Công cuộcđổi mới này đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới và hiện đại hóa phương pháp dạyhọc theo hướng chuyển từ truyền đạt tri thức thụ động sang hướng dẫn học chủđộng tiếp cận tri thứ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo daỵ lơp cao hocc̣ chuyên
ngành ly luâṇ va phương phap daỵ hocc̣ b
Giáo dục đa truyền đaṭnhưng kiến
́̃trong suốt khoa hocc̣
́́
Em xin gưi lơi cam ơn chân thanh đến Ban Giam hiêụ
́̉khoa Hoa hocc̣ trương Đaịhocc̣ Giáo d
́́
tâpc̣ vàthưcc̣ hiêṇ luâṇ văn
Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng các thầy cô giáo trườngTHPT Văn Giang, THPT Nam Khoái Châu và các em học sinh khối 11 đã nhiệt tìnhgiúp đỡ trong quá trình hoàn thành luận văn
Cuối cùng xin cám ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thànhluận văn này
Hà Nội, 02 tháng 09 năm 2017
TÁC GIẢ
Hoàng Việt Hưng
i
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
GQVĐ Giải quyết vấn đề
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 6 1.1.Đổi mới phương pháp dạy học hóa học theo hướng dạy học tích cực 6
1.1.1.Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học 6
1.1.2.Phương pháp dạy học 7
1.1.3.Phương pháp dạy học tích cực theo hướng tích hợp 20
1.2.Năng lực và phát triển năng lực cho học sinh trường Trung học phổ thông 24
1.2.1.Năng lực 24
1.2.2.Năng lực giải quyết vấn đề 26
1.3.Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học theo hướng tích hợp trong dạy học môn Hóa học 31
1.4.Đánh giá thực trạng dạy học hoá học theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh ở một số trường trung học phổ thông của tỉnh Hưng Yên hiện nay 32
1.4.1.Mục đích điều tra 32
1.4.2.Nhiệm vụ điều tra 32
1.4.3.Đối tượng điều tra 32
1.4.4.Kế hoạch điều tra 33
1.4.5.Phân tích kết quả 33
CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÔNG QUA DẠY HỌC NỘI DUNG AXIT CACBOXYLIC 44
iii
Trang 62.1.Phân tích nội dung phần axit cacboxylic – Hóa học 11 44
2.1.1.Chuẩn kiến thức, kĩ năng nội dung axit cacboxylic 44
2.1.2.Cấu trúc phần axit cacboxylic 44
2.2.Nguyên tắc lựa chọn nội dung dạy học để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trường Trung học phổ thông 46
2.3.Một số biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh thông qua dạy học theo hướng tích hợp ở trường Trung học phổ thông 46
2.3.1.Định hướng xác định các biện pháp 46
2.3.2.Nguyên tắc lựa chọn các biện pháp 47
2.4.Thiết kế một số kế hoạch bài dạy học trong nội dung axit cacboxylic có sử dụng phương pháp dạy học tích cực theo hướng tích hợp để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trường Trung học phổ thông 47
2.4.1.Nội dung kế hoạch bài dạy học 48
2.4.2.Tổ chức dạy học chủ đề 48
2.5.Thiết kế bộ công cụ để kiểm tra, đánh giá 81
2.5.1.Đánh giá năng lực giải quyết vấn đề thông qua dạy học theo chủ đề tích hợp 81 2.5.2.Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề 84
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 88
3.1.Mục đích thực nghiệm sư phạm 88
3.2.Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 88
3.3.Địa bàn và đối tượng thực nghiệm sư phạm 88
3.4.Tiến trình thực nghiệm sư phạm 88
3.4.2.Trao đổi với giáo viên dạy thực nghiệm 89
3.4.3.Tiến hành dạy ở các lớp TN – ĐC 89
3.4.4.Kiểm tra, chấm bài 90
3.4.5.Xử lý kết quả thu được 90
3.5.Kết quả thực nghiệm 92
3.6.Phân tích kết quả thực nghiệm 96
iv
Trang 73.6.1.Tỷ lệ học sinh yếu kém, trung bình, khá và giỏi 97
3.6.2.Đồ thị các đường lũy tích 97
3.6.4.Kiểm tra kết quả thực nghiệm bằng phép thử Student 98
3.6.5.Đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 107
1.Kết luận 107
2.Khuyến nghị 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 112
v
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Ví dụ về hoạt động của các HS trong nhóm 14
Bảng 1.2 Những biểu hiêṇ / tiêu chí của năng lưcc̣ giải quyết vấn đềcủa ho c̣ c sinh Trung hocc̣ phổ thông 28
Bảng 1.3 Kết quả điều tra thực trạng (đối với GV) 33
Bảng 2.1 Mục tiêu các bài cụ thể của nội dung “Axit cacboxylic” 45
Bảng 2.2 Kế hoạch dự án 69
Bảng 2.3 Hoạt động của GV và HS trong dự án 72
Bảng 2.4 Kế hoạch thực hiện công việc 73
Bảng 2.5 Hoạt động của GV và HS trong giai đoạn III 74
Bảng 2.6 Hoạt động của GV và HS trong khâu đánh giá 74
Bảng 2.7 Phiếu hướng dẫn thực hiện dự án 75
Bảng 2.8 Bảng mô tả các mức độ nhận thức và câu hỏi/ bài kiểm tra đánh giá trong quá trình DHCĐ 77
Bảng 2.9 Cấu trúc của năng lưcc̣ giải quyết vấn đề 81
Bảng 2.10 Các mức độ của tiêu chí đánh giá NL GQVĐ 81
Bảng 3.1 Danh sách các trường, lớp và giáo viên thực nghiệm 89
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả qua 2 bài kiểm tra 92
Bảng 3.3 Bảng phân phối tần số, tuần suất, tần suất lũy tích (bài 15 phút) 93 Bảng 3.4: Bảng phân phối tần số, tuần suất, tần suất lũy tích (bài 45 phút) 94
Bảng 3.5 Tổng hợp các tham số đặc trưng 95
Bảng 3.6 Tỉ lệ HS đạt điểm yếu kém, trung bình, khá, giỏi 95
Bảng 3.7 Kết quả các câu trả lời của HS có liên quan đến thực tiễn 99
Bảng 3.8 Kết quả bảng quan sát học sinh của giáo viên 99
Bảng 3.9 Kết quả phiếu hỏi về việc tự đánh giá mức độ của năng lực giải quyết vấn đề (học sinh lớp thực nghiệm) 102
vi
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cấu trúc của quá trình dạy học theo nhóm 13
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 15 phút 94
Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 45 phút 95
Hình 3.3 Biểu đồ phân loại kết quả học sinh qua bài kiểm tra 15 phút 96
Hình 3.4 Biểu đồ phân loại kết quả học sinh qua bài kiểm tra 45 phút 96
Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện tình cảm của HS với phươngpháp dạy thực nghiệm 107
vii
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Để đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực trong thời kì hội nhập quốc tế sâurộng, cần có sự chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo Công cuộcđổi mới này đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới và hiện đại hóa phương pháp dạyhọc theo hướng chuyển từ truyền đạt tri thức thụ động sang hướng dẫn học chủđộng tiếp cận tri thức, dạy cho học sinh phương pháp tự học, phát huy tính tích cực,chủ động trong việc tiếp thu tri thức
Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá ởcác trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của học sinh trên tinh thần
Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo [7], sau khi Quốc hội thông qua đề án đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông, Bộ GD-ĐT
tiếp tục chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho độingũ giáo viên sẵn sàng đáp ứng mục tiêu đổi mới, trong đó tăng cường năng lực dạyhọc theo hướng “tích hợp, liên môn” là một trong những vấn đề cần ưu tiên
Hóa học là một trong những môn học thuộc nhóm môn Khoa học tự nhiên cóvai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục, trong đó có phát triểnnhững năng lực cần thiết cho học sinh, giúp họ có khả năng làm việc chủ động, độclập và sáng tạo trong thực tiễn Vì vậy, việc nghiên cứu và áp dụng các phươngpháp dạy học tích cực vào trong quá trình dạy học hóa học ở trường Trung học phổthông (THPT) đang là vấn đề hết sức cần thiết, giúp học sinh tích cực, chủ độngsáng tạo trong việc tiếp thu và vận dụng kiến thức một cách có hiệu quả, qua đóhình thành và phát triển những năng lực cần thiết đáp ứng nhu cầu xã hội
Từ những lí do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài:“Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học tích hợp nội
dung axit cacbolylic – Hóa học 11”.
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu nước ngoài:
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, ở các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là LiênXô,vấn đề rèn luyện năng lực cho học sinh trong nhà trường được đặc biệt quan tâm,điển hình là các tác giả I Ia Lecne, M I Macmutov, M N Xkatin, V
1
Trang 11Okon, V G Razumovski Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, tiếp tục xuất hiệnnhững công trình nghiên cứu và các bài viết về tư duy sáng tạo và phát triển sángtạo của Robert Z Strenberg và Wendy M William (1996).
Howard Gardner (1996) đã đề cập đến khái niệm năng lực qua việc phân tíchbảy mặt biểu hiện của trí tuệ con người: ngôn ngữ, logic toán học, âm nhạc, khônggian, thể hình, giao tiếp và nội cảm Ông khẳng định rằng: mỗi mặt biểu hiện của trítuệ con người đều được thể hiện và biểu lộ dưới dạng sơ đẳng hoặc sáng tạo đỉnhcao Để giải quyết một vấn đề “có thực” trong cuộc sống thì con người không thểhuy động duy nhất một mặt của biểu hiện trí tuệ nào đó mà phải kết hợp nhiều mặtbiểu hiện của trí tuệ liên quan đến nhau Sự kết hợp đó tạo thành năng lực cá nhân
H Gardner đã kết luận rằng: “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có
kết quả và có thể đánh giá hay đo đạc được”.
Nghiên cứu trong nước:
Người đầu tiên đưa phương pháp dạy học GQVĐ vào Việt Nam là dịch giả
Phạm Tất Đắc với cuốn sách “Dạy học nêu vấn đề” của tác giả I Ia Lecne (người
Nga) do nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1977 Về sau, có nhiều nhà khoa họcnghiên cứu phương pháp này như Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Bá Kim, Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu chỉ nghiên cứu ở mức lý luận và có ápdụng trong môn Toán học ở trường phổ thông và đại học Gần đây, Nguyễn Kì đãđưa PPDH phát hiện và GQVĐ vào trường tiểu học ở một số môn như Toán, Tựnhiên - Xã hội, Đạo đức
Đối với môn Hóa học, phương pháp dạy học phát hiện và GQVĐ cũng đượccác tác giả Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Cương, Dương Xuân Trinh đề cập đếntrong cuốn sách: Lý luận dạy học hóa học, tập 1, nhà xuất bản Giáo dục năm 1982,
sau này được bổ sung trong cuốn: “Phương pháp dạy học Hóa học ở trường phổ
thông và đại học Một số vấn đề cơ bản” nhà xuất bản Giáo dục năm 2007 của tác
giả Nguyễn Cương
Hiện nay đã có một số đề tài luận văn thạc sĩ và một số bài báo nghiên cứu vềDHTH như:
1.Nguyễn Thị Hà Lan (2013), Nhận thức của giảng viên và sinh viên về những yêucầu trong dạy học Giáo dục học theo tiếp cận giải quyết vấn đề, Tạp chí Khoa học
và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế
2
Trang 122.Phan Đồng Châu Thủy, Nguyễn Thị Ngân (2016), Biện pháp sử dụng bài tập tíchhợp nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học phần Phikim, Hóa học lớp 10 cơ bản, Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sưphạm Huế.
3 Đặng Thị Nga (2015), Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thôngqua dạy học phần hidrocacbon lớp 11 trung học phổ thông, Luận văn Thạc sĩ sưphạm Hóa học, Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
4.Dương Thị Hồng Hạnh (2015), Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho họcsinh thông qua dạy học chương sự điện li - Hóa học lớp 11 nâng cao, Luận vănThạc sĩ sư phạm Hóa học, Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Hầu hết các nghiên cứu đều tâp trung đi sâu vào phương pháp dạy họcGQVĐ, những nghiên cứu về năng lực GQVĐ còn rất hạn chế Vì vậy, với đề tàitrên tôi hyvọng sẽ có thêm những đóng góp về việc phát triển năng lực giải quyếtvấn đề chohọc sinh một cách tốt nhất
3 Mục đích nghiên cứu
Áp dụng một số phương pháp dạy học tích cực để phát triển năng lực giảiquyết vấn đề (NLGQVĐ) cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học tích
hợp nội dung “Axit cacboxylic” – Hóa học 11.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên chúng tôi xác định thực hiện các nhiệm vụ:
- Nghiên cứu tổng quan cơ sở lí luận về những vấn đề liên quan đến đề tài: Đổimới phương pháp dạy học hóa học, dạy học tích hợp, những vấn đề tổng quan vềnăng lực, NLGQVĐ
- Đánh giá thực trạng việc dạy học bộ môn Hóa học ở một số trường THPT hiện nay về vấn đề phát triển những năng lực cần thiết cho học sinh
- Lựa chọn nội dung tích hợp trong phần axit cacboxylic nhằm phát triểnNLGQVĐ cho học sinh THPT và các biện pháp triển khai dạy học tích hợp ở trường
- Thiết kế một số giáo án dạy học trong nội dung axit cacboxylic có sử dụngphương pháp dạy học tích cực theo hướng tích hợp để phát triển NLGQVĐ cho họcsinh THPT
3
Trang 13- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và tính hiệu quả của những biện pháp và những đề xuất của đề tài.
5 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực theo hướng tích hợp nộidung axit cacboxylic – Hóa học 11 một cách phù hợp và hiệu quả thì sẽ làm cho họcsinh tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập, qua đó góp phần phát triểnNLGQVĐ cho học sinh, nâng cao chất lượng dạy học hoá học ở trường THPT
6 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học môn hóa học ở trường trung học phổ thông
- Các chủ đề dạy học tích hợp nội dung axit cacboxylic
- Phương pháp tổ chức dạy học nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh THPT
7 Điểm mới của luận văn
- Góp phần tổng quan cơ sở lý luận về việc hình thành, phát triển NLGQVĐ cho học sinh THPT thông qua dạy học bộ môn Hoá học
- Điều tra, đánh giá được thực trạng dạy học hoá học theo hướng phát triển những năng lực cần thiết cho học sinh ở một số trường THPT hiện nay
- Xây dựng một số chủ đề tích hợp phần Axit cacboxylic;
- Đề xuất được một số biện pháp hình thành, phát triển NLGQVĐ cho học sinh thông qua việc áp dụng một số phương pháp dạy học tích cực theo hướng tích hợp
- Vận dụng dạy học tích hợp phù hợp với tâm, sinh lí học sinh THPT và nội dung giáo dục hiện nay nhằm phát triển tối đa NLGQVĐ cho học sinh
- Phân tích, lí giải được kết quả thực nghiệm sư phạm
8 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung phần axit cacboxylic – Hóa học 11
- Các nội dung axit cacboxylic có trong chương trình Hóa học ở các mức độ trung
học cơ sở và trung học phổ thông
9 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp sau:
4
Trang 149.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu nội dung các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, BGD&ĐT
- Nghiên cứu cơ sở Tâm lí học, Giáo dục học, Triết học, của việc hình thành,phát triển NLGQVĐ cho học sinh ở trường THPT
- Nghiên cứu nội dung các tài liệu liên quan đến lí luận dạy học, phương phápdạy học môn Hoá học, tài liệu học tập về PPDH theo hướng tích hợp
9.2.1 Điều tra, phỏng vấn
- Phỏng vấn trực tiếp giáo viên, sinh viên, học sinh
- Điều tra thực tiễn dạy và học hóa học của giáo viên và học sinh trường THPT, quan sát các giờ dạy học của giáo viên và học sinh
- Xây dựng bảng kiểm quan sát NLGQVĐ của học sinh THPT, đánh giá sự
tiến bộ qua quá trình bồi dưỡng và phát triển NLGQVĐ.
9.2.2 Phương pháp chuyên gia
- Xin ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục về việc hình thành và phát triển NLGQVĐ
- Xin ý kiến các giáo viên hoá học về việc áp dụng một số phương pháp dạy học tích cực theo hướng tích hợp để hình thành, phát triển NLQVĐ cho học sinh
9.2.3 Thực nghiệm sư phạm
Nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và tính hiệu quả của những biện pháp, đề xuất của đề tài
Áp dụng toán thống kê, những thành tựu nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, phần mềm chuyên dụng, để xử lý số liệu thực nghiệm
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nộidung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về vấn đề phát triển năng lực của học sinh
trong dạy học hóa học
Chương 2: Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông
thông qua dạy học nội dung axit cacboxylic
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
5
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG
LỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC
1.1.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong các Nghịquyết Trung ương từ năm 1996, được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12-1998),đặc biệt tái khẳng định trong điều 28.2, Luật Giáo dục (2005): “Phương pháp giáodục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học;bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập
và ý chí vươn lên”
Mục đích cuối cùng của đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông làđổi lối học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học tíchcực” Qua đó, giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sánh tạo; rèn luyệnthói quen, khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dung kiến thức vàonhững tình huống khác nhau trong học tập, trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui,hứng thú trong học tập Làm cho “học” là quá trình kiến tạo, HS tìm tòi, khám phá,phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực vàphẩm chất Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai; họcnhững cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và cho sự phát triển của toàn xã hội[1]
Cụ thể hóa những định hướng trên, việc đổi mới phương pháp hóa học hiệnnay đi theo các định hướng sau:
- Chuyển từ mô hình dạy học truyền thụ 1 chiều sang mô hình hợp tác 2 chiều
- Học không chỉ để nắm kiến thức mà cả phương pháp đi đến kiến thức
- Học cách học, trọng tâm là cách tự học, cách tự đánh giá
- Học lấy việc áp dụng kiến thức và bồi dưỡng thái độ làm trung tâm
- Rèn luyện trí thông minh cho HS
- Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực
- Sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại và đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng của công nghệ thông tin
6
Trang 161.1.2 Phương pháp dạy học
Thuật ngữ phương pháp dạy học bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methodos) cónghĩa là con đường để đạt được mục tiêu Theo đó, phương pháp dạy học là conđường để đạt mục tiêu dạy học Theo nghĩa rộng có thể hiểu: phương pháp dạy học
là hình thức và cách thức hoạt động của GV và HS trong những điều kiện xác địnhnhằm đạt mục tiêu dạy học
Phương pháp dạy học [3]: Khái niệm phương pháp dạy học ở đây được hiểutheo nghĩa hẹp, đó là các PPDH cụ thể, các mô hình hành động PPDH cụ thể lànhững hình thức và cách thức hành động của GV và HS nhằm thực hiện những mụctiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và những điều kiện dạy học cụthể PPDH cụ thể quy định những mô hình hành động của GV và HS
1.1.2.1 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiềunước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo định hướng phát huy tínhtích cực, chủ động sáng tạo của người học
“Tích cực” trong PPDH – tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với
tiêu cực Việc dùng thuật ngữ “Dạy và học tích cực” để phân biệt với “Dạy và học
thụ động”.
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhậnthức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học,làm sao trong quá trình học tập, người học được hoạt động nhiều hơn, thảo luậncùng nhau nhiều hơn và quan trọng hơn là được suy nghĩa nhiều hơn[3]
1.1.2.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
Theo GS.TS Trần Bá Hoành, có thể nêu 4 dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau đây
đủ để phân biệt với các phương pháp thụ động[8]
a Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập cho HS
Trong PPDH tích cực, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời
là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ
chức và chỉ đạo, qua đó tự khám phá được những kiến thức mới Được đặt vàonhững tình huống, người học sẽ trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải
7
Trang 17quyết vấn đề đặt ra Nhờ vậy, HS vừa khám phá ra kiến thức, kĩ năng mới, vừa biết đượcphương pháp “tìm ra” kiến thức, kĩ năng đó mà không rập theo những khuôn mẫu sẵn có.Dạy học theo hướng này thì GV không chỉ truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hànhđộng và HS được bộc lộ cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của mình.
b Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp học
Dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ
là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học
Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí
tự học, thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong họ, kết quả
học tập sẽ được nhân lên, giúp họ dễ dàng thích ứng với cuộc sống xã hội pháttriển Vì vậy, hiện nay, người ta nhấn mạnh mặt hoạt động trong quá trình dạy học,
nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề
phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lênlớp mà tự học ngay trong tiết học có sự hướng dẫn của GV
c Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đềubuộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ họctập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa càng lớn.Tuy nhiên lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, thông qua thảoluận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác
bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trinh độ mới Do vậy, cần có sự phối hợp
cá thể và học tập hợp tác trong quá trình dạy học
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp độ nhóm,
tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp táctrong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất làlúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợpgiữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong mỗi hoạt động nhóm nhỏ sẽ
có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn,phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xãhội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phâncông hợp tác trong lao động xã hội
8
Trang 18d Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thựctrạng và điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận địnhthực trạng và điều chỉnh hoạt động của thầy
Trước đây, GV giữ độc quyền đánh giá HS Trong phương pháp tích cực, GVphải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liênquan với điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia đánh giálẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho
sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con ngườinăng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá khôngthể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phảikhuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huốngthực tế
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là mộtcông việc nặng nhọc đối với GV, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linhhoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học
1.1.2.3 Nguyên tắc lựa chọn phương pháp dạy học tích cực [3]
a Chọn những PPDH có khả năng cao nhất đối với việc thực hiện mục tiêu dạy học
Mỗi mô hình lí luận dạy học, PPDH đều có những điểm mạnh, điểm hạn chếnhất định Nhưng khi xem xét việc thực hiện một mục tiêu dạy học nhất định thì cómột số PPDH có khả năng cao hơn các PPDH khác Chẳng hạn nếu đặt mục tiêunhanh chóng truyền thụ cho xong nội dung quy định thì PPDH thuyết trình có vị tríquan trọng Nhưng nếu đặt mục tiêu phát triển năng lực tìm tòi sáng tạo của họcsinh thì vấn đề sẽ khác đi
Một kết quả nghiên cứu khác cũng cho thấy sự hạn chế của các PP dùng lờinói và đồng thời khuyến khích tổ chức các hoạt động tự lập của học sinh phối hợpcác PP nhằm huy động đồng thời nhiều giác quan của học sinh tham gia vào quátrình tri giác các đối tượng lĩnh hội
b Lựa chọn các PPDH tương thích với nội dung học tập
Giữa nội dung và PPDH có mối quan hệ tác động lẫn nhau, trong nhiều trườnghợp quy định lẫn nhau Ở bình diện kĩ thuật dạy học, PPDH cần tương thích với nộidung dạy học Nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất định
9
Trang 19c Lựa chọn PPDH cần chú ý đến hứng thú, thói quen của học sinh, kinh nghiệm
sư phạm của giáo viên
Cần chuẩn đoán nhu cầu, hứng thú của học sinh khi lựa chọn các PPDH Đốivới việc trình bày thông tin cần ưu tiên lựa chọn các PP sử dụng phương tiện nghenhìn, sử dụng truyền thông đa phương tiện càng tốt Đối với các hoạt động chế biếnthông tin cần tổ chức các hoạt động tự phát hiện, phối hợp với làm việc theo nhóm,phát huy càng tối đa tính tích cực, sáng tạo của học sinh càng tốt
Chú ý thay đổi PPDH và hình thức tổ chức dạy học tránh nhàm chán, gâyhứng thú cho học sinh Cần thay đổi PPDH sau 15, 20 phút Ưu tiên lựa chọn cácPPDH mà học sinh, giáo viên đã thành thạo Với các PPDH có ưu điểm tươngđương, cần ưu tiên lựa chọn PPDH mà GV và HS đã thành thạo, bởi thực hiện dễdàng hơn
Không vì tiêu chí này mà quay trở lại vớ PP truyền thụ một chiều Hiện nay,rất cần thiết phải cho GV và HS trở nên quen thuộc với các kĩ thuật dạy học mới cóhiệu quả cao trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục Để nâng cao tay nghề cần:
- Nghiên cứu các vấn đề đổi mới PPDH qua sách, vở, giáo trình, tạp chí chuyên môn, các lớp tập huấn
- Rút kinh nghiệm các giờ dạy của bản than kết hợp với tiến hành dự giờ, trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp
d Lựa chọn PPDH phù hợp với điều kiện dạy học
Ở đây đề cập đến PPDH diễn ra trong mối quan hệ với các điều kiện vật chất,đặc biệt là thiết bị dạy học (TBDH) Đương nhiên là cần phải lựa chọn PPDH phùhợp với điều kiện của nhà trường, của phòng thí nghiệm, của tình trạng đang có.Trong khuôn khổ điều kiện cho phép, cần chọn thứ tự ưu tiên khả năng tốt nhất Các TBDH hiện đại không luôn đồng nghĩa với các TBDH đắt tiền Tính hiệnđại của TBDH thể hiện ở việc sử dụng các thiết bị sao cho đạt yêu cầu cao nhất trong việc thực hiện các mục tiêu dạy học, thể hiện rõ tư tưởng sư phạm hiện đại.Tóm lại, trên đây là 4 cơ sở quan trọng nhất, là căn cứ xuất phát khi tiến hànhlựa chọn, lập kế hoạch các PPDH Điều quan trọng nhất là cần xác định lựa chọnphương pháp và hình thức tổ chức dạy học có thể giúp học sinh:
- Học tập với niềm say mê, hứng thú, khát khao tìm tòi khám phá
10
Trang 20- Lĩnh hội tri thức trong các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo,theo phương pháp khoa học.
- Học trong tương tác, trong việc hình thành các quan hệ hợp tác, thân thiện, cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập
1.1.2.4 Một số phương pháp dạy học tích cực
Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học
sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó họcsinh lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức,người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:
- Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức
đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Vấn đáp tái hiện không đượcxem là phương pháp có giá trị sư phạm Đó là biện pháp được dùng khi cần đặtmối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học
- Vấn đáp giải thích – minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nàođó,giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để họcsinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của cácphương tiện nghe – nhìn
- Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): giáo viên dùng một hệ thống câu hỏiđược sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật,tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáoviên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữatrò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viêngiống như người tổ chức sự tìm tòi, còn học sinh giống như người tự lực phát hiệnkiến thức mới Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui của
sự khám phá trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy
Dạy học giải quyết vấn đề [10]
Khả năng phát hiện sớm và giải quyết một cách hợp lí những vấn đề phát sinhtrong thực tiễn là một năng lực cần thiết bảo đảm cho sự thành côngcủa mỗi cá nhântrong xã hội Vì vậy, hướng dẫn cho HS biết phát hiện, đặt ra và giải quyết nhữngvấn đề cần nhận thức trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng
11
Trang 21đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt vàomụctiêu đào tạo chính của giáo dục phổ thông.
Nét đặc trưng của dạy họcgiải quyết vấn đề là sự lĩnh hội kiến thức diễn rathông qua quá trình giải quyết vấn đề GV đặt HS vào các tình huống có vấn đề rồigiúp HS tự lực giải quyết vấn đề đặt ra Nhờ đó, HS vừa nắm được tri thức mới,vừa nắm được phương pháp nhận thức tri thức đó, phát triển được tư duy sáng tạo,
và khả năng phát hiện, giải quyết vấn đề
Cấu trúc một bài học (hoặc một phần trong bài học) theo phương pháp dạy
họcgiải quyết vấn đề thường gồm các bước sau: a Đặt vấn đề: Xây dựng bài toán
nhận thức
- Tạo tình huống có vấn đề
- Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh
- Phát biểu vấn đề cần giải quyết
b Giải quyết vấn đề đặt ra
- Đề xuấtnhững biện pháp có thể thực hiện
- Lập kế hoạch giải quyết vấn đề (theo các biện pháp đặt ra)
- Thực hiện công việc giải
c Kết luận
- Thảo luận kết quả và đánh giá
- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu
- Phát biểu kết luận
- Đề xuất vấn đề mới
Khâu quan trọng của phương pháp dạy học này là tạo tình huống có vấn đề,điều chưa biết là những đặc điểm đóng vai trò chủ chốt, chúng tạo racảm giác hứngthú với kiến thức mới của HS, kích thích sự phát triển tư duy, tính tự giác tínhcựccủa HS Trong dạy học mônHóa học, GV có thể lựa chọn sử dụng bài giảng baogồm thí nghiệm, các bài tập nêu vấn đề để tạo tình huống có vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề có các mức độ như:
- GV nêu và giải quyết vấn đề
- GV nêu vấn đề và tổ chức cho HS tham gia giải quyết vấn đề
- GV nêu vấn đề và gợi ý cho HS đề xuất cách giải quyết vấn đề
12
Trang 22- GV cung cấp thông tin, tạo tình huống để HS phát hiện và giải quyết vấn đề.
- HS tự phát hiện vấn đề, tự lực giải quyết vấn đề và đánh giá
Tuỳ vào trình độ nhận thức của HS mà GV áp dụng ở các mức độ cho phù hợp
Hình 1.1 Cấu trúc của quá trình dạy học theo nhóm
Bằng cách nói ra những điều đang suy nghĩ, mỗi HS có thể nhận rõ trình độ hiểubiết của mình về chủ đề nêu ra, thấy được mình cần học hỏi thêm những gì, tránh sựtiếp nhận thụ động từ phía HS,và giúp nó trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau
Khi vận dụng phương pháp này cần chú ý một số điểm sau:
- Phân công nhóm: có thể phân công nhóm thường xuyên theo từng bàn hoặchai bàn gần nhau ghép lại và đặt tên nhóm: 1, 2, 3… cũng có thể thay đổi nhómtheo ,công việc khi cần thiết gọi là nhóm cơ động, không cố định
- Phân công trách nhiệm trong nhóm: Trong mỗi nhóm, phân công nhómtrưởng, thư kí và các thành viên với những nhiệm vụ cụ thể trong một hoạt độngnhất định Sự phân công này cũng có sự thay đổi để mỗi HS có thể được phát huy
13
Trang 23vai trò, trách nhiệm của mình GV giao nhiệm vụ cho từng nhóm và theo dõi để giúp đỡ, định hướng, điều chỉnh kịp thời.
- Mỗi tiết học nên tổ chức từ một đến ba hoạt động nhóm, mỗi hoạt động cần5-10 phút Cần chú ý đến yêu cầu phát huy tính tích cực của HS và rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong hoạt động nhóm và tránh khuynh hướng hình thức, lạm dụng khi cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới phương pháp dạy học hoặc hoạt động nhóm càng nhiều thì càng đổi mới Cấu trúc của một tiết học (hoặc một buổi làm việc) theo nhóm như sau:
+Phân công trong nhóm
+Từng cá nhân làm việc độc lập theo sự phân công
+Trao đổi ý kiến thảo luận trong nhóm
- Cử người thuyết trình nội dung làm việc của nhóm
- Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- GV tổng kết, đặt vấn đề nghiên cứu tiếp theo
Ví dụ: Nhóm HS nghiên cứu tính chất axit của dd H2SO4 loãng qua thí nghiệm của
axit H2SO4 loãng tác dụng với Zn, Cu(OH)2, Na2CO3 Hoạt động của nhóm HS cóthể là:
Trang 24DHDA có những đặc điểm như sau:
- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống
- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn cuộc sống xã hội
- Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân
- Tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vựchoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp Đặcđiểm phức hợp của dự án làm cho phương pháp này có thế mạnh trong việc tổ chứcdạy học theo các CĐTH
- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào trong hoạt động thực tiễn
15
Trang 25- Tính tự lực cao của người học: Trong DHDA, người học cần tham gia tíchcực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi vàkhuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học.
- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm vì vậy đòi hỏi sự phân công nhiệm vụ và hợp tác của các thành viên trong nhóm
- Định hướng sản phẩm: Các sản phẩm được tạo ra, không giới hạn trongnhững thu hoạch lí thuyết, nên tạo ra sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn,thực hành
- Sử dụng bộ câu hỏi định hướng: Trong quá trình thực hiện dự án HS phảibám sát bộ câu hỏi định hướng và đảm bảo các hoạt động cũng như sản phẩm đápứng được mục tiêu bài học đặt ra Bộ câu hỏi định hướng phải sử dụng xuyên suốt
dự án thực hiện công việc có chất lượng nhất và đánh giá sự tiến bộ của bản thân
- Định hướng kĩ năng mềm: Trong quá trình thực hiện dự án HS có cơ hội
phát triển các “kĩ năng mềm”, đó là những kĩ năng liên quan đến khả năng đối mặt
và thích ứng với thay đổi, kĩ năng quản lí bản thân nghiêng về “kĩ năng mềm”.
a Tiến trình dạy học dự án
Giai đoạn 1: Thiết kế dự án
Khi thiết kế dự án cần phải bám sát vào mục tiêu dạy học, liên hệ tốt với thực
tế, rèn luyện cho HS những kĩ năng cần thiết, làm cho HS thích thú và có tính khảthi, GV cần chuẩn bị những nội dung sau:
- Xác định mục tiêu: GV bắt đầu thiết kế dự án bằng việc nghĩ đến các sảnphẩm cuối cùng, xác định những gì HS phải biết và làm được khi kết thúc dự án
Cụ thể GV xác định mục tiêu dự án từ chuẩn kiến thức, kĩ năng, NL mà bài học tíchhợp hướng tới
- Xây dựng ý tưởng dự án, thiết kế các hoạt động:
+ Đặt ra cho HS những nhiệm vụ đòi hỏi sự nỗ lực hoạt động, phải có
ý nghĩa, có tính thực tiễn
16
Trang 26+ Hướng đến các chuẩn kiến thức, kĩ năng và bám sát mục tiêu bài học.
GV cần kết hợp mục tiêu học tập với các vấn đề thực tiễn mang tính thời sự,những vấn đề cộng đồng quan tâm để xây dựng ý tưởng dự án và xây dựng môphỏng những vai có thật trong xã hội và yêu cầu HS nhập vai để thực hiện dự ánnhằm kích thích hứng thú và lôi cuốn các em
- Xây dựng bộ câu hỏi định hướng: GV xây dựng bộ câu hỏi định hướng để giúp HS tập trung vào những ý tưởng quan trọng và những khái niệm mấu chốt
- Lập kế hoạch đánh giá và xây dựng các tiêu chí đánh giá: GV lập lịch trìnhđánh giá để đánh giá việc học của HS vào những thời điểm khác nhau trong suốt dự
án Trong quá trình thực hiện dự án GV có thể thiết kế một số công cụ đánh giá đểkhuyến khích HS tự định hướng, đánh giá sự tiến bộ của các em như: Bộ câu hỏiđịnh hướng, phiếu quan sát nhóm, phiếu tự đánh giá, phiếu đánh giá nhóm, tiêu chíđánh giá sản phẩm của dự án…Kế hoạch đánh giá phải đảm bảo mọi đối tượng HSđều được tham gia quá trình này
- Xây dựng nguồn tài liệu tham khảo: GV xây dựng nguồn tài liệu hỗ trợ để đảm bảo việc tìm thông tin của HS là đúng hướng, đúng mục tiêu đặt ra
Giai đoạn 2: Tiến hành dạy học theo dự án
Bước 1: Hướng dẫn HS xác định mục tiêu và thảo luận ý tưởng: GV đặt câu
hỏi khái quát cho HS, từ đó dẫn dắt các em xác định mục tiêu dự án, thảo luận về ýtưởng cụ thể của dự án và xây dựng kịch bản cho dự án
Bước 2: Đánh giá nhu cầu kiến thức của người học trước khi thực hiện dự án:
Khảo sát ý kiến của các em để biết được nền tảng kiến thức trước khi các em làm
dự án, các em mong muốn học hỏi được những gì qua dự án, từ đó có sự hướngdẫn và điều chỉnh dự án thích hợp
Bước 3: Chia nhóm và lập kế hoạch thực hiện dự án: HS lập nhóm dưới sự tư
vấn của GV, thảo luận xác định những công việc cần làm, phân công công việc giữacác thành viên, đề ra phương pháp tiến hành phù hợp hiệu quả GV theo dõi lắngnghe ý kiến thảo luận của các nhóm để tư vấn góp ý về kế hoạch của nhóm
Bước 4: HS thực hiện dự án theo kế hoạch: HS nghiên cứu, tìm kiếm thông
tin, thu thập xử lí, phân tích, giải quyết vấn đề, tạo ra sản phẩm Trong suốt quátrình đó người học không ngừng phản hồi, chia sẻ thông tin dựa vào các tiêu chíđánh giá do GV đưa ra để tự đánh giá nhóm và bản thân nhằm tự điều chỉnh và định
17
Trang 27hướng GV quan sát, ghi chép, góp ý, tư vấn, đánh giá sự tiến bộ và điều chỉnh kịp thời nếu cần thiết.
Giai đoạn 3: Kết thúc dự án
GV tạo điều kiện giúp đỡ HS tổ chức trình bày sản phẩm dự án GV và HScòn lại cùng dựa vào các tiêu chí đánh giá sản phẩm để đánh giá phần trình bày củanhóm bạn và sau đó rút kinh nghiệm, tổng kết lại nội dung bài học
Dạy học theo hợp đồng
Dạy học theo hợp đồng là cách tổ chức học tập, trong đó mỗi học sinh
(hoặcmỗi nhóm nhỏ) làm việc với một gói các nhiệm vụ khác nhau (nhiệm vụ bắtbuộc và nhiệm vụ tự chọn) trong một khoảng thời gian nhất định
Trong dạy học theo hợp đồng, học sinh được quyền chủ động xác định thờigian và thứ tự thực hiện các bài tập, nhiệm vụ học tập dựa trên năng lực và nhịp độhọc tập của bản thân mỗi học sinh
Giáo viên có thể chắc chắn rằng mỗi học sinh đã kí hợp đồng tức là đã nhậnmột trách nhiệm rõ ràng và sẽ hoàn thành các nhiệm vụ vào thời gian đã xác địnhtheo văn bản
a Quy trình dạy học theo hợp đồng
Quy trình dạy học theo hợp đồng được thực hiện như sau:
Giai đoạn chuẩn bị:
Bước 1: Xem xét các yếu tố cần thiết để dạy học theo hợp đồng đạt hiệu quả.
- Chọn nội dung: Giáo viên cần xác định nội dung cho phù hợp Có thể chọn là
một bài ôn tập hoặc luyện tập, hoặc cũng có thể là với bài học mới mà trong đó cóthể thực hiện các nhiệm vụ không theo thứ tự bắt buộc
- Quy định thời gian: Tùy độ dài ngắn hay độ phức tạp của nội dung được học
theo hợp đồng mà giáo viên quyết định thời hạn hiệu lực hợp đồng
- Tài liệu: Phải được chuẩn bị đầy đủ, chủ yếu dựa trên sách bài tập sẵn
có Bước 2: Thiết kế các dạng bài tập và nhiệm vụ dạy học theo hợp đồng.
- Các dạng bài tập: Cần đảm bảo tính đa dạng của các bài tập nhằm mở rộng
Trang 28- Nhiệm vụ cá nhân và nhiệm vụ hợp tác: Thể hiện sự kết hợp khéo léo giữa
các nhân với các bạn trong lớp hay trong cùng một nhóm
- Nhiệm vụ độc lập và nhiệm vụ được hướng dẫn: trong những nhiệm vụ khó
khăn, học sinh có thể tìm được sự trợ giúp của giáo viên thông qua các phiếu “trợ
giúp” ở các mức độ khác nhau để học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Bước 3: Thiết kế văn bản hợp đồng
Văn bản hợp đồng bao gồm nội dung mô tả nhiệm vụ cần thực hiện, phầnhướng dẫn thực hiện, phần tự đánh giá những hoạt động học sinh đã hoàn thành vàkết quả
Giai đoạn tổ chức cho học sinh học theo hợp đồng
Bước 1:GV giới thiệu tên bài học và thông báo ngắn gọn nội dung, phương pháp
học tập được ghi trong hợp đồng Giới thiệu và thống nhất các nguyên tắc học theohợp đồng với học sinh cả lớp Phát hợp đồng cho cá nhân hay nhóm học sinh
Bước 2:HS đọc và đăng ký, thời gian và thứ tự thực hiện các nhiệm vụ học tập ghi
trong hợp đồng, cam kết với giáo viên
Bước 3: HS làm việc cá nhân hoặc theo nhóm để thực hiện nhiệm vụ trong hợp đồng.
b Một số lưu ý khi dạy học theo hợp đồng
- Bố trí không gian lớp học: có thể tổ chức trong lớp học nhỏ với không gianhạn chế Tuy nhiên, nếu không gian lớp học được bố trí, sắp xếp một cách phù hợp
sẽ lôi cuốn được học sinh hơn, các em sẽ cảm thấy thoải mái hơn
- Thời hạn hợp đồng: các loại ngắn hạn trong 1 – 2 tiết học hoặc có thể kéo dài
từ 1 – 2 tuần tùy theo bài tập và nhiệm vụ môn học
c Ưu nhược điểm của dạy học theo hơp đồng
Ưu điểm:
- Cho phép phân hóa nhịp độ và trình độ của học sinh
- Tăng cường tính độc lập của học sinh
- Tạo điều kiện cho học sinh được giáo viên hướng dẫn cá nhân
- Tăng cường học tập hợp tác, các hoạt động học tập trở nên phong phú hơn, lựa chọn đa dạng hơn
- Tránh chờ đợi, tạo điều kiện cho HS được giao và thực hiện trách nhiệm
Nhược điểm:
19
Trang 29- Để thực hiện tốt phương pháp này các tài liệu, nhiệm vụ học tập phải dược chuẩn bị trước và đa dạng hóa cho phù hợp với nhu cầu của từng học sinh.
- Cả giáo viên và học sinh đều cần có một khoảng thời gian nhất định để làm quen với phương pháp dạy học này
1.1.3 Phương pháp dạy học tích cực theo hướng tích hợp
1.1.3.1 Khái niệm về tích hợp
Tích hợp (theo tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng Latinh:
Integration với nghĩa: xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ.
Theo từ điển tiếng Anh – Anh (Oxford Advanced Learner’s Dictionary) từIntegration có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổngthể Những phần, những bộ phận có thể khác nhau nhưng tích hợp với nhau
“Tích hợp” có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay sự nhất thể hóa
các thành phần khác nhau để hình thành một đối tượng mới, có thể coi đó đơn giảnnhư là một thể thống nhất của các thành phần tạo nên nó, chứ không phải là mộtcách tổng hợpđơn giản những thuộc tính cơ bản của các thành phần
Tóm lại tích hợp sở hữu hai tính chất đặc trưng: tính liên kết và tính toàn vẹn.Hai tính chất này liên quan chặt chẽ, bổ trợ và quy định lẫn nhau
1.1.3.2 Khái niệm dạy học tích hợp
Theo UNESCO, DHTH được đinḥ nghĩa như sau : “Một cách trình bày các
khái ni ệm và nguyên lí khoa hocc̣ cho phép di ễn đaṭ s ự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa hocc̣ , tránh nhấn quá manḥ ho ặc quá sớm sự sai khác c ủa các khoa hocc̣ khác nhau”[1].
Dạy học tích h ợp là định hư ớng daỵ h ọc trong đó GV tổ chức, hướng dẫn để
HS biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực (môn học/hoạtđộng giáo dục) khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập; thông qua đó hìnhthành những kiến thức vàkĩ năng mới; phát triển được những năng lực cần thiết
Có nhiều quan điểm khác nhau về các mức độ DHTH Theo [1], DHTH ởmức
độ thấp làl ồng ghép, liên hê c̣những nội dung giảng daỵ có liên quan vào quá trình dạy h ọc một môn học Ở mức độ cao hơn làDHTH liên môn : Xử lí các nội dung kiến thức trong m ối liên quan với nhau, bảo đảm cho HS vận dụng tổng hợp kiến thức để giải quyết các vấn đề trong hocc̣ tâpc̣ , trong cuộc sống, đồng thời tránh việc
20
Trang 30HS phải học laịnhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau Ởmức độ cao nhất làDHTH xuyên môn : Các môn học hòa trộn vào nhau thành môṭchỉnh thể thống nhất có logic khoa học.
Trong phương pháp DHTH, HS dưới sự chỉ đạo của GV thực hiện việcchuyển đổi liên tiếp các thông tin từ ngôn ngữ của môn học này sang ngôn ngữ củamôn học khác, HS học cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kĩ năng vànhững thao tác để giải quyết một tình huống phức hợp – thường là gắn với thựctiễn Chính nhờ quá trình đó, HS nắm vững kiến thức, hình thành khái niệm, pháttriển NL và các phẩm chất cá nhân [11]
Trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, DHTH đã trở thành một khuynh hướngtất yếu trong daỵ học hiện đaịnhằm phát triển năng lực HS
Như vậy, phương pháp DHTH là một quan điểm sư phạm, ở đó người họccần huy động mọi nguồn lực để giải quyết một tình huống phức hợp – có vấn đềnhằm phát triển các NL phẩm chất cá nhân[8]
1.1.3.3 Cơ sở của việc dạy học tích hợp
Xu thế phát triển của dạy học ngày nay là tiếp tục quá trình phân hoá, đi sâuhơn vào các nội dung, bên cạnh đó là tích hợp liên môn, liên ngành ngày càng mởrộng Quá trình dạy họcnội dung các môn học trong nhà trường cần phải phản ánh
sự phát triển hiện đại của khoa học, vì lẽ đó chúng ta không thể tiếp tục sử dụng cácphương pháp giảng dạy với các kiến thức khoa học tách rời, không có sự liên quanvới nhau Mặt kháckhối lượng tri thức khoa học đang gia tăng nhanh chóng mà thờigian học tập trong nhà trường lại có hạn, do đó phải chuyển từ dạy các môn họcriêng rẽ sang dạy các môn học tích hợp[17]
DHTH mang lại những ích lợi sau đây:
- Phát triển năng lực người học;
- Tận dụng vốn kinh nghiệm của người học;
- Thiết lập mối quan hệ giữa các kiến thức, kĩ năng và PP của các môn học
- Tinh giản kiến thức, tránh sự lặp lại các nội dung ở các môn học
1.1.3.4 Mục tiêu của dạy học tích hợp
Quan điểm DHTH được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quátrình học tập và quá trình dạy học vì vậy quá trình DHTH nhằm:
21
Trang 31- Làm cho các quá trình học tập không bị cô lập với cuộc sống hằng ngày, cáckiến thức gắn liền với kinh nghiệm sống của HS và được liên hệ với các tình huống
cụ thể
- DHTH giúp thiết lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học trong cùng mộtmôn học và giữa các môn học với nhau Tránh các những kiến thức, kĩ năng, nộidung trùng lặp khi nghiên cứu từng môn học, nhưng lại có những nội dung, kĩ năng
mà theo môn riêng rẽ không có được
- DHTH giúp phát triển những NL GQVĐ phức tạp và làm cho việc học tậptrở lên có ý nghĩa hơn đối với HS so với việc học các môn học, các mặt giáo dụcđược thực hiện riêng rẽ
Như vậy DHTH là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nâng cao nănglực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và NL để giảiquyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Dạy học theo hướng tích hợp phát huyđược tính tích cực của HS, góp phần đổi mới nội dung và PPDH [17]
1.1.3.5 Đặc điểm của dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp là một quan niệm dạy học nhằm hình thành ở học sinh nhữngnăng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy động nộidung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Điều đó cũng có nghĩa làđảm bảo để mỗi học sinh biết cách vận dụng kiến thức học được trong nhà trườngvào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ, qua đó trở thành một người công dân
có trách nhiệm, một người lao động có năng lực Dạy học tích hợp đòi hỏi việc họctập trong nhà trường phải được gắn liền với các tình huống của cuộc sống thực tiễn
mà sau này các em có thể phải đối mặt, chính điều đó nó trở nên có ý nghĩa với các
em Với cách hiểu như vậy, dạy học tích hợp phải được thể hiện cả ở nội dungchương trình, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá, hình thức tổchức dạy học [8]
Thực hiện dạy học tích hợp sẽ phát huy tối đa sự trưởng thành và phát triển cánhân của mỗi học sinh, giúp các em thành công trong vai trò người chủ gia đình,người công dân, người lao động trong tương lai
Dạy học tích hợp định hướng về nội dung và phương pháp dạy học, trong đógiáo viên tổ chức hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năngthuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó
22
Trang 32hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, phát triển được năng lực cần thiết, nhất lànăng lực giải quyết vấn đề trong học tập và thực tiễn cuộc sống.
1.1.3.6 Các quan điểm dạy học tích hợp
DHTH được bắt đầu với việc xác định một chủ đề cần huy động kiến thức, kĩnăng, phương pháp của nhiều môn học để GQVĐ Lựa chọn được một chủ đềmang tính thách thức và kích thích người học tham gia vào các hoạt động là điềucần thiết trong DHTH Có thể đưa ra 3 mức độ trong DHTH như sau: [1]
Lồng ghép/ liên hệ
Ở mức độ này, các môn học vẫn dạy riêng rẽ, nhưng những nộ idung gắn vớithực tiễn, gắn với xã hội, gắn với môn học khác được đưa vào nội dungbài học củamột môn học GV có thể thấy mối quan hệ giữa kiến thức của môn học mình đảmnhận với nội dung của các môn học khác và thực hiện nồng ghép các kiến thức đó ởthời điểm thích hợp
Vận dụng kiến thức liên môn
Ở mức độ này, hoạt động học diễn ra xung quanh các chủ đề, ở đó người họccần vận dụng các kiến thức của nhiều môn học để GQVĐ đặt ra Các chủ đề khi đóđược gọi là các chủ đề hội tụ Nội dung các môn học vẫn được phát triển riêng rẽ
để đảm bảo tính hệ th ống, mặt khác vẫn thực hiện được sự liên kết giữa các mônhọc khác nhau qua việc vận dụng các kiến thức liên môn trong các chủ đề hội tụ
Hòa trộn
Đây là mức cao nhất trong DHTH Ở mức độ này, nội dung chủ đề khôngthuộc riêng về một môn học mà thuộc về nhiều môn khác nhau, do đó các nội dungthuộc chủ đề sẽ không cần dạy ở các môn học riêng rẽ Mức độ tích hợp này dẫnđến sự hợp nhất kiến thức của hai hay nhiều môn học
Ở mức hòa trộn, GV phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhaubằng các tình huống thích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho nhóm môn,tạo thành các chủ đề thích hợp[16]
Theo Dự thảo đề án đổi mới CTGD phổ thông tổng thể sau 2017 của Bộ
GD&ĐT dạy học theo chủ đề tích hợp đang được xem là giải pháp tối ưu trong việckhông chỉ xây dựng chương trình học mà còn cả trong việc tiếp cận kiến thức học,
23
Trang 33PPDH Dạy học theo chủ đề chính là bước chuẩn bị tương đối phù hợp đối với GV
bộ môn hiện nay cho đổi mới chương trình và SGK trong thời gian tới
1.1.3.7 Ý nghĩa của dạy học theo quan điểm tích hợp
Nói một cách ngắn gọn, tích hợp là quan điểm hòa nhập, được hình thành từ
sự nhất thể hóa những kĩ năng, một sự quy tụ tối đa tất cả những đặc trưng chungvào một chính thể duy nhất Khoa học ngày nay coi trọng tính tương thích, bổ sunglẫn nhau để tìm kiếm những quan điểm tiếp xúc có thể chấp nhận được để tạo nêntính bền vững cho quá trình dạy học các môn học
Quan điểm tích hợp và phương pháp dạy học tích hợp đã được GV tiếp nhậnnhưng ở mức độ thấp, phần lớn GV chọn mức độ tích hợp “liên môn” hoặc tích hợp
“nội môn” Các bài dạy theo hướng tích hợp sẽ làm cho nhà trường gắn liền vớithực tiễn cuộc sống, với sự phát triển của cộng đồng Những kiến thức cung cấp chohọc sinh sẽ giải đáp được những thắc mắc của các em, phục vụ cho cuộc sống của
HS và cộng đồng Học theo hướng tích hợp sẽ làm cho các em quan tâm đến conngười và xã hội xung quanh mình, việc học gắn liền với cuộc sống đời thường làyếu tố để các em học tập Những thắc mắc từ thực tế làm nảy sinh nhu cầu giảiquyết vấn để của các em[3]
Thực tế ở một số trường học, các bài giảng được soạn theo hướng tích hợp đãgiúp cho GV tiếp cận tốt nhất với chương trình SGK hiện hành Bài dạy linh hoạt,học sinh hiểu bài, được chủ động tìm tòi,chiếm lĩnh kiến thức và rèn luyện kỹ năng
Từ thực tiễn giáo dục nhiều nước và Việt Nam cho thấy, DH theo hướng tích hợp
là xu thế mà nhiều nước trên thế giới đã áp dụng, đặc biệt là các nước trong khu vựcchâu Á – Thái Bình Dương Dạy học theo hướng tích hợp phát huy được tính tích cựccủa học sinh, góp phần đổi mới nội dung và PPDH của nền giáo dục[17]
1.2.1 Năng lực
1.2.1.1 Khái niệm năng lực
Khái niệm NL (competency) có nguồn gốc từ tiếng Latinh “competentia” có nghĩa là “gặpgỡ” NL là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của kiến
thức, kĩ năng, kinh nghiệm và thái độ, trách nhiệm Hiện nay có rất nhiều khái niệm
24
Trang 34khác nhau về NL đều được hiểu là sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhânđối với công việc.
Theo từ điển Tiếng Việt: “NL là khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo
đức và trình độ chuyên môn”.
Theo Bernd Meiner – Nguyễn Văn Cường [10, tr 68], năng lực được định
nghĩa như sau: “NL là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành
động, giải quyết nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sẵn sàng hành động”.
Theo Dư c̣thảo CTGD phổthông sau 2015: “NL là khả năng thực hiện thành
công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”[2, tr.15].
Để hình thành và phát triển NL cần xác định các thành phần và cấu trúc củachúng Có nhiều loại NL khác nhau Việc mô tả cấu trúc và các thành phần NL cũngkhác nhau Cấu trúc chung của NL hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 NLthành phần: NL chuyên môn, NL phương pháp, NL xã hội, NL cá thể
Bốn NL trên cũng có thể được chia nhỏ hơn thành các NL cụ thể như NL tựhọc, NL GQVĐ, NL giao tiếp…các NL này đã được thể hiện trong dự thảo CTGDphổ thông tổng thể của Bộ GD&ĐT Trong đó NL GQVĐ là một trong những NLquan trọng đối với HS
1.2.1.2 Đánh giá năng lực
Như chúng ta đã biết, trong dạy học tích cực đánh giá là một yếu tố vô cùngquan trọng, gắn liền với hoạt động dạy và học, có tác dụng điều chỉnh và nâng caochất lượng dạy và học
Theo quan niệm truyền thống, đánh giá chỉ là đánh giá một chiều: GV đánh giá
HS và việc đánh giá thường chỉ được thực hiện chủ yếu dựa vào các bài kiểm tra cuối
kỳ hoặc bài kiểm tra một tiết Theo quan điểm dạy học tích cực thì việc đánh giá phảidiễn ra đa chiều: kết hợp đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh, có thểtham chiếu thêm sự đánh giá của HS với HS Việc đánh giá nên được
25
Trang 35diễn ra thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình học chứ không chỉ mang tính chấtđịnh kì [16] Ở một mức độ cao hơn, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh tự đánhgiá không chỉ bằng điểm số mà phản hồi lại cho giáo viên những nỗ lực, quá trình phấnđấu và kết quả đạt được Chừng nào chúng ta chưa nhìn nhận đánh giá phải là một quátrình song song và xuyên suốt quá trình học của học sinh thì chừng đó chúng ta chưagiải quyết được việc giáo viên và học sinh đối phó trong thi cử để đạt được điểm sốcao và thảm họa học vẹt, học tủ cũng không chấm dứt được.
Điều quan trọng hơn cả khi đánh giá năng lực học sinh chính là đánh giá khảnăng vận dụng, thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, thực tế…và phát triển tư duy bậccao (phân tích, tổng hợp, đánh giá) của học sinh chứ không chỉ dừng lại ở mức độđánh giá phân hóa riêng rẽ các phương diện kiến thức, kĩ năng, thái độ [6]
Một yêu cầu tất yếu khi chúng ta chuyển mục đích dạy học sang phát triểnnăng lực người học thì việc đánh giá cũng phải theo năng lực người học Bước đầulàm rõ khái niệm đánh giá năng lực chúng ta có thể xem xét nó trong mối quan hệvới đánh giá theo kĩ năng Đánh giá trên cơ sở kĩ năng là đánh giá một kĩ năng độclập nào đó của học sinh, có thể là kĩ năng tổng hợp (nghe, nói, đọc, viết, giao tiếp,thuyết trình…) hoặc kĩ năng của từng lĩnh vực cụ thể (kĩ năng lí luận, kĩ năng giảitoán…) Trong đó năng lực là một thể thống nhất bao gồm kiến thức, kĩ năng và thái
độ không tách biệt lẫn nhau Do đó đánh giá năng lực là việc đánh giá dựa trên khảnăng thực hiện một nhiệm vụ ở một mức độ phức tạp thích hợp để tìm ra cách giảiquyết một hoặc nhiều vấn đề để đạt tới mục tiêu có được kiến thức có thể áp dụngtrong nhiều tình huống phức tạp khác nhau trong thực tế cuộc sống [13]
1.2.2 Năng lực giải quyết vấn đề
Theo kế hoạch Dư c̣thảo CTGD phổthông tổng thểđươcc̣ Bô c̣GD &ĐT công bố ngày 21 7/2017 [2], mục tiêu của CTGD phổ thông mới là giúp HS hình thành phẩmchất và NL của người lao động Theo đó, có 3 phẩm chất cần hinh̀ thành và phát triển cho HS THCS là : sống yêu thương , sống tư c̣chủ, sống trách nhiêṃ ; có 8 NL cần hinh̀ thành vàphát triển cho HS THCS là : NL GQVĐ, NL tư c̣hocc̣, NL thẩm mĩ,
NL thểchất , NL giao tiếp , NL hơpc̣ tác , NL tinh́ toán , NL sử dungc̣ công nghê c̣ thông tin vàtruyền thông [2]
26
Trang 36Như vâỵ NL GQVĐ là một trong 8 NL chung cần đươcc̣ hinh̀ thành vàpháttriển cho HS THCS trong quátrinh̀ dạy học
1.2.2.1 Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề
Để đưa ra một khái niệm chính xác về NL GQVĐ, chúng tôi cần làm rõmôṭsốkhái niệm sau:
Giải quyết vấn đề, năng lực giải quyết vấn đề
Đầu thế kỷ XXI, nhìn chung cộng đồng giáo dục quốc tế chấp nhận định
nghĩa: GQVĐ là khả năng suy nghĩ và hành động trong những tình huống không có
quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường có sẵn Người GQVĐ có thể ít nhiều xác
định được mục tiêu hành động, nhưng không phải ngay lập tức biết cách làm thếnào để đạt được nó Sự am hiểu THCVĐ, và lý giải dần việc đạt mục tiêu đó trên cơ
sở việc lập kế hoạch và suy luận tạo thành quá trình GQVĐ
Có thể thấy, GQVĐ là quá trình tư duy phức tạp, bao gồm sự hiểu biết, đưa raluận điểm, suy luận, đánh giá, giao tiếp để đưa ra một hoặc nhiều giải pháp khắcphục khó khăn, thách thức của vấn đề Trong quá trình GQVĐ, chủ thể thường phảitrải qua ba giai đoạn cơ bản:
(1) Khám phá vấn đề và tổ chức nguồn lực của chính mình (tìm hiểu vấn đề,tìm hướng đi, thủ pháp, tiến trình để dần tiến tới một giải pháp cho vấn đề)
(2) Thực hiện giải pháp (giải quyết các vấn đề nhỏ hơn ở từng lĩnh vực/nội dung cụ thể, chuyển đổi ý nghĩa của kết quả thu được về bối cảnh thực tiễn)
(3) Đánh giá giải pháp vừa thực hiện, hoặc tìm kiếm giải pháp khác
“Năng lực GQVĐ là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, xúc cảm để giải quyết những tình huống vấn
đề mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường”[8].
27
Trang 371.2.2.2 Những biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trường Trung học phổ thông
Theo Dư c̣thao CTGD phổthông tổng thểnămGQVĐ của HS THCS được thể hiện qua bảng 1.2 dươi đây:
Bảng 1.2 Nhưng biểu hiêṇ/ tiêu chí cua năng lưcc̣ giai quyết vấn đềcua hocc̣ sinh
1.2.2.3 Các mức độ của năng lực giải quyết vấn đề
Chúng tôi chấp nhận việc chia năng lực giải quyết vấn đề thành bốn mức độsau đây: [2]
- Ở mức độ thứ nhất: học sinh đáp ứng được những yêu cầu cơ bản , phát hiện
và giải quyết vấn đề khi đã được giáo viên đặt ra một cách tương đối rõ ràng
28
Trang 38- Ở mức độ thứ hai: học sinh nhận ra được vấn đề do giáo viên đưa ra; biết hoàn tất việc phát hiện và giải quyết vấn đề dưới sự gợi ý và dẫn dắt của giáo viên.
- Ở mức độ thứ ba: học sinh chủ động phát hiện được vấn đề, dự đoán những điều kiện nảy sinh vấn đề và nhận xét cách thức tiếp cận vấn đề và GQVĐ
- Ở mức độ thứ tư: học sinh chủ động phát hiện được vấn đề, phát hiện đượcyếu tố mới; hình thành được những ý tưởng và đề xuất được các biện pháp thay thế
để giải quyết vấn đề
1.2.2.4 Nguyên tắc và biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khảnăng thực hiện mục tiêu học tập của người học, tìm hiểu nguyên nhân hệ quả.Việc này tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của người dạy và nhà trường,cho bản thân người học để họ học tập ngày một tiến bộ hơn[6]
Một số đặc trưng cơ bản của kiểm tra đánh giá theo xu hướng mới :
- Đánh giá không chỉ chú ý đến thành tích mà mà cần chú ý đến tính pháttriển Đánh giá cần chú trọng đến việc thu nhận thông tin phản hồi để điều khiểnquá trình dạy học nâng cao hiệu quả của hoạt động học tập và phát triển tối đa khảnăng của người học
- Đánh giá gắn liền với thực tiễn, thay vì đánh giá chỉ tái hiện lại các kiến thức
từ sách vở, đánh giá cần chú trọng đến việc kiểm tra các NL cần có trong cuộc sốnghằng ngày và được thực hiện trong bối cảnh thực tế
- Đánh giá nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của người học, đánh giá phải gắn bó hữu cơ với quá trình học tập vìđánh giá cũng là một phần của học tập.Theo PGS.TS Nguyễn Công Khanh, đánh giá NL GQVĐ của HS cũng nhưđánh giá các NL khác thì không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã họclàm trọng tâm mà chú trọng đến khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong nhữngtình huống sáng tạo khác nhau[13]
Đánh giá NL thông qua các sản phẩm học tập và quá trình học tập của HS, đánh giá NL HS được thực hiện bằng một số biện pháp sau:
a Đánh giá qua quan sát
Đánh giá qua quan sát là thông qua quan sát mà đánh giá các thao tác, động
cơ, các hành vi, kỹ năng thực hành và kỹ năng nhận thức, như là cách GQVĐ trong
29
Trang 39một tình huống cụ thể.
Để đánh giá qua quan sát, GV cần tiến hành các hoạt động:
- Xây dựng mục tiêu, đối tượng, nội dung, phạm vi cần quan sát
- Đưa ra các tiêu chí cho từng nội dung quan sát (thông qua các biểu hiện của các NL cần đánh giá)
- Thiết lập bảng kiểm quan sát
- Ghi chú những thông tin chính vào bảng kiểm quan sát
- Quan sát và ghi chép đầy đủ những biểu hiện quan sát được vào bảng kiểmquan sát và đánh giá
b Đánh giá qua hồ sơ học tập
HSHT là tài liệu minh chứng cho sự tiến bộ của HS, trong đó HS tự đánh giávề bản thân, nêu những điểm mạnh, điểm yếu, sở thích của mình, tự ghi kết quả họctập, tự đánh giá đối chiếu với mục tiêu đề ra để nhận ra sự tiến bộ hoặc chưa tiến bộcủa mình Trong HSHT, HS cần lưu giữ những sản phẩm để minh chứng cho kếtquả học tập của mình cùng với lời nhận xét của GV HSHT có các loại sau:
- Hồ sơ tiến bộ: gồm những bài tập, sản phẩm mà HS thực hiện trong quá trìnhhọc tập để minh chứng cho sự tiến bộ của mình
- Hồ sơ quá trình: HS ghi lại những điều đã được học về kiến thức, kỹ năng, thái độ của các môn học và xác định cách điều chỉnh
- Hồ sơ mục tiêu: HS tự xây dựng mục tiêu học tập cho bản thân trên cơ sở tự đánh giá về NL của mình và xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu đó
- Hồ sơ thành tích: HS tự đánh giá các thành tích nổi trội trong quá trình họctập, từ đó tự khám phá bản thân về các NL tiềm ẩn của mình, thúc đẩy hứng thútrong học tập và rèn luyện
c Tự đánh giá
Tự đánh giá là một hình thức mà HS tự liên hệ phần nhiệm vụ đã thực hiện vớicác mục tiêu của quá trình học, HS sẽ học cách đánh giá các nỗ lực và tiến bộ cá nhân,nhìn lại quá trình và phát hiện những điều cần thay đổi để hoàn thiện bản thân
d Đánh giá đồng đẳng
30
Trang 40Đánh giá đồng đẳng là một quá trình trong đó các nhóm HS trong lớp sẽ đánhgiá công việc lẫn nhau dựa theo tiêu chí đã định sẵn Đánh giá đồng đẳng giúp HSlàm việc hợp tác, HS được tham gia nhiều hơn vào quá trình học tập và đánh giá.Như vậy, trong việc đánh giá NL GQVĐ cũng như các NL khác GV cần sửdụng đồng bộ các công cụ đánh giá trên cùng với bài kiểm tra kiến thức, kỹ năng.Khi xây dựng các công cụ đánh giá (phiếu quan sát, hồ sơ học tập, ) cần xác định
rõ mục tiêu, biểu hiện của NL cần đánh giá để từ đó xây dựng các tiêu chí một cách
Theo Dự thảo chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể được Bộ GD&ĐTcông bố ngày 05/8/2015, mục tiêu của CTGD phổ thông mới là giúp học sinh hìnhthành phẩm chất và năng lực của người lao động, trong đó năng lực GQVĐ và ST
là một trong tám năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh THPT
Việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực theo hướng tích hợp để pháttriển NL GQVĐ cho học sinh là cần thiết, không chỉ riêng trong dạy học hóa học màcòn rất cần thiết trong quá trình truyền tải kiến thức cho tất cả các môn khoa họckhác Phát triển năng lực GQVĐ cho học sinh thông qua dạy học theo hướng tíchhợp trong dạy học Hóa học đã được triển khai trong một vài năm gần đây, khôngphải là một hướng đi mới, nhưng tính cần thiết và quan trọng vẫn còn Việc kết hợpcác kiến thức của một số môn khoa học tự nhiên như Vật lí, Hóa học, Sinh học,Công nghệ, Địa lí…vào xây dựng các chủ đề DHTH có nội dung gần gũi và thiếtthực với các em học sinh là một biện pháp tích cực để đạt hiệu quả cao trong dạyhọc Hóa học
31