ert.Kα.N(1-α) Như vậy, tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế nếu các yếu tố khác không thay đổi Mặt khác, tác động của vốn đầu tư còn được thực hiện thông qua hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ…Do đó, đầu tư lại gián tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế

Trang 14

AD = C + I + G + X – M Như vậy, gia tăng đầu tư (I) sẽ làm cho tổng cầu (AD) tăng trong điều kiện các yếu

tố khác không đổi

Thông qua lý thuyết về số nhân đầu tư, Keynes đã giải thích mối quan hệ giữa việc gia tăng đầu tư với gia tăng sản lượng hay việc gia tăng đầu tư có ảnh hưởng như thế nào đến gia tăng sản lượng

Lý thuyết số nhân đầu tư cho biết khi đầu tư tăng một đơn vị thì sản lượng tăng k đơn vị (k >1) Thực tế, việc gia tăng đầu tư sẽ dẫn đến gia tăng các yếu tố về

tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu ) và quy mô lao động Do vậy làm tăng tiêu dùng, tăng giá bán sản phẩm, tăng việc làm cho công nhân, từ đó làm tăng sản lượng hàng hóa tiêu dùng

Thêm vào đó, lý thuyết gia tốc đầu tư phản ánh mức đầu tư thuần sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi quy mô sản lượng hay nói cách khác, đầu tư sẽ phụ thuộc vào nhu cầu của sản lượng đầu ra

Theo lý thuyết này, trong điều kiện lãi suất về giá các sản phẩm đầu ra không thay đổi, sẽ có sự tồn tại mối quan hệ giữa sản lượng đầu ra và quy mô vốn cần thiết

đề sản xuất ra khối lượng sản phẩm đó

Mối quan hệ giữa đầu tư với tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế là mối quan hệ biện chứng, nhân quả, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Đây

là cơ sở lý luận để giải thích chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng ở nhiều nước trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng chậm

2.2.2 Tác động của đầu tư đến tốc độ tăng trưởng

Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng tăng trưởng Tăng quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là những nhân tố rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất nhân tố tổng hợp, tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế… Do đó, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế

Sự thay đổi tổng cung tổng cầu được phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh tế Như vậy, thay đổi quy mô vốn đầu tư cũng là nguyên nhân làm thay đổi tốc độ tăng trưởng kinh tế

Thông qua hàm sản xuất Cobb – Douglas ta có thể tính được tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng như sau:

Trang 15

g = r +αh + (1 – α)n Biểu thức trên cho thấy: tăng trưởng của sản lượng có mối quan hệ thuận với tiến bộ của công nghệ và tỷ lệ tăng trưởng của vốn và lao động

Harrod – Domar đã phát triển lý thuyết trên và giải thích mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với yếu tố tiết kiệm và đầu tư thông qua hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio)

Trong những trường hợp nhất định, hệ số ICOR được xem là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư ICOR giảm cho thấy để tạo ra một đơn vị GDP tăng thêm, nền kinh tế phải bỏ ra một lượng vốn đầu tư ít hơn, nếu các điều kiện khác ít thay đổi

Tuy nhiên, hệ số ICOR mới chỉ phản ánh ảnh hưởng của yếu tố đầu tư mà chưa tính đến ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất khác trong việc tạo ra GDP tăng thêm ICOR cũng bỏ qua sự tác động của các ngoại ứng như điều kiện tự nhiên, xã hội, cơ chế chính sách…Mặt khác, hệ số ICOR không tính đến yếu tố độ trễ thời gian của kết quả và chi phí, vấn đề tái đầu tư…

Đầu tư có ảnh hưởng quan trọng không chỉ đến tốc độ tăng trưởng cao hay thấp mà còn đến chất lượng tăng trưởng kinh tế Trên góc độ phân tích đa nhân tố, vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế thường được phân tích theo biểu thức sau:

g = Di + Dl + TFP

Tốc độ tăng trưởng kinh tế

=

Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP ICOR

Trang 16

Trong đó:

g: tốc độ tăng trưởng GDP

Di: phần đóng góp của vốn đầu tư vào tăng trưởng GDP

Dl: phần đóng góp của lao động vào tăng trưởng GDP

TFP: phần đóng góp của tổng các yếu tố năng suất vào tăng trưởng GDP

Thông qua công thức này, chúng ta có thể đánh giá tác động của vốn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế

2.2.3 Tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế là cơ cấu tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, có quan hệ chặt chẽ với nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và mặt lượng, tùy theo mục tiêu của nền kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phận cấu thành nền kinh tế Sự chuyển dịch kinh tế xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về quy mô tốc độ giữa các ngành, vùng

Những cơ cấu kinh tế chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân bao gồm kinh tế ngành, lãnh thổ, theo thành phần kinh tế

Để đánh giá mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành giữa 2 thời kỳ người ta có thể

sử dụng công thức sau:

Nếu:

 Tỷ trọng của ngành nông nghiệp là

) (

) ( )

(

t GDP

t GDP

) ( )

(

t GDP

t GDP

) ( )

(

t GDP

t GDP

Trang 17

 Tỷ trọng của ngành phi nông nghiệp là

βPhi NN(t)= βCN(t) + βDV(t)

 Tỷ trọng của ngành sản xuất vật chất là

βSXVC(t)= βNN(t)+ βCN(t) Thì hệ số chuyển dịch k của hai ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp là

)) 1 ( )

1 ( ( )) ( )

( (

) 1 ( )

( )

1 ( )

( cos

2 2

2 2

0

t t

t t

t t

t t

PhiNN NN

PhiNN NN

PhiNN PhiNN

NN NN

1 ( ( )) ( )

( (

) 1 ( )

( )

1 ( )

( cos

2 2

2 2

0

t t

t t

t t

t t

PhiDV DV

PhiDV DV

PhiDV PhiDV

DV DV

Trang 18

kinh tế, trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực Đối với cơ cấu ngành, vốn đầu tư vào ngành nào, quy mô vốn đầu tư từng ngành nhiều hay ít, việc sử dụng vốn hiệu quả thấp hay cao… đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, đến khả năng tăng cường

cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề vật chất để phát triển các ngành mới… Do

đó, làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành

Đối với cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị… của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển

Có thể sử dụng các chỉ tiêu dưới đây để đánh giá vai trò của đầu tư tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chỉ tiêu này cho biết để tăng 1% tỷ trọng GDP của ngành trong tổng GDP (thay đổi

cơ cấu kinh tế) thì phải đầu tư cho ngành tăng thêm bao nhiêu

% thay đổi tỷ trọng GDP của ngành trong tổng GDP giữa kỳ nghiên cứu so với kỳ trước

=

% thay đổi tỷ trọng đầu tư của ngành/tổng vốn đầu tư xã hội giữa kỳ nghiên cứu so với kỳ

trước

Hệ số co giãn giữa việc

thay đổi cơ cấu đầu tư

với thay đổi cơ cấu kinh

tế của ngành

Trang 19

Chỉ tiêu này cho biết: để góp phần đưa tăng trưởng kinh tế (GDP) lên 1% thì

tỷ trọng đầu tư vào một ngành nào đó tăng bao nhiêu

và tăng dần hàm lượng vốn thiết bị và tri thức thông qua việc đầu tư công nghệ hiện đại hơn và đầu tư đúng mức để phát triển nguồn nhân lực Đến giai đoạn phát triển,

xu hướng đầu tư mạnh vốn thiết bị và gia tăng hàm lượng tri thức chiếm ưu thế tuyệt đối Tuy nhiên, quá trình chuyển từ giai đoạn thứ nhất sang giai đoạn thứ ba cũng là quá trình chuyển từ đầu tư ít sang đầu tư lớn, thay đổi cơ cấu đầu tư Không có vốn đầu tư đủ lớn sẽ không đảm bảo sự thành công của quá trình chuyển đổi và phát triển của khoa học và công nghệ

Công nghệ mà doanh nghiệp có được là do nhập khẩu từ bên ngoài hoặc tự nghiên cứu ứng dụng Công nghệ được nhập khẩu qua nhiều đường như mua thiết bị linh kiện rồi lắp đặt, mua bằng sáng chế, thực hiện liên doanh…

Công nghệ tự do nghiên cứu và triển khai được thực hiện qua nhiều giai đọan, từ nghiên cứu, đến thí nghiệm, sản xuất thử… Dù nhập hay tự nghiên cứu, để

% thay đổi tốc độ tăng trưởng GDP giữa kỳ nghiên cứu so với

thay đổi cơ cấu đầu tư

ngành với thay đổi GDP

Trang 20

có công nghệ cũng đều đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn Mỗi doanh nghiệp, mỗi nước khác nhau cần phải có bước đi phù hợp để lựa chọn công nghệ thích hợp Trên cơ sở

đó, đầu tư có hiệu quả để phát huy lợi thế so sánh của từng đơn vị cũng như toàn nền kinh tế quốc dân

Để phản ánh sự tác động của đầu tư đến trình độ phát triển của khoa học và công nghệ, có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:

- Tỷ trọng vốn đầu tư đổi mới công nghệ/ tổng vốn đầu tư: cho thấy mức độ đầu tư đổi mới công nghệ nhiều hay ít trong mỗi thời kỳ

- Tỷ trọng chi phí mua sắm máy móc thiết bị/ tổng vốn đầu tư thực hiện: cho thấy tỷ lệ vốn là máy móc thiết bị chiếm bao nhiêu

- Tỷ trọng vốn đầu tư theo chiều sâu/ tổng vốn đầu tư thực hiện: phản ánh mức độ đầu tư đổi mới khoa học và công nghệ cao

- Tỷ trọng vốn đầu tư cho các công trình mũi nhọn, trọng điểm: chỉ tiêu này càng lớn cho thấy mức độ tập trung của công nghệ và gián tiếp phản ảnh mức độ hiện đại của công nghệ

Đầu tư tác động vào hệ số TFP – một thành phần trong công thức tính tốc độ tăng trưởng TFP là quan hệ giữa đầu ra với tổng hợp các yếu tố đầu vào bao gồm cả các yếu tố không định lượng được như công nghệ, trình độ quản lý…TFP phản ánh hiệu quả của các nguồn lực được sử dụng vào sản xuất Ngoài ra TFP còn phản ánh hiệu quả do thay đổi công nghệ, trình độ tay nghề của công nhân, trình độ quản lý, thời tiết

Nâng cao TFP tức là nâng cao hơn kết quả sản xuất với cùng đầu vào Điều này là rất quan trọng đối với người lao động, doanh nghiệp và toàn nền kinh tế Đối với người lao động, nâng cao TFP sẽ góp phần nâng lương, nâng thưởng, điều kiện lao động được cải thiện, công việc ổn định hơn Đối với doanh nghiệp thì có khả năng mở rộng tái sản xuất Còn đối với nền kinh tế sẽ nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế, nâng cao phúc lợi xã hội

Bằng cách thay đổi cơ cấu vốn, thay đổi công nghệ… đầu tư đã tác động không nhỏ tới sự phát triển khoa học kỹ thuật, đổi mới phương thức sản xuất…

Trang 21

2.3 Các lý thuyết kinh tế về đầu tư

2.3.1 Số nhân đầu tư

Tư tưởng của mô hình

Mô hình số nhân đầu tư xuất phát từ tư tưởng của Keynes Ông cho rằng đầu

tư tăng sẽ bù đắp cho những thiếu hụt về cầu tiêu dùng Để đảm bảo cho đầu tư gia tăng liên tục ông đưa ra nguyên lý số nhân

Mô hình số nhân đầu tư

Số nhân đầu tư phản ánh vai trò của đầu tư đối với sản lượng Nó cho thấy sản lượng gia tăng bao nhiêu khi đầu tư gia tăng một đơn vị

Công thức tính (1):

I

Y k

Trong đó: Ylà mức gia tăng sản lượng

I

 là mức gia tăng đầu tư

k là số nhân đầu tư

Từ công thức (1) ta có :

I k

Như vậy việc gia tăng đầu tư có tác dụng khuếch đại sản lượng tăng lên số nhân lần Trong công thức trên, k là một số dương lớn hơn 1 Vì khi I=S, có thể biến đổi công thức (2) thành:

MPS MPC

C

Y C

Y

Y S

Y I

Y

1

11

 Khuynh hướng tiết kiệm cận biên

Vì MPS <1 nên k>1

Trang 22

Nếu MPC càng lớn thì k càng lớn, do đó, độ khuếch đại của sản lượng càng lớn Sản lượng càng tăng thì công ăn việc làm càng gia tăng

Thực tế gia tăng đầu tư, dẫn đến gia tăng các yếu tố tư liệu sản xuất (máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu…) và quy mô lao động Sự kết hợp hai yếu tố này làm cho sản xuất phát triển, kết quả là gia tăng sản lượng của nền kinh tế

2.3.2.Lý thuyết gia tốc về đầu tƣ

2.3.1.1 Tư tưởng trung tâm của mô hình gia tốc đầu tư

Nếu số nhân đầu tư giải thích mối quan hệ giữa việc gia tăng đầu tư với sản lượng hay việc gia tăng đầu tư có ảnh hưởng như thế nào tới sản lượng Như vậy, đầu tư xuất hiện như một yếu tố của tổng cầu Theo Keynes, đầu tư còn được xem xét dưới góc độ tổng cung, nghĩa là mỗi sự thay đổi của sản lượng cũng làm thay đổi đầu tư như thế nào

Các doanh nghiệp thực hiện các dự án đầu tư để đưa mức tư bản đạt mức mong muốn Lượng tư bản mong muốn phụ thuộc vào mức sản lượng là điều dễ dàng chấp nhận được Khi mức sản lượng cao hơn, các hãng có nhu cầu lớn hơn về

tư bản, vì tư bản là một trong nhiều nhân tố để tạo ra sản lượng Tư tưởng trung tâm của mô hình gia tốc dựa trên mối quan hệ đơn giản này

2.3.1.2 Nội dung của lí thuyết gia tốc đầu tư

Mô hình gia tốc giả thiết rằng, lượng tư bản mong muốn là bội số của mức sản lượng:

d t

d t t

Lượng tư bản có được vào cuối thời kí trước chính là lượng tư bản mong muốn phụ thuộc vào thu nhập của thời kì đó

Trang 23

1 1

1 ,   d  tt  tt

t

d t t

t t

Mức đầu tư phụ thuộc vào sự thay đổi của sản lượng

Dạng đơn giản này cho ta thấy một đặc điểm quan trọng của mô hình gia tốc

từ phương trình (1),  có thể được coi là tỉ lệ giứa mức tư bản mong muốn so với sản lượng:

t

d t

có thể giải thích sự biến động theo chu kì của sản lượng Một cú sốc đối với sản lượng sẽ làm thay đổi mức đầu tư và sự thay đổi này sẽ làm mức sản lượng cân bằng thay đổi thông qua hiệu ứng số nhân, và tác động vào đầu tư thông qua hiệu ứng gia tốc Tuy nhiên cũng giống như lí thuyết đơn giản về số nhân của Keynes, chúng ta cần phải điều chỉnh lí thuyết gia tốc về đầu tư trước khi có thể sử dụng nó để giải thích cho quá trình đầu tư trong nền kinh tế thực

Điều chỉnh đầu tiên mà chúng ta cần phải làm để mô hình gia tốc đơn giản trở nên thực tế hơn bằng cách cho rằng lượng tư bản thực tế sẽ điều chỉnh dần đến mức mong muốn Giả sử ta dùng mô hình cho một năm nào đó Cũng giả sử rằng, do lượng tư bản tăng lên nên lượng tư bản mong muốn cũng tăng theo Các dự án đầu

tư sẽ được thực hiện nhằm đưa lượng tư bản tiến tới mức mong muốn Bên cạnh

Trang 24

những chi phí mà ta gọi là chi phí trực tiếp của đầu tư, chúng ta cần tính đến những chi phí điều chỉnh, và việc coi chi phí này tăng lên khi mức đầu tư tăng cũng là hợp

lí Những ví dụ về chi phí điều chỉnh như phải đóng cửa nhà máy hay phải thuê thêm nhân công làm việc ngoài giờ để lắp đặt thiết bị, chi phí tăng thêm do muốn tăng tiến độ xây dựng nhà máy và hoạt động sản xuất có thể bị đình trệ do bộ máy quản lí phải tập trung vào việc triển khai các dự án đầu tư Nếu chi phí điều chỉnh tăng mạnh, thì quyết định tối ưu đối với doanh nghiệp sẽ là điều chỉnh dần lượng tư bản thực tế đến mức mong muốn Khi đó chênh lệch giữa hai lượng tư bản này chỉ bị triệt tiêu một phần trong từng thời kì

Để phản ánh được độ trễ điều chỉnh này, ta có thể viết (2) như sau:

) ( 1

,  dt

t t

Sử dụng (1) ta có:

)

và lượng tư bản thực tế được thực hiện thông qua đầu tư Do chỉ một phần sự thay đổi của lượng tư bản mong muốn được thực hiện trong một thời kì nên trong một thời kì nhất định nào đó đầu tư sẽ phản ứng với những thay đổi của thu nhập trong một số thời kì trước đó Phương trình (7) hàm ý rằng, đầu tư phản ứng chậm hơn với

sự thay đổi của thu nhập hiện tại, mà vì thế mà cũng hàm ý rằng đầu tư cũng không thay đổi nhiều trong ngắn hạn như mô hình gia tốc đơn giản đã dự báo (4) Phương trình (7) được gọi là mô hình gia tốc linh hoạt - có thể thích hợp hơn với những biến động của đầu tư trong thực tế Mặc dù đầu tư là nhân tố dễ biến động, nhưng nó không biến động nhiều như mô hình gia tốc đơn giản dự báo

Mô hình gia tốc linh hoạt cũng có thể được điều chỉnh nhằm thể hiện sự biến động về tốc độ thay đổi của đầu tư nhằm lấp đầy lỗ hổng giữa lượng tư bản thực tế với lượng tư bản mong muồn (tham số ) Đây chính là biến lựa chọn đối với hãng

Trang 25

kinh doanh và có thể bị tác động bởi các điều kiện tín dụng, bao gồm lãi suất, thuế

và các yếu tố khác

2.3.1.3 Nhận xét về lý thuyết gia tốc đầu tư

*Ƣu điểm:

- Lý thuyết gia tốc đầu tư phản ánh quan hệ giữa sản lượng với đầu tư Nếu α

không thay đổi trong kỳ kế hoạch thì có thể sử dụng công thức để lập kế hoạch khá chính xác

- Lý thuyết phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế dẫn đến đầu tư Khi

kinh tế tăng trưởng cao, sản lượng nền kinh tế tăng, cơ hội kinh doanh lớn, dẫn đến tiết kiệm tăng cao và đầu tư nhiều

* Nhƣợc điểm:

- Lý thuyết giả định quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng và đầu tư là cố định Thực

tế đại lượng này (α) luôn biến do sự tác động của nhiều nhân tố khác

- Thực chất lý thuyết đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần (NI) chứ

không phải sự biến động của tổng đầu tư do sự tác động của thay đổi sản lượng Vì

Và đầu tư ròng ΔI= α.ΔY

Như vậy theo lý thuyết này đầu tư ròng là hàm của sự gia tăng sản lượng đầu

ra Nếu sản lượng tăng, đầu tư ròng tăng (lớn hơn α lần) Nếu sản lượng giảm, đầu

tư thuần sẽ âm Nếu tổng cầu về sản lượng trong thời gian dài không đổi, đầu tư ròng sẽ bằng 0 (khi ΔY=0 thì ΔI=0)

Trang 26

Tuy nhiên khi sản lượng không thay đổi giữa hai thời kỳ đầu tư thuần bằng 0 nhưng tổng đầu tư là một số dương vì các doanh nghiệp vẫn phải đầu tư thay thế máy móc thiết bị đã hao mòn hết

c Theo lý thuyết này toàn bộ vốn đầu tư mong muốn đều được thực hiện

ngay trong cùng một thời kỳ Điều này không đúng vì nhiều lý do, chẳng hạn do việc cung cấp các yếu tố có liên quan đến thực hiện vốn đầu tư không đáp ứng, do cầu vượt quá cung…do đó lý thuyết gia tốc đầu tư tiếp tục được hoàn thiện qua thời gian Theo lý thuyết gia tốc đầu tư sau này thì vốn đầu tư mong muốn được xác định như là một hàm của mức sản lượng hiện tại và quá khứ, nghĩa là quy mô đầu tư mong muốn được xác định trong dài hạn

Nếu gọi Ktd và Kt-1d là vốn đầu tư thực hiện ở thời kì t và t-1

Kt*t là vốn đầu tư mong muốn

2.3.3 Lý thuyết quỹ nội bộ đầu tƣ

Theo lý thuyết này, đầu tư có quan hệ tỷ lệ thuận với lợi nhuận thực tế:

Trang 27

I = f (lợi nhuận thực tế) Do đó, dự án đầu tư nào đem lại lợi nhuận cao sẽ được lựa chọn Vì lợi nhuận cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn hơn và mức đầu

tư sẽ cao hơn Nguồn vốn cho đầu tư có thể huy động bao gồm: Lợi nhuận giữ lại, tiền trích khấu hao, đi vay các loại trong đó bao gồm cả việc phát hành trái phiếu bán cổ phiếu là nguồn vốn huy động từ bên ngoài Vay mượn thì phải trả nợ, trường hợp nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, doanh nghiệp có thể không trả được nợ

và lâm vào tình trạng phá sản Do đó, việc đi vay không phải là điều hấp dẫn, trừ khi được vay ưu đãi Cũng tương tự, việc tăng vốn đầu tư bằng phát hành trái phiếu cũng không phải là biện pháp hấp dẫn Còn bán cổ phiếu để tài trợ cho đầu tư chỉ được các doanh nghiệp thực hiện khi hiệu quả của dự án đầu tư là rõ ràng và thu

nhập do dự án đem lại trong tương lai sẽ lớn hơn các chi phí đã bỏ ra

Chính vì vậy theo lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư, các doanh nghiệp thường chọn biện pháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và các sự gia tăng của lợi nhuận sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn

Sự khác nhau giữa lý thuyết gia tốc đầu tư và lý thuyết này dẫn đến việc thực thi các chính sách khác nhau để khuyến khích đầu tư Theo lý thyết gia tốc đầu tư chính sách tài khoá mở rộng sẽ làm cho mức đầu tư cao hơn và do đó sản lượng thu được cũng sẽ cao hơn Còn việc giảm thuế lợi tức của doanh nghệp không có tác dụng kích thích đầu tư Ngược lại theo lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư thì việc giảm thuế lợi tức của doanh nghiệp sẽ làm tăng lợi nhuận từ đó tăng đầu tư và tăng sản lượng, mà tăng lợi nhuận cũng có nghĩa là tăng quỹ nội bộ Quỹ nội bộ là một yếu tố quan trọng để xác định lượng vốn đầu tư mong muốn, còn chính sách tài khoá mở rộng không có tác dụng trực tiếp làm tăng đầu tư theo lý thyết này

2.3.4 Lý thuyết về đầu tƣ

Theo lý thuyết này, vốn đầu tư có mối quan hệ tỷ lệ thuận với hệ số q, trong

đó hệ số q là hệ số phản ánh giá trị thị trường của vốn đầu tư với chi phí vật chất cho công cuộc đầu tư

Nói cách khác:

RC MP

q

Trang 28

Trong đó: MP: giá trị thị trường của tư bản lắp đặt

RC: chi phí thay thế tư bản lắp đặt

Với lý thuyết này, chính sách tài chính tiền tệ sẽ có ảnh hưởng lớn đầu tư Chẳng hạn, nếu lãi suất giảm, giá trị của chứng khoán sẽ tăng (vì giá của trái phiếu

và lãi suất có mối quan hệ tỷ lệ nghịch) Giá trị thị trường của các chứng khoán của doanh nghiệp tăng sẽ làm cho q tăng, từ đó làm tăng vốn đầu tư

Sự thay đổi về thuế thu nhập của doanh nghiệp cũng làm cho q thay đổi Nếu thuế thu nhập giảm, q sẽ tăng, và từ đó làm tăng vốn đầu tư

Quy tắc đánh giá: q>1: nên đầu tư

q≤ 1: không nên đầu tư

2.3.5 Lý thuyết tân cổ điển

Các nhà kinh tế tân cổ điển đã cố gắng giải thích nguồn gốc của sự tăng trưởng thông qua hàm sản xuất

Hàm sản xuất Cobb - Douglas:

- Là hàm số biểu thị sự phụ thuộc của sản lượng vào các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, …

- Hàm có dạng:

Y = Aert LαK1-αTrong đó:

α,1-α : là các hệ số co giãn theo sản lượng lần lượt của lao động và vốn

Trong trường hợp nền kinh tế (thị trường) ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo thì α, 1-α có thể được xem là tỷ lệ đóng góp của vốn và lao động vào sản lượng

Từ hàm sản xuất Cobb - Douglas trên đây ta có thể tính được tốc độ tăng trưởng của sản lượng như sau:

Trang 29

g = r + αh + (1-α) n Trong đó:

g: Tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng

h: Tỷ lệ tăng trưởng của vốn

n: Tỷ lệ tăng trưởng lao động

Biểu thức trên cho thấy: tăng trưởng của sản lượng có mối quan hệ thuận với tiến bộ của công nghệ và tỷ lệ tăng trưởng của vốn và lao động

Trong một nền kinh tế, ở “thời đại hoàng kim” có sự cân bằng trong tăng trưởng của các yếu tố sản lượng, vốn và lao động

Gọi đầu tư ròng là ∆I và ∆I = ∆K

∆K = S = s*Y suy ra ∆K = s*Y

Chia cả 2 vế cho K, ta được:

Khi h không đổi, s không đổi thì Y

K cũng không đổi và Y phải tăng trưởng cùng tỷ lệ như h và K

Từ đó ta thấy tỷ lệ tăng trưởng trong “thời đại hoàng kim” g phụ thuộc vào tỷ

lệ tăng trưởng của công nghệ và lao động

 Những nội dung mới của mô hình tân cổ điển:

- Trong mô hình tân cổ điển các nhà kinh tế học bác bỏ quan điểm cổ điển cho rằng sản xuất trong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỉ lệ nhất định về lao động và vốn Họ cho rằng vốn có thể thay thế được nhân công và trong quá trình sản xuất, có nhiều cách khác nhau trong việc kết hợp các yếu tố đầu vào

Trang 30

- Từ quan điểm trên đây, các nhà linh tế học tân cổ điển cũng đưa ra khái niệm “Sự phát triển kinh tế theo chiều sâu”, có nghĩa là gia tăng số lượng vốn cho một đơn vị lao động trong sản xuất; còn sự gia tăng vốn phù hợp với sự gia tăng về lao động được gọi là “Sự phát triển kinh tế theo chiều rộng”

- Các nhà kinh tế tân cổ điển còn cho rằng, tiến bộ kĩ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế Một khía cạnh đáng chú ý về xu hướng thay đổi trong

kĩ thuật là đa số các sang chế đều có khuynh hướng dùng vốn để tiết kiệm nhân công

2.3.6 Mô hình Harrod – Domar

2.3.6.1 Sự ra đời của mô hình

Dựa vào tư tưởng của Keynes, vào những năm 40 với sự nghiên cứu một cách độc lập, hai nhà kinh tế học là Roy Harrod ở Anh và Evsay Domar ở Mỹ đã cùng đưa ra mô hình giải thích mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và thất nghiệp ở các nước phát triển Mô hình này cũng được sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển

để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và các nhu cầu về vốn

Mô hình này coi đầu ra của bất kỳ một đơn vị kinh tế nào, dù là một công ty, một nghành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư cho nó

2.3.6.2 Nội dung của mô hình Harrod-Domar

- Mô hình Harrod-Domar giải thích mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với yếu tố tiết kiệm và đầu tư

- Giả định:

+ Lao động đầy đủ việc làm, không có hạn chế đối với cung lao động

+ Sản xuất tỉ lệ với khối lượng máy móc

Sản lượng gia tăng trong kì Y

Tổng tiết kiệm trong năm S

Trang 31

Tỷ lệ tiết kiệm/GDP

Yt

S

s

Hệ số gia tăng vốn so với sản lượng ICOR

Hệ số ICOR phản ánh quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư Tính hệ số này dựa trên các giả định chủ yếu sau:

- Nền kinh tế luôn cân bằng ở dưới sản lượng tiềm năng Để có thể huy động được các nguồn lực dư thừa cần phải đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất

- Công nghệ không đổi, sự kết hợp giữa vốn và lao động được thực hiện theo một hệ số cố định

Hệ số ICOR (k) là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn đầu tư, nó được xác định theo công thức:

Ý nghĩa của k là để tạo thêm được một đơn vị kết quả sản xuất thì cần tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn sản xuất Hay nói cách khác, k là “giá” phải trả thêm cho việc tạo thêm một đơn vị kết quả sản xuất Hệ số ICOR càng lớn chứng tỏ chi phí cho kết quả tăng trưởng càng cao nó phụ thuộc vào mức độ khan hiếm nguồn dự trữ

và tính chất của công nghệ sản xuất Ở các nước phát triển hệ số ICOR thường cao hơn ở các nước đang phát triển và ở mỗi nước thì hệ số ICOR luôn có xu hướng tăng lên Tức là khi kinh tế càng phát triển thì để tăng thêm một đơn vị kết quả sản xuất cần nhiều hơn về nguồn lực sản xuất nói chung và nhân tố vốn nói riêng, và khi đó đường sản lượng thực tế gần tiệm cận với đường sản lượng tiềm năng Điều này được giải thích bằng quy luật lợi ích cận biên giảm dần theo quy mô

- Từ công thức:

Ngày đăng: 29/10/2020, 21:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm