(NB) Tiếp nội dung phần 1 Bài giảng Khởi sự kinh doanh: Phần 2 cung cấp các nội dung chính như: vốn để khởi sự kinh doanh và kế hoạch thu lợi nhuận, lựa chọn hình thức kinh doanh và trách nhiệm pháp lý của chủ doanh nghiệp, tổng quan về lập kế hoạch kinh doanh.
Trang 1Phân tích thị trường là quá trình thu thập có hệ thống, ghi lại và phân tích của dữ liệu về khách hàng, đối thủ cạnh tranh Phân tích thị trường có thể giúp tạo ra một kế hoạch kinh doanh hiệu quả, khởi động một sản phẩm hoặc dịch vụ mới, Đối với các doanh nghiệp, phân tích thị trường có thể giúp họ tìm hiểu thêm về khách hàng hiện tại
Thị trường mà chúng ta cần tìm kiếm là thị trường thị trường tiềm năng, chứ không phải là thị trường hiện tại Phân tích thị trường cần bao hàm những nội dung cơ bản sau:
3.1.1.Tìm kiếm thông tin
Thông tin hữu ích để thực hiện một phân tích thị trường có thể được tìm kiểm từ nhiều nguồn khác nhau Chẳng hạn, chúng ta có thể tìm kiếm thông tin để thực hiện phân tích thị trường thông qua các số liệu thống kê, các kết quả điều tra hoặc các website của các tổ chức,…
Tuy nhiên, trên thực tế không phải tất cả những thông tin đều có thể được công bố một cách công khai và nhiều khi phải đi theo con đường vòng, phải có những kỹ năng tính toán nhất định Đôi khi phải ngoại suy thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để có được thông tin cần thiết cho quá trình phân tích thị trường
Có rất nhiều cách thức khác nhau để triển khai hoạt động tìm kiếm thông tin trong phân tích thị trường, nhưng phần lớn ngày nay thường sử dụng một hay kết hợp một vài phương pháp cơ bản sau:
3.1.1.1 Điều tra, khảo sát
Dựa vào bảng câu hỏi điều tra thông minh và thẳng thắn, để phân tích một nhóm khách hàng mẫu đại diện cho thị trường mục tiêu Quy mô nhóm khách hàng mẫu càng lớn bao nhiêu, thì kết quả thu được càng sát thực và đáng tin cậy bấy nhiêu
Trang 2- 37-
- Các cuộc điều tra trực tiếp (In-person surveys) thường là những cuộc phỏng vấn trực tiếp thực hiện tại các địa điểm công cộng, ví dụ trung tâm mua sắm, công viên giải trí Cách làm này cho phép giới thiệu tới người tiêu dùng các mẫu sản phẩm mới, tiếp thị quảng cáo và thu thập thông tin phản hồi ngay tức thì Các cuộc điều tra dạng này có thể đảm bảo tỷ lệ phản hồi trên 90%, nhưng lại có nhược điểm là khá tốn kém vì phải thuê một số lượng lớn nhân viên để làm việc này
- Các cuộc điều tra qua điện thoại (Telephone surveys) sẽ phần nào tiết kiệm hơn so với hình thức điều tra trực tiếp Tuy nhiên, do người dân thường "dị ứng" trước các phương pháp tiếp thị từ xa, nên việc thu hút mọi người tham gia vào các cuộc điều tra qua điện thoại ngày càng khó khăn Phỏng vấn qua điện thoại thường có tỷ lệ phản hồi thấp hơn so với phương pháp phỏng vấn trực tiếp (khoảng 50% đến 60%) Đây là phương pháp tối ưu để các hãng như Microsoft, Ford, Dell Computer hoàn thành nội dung của bảng câu hỏi
- Các cuộc điều tra qua thư từ (Mail surveys) là cách thức đòi hỏi ít chi phí để tiếp cận với một số lượng lớn các khách hàng Cách làm này rẻ hơn nhiều so với các cuộc điều tra trực tiếp và điều tra qua điện thoại, nhưng tỷ lệ phản hồi thu được chỉ từ 3% đến 15% Mặc dù tỷ lệ phản hồi thấp, nhưng các cuộc điều tra qua thư luôn là sự lựa chọn thích hợp (xét về khía cạnh tài chính) đối với các công ty nhỏ Ở Canada tỷ lệ sử dụng phương pháp này chiếm 6,2%, ở Mỹ 7% và đặc biệt các nước có trình độ học vấn cao như Đan Mạch, Phần Lan, Nauy, Thụy Điển, Hà Lan phương pháp này rất phổ
Tuy nhiên ở Châu Phi, Châu Á việc điều tra bằng thư tín lại khó triển khai vì đa số dân cư sống ở nông thôn Theo kinh nghiệm, dùng thư tín để điều tra là phương pháp rất thành công trong nghiên cứu thị trường quốc tế, nhất là trong các ngành công nghiệp
- Các cuộc điều tra trực tuyến (Online surveys) thường đem lại tỷ lệ phản hồi rất khó dự đoán và những thông tin không đáng tin cậy, bởi vì không thể kiểm soát tất cả các phản hồi Tuy nhiên, những cuộc điều tra trực tuyến rất dễ dàng tiến hành nhờ yếu tố tiết kiệm về mặt chi phí Các tập đoàn lớn thường kết hợp nhiều phương pháp điều tra, thăm
dò khác nhau để có các thông tin chính xác nhất về thị trường khi sản phẩm được tung ra
Ví dụ hãng Apple luôn có một bộ phận chuyên trách về hoạt động điều tra thị trường Bộ phận này hàng quý phải đưa ra các chiến lược điều tra mới và luôn bổ sung danh sách khách hàng sẽ được điều tra
3.1.1.2 Phỏng vấn cá nhân
Phương pháp phỏng vấn cá nhân bao gồm nhiều câu hỏi mở và không có cấu trúc nhất định Các cuộc phỏng vấn này thường kéo dài trong khoảng một giờ đồng hồ và được ghi âm Phỏng vấn cá nhân đòi hỏi phải có một lực lượng phỏng vấn viên có kỹ năng tiếp thị giỏi Tùy theo dự án nghiên cứu mà phỏng vấn viên phải đáp ứng được
Trang 3- 38-
những đòi hỏi khác nhau Ví dụ, tập đoàn Cealed chuyên sản xuất nước hoa của Pháp có
ba loại phỏng vấn viên: phỏng vấn viên cho những giai đoạn cụ thể, phỏng vấn viên cho những thời điểm đột xuất và phỏng vấn viên làm theo thời vụ, theo công việc
Phương pháp phỏng vấn này khá thịnh hành ở các nước đang phát triển, song nó cũng khá phổ biến ở Thụy Sỹ, Bồ Đào Nha Bên cạnh việc phỏng vấn tại nhà, có thể tổ chức những cuộc phỏng vấn tại một nơi cố định như văn phòng chuyên dùng để phỏng vấn Ngoài ra, cuộc phỏng vấn có thể tiến hành ở trên đường phố hay trong siêu thị… Phương pháp này ở Canada chiếm tới 15,2%, ở Mỹ là 19% và cũng thường được áp dụng tại các nước đang phát triển Thu thập thông tin bằng phỏng vấn cá nhân sẽ đem lại nhiều dữ liệu hữu ích hơn phương pháp điều tra, thăm dò Mặc dù phỏng vấn cá nhân không thực sự đáng tin cậy, bởi nó không đại diện cho một số lượng lớn người tiêu dùng, nhưng phương pháp này sẽ giúp chúng ta có được một cái nhìn thấu đáo về thái độ khách hàng và đó cũng là cách thức tuyệt vời để nhận thức về những vấn đề liên quan đến việc phát triển sản phẩm/dịch vụ mới
3.1.1.3 Quan sát
Những phương pháp thu thập thông tin nêu trên chỉ đem lại cho một số đánh giá về hành vi của khách hàng tại một thời điểm nhất định nào đó Nhưng khi thực hiện quan sát hành động của khách hàng được ghi lại trong hệ thống camera đặt tại cửa hàng, nơi làm việc hay tại nhà riêng của họ, chúng ta có thể thấy rõ cách thức họ mua sắm và sử dụng sản phẩm/dịch vụ của bạn Phương pháp này giúp ta có được một sự tổng hợp chính xác nhất về các thói quen thông thường cũng như cấu trúc mua sắm của khách hàng
3.1.1.4 Thử nghiệm
Việc đặt những sản phẩm mới vào một vài cửa hàng để thử phản ứng của khách hàng trong các điều kiện bán hàng thực tế có thể giúp chỉnh sửa và hoàn thiện sản phẩm, điều chỉnh lại giá cả hay cải tiến chất lượng tốt hơn Các doanh nghiệp nhỏ nên cố gắng xây dựng mối quan hệ với các chủ cửa hàng bán lẻ địa phương và các trang web mua sắm
để có thể đưa sản phẩm mới của họ ra thử nghiệm trên thị trường
“Market Segmentation is the sub-dividing of a market into homogeneous subsets of customers, where any subset may conceivably be selected on a market target to be reached with a distinct marketing mix.” )
Trang 4- 39-
Theo Stanton (1986), “Phân khúc thị trường bao gồm lấy tổng thị trường không đồng nhất cho một sản phẩm và chia nó thành nhiều phân khúc nhỏ hoặc một phân khúc, mỗi phân khúc có xu hướng đồng nhất trong tất cả các khía cạnh quan trọng” (According to Stanton, “Market segmentation consists of taking the total heterogeneous
market for a product and dividing it into several sub-markets or segments, each of which tends to be homogeneous in all significant aspects.”)
Theo Trần Minh Đạo (2014) “Phân khúc thị trường là quá trình phân chia thị trường tổng thể thành các nhóm nhỏ hơn trên cơ sở những điểm khác biệt về nhu cầu, ước muốn và các đặc điểm trong hành vi”
Như vậy, chúng a có thể thấy rằng tuy có nhiều khái niệm khác nhau nhưng tất cả điều có điểm chung là phân khúc thị trường là việc chia thị trường ra làm nhiều phần nhỏ (nhiều phân khúc), mỗi phân khúc sẽ có những điểm khác biệt nhau
Ví dụ, là một công ty sản xuất máy tính cá nhân, bạn cần chia ra các phân khúc thị trường như máy tính cá nhân sử dụng trong gia đình, sử dụng trong doanh nghiệp, các tổ chức giáo dục, các cơ quan nhà nước
Phân khúc thị trường là cơ sở tiền đề để xây dựng chiến lược thị trường của doanh nghiệp Nếu làm tốt công việc phân khúc thị trường, qua đó xác định cho mình một phân khúc thị trường thích hợp, sẽ dễ dẫn đến thành công vì chiến lược thị trường của doanh nghiệp dựa trên cơ sở năng lực và lợi thế thực sự của doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu của thị trường Ngược lại, nếu chọn sai thị trường, thì chiến lược trên lý thuyết có hay cở nào cũng khó mà có thể thực hiện thành công, bởi vì có thể chúng ta đã chọn một thị trường quá lớn so với khả năng của mình, hoặc một thị trường mà yêu cầu bức xúc nhất, quyết định nhất của khách hàng thì doanh nghiệp lại không có khả năng đáp ứng tốt hơn
so với các đối thủ khác
Phân khúc thị trường còn là cơ sở để chúng ta nhận định, đánh giá thị trường, giúp theo dõi diễn biến thị trường, phán đoán những thay đổi trên thị trường trong tương lai nhằm đón đầu nhu cầu thị trường
3.1.2.1 Các phương pháp phân khúc thị trường
Hiện nay có nhiều phương pháp để có thể phân khúc thị trường, tùy theo đặc điểm
về sản phẩm/dịch vụ của mình mà doanh nghiệp có thể lựa chọn cho mình phương pháp phù hợp trong những phương pháp sau: Phân khúc thị trường theo vị trí địa lý; phân khúc thị trường theo đặc điểm dân số học, phân khúc thị trường theo đặc điểm tâm lý xã hội, phân khúc thị trường theo hành vi, phân khúc thị trường theo cách kết hợp nhiều phương pháp trên
- Phương pháp phân khúc thị trường theo vị trí địa lý:
Trang 5- 40-
Theo phương pháp này, thị trường sẽ được chia nhỏ ra theo vị trí địa lý như: Châu lục, quốc gia, vùng miền, tỉnh thành Tùy theo mức độ phát triển và quy mô của từng vùng mà có cách phân khúc khác nhau
Ví dụ: Các doanh nghiệp đa quốc gia như P&G, Universe phân chia thị trường theo quốc gia như Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Anh, Mỹ, Canada
- Phương pháp phân khúc thị trường theo đặc điểm dân số học:
Theo phương pháp này, thị trường sẽ được chia nhỏ theo đặc điểm dân số học như tuổi tác, giới tính, thu nhập, nghề nghiệp, tôn giáo, thế hệ
Ví dụ: Việt Tiến phân khúc thị trường theo thu nhập ( San Sciaro -khách hàng có thu nhập cao, Viettien - Cho công sở) hay Đông Á Bank phân khúc thị trường theo nghề nghiệp (Thẻ "Doctor card" dành cho khách hàng có nghề nghiệp là bác sĩ)
- Phương pháp phân khúc thị trường theo đặc điểm tâm lý xã hội
Theo phương pháp này, thị trường sẽ được chia nhỏ theo tính cách cá nhân, lối sống, quan điểm suy nghĩ, sở thích,
Ví dụ: Samsung phân khúc thị trường theo lối sống Dòng điện thoại Note chủ yếu nhắm vào đối tượng là các đối tượng làm việc công sở,cần ghi chú ,lên lịch trình
- Phương pháp phân khúc thị trường theo hành vi
Theo phương pháp này, thị trường sẽ được chia nhỏ theo thời gian mua hàng,tình trạng sử dụng (mới 100% hay second-hand), cường độ sử dụng , ngoài ra, những nhà phân tích cũng có thể chia nhỏ thị trường theo lợi ích mà khách hàng tìm kiếm và mức độ trung thành của khách hàng (đặc điểm này được áp dụng chủ yếu ở các nước phương Tây)
Ví dụ: Các cửa hàng thời trang phân khúc thị trường theo thời gian mua hàng (thời trang các mùa ) Các cửa hàng điện thoại phân khúc thị trường theo tình trạng sử dụng (điện thoại second-hand, điện thoại chính hãng mới 100%) Viettel phân khúc thị trường theo cường độ sử dụng:Các gói cước sinh viên,học sinh để nhắn tin, gói cước trọn Economy dành cho khách hàng lớn tuổi, chất lượng ổn định hơn
- Phương pháp phân khúc thị trường kết hợp
Thay vì sử dụng một phương pháp phân khúc thị trường, những nhà marketer có thể sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau
Ví dụ: Một cửa hàng thời trang có thể phân khúc thị trường theo giới tính và thời gian mua hàng (đặc điểm dân số học và hành vi): Thời trang mùa đông giành cho nữ
Trang 6- 41-
Hình 3.1: Các phương pháp phân khúc thị trường
3.1.2.2 Yêu cầu đối với phân khúc thị trường
Sau khi phân khúc thị trường, các phân khúc phải đạt những tiêu chí sau:
- Khác nhau về cách thức phản ứng: Các phân khúc phải khác nhau về cách thức phản ứng đối với cùng các hoạt động/chương trình marketing (Ví dụ, nếu nam và nữ đều giống nhau về cách thức phản ứng đối với cùng các hoạt động/chương trình marketing của Cocacola thì Cocacola không nên phân khúc thị trường theo giới tính)
- Khả thi: Doanh nghiệp phải có đủ khả năng phục vụ khách hàng trong phân khúc
- Có thể đo lường được: Các yếu tố như kích cỡ phân khúc, sức mua, lợi nhuận của phân khúc có khả năng đo lường được
- Có thể tiếp cận được: Các khách hàng trong phân khúc có thể tiếp cận được
- Có khả năng sinh lời: Phân khúc phải có khả năng tạo ra đủ lợi nhuận
3.1.3 Quy mô và triển vọng tăng trưởng của thị trường
Sau khi phân khúc thị trường thì điều tiếp theo chúng ta cần quan tâm đến là đo lường và định lượng thị trường mà chúng ta muốn nhắm đến Ví dụ, nếu các hộ gia đình địa phương là một phần trong thị trường mục tiêu của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần định lượng cụ thể (từ tổng số dân, ước tính số người sẽ mua sản phẩm/dịch vụ của bạn)
Về triển vọng tăng trưởng của thị trường, doanh nghiệp cần đưa ra dự báo về tốc độ tăng trưởng của thị trường đó Thị trường đó sẽ tăng hay giảm, với tốc độ thế nào tính
Trang 7- 42-
theo năm? Các dự báo thị trường cần bắt đầu từ tổng số người có thể mua sản phẩm trong từng phân khúc thị trường, sau đó dự kiến về tỷ lệ phần trăm thay đổi trong 3 – 5 năm tới
3.1.4 Xu hướng thị trường
Doanh nghiệp cần hiểu những gì đang diễn ra trong thị trường của mình Những
xu hướng và trào lưu gì sẽ ảnh hưởng đến các phân khúc thị trường của doanh nghiệp? Ví
dụ, nếu doanh nghiệp bán ô tô, thì cần quan tâm đến phản ứng của mọi người trước việc giá xăng dầu tăng cao, mối quan tâm đến ô nhiễm môi trường, các chính sách trong nước liên quan
3.2 Kế hoạch marketing
Kế hoạch marketing (marketing plan) là một bảng chỉ dẫn chi tiết những nội dung
và phạm vi các hoạt động Marketing Kế hoạch marketing phải rõ ràng, xúc tích và là tài liệu đã được cân nhắc kỹ lưỡng giúp hướng dẫn thực hiện chương trình marketing Kế hoạch marketing nên tập trung vào mục tiêu marketing của doanh nghiệp và doanh nghiệp sẽ làm thế nào để đạt được các mục tiêu đó Dù doanh nghiệp đang cung cấp sản phẩm hay dịch vụ, kế hoạch marketing vẫn rất cần thiết và quyết định sự thành công của doanh nghiệp
Theo Berkowitz (1989) cho rằng lập kế hoạch marketing là văn bản tuyên bố về việc xác định thị trường mục tiêu, chỉ định mục tiêu tiếp thị của sản phẩm, thu nhập và lợi nhuận theo các đơn vị kinh doanh chiến lược, nó bao gồm lịch trình và các yếu tố ngân sách của phối thức marketing - mix, để cùng nhau tạo ra chương trình marketing tổng thể
Quy trình lập kế hoạch nói chung bao gồm ba bước: Phân tích tình huống (chúng
ta đang ở đâu?); Thiết lập mục tiêu (chúng ta đang ở đâu và chúng ta muốn đến đâu) và Thiết lập các hoạt động marketing (phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đề ra)
Bước 1: Phân tích tình huống
Để đánh giá vị trí của doanh nghiệp, thông tin chi tiết liên quan đến cả trạng thái quá khứ, cũng như trạng thái hiện tại là cần thiết Một phân tích về các kết quả đạt được được thực hiện cho toàn bộ các sản phẩm, hoặc cũng theo các phân khúc thị trường riêng
lẻ (ví dụ theo nhóm tuổi) Phân tích chi tiết các kết quả đạt được giúp thiết lập các mục tiêu marketing thực tế Bên cạnh đó, những thông tin về hiện tại sẽ rất hữu ích để xây dựng triển khai kế hoạch marketing
Bước 2: Thiết lập mục tiêu
Mục tiêu marketing phải phù hợp với mục tiêu kinh doanh và phải được xác định chính xác nhất có thể (khối lượng và thời gian) Phương pháp thích hợp nhất trong việc xác định các mục tiêu là thông qua sự hợp tác của nhà quản trị cấp cao với các nhà quản
Trang 8- Đổi mới: các dịch vụ mới cần thiết để đạt được các mục tiêu thị trường
- Năng suất của nhân viên
- Nguồn lực (vật chất và tài chính)
- Năng lực quản lý của nhà quản trị
- Trách nhiệm với cộng đồng
Bước 3: Thiết lập các hoạt động marketing
Mục đích của các chương trình marketing là để đảm bảo rằng việc thực hiện các chiến lược marketing thực tế được áp dụng Điều này nghĩ là quy định về các quyền và trách nhiệm của từng nhân viên, cũng như phân phối các nguồn lực tài chính sẵn có
Các chương trình marketing phải đáp ứng các yêu cầu nhất định Mỗi chương trình phải xác định rõ nguồn lực, cũng như lịch trình về thời gian
Vai trò của chương trình marketing là ưu tiên các hoạt động marketing, chia các hoạt động này thành các hoạt động marketing quan trọng, các bước thực hiện và các nhiệm vụ chiến thuật
Đồng thời để hình thành một kế hoạch marketing tốt thì người xây dựng kế hoạch cần quan tâm vào sáu yếu tố cơ bản sau:
3.2.1 Mục đích
Mục đích chung nhất của tất cả các kế hoạch marketing là nhằm làm tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp Mục đích của kế hoạch marketing cần phải được rõ ràng, bởi vì khi mục đích rõ ràng thì doanh nghiệp sẽ dễ dàng trong việc tập trung nguồn lực để đạt được nó trong tương lai Để xác định được mục đích của kế hoạch marketing thì người xây dựng kế hoạch phải trả lời được câu hỏi “Tại sao phải làm marketing?”, câu trả lời cho câu hỏi trên chính là mục đích mà doanh nghiệp muốn hướng đến và đó chính là mục đích của kế hoạch marketing mà doanh nghiệp sẽ xây dựng
3.2.2 Khách hàng mục tiêu
Để có thể tiếp cận được với khách hàng mục tiêu, doanh nghiệp cần biết họ là ai Doanh nghiệp cần phải tìm ra những đặc điểm nổi bậc của nhóm khách hàng mục tiêu mà mình muốn nhắm đến như: Họ là doanh nghiệp hay cá nhân?, họ tập trung vào nhóm tuổi nào? khu vực nào? hay có khả năng thu nhập như thế nào? họ thường mua sản phẩm hoặc dịch vụ như thế nào? họ có thường xuyên mua hay không? Họ tìm kiếm những đặc điểm
gì trong sản phẩm mà họ mua?
Trang 9- 44-
Trong kinh doanh muốn thành công và có sự khác biệt thì chỉ nên tập trung phục
vụ một/một số nhóm khách hàng mục tiêu cụ thể mà thôi, không nên quá ôm đồm phục
- Khách hàng của sản phẩm hay dịch vụ không nhất thiết phải là người sử dụng
3.2.3 Lợi ích của sản phẩm hay dịch vụ
Khi tiếp thị với khách hàng mục tiêu về sản phẩm hay dịch vụ của mình, doanh nghiệp cần xem xét đến các đặc điểm nổi bật của sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp đối với các đối thủ cạnh tranh Những đặc điểm nổi bật có thể đến từ: sự độc đáo của sản phẩm hay dịch vụ; hoặc có thể là mẫu mã của sản phẩm; hoặc có thể là dịch vụ đặc biệt hay một thứ gì đó mà doanh nghiệp hơn các đối thủ cạnh tranh khác
Khi phân tích về lợi ích của sản phẩm hay dịch vụ, người làm công tác marketing cần quan tâm đến hai khía cạnh sau:
- Xem xét những điểm mạnh và điểm yếu về sản phẩm hay dịch vụ của mình so với đối thủ cạnh tranh Từ đó sử dụng việc tiếp thị để nhằm tối đa hóa điểm mạnh và tối thiểu hóa điểm yếu
- Bên cạnh đó, cũng cần xem xét điểm mạnh và điểm yếu của đối thủ cạnh tranh Điều này, giúp doanh nghiệp có chính sách nhằm tối thiểu hóa điểm mạnh của họ và có được lợi thế cho mình từ điểm yếu của họ
3.2.4 Định vị sản phẩm
Định vị sản phẩm là khắc họa những nét đặc trưng của sản phẩm trên thị trường; làm thế nào để thị trường và đối thủ cạnh tranh nhận biết được sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp Việc định vị sản phẩm sẽ có ảnh hưởng đến tất cả các bước trong kế hoạch marketing mà doanh nghiệp xây dựng
Định vị sản phẩm nên dựa vào lợi ích sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra, khách hàng của doanh nghiệp là ai và đối thủ cạnh tranh định vị sản phẩm của họ như thế nào Doanh nghiệp nên đưa ra lời tuyên bố định vị sản phẩm hết sức tập trung và cô đọng Khi thực hiện định vị sản phẩm cần chú ý những điểm sau:
- Khi đưa ra tuyên bố định vị sản phẩm nên sử dụng các từ chỉ tính cực độ như: nhất, tốt nhất, nhanh nhất, rẻ nhất, duy nhất,…
- Không được định vị sản phẩm của mình chống lại đối thủ cạnh tranh
Trang 10Trong kế hoạch marketing, phần này không nhất thiết phải nêu rõ ràng rằng doanh nghiệp sẽ sử dụng mỗi công cụ như thế nào, mà chỉ cần nêu ngắn gọn mục đích và các sách lược khác nhau
3.2.6 Ngân sách dành cho marketing
Trong phần này, chúng ta cần nêu được dự định sẽ dành bao nhiêu ngân sách cho marketing hoặc sẽ dành bao nhiêu phần trăm doanh thu bán hàng để đầu tư cho marketing Để quản lý tốt về ngân sách dành cho marketing thì chúng ta có thể chia ngân sách này thành từng tháng, hay quý hay năm tùy theo ý định mà mình mong muốn Việc quyết định ngân sách dành cho marketing phụ thuộc vào hai yếu tố đó là loại hình kinh doanh và mục tiêu của doanh nghiệp Chẳng hạn nếu doanh nghiệp của bạn tập trung nhiều vào các hoạt động marketing thì lúc đó doanh nghiệp sẽ dành nhiều ngân sách cho marketing hơn là các doanh nghiệp ít chú trọng vào hoạt động này
Trang 11- 46-
Chương 4: VỐN ĐỂ KHỞI SỰ KINH DOANH VÀ KẾ HOẠCH THU LỢI
NHUẬN 4.1 Các loại vốn ban đầu
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hay hoạt động bất cứ ngành nghề gì, các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhất định Số vốn kinh doanh đó được biểu hiện dưới dạng tài sản Trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp quản lý vốn kinh doanh và sử dụng vốn kinh doanh có hiêu quả là nội dung quan trọng nhất, có tính chất quyết định đến mức độ tăng trưởng hay suy thoái của doanh nghiệp Do vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ta vần phải nắm được vốn
có những loại nào, đặc biệt vận động của nó ra sao
Có nhiều cách phân loại vốn kinh doanh, tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu mà có thể
có nhiều tiêu thức phân loại vốn kinh doanh khác nhau
4.1.1 Phân loại vốn trên góc độ pháp luật
- Vốn pháp định: là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp do pháp
luật quy định, đảm bảo năng lực kinh doanh đối với từng ngành nghề và từng loại hình sở hữu của doanh nghiệp Dưới mức vốn pháp định thì không đủ điều kiện để thành lập doanh nghiệp
- Vốn điều lệ: là vốn do các thành viên đóng góp và được ghi vào điều lệ của Công
ty (doanh nghiệp) Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp, theo từng ngành nghề, vốn điều
lệ không được thấp hơn vốn pháp định
4.1.2 Phân loại vốn theo nguồn hình thành
Theo cách phân loại này, vốn được chia thành các loại sau:
- Vốn đầu tư ban đầu: là số vốn phải có khi hình thành doanh nghiệp, tức là số vốn
cần thiết để đăng ký kinh doanh, hoặc vốn góp của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc vốn của nhà nước giao
- Vốn liên doanh: là vốn đóng góp do các bên cùng cam kết kiên doanh với nhau
để hoạt động thương mại hoặc dịch vụ
- Vốn bổ sung: là số vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận, do nhà nước bổ sung
bằng phân phối hoặc phân phối lại nguồn vốn do sự đóng góp của các thành viên hoặc,
do bán trái phiếu
- Vốn đi vay: là các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh
nghiệp có nhiệm vụ phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như ngân hàng, các tổ chức kinh tế, phải trả nhà nước, phải trả cho người bán Ngoài ra, còn có khoản vốn chiếm dụng lẫn nhau của các đơn vị nguồn hàng, khách hàng và bạn hàng
Trang 12- 47-
4.1.3 Phân loại vốn theo thời gian huy động vốn
Theo cách phân loại này, vốn được chia thành hai loại là vốn thường xuyên và vốn tạm thời
- Vốn thường xuyên: bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn của doanh
nghiệp Đây là nguồn vốn được dùng để tài trợ cho các hoạt động đầu tư mang tính dài hạn của doanh nghiệp
- Vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) mà doanh
nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
4.1.4 Phân loại vốn theo phương thức chu chuyển
Trong quá trình sản xuất và tái sản xuất, vốn vận động một cách liên tục Nó biểu hiện bằng những hình thái vật chất khác nhau, từ tiền mặt đến tư liệu lao động, hàng hoá
dự trữ Sự khác nhau về mặt vật chất này tạo ra đặc điểm chu chuyển vốn, theo đó người
ta phân chia vốn thành hai loại là vốn cố định và vốn lưu động
- Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định, hay nói cách khác: Vốn
cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn sản xuất biểu hiện dưới giá trị ban đầu
để đầu tư vào các tài sản cố định nhằm phục vụ cho hoạt động được kinh doanh, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần vào giá trị của sản phẩm qua nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng Bộ phận vốn cố định trở về tay người sở hữu (chủ doanh nghiệp) dưới hình thái tiền tệ sau khi tiêu thụ sản phẩm hay dịch vụ hàng hoá của mình
- Vốn lưu động: là một bộ phận của vốn sản xuất được biểu hiện bằng số tiền ứng
trước về tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành một cách thường xuyên liên tục, nó được chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm cà được thu hồi sau khi thu được tiền bán sản phẩm
4.2 Kế hoạch tạo nguồn vốn
Để khởi sự thành công thì người khởi sự phải lập cho mình một kế hoạch để có thể tạo được nguồn vốn cho quá trình khởi sự của mình Kế hoạch tạo nguồn vốn cho quá trình khởi sự cần chú ý đến hai công việc cụ thể, gồm: chuẩn bị một kế hoạch khởi sự và cách thức để huy động vốn
4.2.1 Chuẩn bị kế hoạch khởi sự
Để huy động vốn, người khởi sự cần phải có một kế hoạch khởi sự rõ ràng, ngắn gọn Nó phải chứa các nội dung sau:
- Ý tưởng khởi sự là gì: hãy viết ngắn gọn trong một câu duy nhất
Trang 13- 48-
- Sản phẩm/dịch vụ mà bạn sẽ kinh doanh: hãy viết ngắn gọn loại sản phẩm/dịch
vụ của quá trình khởi sự, đồng thời nêu lý do vì sao chọn sản phẩm/dịch vụ đó để khởi
sự
- Khách hàng là ai: hãy cụ thể độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp …
- Lý do mà khách hàng chọn sản phẩm/dịch vụ này: sẽ cạnh tranh như thế nào trên thị trường? nêu ngắn gọn giá trị mà sản phẩm/dịch vụ mang lại cho khách hàng
- Quy mô cửa hàng: diện tích, chiều ngang mặt bằng, vị trí dự kiến
- Dự toán đầu tư: cần bao nhiêu tiền vốn? tiêu hết số tiền trên vào những khoản gì?
- Dự toán kết quản kinh doanh: doanh thu, chi phí và lợi nhuận dự kiến trong 1 tháng sẽ là bao nhiêu?
- Tốc độ thu hồi vốn: bao giờ thì số vốn nói trên sẽ quay trở về đầy đủ?
Đây thực sự là việc quan trọng cần phải làm Cho dù là vay tiền ngân hàng, hỏi mượn người thân hay tìm kiếm sự ủng hộ từ một nhà đầu tư thì họ đều luôn muốn biết tiền của họ sẽ đi về đâu và bằng cách nào nó sẽ quay trở lại Kể cả khi chúng ta khởi nghiệp bằng số tiền tự có thì cũng phải biết chính xác số tiền mình cần là bao nhiêu
Hãy viết kế hoạch khởi sự càng ngắn gọn xúc tích càng tốt, rồi sau đó dùng nó để thuyết phục mọi người Nếu bạn đã thử gặp nhiều người nhưng vẫn không thuyết phục được ai góp vốn hay cho bạn vay tiền thì hãy xem lại kế hoạch
4.2.2 Cách thức huy động vốn
4.2.2.1 Vay vốn từ ngân hàng
Hầu hết các ngân hàng đều cần người đi vay phải có tài sản thế chấp là nhà đất Nếu chúng ta không sở hữu các tài sản này thì có thể nhờ gia đình và người thân có tài sản đứng ra bảo lãnh để vay vốn Thông thường, những người khởi sự hay chọn phương
án vay dài hạn từ 3-5 năm để có đủ thời gian hoàn lại vốn gốc cho ngân hàng
4.2.2.2 Vay tiền từ người thân và gia đình
Nếu người thân và gia đình có tiền nhàn rỗi, thì đây là một phương án gọi vốn rất tốt Chúng ta không cần bất cứ tài sản thế chấp nào Hãy chia số tiền chúng ta cần ra thành nhiều phần nhỏ và hỏi vay mỗi người một ít Huy động từ những nguồn này có ưu điểm là nhanh, thủ tục đơn giản, lãi rẻ nhưng lại có nhược điểm là đôi khi chúng ta không kịp chủ động về kế hoạch chi trả Nếu bên cho vay cần gấp, chúng ta phải xoay sở để trả trong thời gian ngắn
4.2.2.3 Rủ bạn bè, người thân góp vốn rồi cùng làm
Nếu chúng ta chưa có thành tựu nào trong kinh doanh thì là một cách hay để thử Thường thì người góp vốn cũng sẽ muốn tham gia công việc cùng bạn Sự hỗ trợ qua lại
sẽ giúp chúng ta làm tốt và học được nhiều thứ hơn nhưng các rắc rối cũng hay nảy sinh
từ đó Trước khi bắt đầu, chúng ta và người bạn đồng hành nên thống nhất rõ số vốn mà
Trang 14- 49-
mỗi người sẽ góp, các công việc cụ thể của mỗi bên, tỉ lệ chia lãi và trách nhiệm xử lý các khoản nợ nếu có phát sinh Để tránh trường hợp mỗi người góp một nửa vốn rồi khó đưa ra các quyết định thống nhất trong quá trình vận hành Nếu được thì chúng ta nên chọn góp phần vốn lớn nhất và giữ cho mình là người quyết định sau cùng
4.2.2.4 Thuyết phục nhà đầu tư rót vốn
Cách này phù hợp cho người đã có kinh nghiệm hoặc đã có thành tựu nhất định Đặc biệt, nó rất phù hợp khi chúng ta đã có cửa hàng đầu tiên thành công và muốn mở rộng thêm chi nhánh Nếu chọn phương án này, chúng ta cần có một kế hoạch kinh doanh bài bản và ngay từ bây giờ phải dành nhiều thời gian để gặp gỡ, kết giao với các nhà đầu
tư tiềm năng trước khi muốn trình bày kế hoạch với họ
4.3 Lập kế hoạch doanh thu và chi phí
4.3.1 Lập kế hoạch doanh thu
Kế hoạch doanh thu thể hiện lượng doanh thu cần phải đạt được trong những khoản thời gian cụ thể (tháng, quý, năm) Đối với khởi sự kinh doanh thì kế hoạch doanh thu sẽ là cơ sở để người khởi sự đánh giá quá trình khởi sự của mình có đang diễn ra như những gì mà mình đã dự đoán hay không
Để lập được kế hoạch doanh thu thì chúng ta cần phải căn cứ vào hai yếu tố Thứ nhất là dự báo nhu cầu về sản phẩm/dịch vụ mà quá dự án khởi sự cung cấp cho thị trường Thứ hai là giá bán của sản phẩm/dịch vụ mà người khởi sự dự kiến bán cho khách hàng Đây là hai căn cứ cực kỳ quan trọng của việc lập kế hoạch doanh thu
Kế hoạch doanh thu càng chi tiết càng tốt, bởi vì đó chính là cơ sở để các nhà đầu tư/người khởi nghiệp đánh giá được tính khả thi của dự án khởi sự
Tháng
Sản lượng
tiêu thụ (Q)
Giá bán
dự kiến (P)
Doanh thu
Sản lượng tiêu thụ (Q)
Giá bán dự kiến (P) Doanh thu
1 QA1 PA QA1 x PA QB1 PB QB1 x PB
2 QA2 PA QA2 x PA QB2 PB QB2 x PB
Trang 15Kế hoạch chi phí phải hiện được đâu là những chi phí cố định và đâu là những chi phí biến đổi trong quá trình kinh doanh của dự án khởi sự
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Chi phí cố định
4.4 Phương pháp phân tích lợi nhuận
4.4.1 Ý nghĩa, nhiệm vụ của phân tích lợi nhuận
4.4.1.1 Ý nghĩa
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh Nó phản ánh đầy đủ về mặt số lượng và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất như lao động, vật tư, tài sản cố định, …
Lợi nhuận là nguồn gốc quan trọng để doanh nghiệp tích luỹ, tái đầu tư, tăng trưởng, phát triển và là điều kiện để góp phần nâng cao đời sống cải thiện điều kiện làm việc của người lao động trong doanh nghiệp Là nguồn để thực hiện các nghĩa vụ đối với ngân sách, góp phần cơ bản tạo nên sự vững mạnh cho hệ thống tài chính quốc gia
Lợi nhuận là một đòn bẩy kinh tế quan trọng, có tác dụng khuyến khích người lao động và các doanh nghiệp ra sức phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, trên cơ sở của chính sách phân phối đúng đắn
Trang 164.4.1.2 Nhiệm vụ của phân tích
- Đánh giá tình hình lợi nhuận của từng bộ phận và toàn doanh nghiệp
- Nhận biết được khó khăn, thuận lợi trong việc thực hiện kế hoạch lợi nhuận
- Xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch lợi nhuận
- Đề ra các biện pháp khai thác khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp nhằm không ngừng nâng cao lợi nhuận
4.4.2 Phân tích các bộ phận cấu thành lợi nhuận
Trong điều kiện tồn tại sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị còn phát huy tác dụng, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được biểu hiện tập trung ở chỉ tiêu lợi nhuận Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nó bao gồm lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác Trong đó lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh thường chiếm tỷ trọng lớn nhất
4.4.2.1 Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh có 2 phần chủ yếu: Lợi nhuận bán hàng và cung cấp dịch vụ; lợi nhuận hoạt động tài chính
- Lợi nhuận bán hàng và cung cấp dịch vụ: Đây là khoảng chênh lệch giữa doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ đi giá thành toàn bộ (bao gồm giá vốn hàng hoá, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp)
- Lợi nhuận hoạt động tài chính: Lợi nhuận thu được từ hoạt động tài chính của doanh nghiệp chính là phần chênh lệch giữa thu và chi về hoạt động tài chính của doanh nghiệp, bao gồm:
+ Lợi nhuận thu được từ hoạt động mua bán chứng khoán
+ Lợi nhuận thu được từ hoạt động góp vốn liên doanh
+ Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh bất động sản
+ Lợi nhuận thu được do chênh lệch lãi tiền gởi ngân hàng và tiền vay ngân hàng + Lợi nhuận thu được do vay vốn
+ Lợi nhuận thu được do bán ngoại tệ…
4.4.2.2 Lợi nhuận thu được từ hoạt động khác
Lợi nhuận khác là khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài dự tính hoặc có dự tính đến, nhưng ít có khả năng thực hiện được hoặc là những khoản lợi nhuận thu được không mang tính chất thường xuyên Những khoản lợi nhuận này thu được có thể do những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan đem lại
Lợi nhuận khác là khoảng chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác và các khoản chi phí khác phát sinh trong kỳ
Trang 17- 52-
- Các khoản thu nhập khác
+ Thu từ khoản nhượng bán, thanh lý tài sản cố định
+ Thu từ khoản phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng
+ Thu từ các khoản thuế được ngân sách Nhà nước hoàn lại
+ Thu từ quà biếu, tặng bằng tiền và hiện vật
+ Thu từ các khoản nợ khó đòi đã xử lý, xoá sổ
+ Thu từ các khoản nợ không xác định được chủ …
- Các khoản chi phí khác
+ Chi thanh lý, nhượng bán tài sản cố định
+ Chi phạt do vi phạm hợp đồng …
4.4.3 Phân tích chung tình hình lợi nhuận
Phân tích chung tình hình lợi nhuận là đánh giá sự biến động lợi nhuận của toàn doanh nghiệp và của các bộ phận cấu thành lợi nhuận nhằm đánh giá khái quát tình hình lợi nhuận của doanh nghiệp (xu hướng chung lợi nhuận tăng thì tốt)
4.4.3.1 Chỉ tiêu phân tích
Để phân tích chung tình hình lợi nhuận thì ta sử dụng chỉ tiêu tổng mức lợi nhuận
và lợi nhuận của các bộ phận cấu thành
4.4.3.2 Phương pháp phân tích
Sử dụng phương pháp so sánh để phân tích chung về tình hình lợi nhuận Thông qua việc so sánh lợi nhuận của các thời kỳ khác nhau để đánh giá về sự biến động của lợi nhuận
4.5 Lập kế hoạch tiền mặt
Trong kinh doanh để đo lường hiệu quả của hoạt động kinh doanh, bên cạnh chỉ tiêu về doanh thu và lợi nhuận thì còn một chỉ tiêu nữa cũng được các nhà đầu tư cũng rất quan tâm, đó chính là chỉ tiêu về dòng tiên, cụ thể là báo cáo dòng tiền mặt
Lập kế hoạch tiền mặt nghĩa là phải xây dựng được báo cáo được dòng tiền mặt của doanh nghiệp trong thời gian cụ thể (tháng, quý, năm) Kế hoạch tiền mặt phải thể hiện được tất cả những khoản tiền mà chúng ta thu vào và những khoản tiền mà chúng ta phải chi ra vào những thời điểm cụ thể Bảng báo cáo dòng tiền mặt thông thường gồm
có hai nội dung cơ bản sau:
Dòng tiền vào
- Các khoản thanh toán của khách hàng cho việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ
- Lãi tiền gửi từ ngân hàng
- Lãi suất tiết kiệm và đầu tư
- Đầu tư của cổ đông
Dòng tiền ra
- Chi mua cổ phiếu, nguyên nhiên vật liệu thô hoặc các công cụ
- Chi trả lương, tiền thuê và các chi phí hoạt động hàng ngày
- Chi mua tài sản cố định – máy tính cá nhân, máy móc, thiết bị văn phòng,…
Trang 18- 53-
- Chi trả lợi tức
- Chi trả thuế thu nhập, thuế doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng và các thuế khác
Trang 19- 54-
Chương 5: LỰA CHỌN HÌNH THỨC KINH DOANH VÀ TRÁCH NHIỆM
PHÁP LÝ CỦA CHỦ DOANH NGHIỆP 5.1 Lựa chọn hình thức kinh doanh
5.1.1 Các hình thức kinh doanh
5.1.1.1 Kinh doanh chuyên môn hoá
Kinh doanh chuyên môn hóa tức là doanh nghiệp/người kinh doanh chỉ chuyên môn kinh doanh một mặt hàng hay một nhóm hàng hóa nhất định Ví dụ như: xăng dầu, lương thực
Loại hình kinh doanh chuyên môn hóa có các ưu điểm sau:
- Nắm chắc được thông tin về người mua, ngưòi bán, giá cả,thị trường, tình hình hàng hóa và dịch vụ nên có thể làm chủ được thị truờng để vưon lên thành độc quyền trong kinh doanh
- Trình độ chuyên môn hóa ngày càng cao, có điều kiện để hiện đại hóa các cơ sở vật chất kĩ thuật, đặc biệt là hệ thống cơ sở vật chất chuyên dùng tạo lợi thế lớn trong cạnh tranh
- Có khả năng đào tạo được những cán bộ quản lý,các chuyên gia và nhân viên kinh doanh giỏi về cả chuyên môn và nghiệp vụ
Bên cạnh những ưu điểm đó thì loại hình kinh doanh này cũng tồn tại những nhược điểm sau:
- Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường thì hệ số rủi ro cao
- Khi mặt hàng kinh doanh không chiếm được lợi thế nữa và doanh nghiệp muốn chuyển hướng kinh doanh thì sự chuyển hướng này diễn ra chậm
5.1.1.2 Kinh doanh tổng hợp
Kinh doanh tổng hợp là loại hình kinh doanh nhiều loại hàng hóa khác nhau, kinh doanh không lệ thuộc vào thị trường truyền thống, bất cứ hàng hóa nào có thể kiếm được lợi nhuận thì doanh nghiệp kinh doanh
Loại hình kinh doanh này có những ưu điểm sau:
- Hạn chế được rủi ro trong kinh doanh và dễ dàng chuyển hướng kinh doanh(Khi kinh doanh một loại hàng hóa nào nào đó bất lợi thì doanh nghiệp có thể nhanh chong chuyển sang kinh doanh loại hàng hóa khác)
- Vốn kinh doanh không bị ứ đọng vì mua nhanh, bán nhanh và doanh nghiệp thường đầu tư cho những mặt hàng có khả năng lưu chuyển nhanh nên khả năng quay vòng vốn nhanh
- Thị trưòng kinh doanh rộng lớn và luôn phải đối đầu với vấn đề cạnh tranh của các doanh nghiệp khác nên kích thích tính năng động của các doanh nghiệp
Loại hình kinh doanh này cũng có những nhược điểm sau:
Trang 20- Không bộc lộ sở trường kinh doanh Do không chuyên môn hóa nên khó đào tạo
về chuyên môn và bồi dưỡng được những chuyên gia giỏi
5.1.2 Các loại hình doanh nghiệp
Việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là:
- Uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng;
- Khả năng huy động vốn;
- Rủi ro đầu tư;
- Tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp;
- Tổ chức quản lý doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Luật về tổ chức và thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện có Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Đầu tư Theo đó, Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp
Vì vậy việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
5.1.2.1 Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân
Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh Trường hợp
Trang 21 Nhược điểm
Do không có tư cách pháp nhân nên mức độ rủi ro của chủ doanh tư nhân cao, chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và của chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn số vốn mà chủ doanh nghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp
5.1.2.2 Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
- Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn;
- Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;
- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty; tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại Điều lệ công ty; không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công
ty Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công
Trang 22- 57-
quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những người có
uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau
Nhược điểm
Hạn chế của công ty hợp danh là do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao
Trên thực tế loại hình doanh nghiệp này chưa phổ biến
5.1.2.3 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một hình thức đặc biệt của công ty trách nhiệm hữu hạn Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp
Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phiếu
Chủ sở hữu công ty không được trực tiếp rút một phần hoặc toàn bộ số vốn đã góp vào công ty Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn cho tổ chức hoặc cá nhân khác Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận của công ty khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả
Tùy thuộc quy mô và ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc
Nhìn chung, công ty trách nhiệm hữu hạn có đầy đủ các đặc thù của công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên Điểm khác biệt duy nhất giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên
là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chỉ có một thành viên duy nhất và thành viên này có thể là một tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc là một cá nhân
Lợi thế của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chủ sở hữu công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty
5.1.2.4 Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp Thành viên của công ty
có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá
Trang 23- 58-
năm mươi Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn
Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên phải có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn có trên mười một thành viên phải có Ban kiểm soát
Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt nam hiện nay
Những ưu, nhược điểm của loại hình Công ty TNHH hai thành viên trở lên
Ưu điểm
Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn;
Số lượng thành viên công ty trách nhiệm không nhiều và các thành viên thường là người quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp;
Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào công ty
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết;
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán
Trang 24- 59-
Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát
Những ưu, nhược điểm của Công ty cổ phần
Ưu điểm
Chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi do của các cổ đông không cao;
Khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các lịch vực, ngành nghề;
Cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều kiện nhiều người cùng góp vốn vào công ty;
Khả năng huy động vốn của công ty cổ phầnrất cao thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ phần;
Việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần là tương đối dễ dàng, do vậy phạm vi đối tượng được tham gia công ty cổ phần là rất rộng, ngay cả các cán bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của công ty cổ phần
Nhược điểm: Bên cạnh những lợi thế nêu trên, loại hình công ty cổ phần cũng
có những hạn chế nhất định như
Việc quản lý và điều hành công ty cổ phần rất phức tạp do số lượng các cổ đông
có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích;
Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại hình công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán
5.1.2.6 Hợp tác xã
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật hợp tác xã để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác
xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, có tư cách pháp nhân, tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật
Những ưu điểm, nhược điểm của Hợp tác xã
Trang 25- 60-
Ưu điểm
Có thể thu hút được đông đảo người lao động tham gia;
Việc quản lý hợp tác xã thực hiện trên nguyên tắc dân chủ và bình đẳng nên mọi
xã viên đều bình đẳng trong việc tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động của hợp tác xã không phân biệt nhiều vốn hay ít vốn;
Các xã viên tham gia hợp tác xã chỉ chịu trách nhiệm trước các hoạt động của hợp tác xã trong phạm vi vốn góp vào hợp tác xã
Nhược điểm: Hoạt động kinh doanh theo hình thức hợp tác xã cũng có những hạn chế nhất định như
Không khuyến khích được người nhiều vốn;
Nhiều kinh nghiệm quản lý, kinh doanh tham gia hợp tác xã do nguyên tắc chia lợi nhuận kết hợp lợi ích của xã viên với sự phát triển của hợp tác xã;
Việc quản lý hợp tác xã phức tạp do số lượng xã viên đông;
Sở hữu manh mún của các xã viên đối tài sản của mình làm hạn chế các quyết định của Hợp tác xã
5.2 Quản lý và tổ chức nhân sự
5.2.1 Khái niệm quản lý nhân sự
Quản lý nhân sự là công tác quản lý, khai thác, sử dụng lao động, nhân sự của một doanh nghiệp, công ty, tổ chức,…một cách hợp lý và hiệu quả Chức năng quản lý nhân
sự liên quan đến các công việc như thu hút, tuyển dụng, đào tạo, tính lương, đánh giá, khen thưởng nhân viên,… Bên cạnh đó, quản lý nhân sự cũng liên quan đến các công tác điều chỉnh, kiểm tra nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và duy trì, bảo vệ, sử dụng, phát triển tiềm năng của người lao động một cách hiệu quả nhất
5.2.2 Vai trò của công tác quản lý nhân sự trong doanh nghiệp
5.2.1.1 Đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động khai thác sử dụng một cách hiệu quả các nguồn lực như vốn, cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật,
và người lao động Máy móc thiết bị hay của cải vật chất đều có thể mua và sao chép được nhưng con người thì không như vậy
5.2.1.2 Giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu thông qua sử dụng hiệu quả lao động
Vai trò cơ bản của hoạt động quản lý nhân sự là giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu một cách thường xuyên bằng các phương tiện của việc phát triển thái độ tích cực giữa các nhân viên đồng thời giúp tiết giảm lãng phí cũng như tận dụng việc tối đa hoá thu nhập ròng từ các nguồn lực Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường hiện nay đòi hỏi các DN muốn tồn tại phát triển phải cải tiến tổ chức theo hướng tinh giảm hơn, và yếu tố con người chính là yếu tố mang tính quyết định Con người với kỹ năng cũng như