ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤCNGUYỄN THỊ CHÂU GIANG RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG TỰ HỌCBẰNG VIỆC SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌCCHƯƠNG THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TẾ BÀO
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ CHÂU GIANG
RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG TỰ HỌCBẰNG VIỆC SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌCCHƯƠNG THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TẾ BÀO VÀCHƯƠNG CẤU TRÚC CỦA TẾ BÀO - SINH HỌC 10 TRUNG
Trang 2LỜI CẢM ƠNLuận văn này là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Giáo dục– Đại học Quốc gia Hà Nội và quá trình công tác tại trường THPT Trung Văn, quậnNam Từ Liêm – TP Hà Nội.
Bằng tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phan ThịThanh Hội – người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và luôn luôn khích lệ tôi trongsuốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn Hội đồng Khoa học và phòng Đào tạo của trường Đại học Giáodục – Đại học Quốc gia Hà Nội; Các thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp
đỡ tôi trong suốt khoá học
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới:
Ban Giám hiệu, cán bộ, GV và HS trường THPT Trung Văn, quận Nam Từ Liêm,
TP Hà Nội đã luôn tạo mọi điều kiện cho tôi tiến hành khảo sát tình hình thực tế dạyhọc và thực nghiệm sư phạm
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Châu Giang
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Tổng quan những vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2.Cơ sở lí luận của đề tài 7
1.2.1 Lý thuyết về kỹ năng tự học 7
1.2.2 Lý thuyết về rèn luyện kĩ năng tự học 16
1.2.3 Lý thuyết về phiếu học tập 21
1.3.Cơ sở thực tiễn 24
1.3.1 Thực trạng về tình hình tự học của HS 25
1.3.2 Thực trạng về tình hình dạy học theo hướng rèn luyện kĩ năng tự học cho HS 26 Kết luận chương 1 29
CHƯƠNG 2: RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KĨ NĂNG TỰ HỌC BẰNG VIỆC SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TẾ BÀO VÀ CHƯƠNG CẤU TRÚC TẾ BÀO -SINH HỌC 10 THPT 30
2.1 Phân tích nội dung kiến thức các chương Thành phần hóa học của tế bào và Cấu trúc của tế bào - Sinh học 10 THPT 30
2.1.1 Phân tích mục tiêu chương 30
2.1.2 Phân tích nội dung các chương để xác định các kiến thức có thể thiết kế phiếu học tập 32
2.2 Thiết kế các dạng phiếu học tập để rèn luyện kĩ năng tự học cho HS 32
2.2.1 Quy trình thiết kế phiếu học tập 32
Trang 52.2.2 Một số dạng phiếu học tập để rèn luyện kĩ năng tự học cho HS trong dạy học chương Thành phần hóa học của tế bào và chương Cấu trúc của tế bào - Sinh học 10
THPT 38
2.3.Quy trình tự học thông qua PHT 44
2.3.1 Quy trình 44
2.3.2 Giải thích quy trình tự học của học sinh thông qua PHT 44
2.3.3 Ví dụ vận dụng quy trình tự học thông qua PHT 45
2.4 Quy trình rèn luyện kĩ năng tự học bằng sử dụng PHT 48
2.4.1 Thiết kế quy trình rèn luyện kĩ năng tự học 48
2.4.2 Giải thích quy trình rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh bằng việc sử dụng PHT 48
2.4.3 Ví dụ vận dụng quy trình rèn luyện kĩ năng tự học bằng sử dụng PHT 49
2.5 Tổ chức rèn luyện kĩ năng tự học cho HS bằng việc sử dụng các dạng phiếu học tập trong mỗi khâu của quá trình dạy học chương I, II - Sinh học 10 THPT 52
2.5.1.Sử dụng PHT trong khâu dạy kiến thức mới 52
2.5.2 Sử dụng PHT trong khâu củng cố bài học 56
2.5.3 Sử dụng PHT trong phần ôn tập cuối chương 63
2.6 Thiết kế các tiêu chí đánh giá kĩ năng tự học 65
Kết luận chương 2 66
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67
3.1 Mục đích thực nghiệm 67
3.2 Đối tượng thực nghiệm 67
3.3 Kế hoạch thực nghiệm 67
3.4 Thời gian thực nghiệm 67
3.5 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 67
3.5.1 Nội dung thực nghiệm 67
3.5.2 Phương pháp thực nghiệm 67
3.6 Cách đánh giá kết quả thực nghiệm 68
3.7 Kết quả thực nghiệm 68
3.7.1 Kết quả đánh giá định lượng về kĩ năng tự học của HS trong thực nghiệm 68
iv
Trang 63.7.2 Phân tích định tính 73
Kết luận chương 3 74
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 80
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả điều tra HS về kĩ năng tự học 25
Bảng 1.2 Ý kiến của GV về dạy học theo hướng rèn luyện kĩ năng tự học 27
Bảng 2.1: Các dạng PHT có thể thiết kế cho các bài thuộc chương 1 và 2 32
Bảng 2.2 Các tiêu chí đánh giá kỹ năng tự học 65
vi
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNHHình 1.1: Sự vận động và tương tác giữa các yếu tố của quá trình dạy học 16Hình 2.3.Quy trình rèn luyện cho HS kĩ năng tự học bằng PHT 48Hình 3.1: Biểu đồ so sánh kết quả rèn luyện thái độ 3 bài dạy thực nghiệm 69Hình 3.2: Biểu đồ so sánh kết quả rèn luyện kỹ năng tìm kiếm thông tin để giảiquyết nhiệm vụ qua 3 bài dạy thực nghiệm 70Hình 3.3: Biểu đồ so sánh kết quả rèn luyện kỹ năng giải quyết nhiệm vụqua 3 bàidạy thực nghiệm 71Hình 3.4: Biểu đồ so sánh kết quả rèn luyện kỹ năng tự đánh giá qua 3 bài dạy thựcnghiệm 72
Trang 9có thể kịp thời nắm bắt những tri thức khoa học kĩ thuật tiên tiến trong khi thời gian
có hạn? Đây là một thách thức lớn của ngành giáo dục nước ta
Luật giáo dục 2005 quy định:”Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực
tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực
tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên…” [26]
Vì vậy, điều quan trọng trong đổi mới PPDH là phải rèn luyện phương pháp tựhọc của HS; HS tự học trong mối tương tác giữa HS với nhau, tương tác với tài liệu
và sách giáo khoa, dưới sự chỉ dẫn của thầy để chiếm lĩnh được tri thức
1.2 Xu hướng dạy học toàn cầu là định hướng hình thành và phát triển năng lực/
kĩ năng cho người học.
Trong những năm gần đây, xu hướng giáo dục toàn cầu chuyển sang hình thành
và phát triển năng lực cho người học trong quá trình dạy học thay vì chỉ tập trung vàotruyền đạt nội dung dạy học như trước đây Hầu hết các nước đều cho rằng năng lực
tự học là một trong những năng lực quan trọng bậc nhất đối với người học bên cạnhcác năng lực như: giải quyết vấn đề, tư duy, hợp tác, giao tiếp, tính toán…
1.3 Xuất phát từ ưu điểm phiếu học tập trong dạy học
Trong các biện pháp tổ chức dạy học thì việc tổ chức việc học cá nhân là quantrọng nhất vì trong quá trình chính lĩnh kiến thức mỗi cá nhân phải chủ động tựnghiên cứu các thông tin như trong sách giáo khoa, quan sát các phương tiện hay làmthí nghiệm, nghiên cứu thực tiễn hoàn thành bài tập sau đó trao đổi kết quả với cácbạn trong nhóm, trong lớp hoặc với GV, từ đó mà hình thành kiến thức mới, kĩ năngmới Với mục tiêu đó, PHT có những ưu điểm sau:
- PHT có kích thước phù hợp cho cả hoạt động học tập của cá nhân và hoạt động nhóm
1
Trang 10- PHT sẽ định hướng cho HS có thể tự học, tự nghiên cứu, phát huy năng lực sángtạo, năng lực giải quyết vấn đề, rèn luyện tinh thần trách nhiệm và khả năng làm việc cộng tác.
- PHT có thể dung cho việc trình bày nội dung tại lớp, thảo luận tập thể, có thể thay cho các nội dung cần lưu lại trong vở ghi
1.4 Xuất phát từ đặc điểm nội dung môn sinh học ở THPT và nội dung của phần Sinh học 10
Thế kỷ 21 là thế kỷ của công nghệ, trong đó công nghệ Sinh học đóng vai tròquan trọng trong sự phát triển đó
Sinh học tế bào là một phần quan trọng trong chương trình Sinh học 10, vì tế bàođược xem là đơn vị tổ chức cơ bản của thế giới sống cả về cấu tạo, chức năng sinh lí
và di truyền Kiến thức về tế bào học được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực: y dượchọc, trồng trọt, chăn nuôi, công nghệ thực phẩm, công nghệ môi trường…Sinh họcphân tử và sinh học tế bào là cơ sở của Sinh học hiện đại, một trọng những ngànhcông nghệ mũi nhọn của nền kinh tế tri thức của thế kỷ XXI Vì vậy, khi dạy họcphần này đòi hỏi người dạy phải phát huy tối đa khả năng tự học cho HS GV cầnphải nghiên cứu và tổ chức các hoạt động DH tích cực nhằm kích thích tư duy, rènluyện kĩ năng tự học, tính chủ động sự sáng tạo của HS thì quá trình DH mới có thểhiệu quả
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Rèn luyện cho
HS kĩ năng tự học bằng việc sử dụng phiếu học tập trong dạy học chương Thành phần hóa học của tế bào và chương Cấu trúc của tế bào - Sinh học 10 Trung Học Phổ Thông"
2 Mục đích nghiên cứu
Thiết kế quy trình rèn luyện kĩ năng tự học và sử dụng công cụ là các PHT để rènluyện kĩ năng tự học cho HS trong dạy học chương Thành phần hóa học của tế bào vàchương Cấu trúc của tế bào - Sinh học 10
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng PHT trong DH; cơ
sở của việc rèn luyện kĩ năng tự học của HS THPT
Trang 113.2 Phân tích cấu trúc nội dung và thành phần kiến thức chương I: Thành phần hóa
học của tế bào và chương II: Cấu trúc của tế bào phần Sinh học tế bào - Sinh học 10THPT làm cơ sở thiết kế các PHT
3.3 Điều tra thực trạng về: Kĩ năng tự học của HS trong quá trình học môn Sinh học
ở THPT và tình hình rèn luyện kĩ năng tự học cho HS trong quá trình DH môn Sinhhọc ở THPT
3.4 Thiết kế quy trình rèn luyện kĩ năng tự học cho HS trong DH môn Sinh học 10
THPT Thiết kế công cụ là các PHT phù hợp với nội dung các bài học trong chươngThành phần hóa học của tế bào và chương Cấu trúc của tế bào - Sinh học 10 THPTtheo hướng rèn luyện kĩ năng tự học cho HS
3.5 Thiết kế bài dạy có sử dụng PHT theo hướng rèn luyện kĩ năng tự học trong DH
chương Thành phần hóa học của tế bào và chương Cấu trúc của tế bào - Sinh học 10THPT nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho HS
3.6 Xây dựng các tiêu chí đánh giá kĩ năng tự học của HS.
3.7 Tổ chức cho HS học tập thông qua sử dụng PHT để rèn luyện kĩ năng tự học
cho HS thông qua DH chương Thành phần hóa học của tế bào và chương Cấu trúc của tế bào phần Sinh học tế bào - Sinh học 10 THPT
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quy trình thiết kế kĩ năng tự học cho HS
Công cụ rèn luyện kĩ năng tự học là các PHT trong DH chương Thành phần hóahọc của tế bào và chương Cấu trúc của tế bào - Sinh học 10 THPT
4.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình DH môn Sinh học 10 THPT
5 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Phạm vi của luận văn tập trung vào rèn luyện kĩ năng tự học của HS bằng việc sửdụng các PHT trong DH chương Thành phần hóa học của tế bào và chương Cấu trúccủa tế bào - Sinh học 10 THPT
Các nghiên cứu khảo sát và thực nghiệm được tiến hành ở trường THPT TrungVăn, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội từ tháng 03 đến tháng 12 năm 2014
3
Trang 126 Vấn đề nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau đây:
- Quy trình rèn luyện kĩ năng tự học cho HS
- Quy trình thiết kế các PHT phù hợp với nội dung của từng bài học trong phạm vi
đề tài
- Quy trình sử dụng các PHT và vận dụng quy trình vào các khâu của quá trình DHcủa mỗi bài, mỗi chương sao cho phù hợp để phát huy tối đa hiệu quả đối với việc rèn luyện kĩnăng tự học cho HS
7 Giả thuyết khoa học
Có thể rèn luyện được kĩ năng tự học cho HS bằng việc sử dụng PHT trong DHchương Thành phần hoá học của tế bào và chương Cấu trúc tế bào – Sinh học 10THPT
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như: lý luận
DH, đổi mới PPDH, cải tiến PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức cho
HS, tâm lí DH, PPDH Sinh học…
Nghiên cứu các tài liệu về sinh học: Giáo trình sinh học tế bào, Sách giáo khoa,SGV Sinh học 10, SGK, SGV Sinh học 10 nâng cao
Nghiên cứu tài liệu kĩ năng tự học và rèn luyện kĩ năng tự học trong DH
8.2 Phương pháp điều tra cơ bản
Điều tra GV về tình hình vận dụng các PPDH tích cực để rèn luyện kĩ năng tự họccho HS trong dạy HS học ở trường THPT bằng bộ câu hỏi trắc nghiệm
Điều tra thực trạng việc DH môn Sinh học theo hướng rèn luyện cho HS kĩ năng
tự học thông qua dự giờ các GV sinh học Điều tra thông qua nghiên cứu giáo án của
GV, đề kiểm tra, đáp án
Điều tra chất lượng học tập của HS thông qua vở ghi, kết quả bài kiểm tra, điểmtổng kết
8.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sau khi thiết kế PHT và xây dựng quy trình sử dụng hệ thống PHT cho quá trình
DH chương Thành phần hóa học của tế bào và chương Cấu trúc của tế bào - Sinh
Trang 13học 10 THPT theo hướng rèn luyện kĩ năng tự học cho HS, chúng tôi đưa vào thựcnghiệm tại trường THPT để kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết thông qua giờ dạytrên lớp.
Chọn trường thực nghiệm: Trường THPT Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, TP HàNội
Bố trí thực nghiệm: chọn 1 lớp, tiến hành dạy thực nghiệm 3 tiết
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
kĩ năng tự học cho HS có thể làm tài liệu tham khảo cho GV THPT và các sinh viêntrong các trường sư phạm
10 Cấu trúc đề của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của
đề tài
Chương 2: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự học bằng việc sử dụng phiếu học tậptrong dạy học chương Thành phần hóa học của tế bào và chương Cấu trúc của tếbào - Sinh học 10 THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
5
Trang 14Khổng tử (551-479 trước CN) quan tâm và coi trọng mặt tích cực suy nghĩ sángtạo của HS Cách dạy của ông là gợi mở để học trò tự tìm ra chân lý, thầy chỉ là ngườigiúp trò cái mấu chốt nhất, còn mọi vấn đề khác trò phải từ đó tìm ra, người thầykhông được làm cho học trò Ông nói”Không giận mà muốn biết thì không gợi mởcho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho Vật có 4 góc, bảo cho biết 1góc mà không suy ra 3 góc kia thì không dạy nữa” [39].
T.Makiguchi (1871 - 1944) nhà sư phạm lỗi lạc người Nhật, cho rằng: “Giáo dục
có thể coi là quá trình hướng dẫn tự học, mà động lực của nó là kích thích người họcsang tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản than và cộng đồng” [36]
Vai trò của tự học đã được khẳng định trong nhiều công trình nghiên cứu, điểnhình là:
N.A.Rubakin (1862 - 1946) trong tác phẩm “Tự học như thế nào” đã trình bàynhiều vấn đề phương pháp tự học, đặc biệt là phương pháp sử dụng SGK Ông tự tincho rằng “Tự tìm thấy kiến thức - có nghĩa là tự học”
Intel ISEF là hội thi khoa học lớn nhất thế giới dành cho HS phổ thông từ lớp 9– 12, ở 17 lĩnh vực nghiên cứu khoa học khác nhau nhằm tăng cường hiệu quả vàsáng kiến sử dụng công nghệ trong dạy và học, sự thông thạo và kỹ năng giải quyếtvấn đề ở giới trẻ, thúc đẩy sự tiến bộ trong dạy và học các môn khoa học:Toán học,
Kỹ thuật, v.v…
Như vậy trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về tự học trên nhiềuphương diện khác nhau, các công trình đã đưa ra các quan điểm, luận điểm, các biệnpháp, giải pháp nhằm phát huy vai trò của cá nhân trong quá trình tự học Vẫn còn ítcác nghiên cứu về việc sử dụng PHT để rèn luyện kỹ năng tự học
Trang 151.1.2 Ở Việt Nam
Tự học đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu, ở miền Nam trước ngày giải phóngnhà nghiên cứu Nguyễn Hiếu Lê đã nghiên cứu về tự học Sau cách mạng tháng8(1945) Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng, vừa là tấm gương về tinh thần tựhọc Người đề cập sâu sắc đến vấn đề học tập tự học “Cách học tập, phải lấy tự họclàm cốt”
Từ năm 1977 - 1987, dưới sự chủ trì của nhà nghiên cứu Nguyễn Cảnh Toàn, tậpthể các nhà khoa học đã nghiên cứu và triển khai chương trình “Tự học có hướng dẫnkết hợp với thực tập dài hạn ở trường phổ thông”
Ngày 15 tháng 01 năm 1998 tại Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu về tự học đã tổchức hội thảo khoa học: “Tự học, tự đào tạo, tư tưởng chiến lược của sự phát triểngiáo dục Việt Nam” Khẩu hiệu của hội thảo là “Tất cả vì năng lực tự học, tự đào tạocủa dân tộc Việt Nam anh hùng và hiếu học” Trong những năm qua, trung tâmnghiên cứu phát triển tự học - Hội khuyến học Việt Nam với tác phẩm “Học và dạycách học” đã làm rõ cơ sở lý luận về tự học và dạy cách tự học
Tác giả Nguyễn Đức Thành đã khẳng định: “Học là phải tự học, là sự phát triểnnội lực của người học, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phongphú mình, …” [30]
Như vậy những nghiên cứu về DH theo hướng rèn luyện kỹ năng tự học cho HSkhông phải là vấn đề mớ Các nghiên cứu trên đã đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn củaviệc DH rèn luyện kỹ năng tự học cho HS một cách tương đối hệ thống, tạo điều kiệnthuận lợi cho GV áp dụng để nâng cao hiệu quả giảng dạy Tuy nhiên, những nghiêncứu về việc sử dụng PHT để rèn luyện cho HS kỹ năng tự học, về việc xây dựng mộtquy trình thiết kế PHT và sử dụng PHT để rèn luyện kỹ năng tự học cho HS còn chưa
có nhiều Do đó, việc khái quát những vấn đề lí luận để xây dựng các PHT và quytrình sử dụng PHT để rèn luyện kỹ năng tự học cho HS trong DH môn Sinh học nóichung và DH Sinh học 10 nói riêng là rất cần thiết
1.2.Cơ sở lí luận của đề tài
1.2.1 Lý thuyết về kỹ năng tự học
1.2.1.1 Khái niệm kỹ năng
Theo Trần Bá Hoành thì “Kỹ năng là khả năng vận dụng những tri thức thu nhậnđược trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn” [19]
7
Trang 16Theo A.V Pêtrôpxki thì “Kỹ năng là cách thức hành động dựa trên cơ sở tổ hợpnhững tri thức và kỹ xảo Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập tạo khảnăng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong những điều kiện quen thuộc
mà trong cả những điều kiện thay đổi”
Trong khi đó, Hoàng Thị Kim Huyền cho rằng “Kỹ năng là năng lực của conngười biết vận hành các thao tác của một hành động theo đúng quy trình”[22]
Theo Nguyễn Bá Minh thì “Kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả một hànhđộng hay một loạt hành động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những kiếnthức đã có để giải quyết một nhiệm vụ, thực hiện một công việc nào đó ở một cấp độtiêu chuẩn xác định” [28] Cũng theo Nguyễn Bá Minh khi xem xét kỹ năng, cần chú
ý một số điểm sau:
Kỹ năng bao giờ cũng gắn với một hành động cụ thể và được xem như một đặcđiểm của hành động Kỹ năng là một mặt kỹ thuật của hành động, biểu hiện mức độđúng đắn và thành thục của hành động Không có kỹ năng chung chung, hay nói cáchkhác kỹ năng không phải là một hiện tượng tự thân mà nó luôn gắn với một hànhđộng cụ thể
Bất cứ kỹ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lý thuyết (phải hiểu mục đích, biếtcách thức đi đến kết quả và hiểu những điều kiện cần thiết để triển khai cách thứcđó) Kỹ năng chỉ có được khi con người biết vận dụng kiến thức vào trong thực tiễnmột cách có hiệu quả Ngược lại, kỹ năng được hình thành vững chắc sẽ làm cho việcghi nhớ kiến thức thêm vững vàng và sâu sắc hơn
Tính đúng đắn, sự thành thạo, linh hoạt và mềm dẻo là một tiêu chuẩn quan trọng
để xác định sự hình thành và phát triển của kỹ năng Một hành động chưa được gọilàkỹ năng, nếu còn mắc nhiều lỗi hay tốn nhiều thời gian và sức lực, các thao tác diễn
Trang 17quyết xung đột, hợp tác, chia sẻ…) Mỗi người học nghề khác nhau thì có các kỹnăng khác nhau nhưng các kỹ năng sống là các kỹ năng cơ bản thì bất cứ ai làm nghề
gì cũng cần phải có
Tóm lại, kỹ năng được các tác giả định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Tuy
nhiên, tất cả các định nghĩa trên đều thống nhất ở một số điểm Theo chúng tôi kỹnăng được định nghĩa như sau:
Kỹ năng theo nghĩa hẹp là những thao tác, những cách thức thực hành, vận dụngkiến thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện một hoạt động nào đó trong một môitrường quen thuộc Kỹ năng hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm những kiến thức, nhữnghiểu biết và trải nghiệm,… giúp cá nhân có thể thích ứng khi hoàn cảnh thay đổi.Kiến thức, kỹ năng là cơ sở cần thiết để hình thành năng lực trong một lĩnh vựchoạt động nào đó Không thể có năng lực về toán nếu không có kiến thức và đượcthực hành, luyện tập trong những dạng bài toán khác nhau Tuy nhiên, nếu chỉ cókiến thức, kỹ năng trong một lĩnh vực nào đó thì chưa chắc đã được coi là có nănglực, mà còn cần đến việc sử dụng hiệu quả các nguồn kiến thức, kỹ năng cùng vớithái độ, giá trị, trách nhiệm bản thân để thực hiện thành công các nhiệm vụ và giảiquyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn khi điều kiện và bối cảnh thay đổi
Kỹ năng được xây dựng trên nền tảng kiến thức và muốn đạt được kỹ năng thì đốitượng phải được rèn luyện hoặc tự rèn luyện theo một quy trình nhất định nào đó.Điều này cũng có nghĩa là kỹ năng chỉ có thể đạt được qua quá trình đào tạo và có cơhội vận dụng vào trong thực tế
1.2.1.2 Các loại kỹ năng
Ngày xưa, nhà trường là nơi duy nhất để ta có thể tiếp cận với kiến thức Thế giớingày càng phẳng hơn, nhờ internet mọi người đều có thể tiếp cận được thông tin, dữliệu một cách bình đẳng, mọi lúc, mọi nơi Kiến thức ngày càng nhiều và từ việc cókiến thức đến thực hiện một công việc để có kết quả cụ thể không phải chỉ có kiếnthức là được Từ biết đến hiểu, đến làm việc chuyên nghiệp với năng suất cao là một
khoảng cách rất lớn Vậy câu hỏi đặt ra là: “Kỹ năng nào là cần thiết cho mỗi con người để thành công trong công việc và cuộc sống?”
Ngân hàng Thế giới gọi thế kỷ 21 là kỷ nguyên của kinh tế dựa vào kỹ năng -
Skills Based Economy ( http://www.librarything.com/work/5395375 ) Năng lực
9
Trang 18của con người được đánh giá trên cả 3 khía cạnh: kiến thức, kỹ năng và thái độ Cácnhà khoa học thế giới cho rằng: để thành đạt trong cuộc sống thì kỹ năng mềm (trí tuệcảm xúc) chiếm 85%, kỹ năng cứng (trí tuệ logic) chỉ chiếm 15%
( http://www.softskillsinstitution.com/faq.htm
Tại Mỹ, Bộ Lao động Mỹ (The U.S Department of Labor) cùng Hiệp hội Đào tạo
và Phát triển Mỹ (The American Society of Training ADN Development) gần đây đã
thực hiện một cuộc nghiên cứu về các kĩ năng cơ bản trong công việc Kết luận được đưa ra là có 13 kĩ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc:
Kĩ năng học và tự học (learning to learn)
Kĩ năng lắng nghe (Listening skills)
Kĩ năng thuyết trình (Oral communication skills)
Kĩ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)
Kĩ năng tư duy sáng tạo (Creative thinking skills)
Kĩ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn (Self esteem)
Kĩ năng đặt mục tiêu/ tạo động lực làm việc (Goal setting/ motivation skills)
Kĩ năng phát triển cá nhân và sự nghiệp (Personal ADN career development skills)
Kĩ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ (Interpersonal skills)
Kĩ năng làm việc đồng đội (Teamwork)
Kĩ năng đàm phán (Negotiation skills)
Kĩ năng tổ chức công việc hiệu quả (Organizational effectiveness)
Kĩ năng lãnh đạo bản thân (Leadership skills)
Năm 1989, Bộ Lao động Mỹ cũng đã thành lập một Ủy ban Thư ký về Rèn luyệncác kĩ năng cần thiết (The Secretary’s Commission on Achieving Necessary Skills -SCANS) Thành viên của ủy ban này đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục,kinh doanh, doanh nhân, người lao động, công chức… nhằm mục đích “Thúc đẩy nềnkinh tế bằng nguồn lao động kĩ năng cao và công việc thu nhập cao”
( http://wdr.doleta.gov/SCANS/ )
Tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia - BCA) vàPhòng thương mại và công nghiệp Úc (the Australian Chamber of Commerce ADNIndustry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (theDepartment of Education, Science ADN Training - DEST) và Hội đồng giáo dục
Trang 19quốc gia Úc (the Australian National Training Authority - ANTA) đã xuất bảncuốn”Kĩ năng hành nghề cho tương lai” (năm 2002) Cuốn sách cho thấy các kĩ năng
và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có Kĩ năng hành nghề
(employability skills) là các kĩ năng cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn
để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức Các kĩ năng hành nghề bao gồm có 8 kĩ năng như
sau:
Kĩ năng giao tiếp (Communication skills)
Kĩ năng làm việc đồng đội (Teamwork skills)
Kĩ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)
Kĩ năng sáng tạo và mạo hiểm (Initiative ADN enterprise skills)
Kĩ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning ADN organising skills)
Kĩ năng quản lý bản thân (Self-management skills)
Kĩ năng học tập (Learning skills)
Kĩ năng công nghệ (Technology skills)
(Nguồn: http://www.acci.asn.au/text_files/issues_papers/Employ_Educ/ee21.pdf )
Tổng hợp các nghiên cứu của các nước và thực tế VN, 10 kĩ năng sau là căn bản
và quan trọng hàng đầu cho người lao động trong thời đại ngày nay:
Kĩ năng học và tự học (Learning to learn)
Kĩ năng lãnh đạo bản thân và hình ảnh cá nhân (Self leadership & Personal brADNing)
Kĩ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm (Initiative ADN enterprise skills)
Kĩ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning ADN organising skills)
Kĩ năng lắng nghe (Listening skills)
Kĩ năng thuyết trình (Presentation skills)
Kĩ năng giao tiếp và ứng xử (Interpersonal skills)
Kĩ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)
Kĩ năng làm việc đồng đội (Teamwork)
Kĩ năng đàm phán (Negotiation skills)
Như vậy, có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tổ chức đã đề xuất các kĩ năng khác nhau mà người học, người lao động cần có trong thế kĩ XXI, trong đó kĩ năng tự
11
Trang 20học bao giờ cũng có và đóng vai trò quan trọng bậc nhất, vì vậy, việc hình thành vàphát triển kĩ năng tự học đóng vai trò quan trọng trong các trường phổ thông.
1.2.1.3 Khái niệm về học
Học ngày nay được nhìn nhận bằng nhiều góc độ khác nhau Nếu quan tâm đếnkết quả cuối cùng đạt được là sản phẩm học hay hành vi nhận biết được -đó là cáchtiếp cận theo hành vi – đáp lại phản xạ của PavLôp
Theo thuyết hành vi – tác động phản xạ có điều kiện của Skinner: “Học là quátrình làm biến đổi hành vi từ kinh nghiệm hay là từ sự tiếp xúc với môi trường sốngcủa chủ thể”
Nếu quan tâm đến quá trình học bằng cách tìm hiểu những gì đã xảy ra trong trí
óc người học, trong hộp đen, tức là cách tiếp cận về trí tuệ, theo bước chân Piaget với
cơ chế đồng hoá, điều ứng, cân bằng… hay Vưgotsky với vùng phát triển gần “Học
là quá trình biến đổi và cân bằng cấu trúc nhận thức để thích nghi với môi trường”hay “Học là tích hợp, đồng hoá, điều ứng, nhập nội những dữ liệu mới làm biến đổicấu trúc nhận thức nội tại hiện có” Cơ sở để hình thành, phát triển của giáo dục làngười học, việc học [37]
Vì vậy, giải quyết vấn đề giáo dục là giải quyết vấn đề học mà nội dung cơ bản làmục đích học, nội dung học, phương pháp học, quản lí việc học, đánh giá việc học,
cơ sở vật chất phục vụ việc học Có giải quyết được việc học mới nghĩ đến giải quyếtviệc dạy; như vậy khác với quan niệm trước đây, ngày nay cho rằng học quy đinhdạy
Đối tượng của giáo dục là người học, mà người học là người đi học chứ khôngphải là người được dạy Người học là người với năng lực cá nhân của mình tham giavào việc tìm ra kiến thức mới cho mình Người học là người đi tìm ra cách học và tìmcách hiểu cho nên nếu người học không có đủ nỗ lực bản thân để tự học, tự biến đổimình thì mục tiêu đào tạo không thể nào thành hiện thực được, ngược lại bản thân cốgắng tự học thì dù điều kiện học chưa đầy đủ vẫn có thể từng bước hình thành nănglực mới, phẩm chất mới
Trong hội nghị với bộ Đại học, UNESCO đề xướng mục đích học tập:”Học đểbiết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” Trường học chúng
ta hiện đang nặng về học để biết, nghĩa là chỉ đạt được một trong bốn mục tiêu củaUNESCO
Trang 21Từ những điều trình bày trên, ta có thể khái quát lại quan niệm về việc học ngày
nay là: Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh mình, nói cách khác, học là quá trình người học tự lực, tích cực tìm ra nội dung cần học, xác định bản chất, xác định được quan hệ giữa các nội dung, hệ thống hoá được các nội dung và sử dụng được các nội dung đã học vào giải quyết thành công các tình huống thực tiễn đặt ra.
Theo các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đạihọc” thì Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học Đó là một hìnhthức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chínhngười học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chươngtrình và sách giáo khoa đã được qui định
Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: “Tự học phải là công việc tự giác của mỗi người
do nhận thức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích luỹ kiến thức cho bảnthân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ của xã hội”
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học – là tự mình động não, suynghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi
cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ,tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chítiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốnthi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi vv ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào
đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [31]
Từ những quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học
như sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm
13
Trang 22lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó bằng hành động học tập của chính mình nhằm đạt được mục đích học tập.
1.2.1.5 Khái niệm về kĩ năng tự học
Bản thân mỗi cá nhân đều tiềm ẩn một khả năng tự học, khả năng đó được tăngcường hay không là nhờ vào cách thức học tập của họ Lối học nhồi nhét sẽ làmngười học thui chột khả năng tự học; trái lại, lối học tự tìm tòi, nghiên cứu, chú trọng
sự phát triển óc tư duy, vận dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống sẽ tăngcường khả năng tự học Như vậy, cách học có tác dụng rõ ràng đến việc phát triểnnăng lực tự học Với lối dạy - tự học, mức độ, đặc điểm hành động của người họcquyết đến hiệu quả học tập Hiệu quả của các hành động học tập tự học cao hay thấptùy thuộc vào kĩ năng thực hiện các hành động đó
Theo chúng tôi, kĩ năng tự học là khả năng chủ thể tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó bằng hành động học tập của chính mình nhằm đạt được mục đích học tập.
Việc hình thành kĩ năng trong học tập có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy
- tự học Một số tác giả đã phân các kĩ năng tự học ra làm dạng sau:
- Kĩ năng chọn lọc, sử dụng kiến thức đã có để hình thành kiến thức mới
- Kĩ năng đọc sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo
- Kĩ năng ghi chép trên lớp
- Kĩ năng khai thác kiến thức từ các phương tiện học tập;
- Kĩ năng giải quyết các bài tập nhận thức
- Kĩ năng hình thành và giải quyết vấn đề
- Kĩ năng lập kế hoạch tự học
1.2.1.6 Các hình thức và mức độ của kĩ năng tự học
Hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau:
Hình thức 1: Tự học không có sự hỗ trợ trực tiếp của GV: Thông qua SGK, tàiliệu tham khảo, tài liệu hướng dẫn của GV, người học tự thu nhận kiến thức, kĩ năngtrong quá trình tự học
Hình thức 2: Tự học có sách giáo khoa, có tài liệu hướng dẫn và có thầy giáp mặthướng dẫn trực tiếp để HS tự lực qua 2 tài liệu trên mà tìm kiếm được kiến thức
Trang 23Hình thức 3: Tự học hoàn toàn (không có GV): Thông qua tài liệu, qua tìm hiểuthực tế, học kinh nghiệm của người khác.Với hình thức tự học này, HS gặp nhiều khókhăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, khó thu xếp tiến độ kế hoạch tự học, không tựđánh giá được kết quả tự học của mình…Từ đó dễ chán nản và không tiếp tục tự học.Hình thức 4: Tự học thông qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS đượcnghe GV giảng giải, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi và nhận sựgiúp đỡ của GV khi gặp khó khăn Với hình thức này, HS cũng không đánh giá đượckết quả học tập của mình.
Trong đó ở trường phổ thông hiện nay hình thức tự học chủ yếu của HS là tự họcthông qua SGK, tài liệu, phương tiện thông tin…có sự hướng dẫn của GV
Mỗi GV có thể lựa chọn một hoặc nhiều phương tiện khác nhau trong quá trìnhdạy học, phù hợp với đối tượng HS để rèn luyện các kỹ cho HS
1.2.1.7 Vai trò của kĩ năng tự học đối với HS
Hoạt động tự học của HS không chỉ nâng cao năng lực nhận thức, rèn luyện thóiquen, kĩ năng, kỹ xảo vận dụng tri thức của bản thân vào cuộc sống mà còn giáo dụctình cảm và những phẩm chất đạo đức của bản thân Vì trên cơ sở những tri thức họtiếp thu được nó có ý nghĩa sâu sắc đến việc giáo dục tư tưởng đạo đức, lối sống,niềm tin, rèn luyện phong cách làm việc cá nhân cũng như những phẩm chất ý chí cầnthiết cho việc tổ chức lao động học tập của mỗi HS; Bên cạnh đó còn rèn luyện cho
họ cách suy nghĩ, tính tự giác, độc lập… trong học tập cũng như rèn luyện thói quentrong hoạt động khác Nói cách khác hoạt động tự học hướng vào việc rèn luyện pháttriển toàn diện nhân cách HS
Mặt khác hoạt động tự học không những là yêu cầu cấp bách, thiết yếu của HSđang ngồi trên ghế nhà trường để họ tiếp nhận tri thức, nâng cao trình độ hiểu biếtcủa bản thân mà còn có ý nghĩa lâu dài trong suốt cuộc đời mỗi con người, đó là thóiquen học tập suốt đời, bởi sau khi ra trường vẫn phải tiếp tục: Học, học nữa, học mãi
và người HS cần phải học khi còn là HS, nhưng cần phải học tập hơn nữa khi đã rờighế nhà trường và sự tự học tập khi rời ghế nhà trường THPT còn quan trọng hơn gấpbội lần sự tự học tập khi còn trong trường THPT và hiệu quả của nó, ảnh hưởng của
nó đến cá nhân con người và đến xã hội
Như vậy, tự học là một trong những phẩm chất quan trọng nhất mà nhà trường
cần phải trang bị cho HS vì nó có ích không chỉ khi các em còn ngồi trên ghế nhàtrường mà cả khi đã bước vào cuộc sống
15
Trang 24Tự học không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân người học mà còn góp phần to lớnnâng cao chất lượng dạy học và đào tạo Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vaitrò trách nhiệm của người GV mà dưới sự tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo của người GV,
HS đã biết cách tự học, chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh kho tàng tri thức của nhân loại.Năng lực tự học của HS được phát triển mạnh khi HS được tự học qua tài liệu hướngdẫn tự học
1.2.2 Lý thuyết về rèn luyện kĩ năng tự học
1.2.2.1.Khái niệm dạy học
Hoạt động dạy là hoạt động của GV tổ chức và hướng dẫn hoạt động của HS, tổchức và điều khiển tối ưu hoá quá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học để thông qua đóhình thành và phát triển nhân cách cho người học Quan trọng nhất là tạo tính tíchcực trong hoạt động học của HS, làm cho HS ý thức được kiến thức cần lĩnh hội vàbiết cách chiếm lĩnh nó Tính tích cực trong hoạt động học của HS quyết định chấtlượng học tập
Hoạt động dạy có hai chức năng luôn liên hệ chặt chẽ với nhau, đó là: Truyền thụthông tin dạy học và điều khiển hoạt động học Mối tương quan của hai chức năngnày thay đổi qua lịch sử phát triển của PPDH và việc lựa chọn các PPDH
MT
PP
HĐ tự học của HS
Kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS
Hình 1.1: Sự vận động và tương tác giữa các yếu tố của quá trình dạy học
Quá trình dạy học luôn có sự tác động qua lại giữa ba yếu tố: mục tiêu, nội dung
và phương pháp Trong dạy học - tự học thì yếu tố quyết định kết quả học tập là hoạt
Trang 25động tự học của HS Cho nên có thể nói cốt lõi của yếu tố phương pháp là phươngpháp hoạt động nhận thức của HS Hoạt động của GV là nhằm tổ chức, điều khiển,tạo điều kiện cho HS hoạt động có kết quả Phương tiện dạy học có tác dụng cungcấp cho HS những tư liệu khách quan để thực hiện những hoạt động nhận thức.Theo quan niệm dạy trên có thể hiểu khái niệm hướng dẫn tự học là sự hỗ trợ của
GV trong việc định hướng cho HS Nội dung định hướng bao gồm: định hướng mụctiêu, nội dung, phương pháp học tập Nhiệm vụ của GV là xây dựng: kế hoạch hànhđộng, hệ thống phiếu tự học, và tài liệu tự học có hướng dẫn với hệ thống câu hỏi, bàitoán nhận thức, tổ chức thảo luận theo tập thể mà khi đó GV là cố vấn, người điềukhiển, hướng dẫn… để HS tự tổ chức nhận thức nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập
Như vậy tổ chức hoạt động tự học của HS trong quá trình dạy học đã thực sự đặt
HS vào vị trí chủ thể của quá trình nhận thức tích cực mà vẫn không hạ thấp vai tròcủa GV Khi điều khiển hoạt động tự học của HS, GV không hoàn toàn áp đặt về nộidung, phương pháp, nhịp điệu tiến hành mà căn cứ vào mục đích dạy học để thiết kếcác nhiệm vụ nhận thức thành các phương án thực hiện
1.2.2.2 Thế nào là dạy học theo hướng rèn luyện kĩ năng cho HS?
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cựchoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắnvới những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệvới hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mớiquan hệ GV – HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển nănglực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn họcchuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giảiquyết các vấn đề phức hợp
Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học các mônhọc thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là:
Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và pháttriển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin, ),trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy
Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặcthù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng
17
Trang 26phải đảm bảo được nguyên tắc “HS tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổchức, hướng dẫn của GV”.
Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học.Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổchức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cầnchuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện
kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho ngườihọc
Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã quy định
Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học vàphù hợp với đối tượng HS Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học.Phương pháp dạy học của GV để rèn luyện kĩ năng cho HS được thể hiện qua bốnđặc trưng cơ bản sau:
Dạy học thông qua tổchức liên tiếp các hoạt động học tập, từ đó giúp HS tự khámphá những điều chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được sắpđặt sẵn
Chú trọng rèn luyện cho HS những tri thức phương pháp để họ biết cách đọc sáchgiáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, biết cáchsuy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới
- Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác theo phương châm “tạođiều kiện cho học sinh nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn” Điều đó có nghĩa,mỗi HS vừa cố gắng tự lực một cách độc lập, vừa hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếpcận, phát hiện và tìm tòi kiến thức mới Lớp học trởthành môi trường giao tiếp thầy – trò và trò –trò nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết cácnhiệm vụ học tập chung
- Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạyhọc thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chú trọng phát triển kĩ năng tự đánhgiá và đánh giá lẫn nhau của HS với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướngdẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữacác sai sót
1.2.2.3.Các phương pháp dạy học rèn luyện kĩ năng tự học cho HS
- Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống
Trang 27Các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tậpluôn là những phương pháp quan trọng trong dạy học Đổi mới phương pháp dạy họckhông có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cầnbắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Vìthế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phươngpháp dạy học mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tínhtích cực và sáng tạo của HS Chẳng hạn có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của
HS trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề
- Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học
Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu và nộidung dạy học Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu, nhược điểm vàgiới hạn sử dụng riêng Vì vậy việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thứcdạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tínhtích cực và nâng cao chất lượng dạy học
- Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyếtvấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết vàgiải quyết vấn đề Học được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là tình huốngchứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp HS lĩnh hộitri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức Dạy học giải quyết vấn đề là con đường
cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của HS, có thể áp dụng trong nhiều hìnhthức dạy học với những mức độtự lực khác nhau của HS
- Vận dụng dạy học theo tình huống
Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học được tổchức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống vànghềnghiệp Quá trình học tập được tổchức trong một môi trường học tập tạo điềukiện cho học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mối tương tác xã hội củaviệc học tập Sử dụng các chủ đề dạy học phức hợp góp phần khắc phục tình trạng xarời thực tiễn của các môn khoa học chuyên môn, rèn luyện cho HS năng lực giảiquyết các vấn đề phức hợp, liên môn
19
Trang 28Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một phương pháp dạy học điển hình củadạy học theo tình huống, trong đó HS tự lực giải quyết một tình huống điển hình, gắnvới thực tiễn thông qua làm việc nhóm.
- Vận dụng dạy học định hướng hành động
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt động trí
óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau Trong quá trình học tập, HS thựchiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm hành động, có sự kết hợp linhhoạt giữa hoạt động trí tuệvà hoạt động tay chân Đây là một quan điểm dạy học tíchcực hoá và tiếp cận toàn thể Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩaquan trọng cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tưduy và hành động, nhà trường và xã hội
Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của dạy học định hướng động,trong đó HS tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với cácvấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể công
bố Trong dạy học theo dự án có thể vận dụng nhiều lý thuyết và quan điểm dạy họchiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định hướng HS, dạy học hợp tác, dạy học tíchhợp, dạy học khám phá, sáng tạo, dạy học theo tình huống và dạy học định hướnghành động
1.2.2.4 Các công cụ rèn luyện kĩ năng tự học
Câu hỏi là một dạng cấu trúc ngôn ngữ để diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi, mộtmệnh lệnh Bài tập là một nhiệm vụ mà người giải cần phải thực hiện, trong bài tập
có các dữ kiện và yêu cầu cần tìm [34]
Câu hỏi, bài tập là những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câuhỏi mà trong khi hoàn thành chúng học sinh nắm bắt được một tri thức hay một kỹnăng nhất định hoặc hoàn thiện tri thức, kỹ năng đã có Bài tập, bài toán hay một câuhỏi là động lực, là công cụ để con người tư duy là động lực vì bài toán, câu hỏi(những yếu tố có chứa trong bài tập) khi được trở thành một mâu thuẫn chủ quan sẽxuất hiện kích thích gây động cơ tìm lời giải Là công cụ vì trong bài tập khi đã chứađựng câu hỏi, bài toán hay chứa các yếu tố xuất hiện bài toán, câu hỏi thì tự nó baogồm cả điều chủ thể đã biết và cả điều chủ thể chưa biết trong mối quan hệ lôgíc Nhưvậy, sử dụng câu hỏi và bài tập để tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh có vaitrò giúp học sinh tự chiếm lĩnh tri thức mới, vừa rèn luyện
Trang 29được các thao tác tư duy tích cực, sáng tạo, vừa bồi dưỡng được các phương pháp học tập để tự học suốt đời cho học sinh.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về tình huống Theo Từ điển Tiếng Việt, tìnhhuống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một địa điểm, trong một thời gian cụ thể,buộc người ta phải suy nghĩ, hành động, đối phó, tìm cách giải quyết
Tình huống được đưa vào giảng dạy thường ở dưới dạng những bài tập nghiêncứu tình huống (bài tập tình huống) Đặc điểm nổi bật của loại hình bài tập này là
“xoay quanh những sự kiện có thật hay gần gũi với thực tế trong đó chứa đựng nhữngvấn đề và mâu thuẫn cần phải được giải quyết” (Center for Teaching ADN Learning
of Stanford University, 1994) Một bài tập nghiên cứu tình huống tốt, theo nhưBoehrer ADN Linsky (1990) cần phải trình bày được những vấn đề có tính khiêukhích và tạo được sự thấu cảm với nhân vật chính 39
Phương pháp học bằng cách nghiên cứu tình huống (Case study) giống như tìmcách giải quyết một bài toán hóc búa Một tình huống được lấy làm ví dụ phải là tìnhhuống có vấn đề thực sự Đó là tình huống chứa đủ thông tin để người đọc nắm bắt vàphân tích Một tình huống thú vị thường giống một câu chuyện có yếu tố khám phá
mà người viết tạo ra nhằm lôi cuốn sự quan tâm của bạn đọc
- Phiếu học tập: Là những mảnh giấy rời, trên đó GV đưa ra những yêu cầu về các hoạt động mà HS cần thực hiện để hoàn thành mục tiêu của quá trình dạy học
Thực tế, không có một phương pháp, phương tiện dạy học nào là tối ưu cho tất cảmọi đối tượng vì dạy học vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Nhưng sử dụng phươngtiện dạy học phù hợp trong quá trình giảng dạy sẽ mang lại hiệu quả tối ưu PHT làmột công cụ có thể chứa đựng cả 2 loại cộng cụ trên, trong quá trình dạy học GV cóthể sử dụng các PHT với các dạng khác nhau phù hợp với từng bài học, từng khâu đểgiúp HS rèn luyện kĩ năng tự học một cách hiệu quả
1.2.3 Lý thuyết về phiếu học tập
1.2.3.1 Khái niệm phiếu học tập
Theo tác giả Đặng Thành Hưng thì “PHT là một trong những phương tiện dạy học(DH) cụ thể, đơn giản và có khả năng tương thích rất cao với tuyệt đại đa số ngườihọc thuộc mọi lứa tuổi và trong lĩnh vực học tập Đó là văn bản bằng giấy hoặc dạnggiấy do GV (GV) tự làm, gồm một hoặc một số tờ, có vai trò học liệu để bổ sung chosách và tài liệu giáo khoa quy định, có chức năng hỗ trợ học tập và
21
Trang 30giảng dạy vừa như công cụ hoạt động, vừa như điều kiện hoạt động của người học vàngười dạy, mà trước hết như một nguồn thông tin học tập”.
Còn tác giả Nguyễn Đức Vũ đã định nghĩa PHT là “tờ giấy rời, trên đó ghi cáccâu hỏi, bài tập, nhiệm vụ học tập, kèm theo gợi ý, hướng dẫn, dựa vào đó, HS(HS) thực hiện hoặc ghi các thông tin cần thiết để giúp mở rộng, bổ sung kiến thứcbài học”
Như vậy, có thể nhận thấy các tác giả đều nhất trí với quan điểm PHT là phươngtiện dạy học do GV tự thiết kế, gồm một hoặc một số tờ giấy rời có ghi những nhiệm
vụ học tập mà HS phải hoàn thành kèm theo những gợi ý, hướng dẫn hoặc thông tin
bổ sung cho bài học yêu cầu HS phải tự lực hoàn thành
1.2.3.2 Phân loại phiếu học tập
Phân loại theo mục tiêu dạy học
+ Phiếu học tập hình thành kiến thức mới
+ Phát triển kĩ năng quan sát: HS quan sát tranh, sơ đồ, mẫu vật, thí nghiệm hay đoạn phim để tự rút ra kiến thức mới
+ Phát triển kĩ năng thu thập thông tin từ kênh chữ: Từ thông tin ở kênh chữ, HS hoàn thành phiếu học tập và rút ra kiến thức cần học
+ Phát triển kĩ năng tư duy, kĩ năng giải quyết vấn đề
+ Phiếu học tập để ôn tập củng cố kiến thức
+ Phát triển khả năng suy luận
+ Hệ thống hóa kiến thức
+ Áp dụng kiến thức đã học
Phân loại theo hình thức thể hiện trong phiếu học tập
- PHT chứa câu hỏi, bài tập
- PHT chứa các bài tập tình huống
- PHT chứa các bài tập dạng bảng biểu
- PHT chứa các bài tập dạng sơ đồ/bảng biểu/bản đồ
1.2.3.3 Vai trò của phiếu học tập trong dạy học
Có rất nhiều kiểu loại và hình thức PHT khác nhau, nhưng nhìn chung chúng đều
có những chức năng giáo dục tương đối chung và có thể nhận biết được Theo nhiềutài liệu, các nhà nghiên cứu đều có sự thống nhất về 2 chức năng cơ bản của PHT nhưsau:
- Chức năng cung cấp thông tin và sự kiện:
Trang 31PHT thực hiện chức năng cung cấp thông tin và sự kiện cho HS Những thông tin,
sự kiện này là những thông tin, sự kiện không có trong SGK nhưng có liên quan đếnbài học GV có thể cung cấp những thông tin này hoặc có thể giới thiệu cho HS cách
tự tìm thông tin, từ đó, yêu cầu HS phân tích để rút ra những tri thức cho bài học,hoặc để minh họa, làm sáng tỏ thêm kiến thức cho bài học
Theo tác giả Đặng Thành Hưng thì “trong PHT có thể là văn bản, biểu số liệu,hình ảnh, sơ đồ , tóm tắt hoặc trình bày bằng những cấu trúc nhất định một lượngthông tin, dữ liệu hoặc sự kiện xuất phát cần thiết cho người học”
Như vậy những thông tin, sự kiện trong PHT có thể là văn bản, biểu số liệu, hìnhảnh không có trong SGK nhưng cần thiết cho người học Nguồn của các thông tinnày có thể là các sách, báo, tạp chí, mạng internet
- Chức năng công cụ hoạt động và giao tiếp:
Đây là chức năng quan trọng và được lưu ý hơn chức năng cung cấp thông tin và
sự kiện Bởi trong thời đại này, nguồn tư liệu học tập rất phong phú nên việc tìmkiếm thông tin, sự kiện không khó đối với HS
Theo tác giả Đặng Thành Hưng, “PHT còn nêu lên những nhiệm vụ học tập, nhữngyêu cầu hoạt động, những hướng dẫn học tập, những công việc và vấn đề để người họcthực hiện hoặc giải quyết Thông qua nội dung và tính chất này nó thực hiện chức năngcông cụ hoạt động và giao tiếp trong quá trình học tập của người học.”
Tác giả Nguyễn Đức Vũ khi bàn về chức năng này cũng cho rằng đây là chứcnăng cơ bản của PHT: “PHT chứa đựng các câu hỏi, bài tập, yêu cầu hoạt động,những vấn đề và công việc để HS giải quyết hoặc thực hiện, kèm theo hướng dẫn, gợi
ý cách làm Thông qua các nội dung này, PHT thực hiện chức năng là công cụ hoạtđộng và giao tiếp trong quá trình học tập của HS”
PHT là công cụ để HS hoạt động theo hình thức cá nhân hay hoạt động theonhóm PHT hỗ trợ các hoạt động và quan hệ của người học, tương tác chia sẻ giữangười học với nhau và với GV
1.2.3.4 Vai trò của phiếu học tập trong việc rèn luyện kĩ năng tự học
Việc đổi mới PPDH hiện nay đều hướng tới mục tiêu phát huy tính tích cực nhậnthức của HS Hầu hết các nhà nghiên cứu giáo dục đều cho rằng PPDH hiệu quả nhất
là PPDH trong đó đề cao hoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo của HS Để thực hiệnđược PPDH tích cực đó, đáp ứng được mục tiêu đổi mới PPDH, một
23
Trang 32trong những điều kiện quan trọng cần phải có, đó là phương tiện dạy học phải đượcđáp ứng đầy đủ.
PHT là một phương tiện dạy học do GV tự thiết kế bao gồm những nhiệm vụ họctập được trình bày một cách logic, khoa học, trong đó GV đã tính toán kĩ từng bướcnhỏ, vừa sức với HS để các em có thể tự làm được, qua đó có thể tự mình chiếm lĩnhkiến thức mới PHT đồng thời cũng là công cụ để GV tổ chức các hoạt động học tậpcho HS HS sử dụng PHT như một tài liệu học tập để thực hiện các nhiệm vụ học tậpđược giao nhằm lĩnh hội kiến thức mới Thông qua các hoạt động cá nhân hay hoạtđộng nhóm, HS rèn luyện được kĩ năng học tập độc lập hay học tập hợp tác, kĩ năngtrình bày ý kiến, thảo luận,
Khi sử dụng PHT, HS phải tự nghiên cứu SGK và các tài liệu tham khảo, mọi HSphải tự thực hiện nhiệm vụ được giao trong PHT, hạn chế được thói quen ỷ lại, dựadẫm của đa số HS kém và trung bình Trong lúc HS tiến hành các hoạt động học tậpbằng tay, các biến đổi sinh hóa được diễn ra một cách mạnh mẽ, sâu sắc trong não củacác em, giúp các em hiểu sâu và nhớ lâu bài học Trong quá trình thảo luận để hoànthành phiếu, HS được tự do trình bày ý kiến của mình trước lớp, qua đó sẽ bộc lộnhững quan niệm của HS, từ đó GV sẽ có hướng khắc phục các quan niệm của HS,đặc biệt là những quan niệm sai lầm, không chính xác Đồng thời, khi tiếp nhậnnhững ý kiến đóng góp, sửa đổi của các HS khác trong nhóm, lớp, của GV, các em sẽphần nào tự đánh giá được kết quả làm việc của mình
Mặt khác, trong quá trình HS thực hiện nhiệm vụ trong PHT, qua quan sát, GV cóthể thu nhận được thông tin về năng lực, thái độ học tập của HS để có biện pháp uốnnắn kịp thời Đồng thời, qua các sản phẩm của quá trình làm việc bằng tay của HS,
GV có được nguồn thông tin phản hồi trung thực hơn, từ đó điều chỉnh được PPDHcủa mình
Như vậy, việc sử dụng PHT đóng một vai trò quan trọng trong DH phát huy tínhtích cực nhận thức của HS Do đó, việc nghiên cứu thiết kế và đưa vào sử dụng PHTtrong dạy học là rất quan trọng và cần thiết
1.3.Cơ sở thực tiễn
Để có cơ sở thực tiễn cho đề tài chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng dạy và học Sinh học 10 ở trường THPT Chúng tôi đã tiến hành dự giờ, trao đổi trực tiếp và phát phiếu điều tra 30 GV đang trực tiếp giảng dạy tại các trường THPT trên địa bàn quận Từ Liêm, Thanh Xuân, TP Hà Nội, đồng thời tiến hành điều tra, khảo sát
Trang 33trên 216 HS khối 10 ở các trường THPT Trung Văn và THPT Đại Mỗ, quận Nam
Từ Liêm với nội dung khảo sát:
1.3.1 Thực trạng về tình hình tự học của HS
Để điều tra thực trạng về tình hình tự học môn Sinh học của HS THPT, chúng tôi
sử dụng phiếu điều tra (Xem phiếu ở phụ lục) với 216 HS lớp 10 ở trường THPT
Trung Văn, quận Nam Từ Liêm - TP Hà Nội
Kết quả thu được thông qua phiếu điều tra như sau:
Bảng 1.1 Kết quả điều tra HS về kĩ năng tự học Câu 1: Em đánh giá như thế nào về vai trò của kĩ năng tự học đối với HS
Câu 3: Thầy cô giáo đã sử dụng phương tiện nào sau đây để hướng dẫn HS tự học qua
các bài học thuộc môn Sinh học?
Trang 34Không hướng dẫn 21 9,7% 54 25,0% 72 33,3% 69 31,9%
25
Trang 35Qua kết quả điểu tra trên chúng tôi thấy:
- Về quan điểm đánh giá của HS: Có 17,1% HS đánh giá được vai trò rất cần thiếtcủa tự học, 48,75 HS được điều tra cho rằng tự học là cần thiết, chỉ có 13,4% chưa đánh giá đúngvai trò của tự học
- Về hình thức học tập: 84,7% HS được điều tra thường xuyên học tập môn Sinhhọc qua các giờ học trên lớp, chỉ có 34,7% HS tự nghiên cứu SGK, 10,2% tự tra cứu thông tinkiến thức qua các phương tiện khác như internet, thậm chí vẫn có 3,7% HS còn không quan tâmđến cả những giờ học trên lớp
- Đối với việc hướng dẫn tự học của GV thì chỉ có 34,7% HS cho rằng GV có sửdụng SGK làm phương tiện hướng dẫn tự học, đối với phương tiện là PHT thì tỉ lệ này chỉ14,8%, một số HS cho rằng GV không hướng dẫn cho HS tự học
Qua số liệu trên, chúng tôi thấy rằng đa số HS đã đánh giá được sự cần thiết của
kỹ năng tự học, tuy nhiên việc học tập môn Sinh học của HS ở trường THPT đượcthực hiện chủ yếu trong các giờ học trên lớp, có sự hướng dẫn của GV thông quaSGK Thậm chí có một số HS không quan tâm cả đến các giờ sinh học, các em khôngchú ý nghe giảng, làm việc riêng, làm bài tập môn khác trong giờ học Chỉ một tỉ lệnhỏ HS tự học môn sinh thông qua việc tìm hiểu tài liệu như sách tham khảo,internet… Việc tự học ở nhà đối phó là chính, chỉ coi đó là nhiệm vụ, HS tiếp thukiến thức thụ động, tái hiện kiến thức trong SGK mà chứ chưa thực sự hứng thú, tựhọc, tự nghiên cứu để lĩnh hội kiến thức Về phương tiện hướng dẫn tự học cho HSchủ yếu là SGK hoặc sách bài tập, số lượng các tiết học mà HS được rèn luyện kĩnăng tự học qua PHT chưa nhiều
1.3.2 Thực trạng về tình hình dạy học theo hướng rèn luyện kĩ năng tự học cho HS
Chúng tôi đã tìm hiểu thực trạng việc sử dụng các PPDH tích cực và tình hình rènluyện kĩ năng tự học cho HS trong DH chương trình Sinh học với 30 GV dạy mônSinh học ở các trường THPT trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, Thanh Xuân, TP HàNội thông qua các hoạt động: dự giờ và điều tra bằng phiếu với GV Kết quả
cụ thể như sau:
26
Trang 36Bảng 1.2 Ý kiến của GV về dạy học theo hướng rèn luyện kĩ năng tự học
Câu 1: Thầy cô đánh giá như thế nào về vai trò của kĩ năng tự học đối với HS THPT hiện
nay?
thiếtSố
Trang 37Bài tập 18 60% 6 20% 4 13,3% 2 6,7%Phiếu học tập
Trang 38Qua kết quả thu được ở bảng trên cho thấy:
- Tất cả Gv được điều tra đánh giá vai trò cần thiết của kỹ năng tự học đối với HS, trong đó có đến 93,3 % GV đánh giá ở mức rất cần thiết
- Về hình thức DH: 100% GV tiến hành DH môn Sinh học thông qua các giờ trênlớp, nhưng chỉ có 66,7% có sử dụng SGK để hướng dẫn HS tự học, 30% GV hướng dẫn HS tựhọc qua các hình thức như tìm kiếm thông tin trên mạng internet Có cả những GV không hướngdẫn HS tự học
- Phương tiện DH môn Sinh học của GV: 80% GV được điều tra sử dung SGK làmphương tiện DH, 60% GV sử dụng các bài tập, chỉ có 20% GV sử dng PHT, có đến 23,3% GVđược điều tra chưa sử dụng phương tiện này trong DH môn Sinh học
Qua phân tích số liệu trên chúng tôi thấy rằng: GV đã đánh giá đúng vai trò của
kỹ năng tự học đối với học sinh, tuy nhiên trong quá trình DH, GV chưa chú trọngnhiều đến việc rèn luyện kỹ năng tự học cho HS, việc học của HS chủ yếu vẫn diễn ratrong các giờ học tại lớp, tài liệu học chủ yếu là SGK, HS chưa được rèn luyện những
kĩ năng cần thiết để thu thập, xử lý thông tin từ các loại phương tiện thông tin trongcuộc sống Do vậy, ta thấy cần phải thay đổi PPDH theo hướng phát huy tích cực,chủ động học tập của HS Việc tổ chức hoạt động DH rèn luyện năng lực tự học ởtrường THPT là cần thiết và phải có hệ thống phương tiện DH phù hợp để tích cựchoá hoạt động của HS, góp phần cải tiến nâng cao chất lượng dạy và học
Trang 39Kết luận chương 1Trong chương này tôi đã tập trung làm sáng tỏ các vấn đề sau: Tổng quan một sốnghiên cứu về tự học và kĩ năng tự học trên thế giới và ở VN cho thấy nhiều nhànghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứuđến vấn đề tự học và vai trò của kỹ năng tự học đối với HS nói riêng và con ngườinói chung Kỹ năng tự học không chỉ vai trò quan trong đối với HS trong hiện mà cònthực sự cần thiết cho cả cuộc đời.
Về cơ sở lý luận về tự học và rèn luyện kĩ năng tự học chúng tôi đã nghiên cứu:khái niệm kĩ năng, kĩ năng tự học, khái niệm về tự học, vai trò của việc tự học đối vớihọc sinh, các phương pháp dạy học rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh, khái niệm
về PHT, vai trò của phiếu học tập trong việc rèn luyện kĩ năng tự học cho HS
Điều tra thực trạng dạy học Sinh học trên đối tượng là 216 HS, 30 GV ở cáctrường THPT trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, Thanh Xuân, TP Hà Nội cho thấy đa
số GV và HS đã đánh gía được vai trò của kỹ năng tự học đối với HS, nhưng trongquá trình DH, đa số GV mới chú ý đến việc giúp HS lĩnh hội kiến thức thông quaSGK mà chưa chú trọng đến việc rèn luyện kỹ năng này cho HS, phương tiện DHchưa phong phú HS chưa thực sự hứng thú với môn Sinh học, chủ yếu tiếp thu kiếnthức qua các giờ học tại lớp mà chưa tự học qua các phương tiện khác
Dựa trên các cơ sở lý luận và thực tiễn đó tôi đề xuất biện pháp DH theo hướngrèn luyện kĩ năng tự học cho HS bằng việc thiết kế và sử dụng PHT trong DH mônSinh học ở THPT, cụ thể áp dụng trong DH chương Thành phần hóa học của tế bào
và chương Cấu trúc của tế bào - Sinh học 10
29
Trang 40CHƯƠNG 2RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KĨ NĂNG TỰ HỌCBẰNG VIỆC SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌCCHƯƠNG THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TẾ BÀO
VÀ CHƯƠNG CẤU TRÚC TẾ BÀO - SINH HỌC 10 THPT2.1 Phân tích nội dung kiến thức các chương Thành phần hóa học của tế bào và
Cấu trúc của tế bào - Sinh học 10 THPT
2.1.1 Phân tích mục tiêu chương
2.1.1.1 Mục tiêu chương I: Thành phần hóa học của tế bào
- Nêu được các nguyên tố chính cấu tạo nên tế bào
- Phân biệt được nguyên tố đại lượng và nguyên tố vi lượng
- Trình bày được vai trò của nguyên tố đại lượng, vi lượng đối với tế bào
- Trình bày được vai trò sinh học của nước đối với tế bào
- Giải thích được tại sao nước là một dung môi tốt
- Giải thích được cấu trúc hóa học của phân tử nước quyết định các đặc tính lí hóa của nước
- Nêu được cấu tạo hoá học của cacbohiđrat, lipit, prôtêin, axit nuclêic và trình bàyđược các vai trò sinh học của chúng trong tế bào
- Nhận biết được một số thành phần hoá học của tế bào
o Kĩ năng: Rèn luyện cho HS các kĩ năng sau:
- Kĩ năng tư duy: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, tìm mối liên hệ
- Kĩ năng học tập: tự học, tự nghiên cứu; kĩ năng quan sát tranh hình thu nhận kiếnthức; kĩ năng lập sơ đồ, biểu đồ; kĩ năng hợp tác nhóm…
- Kĩ năng Sinh học: kĩ năng quan sát; làm thí nghiệm về sức căng của nước, sự biến tính của protein