1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh trong dạy học lịch sử lớp 10 ở trường trung học phổ thông

63 201 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 273,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cấu trúc của luận văn...10 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

MÔN LỊCH SỬ)

Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG THANH TÚ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên cho phép em được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới

TS Hoàng Thanh Tú đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu cùng các thầy cô giáo,cán bộ các phòng – ban trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đãnhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu vàhoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

Em cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo, học sinh trường THPTPhan Đình Phùng – Hà Nội, Trường THPT Lê Hồng Phong – Hải Phòng đã cộngtác, giúp đỡ và tạo điều kiện giúp em trong quá trình phát phiếu khảo sát và thửnghiệm tại trường

Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn bè đãchia sẻ, động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để em hoàn thành luận văn củamình

Mặc dù em đã cố gắng rất nhiều trong quá trình học tập, nghiên cứu, songcũng không thể tránh khỏi những thiếu sót Bởi vậy, em rất mong được sự quan tâm,chỉ bảo của quý thầy cô Trường Đại học Giáo dục và các đồng nghiệp để luận vănđược hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 10 năm 2016

Tác giả luận vănNguyễn Thị Yến

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CNTT & TT Công nghệ thông tin và truyền thông

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Đánh giá của HS về mức độ cần thiết của việc phát triển

NLSD CNTT trong DHLS. 28

Bảng 1.2 Trình độ CNTT của GV THPT 29

Bảng 1.3 Mức độ sử dụng các phần mềm của GV trong DHLS 31

Bảng 1.4 Kết quả điều tra HS về mức độ sử dụng các phần mềm trong DHLS của GV ở trường THPT 32 Bảng 1.5 Kết quả điều tra GV về việc tổ chức các hoạt động phát triển NLSD CNTT cho HS trong DHLS 33 Bảng 1.6 Kết quả điều tra HS về việc GV tổ chức các hoạt động phát triển NLSD CNTT cho HS trong DHLS 34 Bảng 1.7 Kết quả đánh giá mức đạt kỹ năng sử dụng CNTT của HS 36

Bảng 1.8 Kết quả điều tra GV vể những khó khăn gặp phải trong quá trình phát triển NLSD CNTT cho HS 38 Bảng 1.9 Kết quả điều tra HS vể những khó khăn gặp phải trong quá trình phát triển NLSD CNTT trong học tập môn Lịch sử 39 Bảng 2.1 Kịch bản công nghệ 68

Bảng 2.2 Kĩ năng sử dụng CNTT của HS trước thử nghiệm 77

Bảng 2.3 Kĩ năng sử dụng CNTT của HS sau thử nghiệm 78

Bảng 2.4 Kết quả bài kiểm tra của HS sau thử nghiệm 80

Bảng 2.5 Mức độ hứng thú của học sinh trong giờ học Lịch sử 81

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Biểu đồ 1.1 Quan niệm của GV về vấn đề phát triển NLSD CNTT cho

HS trong DHLS 27

Biểu đồ 1.2 Đánh giá mức độ cần thiết của việc phát triển NLSD CNTT cho HS trong DHLS 27

Biểu đồ 1.3 Trình độ CNTT của GV THPT 29

Hình 2.1 Chèn hình, video… vào Prezi 63

Hình 2.2 Hệ thống khung trên Prezi 63

Hình 2.3 Hệ thống mẫu, chủ đề trong Prezi 63

Hình 2.4 Sản phẩm bài trình chiếu trên Prezi 102

Hình 2.5 Nội dung bài trình chiếu Przi 66

Hình 2.6 Hình ảnh được sử dụng trong bài trình chiếu Prezi 66

Hình 2.7 Tượng Phật bên trong chùa hang Ajanta 70

Hình 2.8 Kiến trúc bên trong chùa hang Ajanta 72

Hình 2.9 Giao diện làm việc của ImindMap 9.0 72

Hình 2.10 Mẫu sơ đồ tư duy trên ImindMap 9.0 72

Hình 2.11 Ví dụ về tạo mạng khái niệm trong DHLS 73

Hình 2.12 Ví dụ về mạng khái niệm hoàn chỉnh 74

Hình 2.13 Sơ đồ tư duy các thành tựu văn hóa của Ấn Độ 74

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 9

6 Giả thuyết khoa học 10

7 Đóng góp của đề tài 10

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10

9 Cấu trúc của luận văn 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 11

1.1 Cơ sở lý luận 11

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 11

1.1.2 Vị trí, ý nghĩa của việc phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học lịch sử 19

1.1.3 Những yêu cầu và định hướng phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử 21

1.2 Cơ sở thực tiễn 25

1.2.1 Thực trạng phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông hiện nay 25

Trang 8

Tiểu kết chương 1 41

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 42

2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của phần lịch sử thế giới cổ đại và trung đại lớp 10 42

2.1.1 Vị trí 42

2.1.2 Mục tiêu 43

2.1.3 Nội dung cơ bản của phần lịch sử thế giới cổ đại và trung đại 46

2.2 Lựa chọn phương tiện công nghệ cần và có thể sử dụng trong học phần lịch sử thế giới cổ đại và trung đại lớp 10 để phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh phổ thông 50

2.3 Tổ chức dạy học dự án phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới cổ đại và trung đại ở trường trung học phổ thông 57

2.3.1 Phát triển năng lực trình bày thông tin qua sử dụng công cụ trình chiếu Prezi 61

2.3.2 Xây dựng phim tư liệu qua sử dụng phần mềm Proshow Produce 67

2.3.3 Thể hiện ý tưởng sáng tạo bằng IMindMap 70

2.4 Thử nghiệm sư phạm 75

2.4.1 Mục đích thử nghiệm 75

2.4.2 Đối tượng và địa bàn thử nghiệm 76

2.4.3 Nội dung và phương pháp thử nghiệm 76

2.4.4 Kết quả thử nghiệm 76

Tiểu kết chương 2 81

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82

PHỤ LỤC 88

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, toàn cầu hóa đã trở thành xu hướng phát triển tất yếu của mọi quốc

gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trong đó việc “lấy sức mạnh từ công nghệ, năng

lượng từ thông tin và chèo lái bằng kiến thức” là một yêu cầu bức thiết Người ta tin

rằng, CNTT & TT có thể đem lại giá trị cho quá trình giảng dạy và học tập Trong

quá trình dạy học, “với sự hỗ trợ của công nghệ, GV sẽ trở thành những người mở

đầu trong công cuộc cải cách giáo dục trên toàn thế giới” Khi mà CNTT đã phát

triển mạnh mẽ đến mức hàng ngày đã tác động đến đời sống tinh thần và vật chấtcủa mỗi người trên hành tinh thì chắc hẳn tư duy khoa học, tư duy giáo dục không

thể giữ nguyên như cũ Bill Gates cho rằng:“Internet như một đợt sóng thủy triều.

Nó sẽ tràn vào ngành công nghiệp máy vi tính và nhiều ngành khác Nó sẽ nhấn chìm tất cả những ai không luyện tập trong những đợt sóng của nó”[30, tr.23].

Ở các nước tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc việc sử dụng những thành tựu của khoa học công nghệ trong nhà trường đã có từ rấtsớm, khẳng định được tính hiệu quả, nhất là những ứng dụng liên quan đến CNTT.Các chính sách mới về đổi mới giáo dục được xây dựng dựa trên tiền đề và triểnvọng của tích hợp CNTT một cách có hiệu quả vào dạy học CNTT được coi như

“một khía cạnh đặc biệt quan trọng trong hành trang văn hóa dạy học của thế kỉ

21, hỗ trợ các mô hình phát triển chuyển đổi mới cho phép mở rộng bản chất và kết quả học tập của GV cho dù việc học đó diễn ra ở đâu” [45, tr 1] CNTT & TT được

coi là những công cụ tiềm năng có tác động tích cực tới cách dạy của thầy và cách

áp dụng CNTT Bởi vì “nước nào đi đầu trong sử dụng CNTT, nước đó sẽ đi đầu về giáo

dục”.

Bên cạnh đó, trước những thay đổi nhanh chóng về khoa học kĩ thuật cũngnhư tri thức, giáo dục truyền thống tập trung vào nội dung kiến thức đã không còn

Trang 10

phù hợp, giáo dục trên thế giới đang đi theo xu hướng giảng dạy và đánh giá theonăng lực Giảng dạy theo hướng phát triển năng lực người học đã và đang là mộtchủ đề thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục cũngnhư xã hội Nhiều hệ thống giáo dục đã xây dựng và áp dụng thành công chươngtrình giáo dục theo năng lực để người học sau khi tốt nghiệp ra trường làm chủ đượckiến thức và kĩ thuật đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động và xã hội.Nhằm theo kịp các hệ thống giáo dục tiên tiến cũng như tiến tới đạt chuẩn quốc tếtrong giáo dục, hệ thống giáo dục Việt Nam cũng đang từng bước thay đổi theohướng dạy học phát triển năng lực người học.

Ở trường phổ thông, môn Lịch sử giống như nhiều môn học khác có nhiệm

vụ cung cấp cho thế hệ trẻ những kiến thức cơ bản, rèn luyện các năng lực học tập, qua

đó giáo dục tư tưởng, tình cảm để phục vụ cho xã hội, dân tộc Nhấn mạnh về tầm quantrọng của môn Lịch sử trong nhà trường phổ thông một nhà văn dân chủ Nga thế kỉ XIX

đã từng viết: có thể không biết, không cảm thấy say mê học tập môn Toán, tiếng Hy lạphoặc Latinh, Hóa học; có thể không biết hàng nghìn khoa học khác, nhưng dù sao đã làngười có giáo dục mà không yêu thích lịch sử thì chỉ có thể là một con người phát triểnkhông đầy đủ về trí tuệ Vai trò của bộ môn Lịch sử từ lâu đã được khẳng định, góp phầnquan trọng vào thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ Lịch sử không đơn giảnchỉ là quá khứ mà còn là sự kết tinh những giá trị xã hội sâu sắc, có ý nghĩa to lớn trongviệc giáo dục truyền thống, tư tưởng chính trị, đạo đức và phát triển óc thẩm mĩ cho HS.Trong bối cảnh của sự bùng nổ về khoa học công nghệ thì việc phát triển năng lực cho

HS đặc biệt là năng lực công cụ sử dụng CNTT, tiến tới xã hội toàn cầu, công dân toàncầu là một nhiệm vụ vô cùng cấp thiết

Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, tôi chọn vấn đề: “Phát triển

năng lực sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh trong dạy học lịch sử lớp 10 ở trường trung học phổ thông” làm đề tài luận văn Thạc sĩ.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước liên quanđến đề tài của luận văn ở những mức độ khác nhau Về cơ bản có thể chia thành hainhóm sau:

Trang 11

2.1 Các tài liệu, công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Giáo dục dựa trên năng lực (Competency – based education – CBE) nổi lên

từ những năm 1970s ở Mỹ Với hình thái này, giáo dục hướng tới việc đo lườngchính xác kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học sau khi kết thúc mỗi chươngtrình học (Guskey, 2005) Nếu giáo dục truyền thống được coi là giáo dục theo nộidung, kiến thức (content – based education) tập trung vào việc tích lũy kiến thức,nhấn mạnh tới các năng lực nhận thức và việc vận dụng kiến thức tập trung vào việcthực hành kĩ năng chứ không hướng tới việc chứng minh khả năng đạt được và đánhgiá của giáo dục truyền thống cũng tập trung đo lường kiến thức thông qua các bàithi viết và nói (Chang, 2006) thì giáo dục theo năng lực tập trung vào phát triển cácnăng lực cần thiết để học sinh có thể thành công trong cuộc sống cũng như trongcông việc (Chyung, Stepich & Cox, 2006) Các năng lực thường được tập trung pháttriển bao gồm năng lực xử lí thông tin, giải quyết vấn đề, phản biện, năng lực họctập suốt đời (Jackson, 2007) Do đó đánh giá cũng hướng tới việc đánh giá kiến thứctrong việc vận dụng một cách hệ thống và các năng lực cần đạt được cần phải đánhgiá thông qua nhiều công cụ và hình thức trong đó có cả quan sát và thực hành trongcác tình huống mô phỏng (Kaslow, 2004)

Rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng giáo dục dựa trên năng lực là dành chogiáo dục dạy nghề (Gonczi, Hager & Athanasou, 1993) và công nghệ thông tin(Mulder, Weigel & Collin, 2007) Tuy nhiên, thực tế cho thấy giáo dục theo nănglực không chỉ dành cho dạy nghề Trong những thập kỉ gần đây với sự phát triểnmạnh của khoa học kĩ thuật cũng như tri thức, giáo dục nếu chỉ hướng tới việc nắmvững kiến thức là không đủ bởi kiến thức hôm qua còn mới, hôm nay đã trở thànhlạc hậu Do đó, nhiều hệ thống giáo dục đã hướng tới việc giáo dục để người học có

đủ khả năng làm chủ kiến thức và sử dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề trongkhoa học cũng như trong thực tế Khi mục tiêu và hình thái giáo dục chuyển đổi thìphương pháp giảng dạy và đánh giá cũng thay đổi theo Các hệ thống giáo dục tiêntiến đã áp dụng phương pháp giảng dạy theo năng lực thay vì giảng dạy theo nộidung, kiến thức

Giảng dạy theo năng lực là hướng tiếp cận tập trung vào đầu ra của quá trìnhdạy và học trong đó nhấn mạnh người học cần dạt được các mức năng lực như thếnào sau khi kết thức một chương trình giáo dục Nói cách khác, chất lượng đầu rađóng vai trò quan trọng nhất đối với giảng dạy theo năng lực Điều này có nghĩa là

Trang 12

để chương trình giảng dạy theo năng lực có hiệu quả cần phải bắt đầu với bức tranh

rõ ràng về năng lực quan trọng mà người học cần phải đạt được, tiếp đến là xâydựng và phát triển chương trình dạy và học sau đó giảng dạy và xây dựng các biệnpháp đánh giá nhằm đảm bảo rằng mục đích của giáo dục theo năng lực đạt đượcmục tiêu đề ra Có thể thấy, yếu tố quan trọng của giáo dục năng lực là xây dựngđược các tiêu chuẩn đầu ra rõ ràng thể hiện rõ mục tiêu của giáo dục, thiết lập đượccác điều kiện và cơ hội để khuyến khích người học có thể đạt được các mục tiêu ấy.Rât nhiều nghiên cứu gần đây đã tập trung nghiên cứu mối liên hệ giữa giáo dụcnăng lực và xây dựng chương trình đánh giá theo năng lực (Williamson, 2007).Điều này cũng có nghĩa là các năng lực mà người học cần đạt phải được rõ ràng, cụthể Các chương trình giảng dạy sẽ được chia thành các module trong đó tập trungphát triển từng năng lực cụ thể của người học theo mục tiêu đề ra Ngoài ra, chươngtrình giảng dạy theo năng lực cũng cho phép người học bỏ qua những module vềnăng lực mà người học đã nắm vững thông qua kết quả đánh giá trong quá trình họchoặc kết quả đánh giá ban đầu Cụ thể là người ta thường chia một năng lực cụ thểthành các thành tố khác nhau, trên cơ sở đó xây dựng tiêu chí thực hiện, phạm vi vàbối cảnh, kiến thức cơ sở cũng như nguồn minh chứng cho từng thành tố

Vào những năm 70 của thế kỉ XX, các nước xã hội chủ nghĩa nhất là Liên

Xô, vấn đề rèn luyện năng lực và năng lực sáng tạo cho học sinh trong nhà trườngđặc biệt được quan tâm, như các tác giả I.Ia.Lecne, M.I.Macmutov, M.N.Xkatkin,V.Okon, V.G.Razumovski Ở cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, tiếp tục có nhữngcông trình nghiên cứu và bài viết về tư duy sáng tạo và phát triển năng lực sáng tạocủa Robert Z.Strenberg và Wendy M.William (1996), Rèn luyện tư duy siêu tốc…

Howard Gardner, giáo sư tâm lý học của đại học Harvard (Mỹ) (1996) đã đềcập đến khái niệm năng lực qua việc phân tích bảy mặt biểu hiện của trí tuệ conngười: ngôn ngữ, logic toán học, âm nhạc, không gian, thể hình, giao cảm và nộicảm Ông khẳng định rằng: mỗi mặt biểu hiện của trí tuệ đều phải được thể hiệnhoặc bộc lộ dưới dạng sơ đẳng hoặc sáng tạo đỉnh cao Để giải quyết một vấn đề “cóthực” trong cuộc sống thì con người không thể huy động duy nhất một mặt biểuhiện của trí tuệ nào đó mà phải kết hợp nhiều mặt biểu hiện của trí tuệ liên quan đếnnhau Sự kết hợp đó tạo thành năng lực cá nhân Bằng cách phân tích nàyH.Gardner đã kết luận rằng: Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động cókết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được

Trang 13

Cũng theo Howard Gardner, về mặt tâm lí học không phải ai cũng sở hữuđầy đủ tất cả các mặt biểu hiện của trí tuệ Một người bình thường chỉ có thể sở hữumột vài mặt biểu hiện của trí tuệ Các mặt biểu hiện của trí tuệ có thể thay đổi hoặcthế chỗ cho nhau khi cá nhân có thêm kinh nghiệm và sự tích lũy, hoặc khi xã hộiđòi hỏi cao hơn Mối quan hệ giữa các mặt biểu hiện của trí tuệ và cách sở hữu cácmặt biểu hiện của trí tuệ cũng khác nhau giữa người này với người khác.

Điều này cho thấy học sinh cần được tạo cơ hội để phát huy tốt nhất các mặtbiểu hiện của trí tuệ, đồng thời nhà trường cần là nơi định hướng sự kết hợp các mặtbiểu hiện của trí tuệ và giúp các em điều chỉnh sự kết hợp đó trước yêu cầu luônluôn thay đổi của xã hội

Theo tác giả Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2005): có nhiều loại nănglực khác nhau Năng lực hành động cũng là một loại năng lực Khái niệm phát triểnnăng lực cũng được hiểu đồng nghĩa với việc phát triển năng lực hành động

Trong công trình nghiên cứu “Hình thành các kĩ năng và kĩ xảo sư phạm cho

sinh viên trong điều kiện nền giáo dục đại học” X.I.Kixegof và cộng sự đã thiết kế

hơn 100 kĩ năng giảng dạy trong đó có hơn 50 kĩ năng cần thiết để thiết kế bài giảngnhằm phát triển năng lực cho người học

Từ cuối thập niên 80 của thế kỉ XX, nhiều nhà giáo dục Mỹ như StevenCohen, Irwin Unger Timothy J Newby, Judith H, Sandholtz đã đề cập đến việc sửdụng CNTT trong dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của người học trong

đó chúng tôi đặc biệt quan tâm một số vấn đề mà các tác giả trên đã đề cập như vaitrò của CNTT & TT như là một công cụ hỗ trợ các hoạt động dạy học, nhất là yếu tố

đa phương tiện (Multimedia) có tác động tích cực đến các giác quan của HS; đềxuất các ý tưởng sư phạm trong quá trình dạy học có sự hỗ trợ của phương tiện kĩthuật theo hướng phát huy vai trò chủ động, tích cực của người học; xác định cácyêu cầu, thuận lợi và khoa khăn khi ứng dụng CNTT & TT vào dạy học

Các tài liệu về ứng dụng CNTT & TT trong DHLS ở trường phổ thông xuấthiện muộn và ít hơn so với các môn khoa học tự nhiên Các tác giả Davis Gardner(1998), Deidre McCann (2001) đã đề cập một số yêu cầu, ý tưởng trong việc khaithác thông tin Multilmedia có nội dung lịch sử từ các CD-Rom, Internet nhằmgiúp HS có cơ hội tiếp cận, trao đổi thông tin lịch sử một cách đa dạng, tích cựcgiữa GV với HS và giữa HS với HS

Trang 14

Bên cạnh đó còn có những tài liệu về việc ứng dụng CNTT vào dạy học,

trước hết phải kể đến bộ giáo trình “Teach to the Future” (Dạy học cho tương lai) của Intel và bộ giáo trình “Partner in Learning” của Microsoft.

Tuy nhiên, các tài liệu này chủ yếu nêu ra các ứng dụng CNTT vào dạy họccác môn học nói chung mà chưa chú trọng và đề cập đến việc phát triển năng lựccho HS thông qua DHLS đặc biệt là NLSD CNTT

2.2 Các tài liệu, công trình nghiên cứu ở trong nước

Trong nước, từ giữa năm 90 của thế kỉ XX, hướng nghiên cứu về ứng dụngCNTT trong dạy học mới bắt đầu được quan tâm Dù tiếp cận ở góc độ nào, các tác giảđều khẳng định vai trò của CNTT trong việc cải tiến và nâng cao chất lượng dạy học

Nhằm tìm ra các giải pháp đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong dạy học, từnăm học 2000 – 2001, ngành giáo dục nước ta liên tục tổ chức các hội thảo khoahọc, nhiều báo cáo đề xuất hình thức, biện pháp ứng dụng theo đặc trưng môn học;những thuận lợi và khó khăn khi ứng dụng CNTT trong dạy học Tuy nhiên, báocáo khoa học thuộc về lĩnh vực tự nhiên vẫn chiếm tuyệt đối so với các ngành khoahọc xã hội

Gần đây, một số nhà giáo dục Lịch sử các trường đại học, cao đẳng và GV hổthông bước đầu quan tâm, nghiên cứu về sử dụng CNTT như một thiết bị, phương

tiện trực quan dạy học hiện đại Đáng chú ý là bộ giáo trình “Phương pháp DHLS” tập 1 và tập 2 của Phan Ngọc Liên (Chủ biên); “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư

phạm môn Lịch sử” của Nguyễn Thị Côi (Chủ biên) dùng để đào tạo sinh viên sư

phạm các trường đại học, cao đẳng Tài liệu có phần đề cập đến lợi ích của phầnmềm Powerpoint, Violet đồng thời cũng đưa ra những yêu cầu, quy trình thiết kế vàtiêu chí đánh giá bài giảng điện tử

Trên tạp chí chuyên ngành, hội thảo khoa học và đề tài ngiên cứu các cấp

cũng có một số bài viết liên quan: “Ứng dụng CNTT nhằm góp phần nâng cao chất

lượng DHLS ở trường THPT” của Đoàn Văn Hưng; “Ứng dụng CNTT trong DHLS

ở các trường THPT khu vực trung du, miền núi phía Bắc Việt Nam” của Đỗ Hồng

Thái, “Nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở các trường THPT với sự hỗ trợ của

CNTT” của Nguyễn Mạnh Hưởng

Các tác giả Lê Công Triêm, Nguyễn Đức Vũ trong cuốn “Ứng dụng CNTT

trong dạy học” (2006) đã đề cập tới vai trò quan trọng của máy tính đối với quá

Trang 15

trình dạy học, đặc biệt đi sâu vào việc thiết kế bài giảng điện tử trên phần mềmMicrosoft Power Point.

Cuốn “Ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá môn Sử”

do nhóm tác giả Trịnh Đình Tùng và Nguyễn Mạnh Hưởng biên soạn (2009) đề cậptới các vấn đề: tổng quan về đổi mới phương pháp DHLS ở trường THPT với sự hỗtrợ của CNTT, hướng dẫn GV các thao tác sử dụng một số công cụ, phần mềmtrong DHLS và chia sẻ một số kinh nghiệm ứng dụng CNTT vào dạy học, kiểm trađánh giá bộ môn

Nguyễn Chí Thuận trong “Ứng dụng CNTT & TT kết hợp sách bài tập để đổi

mới phương pháp DHLS ở trường THPT” cho chúng ta biết thực trạng ứng dụng

CNTT & TT kết hợp với sách bài tập trong đổi mới phương pháp DHLS ở trườngTHPT, nêu ra một số biện pháp ứng dụng CNTT & TT để thiết kế và sử dụng giáo

án điện tử

Đặc biệt, trong nhiều tài liệu, bài viết của tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng đi

sâu vào hướng nghiên cứu ứng dụng CNTT vào DHLS Ví dụ như: “Thiết kế và

trình diễn trực quan bài giảng bằng Microsoft Power Point trong DHLS ở trường phổ thông”; “Đặc trưng của việc DHLS và con đường hình thành kiến thức cho HS với sự hỗ trợ của CNTT” đặc biệt là luận án Tiến sĩ: “Nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT” đã đi sâu nghiên cứu về

vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong dạy học, đề xuất nhiều biện phápứng dụng CNTT trong các giờ học nội khóa, ngoại khóa để góp phần nâng cao hiệuquả bộ môn

Việc phát triển năng lực cho HS thông qua DHLS đã được đề cập đến trongnhiều bài viết, trong đó phải kể đến các tài liệu phục vụ cho chương trình tập huấn

do Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức như “Tài liệu tập huấn kiểm tra, đánh giá trong

quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS trong trường trung học

cơ sở vùng khóa khăn nhất” Tài liệu đã đề cập đến vấn đề dạy học phát triển năng

lực của HS, chỉ ra được các năng lực chung và năng lực chuyên biệt của môn Lịch

sử tuy nhiên mức độ đề cập rất khái quát, chưa cụ thể cho từng năng lực đặc thù của

bộ môn Lịch sử

Hay trong cuốn “Phát triển kĩ năng tự học Lịch sử cho HS” của tác giả

Nguyễn Thị Thế Bình đã đề cập đến một trong tám năng lực của HS cấp THPT Nộidung của cuốn sách đề cập một cách có hệ thống, toàn diện, nhiều vấn đề có liên

Trang 16

quan đến DHLS nói chung, tự học Lịch sử của HS ở trường THPT nói riêng; lí giảimột loạt vấn đề mà nhiều GV lịch sử quan tâm như những kĩ năng tự học lịch sửnào cần hình thành và phát triển cho HS? Làm thế nào để phát triển kĩ năng tự họccho HS trong DHLS?

Từ năm 2007, bắt dầu có một số công trình nghiên cứu và bài viết về nănglực của học sinh ở trường phổ thông

Theo tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2007): năng lực của học sinh đượcthể hiện ở khả năng thực hiện hành động cá nhân trong việc giải quyết các nhiệm cụhọc tập, hoặc năng lực tiến hành hoạt động học tập của cá nhân người học Năng lựcnói chung luôn được xem xét trong mối quan hệ với dạng hoạt động hoặc quan hệnhất định nào đó Điều này cũng có nghĩa là năng lực của học sinh sẽ là kết quả cuốicùng cần đạt được (outcomes) của quá trình dạy học hay giáo dục Nói cách khác,thành phần cuối cùng và cơ bản của mục tiêu giáo dục là các phẩm chất và năng lựcđược chế định bởi sự phát triển của con người và xã hội Năng lực vừa được coi làđiểm xuất phát đồng thời là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục Vì vậy, những yêu cầu

về phát triển năng lực học sinh cần được đặt đúng chỗ của chúng trong mục tiêugiáo dục

Các công trình nghiên cứu thường chỉ xét về năng lực nói chung và việc ứngdụng công nghệ thông tin trong dạy học mà chưa có công trình nào nghiên cứu mộtcách có hệ thống vấn đề phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin cho họcsinh Do đó, tôi chọn vấn đề này làm hướng nghiên cứu chính của mình

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Quá trình phát triển NLSD CNTT cho HS trong DHLS lớp 10 ở trường THPT

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: đề tài tập trung vào việc phát triển NLSD CNTT cho HS trong DHLS học phần LSTG cổ đại và trung đại lớp 10 – chương trình chuẩn

- Về hình thức tổ chức dạy học: tập trung vào bài học nội khóa

các địa bàn Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Thái Bình… và HS tại các trường THPT

Phan Đình Phùng – Hà Nội, THPT Lê Hồng Phong – Hải Phòng

Trang 17

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của CNTT trong DHLS từ đó đề xuấtmột số biện pháp phát triển NLSD CNTT cho HStrong DHLSthếgiới cổ đại vàtrung đại lớp 10 ở trường THPT

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng phát triển NLSD CNTT cho HS trong DHLS lớp 10 ở trường THPT

- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc phần LSTGcổ đại và trung đại lớp 10 và đề xuất một số biện pháp phát triển NLSD CNTT cho HS phổ thông

- Thử nghiệm và đánh giá tính hiệu quả, khả thi của việc xây dựng một số biện pháp phát triển NLSD CNTT cho HS trong DHLS

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta về lịch sử, giáo dục

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Nghiên cứu lý thuyết

Đọc và phân tích các tài liệu lịch sử, các tài liệu về lý luận và PPDH, các tàiliệu về tâm lý học, tài liệu về lý luận dạy học bộ môn Lịch sử; các bài báo, bài viết,các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

5.2.2 Nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: dự giờ để thu thập thông tin, đánh giá NLSD CNTT của HS trong DHLS lớp 10 ở trường THPT

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn: tìm hiểu thực trạng phát triển NLSD CNTT cho HS trong DHLS lớp 10 ở trường THPT

- Phương pháp thử nghiệm: thử nghiệm các biện pháp phát triển NLSD CNTT cho HS trong DHLS thế giới cổ đại và trung đại lớp 10

- Phương pháp thốngkê toán học: xử lý, thống kê, phân tích số liệu thống kêđược trong quá trình thử nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả củacác biện pháp đã đề ra

Trang 18

6 Giả thuyết khoa học

Nếu trong quá trình DHLS, GV chú trọng đến việc thiết kế các hoạt động họctập đa dạng có yêu cầu sử dụng CNTT thì sẽ phát triển được NLSD CNTT cho HS,đáp ứng được mục tiêu DHLS nói chung, dạy học phần Lịch sử thếgiới cổ đại vàtrung đại nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử ở trườngTHPT hiện nay

7 Đóng góp của đề tài

Thực hiện tốt những nhiệm vụ đề ra, luận văn góp phần:

- Khẳng định vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của việc phát triển NLSD

CNTTtrong dạy học lịch sử choHS phổ thông

- Đánh giá được thực trạng phát triển NLSD CNTT cho HStrong DHLS ở trường THPT

- Đề xuất một số biện pháp phát triển NLSD CNTT cho HStrong DHLS thế giới cổ đại và trung đại lớp 10 THPT

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: đề tài góp phần làm phong phú thêm lí luận dạy học bộmôn về vấn đề dạy học phát triển năng lực đặc biệt là phát triển NLSD CNTT cho HSphổ thông

- Ý nghĩa thực tiễn: đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, GV mônLịch sử và bản thân tác giả trong quá trình DHLS ở trường THPT

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn tốt nghiệp đượctrình bày trong 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực sử dụngcông nghệ thông tin cho học sinh trong dạy học lịch sử lớp 10 ở trường trung họcphổ thông

Chương 2: Một số biện pháp phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tincho học sinh trong dạy học lịch sử lớp 10 ở trường trung học phổ thông Thửnghiệm sư phạm

Trang 19

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬLỚP 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm CNTT

CNTT & TT (Information and Communication Technology – ICT) là mộtthành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiện nay.Nó thâm nhập và chiphối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trong sản xuất,giáo dục, đào tạo và các hoạt động chính trị - xã hội khác

Theo Nghị quyết 49/CP của Chính phủ ban hành ngày 04 tháng 08 năm 1993

về phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 90 nêu: “CNTT là tập hợp các

phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là

kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” Khoản 1 điều 4 Luật CNTT năm 2006 cũng giải

thích “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật

hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”

[37, tr.1]

1.1.1.2 Khái niệm năng lực

Khái niệm năng lực có nguồn gốc Latinh “competentia” có nghĩa là “gặp

gỡ” Trong tiếng Anh, khái niệm năng lực hay khả năng tương ứng với các thuật

ngữ “competence”, “ability” hay “capability”.

Có rất nhiều định nghĩa về năng lực và khái niệm này thu hút sự quan tâmcủa rất nhiều nhà nghiên cứu

Theo từ điển tiếng Việt, năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lý tạo cho con

người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao, hay “khả

năng làm việc tốt” [46, tr 676].

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ Tâm lý học tác giả Vũ Dũng lại cho rằng:

“năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò

là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [15].

Trang 20

Từ điển Giáo dục học giải thích: “năng lực là khả năng được hình thành

hoặc phát triển cho phép một con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp” [21, tr 272].

Trước đây, theo cách tiếp cận truyền thống (tiếp cận hành vi) thì năng lực làkhả năng đơn lẻ của cá nhân, được hình thành dựa trên sự lắp ghép các mảng kiếnthức và kỹ năng cụ thể Trong thập kỷ gần đây, năng lực đang được nhìn nhận bằngtiếp cận tích hợp

Theo Barnett: “Năng lực là một tập hợp các kiến thức, kĩ năng và thái độ

phù hợp với một hoạt động thực tiễn” [18] Chú trọng hơn đến tính thực hành của

năng lực, Rogiers cho rằng: “Năng lực là biết cách sử dụng các kiến thức và kĩ

năng trong một tình huống có nghĩa” Đề cập đến tính định lượng của năng lực,

Howard Gardner (1999) khẳng định: “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt

động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được” [47, tr 11].

Theo quan điểm triết học của John Erpenbeck (2001): “Năng lực được xây

dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, xếp đặt như là các khả năng, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí”.

Nhà giáo dục học F.E.Weinert (2001) cho rằng: “Năng lực là những kĩ năng,

kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội… và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”.

Denys Tremblay (2002), nhà tâm lý học người Pháp quan niệm rằng: “Năng

lực là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”.

OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) lại cho rằng: “Năng lực

là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm

vụ trong một bối cảnh cụ thể” [48, tr 12].

Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2005): “Năng lực là một thuộc tính

tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức” [13, tr.22].

Theo tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1998): “Năng lực là

tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc

Trang 21

trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [40, tr.11].

Với đối tượng cụ thể là HSTHPT, tác giả Nguyễn Thị Minh Phương cho

rằng: “Năng lực cần đạt được của HSTHPT là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị

được cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có kết quả” [36, tr.12].

Như vậy, năng lực có thể được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau, tùythuộc vào bối cảnh và mục đích sử dụng Từ những quan điểm trên, chúng tôi chorằng năng lực là khả năng giải quyết (thực hiện) một cách hiệu quả các vấn đề đặt racủa cuộc sống trên cơ sở hiểu biết về lí thuyết (nhận thức) của đối tượng Năng lực

là nói đến khả năng đạt được một kết quả nhất định của một công việc cụ thể do mộtcon người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực lao động, năng lực quansát…) Năng lực không tồn tại chung chung, trừu tượng Năng lực là một thuộc tínhtâm lí phức hợp, là tổ chức các thuộc tính độc đáo của nhân cách, là điểm hội tụ củanhững yếu tố như tri thức, kĩ năng, thái độ, kinh nghiệm, sẵn sàng hành động, tráchnhiệm đạo đức… Năng lực không chỉ dừng ở hiểu biết của con người, mà quantrọng là sự ứng dụng nó bằng những hoạt động cụ thể trên cơ sở vận dụng kiến thức,

kĩ năng phù hợp Năng lực không phải là cái có sẵn, mang tính bẩm sinh mà bẩmsinh con người chỉ có những tư chất của năng lực Những tư chất này sẽ dần hìnhthành và phát triển trong quá trình hoạt động Hoạt động chính là cơ sở, là điều kiệncần thiết cho sự hình thành và phát triển năng lực Nếu không tổ chức các hoạt động

và con người không hoạt động thì năng lực không thể bộc lộ và phát triển

Trong đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến năng lực của cá nhân con người

Một cách khái quát, có thể hiểu“năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí của con

người đảm bảo thực hiện một hoạt động nào đó đạt được kết quả” Hoặc “năng lực

là sự tích hợp kiến thức, kĩ năng và sức lực bởi một thái độ đúng để thực hiện thành công một công việc nhất định, trong điều kiện nhất định” Như vậy, dạy học chuyển

từ hình thành và phát triển kiến thức sang hình thành và phát triển năng lực có nghĩa

là mục tiêu của dạy học phải đảm bảo người học thực hiện được một công việc, giảiquyết được một vấn đề, tình huống nào đó trong một điều kiện nhất định chứ khôngchỉ có những hiểu biết kiến thức rời rạc hoặc có kĩ năng đơn lẻ

1.1.1.3 Khái niệm phát triển năng lực

Khái niệm “phát triển” có nhiều cách định nghĩa, xuất phát từ những cấp độ xem xét khác nhau Ở cấp độ chung nhất, “phát triển” [29] được hiểu là:

Trang 22

- Quá trình chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác hoàn thiện hơn,chuyển từ trạng thái chất lượng cũ đến tình trạng chất lượng mới, từ đơn giản đến phứctạp, từ thấp đến cao.

- Phát triển là quá trình tăng trưởng hay lớn lên tự nhiên, phân hóa hoặc tiến hóa tự nhiên với những thay đổi liên tục, kế tiếp nhau

- Phát triển là sự tăng trưởng, mở rộng, tiến hóa một cách từ từ hoặc là kết quả của những nguyên nhân

Ngoài ra, phát triển còn có nghĩa là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp

Như vậy, khái niệm “phát triển” có thể được hiểu theo hướng cải thiện tình

trạng chất lượng từ cũ sang tình trạng chất lượng mới cho những đối tượng cầnđược phát triển, giúp họ nâng cao nhận thức và kỹ năng hoạt động trên cơ sở nhữngkiến thức, kỹ năng đã có để bổ sung, hoàn thiện, phát triển năng lực và kỹ năng hoạtđộng theo yêu cầu cần đạt

Sự phát triển của năng lực nói chung, NLSD CNTT nói riêng được hiểu theo hai khía cạnh

Thứ nhất, sự phát triển là quá trình tăng dần về số lượng các kỹ năng, trên cơ

sở các kỹ năng đã có sẽ hình thành và phát triển thêm các kỹ năng sử dụng CNTTmới

Thứ hai, sự phát triển là quá trình thay đổi về chất lượng các kỹ năng tức làtrên cơ sở các kỹ năng đã được hình thành (biết hoặc có các kỹ năng cơ bản trongviệc sử dụng CNTT) sẽ phát triển lên mức độ cao hơn (sử dụng thành thạo) Cácbiện pháp phát triển NLSD CNTT cho HS được đề xuất trong đề tài chủ yếu hướngđến việc nâng cao chất lượng NLSD CNTT đã có của HS lớp 10 ở trường THPT

1.1.1.4 Khái niệm năng lực sử dụng công nghệ thông tin

NLSD CNTTlà một trong 9 năng lực chung được nhấn mạnh trong hệ thống giáo dục của nhiều quốc gia [9, tr 41] NLSD CNTT được mô tả bao gồm:

a) Sử dụng đúng cách các thiết bị ICT (công nghệ thông tin) để thực hiện cácnhiệm vụ cụ thể; nhận biết các thành phần của hệ thống ICT cơ bản; sử dụng đượccác phần mềm hỗ trợ học tập thuộc các lĩnh vực khác nhau; tổ chức và lưu trữ dữliệu vào các bộ nhớ khác nhau, tại thiết bị và trên mạng

b) Xác định được thông tin cần thiết để thực hiện nhiệm vụ học tập; tìm kiếm đượcthông tin với các chức năng tìm kiếm đơn giản và tổ chức thông tin phù hợp; đánh giá sự

Trang 23

phù hợp của thông tin, dữ liệu đã tìm thấy với nhiệm vụ đặt ra; xác lập mối liên hệgiữa kiến thức đã biết với thông tin mới thu thập được và dùng thông tin đó để giảiquyết các nhiệm vụ học tập và trong cuộc sống.

Như vậy, NLSD CNTTđược hiểu là “năng lực nhận biết, làm chủ và khai

thác công cụ CNTT & TT trong việc tìm kiếm, đánh giá, lựa chọn và truy cập thông tin; hình thành ý tưởng, kế hoạch và giải pháp trong hoạt động nhận thức và hỗ trợ quá trình trao đổi thông tin, hợp tác tuân theo những quy định thuộc phạm trù đạo đức và xã hội khi sử dụng chúng” [7, tr.35].

Sự cần thiết của việc phát triển NLSD CNTT cho HS phổ thông cũng đượckhẳng định bởi tổ chức UNESCO qua việc đưa NLSD CNTT là một trong nhữngnăng lực thiết yếu của công dân trong thời đại mới cùng với các năng lực truyềnthống khác như đọc, viết Như vậy, NLSD CNTT là một trong những năng lựcchung, cốt lõi là hoàn toàn phù hợp với xu thế của thế giới cũng như đòi hỏi củathực tiễn xã hội

Trong dạy học môn Lịch sử, ngoài chức năng hình thành và phát triển cácnăng lực chung, nhiệm vụ của môn Lịch sử còn nhằm hình thành và phát triển cho

HS các năng lực công cụ trong đó năng lực công cụ chủ chốt trong thời đại côngnghệ số là NLSD CNTT NLSD CNTT trong Lịch sử là khả năng nhận biết và thaotác được với hệ thống phần mềm/ công cụ công nghệ nhằm tìm kiếm, thu thập, tổchức và quản lý thông tin có liên quan đến Lịch sử phục vụ cho quá trình học tập vànghiên cứu

Đối với HS, NLSD CNTT thể hiện ở hai mức độ sau:

Mức độ cơ bản: là khả năng nhận biết, thao tác với các phần mềm, thiết bị

CNTT & TT Mức độ này bao gồm cá kĩ năng sau:

- Truy cập Website để tìm kiếm, thu thập thông tin nhằm hỗ trợ học tập với

sự giúp đỡ của GV hoặc người khác

- Tham gia các lớp học trên mạng

- Tự đánh giá kiến thức của mình bằng các phần mềm trắc nghiệm

Trang 24

- Chia sẻ thông tin với GV bạn bè qua mạng.

- Biết sử dụng các phần mềm, công cụ công nghệ như Microsoft OfficeWord, Microsoft Office Powerpoint, Microsoft Office Publisher, Prezi, Proshow

Produce, Imind Map, Hot Potatoes… dưới sự hướng dẫn của GV hoặc người khác

Mức độ nâng cao: là khả năng cá nhân hóa công cụ, thiết bị, phần mềm để hỗ

trợ thuận lợi cho công việc của bản thân bao gồm cả việc học tập và nghiên cứu Mức độ này thể hiện ở các kĩ năng sau:

- Sử dụng Internet hiệu quả (không có sự hỗ trợ của người khác) để truy cập thông tin, tìm kiếm thông tin hỗ trợ học tập của chính bản thân

- Tìm kiếm, xác định được công nghệ nào là hữu ích và lựa chọn công cụ công nghệ thích hợp cho các nhiệm vụ học tập khác nhau

- Biết đánh giá, xử lý, tổng hợp thông tin mà không cần sự hỗ trợ của GV

- Thành thạo trong việc sử dụng các phần mềm, công cụ công nghệ nhưMicrosoft Office Word, Microsoft Office Powerpoint, Microsoft Office Publisher,

Prezi, Proshow Produce, Imind Map, Hot Potatoes…

- Hợp tác với bạn bè trong nhóm, trong lớp để hoàn thành các nhiệm vụ học tập với sự trợ giúp của công nghệ

Đối với HStrường THPT, NLSD CNTT chủ yếu tập trung vào:

+ Sử dụng Internet hiệu quả để tìm kiếm, thu thập thông tin để hoàn thành các nhiệm vụ học tập môn Lịch sử

+ Biết sử dụng các phần mềm, công cụ công nghệ như Microsoft OfficeWord, Microsoft Office Powerpoint, Microsoft Office Publisher, Prezi, ProshowProduce, Imind Map, Hot Potatoes…

Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung vào việc phát triển NLSD CNTT cho HS trong DHLS trên 3 phương diện:

+ Khai thác thông tin, tìm kiếm thông tin

+ Trình bày thông tin với sự trợ giúp của phần mềm Prezi, ImindMap 9.0 và phần mềm hỗ trợ làm phim Proshow Produce

+ Thể hiện ý tưởng sáng tạo, quan điểm của cá nhân

Việc xác định và làm rõ các biểu hiện của NLSD CNTT trong dạy học nóichung và DHLS nói riêng sẽ là căn cứ quan trọng để xác định mục tiêu, lựa chọnnội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra, đánh giá cho lĩnhvực học tập môn Lịch sử

Trang 25

Trong thực tế, dạy học theo định hướng năng lực cũng đã bước đầu đượctriển khai tại các trường phổ thông qua một số hoạt động dạy học và giáo dục nhưdạy học theo chủ đề liên môn, vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đềthực tiễn, dạy học thông qua di sản… Như vậy, để dạy học theo định hướng pháttriển năng lực HS đặc biệt là dạy học phát triển NLSD CNTT cho HS một mặt cầnthực hiện tốt các nội dung nêu trên, mặt khác cần nắm vững nội hàm của các nănglực chung, năng lực chuyên biệt đã được làm rõ ở trên để mỗi hoạt động dạy học vàgiáo dục đều hướng tời hình thành, phát triển một hoặc một số các năng lực đó.

Các yếu tố cấu thành NLSD CNTT của HS

Năng lực là một cấu trúc tâm lý động, được hình thành từ hoạt động thựctiễn, hoạt động xã hội của mỗi cá nhân Trong quá trình hoạt động thực tiễn và hoạtđộng xã hội cá nhân nhận thức, lĩnh hội được các tri thức (kiến thức) về đối tượng,điều kiện và phương tiện hoạt động Có tri thức rồi chưa đủ, để đảm bảo cho conngười hoạt động có hiệu quả, nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng 85%người tìm được việc làm, được thăng chức, khả năng thành công trong công việc lànhờ vào thái độ của họ, còn 15% là do trí thông minh và kiến thức thực tiễn

Qua khái niệm về NLSD CNTT đã được khái quát ở trên, ta có thể thấy, NLSDCNTT được cấu thành bởi các yếu tố chủ quan của HS bao gồm: kiến thức về CNTTcủa HS, kỹ năng sử dụng CNTT và thái độ học hỏi về kiến thức, kỹ năng sử dụngCNTT của HS để ứng dụng vào hoạt động học tập của mình Qua quá trình phấn đấuđạt được các yếu tố cũng chính là quá trình nâng cao NLSD CNTT của mình

+ Kiến thức CNTT của HS

Ban đầu, kiến thức là mục tiêu quan trọng nhất phải hướng tới Kiến thức haytri thức là sự hiểu biết của con người đối với thế giới khách quan và khả năng vậndụng chúng vào thực tiễn Tri thức cũng là sự tích luỹ thông tin và những kỹ năng

có được qua việc sử dụng chúng Khi thông tin được con người thu nhận, xử lý,giúp con người nhận thức, hiểu biết về thế giới khách quan, vận dụng vào hoạt độngthực tiễn và nâng cao được kỹ năng khi đó thông tin biến thành tri thức Kiến thứcCNTT của HS là sự hiểu biết của HS trong lĩnh vực CNTTbao gồm kiến thức vềviệc sử dụng Internet và các phần mềm, công cụ công nghệ hỗ trợ việc học tập nóichung và việc học Lịch sử nói riêng

Trang 26

+ Kỹ năng sử dụng CNTT của HS

Đánh giá về tầm quan trọng của kĩ năng có tác giả nhận định “kĩ năng chính

là công cụ để gia tăng giá trị cho kiến thức” Theo Từ điển Tiếng Việt kỹ năng là

“khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào

thực tế” Kỹ năng là hệ thống các thao tác hành động, hành vi được tư duy và cảm

xúc tích cực lựa chọn từ những tri thức, vốn sống kinh nghiệm, thái độ của cá nhântrong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể đảm bảo hoạt động có kết quả theo hướngtích cực Kỹ năng là sản phẩm tích hợp đỉnh cao biểu hiện của năng lực

Trên thực tế, kiến thức và kỹ năng là hai thành tố liên hệ chặt chẽ với nhau

để quyết định năng lực Kiến thức có vai trò chi phối, quyết định kỹ năng, có nghĩarằng kiến thức càng rộng, càng sâu thì kỹ năng càng giỏi Nhưng nếu kỹ năng khôngđược rèn luyện thường xuyên thì dù kiến thức có uyên thâm đến mấy cũng đem lạikết quả công việc không tương xứng Kỹ năng đóng vai trò là cầu nối giữa nhậnthức của con người và hành động của họ Nếu một người có kiến thức mà khôngđược học tập, rèn luyện kỹ năng thì không thể hoàn thành được bất cứ hoạt độngnào theo đúng những gì người đó nhận thức Có thể nói, đặc điểm quan trọng nhấtcủa kỹ năng đó là được hình thành từ các phản xạ có điều kiện, mà ở đây tựu trunglại là từ quá trình đào tạo và rèn luyện trong thực tế: học và hành Do đó, quá trìnhhình thành và hoàn thiện kỹ năng của mỗi cá nhân gắn liền với quá trình học tập:học tập chủ động (tự học) và học tập thụ động (có người dạy) Trong đó quá trình tựhọc có vai trò quan trọng nhất, vì đó là quá trình tiếp thu kiến thức và cả các kỹnăng một cách chủ động, tự giác, tích cực và phong phú, sát thực tế nhất Kỹ năng

sử dụng CNTT theo nguyên nghĩa thì rất rộng lớn, gồm rất nhiều nhóm kỹ năngkhác nhau và chắc chắn rằng không một cá nhân nào có đủ điều kiện để hoàn thiệnđược Kỹ năng sử dụng CNTT trước hết phải được hiểu là kỹ năng tìm kiếm thôngtin trên Internet và kỹ năng sử dụng các phần mềm, công cụ công nghệ hỗ trợ họctập của HS Tóm lại, kỹ năng sử dụng CNTT của HS là khả năng của HS trong việcthực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thứchoặc kinh nghiệm) về CNTT và ứng dụng vào hoạt động học tập nhằm đạt kết quảmong đợi

Kỹ năng sử dụng CNTT phục vụ cho hoạt động học tập chủ yếu nhất bao gồm:

+ Nhóm kỹ năng sử dụng các phần mềm học tập bao gồm khả năng vận dụngcác kiến thức về phần mềm soạn thảo văn bản Microsoft Office Word, trình chiếu

Trang 27

Microsoft Office Powerpoint, Prezi; biên tập ảnh, video, ấn phẩm như MicrosoftOffice Publisher, Proshow Produce; phần mềm sơ đồ tư duy ImindMap… để phục

vụ vào công việc học tập

+ Nhóm kỹ năng về sử dụng mạng máy tính bao gồm khả năng duyệt web,gửi thư điện tử, trao đổi thông tin qua chat, forum, blog, mạng xã hội, lớp học ảo , nhằmxem, nghe, đọc, viết cũng như gửi (upload) và nhận (download), tìm kiếm, tổng hợpthông tin, đào tạo trực tuyến trên mạng Internet

Thái độ (attitude) về bản chất là một cấu trúc tâm lý tích hợp từ nhận thứccảm xúc của cá nhân, thực hiện chức năng đánh giá, định hướng, điều chỉnh, điềukhiển, thúc đẩy hành vi hoạt động của cá nhân, nhóm xã hội hướng tới các mục tiêuphát triển cá nhân và cộng đồng xã hội trong các điều kiện lịch sử - xã hội nhấtđịnh Theo cách hiểu này thì thái độ bao gồm hai nội dung đó là nhận thức và cảmxúc Thái độ học hỏi và ứng dụng CNTT của HS được thể hiện ở việc sẵn sàng tiếpthu kiến thức và kỹ năng sử dụng CNTT mới, ứng dụng các phần mềm mới vào việchọc tập, tiếp thu ý kiến tư vấn, phê bình trong việc ứng dụng CNTT hỗ trợ học tập,luôn có tinh thần cầu thị, học hỏi các GV về việc sử dụng CNTT

Tóm lại, thái độ học hỏi là ý thức, cách suy nghĩ, cách học tập, nghiên cứuquá trình tiếp thu những cái mới, bổ sung, trau dồi các kiến thức, kỹ năng, kinhnghiệm, giá trị, nhận thức của con người Thái độ học hỏi CNTT của HS là ý thức,cách suy nghĩ, cách học tập, nghiên cứu của HS về CNTT và việc ứng dụng, sửdụng nó vào việc học tập nhằm hoàn thành các nhiệm vụ học tập, nâng cao chấtlượng đào tạo

Bên cạnh đó, NLSD CNTT của HS còn bao gồm môi trường, bối cảnh cụ thể

để kiểm chứng Khi HS đã có kiến thức về CNTT, kĩ năng sử dụng CNTT cũng nhưthái độ sử dụng CNTT thì yếu tố môi trường là yếu tố quan trọng, là điều kiện đểkiểm chứng NLSD CNTT của HS Đó là lý do tại sao các nhà trường phổ thông cầntrang bị cơ sở vật chất hạ tầng, phương tiện kĩ thuật hiện đại để trợ giúp HS trongquá trình học tập và rèn luyện kĩ năng

1.1.2 Vị trí, ý nghĩa của việc phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học lịch sử

1.1.2.1 Vị trí

Trang 28

Thời đại hiện nay là thời đại bùng nổ thông tin, thời đại của cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật, vì vậy việc phát triển NLSD CNTT cho HS trong dạy học nóichung, DHLS ở trường phổ thông nói riêng là một yêu cầu cấp thiết Nhận thứcđược tầm quan trọng đó, Nghị quyết Trung ương II, khoá VIII khẳng định, phải

“đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn

luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện

và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS”.

CNTT là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật Nóthâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng côngnghệ trong sản xuất, giáo dục, đào tạo và các hoạt động chính trị - xã hội khác.Trong giáo dục - đào tạo, CNTT & TT được sử dụng vào tất cả các môn học tựnhiên, kỹ thuật, xã hội và nhân văn Hiệu quả rõ rệt là chất lựơng giáo dục tăng lên

cả về mặt lý thuyết và thực hành Tuy nhiên, nếu việc ứng dụng CNTT trong dạyhọc đang được đẩy mạnh với các môn Hoá học, Vật lý, Sinh học, Địa lý,… và thuđược kết quả cao, thì với bộ môn Lịch sử việc ứng dụng này còn rất hạn chế, chưađem lại kết quả gì đáng kể Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng này như việc đánh giáchưa đúng đắn về vai trò của CNTT đối với bộ môn Lịch sử, sự thiếu trang bị cơ sởvật chất kỹ thuật hiện đại cho các trường học, hoặc có trang bị nhưng chưa đồng

bộ Song, nguyên nhân cơ bản được chúng ta quan tâm hiện nay là “sự thiếu hiểu

biết” của đội ngũ GV lịch sử về CNTT.

NLSD CNTT là một trong những năng lực công cụ rất cần thiết đối với HS,việc phát triển cho HS năng lực này có thể giúp HS phát huy tính chủ động, sáng tạotrong việc hoàn thành các nhiệm vụ học tập Việc phát triển năng lực CNTT cho HS

có ý nghĩa to lớn trên cả 3 mặt: giáo dưỡng, giáo dục và phát triển HS trong DHLS

Về mặt giáo dưỡng: Đối với HS, khi được học tập lịch sử mà có sự hỗ trợ của

CNTT sẽ góp phần bồi dưỡng, làm sâu sắc, phong phú, toàn diện tri thức lịch sử củacác em Thông qua phần trình diễn bài giảng của GV với những hiệu ứng, văn bản

và hình ảnh lịch sử sinh động, sẽ cuốn hút HS vào bài giảng, giúp các em lĩnh hộikiến thức dễ dàng, chủ động Việc GV sử dụng các thao tác giảng dạy linh hoạt trênmáy, cung cấp thông tin đến HS nhanh chóng và đảm bảo tính sư phạm cao cũnggiúp cho HS hiểu được bản chất của sự kiện, hiện tượng, tránh được tình trạng

Trang 29

“hiện đại hoá lịch sử” Thông qua việc GV ứng dụng CNTT vào việc DHLS thì việc

phát triển NLSD CNTT cho HS cũng được cải thiện cụ thể đó là thông qua cácnhiệm vụ môn học, người GV cung cấp cho HS vốn kiến thức về công nghệ, kĩnăng sử dụng các phần mềm hỗ trợ học tập cũng như thái độ tích cực khi sử dụngcác phần mềm tiện ích phục vụ cho việc học tập môn Lịch sử

Về giáo dục: việc phát triển NLSD CNTT cho HS trong DHLS sẽ có tác

dụng rất lớn đối với việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ của HS.Thông qua các nhiệm vụ trong quá trình học tập dưới sự hỗ trợ của các phần mềm,công cụ công nghệ mọi tâm tư tình cảm, thái độ yêu ghét của HS sẽ được bộc lộ.Đây cũng chính là đặc trưng giáo dục của bộ môn

Về mặt phát triển: mục tiêu của giáo dục phổ thông nói chung và DHLS nói

riêng nhằm phát triển toàn diện cho HS về kiến thức, kĩ năng cũng như thái độ.Ngoài việc phát triển cho HSNLSD CNTT thì thông qua việc DHLS, HS cũng sẽđược rèn luyện và phát triển các năng lực khác như năng lực tự học, năng lực giaotiếp…

Yêu cầu về nội dung kiến thức.

Khi tiến hành tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát triển NLSD CNTTcho HS hay nói cách khác là hướng dẫn HS sử dụng các phần mềm, các công cụ đểthiết kế các sản phẩm học tập GV cần đảm bảo các nội dung kiến thức sau:

- Đảm bảo tính khoa học, chính xác và hệ thống.

Trang 30

Trong dạy học nói chung và đặc biệt là DHLS nói riêng GV phải luôn đảmbảo mọi kiến thức cung cấp cho HS là chính xác mang tính khoa học cao về tài liệu,quan điểm và phương pháp luận.

Khi hướng dẫn HS sử dụng các phần mềm để thiết kế các sản phẩm học tậpthì GV phải định hướng cho HS những nội dung bám sát SGK, phải căn cứ vào mụctiêu, cấu trúc nội dung của từng bài học cụ thể trong SGK để lựa chọn các hình ảnh,

sự kiện phù hợp với các phần mềm và những kiểu thiết kế khác nhau Trong thực tếrất nhiều sản phẩm của HS khi thiết kế vẫn giữ nguyên những nội dung dàn trảitrong SGK, thiếu trọng tâm và làm cho bài học trở nên nặng nề, rời rạc, thiếu loogic.Hoặc một số khác có lược bỏ nội dung trong SGK nhưng đôi khi các em chưa biếtxác định trọng tâm của bài học nên đã bỏ qua các sự kiện quan trọng, không hệthống hóa được kiến thức Tuy nhiên, để khắc phục tình trạng trên, trước khi giaonhiệm vụ cho HS,GV cần định hướng những nội dung kiến thức quan trọng mà các

em cần thể hiện trong sản phẩm học tập của mình để đảm bảo tính khoa học, chínhxác và hệ thống của kiến thức Tuy nhiên, cũng cần đảm bảo tính vừa sức, ngắn gọnsúc tích, cụ thể hóa được những kiến thức cơ bản choHS dễ nhớ, dễ hiểu

Tóm lại, việc đảm bảo tính khoa học, chính xác hệ thống khi lựa chọn nộidung bài học không chỉ là nguyên tắc giáo dục mà còn là biện pháp quan trọng đểnâng cao hiệu quả bài học nhất là đối với môn Lịch sử Nó đảm bảo cho HS đượcđáp ứng đầy đủ về nội dung kiến thức cũng như về kỹ năng, tư tưởng tình cảm

- Đảm bảo tính cụ thể, hình ảnh và sinh động.

Xuất phát từ quy luật nhận thức của V.I.Lê-nin: “Từ trực quan sinh động đến tư

duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn” cho nên tính trực quan sinh

động là nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng

Do đặc trưng của lịch sử nên HS không thể trực tiếp quan sát được các sựkiện, hiện tượng và cũng không thể tiến hành thí nghiệm để khôi phục lại quá khứ.Bởi vậy, việc tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát triển NLSD CNTT cho HSdưới sự trợ giúp của các phần mềm/ công cụ công nghệ sẽ giúp HS cụ thể hóa đượckiến thức bài học, lưu lại những biểu tượng thông qua các hình ảnh cụ thể Khi GVhướng dẫn HS thiết kế các sản phẩm học tập trên các phần mềm cần phải địnhhướng cho HS phải có hệ thống kênh hình phong phú, hình ảnh sinh động để pháttriển tư duy tưởng tượng và tăng hứng thú cho HS đối với bộ môn Lịch sử

Trang 31

Khi GV hướng dẫn HS sử dụng các sản phẩm học tập phải hướng đến mụctiêu phát triển năng lực trí tuệ, tư duy và bồi dưỡng tình cảm đạo đức tốt đẹp cho

HS Ngoài ra, nó còn phải phù hợp với sự phát triển chung của nhân loại, với quanđiểm, đường lối chỉ đạo của Đảng ta, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động Mặc dù các phầnmềm có ưu thế trong việc sử dụng màu sắc, hình ảnh, âm thanh song GV phải địnhhướng cho HS sử dụng phù hợp với nội dung bài học phải đảm bảo tính thẩm mỹ,

dễ khai thác, cô đọng, súc tích và dễ hiểu

Yêu cầu về phương pháp.

Một trong những yêu cầu tất yếu của tất cả các PPDH đó là phải phát huy tínhtích cực, độc lập và sáng tạo của HS Bởi vậy, GV khi tổ chức các hoạt động học tập

với sự hỗ trợ của phần mềm cần phải thiết kế: “một tập hợp các hoạt động nhằm làm

chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ động tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập” Do vậy, khi tổ

chức các hoạt động học tập GV cần vận dụng linh hoạt, mềm dẻo các phương pháp chophù hợp với nội dung của bài học và hình thức tổ chức giờ học để đạt hiệu quả cao Khihướng dẫn HS sử dụng phần mềm thiết kế sản phẩm học tập GV cần:

- Phải giúp HS nắm vững kiến thức của bài học

- Phải thể hiện tính vừa sức với HS tùy thuộc vào điều kiện và trình độ củamỗi đối tượng HS mà GV sử dụng phương pháp khác nhau và đưa ra những yêu cầu phùhợp

- Đặc biệt, phải góp phần phát triển tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.Muốn làm được những điều đó GV cần biết tổ chức các hoạt động, kết hợp sử dụng nhiềuphương pháp khác nhau để đạt hiệu quả trong giờ học, phát huy được tính chủ

động, tích cực của HS

Yêu cầu về kiểm tra đánh giá:

Việc tiến hành kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng nhằm đưa ra cácbiện pháp nâng cao hiệu quả môn học Cùng với kiểm tra đánh giá định kỳ thì việckiểm tra đánh giá thường xuyên được tiến hành trong suốt tiến trình dạy học trênlớp như là một thành tố của PPDH Bởi việc tổ chức các hoạt động học tập với sự

hỗ trợ của phần mềm thì vai trò của HS là chủ động tìm kiếm kiến thức dựa trênnhững định hướng của GV, cho nên GV phải thường xuyên kiểm tra đánh giá xem

HS lĩnh hội được những gì và các sản phẩm mà HS làm ra có đáp ứng các yêu cầu

Ngày đăng: 29/10/2020, 21:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w