Chính vì vậy, trong sự nghiệpxây dựng và phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn tập trung mọinguồn lực xã hội để thực hiện mục tiêu xây dựng những con người Việt Nam thi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC -
TRỊNH THỊ THU HIỀN
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẤT BẠT
HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRỊNH THỊ THU HIỀN
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINHTRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẤT BẠT, HUYỆN BA VÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phó Đức Hòa
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành tác giả xin bảy tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tớiLãnh đạo trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, các Thầy Cô giáo đãtham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc, tạo điều kiện giúp
đỡ tác giả trong quá trình học tập nghiên cứu rèn luyện tại nhà trường
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TSPhó Đức Hòa - Người thầy tận tụy, đáng kính đã bỏ ra rất nhiều công sức, trực tiếphướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện để hoàn thành luận văn này
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường THPT Bất Bạt
đã tạo điều kiện về thời gian, vật chất, tinh thần cho tác giả trong suốt quá trình họctập và hoàn thành khoá học Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã tận tình giúp
đỡ động viên tác giả hoàn thành khoá học và luận văn này
Do điều kiện về thời gian và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên luận vănnày còn có những khiếm khuyết, tác giả mong nhận được sự góp ý chân thành củaThầy Cô và đồng nghiệp
Trân trọng biết ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả
Trịnh Thị Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn…… ……… ………i
Danh mục chữ viết tắt… ……… …….……….ii
Mục lục… ……….…… iii
Danh mục bảng ……….………….vi
Danh mục biểu đồ, sơ đồ… ……… ……… viii
MỞ ĐẦU .1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT .6
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài .6
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản về quản lý hoạt động GDĐĐ 10
1.2.1 Quản lý 10
1.2.2 Giáo dục đạo đức 12
1.2.3 Hoạt động giáo dục đạo đức 14
1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 15
1.3 Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT 15
1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức 15
1.3.2 Nhiệm vụ của hoạt động GDĐĐ cho học sinh các trường THPT 16
1.3.3 Nội dung của hoạt động giáo dục đạo đức: 16
1.3.4 Các con đường của hoạt động GDĐĐ…… ……… 17
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT 19
1.4.1 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 19
1.4.2 Phương pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 21
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT 23
1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT 23
1.5.2 Điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội, phong tục tập quán của địa phương25 1.5.3 Sự phối hợp các hoạt động giáo dục đạo đức 27
1.5.4 Trình độ, năng lực quản lý của CBQL và giáo viên các trường THPT .29
Kết luận chương 1 31
Trang 6Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẤT BẠT HUYỆN
BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32
2.1 Khái quát về đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục huyện BaVì……… ……….32
2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội của huyện Ba Vì 32
2.1.2 Khái quát tình hình GD&ĐT của huyện Ba Vì 33
2.1.3 Quá trình phát triển của trường THPT Bất Bạt 33
2.2 Thực trạng hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THPT Bất Bạt huyện Ba vì, thành phố Hà Nội 35
2.2.1 Nhận thức tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho học sinh 35
2.2.2 Nội dung GDĐĐ cho học sinh 37
2.2.3 Hình thức tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh 39
2.2.4 Đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh trường THPT Bất Bạt 42
2.2.5 Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến GDĐĐ cho học sinh 44
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THPT Bất Bạt 46
2.3.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức 46
2.3.2 Việc triển khai kế hoạch giáo dục đạo đức 47
2.3.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức 49
2.3.4 Chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức. 52
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THPT Bất Bạt 56
2.4.1 Ưu điểm 56
2.4.2 Hạn chế 57
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 57
Kết luận chương 2 .60
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT BẤT BẠT HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI………. …….61
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 61
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo đáp ứng yêu cầu theo chủ trương, chính sách, mục tiêu của Đảng và Nhà nước 61
Trang 73.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 61
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 62
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 62
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Bất Bạt, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội .63
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục về GDĐĐ cho học sinh 63
3.2.2 Biện pháp 2: Kế hoạch hoá công tác quản lý giáo dục đạo đức học sinh 67
3.2.3 Biện pháp 3: Thành lập Ban chỉ đạo quản lý cáchoạt động GDĐĐ phù hợp với đối tượng giáo dục và các lực lượng tham gia giáo dục .68
3.2.4 Biện pháp 4: Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức HS … 76
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cộng đồng, địa phương cho học sinh 81
3.2.6 Biện pháp 6: Nâng cao chất lượng quản lý văn hóa nhà trường 83
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 88
3.4 Tổ chức khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 90
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm .91
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm .91
3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm .91
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm .91
Kết luận chương 3 .95
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .96
1 Kết luận……… ……….…….96
2 Khuyến nghị……… ……….97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 102
Trang 9Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của 6 biện pháp đề xuất 92Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của 6 biện pháp đề xuất 93Bảng 3.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp 94
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Các chức năng quản lý .11
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ về mối quan hệ giữa các biện pháp .90
Biểu đồ 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp đề xuất .92
Biểu đồ 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất .93
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Từ xa xưa ông cha ta đã đúc kết kinh nghiệm cho giáo dục thế hệ sau mộtcách sâu sắc: “Tiên học lễ, hậu học văn” Lễ ở đây chính là nền tảng đạo đức của conngười, là sự lĩnh hội và phát triển các tri thức, kĩ năng Chính vì vậy, trong sự nghiệpxây dựng và phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn tập trung mọinguồn lực xã hội để thực hiện mục tiêu xây dựng những con người Việt Nam thiết thavới lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiêncường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH –HĐH) đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị độc lập dân tộc, có năng lực tiếp thutinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy được tiềm năng của dân tộc, có ý thức cộng đồng
và phát huy tính tích cực của cá nhân để làm chủ tri thức khoa học và công nghiệphiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có
tổ chức kỷ luật, có sức khoẻ, kiên định với Chủ nghĩa xã hội và tư tưởng Hồ ChíMinh Quan điểm về phát triển con người Việt Nam nói trên đã thể hiện rõ ở mục tiêugiáo dục là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức,sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của côngdân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Trong xã hội ta hiện nay, bên cạnh những truyền thống đạo đức tốt đẹp củadân tộc và của nhân loại, cũng đang còn không ít những vấn đề thuộc về lĩnh vực đạođức mà cộng đồng, xã hội vẫn phải quan tâm Đó là vấn đề giáo dục đạo đức cho thế
hệ trẻ của nước nhà có được lối sống lành mạnh, trung thực, nhân ái, vị tha, thấmđượm tình người sâu sắc; loại bỏ lối sống thực dụng, ích kỷ, chạy theo đồng tiền bấtchính, sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm của người khác Đứng trước những biểu hiệnsuy thoái đạo đức, sự phát triển lệch chuẩn nhân cách của một bộ phận người trong
xã hội, đòi hỏi “phải tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạođức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân”, lành mạnh hóa đời sống tinh thần xã hội.Việc giải quyết các đòi hỏi đó là một trong các nhiệm vụ quan trọng của công cuộcđổi mới toàn diện ở nước ta hiện nay
Trang 121.2 Trong những năm gần đây, đạo đức của học sinh thành phố Hà Nội nóichung đã có tiến bộ, tuy nhiên những biểu hiện đạo đức của học sinh trung học phổthông (THPT) trên địa bàn thành phố có sự sa sút Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự
sa sút đó nhưng một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này phải chăng là
do sự quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trên địa bàn thành phốcòn nhiều hạn chế, chưa thực sự được coi trọng đúng mức? Trách nhiệm đầu tiên phảithuộc về những người làm công tác giáo dục Điều đó đòi hỏi phải đánh giá đúng thựctrạng việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức; tìm ra biện pháp tháo gỡ, khắc phục
để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh THPT Nói cách khác, việc tìm
ra được biện pháp tăng cường quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh cáctrường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay là vấn đề thời sự và cấp thiết
Đó là việc đánh giá đúng tình hình, nhận diện đúng vấn đề, phát hiện được trở ngại,các vướng mắc để tìm ra các nguyên nhân của hoạt động giáo dục đạo đức (GDĐĐ)
và quản lý hoạt động GDĐĐ, đề xuất được các biện pháp nhằm nâng cao chất lượngquản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố HàNội Nếu các vấn đề đó được nghiên cứu và giải quyết thấu đáo, sẽ tạo nên nhữngchuyển biến tích cực về lối sống và đạo đức của học sinh, từ đó nâng cao chất lượngđào tạo và góp phần tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho cộng đồng, địa phương
và cho đất nước
Là một người làm trong ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố, tác giả cảmnhận sâu sắc và hết sức băn khoăn trước những thực tế này Giáo dục đạo đức đối vớihọc sinh, đặc biệt là học sinh THPT là vấn đề cần thiết, cấp bách và có tác dụng lâudài, ảnh hưởng rất lớn đến các thế hệ tương lai của đất nước Chúng ta phải thấmnhuần quan điểm của Hồ Chủ tịch về giáo dục đạo đức: "Dạy cũng như học, phải biếtchú trọng cả Tài lẫn Đức Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng,nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng"
1.3 Hiện nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về giáo dục đạođức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh; tuy nhiên việc nghiên cứu
cụ thể về thực trạng và các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho họcsinh nói chung và cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội nóiriêng thì đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào cụ thể Chính vì vậy, tác giảchọn nghiên cứu đề tài:
Trang 13“Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Bất Bạt huyện Ba
Vì, thành phố Hà Nội”.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học
sinh ở trường THPT Bất Bạt, thành phố Hà Nội, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội.
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại các trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của trường THPTBất Bạt huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh ở trường THPT Bất Bạt thuộc địa bàn thànhphố Hà Nội hiện nay đã có đổi mới và thu lại một số kết quả đáng khích lệ; tuy nhiên
vẫn còn những hạn chế nhất định Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức phù hợp với thực trạng hiện nay của nhà trường sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THPT Bất Bạt huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại các trường THPT.
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng GDĐĐ cho học sinh và thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh tại trường THPT Bất Bạt, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh cho BGH trường THPT Bất Bạt huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
6.1 Giới hạn về đề tài nghiên cứu
Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thôngcủa trường THPT
Trang 146.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Trường THPT Bất Bạt, xã Sơn Đà, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Ban Giám Hiệu, Ban chấp hành Công đoàn và Ban chấp hành Đoàn Thanhniên Cộng sản Hồ Chí Minh của Trường THPT Bất Bạt, huyện Ba Vì, thành phố HàNội
Cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh của trường THPTBất Bạt, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Bằng việc nghiên cứu đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về pháttriển giáo dục nói chung và phát triển GDTHPT nói riêng trong giai đoạn hiện nay;các công trình khoa học về giáo dục, GDĐĐ cho học sinh, các công trình khoa học vềquản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh;phương pháp này được sử dụng với mục đích xác định cơ sở lý luận về hoạt độngquản lý GDĐĐ cho học sinh của các trường THPT
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
*Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: bằng phương pháp xin ý kiến chuyên
gia, trao đổi, thu nhập các số liệu thực tiễn; các phương pháp này được sử dụng vớimục đích đánh giá thực trạng đạo đức và thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ chohọc sinh tại trường THPT Bất Bạt huyện Ba Vì,thành phố Hà Nội; đồng thời xem xétmức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp mà tôi sẽ đề xuất trong luận văn
*Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát: là một phương pháp rất hiệu
Trang 15quả nhằm nắm rõ những nhìn nhận về công tác giáo dục đạo đức, quản lý giáo dụcđạo đức của cán bộ, giáo viên và học sinh trong nhà trường, đề từ đó có những điềuchỉnh sát thực, kịp thời trong luận văn.
*Phương pháp phỏng vấn: phương pháp này được sử dụng để thu thập thêm
thông tin về thực trạng công tác quản lí hoạt động giáo dục đạo đức học sinh củaHiệu trưởng
*Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm trong giáo dục: Tổng kết lại các nghiên
cứu, điều tra khảo sát, số liệu thống kê về quản lý hoạt động GDĐĐ tại các trườngTHPT huyện Ba Vì
7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học
Bằng việc sử dụng phương pháp thống kê toán học, một số phần mềm tin học;các phương pháp này nhằm xử lý các số liệu đã điều tra và ý kiến chuyên gia trongluận văn
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục., luận văngồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
THPT
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại
trường THPT Bất Bạt, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của
trường THPT Bất Bạt, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNGGIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đạo đức xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử loài người Nó là một hình thái
ý thức xã hội Nó được phát triển song hành cùng với xã hội đồng thời nó giúp xã hộiloài người tiến cao hơn Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐcủa nhiều tác giả trong và ngoài nước từ nhiều góc độ khác nhau
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Ở phương Đông thời cổ đại, Khổng tử (551- 479 TCN) nhà tư tưởng, nhàchính trị, nhà giáo dục nổi tiếng của Trung Quốc, đã đặc biệt quan tâm tới vấn đề đạođức và giáo dục đạo đức cho con người Tư tưởng về đạo đức, giáo dục đạo đức củaông thể hiện rõ trong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” Ông xâydựng học thuyết “Nhân- Lễ- Chính danh”, trong đó, “Nhân”- Lòng thương người - làyếu tố hạt nhân, là yếu tố cơ bản nhất của con người Đứng trên lập trường coi trọngGDĐĐ, Ông có câu nổi tiếng truyền lại đến ngày nay “Tiên học lễ, hậu học văn”.[10]
Ở phương Tây thời cổ đại, các nhà triết học: Socrat, một triết gia Hylạp 300-TCN), đã cho rằng đạo đức và sử hiểu biết quy định lẫn nhau Có được đạo đức
(470-là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức;Aristoste (384-322-TCN) cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế áp đặt để cóngười công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất, pháttriển những quyền lợi chính trị, khoa học mới tạo nên được con người hoàn thiệntrong quan hệ đạo đức [1, tr.102]
Trong xã hội cận đại, J.A Comenxki (1592-1670) nhà sư phạm lỗi lạc, nhàgiáo dục nổi tiếng phương Tây thế kỷ XVII ông đã có nhiều đóng góp cho công tácGDĐĐ qua tác phẩm: “Khoa sư phạm vĩ đại” Ông đã đề ra nhiều biện pháp cụ thểtrong việc giáo dục làm cơ sở cho nền giáo dục hiện đại sau này Ông nhấn mạnh việctôn trọng con người phải bắt đầu từ sự tôn trọng trẻ em Những trẻ em ý thức kém vềhọc tập và hạnh kiểm giống như những trái chín muộn Chính vì vậy, nhà giáo phải cóthái độ trân trọng, kiên nhẫn thì mới có thể xoá bỏ những thói xấu ở học sinh và khơidậy tiềm năng của các em
Trang 17Theo quan niệm của học thuyết Mác - Lênin: đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh
và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Nếu tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũngthay đổi theo Do vậy, đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc [8,tr.56]
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức và quản lý GDĐĐ cho học sinh, sinh viên
ở Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu, chúng tacũng biết rằng đạo đức là phẩm chất quan trọng nhất của nhân cách Vì vậy việc giáodục đạo đức cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ của các cấp chính quyền, các nhà giáo dục vàcủa toàn xã hội Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ của nhiềutác giả trong nước từ nhiều góc độ khác nhau
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến đạo đức và GDĐĐ chocán bộ, HS Khi còn sinh thời, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có tài mà không
có đức thì là người vô dụng” Từ quan điểm đó Người coi trọng mục tiêu, nội dunggiáo dục đạo đức trong các nhà trường như: “Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”, “Khiêmtốn, thật thà dũng cảm” Bác cho rằng đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng củangười cách mạng Bác còn căn dặn Đảng ta phải chăm lo GDĐĐ cách mạng cho đoànviên và thanh niên, HS thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng’’ vừa
“chuyên” [23]
Kế thừa tư tưởng của Người, viện khoa học giáo dục Việt Nam, Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội đã có nhiều đóng góp quan trọng vào lĩnh vực này, với các tác giả:
Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia…và nhiều tácgiả khác Để tìm ra các giải pháp về GDĐĐ các tác giả đã tìm những cách tiếp cậnkhác nhau tạo nên sự phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu
Tác giả Hà Thế Ngữ [33] đã nghiên cứu về vấn đề tổ chức quá trình GDĐĐthông qua giảng dạy các môn khoa học đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhânvăn, giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức cách mạng,hướng dẫn các hành vi đạo đức cho học sinh
Nhà Tâm lý học Phạm Minh Hạc [20] đã nghiên cứu đạo đức trong cấu trúcnhân cách, thực hiện giáo dục trong phát triển nhân cách Công trình nghiên cứu củaông và các cộng sự về phát triển toàn diện con người Việt Nam trong
Trang 18thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) đã dành một chương cho vấn
đề đạo đức, GDĐĐ, các giải pháp nâng cao hiệu quả GDĐĐ trong giai đoạn hiện naynhằm tìm ra các giải pháp về GDĐĐ các tác giả đã tìm những cách tiếp cận khácnhau tạo nên sự phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu giáo dục đạo đứctrong các công trình nghiên cứu của mình
Tác giả Hà Nhật Thăng [39] đã đề cập đến những vấn đề chung như phươngpháp luận của GDĐĐ, xây dựng các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Namtrong thời kỳ CNH – HĐH, các giải pháp nâng cao hiệu quả GDĐĐ trong giai đoạnhiện nay
Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa nhận thức khoa họcvới GDĐĐ, những biểu hiện nhân cách trong lối sống hiện đại Đặc biệt những nămgần đây nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội đã hết sức nhức nhối trướcnhững hiện tượng suy thoái đạo đức của một số thanh niên đã có những bài viết đángquan tâm
Một số tác giả khác đã nghiên cứu về giáo dục đạo đức và các thành quảnghiên cứu được thể hiện tại các sách, bài báo khoa học, luận án tiến sĩ và luận vănthạc sĩ Cụ thể:
Tác giả Phan Huy Lê đã nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề cơ bảncủa lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội; mối quan hệ giữa lối sống, đạo đức vớiphát triển văn hóa và con người; sự tác động của những nhân tố chính trị, kinh tế, xãhội tới lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội truyền thống và cách mạng; những kinhnghiệm và bài học về xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội và một sốnước; thực trạng phương hướng, quan điểm và giải pháp xây dựng lối sống, đạo đức,chuẩn giá trị xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước [31]
Để nâng cao chất lượng đạo đức trong thời kỳ đổi mới đã có một số nhà khoahọc nghiên cứu về quản lý công tác GDĐĐ Tuy còn ít ỏi nhưng có thể kể đến:
Tác giả Trần Đăng Sinh quan tâm đến mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức,giữa giáo dục pháp luật với GDĐĐ, mục tiêu giáo dục, điều kiện thuận lợi khó khăn,yêu cầu xã hội đối với GDĐĐ, ý nghĩa của việc kết hợp GDĐĐ và giáo dục pháp luậtcho sinh viên trong việc làm tăng hiệu quả giáo dục, nâng cao ý thức đạo đức và ýthức pháp luật.[37]
Tác giả Lê Văn Hồng trên cơ sở tiếp cận việc GDĐĐ cho học sinh THPT,
Trang 19từ góc độ nhà quản lý đã đưa ra 6 giải pháp để nâng cao chất lượng GDĐĐ cho họcsinh Tuy nhiên tác giả chưa nêu được điểm nhấn, điểm thúc đẩy quá trình quản lýGDĐĐ cho học sinh.[24]
Tác giả Đặng Vũ Hoạt – Hà Thị Đức đã quan tâm đến thực trạng đạo đức họcsinh THPT Từ đó tác giả đưa ra 10 kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lượngGDĐĐ cho học sinh đồng thời đưa ra những yêu cầu của các nhà quản lý GD phảinâng cao tinh thần trách nhiệm, tổ chức đa dạng hoạt động thu hút học sinh vào việcrèn luyện đạo đức [22]
Tác giả Phan Huy Lê lại đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà trường, giađình và xã hội Từ đó đưa ra 6 giải pháp phối hợp các lực lượng xã hội nhằm nângcao chất lượng GDĐĐ cho học sinh THPT [32]
Trong công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội của nước nhà, do nhận thức đượctầm quan trọng đặc biệt của nhân tố con người, cho nên đã có nhiều nghiên cứu đi sâuvào nghiên cứu GDĐĐ, đặc biệt là GDĐĐ cho học sinh phổ thông thể hiện tại nhữngluận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề giáo dục đạo đức, quản lý vấn đề giáo dục đạođức ở tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông của một số tác giả như:
Lê Ngọc Tiến với đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Tây Hồ, thành phố Hà Nội”
Trần Thị Thu Huyền với đề tài: “Quản lý giáo dục đạo đức ở trường THPT Tô Hiệu thành phố Hưng Yên hiện nay”.
Ngoài ra, còn có nhiều đề tài khác đi sâu và nghiên cứu GDĐĐ và quản lýhoạt động GDĐĐ cho học sinh, sinh viên ở các trường Trung học phổ thông, trườngĐại học, Cao đẳng, Trung cấp, Nhưng đề tài nghiên cứu về vấn đề này tại trườngTHPT Bất Bạt chưa có Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi việc nghiên cứu các biệnpháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh Trung học phổ thôngvẫn còn bỏ ngỏ Vì vậy nghiên cứu cơ sở lý luận về GDĐĐ và quản lý hoạt độngGDĐĐ cho học sinh trong các trường trung học phổ thông; Tìm hiểu thực trạng quản
lý GDĐĐ cho học sinh tại các trường THPT Bất Bạt trên địa bàn huyện Ba Vì, thànhphố Hà Nội từ đó tìm ra những biện pháp quản lý phù hợp, có tính khả thi nhằm nângcao hiệu quả GDĐĐ cho học sinh các trường THPT Bất Bạt là rất cần thiết
Trang 201.2 Một số vấn đề cơ bản về quản lý và quản lý hoạt động GDĐĐ
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Thuật ngữ “quản lí” (Tiếng Việt gốc Hán) bao gồm hai quá trình tích hợp vàonhau Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định” Quátrình “lí” bao gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ vào thế “phát triển”
Theo Đại Từ điển tiếng Việt: “Quản lí là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vi, một tổ chức”[ 41 - tr.1363]
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, “Quản lý là một quá trình địnhhướng, quá trình có mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng tháimới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”
Theo tác giả Nguyễn Văn Lê quản lý là một công việc vừa mang tính khoa họcvừa mang tính nghệ thuật Ông viết “Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học vànghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạthiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra” [ 32]
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là nhằm phù hợp nỗ lực của nhiều người,sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” ” [ 29]
Theo C.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa laođộng, nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông quahoạt động của con người và thông qua quản lý C.Mác đã khẳng định “tất cả lao động
xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ítnhiều nó cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động của toàn bộ cơchế sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dànnhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [9]
Khái niệm quản lý phản ánh một dạng lao động trí tuệ của con người có chứcnăng bảo đảm và khuyến khích những nỗ lực của những người khác để thực hiệnthành công công việc nhất định Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt độngcủa những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức Quan niệm hiện đại về quản
lý thừa nhận đó là toàn bộ các hoạt động huy động, tổ chức, thực thi các nguồn lựcvật chất và tinh thần, sử dụng chúng nhằm tác động và gây ảnh hưởng tích cực đếnnhững người khác để đạt được những mục tiêu của tổ chức hay cộng đồng
Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm:
Trang 21Quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lýlên khách thể và các đối tượng quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng,các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môitrường.
1.2.1.2 Bản chất quản lý
Bản chất quản lý đó chính là các hoạt động của chủ thể quản lý tác động lêncác đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu đã xác định
1.2.1.3 Chức năng quản lý
Quản lý gồm 4 chức năng cơ bản: Dự báo và lập kế hoạch; tổ chức thực hiện
kế hoạch; lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá
Tổ chức là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những conngười, những hoạt động thành một hệ thống toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tácđộng với nhau một cách hợp lý
Chỉ đạo là chỉ dẫn, động viên, điều chỉnh và phối hợp các lực lượng để thựchiện kế hoạch đã đề ra
Kiểm tra là chức năng dùng để kiểm tra: trạng thái của hệ thống; kết quả thựchiện kế hoạch; phát hiện sai sót để kịp thời uốn nắn, sửa chữa
AT (thông tin) được coi là sợi dây, là huyết mạch liên kết với cả 4 chức năng
quản lý
Trang 221.2.2 Giáo dục đạo đức
1.2.2.1 Đạo đức
Đạo đức là một phạm trù được rất nhiều lĩnh vực khoa học nghiên cứu như:triết học, đạo đức học, giáo dục học, xã hội học, tâm lý học, giá trị học… mỗi lĩnhvực có một cách tiếp cận riêng và kết quả đã tạo ra một hệ thống rất phong phú vàsâu sắc
Bàn về đạo đức đã có nhiều định nghĩa từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiênchúng ta có ba cách hiểu đạo đức như sau:
Dưới góc độ Triết học, đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý
thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của conngười trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Căn cứ vào những quy tắc ấy,người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện ác,chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự [2]
Dưới góc độ Đạo đức học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao
gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực
xã hội [13]
Dưới góc độ Giáo dục học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao
gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của con ngườivới con người [26]
Như trên đã trình bày, có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức Tuy nhiên ta
có thể hiểu khái niệm này dưới hai góc độ:
Một là góc độ xã hội: ĐĐ là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản ánh
dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh hoặc chi phối hành vicủa con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự mhiên, giữa con ngườivới xã hội và với chính bản thân mình
Hai là góc độ cá nhân: ĐĐ chính là những phẩm chất, nhân cách của con
người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họtrong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ vớingười khác và với chính bản thân mình
Về bản chất, đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực xã hội, nó được hìnhthành, tồn tại và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thựchiện Đạo đức chính là văn hóa trong cuộc sống, là biểu hiện của trình độ nhận
Trang 23thức của cá nhân và trình độ dân trí xã hội.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế, khái niệm đạođức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới Tuy nhiên, không có nghĩa là cácgiá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới Theo quanđiểm của Đảng và Nhà nước ta, các giá trị đạo đức hiện nay là sự kết hợp sâu sắctruyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ của thời đại, của nhânloại Đó là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắn liềnvới chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có tinh thần nhânđạo và tinh thần quốc tế cao cả
Như vậy, từ các quan niệm trên ta có thể hiểu: "Đạo đức là một hình thái ýthức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quytắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xãhội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích,hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con ngườivới con người, giữa cá nhân với xã hội" [30]
1.2.2.2 Giáo dục đạo đức
“Giáo dục đạo đức là những tác động sư phạm một cách có mục đích, có hệ
thống và có kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo dục (học sinh) để bồi dưỡng cho họ những phẩm chất đạo đức (chuẩn mực, hành vi đạo đức) phù hợp với
yêu cầu của xã hội” [26]
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức “Giáo dục đạo đức là quá trìnhbiến các chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhânthành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen củangười được giáo dục” [22]
Giáo dục đạo đức là quá trình hai mặt, mặt tác động của nhà sư phạm và mặttiếp nhận tích cực của người được giáo dục, đó là sự chuyển hoá những nhu cầu của
xã hội thành những phẩm chất bên trong của cá nhân Giáo dục đạo đức được thựchiện trong gia đình, nhà trường và trong môi trường xã hội, với những hình thức đadạng và những phương pháp phong phú, trong đó giáo dục trong nhà trường có một
vị trí đặc biệt quan trọng
Bản chất giáo dục đạo đức là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáo dục
và yếu tố tự giáo dục của học sinh, giúp học sinh nhận thức đúng, tạo lập tình cảm
Trang 24và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phùhợp với chuẩn mực xã hội Trong cuộc sống, trong hoạt động, thông qua giao lưunhân cách con người mới được hình thành và phát triển.
Ngày nay, giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục đạo đức xã hội chủnghĩa Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh
có tinh thần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập,
có ý thức tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọngpháp luật
1.2.3 Hoạt động giáo dục đạo đức
Hoạt động giáo dục đạo đức là hình thành cho con người những quan điểm cơbản nhất, những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội Nhờ đó, con người
có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội cũng như tựđánh giá suy nghĩ về hành vi của bản thân mình Vì thế, công tác giáo dục đạo đứcgóp phần vào việc hình thành phát triển nhân các phù hợp với từng giai đoạn pháttriển “Giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến người học để hình thành cho họ ýthức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất là lập được nhữngthói quen hành vi đạo đức”
Quá trình giáo dục đạo đức là một hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kếhoạch nhằm biến những chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hộivới cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thóiquen của người được giáo dục
Quá trình giáo dục đạo đức giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trịđạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người,
vì gia đình, vì sự tiến bộ và sự phồn vinh của đất nước Trong đó mục tiêu quan trọngnhất của GDĐĐ là hình thành được những thói quen hành vi đạo đức
Theo tác giả thì có thể hiểu hoạt động GDĐĐ một cách cụ thể như Đặng Vũ
Hoạt thì hoạt động GDĐĐ cho học sinh “là hoạt động thực tiễn của học sinh cả về khoa học – kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí v…v để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường )”[21]
Trang 251.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Từ khái niệm quản lý và khái niệm GDĐĐ đã nêu trên đây, quản lý hoạt độngGDĐĐ là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưahoạt động GDĐĐ đạt tới mục tiêu mong muốn một cách hiệu quả nhất
Về bản chất, quản lý hoạt động GDĐĐ là quá trình tác động có định hướngcủa chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào các quá trình GDĐĐ nhằm thựchiện có hiệu quả mục tiêu GDĐĐ bằng việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kếhoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đó để nhữngyêu cầu, mục tiêu, nội dung GDĐĐ theo các chuẩn mực đạo đức mà xã hội đặt ra vớithế hệ trẻ phù hợp với lứa tuổi học, cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân trởthành hiện thực
Như vậy, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là hoạt động điều hành việc giáodục đạo đức để đạo đức vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của nền giáo dục
1.3 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đứcMục tiêu của giáo dục đạo đức là chuyển hoá những nguyên tắc, chuẩn mựcđạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức nhân cách cho học sinh, hình thành ởhọc sinh thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực của
xã hội, thói quen chấp hành các quy định của pháp luật
- Về nhận thức: Cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về các phẩmchất đạo đức và chuẩn mực đạo đức Giúp học sinh có nhận thức đúng đắn về bảnchất, nội dung các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời kỳ mới phùhợp với yêu cầu phát triển của xã hội Trên cơ sở đó giúp các em hình thành niềm tinđạo đức
- Về thái độ tình cảm: Giúp học sinh có thái độ đúng đắn với các quy phạmđạo đức, có tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ cha anh vì độc lập tự
do của Tổ quốc Khơi dậy ở học sinh những rung động, những cảm xúc với hiện thựcxung quanh Để các em có thái độ rõ ràng đối với các hiện tượng đạo đức, phi đạođức trong xã hội và có thái độ đúng đắn về hành vi đạo đức của bản thân
- Về hành vi: Có các hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo đức Có quan hệ
xã hội lành mạnh, trong sáng, tích cực
Trang 261.3.2 Nhiệm vụ của hoạt động GDĐĐ cho học sinh trong các trường THPT Hiến
pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 35, năm 1992)
nêu rõ: Giáo dục là quốc sách hàng đầu, Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện [35]; điều này cũng thấy vai trò và vị trí của giáo
dục đạo đức trong giáo dục
GDĐĐ trong nhà trường phổ thông có nhiệm vụ cơ bản sau:
- Giáo dục tình cảm niềm tin đạo đức.
Qua quá trình giáo dục khơi dậy ở người học những rung động, xúc cảm trướchiện thực xung quanh, biết yêu ghét rõ ràng, biết đồng cảm, chia sẻ với người khác và
có niềm tin vào đạo lý, vào những điều tốt đẹp của cuộc sống từ đó có thái độ ứng xửđúng đắn trước các diễn biến phức tạp của đời sống xã hội
-Giáo dục hành vi thói quen đạo đức.
Là quá trình tổ chức rèn luyện đạo đức trong học tập, trong sinh hoạt, trongcuộc sống nhằm tạo thói quen, tạo lập được hành vi đạo đức đúng đắn, trở thànhphẩm chất của nhân cách, trở thành thói quen nhân cách bền vững
1.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
Nội dung GDĐĐ là những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp của dântộc những giá trị đạo đức cần thiết của con người Việt Nam trong thời kỳ CNH -HĐH đất nước Trên cơ sở kế thừa những chuẩn mực đạo đức truyền thống, kết hợpvới lý luận chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung GDĐĐ baogồm những vấn đề sau:
Giáo dục ý thức chính trị: là ý thức về quyền lợi giai cấp, sự tồn vong và giàu
mạnh của đất nước về vai trò của đất nước trong quan hệ với các quốc gia trên thếgiới Nó bao hàm ý thức về chủ quyền dân tốc, về tồn tại và toàn vẹn lãnh thổ, về sựgiàu mạnh của đất nước, về đường lối lãnh đạo và chiến lược phát triển đất nước củaĐảng và Chính phủ, sự tuân thủ chính sách đối nội và đối ngoại của quốc
Trang 27gia, về thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ trong cuộc sống, học tập, lao động, nghĩa vụquân sự,
Giáo dục ý thức pháp luật: thể hiện ở việc tham gia xây dựng các bộ luật, thực
hiện nghiêm chỉnh các quy định của luật pháp, đấu tranh để pháp luật được thực hiệncông minh, quyền được bảo hộ của luật pháp
Giáo dục ý thức đạo đức: thể hiện ở sự nhận thức và thực hiện các quy tắc,
chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được
cả xã hội thừa nhận về thiện, ác, lẽ phải, công bằng, văn minh, lương tâm, tráchnhiệm, mục đích cuộc sống, nếp sống, lối sống, trong gia đình, trong tập thể, trongcộng đồng và xã hội,
Phát triển ý thức đạo đức: trang bị cho học sinh những hiểu biết, niềm tin về
các chuẩn mực, các quy tắc đạo đức như giáo dục ý thức sống; giáo dục lối sống cánhân; giáo dục ý thức về các mối quan hệ trong gia đình, trong tập thể và ngoài xãhội; giáo dục ý thức về cuộc sống lao động sáng tạo; giáo dục về nghĩa vụ lao động
và bảo vệ tổ quốc
Bồi dưỡng tình cảm đạo đức: hình thành và phát triển những xúc cảm, tình
cảm đạo đức trong sáng; xây dựng niềm tin đạo đức dựa trên cơ sở kết hợp hài hoàgiữa nhận thức và tình cảm đạo đức đã đạt được Từ đó hình thành nhu cầu, động cơ,tình cảm phù hợp với đòi hỏi của xã hội
Giáo dục hành vi đạo đức: trang bị cho học sinh những nhu cầu nhận thức đạo
đức và văn hoá đạo đức để họ có các hành vi phù hợp với các chuẩn mực của xã hội
Trong nhà trường THPT Việt Nam hiện nay: Nội dung GDĐĐ trên còn được cụthể hóa, đó là giáo dục học sinh thấm nhuần thế giới quan Mác- Lênin, tư tưởng đạođức cách mạng Hồ Chí Minh, tình yêu quê hương đất nước, con người, lòng nhân ái,tình yêu lao động…
1.3.4 Con đường của hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
Giáo dục đạo đức là con đường để hình thành nhân cách thế hệ trẻ theo mụcđích xã hội, quá trình này được thực hiện bằng các hình thức sau đây:
1.3.3.1 Nội dung giáo dục đạo đức thông qua các môn học
Nội dung giáo dục đạo đức thông qua môn Giáo dục công dân và được tíchhợp từ các môn học trong chương trình học của học sinh đảm bảo các nội dung:
Trang 28- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với xã hội như: Giáo dục lòngyêu hương đất nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc; Giáodục niềm tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc; Giáo dục lòng tôn trọng, giữgìn các di sản văn hóa của dân tộc, có thái độ tiến bộ đối với các giá trị truyền thống
và tinh thần quốc tế vô sản; Biết ơn các vị tiền liệt có công dựng nước và giữ nước,giáo dục lòng tin yêu Đảng Cộng Sản Việt Nam và kính yêu Bác Hồ
- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với lao động: Giáo dục học sinh
có thái độ đúng đắn đối với lao động, biết yêu thích lao động, chăm chỉ học tập, say
mê khoa học, biết quý trọng người lao động dù lao động chân tay hay lao động trí óc
- Giáo dục quan hệ cá nhân học sinh đối với tài sản xã hội, di sản văn hóa vàthiên nhiên: Giáo dục yêu cầu bản thân các em phải có ý thức giữ gìn, tiết kiệm, bảo
vệ của công, không xâm phạm tài sản chung và của cải riêng của người khác Biếtbảo vệ môi trường tự nhiên nơi cư trú, học tập và nơi công cộng
- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với mọi người xung quanh: Giáodục các em biết kính trọng ông bà, cha mẹ, anh chị và những người lớn tuổi; Biếtkính trọng, lễ phép, lòng biết ơn đối với thầy cô giáo; Đối với em nhỏ phải có sự cảmthông, nhường nhịn, giúp đỡ, vị tha; Giáo dục tình bạn chân thành, tình yêu chânchính, dựa trên sự cảm thông, hết sức tôn trọng và có cùng mục đích lý tưởng chung
Có tinh thần khiêm tốn, luôn lắng nghe và biết học hỏi Giáo dục tính thông cảm,đoàn kết tương trợ, tôn trọng lợi ích và ý chí tập thể
- Giáo dục quan hệ cá nhân đối với bản thân: Phải luôn tự nghiêm khắc đốivới bản thân mình khi có sự sai phạm; bản thân có đức tính khiêm tốn, thật thà, cótính kỷ luật, có ý chí, có nghị lực, có tinh thần dũng cảm, lạc quan yêu đời…
- Giáo dục cho học sinh có tính nhân văn, biết cảm thụ với cái đẹp, biết bảo vệhòa bình, sống thân thiện với môi trường,…
1.3.3.2 Nội dung GDĐĐ thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp
Các hoạt động ngoài giờ lên lớp như sinh hoạt Đội thiếu niên, Đoàn thanh niên
và các hoạt động văn nghệ, văn hoá, thể thao, các buổi ngoại khoá về các hoạt động
xã hội, bảo vệ môi trường, góp phần chống các tệ nạn xã hội, các chủ đề uống
Trang 29nước nhớ nguồn, tìm hiểu truyền thống dân tộc
Giáo dục đạo đức thông qua các giờ lao động công ích và vệ sinh trường lớp,
vệ sinh các công trình công cộng Thông qua con đường này, giáo dục cho họcsinh có nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa lao độngtrí óc và lao động chân tay; qua đó giáo dục lòng yêu lao động, sự trân trọng với cácthành quả lao động của cá nhân, của cộng đồng và xã hội
Qua lao động, các em sẽ thu được những kinh nghiệm, đoàn kết giúp đỡ lẫnnhau Thói quen phục tùng những lợi ích của tập thể Đặc biệt lao động gắn liền vớihọc tập là một trong những nguyên lý giáo dục của chúng ta hiện nay
1.3.3.3 Giáo dục đạo đức bằng hình thức tự tu dưỡng, tự rèn luyện hoàn thiện mình
Đây là nhân tố quyết định trực tiếp đến trình độ đạo đức của mỗi học sinh
Sự phát triển đạo đức đòi hỏi có sự tác động bên ngoài và những động lực bên trong
Đó chính là giáo dục và tự giáo dục Tự giáo dục cũng mang yếu tố quyết định đếnviệc rèn luyện đạo đức
1.3.3.4 GDĐĐ thông qua sự gương mẫu của người thầy
Lứa tuổi này, các em đã biết nhìn nhận, đánh giá người thầy với thái độ
“Trọng thầy vì đạo đức của thầy Phục thầy vì kiến thức của thầy Quý mến thầy vì
lòng độ lượng của thầy” Các em hiểu được mặt yếu, mặt mạnh của giáo viên, biếtnhận xét đánh giá từng thầy cô và có xu hướng cảm phục những giáo viên giỏi, cóphẩm chất cao quý, luôn tự hào về các giáo viên đó Các em sẵn sàng làm theo sựhướng dẫn của họ và họ - những người thầy giáo cao quý đó thực sự là tấm gươngcho học sinh học tập và làm theo
Người thầy luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo Nhân cách củangười thầy có một ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT
1.4.1 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
Nội dung quản lý giáo dục đạo đức được xây dựng trên 4 chức năng của Quản
lý nói chung là: xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giágiáo dục đạo đức
1.4.1.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức
Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức trong năm học của ngành, trường, địa
Trang 30phương; xác định điều kiện giáo dục như cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, sựphối hợp với lực lượng giáo dục trong trường và ngoài trường để xác định mục tiêu
và các hoạt động đạt mục tiêu trong hoạt động giáo dục đạo đức Như vậy khi lập kếhoạch người quản lý cần phải chú ý:
- Đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu GDĐĐ với mục tiêu giáo dục Cần phối hợp chặt chẽ, hữu cơ với kế hoạch dạy học trên lớp
- Lựa chọn nội dung, hình thức hoạt động đa dạng, thiết thực, phù hợp với hoạt động tâm sinh lý học sinh để có hiệu quả giáo dục cao
- Thành lập được ban chỉ đạo cụ thể, để theo dõi, kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Căn cứ vào những chú ý vừa nêu trên người lãnh đạo cần phải xây dựng được
kế hoạch quản lý trong quá trình GDĐĐ nó bao gồm các loại kế hoạch sau:
-Kế hoạch hoạt động theo chủ điểm
-Kế hoạch hoạt động theo chương trình
-Kế hoạch hoạt động theo các mặt hoạt động xã hội
Nói tóm lại, các kế hoạch phải đảm bảo tính vừa phải, tính bao quát tính cụ thể
và tính khả thi
1.4.1.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức
Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh sau khi đã lập xong
kế hoạch, đó là lúc cần phải chuyển hoá những ý tưởng thành hiện thực
Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình hìnhthành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong nhà trường đểgiúp họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của nhàtrường về giáo dục đạo đức cho học sinh Vì vậy, các thành viên và các bộ phận cầnđược giải thích mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch giáo dục đạo đức; thảo luận biện phápthực hiện kế hoạch; sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động
cơ sở vật chất, kinh tế; định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện, thời gian bắt đầu, thời hạnkết thúc
1.4.1.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức
Trên cơ sở văn bản kế hoạch và công tác tổ chức đã có, thực hiện việc hướngdẫn công việc, theo dõi, giám sát, động viên và uốn nắn kịp thời các hoạt động củatừng cá nhân và mỗi bộ phận thực hiện kế hoạch GDĐĐ đã có Cụ thể, cần chỉ đạo:
Trang 31Hoạt động GDĐĐ thông qua các môn học trong nhà trường giúp cho học sinhhiểu biết về các khái niệm thuộc phạm trù đạo đức, nắm được các mức hành vi trongứng xử, trong các quan hệ, từ đó có hành động đúng.
Hoạt động GDĐĐ thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp đó là các hìnhthức hoạt động vui chơi, hoạt động xã hội - chính trị, hoạt động thể dục thể thaonhằm giáo dục cho học sinh những tri thức khoa học thực tế, những chuẩn mực đạođức, kỹ năng giao tiếp nhằm xây dựng và phát triển phẩm chất, năng lực của họcsinh
1.4.1.4 Chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức
Kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức đề cập đến phương pháp và cơ chế được
sử dụng để đảm bảo rằng các hoạt động phải được tuân thủ, phù hợp, nhất quán vớinhững kế hoạch, mục tiêu giáo dục đạo đức đã xây dựng Kiểm tra, đánh giá rút kinhnghiệm giúp ta thấy được những gì còn tồn tại, những cái mới trong cái quen thuộc,những vấn đề mà thực tế đặt ra cần được giải quyết Việc kiểm tra giúp người quản lýnắm vững tình hình, kịp thời uốn nắn những sai sót; khen thưởng và kỷ luật một cáchkhách quan; thu thập những thông tin để điều chỉnh những tác động quản lý, kiểmnghiệm các quyết định Để kiểm tra đánh giá một cách khách quan, chính xác cầnphải có chuẩn Vì vậy cần coi trọng việc xây dựng các chuẩn để kiểm tra đánh giá Từ
đó xây dựng các công cụ đánh giá phù hợp, các thủ tục quy trình đánh giá hợp lý hiệu
quả 1.4.2 Phương pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
Các phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có thể có và cóchủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý (cấp dưới và tiềm năng có đượccủa hệ thống) và khách thể quản lý (các ràng buộc của môi trường, hệ thống khác …)
để đạt được các mục tiêu quản lý đề ra Chỉ thông qua và bằng phương pháp quản lý
mà các mục tiêu, chức năng nhiệm vụ, quản lý mới đi vào cuộc sống, biến thành thựctiễn phong phú, sinh động, phục vụ lợi ích con người Người ta thường sử dụng một
số phương pháp quản lý dưới đây:
Trang 32chất bắt buộc yêu cầu các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh THPT:cán bộ quản lý sở GD&ĐG, Đoàn thể và các tổ chức chính trị xã hội, nhà trường, giađình, CBGV và HS phải thực hiện.
Phương pháp tổ chức hành chính là tối cần thiết trong công tác quản lý, nóđược xem như những biện pháp quản lý cơ bản nhất để xây dựng nề nếp, duy trì kỷluật trong ngành giáo dục, nhà trường, buộc các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức
và học sinh phải làm tốt nhiệm vụ của mình
1.4.2.2 Các phương pháp tâm lý - xã hội
Là những cách thức tác động của người quản lý tới người bị quản lý, nhằmbiến những yêu cầu của các cấp quản lý thành nghĩa vụ tự giác bên trong, thành nhucầu của người bị quản lý Phương pháp này thể hiện tính nhân văn trong hoạt độngquản lý Nhiệm vụ của phương pháp này là động viên tinh thần chủ động, tích cực, tựgiác của mọi người, đồng thời tạo ra bầu không khí cởi mở, tin cậy lẫn nhau, giúp đỡlẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ Các phương pháp tâm lý - xã hội bao gồm các phươngpháp: Giáo dục, Thuyết phục, Động viên, Tạo dư luận xã hội, Giao công việc yêu cầucao …
Nhóm phương pháp này thể hiện tính dân chủ trong hoạt động quản lý củangười lãnh đạo Ưu điểm của phương pháp này là phát huy quyền làm chủ tập thể vàmọi tiềm năng của mỗi thành viên trong tổ chức, nói chung là phát huy được nội lựccủa cá nhân và tập thể Vận dụng thành công phương pháp này sẽ mang lại hiệu quảcao trong hoạt động của tổ chức và hoạt động GDĐĐ cho học sinh Tuy nhiên, hiệuquả của phương pháp này phụ thuộc lớn vào nghệ thuật của người quản lý
1.4.2.3 Các phương pháp kinh tế
Là sự tác động một cách gián tiếp của người bị quản lý bằng cơ chế kích thíchlao động qua lợi ích vật chất để họ tích cực tham gia công việc chung và thực hiện tốtnhiệm vụ được giao Thực chất của phương pháp kinh tế là dựa trên sự kết hợp giữaviệc thực hiện trách nhiệm nghĩa vụ của các lực lượng thực hiện giáo dục đạo đức chohọc sinh THPT với những kích thích có tính đòn bẩy Kích thích việc hoàn thànhnhiệm vụ bằng lợi ích kinh tế có ý nghĩa to lớn đối với tính tích cực của các lực lượnggiáo dục trong và ngoài nhà trường Tạo động cơ mạnh cho hoạt động, mang lại lợiích thiết thực và phát huy tính sáng tạo, nâng cao tính tự giác độc lập của mỗi tập thể,
cá nhân trong công việc Bản thân việc kích thích vật chất cũng
Trang 33đã chứa đựng sự cổ vũ về tinh thần Đó là sự thừa nhận của tập thể đối với kết quả laođộng, phẩm chất, năng lực của mỗi người Bằng nguồn kinh phí của nhà trường xâydựng cơ chế thưởng phạt trong quản lý nói chung và quản lý hoạt động GDĐĐ nóiriêng, khen thưởng xứng đáng cho những tập thể, cán bộ giáo viên có thành tích tronghoạt động GDĐĐ cho HS, đồng thời khiển trách phê bình, cắt thi đua đối với tập thể,những cán bộ giáo viên thiếu trách nhiệm trong GDĐĐ học sinh (nhất là GVCN).
Phương pháp kinh tế thường được kết hợp với phương pháp hành chính – tổchức Hai phương pháp này luôn bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau Ngày nay, trong bốicảnh cơ chế thị trường, việc vận dụng phương pháp kinh tế phải thận trọng để mộtmặt khuyến khích tính tích cực lao động của cán bộ giáo viên, mặt khác vẫn đảm bảo
uy tín sư phạm của giáo viên và tập thể nhà trường
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tạibậc THPT
1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT
Học sinh THPT có độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi, là giai đoạn đầu của lứa tuổi trưởngthành, thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể, trí lực và tình cảm Đây cũng
là thời kì các em tự xác định về mặt xã hội, tích cực tham gia vào cuộc sống động,học tập để chuẩn bị cho tương lai của mình Nói một cách khác đây là thời kì nhâncách của các em đang phát triển hướng tới ổn định
Trước hết về mặt thể chất, sinh lí: Có thể nói đây là giai đoạn mà các em
Học sinh THPT phát triển khá nhanh về thể chất trong cuộc đời của mỗi con người
Do điều kiện đời sống ngày càng được nâng cao nên học sinh THPT hiện nay pháttriển nhanh các tố chất thể lực như cân nặng, chiều cao, cơ bắp, sức bền, sự dẻo daihơn so với thế hệ trước cùng tuổi Mặt khác ở thời kì này hệ thần kinh trong bảnthân mỗi con người các em có thay đổi quan trọng (như não có cấu trúc phức tạphơn cùng với sự phát triển các chức năng của não) Điều này tạo tiền đề cho sự phứctạp hóa phân tích tổng hợp của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học tập và hoạtđộng Vì thế lứa tuổi này là giai đoạn con người có những điều kiện tâm lí, thể chấtthuận lợi cho các hoạt động học tập, văn nghệ, thể thao
Một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh THPT và có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển tâm lí của các em, đó là có sự phát triển tự ý
Trang 34thức Biểu hiện đặc trưng là nhận thức được những đặc điểm và phẩm chất của mìnhtrong xã hội, trong cộng đồng Ở mức cao hơn, đó là khả năng tự đánh giá bản thântheo những chuẩn mực của xã hội trên bình diện thể chất, tâm lí, đạo đức Nhìnchung, học sinh có nhu cầu tìm hiểu, đánh giá những đặc điểm tâm lí của mình dựatrên mục đích cuộc sống và ước mơ của bản thân Chính điều này khiến các em quantâm sâu sắc tới đời sống tâm lí, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng của bản thân.
Sự tự ý thức của học sinh THPT xuất phát từ yêu cầu cuộc sống và hoạt động, từ vị trímới mẻ trong tập thể, từ những mối quan hệ mới với thế giới xung quanh Tất cảnhững điều đó làm các em ý thức được những đặc điểm nhân cách của bản thân mình.học sinh THPT không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhậnthức về vị trí của mình trong xã hội trong tương lai Các em đã có thể hiểu rõ nhữngphẩm chất phức tạp, biểu hiện những mối quan hệ nhiều mặt của nhân cách và biếtđánh giá nhân cách bản thân trong toàn bộ những thuộc tính nhân cách Các em cókhả năng đánh giá sâu sắc những phẩm chất, những mặt mạnh, mặt yếu của nhữngngười cùng chung sống, cùng hoạt động và của chính bản thân Tuy nhiên sự đánh giácủa học sinh ở lứa tuổi này chưa thật phù hợp Các em thường có xu hướng cườngđiệu khi tự cao (đánh giá bản thân cao hơn so với thực tế) Vì vậy trong nhà trường,các thầy cô giáo cần giúp đỡ các em trong quá trình đánh giá Bên cạnh đó việc giúpcác em phát triển khả năng nhận thức, phát triển những năng lực trí tuệ là một nhiệm
vụ quan trọng của nhà trường THPT Ngoài những đặc điểm về nhận thức đã nêu, lứatuổi học sinh THPT còn có khả năng hiểu biết sâu rộng Nhất là trong giai đoạn hiệnnay, nhờ sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kĩ thuật, nhờ xu thế hội nhập của đấtnước, nhờ các phương tiện thông tin đại chúng phong phú và sự phát triển tốt về thểchất mà học sinh có điều kiện hiểu sâu, rộng các vấn đề tự nhiên, xã hội và có khảnăng tư duy hơn thế hệ trước Các em thích khám phá thế giới xung quanh và họcđược nhiều điều ngoài tri thức nhà trường cung cấp
Xuất phát từ vị thế của người học sinh trong nhà trường, xuất phát từ vị thế nhấtđịnh trong gia đình, trong xã hội ngày càng được tăng cường mà tính tích cực xã hộicủa các em có những sắc thái mới so với lứa tuổi trước đó Tính tích cực này được thểhiện ở các góc độ khác nhau: Các em quan tâm nhiều hơn đến tình hình kinh tế chínhtrị xã hội trong nước và quốc tế Giữa các em thường có sự trao đổi với nhau,
Trang 35có sự đánh giá nhận định và tỏ thái độ của bản thân mình trước các vấn đề đó Các
em còn sẵn sàng tham gia vào các hoạt động xã hội phù hợp với hứng thú, sở trườngcủa bản thân (như hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, từ thiện, phòng chống matúy, phòng chống HIV/AIDS ) Phần đông các em thích tham gia vào những côngviệc lớn lao, muốn thử sức ở những công việc có nhiều khó khăn Điều này liên quanđến khả năng tự đánh giá của các em Nhà trường, gia đình nên quan tâm nhiều đếnvấn đề này để giúp các em lựa chọn những công việc phù hợp với bản thân, vượt quanhững khó khăn để đạt được những mục tiêu mà các em đặt ra
Học sinh THPT năng động, sáng tạo, dễ thích ứng và có nhu cầu tự khẳng địnhmình Tính năng động, sáng tạo của các em được thể hiện trong suy nghĩ, qua hànhđộng, đòi hỏi sự tôn trọng nhân cách và tạo điều kiện cho các em được tự khẳng địnhmình Chính vì thế các thầy cô giáo trong nhà trường cần biết khuyến khích nhữngviệc làm đúng, kích thích tính năng động, sáng tạo ở các em, tránh lí thuyết suông, ápđặt, giám sát quá chặt, phải tế nhị, khéo léo giúp các em định hướng đúng hành độngcủa mình
Để công tác GDĐĐ tại các trường THPT đạt được hiệu quả cao, các nhà quản
lý giáo dục cần nắm được đặc điểm tâm lý lứa tuổi trên, phân tích được nguyên nhân
và tìm ra các giải pháp phù hợp
1.5.2 Bối cảnh xã hội và phong tục tập quán địa phương
Thế giới hiện đại với những thành tựu to lớn của nền văn minh tin học đã vàđang đứng trước những cơ hội phát triển chưa từng có, đồng thời cũng đang phải đốimặt với những thách thức to lớn mang tính toàn cầu với các nguy cơ chiến tranh,khủng bố, bạo lực, phân hóa giầu nghèo Giáo dục(GD) với chức năng xã hội to lớncủa mình đã đưa đến cho mọi người đặc biệt là thế hệ trẻ ở tất cả các quốc gia, cácdân tộc những giá trị chung của nhân loại: hòa bình, hợp tác, bình đẳng, hiểu biết vàtôn trọng lẫn nhau GDĐĐ góp phần thức tỉnh những bản chất tốt đẹp của con người,đẩy lùi sự đố kị, thúc đẩy sự hướng thiện và hòa đồng, tinh thần hợp tác, khoan dung,thân thiện, nhân ái Trong xã hội hiện tại cũng như trong tương lai, con người cần cókhả năng sống với nhau, học với nhau, làm việc với nhau và sử dụng những nguồnlực môi trường một cách khôn ngoan
Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻthường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn
Trang 36được đặt vài hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khókhăn thách thức, những áp lực tiêu cực Nếu không được GDĐĐ, các em dễ bị lôi kéovào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị pháttriển lệch lạc về nhân cách Các hiện tượng tiêu cực của một bộ phận học sinh phổthông trong thời gian qua, như : bạo lực học đường, đua xe máy, nghiện hút, mộtphần là do các em thiếu ý thức đạo đức Nếu tổ chức quản lí GDĐĐ một cách khoahọc, hợp lí chính là giúp các em có hành trang tự khẳng định, vững vàng tự tin trước
sự lựa chọn giữa cái tốt và cái xấu, giữa tích cực và tiêu cực, giữa cái nên cần làm vàcái cần tránh; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống củacuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tíchcực, chủ động, an toàn, hài hòa lành mạnh
Kinh tế địa phương trong đó có gia đình học sinh đã góp phần xây dựng cảnhquan sư phạm, tạo một lực lượng giáo dục hùng hậu quyết định một phần không nhỏvào công tác giáo dục GDĐĐ cho học sinh Nói tổng quát hơn, nếu quan hệ sản xuấtlành mạnh, lực lượng sản xuất giàu tiềm năng, các nghề phát triển tạo môi trườngđịnh hướng nghề nghiệp tốt, giúp học sinh tránh xa được các tệ nạn xã hội Mặt khác,
sự tăng trưởng kinh tế quyết định mức sống, thu nhập của mỗi gia đình Mức sốngnâng cao, các gia đình mới có điều kiện nuôi con em ăn học, dành nhiều thời gian,nhiều điều kiện chăm lo tới việc học tập, tu dưỡng đạo đức của con em mình
Tuy nhiên trong cơ chế thị trường, với nền kinh tế tăng trưởng nhanh, xu thếhội nhập đã đem lại sự phát triển nhanh về mọi mặt song mặt trái của nó cũng tácđộng không nhỏ cho việc GDĐĐ đến học sinh
Các phong trào văn hoá xã hội ở địa phương sẽ lôi cuốn gia đình, nhà trường
và đặc biệt là các em tham gia các phong trào xây dựng “Gia đình văn hoá” “Giữ gìntrật tự trị an” “Bảo vệ môi trường” “Phòng chống tệ nạn”, kỷ niệm các ngày lễ lớn làđiều kiện để GDĐĐ cho học sinh tốt nhất Ngoài ra các truyền thống văn hoá địaphương là một môi trường để các em được giáo dục về “cội nguồn”, lòng tự hào dântộc, về tình yêu quê hương đất nước, giữ gìn bản sắc dân tộc Nếp sống văn minh, cácphong tục dòng họ, lễ hội, các phong trào đền ơn đáp nghĩa được địa phương tổ chứctốt sẽ là một điều kiện để các em tham gia rèn luyện Qua đó tính nhân văn sẽ ngấmvào bản chất đạo đức của các em Tổ chức tốt phong trào văn hoá
Trang 37tinh thần như thư viện, các loại hình câu lạc bộ, phong trào thể dục thể thao Đó chính
là môi trường để các em trưởng thành về nhân cách
Tóm lại, một xã hội có văn hoá là một xã hội mà con người ta luôn sống vì cái
đẹp, cái thiện thắng cái ác Mọi hoạt động của văn hoá kể trên sẽ giáo dục nhận thức
để hình thành ý thức đạo đức, bồi dưỡng tình cảm, hình thành và phát triển nhữngxúc cảm, tình cảm đạo đức trong sáng, cao quý thuộc về nhân tính của con người; từ
đó có giáo dục được niềm tin đạo đức, tập luyện hành vi đạo đức, trau dồi thói quentrong ứng xử của học sinh
1.5.3 Sự phối hợp các hoạt động giáo dục đạo đức
1.5.3.1 Hoạt động học tập
Học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh, nhưng vào tuổi thiếu niên, việc họctập của các em có những thay đổi cơ bản Việc học tập mang ý nghĩa trực tiếp họcsinh đã hiểu được rằng điều kiện cần thiết để tạo nên cuộc sống tương lai là vốn trithức, kỹ năng, kỹ xảo, là kỹ năng độc lập trau dồi những vốn hiểu biết, kỹ năng tựhọc mà các em thu được trong quá trình học tập
Việc học tập ở trường trung học phổ thông là một bước ngoặt quan trọng trongđời sống của trẻ Ở trường trung học phổ thông, việc học tập của các em phức tạp hơnmột cách đáng kể Các em chuyển sang nghiên cứu có hệ thống những cơ sở của cáckhoa học, các em học tập có phân môn… Mỗi môn học gồm những khái niệm, nhữngquy luật được sắp xếp thành một hệ thống tương đối sâu sắc Điều đó đòi hỏi các emphải tự giác và độc lập cao
Ở đa số thiếu niên, nội dung khái niệm “học tập” đã được mở rộng; ở nhiều
em đã có yếu tố tự học, có hứng thú bền vững đối với môn học, say mê học tập Tuynhiên, tính tò mò, ham hiểu biết nhiều có thể khiến hứng thú của thiếu niên bị phântán và không bền vững và có thể hình thành thái độ dễ dãi, không nghiêm túc đối vớicác lĩnh vực khác trong cuộc sống
1.5.3.2 Hoạt động lao động của học sinh
Hoạt động lao động có ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành nhân cách củahọc sinh Đến tuổi này, các em đã có những vai trò nhất định, được gia đình thừanhận như là một thành viên tích cực của gia đình, được cha mẹ, anh chị giao chonhững trọng trách khá nặng nề như: chăm sóc các em nhỏ, nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa,chăn nuôi gia súc,… Thậm chí khá nhiều em trở thành lao động chính,
Trang 38góp phần tăng thu nhập của gia đình, các em đã ý thức được các nhiệm vụ đó và thựchiện tích cực.
Như vậy, hoạt động lao động của các em là lao động công ích ở nhà trường,lao động sản xuất, giúp đỡ gia đình Lao động của các em không những chỉ tạo ra củacải vật chất mà còn góp phần hình thành những phẩm chất như: tinh thần tập thể, lòngyêu lao động, óc sáng tạo, tính mục đích, tính kỷ luật, tính kiên trì Khi tham gia laođộng sẽ bồi dưỡng được tình cảm tôn trọng lao động và người lao động, làm nảy nởnhững tình cảm mới: niềm vui và kết quả lao động, tự hào những cái mình đã làmđược, hài lòng với những thắng lợi sau những nỗ lực kiên trì; tình nguyện lao độnggiúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn Qua các hoạt động đó các em sẽ thuđược những kinh nghiệm đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau
1.5.3.3 Hoạt động chính trị - xã hội của học sinh
Đây là một loại hoạt động vô cùng quan trọng vì nó giúp các em nắm bắt đượcnhững kỹ năng hoạt động xã hội Từ đó, các em nâng cao nhận thức của mình, tráchnhiệm của mình đối với xã hội Nó sẽ là hành trang để các em chuẩn bị bước vàocuộc sống
Ở lứa tuổi này, các em đã có sức lực, đã hiểu biết nhiều, muốn làm đượcnhững công việc được mọi người biết đến, nhất là những công việc cùng làm vớingười lớn Các em cho rằng công tác xã hội là việc làm của người lớn và có ý nghĩalớn lao Do đó được làm các công việc xã hội là thể hiện mình đã là người lớn vàmuốn được thừa nhận mình là người lớn
Hoạt động chính trị xã hội học sinh được tiến hành qua nhiều hình thức đa dạng
và phong phú từ các phong trào thi đua của lớp, của Đội thiếu niên, Đoàn thanh niêncũng như các tổ chức chính trị xã hội Từ đó, học sinh hiểu sâu thêm vốn tri thức lý luận
đã được tiếp thu đem kiểm nghiệm vào thực tiễn Đây là một sản phẩm biểu hiện sựtrưởng thành về mặt xã hội của các em và cũng là động cơ để các em tự khẳng định vàhoàn thiện nhân cách; đồng thời giúp các em có trách nhiệm đối với các nhiệm vụ xã hộigiao cho, có trách nhiệm với tập thể và có nhu cầu thường xuyên được tiếp xúc với cáccông việc tập thể Mặt khác, các hoạt động xã hội đó chính là các hoạt động tuyên truyền
về đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, các vấn đề mà toàn xã hội cần quan tâmnhư tuyên truyền cổ động, giữ trật tự đường phố, giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sĩ,phòng chống các tệ nạn xã hội, về phát triển dân số, về bảo vệ môi
Trang 391.5.3.4 Các hoạt động tập thể khác
Đó là các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao, từ thiện, phong trào mang tínhhoạt động xã hội ở địa phương nhằm nâng cao tính tập thể, tinh thần trách nhiệm tạonên nếp sống vui tươi đoàn kết thân ái Đồng thời uốn nắn các lệch lạc của mỗi cánhân giúp mọi người hiểu và chấp hành đúng nghĩa vụ bản thân Các hoạt động ngoàigiờ lên lớp là nhu cầu không thể thiếu là phương thức giáo dục đạo đức tốt nhất chohọc sinh, đưa các em vào hoạt động thực tiễn để tập dượt rèn luyện hành vi thói quengiúp các em hình thành nhân cách
Như vậy, việc tổ chức để phối hợp các hoạt động giáo dục cho các em là một
yếu tố vô cùng quan trọng trong việc giáo dục đạo đức và phát triển nhân cách Đóchính là một nhân tố ảnh hưởng tới việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho họcsinh
1.5.4.Trình độ, năng lực quản lý của CBQL và của giáo viên bậc THPT
Trong giai đoạn hiện nay đội ngũ GV giảng dạy ở các trường THPT đều cótrình độ tốt nghiệp đại học Một số GV trong các trường THPT có trình độ thạc sĩ.Phần lớn GV tốt nghiệp ở các trường đại học sư phạm Trong quá trình học tập ởtrường sư phạm, tất cả các GV đều được học kiến thức tâm lí, nghiệp vụ sư phạm,được thực tập sư phạm, được tiếp xúc làm quen với các hoạt động giáo dục ở các nhàtrường THPT Thời kì khó khăn nhất (khó khăn về kinh tế là chủ yếu) của GV đã qua
đi Cùng với sự phát triển của đất nước, được Đảng và nhà nước quan tâm, ngày nayđội ngũ GV trong các nhà trường phổ thông, nhất là bậc THPT đã có điều kiện đượcphát huy năng lực của mình trong giảng dạy và GD thế hệ trẻ Tuyệt đại đội ngũ GVphổ thông THPT đều yêu nghề, yên tâm với công việc, gắn bó với nhà trường Tuynhiên trong đội ngũ các nhà giáo vẫn còn không ít các thầy cô mới chỉ chú ý “ dạychữ “ mà chưa thực sự chú ý “dạy người” Điều này được thể hiện trong cách giaotiếp, trong việc tham gia các hoạt động chung của nhà trường, nhất là hoạt động GDđạo đức nếp sống cho HS, còn luộm thuộm, làm cho xong việc Cá biệt, do cá tínhhoặc trong hoàn cảnh nào đó có GV đã có lời nói hoặc hành vi phản cảm không có ýnghĩa GD Cũng chính vì thế mà trong các nhà trường phổ thông hiện nay đã xảy racác hiện tượng học trò vô lễ với thầy cô, thậm chí còn đánh trả thù thầy cô giáo Điềunày đã làm cho các nhà quản lí GD, nhất là những thầy cô tâm
Trang 40huyết không khỏi trăn trở day dứt Vì thế các nhà quản lí GD nói chung, ban giámhiệu các nhà trường phổ thông nói riêng cần phải có kế hoạch chương trình yêu cầutrong công tác GD tư tưởng, trình độ nhận thức của GV về nghề nghiệp, nhất là GDrèn luyện các KNS của HS Dạy chữ, dạy người là hai yêu cầu phải song song trong
tư tưởng GD của mỗi người thầy Chỉ khi nào trình độ nhận thức của đội ngũ thầy côgiáo trong nhà trường khá đồng đều, thấy được vai trò trách nhiệm cũng như lươngtâm của mình trước học sinh, trước yêu cầu ngày càng cao của xã hội thì khi đó côngtác giáo dục đạo đức mới đạt được hiệu quả mong muốn