Mục đích nghiên cứu Phân tích mối liên hệ giữa sự phát triển năng lực tự học của học sinh vàdạy học các bài toán thuộc chủ đề Phương trình vô tỉ, từ đó đề xuất một sốbiện pháp nhằm nâng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Hữu Châu
HÀ NỘI – 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến quý thầy cô trườngĐại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, những người đã truyền đạt chochúng tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian chúngtôi học tập tại trường
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy, các cô khoa Sưphạm và đặc biệt là GS.TS Nguyễn Hữu Châu, người đã trực tiếp hướng dẫn,dìu dắt, giúp đỡ tôi với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trìnhtriển khai, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin gửi tới Ban Giám hiệu, tập thể cán bộ, giáo viên trường THPT GiaoThủy tỉnh Nam Định lời cảm tạ sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp
đỡ tác giả thu thập số liệu cũng như những tài liệu nghiên cứu cần thiết liênquan tới đề tài này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả những người bạn, những người anh emnhững người đã cùng gắn bó, cùng học tập và giúp đỡ tôi trong những nămqua cũng như trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, chúng tôi cảm ơn gia đình, những người thân đã cho chúngtôi những điều kiện tốt nhất để học tập trong suốt hai năm vừa qua
Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng bản luận văn này cũng không tránh khỏinhững thiếu sót cần góp ý, sửa chữa Tác giả rất mong nhận được những ýkiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp và độc giả,…đểluận văn này hoàn thiện
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 09 năm 2016
Tác giả luận văn
Lều Thị Phương
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
Danh mục các sơ đồ, biểu đồ, hình vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Tự học 6
1.1.1 Một số quan điểm về tự học 6
1.1.2 Đặc trưng của hoạt động tự học 8
1.1.3 Vai trò của tự học trong quá trình dạy học 9
1.1.5 Ý nghĩa của tự học 10
1.1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học 11
1.2 Năng lực tự học 12
1.2.1 Năng lực 12
1.2.2 Năng lực tự học 17
1.2.3 Năng lực tự học toán của học sinh ở trung học phổ thông 25
1.2.4 Mối liên hệ giữa năng lực tự học và các năng lực khác 26
1.3 Dạy học tự học 26
1.3.1 Dạy học tự học 26
1.3.2 Vai trò của dạy học tự học 27
1.3.3 Mối liên hệ giữa phát triển năng lực tự học của học sinh và dạy học các bài toán thuộc chủ đề Phương trình vô tỉ 27
1.4 Thực trạng dạy học tự học, dạy học các bài toán thuộc chủ đề Phương trình vô tỉ ở trường THPT Giao Thủy, tỉnh Nam Định 28
1.4.1 Thực trạng dạy học tự học 28
1.4.2 Thực trạng dạy học chủ đề Phương trình vô tỉ 31
1.5 Kết luận chương 1 33
Trang 6CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ PHƯƠNG TRÌNH VÔ TỈ 34
2.1 Các căn cứ để xây dựng biện pháp 34
2.1.1 Căn cứ vào cơ sở lý luận 34
2.1.2 Căn cứ vào mục tiêu của chương trình 34
2.1.3 Căn cứ vào điều kiện thực tiễn 34
2.2 Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông qua dạy học chủ đề Phương trình vô tỉ 35
2.2.1 Biện pháp 1: Gợi động cơ, hứng thú kích thích nhu cầu tự học của học sinh 35
2.2.2 Biện pháp 2: Rèn luyện cho học sinh một số kỹ năng tự học 50
2.2.3 Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh đánh giá kết quả học tập 63
2.3 Kết luận chương 2 71
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73
3.1 Đối tượng, mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 73
3.1.1 Đối tượng thực nghiệm 73
3.1.2 Mục đích thực nghiệm 73
3.1.3 Nhiệm vụ thực nghiệm 73
3.2 Nội dung và kế hoạch thực nghiệm sư phạm 73
3.2.1 Nội dung và kế hoạch thực nghiệm 73
3.2.2 Giáo án thực nghiệm 74
3.2.3 Để kiểm tra, đánh giá học sinh 89
3.3 Triển khai thực nghiệm sư phạm 91
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 91
3.4.1 Kết quả bài kiểm tra, đánh giá học sinh 91
3.4.2 Phân tích số liệu và kết luận sư phạm 91
3.5 Kết luận chương 3 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 98
iv
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng thống kê mức độ và hiệu quả sử dụng các cách dạy
học tự học 29
Bảng 1.2 Bảng thống kê các khó khăn khi dạy học tự học 29
Bảng 1.3 Bảng thống kê mức độ tự học của học sinh 30
Bảng 1.4 Bảng thống kê các khó khăn khi học sinh tự học 30
Bảng 2.1 Bảng kế hoạch tự học Phương trình vô tỉ 53
Bảng 3.1 Bảng nội dung và kế hoạch thực nghiệm 74
Bảng 3.3 Bảng thống kê kết quả kiểm tra, đánh giá học sinh các lớp thực nghiệm 12B7 và 12B8 91 Bảng 3.4 Bảng thống kê kết quả kiểm tra, đánh giá học sinh các lớp đối chứng 12B9 và 12B10 91 Bảng 3.5 Bảng tỉ lệ phần trăm các mức độ của bài kiểm tra 92
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH
Sơ đồ 1.1 Cấu trúc của năng lực 15
Sơ đồ 2.1 Mối quan hệ giữa “hứng thú” và “tự học’’ 36Biểu đồ 3.1 Biểu đồ hình cột điểm số của các lớp 93
vi
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, nhân loại đang bước vào một nền văn minh trí tuệ, một nềnkinh tế tri thức, một xã hội thông tin Thế giới đang trong cuộc chạy đua vềtốc độ trong hệ thống kinh tế - xã hội Vì vậy, người ta nói, muốn biết tươnglai một dân tộc ra sao hãy nhìn vào hiện tại xem dân tộc đó đang làm giáo dụcnhư thế nào? Trong nền kinh tế tri thức, ưu thế không hoàn toàn lệ thuộc vàocác nhân tố truyền thống như tài nguyên, đất đai, nhân công,… mà nhân tố có
ý nghĩa quyết định là trí tuệ con người, là đội ngũ lao động chất lượng cao, làchất xám của các chuyên gia Việt Nam muốn “sánh vai với các cường quốc nămchâu”, trước tiên phải làm tốt chiến lược “trồng người” theo tư tưởng Hồ Chí Minh.Chỉ có đi bằng con đường phát triển giáo dục, phát triển năng lực sẵn có trong mỗicon người, chúng ta mới có thể đi tắt, đón đầu và phát huy thế mạnh của con ngườiViệt Nam (yêu nước, ham học, thông minh, sáng tạo,…) để xây dựng và phát triểnđất nước Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục trong việc phát huy nhân tốcon người là kim chỉ nam để Đảng và Nhà nước ta xây dựng đường lối giáo dục vàđào tạo trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa
Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành
năm 2005 đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Chương 1, điều 5, khoản 2) [19] Trong những năm gần đây, bên cạnh những
thành tựu, kết quả đã đạt được thì ngành giáo dục còn đó những mặt hạn chế.Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới,chậm hiện đại hóa, thiếu tính thực tiễn, chưa gắn chặt với đời sống xã hội vàlao động nghề nghiệp; chưa phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành củahọc sinh Dưới áp lực của phương thức thi cử, tình trạng nhồi nhét kiến thứcvẫn còn xảy ra Thầy trò làm việc theo lề lối giáo
Trang 10điều, sách vở, coi nhẹ thực hành dẫn đến học sinh chưa phát huy được cácnăng lực của mình …
Đứng trước những bất cập này, công cuộc đổi mới giáo dục ắt phải
diễn ra Đề án: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” theo Nghị quyết TW8
khóa XI đã chỉ rõ: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”.
Theo Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể thì chươngtrình giáo dục phổ thông nhằm hình thành và phát triển cho học sinh nhữngnăng lực chung chủ yếu sau: năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề vàsáng tạo; năng lực thẩm mỹ; năng lực thể chất; năng lực giao tiếp; năng lựchợp tác; năng lực tính toán; năng lực công nghệ thông tin và truyền thông
Như vậy việc dạy học sinh tự học là tất yếu bởi vì quá trình giáo dụcthực chất là quá trình biến học sinh từ khách thể giáo dục thành chủ thể giáodục (tự giáo dục) Tự học giúp nâng cao kết quả học tập của học sinh và chấtlượng giáo dục của nhà trường, là biểu hiện cụ thể của việc đổi mới phươngpháp dạy học ở các trường phổ thông và cũng là một trong những mục tiêucủa giáo dục
Hơn nữa, chủ đề Phương trình vô tỉ là mảng kiến thức có một vai tròquan trọng trong chương trình Toán phổ thông, là công cụ cho nhiều nội dungkhác Để dạy chủ đề này thông thường giáo viên thường cung cấp cho họcsinh cách giải từng loại bài và chữa cho học sinh một số ví dụ ở mỗi dạng bài.Đặc biệt đây là chủ đề khá khó đối với học sinh do vậy không phải học sinh
2
Trang 11nào cũng đủ thời gian để thấu hiểu, ghi nhớ và vận dụng các kiến thức màgiáo viên truyền thụ ở trên lớp Vì vậy việc tự học, tự nghiên cứu của học sinh
là rất cần thiết Xuất phát từ thực tế trên và điều kiện nghiên cứu của bản thân,
tác giả chọn đề tài: “Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học chủ đề Phương trình vô tỉ” làm luận văn thạc sĩ.
2 Mục đích nghiên cứu
Phân tích mối liên hệ giữa sự phát triển năng lực tự học của học sinh vàdạy học các bài toán thuộc chủ đề Phương trình vô tỉ, từ đó đề xuất một sốbiện pháp nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài Trong phần này , đề tài se ̃hê ̣thống hóa cơ sởlýluâṇ về năng lực, năng lực tự học, về chủ đề Phương trình
vô tỉ ở bậc trung học phổ thông và mối liên hệ giữa chúng
- Đánh giá thực trạng về dạy học phát triển năng lực tự học và phân tíchcác yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tự học của học sinh trung học phổ thông
- Đềxuất các biện pháp nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông
- Xây dựng một số giáo án thực nghiệm, tiến hành thực nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi của các biện pháp trên
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Là học sinh trung học phổ thông
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Là năng lực tự học và các biêṇ pháp nhằm nâng cao năng lưc ̣ tự họccho học sinh trung học phổ thông
5 Vấn đề nghiên cứu
Dạy học các bài toán thuộc chủ đề Phương trình vô tỉ như thế nào để
có thể nâng cao năng lưc ̣ tự học cho học sinh trung học phổ thông?
Trang 126 Giả thuyết khoa học
Vận dụng các biện pháp dạy học các bài toán thuộc chủ đề Phươngtrình vô tỉ không những củng cố, hệ thống hóa kiến thức cho học sinh mà cònnâng cao được năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
7.1 Giới hạn và phạm vi về nội dung
Đề tài này nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự phát triển năng lực tựhọc của học sinh trung học phổ thông và dạy học các bài toán thuộc chủ đềPhương trình vô tỉ ở chương trình môn Toán nâng cao
7.2 Giới hạn và phạm vi về thời gian
Các nghiên cứu và số liệu khảo sát của đề tài này được tiến hành tronghọc kỳ II năm học 2015 – 2016 và học kỳ I năm học 2016 – 2017 (từ tháng 01năm 2016 đến tháng 10 năm 2016)
7.3 Giới hạn và phạm vi về khách thể nghiên cứu
Tiến hành trên học sinh khối 12 trường Trung học phổ thông GiaoThủy, tỉnh Nam Định
8 Mẫu khảo sát
Mẫu khảo sát của đề tài này được thực hiện trên học sinh các lớp 12B7,12B8, 12B9 và 12B10 niên khóa 2014 – 2017 trường Trung học phổ thôngGiao Thủy, tỉnh Nam Định
9 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Sưu tầm, đọc tài liệu tham khảo,
nghiên cứu các văn bản liên quan đến các vấn đề của đề tài này
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra - khảo sát bằng
phiếu hỏi, thực nghiệm sư phạm, tổng kết kinh nghiệm, tham vấn chuyên gia
- Phương pháp xử lý thông tin: Định lượng, định tính, thống kê và phân
tích thống kê
4
Trang 1310 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụlục, luận văn dự kiến được trình bày theo ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Xây dựng và đề xuất một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông qua dạy học chủ đề Phương trình vô tỉ
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 141.1.1.1 Quan niệm về tự học trên thế giới
Theo quan điểm của nhà tâm lý học N.ARubakin thì: Tự tìm lấy kiếnthức–có nghĩa là tự học Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xãhội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mốiquan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánhhoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinhnghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể [14, tr 96]
Cuốn “Phương pháp dạy và học hiệu quả” của tác giả Cark Rogers –một nhà giáo dục học, nhà tâm lý học người Mỹ đã giải đáp cho học sinh câuhỏi “học cái gì và học như thế nào”? Câu hỏi “dạy cái gì và dạy như thế nào”cũng đươc ̣ giải đáp [13, tr 103]
Năm 2008, Adam Khoo chứng minh đươc ̣ khả năng trí tuệ tìềm ẩn và
sự thông minh sáng tạo của con người vươṭ xa hơn những gì chúng ta nghĩ
và thường đươc ̣ nghe tới [6, tr 47]
1.1.1.2 Quan điểm về tự học ở Việt Nam
Theo cố GS Nguyễn Văn Đạo (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã có mộtvài suy nghĩ chung về vấn đề tự học: “Tự học là công việc suốt cả cuộc đờimỗi người Số thời gian dành cho việc học với sự giúp đỡ của người thầy làrất ít, chỉ chiếm khoảng 1/4 của một đời người Thời gian còn lại chủ yếu làdành cho việc tự học, cho lao động sáng tạo Ngay cả trong giai đoạn đi học,
6
Trang 15việc tự học luôn luôn có vai trò đặc biệt quan trọng Những người biết tự học,năng động, sáng tạo trong quá trình đi học là những người có triển vọng vàtiến xa trong cuộc đời này”.
GS TS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học – là tự mình động não,suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổnghợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất củamình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tínhtrung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì,nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuậnlợi vv ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnhvực đó thành sở hữu của mình” [16, tr 59-60]
Cốthủtướng Phạm Văn Đồng , một trong những học trò xuất sắc củaChủ tịch Hồ Chí Minh, đã tiếp nhận, thể hiện và làm phong phú tư tưởng, sựnghiệp giáo dục của Người trong lí luận và thực tiễn Ông chỉ rõ: “phươngpháp giáo dục không phải chỉ là những kinh nghiệm, thủ thuật trong truyềnthụ và tiếp thu kiến thức mà còn là con đường để học sinh có thể tự học, tựnghiên cứu chứ không phải là bắt buộc trí nhớ làm việc một cách máy móc,chỉ biết ghi rồi nói lại” [18]
Theo từ điển Giáo dục học-NXB từ điển Bách khoa 2001: “Tự học làquá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năngthực hành…” [10, tr 67]
Từ những quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về
tự học như sau: Tự học là quá trình cá nhân học sinh tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định.
Như vậy, tự học là một bộ phận của học hay nói cách khác học hàmchứa tự học Và tự học không có nghĩa chỉ là việc học ngoài giờ lên lớp, mà
tự học ở đây còn là hoạt động học diễn ra trên lớp dưới sự hướng dẫn, tổchức, chỉ đạo của người thầy, người học phải động não, tìm tòi, phát hiện,
Trang 16phân tích, khái quát để chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng chính tư duy của mình Bởi vậy, học cần phải được diễn ra trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với hoạt động dạy của thầy Mối quan hệ này có thể diễn ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tùy vào mức độ tự lực và trình độ của người học Điềunày cũng có nghĩa là kết quả tự học của người học không chỉ phụ thuộc vào trình độ, năng lực của người học, mà còn phụ thuộc vào khả năng, kinh
nghiệm tổ chức, hướng dẫn việc học của người thầy Nó cũng đươc ̣ hình thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của học sinh trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của học sinh, phản ánh tính tự giác và nỗ lực của học sinh, phản ánh năng lực tổ chức và điều khiển của học sinh nhằm đạt đươc ̣ kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với những nội dung học tập nhất định Tựhọc là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi con người trong quá trình học hỏi thường xuyên của cả cuộc đời
Như vậy muốn nâng cao chất lượng học tập của học sinh chúng ta cầnphải quan tâm đúng mức đến việc bồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độnghiệp vụ của người giáo viên đồng thời phải đặc biệt chú ý đến vị trí trungtâm của học sinh sinh trong hoạt động tập thể để làm sao khai thác triệt đểnhững tiềm năng vốn có trong người học, phát huy tính tự giác, tích cực sángtạo, chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức nhằm đào tạo nhân tài cho đấtnước, đáp ứng nhu cầu Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.2 Đặc trưng của hoạt động tự học
Tự học là quá trình tự điều khiển, tự chiếm lĩnh tri thức (quá trình thunhận, chế biến, xử lý, bảo quản và truyền đạt thông tin làm gia tăng sự hiểubiết của cá nhân) để học kỹ, nhớ lâu, hiểu sâu, vận dụng tốt Hoạt động tự họcxét về mặt cấu trúc bao gồm:
- Động cơ: Là nhu cầu hứng thú thu hút học sinh vào quá trình học tậptích cực và duy trì tính tích cực đó trong quá trình học tập, làm cho học sinh thấyđược ý nghĩa của việc học tập
8
Trang 17- Định hướng: Là mục đích của học sinh để xác định và ý thức được hoạt động nhận thức của mình, nó trả lời câu hỏi: Học để làm gì?
- Nội dung, phương pháp: Là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chủđạo cần chiếm lĩnh và các cách thức chiếm lĩnh chúng, nó trả lời cho câu hỏi: Họccái gì? Học như thế nào?
- Năng lực học tập: Là những khả năng tập trung chú ý, năng lực trí tuệ
và năng lực thực hành vốn có để phát huy trong quá trình tự học
- Năng lực tự kiểm tra, tự đánh giá: Là khả năng tự đánh giá kết quả tự học của mình, làm cơ sở cho những hoạt động tiếp theo
1.1.3 Vai trò của tự học trong quá trình dạy học
Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học ở bậc THPT nói riêng, giáoviên luôn giữ một vai trò quan trọng đặc biệt không thể thiếu được đó là sự tổchức, điều khiển, hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh Nhưngthực tế cho thấy rằng, dù giáo viên có kiến thức uyên thâm đến đâu, phươngpháp giảng dạy hay đến mấy nhưng học sinh không chịu đầu tư thời gian,không có sự lao động của cá nhân, không có niềm khao khát với tri thức,không có sự say mê học tập, không có kế hoạch và phương pháp học tập hợp
lý, không tự giác tích cực trong học tập thì việc học tập không đạt kết quảcao được
Vì vậy, có thể khẳng định vai trò của hoạt động tự học luôn giữ một vịtrí rất quan trọng trong quá trình học tập của học sinh Tự học là yếu tố quyếtđịnh chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập
1.1.4 Các mức độ của tự học
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [16] nêu lên đặc điểm của người tự học đó
là tự mình động não suy nghĩ, say mê, kiên trì, không ngại khó ngại khổ đểchiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nào đó Tác giả cũng chia tự học thành haimức đó là tự học có hướng dẫn và tự học hoàn toàn rồi đưa ra các dấu hiệu
để phân biệt hai mức này cụ thể là:
Trang 18Mức 1: Tự học có hướng dẫn (self learning with guidance) nghĩa là có
quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy và trò dưới dạng phản ánh, giải đáp thắcmắc, làm bài, chấm bài nhưng trò phải chủ động
Mức 2: Tự học hoàn toàn (self learning) có nghĩa là không có sự trợ
giúp của người thầy, người học tự vượt khó khăn trong học tập bằng cáchđộng não, tự mình làm thử, tự mình quan sát, cũng có thể gặp người khác đểtrao đổi
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chủ yếu xin đề cập đến mức
độ tự học thứ nhất và chỉ kết hợp với một phần của mức độ tự học thứ hai vìchúng tôi nhận thấy tự học của học sinh trung học phổ thông là một hoạt động
ở trình độ thấp với những hình thức đơn giản, không giống với quá trình nhậnthức của các nhà khoa học Thực chất việc tự học của học sinh trung học phổ thôngchủ yếu là nghiên cứu những bài học cụ thể trong sách giáo khoa, những tư liệu cóliên quan để đối chiếu, so sánh, mở rộng Đây chính là
những bước đi đầu tiên, cơ bản tạo tiền đề cho các em tiếp xúc với các hoạt động nghiên cứu ở mức độ cao hơn
1.1.5 Ý nghĩa của tự học
Ở bất kỳ bậc học hay cấp học nào hoạt động tự học cũng có ý nghĩa rấtquan trọng đối với kết quả học tập, tuy nhiên đối với học ở cấp học THPT càngthiết thực hơn bởi hoạt động tự học của học sinh ở giai đọan này mang
tính chất độc lập, tự lực, tự giác, sáng tạo trong việc tiếp thu tri thức cũng nhưviệc vận dụng tri thức vào các tình huống cụ thể Trong phương pháp học tậpcủa học sinh thì tự học rất quan trọng nhưng điều đó cũng không có nghĩa làthiếu vai trò của người giáo viên Do đó có thể nói hoạt động tự học là mộtkhâu của quá trình giáo dục, là một quá trình gia công, chế biến và tự điềukhiển theo đúng mục tiêu giáo dục quy định
Nhờ có tự học và chỉ bằng con đường tự học, học sinh mới có thể nắmvững tri thức, thông hiểu tri thức, bổ sung và hoàn thiện tri thức cũng nhưhình thành những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng Điều này đã được K.Đ.Usinxki
10
Trang 19nói: “Chỉ có công tác tự học của học sinh mới tạo điều kiện cho việc thônghiểu tri thức Và như vậy hoạt động tự học sẽ quyết định chất lượng giáo dục
- đào tạo của nhà trường”
Hoạt động tự học của học sinh không chỉ nâng cao năng lực nhận thức,rèn luyện thói quen, kỹ năng, kỹ xảo vận dụng tri thức của bản thân vào cuộcsống mà còn giáo dục tình cảm và những phẩm chất đạo đức của bản thân Vìtrên cơ sở những tri thức họ tiếp thu được nó có ý nghĩa sâu sắc đến việc giáodục tư tưởng đạo đức, lối sống, niềm tin, rèn luyện phong cách làm việc cánhân cũng như những phẩm chất ý chí cần thiết cho việc tổ chức lao động họctập của mỗi học sinh; bên cạnh đó còn rèn luyện cho họ cách suy nghĩ, tính tựgiác, độc lập… trong học tập cũng như rèn luyện thói quen trong hoạt độngkhác Nói cách khác hoạt động tự học hướng vào việc rèn luyện phát triểntoàn diện nhân cách học sinh Mặt khác hoạt động tự học không những là yêucầu cấp bách, thiết yếu của học sinh để họ tiếp nhận tri thức, nâng cao trình độhiểu biết của bản thân mà còn có ý nghĩa lâu dài trong suốt cuộc đời mỗi conngười, đó là thói quen học tập suốt đời, bởi sau khi ra trường vẫn phải tiếptục: Học, học nữa, học mãi
1.1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học của học sinh Phảiđiều khiển, phối hợp những yếu tố ấy trong quá trình tổ chức tự học mới đạtđược chất lượng và hiệu quả mong muốn Sau đây là những yếu tố chính:
- Bản thân học sinh phải chú ý đến động lực học tập, tố chất, năngkhiếu bẩm sinh, trình độ lý luận và trải nghiệm thực tiễn, kỹ năng tự học,phẩm chất, ý
chí, cảm xúc …
- Giáo viên, cha mẹ, bạn bè và xã hội Giáo viên ảnh hưởng trực tiếp vàquan trọng đến quá trình tự học qua nội dung, phương pháp, phương tiện vàhình thức tổ chức dạy học Ngoài ra, thái độ và mối quan hệ, học sinh sẽ cóảnh hưởng nhiều đến chất lượng dạy học nói chung cũng như chất lượng tự
Trang 20học Cha mẹ, anh em trong gia đình, họ hàng…là nguồn động viên tinh thầnquý giá và liên tục, đồng thời cũng là nơi kiểm tra, đánh giá chặt chẽ vànghiêm khắc, là nguồn cung cấp tài chính và phương tiện cho học sinh Bạn
bè, nhất là các nhóm nhỏ có tác động rất quan trọng trong việc trao đổi, tranhluận, giúp đỡ nhau trong học tập nhằm vượt qua những khó khăn, làm nảy nởcác tư tưởng, khoa học mới, phát triển lòng yêu khoa học và củng cố niềm tin
ở bản thân và cộng đồng
Các điều kiện vật chất và tinh thần như: sách vở, thời gian, tài chính,môi trường đạo đức lành mạnh của gia đình, nhà trường và xã hội cũng lànhững yếu tố rất quan trọng tác động đến việc tự học của học sinh
Tất cả những yếu tố trên cần được xem xét dưới một dạng tổng thể khigiải quyết vấn đề tự học và phải phát hiện kịp thời những lỗ hổng, nhữngđiểm yếu để bổ sung, khắc phục nhằm tạo ra một sự phát triển hài hòa cânđối Đồng thời phải tìm được điểm chính yếu nhằm tạo ra động lực để thúc
đẩy quá trình tự học [Error! Reference source not found., tr 13-14].
1.2 Năng lực tự học
1.2.1 Năng lực
Trong lịch sử nghiên cứu có rất nhiều quan niệm về năng lực dẫn đếncách tiếp cận và nghiên cứu cũng có sự khác biệt
Theo quan điểm của trường phái di truyền học ở phương Tây cuối thế
kỉ 19 đầu thế kỉ 20 thì năng lực phụ thuộc tuyệt đối vào tính bẩm sinh ditruyền của gen mà không phụ thuộc vào điều kiện xã hội cũng như các hoạtđộng hàng ngày của con người Theo phái tâm lí học hành vi thì năng lực củacon người là sự thích nghi về mặt sinh vật đối với môi trường sống Sau nàymột số người theo quan điểm xã hội học cho rằng năng lực được quyết địnhbởi môi trường xã hội Nhìn chung các cách tiếp cận và nghiên cứu trên bướcđầu cho chúng ta một số kết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên mặt hạn chế là họcho rằng năng lực là một lượng bất biến, khó có thể thay đổi theo sự pháttriển về mặt sinh học của con người và ít phụ thuộc vào môi trường xã hội
12
Trang 21Các nhà tâm lí học Mácxit và Xô viết khi nghiên cứu về năng lực lạicho rằng năng lực là tổng hòa của hai yếu tố Yếu tố thứ nhất là đặc điểm tâm
lí của cá nhân còn yếu tố thứ hai là kết quả của một hoạt động nào đó
Các-Mác cho rằng: “Sự khác nhau giữa năng lực của cá nhân thể hiện qua sự phân công lao động và kết quả lao động” [11, tr.167] Còn Angel cho rằng:
“Lao động sáng tạo ra con người”[1, tr 641]
Như vậy theo quan điểm này thì năng lực không những phụ thuộc vàoyếu tố bẩm sinh, bản năng mà năng lực còn hình thành và phát triển khi conngười tham gia các hoạt động học tập để làm tiền đề cho các hoạt động xãhội Năng lực là một lượng có thể biến đổi thông qua hoạt động
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về năng lực đều nhấn mạnh đếntính có ích của hoạt động
Theo từ điển tiếng Việt, năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan cósẵn để thực hiện một hoạt động nào đó [10 tr.23]
Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hànhđộng, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống khác nhau thuộccác lĩnh vực nghề nghệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩxảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động [5, tr 68]
Năng lực là tổ hợp các đặc điểm tâm lý của một con người Tổ hợp nàyvận hành theo một mục đích nhất định và tạo ra kết quả của một hoạt độngnào đấy [4, tr 145]
Qua phân tích một số quan điểm trên, chúng tôi cho rằng năng lực là
tổ hợp các đặc điểm tâm lí của một con người được vận hành vào một hoạt động nào đó và đảm bảo hoạt động đó có kết quả tốt.
Trang 221.2.1.1 Các mức độ của năng lực
Năng lực có thể chia là ba mức độ:
Mức độ thứ nhất là năng lực cơ bản Đó là khả năng của một cá nhân ởmột thời điểm nào đó có thể hoàn thành một nhiệm vụ nào đó mà nhiều ngườikhác có cùng điều kiện hoàn cảnh cũng có thể thực hiện được Ví dụ như mộthọc sinh lớp 11 phát hiện ra sự khác nhau giữa quy tắc cộng và quy tắc nhân,đồng thời trong lớp cũng có nhiều học sinh phát hiện ra điều này thì ta có thểxem học sinh đó có năng lực cơ bản
Mức độ thứ hai là tài năng Đó là khả năng của cá nhân có thể hoànthành một nhiệm vụ nào đó một cách sáng tạo nhưng vẫn nằm trong khuônkhổ hoặc không vượt quá xa những thành tựu của xã hội tại thời điểm đó Ví
dụ một học sinh lớp 6 có thể tự giải được bài toán của học sinh lớp 9 có thểcoi là một tài năng Toán học Kì thủ Nguyễn Ngọc Trường Sơn là tài năng về
cờ vua, các học sinh tham dự các kì thi Olympic Quốc tế cũng có thể coi lànhững tài năng…
Mức độ cao nhất của năng lực là thiên tài Đó là một năng lực đặc biệt
mà kết quả của sự hoạt động vượt xa thành tựu của xã hội và mang ý nghĩalịch sử đối với loài người Ví dụ như Niu-tơn, Anh-xtanh, Mô-za… là nhữngthiên tài trong lĩnh vực của họ
1.2.1.2 Các loại năng lực
Đối với học sinh phổ thông, năng lực không chỉ là khả năng tái hiện trithức, thông hiểu tri thức, mà quan trọng là khả năng hành động, ứng dụng(vận dụng) tri thức để giải quyết những vấn đề của cuộc sống Năng lực củahọc sinh không chỉ là vốn kiến thức, kĩ năng, thái độ sống mà là sự kết hợphài hòa của cả ba yếu tố này thể hiện ở khả năng hành động (thực hiện) hiệuquả, muốn hành động và sẵn sàng hành động (gồm động cơ, ý chí, tự tin,trách nhiệm xã hội ) Năng lực nhận thức của học sinh là một phổ từ nănglực bậc thấp như tái hiện/biết, thông hiểu kiến thức, có kĩ năng (biết làm) đến năng lực bậc cao như phân tích, khái quát tổng hợp,
14
Trang 23đánh giá, sáng tạo Các năng lực cần hình thành cho học sinh phổ thông bao gồm:
Sơ đồ 1.1 Cấu trúc của năng lực
Các năng lực thành phần trên tồn tại không tách rời nhau, chúng có mốiliên hệ mật thiết, hỗ trợ, bổ sung cho nhau và tạo thành một thể thống nhất Chẳng hạn sử dụng ngôn ngữ là tiền đề của giao tiếp, muốn có năng lực tự học học sinh cần phải biết tính toán, giải quyết vấn đề hay tự quản lý…
1.2.1.3 Mối quan hệ giữa năng lực với kiến thức, kĩ năng, thái độ
Một năng lực là tổ hợp đo lường được các kiến thức, kĩ năng và thái độ
mà một người cần vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ trong một bối cảnhthực và có nhiều biến động
Để thực hiện một nhiệm vụ, một công việc có thể đòi hỏi nhiều nănglực khác nhau Vì năng lực được thể hiện thông qua việc thực hiện nhiệm vụnên học sinh cần chuyển hóa những kiến thức, kĩ năng, thái độ có được vàogiải quyết những tình huống mới và xảy ra trong môi trường mới Như vậy,
có thể nói kiến thức là cơ sở để hình thành năng lực, là nguồn lực để học
sinh tìm được các giải pháp tối ưu để thực hiện nhiệm vụ hoặc có cách ứng
xử phù hợp trong bối cảnh phức tạp Khả năng đáp ứng phù hợp với bối cảnh
Trang 24thực là đặc trưng quan trọng của năng lực, tuy nhiên, khả năng đó có được lạidựa trên sự đồng hóa và sử dụng có cân nhắc những kiến thức, kĩ năng cầnthiết trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Những kiến thức là cơ sở để hình thành và rèn luyện năng lực là nhữngkiến thức mà học sinh phải năng động, tự kiến tạo, huy động được Việc hìnhthành và rèn luyện năng lực được diễn ra theo hình xoáy trôn ốc, trong đó cácnăng lực có trước được sử dụng để tạo kiến thức mới; và đến lượt mình, kiếnthức mới lại đặt cơ sở để hình thành những năng lực mới
Kĩ năng theo nghĩa hẹp là những thao tác, những cách thức thực hành,vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện một hoạt động nào đótrong một môi trường quen thuộc Kĩ năng hiểu theo nghĩa rộng, bao hàmnhững kiến thức, những hiểu biết và trải nghiệm, … giúp cá nhân có thể thíchứng khi hoàn cảnh thay đổi
Kiến thức, kĩ năng là cơ sở cần thiết để hình thành năng lực trong một lĩnh vực hoạt động nào đó Không thể có năng lực về Toán nếu không có
kiến thức và được thực hành, luyện tập trong những dạng bài toán khác nhau.Tuy nhiên, nếu chỉ có kiến thức, kĩ năng trong một lĩnh vực nào đó thì chưachắc đã được coi là có năng lực, mà còn cần đến việc sử dụng hiệu quả cácnguồn kiến thức, kĩ năng cùng với thái độ, giá trị, trách nhiệm bản thân đểthực hiện thành công các nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề phát sinh trongthực tiễn khi điều kiện và bối cảnh thay đổi [18, tr 28]
Ví dụ 1.1 Khi nghiên cứu mục tiêu của Phương trình vô tỉ dùng
phương pháp đặt ẩn phụ, giáo viên cần phải đưa ra được các mục tiêu vềkiến thức, kĩ năng, thái độ, năng lực học sinh cần đạt qua chủ đề là gì Cụ thể:
Về mặt kiến thức:
+) Học sinh biết một số cách đặt ẩn phụ khi giải phương trình vô tỉ, đólà: Đặt 1 ẩn phụ đưa về 1 phương trình (ẩn phụ hoàn toàn hoặc không hoàntoàn), đặt hai ẩn phụ đưa về 1 phương trình hoặc 1 hệ phương trình, đặt ẩnphụ bằng cách lượng giác hóa phương trình
16
Trang 25+) Học sinh biết thực hành giải một số phương trình vô tỉ bằng đặt ẩn phụ.+) Học sinh biết phân tích cách giải khi đứng trước một phương trình
vô tỉ không quá khó
Như vậy, vấn đề tự học rõ ràng không hề đơn giản Muốn hoạt độnghọc tập có hiệu quả nhất thiết học sinh phải chủ động tự giác học tập bất cứlúc nào có thể bằng chính nội lực của bản thân Vì nội lực mới chính là nhân
tố quyết định cho sự phát triển Ngoài ra, rất cần tới vai trò của người thầyvới tư cách là ngoại lực trong việc trang bị cho học sinh một hệ thống tri thức,
kĩ năng, thái độ cùng với phương pháp tự học cụ thể, khoa học Nhờ đó hoạtđộng tự học tự đào tạo của học sinh mới đi vào chiều sâu thực chất
1.2.2 Năng lực tự học
1.2.2.1 Khái niệm năng lực tự học
Theo Nguyễn Kỳ, trong bất cứ con người nào trừ những người bị khuyết tật, tâm thần đều tiềm ẩn một tiềm lực vô cùng quý giá đó là năng lực
tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề thực tiễn, tự đổi mới, tự sáng tạo trong công việc hàng ngày gọi chung là năng lực tự học sáng tạo, “năng lực tự học là tổng thể các năng lực cá thể , năng lực chuyên môn , năng lực phương pháp và năng lực xã hội của học sinh tác động đến nội dung học trong những tình huống cụ thể nhằm đạt mục tiêu (bằng khả năng
Trang 26trí tuệ và vật chất, thái độ, động cơ, ý chí v.v của học sinh) chiếm lĩnh t rithức kĩ năng” [9].
Từ quan niệm trên và các tài liệu khác cũng như qua thực tế giảng dạy,
chúng tôi nhận thấy rằng: “Năng lực tự học chính là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao”.
Như vậy ta thấy rõ năng lực tự học luôn tiềm ẩn trong mỗi con người.Vậy năng lực tự học chính là nội lực phát triển của bản thân mỗi học sinh
Tiếp xúc với các nguồn kiến thức khác nhau, học sinh cần có kĩ năng hành động tương ứng Khi học sinh biết cách tổ chức , thu thập, xử lí thông tin, tự kiểm tra , tự điều chỉnh khi làm việc với các nguồn tri thức nghĩa là đã nắm đươc ̣ phương pháp học để học trên lớp và tự học
Để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học, cần phải xác định rõ cácnăng lực tự học đó là gì và biểu hiện của các năng lực tự học đó để từ đó trongquá trình dạy học giáo viên sẽ hướng dẫn và tạo các cơ hội, điều kiện thuậnlợi cho học sinh hoạt động nhằm phát triển các năng lực đó
1.2.2.2 Các loại năng lực tự học
Dựa theo quan điểm của Crutexki, có các loại năng lực tự học sau:
Năng lực thu thập thông tin: Là năng lực tri giác hình thức hóa tài liệu
toán học, năng lực nắm cấu trúc hình thức của bài toán Để có thể thu thập thông tin một cách tốt nhất, học sinh cần phải có các kỹ năng cần thiết như:
- Kỹ năng đọc sách giáo khoa Toán, sách bài tập và các tài liệu tham khảo;
- Kỹ năng tìm kiếm các thông tin hỗ trợ trên mạng;
- Kỹ năng tiếp thu bài giảng của giáo viên và lắng nghe ý kiến đóng góp của bạn bè
Năng lực xử lý thông tin: Xử lý thông tin là hoạt động phân tích, phân
loại thông tin theo các nguyên tắc và phương pháp nhất định, trên cơ sở đóđưa ra các biện pháp giải quyết bài toán Năng lực xử lý thông tin là năng lực
tư duy logic trong phạm vi các quan hệ số lượng và các quan hệ không gian,
18
Trang 27các kí hiệu, năng lực suy nghĩ với các kí hiệu toán học Năng lực này giữ vaitrò chủ đạo bởi lẽ nếu xử lý thông tin tốt thì sẽ rút ngắn được quá trình suyluận toán học và hệ thống các phép toán tương ứng Để xử lý tốt thông tin,học sinh cần phải có các năng lực sau:
- Năng lực khái quát, tổng hợp, phân tích;
- Năng lực nghiên cứu bài toán;
- Năng lực lập chiến lược giải;
- Năng lực tự giải;
- Năng lực phân tích, mở rộng kết quả
Năng lực lưu trữ thông tin: Đó là trí nhớ toán học tức là trí nhớ khái
quát về các quan hệ toán học, về các đặc điểm điển hình, các sơ đồ suy luận
và chứng minh, về các phương pháp giải toán và các nguyên tắc xem xét cácbài toán ấy Để làm tốt điều này học sinh cần phải có khả năng nhớ và cáchnhớ các thông tin mà các em đã thu thập và xử lý
Năng lực sử dụng thông tin: Là kỹ năng vận dụng các kiến thức vào
giải quyết vấn đề mới, các bài toán mới
Nếu dựa trên quan điểm năng lực tự học của học sinh là khả năng độc lập thực hiện hoạt động học tập, nghiên cứu, đồng hóa các tri thức học tập từ môi trường thành của chính mình với chất lương ̣ cao thì có thể phân loại các năng lực tự học của học sinh bao gồm:
Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Năng lực này đòi hỏi học sinh phải quan sát , phân tích , tổng hơ ̣p, sosánh, suy luận, khái quát hóa các tài liệu, suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thốngtrên cơ sở những tri thức, kinh nghiệm cá nhân; phát hiện ra các khó khăn,thách thức, mâu thuẫn, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, cần bổ sung
và phát hiện các bế tắc, nghịch lí cần khai thông , làm sáng tỏ , Việc thườngxuyên rèn luyện năng lực này tạo cho học sinh thói quen hoạt động trí tuệ ,luôn luôn tích cực khám phá , tìm tòi ở mọi nơi , mọi lúc, mọi trường hơp ̣ và nhiều đối tương ̣ khác nhau [3]
Trang 28 Năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xácđịnh cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khíacạnh, thu thập và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận.Cũng có thể hiểu rằng năng lực giải quyết vấn đề là khả năng vận dụng kiếnthức, kĩ năng, kinh nghiệm để giải quyết một vấn đề trong học tập cũng nhưtrong thực tiễn
Việc giải quyết vấn đề không phải giải quyết từng bài tập lẻ tẻ, mà tiến hành giải quyết những tình huống học tập ứng với mục tiêu xác định, một hệ
thống kỹ năng , thái độ rõ ràng Mỗi quá trình giải quyết vấn đề đều sử dụng những thao tác trí tuệ và hướng đến những mục tiêu nhất định Những mục
20
Trang 29tiêu này đều có thể chia đươc ̣ thành những mục tiêu thành phần Giải quyết
vấn đề chính là quá trình thực hiện các thao tác trí tuệ để chiếm lĩnh những
mục tiêu thành phần và từ đó chiếm lĩnh mục tiêu cuối cùng
Ví dụ 1.3 Khi hướng dẫn học sinh giải phương trình
3 24 x 12 x 6 , giáo viên có thể đưa ra các hoạt động sau giúp họcsinh giải quyết được vấn đề như sau:
Hoạt động 1: Gợi vấn đề và phát hiện vấn đề
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
có điều gì? Giải hệ phương trình trên bằng phương
Hệ phương trình trên giải pháp thế ta được a 0
Hoạt động 2: Đề xuất và trình bày giải pháp
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
Từ cách giải phương trình nêu trên,
Trang 3021
Trang 31 Năng lực đánh giá và tự đánh giá
Dạy học đề cao vai trò tự chủ của học sinh đòi hỏi phải tạo điều kiện,
cơ hội và khuyến khích, bắt buộc học sinh đánh giá và tự đánh giá Chỉ cónhư vậy, họ mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn luôn tìm tòi ,sáng tạo cái mới, cái hơp ̣ lý, cái có hiệu quả cao hơn
Theo tác giả Vũ Quốc Chung, sự đánh giá trong thang nhận thức có thể hiểu là: học sinh ra những quyết định hay đưa ra những nhận định, kết luận, phán xét, lựa chọn, liên quan tới tính chính xác , tính chân lý , sự xác đáng đúng đắn, tính tương hơp ̣, sự mong muốn phù hơp ̣ với những tiêu chuẩn , với những ý tưởng , với những mục tiêu đã đươc ̣ chuẩn hóa nhằm đáp ứng mục đích của vấn đề đang đươc ̣ đặt ra [2]
Ví dụ 1.4 Khi giải phương trình: 3 2x 1 34x 1 3 6x 1 (1) dự
đoán sẽ có một số học sinh có lời giải sai lầm như sau:
có thể hỏi: Nếu x 0 là nghiệm của phương trình thì tại sao khi thay vào
phương trình lại thấy không thỏa mãn? Vậy các phép biến đổi trên sai ở đâu?
Từ đó học sinh đánh giá được biến đổi thứ 2 từ trên xuống là phép biến đổi hệquả (suy ra) nên tập nghiệm cuối của phương trình bao giờ cũng nhiềunghiệm hơn ban đầu… Và học sinh ghi nhớ rằng khi giải phương trình bằngbiến đổi hệ quả bao giờ cũng phải thử lại
Trang 321.2.2.3 Các biểu hiện của năng lực tự học
Thứ nhất, xác định được nhiệm vụ học tập, có tính đến kết quả học tậptrước đây và định hướng phấn đấu tiếp Mục tiêu học được đặt ra chi tiết, cụthể
Thứ hai, lập được kế hoạch và mục tiêu học, xác định và thực hiện cáccách học, lựa chọn và phối hợp các phương pháp học, đánh giá và điều chỉnhđược kế hoạch học, hình thành được cách học tập riêng của bản thân
Thứ ba, tự đánh giá và điều chỉnh việc học, tự nhận ra và điều chỉnhđược những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫmcách học của mình, đúc kết kinh nghiệm để có thể chia sẻ, vận dụng vào cáctình huống khác; trên cơ sở các thông tin phản hồi vạch kế hoạch điều chỉnhcách học tập để nâng cao chất lượng học tập
1.2.2.4 Vai trò của năng lực tự học
Năng lực tự học sáng tạo đã làm nên biết bao nhà quân sự, chính trị,khoa học và văn hoá lỗi lạc của nước ta và trên thế giới Chủ tịch Hồ ChíMinh - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của thế giớichính là tấm gương lớn của năng lực tự học sáng tạo
Năng lực tự học có bốn vai trò chính sau:
+ Tự tìm ra ý nghĩa, làm chủ các kĩ xảo nhận thức, tạo ra cầu nối nhận thức trong tình huống học
+ Tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lươṃ và xử
lí thông tin từ môi trường xung quanh mình
+ Tự học, tự nghiên cứu, tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động củachính mình, cá nhân hoá việc học , đồng thời hơp ̣ tác với các bạn trong cộng đồnglớp học dưới sự hướng dẫn của giáo viên - xã hội hoá lớp học
1.2.2.5 Những biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
Thực chất của việc bồi dưỡng năng lực tự học là hình thành và pháttriển năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề, năng lực giải quyết vấn
đề, năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, giải pháp,
23
Trang 33biện pháp ) từ quá trình giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn hoặc vào nhận thức kiến thức mới, năng lực đánh giá và tự đánh giá.
Để có thể bồi dưỡng và phát triển năng lực tự học cho học sinh thì bản thân các em phải có ý chí quyết tâm cao độ , luôn tìm tòi phương pháp học tập tốt cho mình , phải học bằng chính sức mình , nghĩ bằng cái đầu mình , nói bằng lời nói của mình, viết theo ý mình, không dập khuôn theo câu chữ của thầy, rèn luyện khả năng độc lập suy nghĩ, suy luận đúng đắn và linh hoạt sáng tạo thông qua những câu hỏi và bài toán
Muốn rèn đươc ̣ năng lực tự học thì trước hết và quan trọng nhất là phảirèn luyện cho các em năng lực tư duy độc lập Bởi lẽ, việc rèn cho học sinh
có thói quen tư duy (suy nghĩ và hành động) độc lập, sẽ dẫn đến tư duy phêphán, khả năng phát hiện, giải quyết vấn đề rồi đến tư duy sáng tạo Rõ ràng,độc lập là tiền đề cho sự tự học Giáo viên phải có kế hoạch kiểm tra, đánh giáđúng mức suy nghĩ và hành động độc lập của học sinh Ngoài ra , để bồidưỡng năng lực tự học cho học sinh một cách toàn diện hơn , chúng ta cần phối hơp ̣ một số biện pháp cụ thể sau:
Đối với giáo viên:
- Tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn, năng lực nhận thức của bản thân
để có kinh nghiệm thực tiễn trong việc hướng dẫn học sinh cách tự học
- Giảm tỉ lệ thuyết trình trên lớp của giáo viên, dành thời gian thích đáng cho học sinh tự học, tự nghiên cứu, xemina, thảo luận, giải đáp thắc mắc
- Tăng cường biên soạn giáo án theo hướng phát triển năng lực tự lựcnhận thức cho học sinh, đáp ứng yêu cầu về tài liệu tham khảo và trang bị đầy đủcác phương tiện dạy học cần thiết Tổ chức phong trào thiết kế, xây dựng các bàitập trong tổ chuyên môn
- Tăng cường tìm kiếm và xây dựng các dạng bài tập, các hình thức ôn tập và tự ôn tập kiến thức qua các kênh thông tin
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
Trang 34- Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học nhằm tăng hiệu quả giờ học.
Đối với học sinh:
- Cần xác định thái độ học tập đúng đắn
- Bồi dưỡng cho học sinh phương pháp, kĩ năng tự học, tự nghiên cứu
- Xây dựng kế hoạch và thời gian biểu tự học và nghiêm túc thực hiện
kế hoạch, thời gian biểu
- Bồi dưỡng phương pháp đọc sách, phương pháp nghe bài giảng hoặcghi chép
- Rèn luyện cho học sinh khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá trong học tập
- Hướng dẫn học sinh tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo, tìm kiếm cáctrang web phục vụ cho quá trình học tập
1.2.3 Năng lực tự học toán của học sinh ở trung học phổ thông
Trong việc đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâmthì việc tự học của học sinh vô cùng quan trọng Tuy vậy, trong thực tế dạyhọc hiện nay việc áp dụng phương pháp dạy học hướng dẫn học sinh tự họccủa giáo viên ở tất cả các môn học nói chung và môn toán nói riêng còn gặprất nhiều lúng túng và khó khăn Bởi lẽ từ trước đến nay rất nhiều người chorằng việc tự học chỉ áp dụng cho bậc Đại học, còn việc tự học đúng nghĩa ởphổ thông nhiều khi bi ̣quên lãng Tự học ở bậc phổ thông chỉ được hiểu theonghĩa giản đơn là học sinh ngồi làm bài tập một mình ở nhà khi không có thầygiáo hoặc gia sư ở bên cạnh Tự học theo nghĩa tự mình khám phá nhữngchân trời tri thức mới, tự do và tự giác, hoàn toàn xa lạ với phần lớn học sinhphổ thông Cách học của nhiều học sinh vẫn đơn giản là cố gắng hoàn thànhhết số bài tập giáo viên giao về nhà (bằng mọi cách có thể) và học thuộc trong
vở ghi đối với các môn được yêu cầu học thuộc Còn đối với nhiều giáo viênthì chỉ quen thuộc với cách kiểm tra bài cũ đầu giờ cốt sao cho đủ số lần điểm.Việc kiểm tra định kỳ chỉ đơn giản là thực hiện theo phân phối chương trình.Bên cạnh đó, chương trình và cách dạy ở nhà trường hiện nay không
25
Trang 35khuyến khích việc tự học Chương trình được thiết kế hàn lâm, đặc kín, rất ít
hở không còn thời gian để học sinh tự học Cách tổ chức kiểm tra thi cử cũngkhông khuyến khích việc tự học Học ở nhà trường giờ chỉ còn đơn giản làhọc để thi Kết quả là học sinh chỉ biết, và chỉ cần, học thuộc cho an toàn Vừa
dễ, lại vừa lòng tất cả, dù thi xong lại phải quên ngay lập tức dành đầu óc họcthứ khác
1.2.4 Mối liên hệ giữa năng lực tự học và các năng lực khác
Theo sơ đồ 1.1 thì năng lực tự học là một thành phần của năng lực Nókhông tồn tại độc lập trong cấu trúc này mà có mối liên hệ mật thiết với cácnăng lực thành phần khác Lập luận, diễn đạt, mô hình hóa, sử dụng ngônngữ, kí hiệu, phép toán hay sử dụng các phương tiện hỗ trợ là các năng lựctiền đề để có năng lực tự học Ngược lại năng lực tư duy và suy luận, đặc biệt
là tư duy sáng tạo hay năng lực biểu diễn đòi hỏi sự phát triển năng lực tự học
cho rằng: “Dạy tự học là quá trình tương tác giữa giáo viên hoặc giữa các nhà giáo dục với học sinh, thông qua các hoạt động học tập trên lớp hoặc các chương trình tập huấn nhằm hình thành ở học sinh nhận thức đúng đắn về hoạt động tự học, thái độ tích cực với việc tự học và các phương pháp, kỹ năng tự học hiệu quả”.
Dạy học tự học có một số đặc điểm sau:
- Dạy học tự học là một thành phần quan trọng của quá trình dạy học;
- Dạy học tự học không trực tiếp hình thành ở học sinh những tri thức,
kỹ năng nghề nghiệp, dạy học tự học cung cấp cho học sinh công cụ cần thiết
để tự lĩnh hội hệ thống tri thức, kỹ năng hiệu quả;
Trang 36- Dạy học tự học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo viên, của các nhà giáo dục;
- Dạy học tự học phải được tiến hành song song với việc dạy học;
- Dạy tự học có thể tiến hành trên lớp hoặc kết hợp với các hoạt động ngoại khóa
1.3.2 Vai trò của dạy học tự học
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin,khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhétvào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạycho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học caohơn càng phải được chú trọng đặc biệt ở cấp THPT thì việc tự học vô cùngquan trọng
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn
luyện cho học sinh có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì
sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kếtquả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh
mặt hoạt động học trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay
trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cảtrong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
1.3.3 Mối liên hệ giữa phát triển năng lực tự học của học sinh và dạy học các bài toán thuộc chủ đề Phương trình vô tỉ
Đối với chương trình Toán THPT tất cả các chủ đề đều góp phần pháttriển năng lực tự học của học sinh trong đó chủ đề Phương trình vô tỉ là mộtchủ đề mà việc giáo viên phát triển năng lực tự học cho học sinh khá rõ nét.Bởi lẽ, phương trình vô tỉ là dạng toán tương đối khó và quan trọng trongchương trình phổ thông, yêu cầu học sinh và người dạy cần có kiến thức chắcchắn và có tầm nhìn thật tổng quát về toán học thì mới giải quyết tốt các cácbài tập về nội dung này Do vậy, trong dạy học nội dung phương trình vô tỉ
27
Trang 37giáo viên và học sinh đều gặp những khó khăn nhất định Nếu không trang bịtốt cho học sinh phương pháp tự học thì kết quả mà học sinh lĩnh hội đượcsau chủ đề này sẽ không cao.
Như vậy, có thể nói việc dạy học sinh giải các phương trình vô tỉ làmột trong những khởi nguồn để hình thành năng lực tự học cho học sinh.Những bài toán giải phương trình vô tỉ chính là động cơ, là nhu cầu để họcsinh tìm ra những giải pháp giải quyết trên cơ sở kiến thức, kĩ năng vốn cócủa mình Qua các bài giải phương trình vô tỉ, học sinh hứng thú học tập, trảinghiệm, khám phá thế giới xung quanh, tự kiến tạo kiến thức, do đó kiến thứcmang tính bền vững là điều kiện hình thành năng lực cho mình
Ngược lại năng lực tự học được phản ánh qua các qua các hoạt độngthực hành cụ thể của học sinh qua mỗi việc giải phương trình vô tỉ
Dạy học theo xu hướng phát triển năng lực học sinh là xu hướng tấtyếu trong nền giáo dục phát triển Không chỉ chú ý tích cực hóa học sinh vềhoạt động trí tuệ mà còn chú ý đến rèn luyện năng lực tự học Đồng thời phảigắn hoạt động trí tuệ với thực hành, thực tiễn
1.4 Thực trạng dạy học tự học, dạy học các bài toán thuộc chủ đề Phương trình vô tỉ ở trường THPT Giao Thủy, tỉnh Nam Định
1.4.1 Thực trạng dạy học tự học
Chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi đối với 20 giáo viên và
100 học sinh khối 12 (Xem phần Phụ lục) Kết quả phiếu điều tra số 1:
28
Trang 38Bảng 1.1 Bảng thống kê mức độ và hiệu quả sử dụng
Kết quả phiếu điều tra số 2:
Bảng 1.2 Bảng thống kê các khó khăn khi dạy học tự học
Trang 3929
Trang 40sinh lập kế hoạch, sử dụng sách giáo khoa, tài liệu tham khảo hoặc đánh giákết quả học tập của mình) Tuy nhiên vẫn còn 18/80 (22,5%) số lượt giáoviên ít khi quan tâm đến việc nâng cao năng lực tự học cho học sinh đặc biệt
có đến 10/80 (12,5%) số lượt giáo viên rất ít khi hướng dẫn học sinh lập kếhoạch tự học Có 38/100 (38%) lượt giáo viên chọn thường xuyên sử dụngcác cách dạy tự học Về các khó khăn trong quá trình dạy học tự học, hầu hếtcác thầy cô đều cho rằng có khó khăn về mặt kiểm soát việc tự học của họcsinh và hướng dẫn cho học sinh giải quyết vấn đề Các khó khăn khác cũngphần nhiều do các thầy cô chưa có kinh nghiệm hay được tập huấn về cáchdạy học này
Theo chúng tôi, dạy học tự học của các thầy cô bộ môn Toán trong nhàtrường đã được áp dụng, tuy nhiên về mức độ sử dụng còn chưa cao do còngặp một số khó khăn, trở ngại Đặc biệt là khó khăn về mặt thời gian do quyđịnh của chương trình dạy học đặt ra
Kết quả phiếu điều tra số 3:
Bảng 1.3 Bảng thống kê mức độ tự học của học sinh
Tổng
Tự đọc bài mới trong SGK trước khi đến lớp 18 37 25 80
Học theo tài liệu hoặc hướng dẫn của giáo viên 45 27 8 80
Bảng 1.4 Bảng thống kê các khó khăn khi học sinh tự học
3 Chưa có các biện pháp kiểm tra, đánh giá 56 70,00%
30