ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC --- LƯƠNG CAO VINH PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “THỂ TÍCH CỦA KHỐI ĐA DIỆN” TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÌNH HỌC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC -
LƯƠNG CAO VINH
PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH
THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “THỂ TÍCH CỦA KHỐI ĐA DIỆN” TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÌNH HỌC LỚP 12, BAN NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC -
LƯƠNG CAO VINH
PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH
THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “THỂ TÍCH CỦA KHỐI ĐA DIỆN” TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÌNH HỌC LỚP 12, BAN NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN TOÁN)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, hội đồng khoa học, Ban Giám hiệu và tập thể cán bộ, giảng viên Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng, lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Thị Hồng Minh – người thầy đã giúp đỡ, hướng dẫn tận tình, chu đáo cho tác giả trong suốt quá trình làm và hoàn thiện luận văn này.
Tác giả cũng xin cảm ơn sự quan tâm tạo điều kiện của các thầy cô giáo trong Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong tổ Toán trường THPT Cộng Hiền, Hải Phòng đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Lời cảm ơn chân thành của tác giả cũng xin được dành cho những người thân trong gia đình và bạn bè, đặc biệt là các bạn trong lớp Cao học Toán K9 trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội – những người đã luôn quan tâm, cổ vũ, động viên, giúp đỡ để tác giả hoàn thành luận văn một cách tốt nhất.
Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn này được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hải Phòng, tháng 11 năm 2015
Tác giả
Lương Cao Vinh
i
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Tư duy 5
1.1.1 Khái niệm về tư duy 5
1.1.2 Quá trình tư duy 6
1.1.3 Các thao tác tư duy 7
1.1.4 Vai trò của tư duy 8
1.2 Tư duy sáng tạo 9
1.2.1 Sáng tạo 9
1.2.2 Khái niệm tư duy sáng tạo 10
1.2.3 Một số yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo 11
1.3 Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh 18
1.3.1 Nhiệm vụ và mục tiêu phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông 18 1.3.2 Vận dụng tư duy biện chứng để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh 19 1.3.3 Tiềm năng của chủ đề “Thể tích của khối đa diện” trong việc bồi dưỡng và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh 20
1.4 Thực tiễn vấn đề phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong giảng dạy môn Toán ở trường trung học phổ thông 22
1.4.1 Nội dung chương “Khối đa diện và thể tích của chúng” trong chương trình hình học 12, Nâng cao……….22
1.4.2 Điều tra, quan sát thực trạng vấn đề phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy và học chủ đề “Thể tích của khối đa diện” trong chương trình hình học 12, nâng cao……… 23
Trang 7CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO
CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “THỂ TÍCH CỦA KHỐI ĐA DIỆN” TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÌNH HỌC LỚP 12, BAN
NÂNG CAO 266
2.1 Biện pháp 1 Rèn luyện kĩ năng cơ bản về tính thể tích của khối đa diện cho học sinh 266
2.2 Biện pháp 2 Khuyến khích học sinh tìm nhiều lời giải khác nhau cho một bài toán 411
2.3 Biện pháp 3 Rèn luyện cho học sinh khả năng phát triển bài toán, xây dựng bài toán mới từ bài toán đã cho 49
2.4 Biện pháp 4 Rèn luyện cho học sinh khả năng khai thác kết quả của một bài toán để giải các bài toán khác 64
2.5 Biện pháp 5 Rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức Đại số và Giải tích để giải bài toán về thể tích của khối đa diện 80
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 88
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 88
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 88
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 88
3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 88
3.3 Tổ chức và nội dung thực nghiệm sư phạm 88
3.3.1 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 88
3.3.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 89
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 92
3.4.1 Cơ sở để đánh giá kết quả thực nghiệm 92
3.4.2 Kết quả của thực nghiệm sư phạm 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 99
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiến pháp nước ta đã khẳng định “Giáo dục là quốc sánh hàng đầu” Điều
đó đã thể hiện vai trò rất quan trọng của giáo dục Giáo dục đóng vai trò thenchốt trong việc đào tạo con người – chủ thể kiến tạo xã hội, do đó giáo dục đóngvai trò then chốt trong sự phát triển của xã hội
Sự phát triển của xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đấtnước đang đòi hỏi cấp bách phải nâng cao chất lượng giáo dục để đáp ứng yêucầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao Đất nước không chỉ cần nhữngngười lao động biết làm việc, biết làm tốt việc mà còn rất cần những con ngườisáng tạo, sáng tạo để đem lại nhiều lợi ích cho xã hội
Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa VII) đã xác định: “Phảikhuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồidưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” Nhưvậy, trong giáo dục, bên cạnh những thay đổi về nội dung cần có những đổi mớimạnh mẽ về phương pháp dạy học Đổi mới phương pháp dạy học theo hướngphát triển tư duy sáng tạo cho học sinh là một trong những hướng chủ đạo củađổi mới phương pháp dạy học
Đã có nhiều nghiên cứu về tư duy sáng tạo, chẳng hạn: bộ sách nổi tiếng
Sáng tạo toán học, Giải bài toán như thế nào, Toán học và những suy luận có lí
của G.Pôlia Trong nước ta, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề lýluận và thực tiễn việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, như các công trình[3], [7], [10], [12], [18], [20], … Điều đó đã cho thấy tầm quan trọng của việcdạy học theo hướng bồi dưỡng và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
Trong trường phổ thông, môn Toán là công cụ để rèn luyện tư duy, pháttriển năng lực cho học sinh Môn Toán giúp học sinh học tập và nghiên cứu cácmôn học khác Vì thế mà môn Toán đóng vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng
và phát triển tư duy cho học sinh trong đó có tư duy sáng tạo
1
Trang 9Qua thực tiễn giảng dạy, tác giả thấy rằng môn hình học không gian nóichung, chủ đề thể tích của khối đa diện nói riêng có tác dụng rất tích cực đối vớiviệc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này
tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu trong luận văn là: “Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học chủ đề “Thể tích của khối đa diện” trong chương trình hình học lớp 12, ban nâng cao”.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng phát triển tư duy sáng tạo và đề xuất một số biện phápphát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học chủ đề “Thể tích củakhối đa diện” trong chương trình hình học lớp 12, ban nâng cao
3 Khách thể nghiên cứu
Thực tiễn việc bồi dưỡng và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 12trường THPT Cộng Hiền, Hải Phòng
4 Đối tƣợng nghiên cứu
Quá trình phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học chủ
đề “Thể tích của khối đa diện” trong chương trình hình học lớp 12, ban nâng cao
5 Giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở chương trình và sách giáo khoa hình học 12 hiện hành, nếu xâydựng các biện pháp theo hướng phát huy tính độc lập sáng tạo của học sinh và cóbiện pháp dạy học thích hợp thì sẽ góp phần phát triển tư duy sáng tạo cho họcsinh thông qua dạy học chủ đề “Thể tích của khối đa diện” trong chương trìnhhình học lớp 12, ban nâng cao
6 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các ứng dụng của chủ đề “Thể tích của khối đa diện” theochương trình sách giáo khoa, sách bài tập hình học 12, ban nâng cao (Nxb giáodục năm 2008) và tài liệu tham khảo
-Thời gian: Học kì 1 năm học 2015 – 2016
7 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu
7.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
2
Trang 10-Hệ thống hóa và chỉ ra được những vấn đề liên quan đến tư duy sáng tạo: kháiniệm, cấu trúc, các yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo, các biện pháp bồi
dưỡng và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
- Tìm hiểu thực trạng dạy học chủ đề “Thể tích của khối đa diện” trong chương
trình hình học lớp 12 ở trường THPT Cộng Hiền, Hải Phòng
-Đề xuất một số biện pháp dạy học nhằm bồi dưỡng, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 12
7.2 Nội dung nghiên cứu
- Tư duy, tư duy sáng tạo, một số yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo
-Vấn đề phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 12 thông qua dạy học chủ đề
“Thể tích của khối đa diện”
- Thực trạng việc dạy học chủ đề “Thể tích của khối đa diện” trong
chương trình
hình học lớp 12 ở trường THPT Cộng Hiền, Hải Phòng
-Các biện pháp nhằm bồi dưỡng, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 12
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu tài liệu về giáo dục học môn Toán, tâm lý học, lý luận và phương pháp dạy học môn Toán
- Các sách, báo, tạp chí, các bài viết liên quan đến đề tài
- Các công trình nghiên cứu có các vấn đề liên quan đến đề tài
8.2 Điều tra quan sát
- Dự giờ, quan sát việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh ở các lớp 12
trường THPT Cộng Hiền, Hải Phòng trong chủ đề “Thể tích của khối đa diện” vàquá trình phát triển tư duy sáng tạo của học sinh
-Điều tra việc học tập môn Toán của học sinh ở các lớp 12 trường THPT Cộng Hiền, Hải Phòng năm học 2015 – 2016
8.3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 113
Trang 12- Tiến hành thực nghiệm sư phạm (có đối chứng) một số giáo án soạn theo hướngcủa đề tài.
- Đánh giá của giáo viên, học sinh về tác dụng của chủ đề “Thể tích của khối đa diện” trong việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
- Đánh giá sự tiến bộ của học sinh sau khi đã nghiên cứu và áp dụng các biện pháp nêu trong luận văn vào việc dạy học
9 Nghiên cứu luận cứ
9.1 Luận cứ lý thuyết
- Khái niệm về tư duy, quá trình tư duy, các thao tác tư duy, vai trò của tư duy,
sáng tạo, tư duy sáng tạo, một số yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo
- Vấn đề phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học chủ đề “Thể tích của khối đa diện” trong chương trình hình học lớp 12, ban nâng cao
- Các biện pháp nhằm bồi dưỡng, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 12
9.2 Luận cứ thực tế
Dựa vào kết quả điều tra, quan sát việc dạy học chủ đề “Thể tích của khối đadiện” trong chương trình hình học lớp 12 tại trường THPT Cộng Hiền, HảiPhòng
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Một số biện pháp phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 12
thông qua dạy học chủ đề “Thể tích của khối đa diện”
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Trang 134
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tư duy
1.1.1 Khái niệm về tư duy
Theo từ điển tiếng Việt (1998), “Tư duy là giai đoạn cao nhất của quátrình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằngnhững hình thức như biểu tượng, phán đoán và suy lý”
Theo Nguyễn Quang Cẩn “Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh nhữngthuộc tính, bản chất mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vậthiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết” [1]
Theo từ điển triết học: “Tư duy, sản phẩm cao nhất của vật chất được tổchức một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới kháchquan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận Tư duy xuất hiện trong quá trìnhhoạt động sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cáchgián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật Tư duy chỉ tồn tại trong mốiliên hệ không thể tách rời khỏi hoạt động lao động và lời nói, là hoạt động tiêubiểu cho xã hội loài người cho nên tư duy của con người được thực hiện trongmối liên hệ chặt chẽ với lời nói và những kết quả của tư duy được ghi nhận trongngôn ngữ Tiêu biểu cho tư duy là quá trình trừu tượng hóa, phân tích và tổnghợp, việc nêu lên là những vấn đề nhất định và tìm cách giải quyết chung, việc
đề xuất là những giả thiết những ý niệm Kết quả của quá trình tư duy bao giờcũng là một ý nghĩ nào đó.”
Theo A.V Petrovski: “Tư duy là quá trình tâm lý liên quan chặt chẽ vớingôn ngữ Ngôn ngữ - quá trình tìm tòi và sáng tạo ra cái chính yếu, quá trìnhphản ánh, cách từng phần học khái quát, thực tế trong khi phân tích và tổng hợp
nó Tư duy sinh ra trên cơ sở thực tiễn, từ nhận thức cảm tính và vượt xa giới hạncủa nó” [10]
Từ đó, ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của tư duy như sau:
5
Trang 15-Tư duy là sản phẩm của bộ não con người và là một quá trình phản ánh tích cựcthế giới khách quan.
-Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ và được thể hiện qua ngôn ngữ
- Bản chất của tư duy là ở sự phân biệt, sự tồn tại độc lập của đối tượng đượcphản ánh với hình ảnh nhận thức được qua khả năng hoạt động của con ngườinhằm phản ánh đối tượng
- Tư duy là quá trình phát triển năng động và sáng tạo
- Khách thể trong tư duy được phản ánh với nhiều mức độ khác nhau từ thuộc
tính này đến thuộc tính khác, nó phụ thuộc vào chủ thể là con người
Như vậy hiểu một cách thông thường thì tư duy là suy nghĩ để nhận thức
và giải quyết vấn đề
Trong toán học thường có các loại hình tư duy là: Tư duy logic, tư duy thuật toán, tư duy hàm, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo [20]
Theo A.Ia.Khinxin, tư duy toán học mang những nét độc đáo sau:
- Suy luận theo sơ đồ logic chiếm ưu thế
- Khuynh hướng đi tìm con đường ngắn nhất đến đích
- Phân chí rành mạch các bước suy luận
Bước 1: Xác định được vấn đề, biểu đạt nó thành nhiệm vụ tư duy, hay nói cách
khác là tìm được câu hỏi cần giải đáp
Bước 2: Huy động tri thức, vốn kinh nghiệm, liên tưởng, hình thành giả thuyết
về cách giải quyết vấn đề, cách trả lời câu hỏi
6
Trang 16Bước 3: Xác minh giả thuyết trong thực tiễn Nếu giả thuyết đúng thì thực hiện
tiếp bước sau, nếu giả thuyết sai thì phủ định nó và hình thành giả thuyết mới
Bước 4: Quyết định đánh giá kết quả, đưa ra sử dụng.
KK Platônôp đã cụ thể hóa quá trình tư duy qua sơ đồ sau [20]:
Nhận thức vấn đề
Xuất hiện các liên tưởng
Sàng lọc liên tưởng và hình thành giải quyết
Kiểm tra giả thuyết
Giải quyết vấn đề Hành động tư duy mới
CÂU HỎI
GIẢ THUYẾT
XÁC MINH
QUYẾT ĐỊNH
Hình 1.1 Quá trình tư duy
Quá trình tư duy được diễn ra bằng cách chủ thể tiến hành các thao tác trítuệ (thao tác là hoạt động theo trình tự và yêu cầu kĩ thuật nhất định) Các thaotác trí tuệ cơ bản là: Phân tích - tổng hợp; so sánh – tương tự; khái quát hóa – đặcbiệt hóa; trừu tượng hóa – cụ thể hóa
1.1.3 Các thao tác tƣ duy
- Phân tích và tổng hợp
Phân tích là thao tác tư duy để phân chia đối tượng nhận thức thành các bộphận, các mặt, các thành phần khác nhau Còn tổng hợp là các thao tác tư duy đểhợp nhất các bộ phận, các mặt, các thành phần đã tách rời nhờ sự phân tích thànhmột chỉnh thể
- So sánh và tương tự
7
Trang 17So sánh là thao tác tư duy nhằm xác định sự giống nhau hay khác nhau, sựbằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức Tương tự là mộtdạng so sánh mà từ hai đối tượng giống nhau ở một số dấu hiệu, rút ra kết luậnhai đối tượng đó cũng giống nhau ở dấu hiệu khác.
- Khái quát hóa và đặc biệt hóa
Khái quát hóa là mở rộng từ một số tính chất nào đó từ một tập hợp đếnmột tập hợp lớn nhất Khái quát hóa là thành phần cơ bản của năng lực toán học,năng lực này chỉ có thể hình thành và phát triển trong hoạt động Đặc biệt hóa làngược lại của khái quát hóa
1.1.4 Vai trò của tƣ duy
Tư duy là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh thể hiện qua việc tạo
ra các liên kết giữa các phần tử đã ghi nhớ được chọn lọc và kích thích chúnghoạt động để thực hiện sự nhận thức về thế giới xung quanh, định hướng chohành vi phù hợp với môi trường sống Tư duy là sự vận động của vật chất, do đó
tư duy không phải là vật chất Tư duy cũng không phải là ý thức bởi ý thức là kếtquả của quá trình vận động của vật chất
Cách nhìn nhận trên đây có thể còn chưa trọn vẹn nhưng đã hàm chứađược hai vai trò quan trọng nhất của tư duy và một yêu cầu không thể thiếu trongquá trình tư duy là sự ghi nhớ Sự ghi nhớ này là kinh nghiệm, là tri thức Sự ghinhớ có thể được thực hiện bằng cách lặp lại sự tác động của đối tượng cần ghinhớ lên hệ thần kinh Tư duy trong ghi nhớ là trả về cho đối tượng trong sự ghinhớ các thành phần đúng của nó, bổ sung các thành phần còn thiếu, phân biệt nóvới các đối tượng ghi nhớ khác, tìm ra các mối liên hệ và ảnh hưởng qua lại củađối tượng với các sự vật, sự việc, đối tượng khác Đây là quá trình nhận thức lýtính, nhận thức bằng tư duy Nó phân biệt với nhận thức cảm tính là nhận thứckhông có tư duy Nhận thức lý tính giúp cho sự hiểu biết và ghi nhớ về đối tượngnhiều hơn những cái mà đối tượng cung cấp cho sự ghi nhớ của hệ thần kinh, đốitượng được hiểu sâu hơn, được xem xét, đánh giá toàn diện hơn và kĩ càng hơn,
8
Trang 18được nhận thức đúng đắn hơn Tư duy bổ sung những cái còn thiếu trong quátrình hệ thần kinh ghi nhớ về đối tượng.
Sau khi giúp hệ thần kinh nhận thức đúng về đối tượng, tư duy tiếp tụcgiúp hệ thần kinh định hướng điều khiển hành vi đáp ứng sự tác động của đốitượng nếu cần thiết hoặc có yêu cầu Tư duy thực hiện việc này bằng cách kếthợp giữa nhận thức về đối tượng với hoàn cảnh hiện tại để đề ra phương thứcphản ứng hoặc hành vi Việc này bao hàm cả sự vận dụng tri thức vào điều kiệnthực tế Sự định hướng của tư duy không phân biệt tính đơn giản hay phức tạpcủa đối tượng Để có được kĩ năng này thì họ phải học thuộc lòng và rèn luyệnchu đáo và có thể họ phải sử dụng tư duy để nắm chắc được các yêu cầu thựchiện công việc Khi kĩ năng làm việc chưa thành thục thì có thể phải có tư duy,nhưng khi kĩ năng làm việc đã thành thục thì không cần tư duy nữa Tư duy địnhhướng đến sự thành thục Khi sự thành thục đã có thì tư duy kết thúc Điều nàygiống với sự nhận thức, khi sự nhận thức chưa có thì cần phải tư duy, khi sự nhậnthức đã có thì tư duy kết thúc
1.2 Tƣ duy sáng tạo
1.2.1 Sáng tạo
Theo từ điển tiếng Việt: “Sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết cáimới, không bị gò bó, phụ thuộc vào những cái đã có (cái mới, cách giải quyếtmới phải có ý nghĩa, có giá trị xã hội)” [22]
Theo bách khoa toàn thư Xô-Viết (1976): “Sáng tạo là hoạt động của conngười trên cơ sở các quy luật khách quan của thực tiễn, nhằm biến đổi thế giới tựnhiên, xã hội phù hợp với mục đích và nhu cầu của con người Sáng tạo là hoạtđộng được đặc trưng bởi tính không lặp lại, tính độc đáo và tính duy nhất”
Như vậy sự sáng tạo cần thiết cho bất kỳ hoạt động nào của xã hội loàingười, sáng tạo thường được nghiên cứu trên nhiều phương diện như là một quátrình phát sinh cái mới trên nền tảng cái cũ, như một kiểu tư duy, như là mộtnăng lực của con người
9
Trang 191.2.2 Khái niệm tƣ duy sáng tạo
Có nhiều quan điểm khác nhau về tư duy sáng tạo:
Theo Nguyễn Bá Kim: “Tính linh hoạt, tính độc lập và tính phê phán lànhững điều kiện cần thiết của tư duy sáng tạo, là những đặc điểm về những mặtkhác nhau của tư duy sáng tạo Tính sáng tạo của tư duy thể hiện rõ nét ở khảnăng tạo ra cái mới, phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng đi mới, tạo ra kết quảmới Nhấn mạnh cái mới không có nghĩa là coi nhẹ cái cũ” [8]
Tron cuốn: “Sáng tạo Toán học”, G.Pôlia cho rằng: “Một tư duy gọi là có
hiệu quả nếu tư duy đó dẫn đến lời giải một bài toán cụ thể nào đó Có thể coi làsáng tạo nếu tư duy đó tạo ra những tư liệu, phương tiện giải các bài toán saunày Các bài toán vận dụng những tư liệu phương tiện này có số lượng càng lớn,
có dạng muôn màu muôn vẻ, thì mức độ sáng tạo của tư duy càng cao” [15].Tôn Thân quan niệm: “Tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập tạo ra ýtưởng mới, độc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao… Tư duy sáng tạo là tưduy độc lập và nó không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có Tính độc lập của nóbộc lộ vừa trong việc đặt mục đích vừa trong việc tìm giải pháp Mỗi sản phẩmcủa tư duy sáng tạo đều mang rất đậm dấu ấn của mỗi cá nhân đã tạo ra nó” [18]
V.A Kơ-ru-tec-xki chỉ ra mối quan hệ giữa ba dạng tư duy, nói lên điều kiện cần của tư duy sáng tạo là tư duy độc lập và tư duy tích cực.
Tư duy sáng tạo
Trang 20-Mực độ tư duy tích cực: Học sinh chăm chú lắng nghe giáo viên giảng, cố gắnghiểu, tham gia nhiệt tình vào bài giảng.
- Mức độ tư duy độc lập: Học sinh tự đọc, tự chứng minh các vấn đề được giáo viên nêu ra, có thể là nghiên cứu gợi ý, thậm chí đưa ra đáp án
-Mức độ tư duy sáng tạo: Học sinh tự nêu ra, khám phá vấn đề Bước đầu có thể theo được định hướng của giáo viên
Như vậy, tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập, tạo ra ý tưởng mớiđộc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao
Tuy nhiên, tư duy sáng tạo có tính chất tương đối Một phát hiện có thểđược coi là sáng tạo trong một hoàn cảnh nào đó, chưa chắc được coi là sáng tạotrong một tình huống, hoàn cảnh khác Một phát hiện có thể coi là sáng tạo vớingười này nhưng không mới mẻ với người khác, sáng tạo ở thời điểm này nhưngkhông sáng tạo ở thời điểm khác
1.2.3 Một số yếu tố đặc trƣng của tƣ duy sáng tạo
Rubinstein cho rằng tư duy sáng tạo bắt đầu bằng một tình huống gợi vấn
đề [17] Sáng tạo bắt đầu từ thời điểm khi các phương pháp logic để giải quyếtnhiệm vụ là không đủ, hoặc vấp phải trở ngại Bắt đầu từ tình huống gợi vấn đề,
tư duy sáng tạo giải quyết mâu thuẫn tồn tại trong tình huống đó với hiệu quảcao, thể hiện ở tính hợp lí, tiết kiệm, tính khả thi và cả vẻ đẹp của giải pháp
Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý học và giáo dục học thì cấu trúc của
tư duy sáng tạo có năm đặc trưng cơ bản: Tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tínhđộc đáo, tính hoàn thiện và tính nhạy cảm vấn đề Ngoài ra còn có những yếu tốquan trọng khác như: tính chính xác, năng lực định giá, phán đoán, năng lực địnhnghĩa lại
- Tính mềm dẻo: Là năng lực dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang
hoạt động trí tuệ khác, không rập khuôn theo sơ đồ tư duy có sẵn, xây dựngphương pháp tư duy mới, tạo ra sự vật mới trong những quan hệ mới hoặc
chuyển đổi quan hệ và nhận ra bản chất sự vật và phán đoán Tính mềm dẻo còn
11
Trang 21thể hiện ở khả năng nhận ra vấn đề mới trong điều kiện quen thuộc, nhìn thấychức năng mới của đối tượng quen biết.
Ví dụ 1 Cho khối chóp tam giác đều S.ABC có đáy là tam giác đều cạnh bằng a,
các cạnh bên tạo với đáy một góc 600 Gọi M, N thứ tự là trung điểm của các cạnh SA, SB Điểm P thuộc cạnh SC sao cho SP 2PC Hãy tính thể tích khối
đa diện MNPABC.
Phân tích:
Khối đa diện MNPABC không phải là khối đa diện
cơ bản (khối chóp hay khối lăng trụ) Do đó, không
thể tính trực tiếp thể tích của khối đa diện đó được
mà phải tính gián tiếp
Tiếp tục suy nghĩ, với khả năng linh hoạt học sinh sẽ nhận ra là khối chóp
S.ABC đã hoàn toàn xác định, vậy thể tích của khối chóp S.ABC là tính được Khối chóp S.ABC là sự lắp ghép của hai khối: khối chóp S.MNP và khối đa diện MNPABC Như vậy, để tính thể tích khối đa diện MNPABC ta sẽ đi tính thể tích khối chóp S.MNP.
Lại tiếp tục suy nghĩ, học sinh nhận thấy rằng việc tính trực tiếp thể tích
của khối chóp S.MNP là không đơn giản vì cả hai yếu tố: diện tích đáy và chiều
cao đều chưa xác định được Từ đó học sinh sẽ nghĩ đến việc tính gián tiếp thể
tích khối chóp S.MNP; đến đây với những dữ kiện bài toán đã cho học sinh sẽ nghĩ tới việc sử dụng tỉ số thể tích để tính thể tích khối chóp S.MNP.
Lời giải:
Gọi SH là đường cao của hình chóp S.ABC Đường thẳng AH cắt BC tại I Do S.ABC là hình chóp đều nên H là trọng tâm của ABC và AI là trung tuyến của tam giác ABC.
12
Trang 22Nhận xét: Sự linh hoạt trong tư duy để tìm ra cách giải hợp lí, đúng đắn trong ví
dụ trên là sử dụng phương pháp gián tiếp để tính thể tích của khối đa diện MNPABC và khối chóp S.MNP Đó chính là biểu hiện của tính mềm dẻo trong
tư duy.
- Tính nhuần nhuyễn: Là năng lực tạo ra một cách nhanh chóng sự tổ hợp
của các yếu tố riêng lẻ của tình huống, đưa ra giả thuyết mới và ý tưởng mới Tính nhuần nhuyễn của tư duy được thể hiện rõ nét ở hai đặc trưng sau:
+ Tính đa dạng của các cách xử lí khi giải toán, khả năng tìm được nhiềugiải pháp trên nhiều góc độ và tình huống khác nhau Đứng trước một vấn đề cầngiải quyết người có tư duy nhuần nhuyễn nhanh chóng tìm ra và đề xuất đượcnhiều phương án khác nhau và từ đó tìm ra được phương án tối ưu
+ Khả năng xem xét đối tượng dưới nhiều khía cạnh khác nhau, có cái
nhìn sinh động từ nhiều phía đối với sự vật và hiện tượng chứ không phải cái nhìn bất biến, phiến diện, cứng nhắc
Trang 2313
Trang 24Ví dụ 2 ( Trích đề TSĐH khối B năm 2006)
Cho hình chóp S.ABCD có đáy ABCD là hình chữ nhật với AB = a, AD = a 2 ,
SA = a và SA vuông góc với mặt phẳng (ABCD) Gọi M, N lần lượt là trung điểm của AD và SC; I là giao điểm của BM và AC Tính thể tích của khối tứ diện ANIB.
Lời giải:
- Nhìn vào khối tứ diện ANIB, học sinh có thể
coi đó là khối chóp N.ABI từ đó dẫn đến việc
phải đi tính diện tích tam giác AIB và khoảng
Từ (2) và (3) suy ra
Diện tích tam giác AIB là S
Từ (1) và (4) suy ra
Trang 25-Học sinh có thể nhìn thấy mối quan hệ tỉ số thể
tích giữa khối tứ diện ANIB với khối tứ diện
ANMB, mối quan hệ có chung đáy giữa khối
chóp N.AMB với khối chóp S.AMB, từ đó có
Trang 26V CS
C.SAB
Vậy V ANIB
15
-Sau khi học xong chương phương pháp
tọa độ trong không gian, học sinh cũng
có thể nhận thấy ở đây có một góc tam
diện vuông đỉnh A, đó là dấu hiệu để có
thể sử dụng phương pháp tọa độ trong
không gian, từ đó có cách giải sau:
Chon hệ trục tọa độ Oxyz sao cho A ≡ O, điểm B thuộc tia Ox, điểm D thuộc tia
Oy, điểm S thuộc tia Oz.
Khi đó, từ giả thiết suy ra tọa độ các điểm như sau: A(0;0;0), B(a;0;0), C(a;a 2 ;
0), D(0;a 2 ;0), S(0;0;a).
M, N lần lượt là trung điểm của AD và SC M
AM//BC ∆BIC : ∆MIA (g-g)
Trang 27Nhận xét: Việc đề xuất được nhiều phương án giải quyết vấn đề trong Ví dụ 2 nói
trên là biểu hiện của tính nhuần nhuyễn trong tư duy Rõ ràng để có được điều đó học sinh phải rất thành thạo với các kĩ năng cơ bản.
- Tính độc đáo:
Tính độc đáo của tư duy được đặc trưng bởi các khả năng sau:
+ Khả năng tìm ra những liên tưởng và những kết hợp mới
16
Trang 28+ Khả năng nhìn ra những mối liên hệ trong những sự kiện mà bề ngoài tưởng như không có liên hệ với nhau.
+ Khả năng tìm ra những giải pháp lạ tuy đã biết những giải pháp khác
Ví dụ 3 Cho tứ diện ABCD Gọi d là khoảng cách giữa hai đường thẳng AB và
CD , là góc giữa hai đường thẳng đó Chứng minh rằng
- Tính hoàn thiện: Là khả năng lập kế hoạch, phối hợp các ý tưởng và
hành động, phát triển ý tưởng, kiểm tra và kiểm chứng ý tưởng đó của mình
- Tính nhạy cảm vấn đề:
Đặc trưng bởi các khả năng sau:
+ Khả năng nhanh chóng phát hiện ra vấn đề
Trang 2917
Trang 30+ Khả năng phát hiện ra mâu thuẫn, sai lầm, thiếu logic, chưa tối ưu
từ đó
có những cấu cấu trúc lại, tạo ra cái mới
Qua đó chúng ta thấy các yếu tố cơ bản của quá trình tư duy sáng tạo nêutrên không tách rời nhau mà trái lại chúng có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ
bổ sung cho nhau Khả năng dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạtđộng trí tuệ khác (tính mềm dẻo) tạo điều kiện cho việc tìm được nhiều giải pháptrên nhiều góc độ và tình huống khác nhau (tính nhuần nhuyễn) Nhờ đó có thể
đề xuất được nhiều phương án khác nhau và tìm được giải pháp lạ, đặc sắc (tínhđộc đáo) Các yếu tố này có quan hệ khăng khít với các yếu tố như: Tính chínhxác, tính hoàn thiện, tính nhạy cảm vấn đề Tất cả các yếu tố đặc trưng nói trêncùng góp phần tạo nên tư duy sáng tạo, đỉnh cao nhất trong các hoạt động trí tuệcủa con người
Các yếu tố cơ bản của tư duy sáng tạo nêu trên đã biểu hiện khá rõ ở họcsinh, riêng với các em khá giỏi thì càng rõ nét Trong quá trình giải toán, các em
đã biết đổi các hoạt động trí tuệ, biết sử dụng xen kẽ phân tích và tổng hợp: dùng
kĩ năng phân tích khi tìm tòi lời giải, sử dụng kĩ năng tổng hợp để trình bày lờigiải Người giáo viên cần có phương pháp dạy học thích hợp để bồi dưỡng vàphát triển năng lực sáng tạo của học sinh
1.3 Phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh
1.3.1 Nhiệm vụ và mục tiêu phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh phổ thông
Trong công cuộc cải cách nền giáo dục nước ta hiện nay thì một trongnhững trọng tâm chính là đổi mới phương pháp dạy và học nhằm tạo cho họcsinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển tư duy cũng như tạoniềm vui trong học tập
Điều 29 trong Luật Giáo dục (2005) ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng
18
Trang 31vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”.
Giáo dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam phát triểntoàn diện, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến của đất nước trong bối cảnhtoàn cầu hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước Giáo dục và đào tạo phải góp phần tạo nên một thế hệ người laođộng có tri thức, có đạo đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sángtạo, có kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng nghề nghiệp để làmviệc hiệu quả trong môi trường toàn cầu hóa vừa hợp tác vừa cạnh tranh [23]
Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, đã thông qua Nghị quyết 29 về đổi mớicăn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó đã xác định mục tiêu tổng quát
của giáo dục và đào tạo là: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo
vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả”[26].
Như vậy việc đào tạo ra những con người lao động mới có tri thức, có tưduy sáng tạo là một trong những sứ mạng của giáo dục Toán học là môn khoahọc cơ bản, là công cụ để học tập và nghiên cứu các môn học khác Toán học cóliên quan chặt chẽ cũng như ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học,công nghệ, kĩ thuật và đời sống Vì thế, dạy học môn Toán ở nhà trường phổthông giữ vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát triển tư duy sáng tạo chohọc sinh
1.3.2 Vận dụng tƣ duy biện chứng để phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh
Tư duy biện chứng rất quan trọng, nó là cái giúp ta phát hiện vấn đề vàđịnh hướng tìm tòi cách giải quyết vấn đề, nó giúp ta củng cố lòng tin khi trongviệc tìm tòi tạm thời gặp thất bại, những khi đó ta vẫn vững lòng tin rồi sẽ đến
19
Trang 32lúc thành công và hướng tìm đến thành công là cố nhìn cho được mỗi khái niệmtoán học theo nhiều cách khác nhau, càng nhiều càng tốt.
Tư duy biện chứng có thể phản ánh đúng đắn thế giới xung quanh vànhiệm vụ của người giáo viên là rèn cho học sinh năng lực xem xét các đối tượng
và hiện tượng trong sự vận động, trong những mối liên hệ, mối mâu thuẫn vàtrong sự phát triển
Tư duy sáng tạo là loại hình tư duy đặc trưng bởi hoạt động và suy nghĩnhận thức mà những hoạt động nhận thức ấy luôn theo một phương diện mới,giải quyết vấn đề theo cách mới và vận dụng trong hoàn cảnh mới đồng thời xemxét sự vật, hiện tượng về mối liên hệ theo một cách mới có ý nghĩa, có giá trị Đểđạt được điều đó, khi xem xét một vấn đề, chúng ta phải xem xét nó dưới nhiềukhía cạnh khác nhau và đặt vào những hoàn cảnh khác nhau…, có như vậy mới
có thể giải quyết vấn đề một cách sáng tạo Mặt khác, tư duy biện chứng đã chỉ
rõ là khi xem xét sự vật phải xem xét một cách đầy đủ với tất cả tính phức tạpcủa nó tức là xem xét sự vật ở tất cả các mặt, trong tổng hòa các mối quan hệ.Đây là cơ sở để học sinh học toán một cách sáng tạo, không gò bó và đưa rađược nhiều lời giải khác nhau
Tóm lại, giáo viên cần rèn luyện tư duy biện chứng cho học sinh từ đó cóthể bồi dưỡng và phát triển được tư duy sáng tạo
1.3.3 Tiềm năng của chủ đề “Thể tích của khối đa diện” trong việc bồi dƣỡng và phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh
Sáng tạo là một trong những phẩm chất tư duy quan trọng nhất cần đượcrèn luyện cho học sinh, là kĩ năng quan trọng nhất trong 13 kĩ năng tư duy cần
thiết của người lao động thế kỉ XXI (theo Hiệp hội Khoa học Kĩ thuật Hoa Kì).
Các nhà tâm lý học cho rằng:"Sáng tạo bắt đầu từ thời điểm mà các phương pháp lôgic để giải quyết nhiệm vụ là không đủ và gặp trở ngại hoặc kết quả không đáp ứng được các đòi hỏi đặt ra từ đầu, hoặc xuất hiện giải pháp mới tốt hơn giải pháp cũ" [4].
20
Trang 33Chính vì vậy, trong quá trình dạy học người giáo viên cần chú trọng bổsung hệ thống bài tập rèn luyện những phẩm chất của tư duy sáng tạo cho họcsinh như tính độc lập, tính linh hoạt, tính nhuần nhuyễn… Các bài tập chủ yếunhằm bồi dưỡng tính mềm dẻo của tư duy sáng tạo với các đặc trưng: dễ dàngchuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, suy nghĩ không rậpkhuôn; khả năng nhận ra vấn đề mới trong điều kiện quen thuộc, nhìn thấy chứcnăng mới của đối tượng quen biết Các bài tập chủ yếu bồi dưỡng tính nhuầnnhuyễn của tư duy sáng tạo với các đặc trưng: khả năng tìm được nhiều giải pháptrên nhiều góc độ và hoàn cảnh khác nhau, khả năng xem xét đối tượng dướinhững khía cạnh khác nhau Các bài tập chủ yếu nhằm bồi dưỡng tính nhạy cảmvấn đề của tư duy sáng tạo với các đặc trưng: nhanh chóng phát hiện những vấn
đề tìm ra kết quả mới, tạo ra được bài toán mới, khả năng nhanh chóng phát hiện
ra các mâu thuẫn, thiếu logic
Chủ đề hình học không gian nói chung, chủ đề thể tích của khối đa diệnnói riêng chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn trong việc bồi dưỡng và phát huynăng lực sáng tạo cho học sinh Bên cạnh việc giúp học sinh giải quyết các bàitập cơ bản trong sách giáo khoa, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh khai tháccác bài toán đó thông qua việc xây dựng hệ thống các bài tập mới trên cơ sở cácbài tập cơ bản, khai thác kết quả của các bài tập cơ bản để giải quyết các bài tậpkhác khó hơn, phức tạp hơn,…tạo cơ hội cho học sinh phát triển năng lực sángtạo
Khi học tập chủ đề thể tích của khối đa diện, học sinh sẽ có được cơ hộivận dụng rất linh hoạt các kiến thức của hình học phẳng, đại số, giải tích, lượnggiác, hình học không gian để vượt qua những chướng ngại của bài toán Cũngnhờ đó mà học sinh có cơ hội rèn luyện sự nhuần nhuyễn, mềm dẻo, khả năngphân tích tổng hợp những yếu tố rất cần thiết để có được tư duy sáng tạo
Đối với việc học tập chủ đề này giáo viên có thể linh hoạt chọn nhữnghình thức dạy học thích hợp với năng lực của từng nhóm học sinh, tạo ra hứngthú, say mê, mỗi nhóm có thể nhận một hay nhiều nhiệm vụ từ việc cụ thể hoá
21
Trang 34một dạng bài tập, hoặc có thể tổng quát hoá, đặc biệt hoá một bài tập cụ thể đểxây dựng nên các bài tập mới.
Đối với nhóm học sinh khá giỏi thì giáo viên có thể hướng dẫn các emsáng tạo nên các bài tập mới trên cơ sở các dạng bài tập đã dạy Trong quá trìnhdạy học giáo viên cần dẫn dắt học sinh giải quyết hệ thống bài tập mới, tạo chohọc sinh phát hiện vấn đề mới, đó là vấn đề quan trọng mà ta cần quan tâm bồidưỡng cho học sinh Có nhiều phương pháp khai thác các bài tập trong sách giáokhoa, để tạo ra các bài toán có tác dụng rèn luyện tính mềm dẻo, nhuần nhuyễn,tính độc đáo của tư duy sáng tạo
Ngoài ra tư duy hình học mang những nét đặc trưng quan trọng và cơ bảncủa tư duy toán học Việc phát triển tư duy hình học luôn gắn với khả năng pháttriển trí tưởng tượng không gian, phát triển tư duy hình học luôn gắn liền vớiviệc phát triển của phương pháp suy luận Như vậy để nâng dần cấp độ tư duytrong dạy học hình học, việc dạy học phải được chú ý vào việc phát triển trítưởng tượng không gian bằng cách giúp học sinh hình thành và tích luỹ các biểutượng không gian một cách vững chắc, biết nhìn nhận đối tượng hình học ở cáckhông gian khác nhau, biết đoán nhận sự thay đổi của biểu tượng không gian khithay đổi một số sự kiện
Như vậy có thể thấy tiềm năng của chủ đề thể tích của khối đa diện trongviệc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh là rất lớn
1.4 Thực tiễn vấn đề phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong giảng dạy môn Toán ở trường trung học phổ thông
1.4.1 Nội dung chương “Khối đa diện và thể tích của chúng” trong chương trình hình học 12, Nâng cao
Bảng 1.1 Nội dung chương “Khối đa diện và thể tích của chúng”
Tên bài
1 Khái niệm về khối đa diện
2 Phép đối xứng qua mặt phẳng và sự bằng nhau của các khối đa
3,4,5diện Luyện tập
22
Trang 353 Phép vị tự và sự đồng dạng của các khối đa diện Các khối đa
diện đều Luyện tập
4 Thể tích của khối đa diện Luyện tập
Ôn tập chương
Kiểm tra
Chúng tôi thấy thời lượng 14 tiết dành cho chương “Khối đa diện và thểtích của chúng” là còn ít; hơn nữa nội dung thể tích của khối đa diện là nội dungchính của chương chỉ thực sự có gần 5 tiết, điều đó càng làm cho giáo viên gặpkhó khăn trong việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua giảng dạynội dung “Thể tích của khối đa diện” Vì vậy, giáo viên cần có sự chuẩn bị chuđáo về nội dung giảng dạy, các phương pháp truyền đạt và phải biết tận dụngthời gian các giờ học tự chọn để giúp học sinh không những nắm được kiến thức
về thể tích của khối đa diện mà còn được phát triển tư duy đặc biệt là tư duy sángtạo
1.4.2 Điều tra, quan sát thực trạng vấn đề phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy và học chủ đề “Thể tích của khối đa diện” trong chương trình hình học 12, nâng cao
Chúng tôi đã tiến hành điều tra nhằm mục đích hệ thống được một phầnthực trạng việc dạy và học bộ môn Toán theo định hướng phát triển tư duy sángtạo cho học sinh lớp 12, đặc biệt là qua việc dạy và học chủ đề “Thể tích củakhối đa diện” ở trường THPT Cộng Hiền, Hải Phòng
Chúng tôi đã gửi phiếu điều tra đến 122 học sinh ( các lớp 12A1, 12A2,12A3), 12 giáo viên tổ Toán trường THPT Cộng Hiền, Hải Phòng và 27 đồngnghiệp khác ở các trường THPT trong huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng Kết quả điềutra được trình bày trong phụ lục 1 và phụ lục 2
Chúng tôi cũng dự giờ một số tiết dạy trong chủ đề thể tích của khối đadiện của các giáo viên tổ Toán trường THPT Cộng Hiền để quan sát thái độ họctập của học sinh và tiến trình dạy của giáo viên từ đó đánh giá mức độ bồi dưỡng
và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
23
Trang 36Qua điều tra tác giả xin đưa ra một số nhận định như sau:
Hiện nay việc dạy học bồi dưỡng và phát triển tư duy sáng tạo cho học
sinh THPT trong giảng dạy môn Toán nói chung, trong giảng dạy chủ đề “Thể tích của khối đa diện” nói riêng còn nhiều hạn chế:
Về phía giáo viên: Trong giảng dạy, tuy đã có những thầy cô giáo tâm
huyết với nghề, thường xuyên trau dồi chuyên môn, đổi mới phương pháp đểkhông ngừng nâng cao chất lương giảng dạy, không những trang bị cho học sinhkiến thức cần thiết mà còn rất coi trọng việc hình thành và phát triển các nănglực tư duy cho học sinh trong đó có tư duy sáng tạo Nhưng bên cạnh đó cònkhông ít các thầy cô giáo chưa quan tâm nhiều đến việc rèn tư duy nhất là tư duysáng tạo cho học sinh; chỉ dừng lại ở mức độ rèn kỹ năng tính toán đối với từngdạng bài cụ thể; chưa chú ý tới việc hướng dẫn học sinh tìm tòi khai thác mởrộng bài toán
Môn Toán ở trường THPT là môn học thuận lợi cho việc phát triển tư duycho học sinh thế nhưng nhiều thầy cô dạy Toán chưa tận dung được điều này.Trong các tiết dạy, giáo viên chưa thật sự khơi dậy được sự tò mò, tính ham hiểubiết, khả năng tự học và sự sáng tạo của học sinh Trong các đề kiểm tra cònthiên về kiểm tra khối lượng kiến thức, nặng về kĩ năng tính toán; chưa chú ý đếnviệc đánh giá sự sáng tạo của học sinh…Nói cách khác, giáo viên chưa có nhiềubiện pháp kích hoạt được tư duy sáng tạo của học sinh Việc giao nhiệm vụ chocác nhóm học sinh chưa được thực hiện một cách thường xuyên dẫn tới việc tựhọc tự nghiên cứu của các em còn ít, cũng vì thế chưa phát huy được tính sángtạo của học sinh
Về phía học sinh: Học sinh gặp khó khăn khi chuyển hóa từ hoạt động trí
tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, không vận dụng linh hoạt được các hoạtđộng phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa… Đa số các emkhi giải ra kết quả một bài toán là dừng lại không có thói quen đào sâu suy nghĩnắm được cốt lõi của bài toán, không chịu suy nghĩ thêm để tìm lời giải kháccũng như xem xét lời giải đó có tối ưu hay chưa, không xem xét bài toán dướinhiều khía cạnh khác nhau cũng như không mở rộng khai thác bài toán…Do đó
24
Trang 37mà rất ít học sinh có khả năng tự ra được đề toán mới Tính tự giác và độc lậptrong học tập của các em chưa cao, còn ỷ lại vào thầy cô giáo, không dành nhiềuthời gian cho việc tự học, tự đọc sách tham khảo để bồi dưỡng kiến thức chomình.
Trong việc học hình học không gian, học sinh chưa nắm vững được cáchình không gian, chưa thấy được mối liên hệ giữa các hình không gian với nhau;
do đó không biết “quy lạ về quen”, không biết liên hệ với các bài toán cơ bản đểgiải các bài toán phức tạp hơn
Đứng trước thực trạng như vậy chúng tôi thấy rất cần có các biện pháp cụthể, thiết thực, hiệu quả để bồi dưỡng và phát triển tư duy sáng tạo cho các emhọc sinh Khi học sinh có sự sáng tạo thì nhiệm vụ của người thầy mới được coi
là thành công
Tiểu kết chương 1
Trong chương này luận văn đã làm rõ các khái niệm tư duy, tư duy sángtạo, nêu được các yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo, vận dụng tư duy biệnchứng để phát triển tư duy sáng tạo đồng thời nêu được tiềm năng của việc dạyhọc chủ đề “Thể tích của khối đa diện” trong việc phát triển tư duy sáng tạo chohọc sinh
Việc bồi dưỡng và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong quá trìnhdạy học là rất cần thiết Khai thác tiềm năng của chủ đề “Thể tích của khối đadiện” để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh là hướng đi đúng Mỗi giáo viêncần luôn luôn suy nghĩ để tìm ra các biện pháp thích hợp nhằm phát triển tư duysáng tạo cho học sinh
25
Trang 38CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “THỂ TÍCH CỦA KHỐI ĐA DIỆN” TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÌNH HỌC LỚP 12, BAN NÂNG CAO
Để học sinh có thể tích cực chủ động trong học tập, người giáo viên cầntạo ra không khí lớp học thân thiện, tổ chức và điều khiển hợp lí các hoạt độngcủa từng cá nhân và tập thể học sinh Giáo viên tạo ra thật nhiều các tình huống
có vấn đề, qua đó tổ chức điều khiển cho học sinh tranh luận và lĩnh hội kiếnthức
Học tập sáng tạo là cái đích cần đạt Việc phát triển tư duy sáng tạo chohọc sinh là một quá trình lâu dài và phải được tiến hành ở tất cả các khâu của quátrình dạy học Trong quá trình dạy học toán ngoài việc trang bị cho học sinh kiếnthức giáo viên cần chú trọng nhiều đến việc phát triển tư duy sáng tạo Để làmđược điều đó giáo viên cần chú trọng rèn luyện các đặc trưng của tư duy sángtạo Giáo viên cần rèn cho học sinh cách nhìn, cách giải quyết vấn đề một cáchlinh hoạt không gò bó, rèn khả năng dự đoán, mò mẫm khi giải toán, rèn cho họcsinh biết nhìn tình huống bài toán dưới nhiều góc độ khác nhau để có hướng giảiquyết vấn đề dưới nhiều khía cạnh, từ đó tìm ra được cách giải quyết tối ưu Giáoviên đóng vai trò là người điều khiển, hướng dẫn học sinh để thông qua giải toán
tư duy sáng tạo của học sinh được phát huy
Căn cứ vào cơ sở lí luận và thực tiễn về tư duy sáng tạo thì việc rèn luyện
các yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo thông qua dạy học chủ đề “Thể tích của khối đa diện” là biện pháp để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh.
2.1 Biện pháp 1 Rèn luyện kĩ năng cơ bản về tính thể tích của khối đa diện cho học sinh
2.1.1 Một số kiến thức cơ bản về thể tích của khối đa diện
- Mỗi khối đa diện có thể tích là một số dương, thỏa mãn các tính chất sauđây:
1) Hai khối đa diện bằng nhau thì có thể tích bằng nhau
2) Nếu một khối đa diện được phân chia thành nhiều khối đa diện nhỏ thì
Trang 3926
Trang 40thể tích của nó bằng tổng thể tích của các khối đa diện nhỏ đó.
3) Khối lập phương có cạnh bằng 1 thì có thể tích bằng 1
- Mỗi khối đa diện có thể phân chia được thành những khối tứ diện
- Thể tích của một khối hộp chữ nhật là V abc ( trong đó a b, c là ba kích
thước của nó )
- Thể tích V của khối chóp có diện tích đáy S đáy và chiều cao h là V 1
3 S đáy h
- Thể tích V của khối lăng trụ có diện tích đáy S đáy và chiều cao h là V S đáy h
- Thể tích của khối hộp bằng tích của diện tích đáy và chiều cao của nó
- Tỉ số thể tích của hai khối đa diện đồng dạng bằng lập phương tỉ số đồngdạng
-Nếu khối chóp và khối lăng trụ có diện tích mặt đáy và chiều cao bằng nhau thì thể tích khối chóp bằng một phần ba thể tích của khối lăng trụ
Việc nắm được và sử dụng thành thạo các kiến thức cơ bản nêu trên là điều quan trọng giúp học sinh có thể linh hoạt trong việc tìm lời giải các bài toán về thể tích của khối đa diện Sau đây là ví dụ minh họa cho việc sử dụng một số trong các kiến thức cơ bản nêu trên.
Ví dụ 4 Chia khối lăng trụ ABC.A' B 'C ' thành ba khối tứ diện bởi các mặt
phẳng A' BC ' và A' BC
a) Hãy kể tên ba khối tứ diện đó
b) Chứng tỏ rằng ba khối tứ diện đó có thể tích bằng nhau