1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển kỹ năng ghi nhớ sự kiện cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học lịch sử việt nam (1945 1975) chương trình chuẩn

128 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 3,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lí do trên, với mong muốn giúp HS nhận thức đúng thắng lợi vĩđại của lịch sử dân tộc ta để thêm yêu lịch sử, trân trọng những giá trị mà ông cha để lại, chúng tôi quyết định chọ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HÀ

PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GHI NHỚ SỰ KIỆN CHOHỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONGDẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM 1945-1975 -

CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử

Mã số: 60.14.01.11

Cán bộ hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Bích

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠNLời đầu tiên trong luận văn, tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáoTrường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy

và giúp đỡ tác giả trong suốt khóa học và quá trình nghiên cứu đề tài

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS.Nguyễn Thị Bích – người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo, tạo điềukiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các emhọc sinh trường THPT Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp

đỡ tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn

Bên cạnh đó, sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp trong lớp cao học Lịch

sử K8 – Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội là nguồn cổ vũlớn lao, tiếp thêm sức mạnh cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thựchiện đề tài

Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến những ngườithân yêu trong gia đình và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tác giả về mọimặt

Mặc dù đã rất cố gắng song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót,hạn chế Tác giả rất mong nhận được những đóng góp quý báu của các thầy côgiáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp

Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Thị Hà

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng v

Danh mục các biểu đồ vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GHI NHỚ SỰ KIỆN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG– LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12

1.1 Cơ sở lí luận 12

1.1.1 Một số khái niệm 12

1.1.2 Cơ sở xuất phát của việc phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện 23 lịch sử cho học sinh

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử 32

1.1.4 Qui trình phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử 35

1.1.4 Những yêu cầu có tính nguyên tắc để phát triển kĩ năng ghi 36 nhớ sự kiện lịch sử

1.2 Cơ sở thực tiễn 37

1.2.1 Thực trạng của việc phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử 37 ở trường THPT

1.2.2 Nguyên nhân và định hướng phát triển kĩ năng ghi nhớ sự 41 kiện lịch sử

Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GHI NHỚ SỰ KIỆN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1945 – 1975) – CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN

44

Trang 5

2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung phần lịch sử Việt Nam (1945 - 1975 )

- chương trình chuẩn

44 2.1.1 Vị trí 44

2.1.2 Mục tiêu 45

2.1.3 Nội dung cơ bản phần lịch sử Việt Nam (1945-1975) - 47 chương trình chuẩn

2.2 Những yêu cầu khi xác định các biện pháp phát triển kĩ năng ghi 50 nhớ sự kiện lịch sử cho học sinh THPT

2.3 Một số biện pháp phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện cho học sinh THPT trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 – 1975)- chương trình chuẩn 57

2.3.1 Phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện thông qua sử dụng sơ đồ tư duy 57

2.3.2 Phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện thông qua hoạt động thực 60 hành sử dụng đồ dùng trực quan

2.3.3 Phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện thông qua sử dụng hệ thống 76 câu hỏi định hướng

2.3.4 Phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện thông qua tóm tắt và ghi ý chính 78 3.2.5 Phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện thông qua củng cố, ôn tập kiến thức đã học

82 2.4 Thực nghiệm sư phạm 84

2.4.1 Mục đích thực nghiệm 84

2.4.2 Thời gian, đối tượng thực nghiệm 84

2.4.3 Nội dung thực nghiệm 85

2.4.4 Kết quả thực nghiệm 85

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 94

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

TrangBảng 2.1 Bảng thống kê điểm số bài kiểm tra số 1 86Bảng 2.2 Bảng thống kê điểm số bài kiểm tra số 2 86

Trang 7

MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài

Nhiều năm là giáo viên (GV) dạy học Lịch sử ở trường Trung học phổthông (THPT), chúng tôi nhận thấy bất kì một trường học nào cũng có sự phânhoá: có học sinh (HS) học tốt, HS học kém, có em thích học, có em lại khôngthích học lịch sử Thực tế các kì thi tốt nghiệp THPT, kì thi đại học và caođẳng môn lịch sử những năm qua đã phán ánh chất lượng dạy học lịch sử(DHLS) chưa cao Chúng ta không khỏi bàng hoàng khi hơn 60% thí sinh thamgia kì thi Đại học năm 2004- 2005 đạt dưới điểm 5 Hay như hàng ngàn bài thiđạt điểm 0 trong kì thi Đại học và Cao đẳng năm 2010-1011… dẫn đến khôngnhiều HS chọn môn Lịch sử để tham dự kì thi tốt nghiệp THPT năm học 2012-

2013, 2013- 2014 Vì sao HS không thích học Lịch sử? Vì sao kết quả học tập

bộ môn lại thấp như vậy? Có ý kiến cho rằng HS hiện nay thích học các mônkhoa học tự nhiên, ít quan tâm đến khoa học xã hội mà điển hình là môn lịch

sử Bên cạnh đó phim ảnh của nước ngoài tràn ngập các loại dã sử, bán sửkhiến HS phân tâm, vô tình thuộc sử người hơn sử nhà Hoặc có ý kiến chorằng sách giáo khoa (SGK) lịch sử viết không hay, cách dạy sử của các thầy côgiáo ở trường THPT không sinh động càng làm cho lịch sử trở nên khô khanhơn.Dù chưa có kết luận đúng, sai, song đều cho thấy một thực trạng là HSTHPT đang ngại học lịch sử mà mấu chốt của vấn đề theo chúng tôi là do HSchưa có kĩ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử

Trong DHLS, sự kiện là cơ sở, nguồn gốc ban đầu để giúp HS nhận thứcđúng lịch sử đã diễn ra như thế nào.Việc học tập lịch sử ở trường THPT lànhằm hình thành kiến thức về khoa học lịch sử, hình thành thế giới quan khoahọc, phẩm chất đạo đức cho người học Thông qua đó HS khôi phục lại đượchình ảnh của quá khứ để hiểu sự phát triển của xã hội và cao hơn nữa là từ kiếnthức lịch sử các em có thể rút ra bài học cho bản thân trong cuộc sống củachính mình Vì vậy, trong DHLS cần thiết phải hướng dẫn cho HS nắm vữngkiến thức cơ bản của khoa học lịch sử Nắm vững sự kiện lịch sử là tiền

Trang 8

đề để hiểu kiến thức lịch sử, biết rút từ quá khứ những bài học cho hiện tại vàtương lai Không có kiến thức về lịch sử không thể hiểu sự phát triển tương laicủa xã hội mà không có tài liệu- sự kiện thì cũng không thể hình thành kiếnthức lịch sử cho HS Song làm thế nào để HS ghi nhớ được các kiện lịch sửmột cách dễ dàng trong học tập lịch sử? Đây vừa là nhiệm vụ cần thiết đặt ranhững đòi hỏi đối với các thầy cô giáo đang trực tiếp giảng dạy bộ môn lịch sử

ở trường THPT nhưng cũng là những trăn trở của họ để phát triển kĩ năng ghinhớ sự kiện lịch sử, giúp HS húng thú học tập, yêu thích môn học góp phầnnâng cao chất lượng dạy học bộ môn

Lịch sử Việt Nam 1945 - 1975 là thời kì dân tộc ta trải qua hai cuộckháng chiến vĩ đại, đánh bại hai kẻ thù hùng mạnh của thế giới trong thế kỉ

XX là thực dân Pháp và đế quốc Mĩ Có rất nhiều sự kiện, nhân vật, hiện tượnglịch sử là sự phản ánh và ghi dấu ấn những thắng lợi vĩ đại đó của dân tộc ta Thông quanhững sự kiện, nhân vật này HS mới nhận thức đúng từng bước đi trong tiến trình pháttriển của lịch sử dân tộc

Từ những lí do trên, với mong muốn giúp HS nhận thức đúng thắng lợi vĩđại của lịch sử dân tộc ta để thêm yêu lịch sử, trân trọng những giá trị mà ông

cha để lại, chúng tôi quyết định chọn vấn đề “Phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện cho học sinh Trung học phổ thông trong dạy học lịch sử Việt Nam 1945-

1975 - chương trình chuẩn” làm đề tài nghiên cứu.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện cho HS đã được đông đảo cácgiáo dục học, giáo dục lịch sử trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu ở cáckhía cạnh, góc độ khác nhau Tiếp cận các công trình nghiên cứu của họ là cơ

sở để chúng tôi giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra

2.1 Tài liệu nước ngoài

Thông qua tài liệu dịch, chúng tôi nhận thấy nhiều học giả đã đề cập tớivấn đề kĩ năng nói chung, kĩ năng nhận thức, ghi nhớ sự kiện nói riêng

Trang 9

J Dewey trong tác phẩm “The school and Societ” - (Trường học và xã hội), 1899 cho rằng cần vừa học vừa làm nghĩa là giáo dục không nên quá coi

trọng vào lí thuyết mà phải chú trọng đến rèn luyện kĩ năng, chú ý đến nhậnthức tích cực và kĩ năng thực hành cho HS

Nửa sau thế kỉ XX, Kixegof X.I với tác phẩm “Hình thành các kĩ năng

và kỹ xảo sư phạm cho sinh viên trong điều kiện của nền giáo dục Đại học” đã nhấn mạnh: “Việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo khái quát có liên quan đến việc phát triển tư duy và việc làm phong phú tầm hiểu biết của người được dạy dỗ Việc hình thành các kĩ năng chỉ có kết quả khi con người ý thức được rõ rệt mục đích, nhiệm vụ, những điều kiện cụ thể, những phương thức thực hiện động tác, cùng những phương thức kiểm tra của động tác này”[29-tr14].

Tác giả T.A Ilina trong cuốn “Giáo dục học” tập II, NXB Giáo dục.1973,

đã khẳng định việc nắm kiến thức là yếu tố cơ bản của quá trình dạy học(QTDH), đồng thời tác giả cũng đã đưa ra một số phương pháp giúp HS nắmvững kiến thức như phương pháp sử dụng SGK, phương pháp học tại phòng thínghiệm, phương pháp luyện tập, ôn tập đặc biệt là phương pháp phát huy tíchtích cực của HS từ đó giúp các em nắm vững kiến thức, hiểu sâu bài học

I.F.Kharlamốp, trong công trình “Phát triển tính tích cực học tập của học sinh như thế nào”, tập I, NXB Giáo dục, 1978 đã khẳng định dạy học là một

quá trình lĩnh hội một cách vững chắc kiến thức của HS, song việc nhận thứccủa HS không phải là do GV hình thành mà là quá trình tự lĩnh hội kiến thức

HS chỉ “thực sự nắm vững cái mà chính bản thân giành được bằng lao động của chính mình” Từ đó tác giả đi đến kết luận “học tập là một quá trình nhận thức tích cực của học sinh, học sinh muốn nắm vững kiến thức một cách sâu sắc thì phải thực hiện đầy đủ một chu trình trí tuệ: bao gồm những hành động tri giác tài liệu, thông hiểu, ghi nhớ, luyện tập kĩ năng, kĩ xảo và cuối

Trang 10

cùng là hành động khái quát hoá hệ thống hoá kiến thức nhằm xác lập mối quan hệ trong từng đề tài, giữa các đề tài, và các môn học”[30-tr 29].

H.V Savin trong cuốn “Giáo dục học” tập I,NXB Giáo dục,1978 đã đề

ra nguyên tắc tính vững chắc của việc nắm vững tri thức và phát triển toàn diện

các năng lực nhận thức của HS Đồng thời, ông cũng đã chỉ rõ “việc quay trở lại thường xuyên với các tri thức đã nắm trước kia, việc xem xét chúng với góc

độ mới là chính xác hơn, phong phú hơn bằng các sự kiện mới, có ý nghĩa quan trọng đối với việc nắm vững tri thức”[44-tr163].

Trong cuốn“Phát triển tư duy học sinh”, V.Onhisuc đã khẳng định

“Thông hiểu tri thức đó là con đường tiến tới lĩnh hội tri thức”[42-tr48] và“ghi nhớ, tái hiện tài liệu học là những phần rất quan trọng của quá trình lĩnh hội tri thức”[42-49] Như vậy, tác giả đã thừa nhận vai trò quan trọng của ghi nhớ

kiến thức đối với HS trong quá trình tiếp nhận kiến thức

Cuốn sách“Lí luận dạy học hiện đại” của GS Bernd Meier và TS

Nguyễn Văn Cường do trường ĐHSP Hà Nội và Đại học Potsdam (Cộng hòaLiên bang Đức) phối hợp xuất bản năm 2009 đã đưa ra một số vấn đề về đổimới PPDH, đề cập đến các thuyết học tập như thuyết hành vi, thuyết nhận thức

và thuyết kiến tạo dựa trên cơ sở tâm lí học Các tác giả nhấn mạnh “học tập là quá trình xử lí thông tin, trung tâm của quá trình nhận thức là các hoạt động trí tuệ như: xác định, phân tích và hệ thống hóa các sự kiện và các hiện tượng, nhớ lại những kiến thức đã học, giải quyết các vấn đề và phát triển, hình thành các ý tưởng mới” [7-tr39] Để có thể xử lí các thông tin thu nhận được HS cần

phải có các kĩ năng tương ứng; ở thuyết nhận thức, các tác giả nhấn mạnh đến

kĩ năng ghi nhớ của HS một cách tích cực

Đặc biệt, bộ sách đổi mới PPDH của Tổ chức ASCD Hoa Kì được Nhàxuất bản Giáo dục Việt Nam mua bản quyền và dịch (2011) đã mang đến chocác nhà nghiên cứu, cacs nhà quản lí giáo dục và GV có cách tiếp cận mới mẻ

về PPDH

Thomas Armstrong với tác phẩm “Đa trí tuệ trong lớp học” gồm 16

Trang 11

chương, trong đó ông đã giành hẳn chương 12 để nói về đa trí tuệ và các kĩnăng nhận thức như: ghi nhớ, giải quyết vấn đề và đặc biệt nhấn mạnh đến

thang mức độ nhận thức phức tạp của Bloom đó là: biết, hiểu, ứng dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá

Robert J.Marzano, Debra J.Pickering và Jane E.Pollock với “Các phương pháp dạy học hiệu quả” trên cơ sở tổng hợp các công trình nghiên cứu thực tế

giảng dạy và tổng hợp lí thuyết đã giúp GV có thể rèn các kĩ năng cần thiết cho

HS như: kĩ năng ghi nhớ, tóm tắt - ghi ý chính, kĩ năng làm bài tập về nhà, kĩnăng thực hành, kĩ năng làm việc nhóm

Trong “Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi” của Giselle

O.Martin- Kniep cũng đề cập đến các kĩ năng trên và đưa ra cách chấm điểmcủa GV đối với các kĩ năng của HS trong đó coi trọng kĩ năng nhận thức ghinhớ theo hướng tích cực hóa

Mặc dù có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau nhưng các tác giảđều cho rằng để nâng cao chất lượng dạy học ngoài đổi mới về mục tiêu, nội

dung và phương pháp còn phải chú ý tới HS nhất là quan tâm đến việc HS học tập như thế nào? nghĩa là HS phải có những kĩ năng cơ bản, trong đó kĩ năng

ghi nhớ là một trong những kĩ năng quan trọng đầu tiên của quá trình nhậnthức, tư duy

Ngoài những tài liệu về giáo dục học, PPDH, vấn đề kĩ năng ghi nhớ cònđược thể hiện qua các cuốn sách chuyên khảo Tiêu biểu là N.G Đairi trong

“Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” đã nêu lên yêu cầu học tập lịch sử đối

với HS và vai trò của sự kiện trong quá trình nhận thức lịch sử Từ đó ông đềxuất một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của HS trong họctập lịch sử

Tác giả I.a.Lecne với “Phát triển tư duy của học sinh trong dạy học lịch sử”

đã đưa ra yêu cầu đối với GV trong DHLS phải tạo ra “tình huống có vấn đề nhằm nâng cao kĩ năng nhận thức tích cực để giải quyết tốt các vấn đề” trong

QTDH Theo tác giả, thông qua các biện pháp này sẽ kích thích năng lực sáng

Trang 12

tạo, nhận thức tích cực của HS nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử.

Theo Bloom (1956- 1984), nhà nghiên cứu tâm lí học người Mĩ trong bài

viết “Phân loại các mục tiêu giáo dục và các vấn đề đánh giá chất lượng” cho rằng “ nhận thức là quá trình lĩnh hội từ đơn giản đến phức tạp Biểu hiện mức

độ như: nhận biết, phân tích, tổng hợp, đánh giá, vận dụng” đề cao vai trò của

việc lĩnh hội tri thức phù hợp với đối tượng và năng lực nhận thức của HS vàghi nhớ sự kiện là cơ sở nền tảng đầu tiên cho quá trình nhận thức đó

Như vậy, các tác giả nước ngoài trong các công trình nghiên cứu củamình ở từng góc độ khác nhau đều khẳng định vai trò của việc phát triển kĩnăng ghi nhớ và sự cần thiết phải phát triển kĩ năng ghi nhớ trong dạy học

2.2 Tài liệu trong nước

Các nhà giáo dục học trong nước cũng đã đề cập đến những vấn đề lí luận

nhận thức, trong đó có kĩ năng ghi nhớ trong QTDH Cuốn “ Giáo dục học”, tập 1, tập 2, các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt đã chỉ rõ quá trình nhận

thức của con người trải qua hai giai đoạn cụ thể: nhận thức cảm tính và nhậnthức lí tính, ghi nhớ thuộc giai đoạn đầu – giai đoạn nhận thức cảm tính Các

tác giả cho rằng“lĩnh hội tri thức của học sinh là hoạt động nhận thức tích cực, quá trình này đi từ biết đến hiểu và vận dụng vào thực tiễn”[41-tr148-

152]

Tác giả Bùi Văn Huệ trong cuốn “ Tâm lí học”, Nxb Đại học Quốc gia Hà

Nội, 2000 đã nêu lên sự lĩnh hội tri thức của HS là quá trình đi từ biết, hiểu bảnchất sự vật hiện tượng và vận dụng tri thức vào những tình huống khác nhau,trong đó tác giả phân tích các mức độ biết- hiểu- ở trong tình huống cụ thể

Bên cạnh các nhà giáo dục học, tâm lí học thì nhiều nhà giáo dục lịch sửcũng đã đề cập tới vấn đề nhận thức của HS trong QTDH lịch sử

Giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” xuất bản năm 1966, 1976,

1992 cũng đã đề cập đến vấn đề ghi nhớ sự kiện, hiện tượng lịch sử đối với

Trang 13

sử” tập 1, tập 2 của tập thể tác giả Phan Ngọc Liên (chủ biên),Trịnh Đình

Tùng, Nguyễn Thị Côi, tái bản có sửa chữa bổ sung năm 2009, 2010 đã phântích cụ thể vai trò của sự kiện trong nhận thức lịch sử, từ đó nhóm tác giả đãđưa ra các con đường biện pháp nhận thức lịch sử hiệu quả [33-tr148] Đồngthời, cũng đề xuất các biện pháp giúp HS ghi nhớ sự kiện trên cơ sở nắm vữngcác yếu tố như thời gian, không gian, nhân vật gắn liền với sự kiện Song vấn

đề là làm thế nào để HS ghi nhớ sự kiện thì chưa được các tác giả đề cập đến

Trong cuốn sách chuyên khảo “Bài học lịch sử và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Hữu Chí

và cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh” của nhóm tác giả Phan

Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng cũng đều đã đề cập đến việc lĩnh hội kiến thức vàghi nhớ sự kiện lịch sử

Cuốn “ Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường THCS”(Giáo trình đào tạo THCS hệ cao đẳng sư phạm) do tác giả Trịnh Đình Tùng (chủ

biên), Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Văn Đằng, Tạ Ngọc Minh, Nxb Giáo dục,

2000 là bộ Giáo trình có giá trị đối với GV THCS trong việc vận dụng vàothực tiễn giảng dạy bộ môn lịch sử Các tác giả đã nêu ra một cách cụ thể vấn

đề lí luận về các PPDH bộ môn, nhấn mạnh đến việc phải hướng dẫn HS một

số phương pháp ghi nhớ sự kiện

Trong cuốn sách chuyên khảo “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường THPT”,tác giả Nguyễn Thị Côi khẳng định việc

ghi nhớ sự kiện lịch sử là biểu hiện của hiệu quả DHLS và đề xuất các conđường, biện pháp để nâng cao hiệu quả bài học

Cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử” do Nguyễn Thị

Côi (chủ biên) (2009) đã nêu lên khái niệm kĩ năng, kĩ năng nghiệp vụ sư

phạm, các tố chất của một người có kĩ năng “kĩ năng đòi hỏi con người phải có tri thức về hành động và các kinh nghiệm cần thiết” [10- tr15] Đây là tác

phẩm giúp ích rất nhiều về mặt lí luận cho tác giả khi làm luận văn

Trang 14

Cuốn “Áp dụng dạy và học tích cực trong môn lịch sử” Dự án Việt – Bỉ

do Trần Bá Hoành, Vũ Ngọc Anh, Phan Ngọc Liên (biên soạn) đã đề cập về líluận cơ bản dạy và học tích cực trong dạy học nói chung và với bộ môn Lịch

sử nói riêng Đặc biệt, tác phẩm đã đưa ra 4 PPDH tích cực là PPDH đặt vàgiải quyết vấn đề, PPDH trực quan, PPDH vấn đáp, PPDH vĩ mô Chính quacác phương pháp trên năng lực nhận thức và kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực

hành của HS được tăng lên rõ rệt: “học sinh được đặt vào tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó và phát huy tiềm năng sáng tạo” [23-tr15].

Cùng với sách tham khảo, đã có một số luận án, luận văn, khóa luận Tốtnghiệp cũng đã đề cập đến vấn đề HS cần ghi nhớ sự kiện Nổi bật là Luận án

“Tổ chức, hướng dẫn ôn tập trong dạy học Lịch sử ở trường THPT (Vận dụng trong dạy học Lịch sử lớp 10) của Hoàng Thanh Tú cũng đã khẳng định vai trò,

ý nghĩa của ghi nhớ sự kiện trong quá trình nhận thức lịch sử của HS Khoá

luận tốt nghiệp “Một số biện pháp giúp học sinh ghi nhớ kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV ở lớp 10 THPT

(chương trình chuẩn) của Phạm Thị Kiều Trang đã đề xuất một số biện phápgiúpHS ghi nhớ sự kiện lịch sử

Như vậy, hướng dẫn HS ghi nhớ sự kiện lịch sử là vấn đề đã được nhiềucông trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cũng như các tác giả trongnước quan tâm Các tác giả đều khẳng định tầm quan trọng của việc ghi nhớ sựkiện trong DHLS, đồng thời đã đề xuất một số biện pháp để hướng dẫn HS ghinhớ sự kiện Tuy nhiên, các biện pháp đề xuất đều chung chung, chưa cụ thể đểgiúp HS phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện, nhất là trong một giai đoạn lịch sửnhư lịch sử Việt Nam từ 1945- 1975 thì chưa có công trình nào đề cập tới Trên

cơ sở kế thừa thành tựu của các nhà lí luận trên, chúng tôi xác định

Trang 15

một số biện pháp cụ thể để ghi nhớ sự kiện lịch sử, từ đó hướng dẫn HS ghinhớ sự kiện trong DHLS Việt Nam ở trường THPT.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3 1 Đối tượng nhiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiệntrong DHLS ở trường THPT

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian và giới hạn của một đề tài luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ tậptrung nghiên cứu lí luận về phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử Việt Nam1945- 1975 đối với HS lớp 12 THPT – chương trình chuẩn, qua đó đề xuất một

số biện pháp ghi nhớ sự kiện góp phần nâng cao chất lượng DHLS

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1.Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn của việc phát triển kĩ năng ghinhớ sự kiện; khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc phát triển kĩ năng ghi nhớ sựkiện lịch sử; đề tài đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển kĩ năng ghi nhớ

sự kiện lịch sử cho HS trong DHLS Việt Nam 1945- 1975- chương trìnhchuẩn

4.2 Nhiệm vụ của đề tài

Để đạt được mục đích trên để tài sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu lí luận về vấn đề phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện qua các nguồn tài liệu trong dạy học nói chung, DHLS nói riêng

- Nghiên cứu chương trình, SGK lịch sử lớp 12- chương trình chuẩn - phầnLịch sử Việt Nam từ 1945 -1975 cùng các tài liệu tham khảo khác để giúp phát triển kỹ

Trang 16

- Tìm hiểu thực trạng việc DHLS ở trường THPT về vấn đề phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện cho HS trong học tập lịch sử.

- Đề xuất các biện pháp phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện cho HS trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12 THPT – chương chình chuẩn

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT để khẳng định tính khả thi của các biện pháp đề xuất

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1.Cơ sở phương pháp luận

Đề tài dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luận thông qua các tài liệu tâm lí, giáo dục học, giáo dục lịch sử về vấn đề phát triển kỹ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử

- Điều tra thực tiễn vấn đề phát triển kỹ năng ghi nhớ sự kiện trong dạy họclịch lớp 12 THPT – chương trình chuẩn thông qua phát phiếu điều tra, dự giờ, lấy ý kiếngiáo viên đang trực tiếp giảng dạy lịch sử ở các trường THPT để đề xuất các biện phápnhằm phát triển kỹ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử cho học sinh nhằm nâng cao chất lượngdạy học lịch sử

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở lớp 12 THPT Ngô Quyền thuộc thành phố Hải Phòng

6 Giả thuyết khoa học

Nếu phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử cho HS theo những biệnpháp được đề xuất trong đề tài sẽ tạo hứng thú học tập lịch sử cho HS góp phầngiúp các em nhận thức đúng tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam 1919 -

1975, nâng cao chất lượng DHLS

Trang 17

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa khoa học

Góp phần làm phong phú thêm lí luận và PPDH bộ môn về phương pháp ghi nhớ sự kiện lịch sử

7.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Giúp bản thân và đồng nghiệp có khả năng vận dụng lí luận và biện pháp

đã nghiên cứu trong DHLS ở trường THPT nhằm nâng cao hơn nữa chất lượngdạy học bộ môn

8 Đóng góp của luận văn

- Tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phát triển kĩnăng ghi nhớ sự kiện lịch sử cho HS THPT

- Làm sáng tỏ thực trạng việc phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện cho HS trong DHLS ở trường THPT hiện nay

- Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện lịch sửtheo hướng giúp HS THPT hứng thú học tập và tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng, hiệuquả.Từ đó góp phần làm cho HS không còn “quay lưng” lại với bộ môn lịch sử

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc thành hai chương:

Chương 1 Phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông– Lí luận và thực tiễn

Chương 2 Một số biện pháp phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam 1945 – 1975 lớp 12 trường Trung học phổ thông – chương trình chuẩn

Trang 18

Chương 1 PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GHI NHỚ SỰ KIỆN CHO HỌC SINHTRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG– LÍ

LUẬN VÀ THỰC TIỄNTrong chương này chúng tôi đi sâu giải quyết các vấn đề cơ bản về kháiniệm, cơ cở xuất phát, vai trò, ý nghĩa, phân loại kĩ năng ghi nhớ sự kiện vàtổng kết điều tra thực trạng của việc phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện trongDHLS ở trường THPT hiện nay

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Một số khái niệm

Kĩ năng: trong khoa học và thực tế cuộc sống có nhiều cách gọi về thuật

ngữ "kĩ năng" như là kĩ năng sống, kĩ năng mềm, kĩ năng chuyên môn, trungtâm huấn luyện kĩ năng Vậy kĩ năng là gì? Bằng cách nào để tạo ra kĩ năng?cần phải học kĩ năng ở đâu? là vấn đề mà chúng ta quan tâm và mong muốn cólời giải Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi muốn thống nhất cách hiểu kháiniệm “kĩ năng” nhằm vận dụng linh hoạt trong học tập và cuộc sống

Khái niệm kĩ năng có nhiều cách định nghĩa bắt nguồn từ góc nhìn

chuyên môn và quan niệm cá nhân của cá nhân các nhà khoa học

Theo Từ điển Tiếng Việt “kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”

Từ điển Tâm lí học định nghĩa “kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hoạt động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”.

Nhà giáo dục I.F Kharlamop cho rằng “kĩ năng là những khả năng của học sinh có thể hoàn thành những hành động nào đó gắn liền với việc ứng dụng kiến thức vào thực tiễn.

Thực tế cuộc sống đều thừa nhận kĩ năng được hình thành khi chúng ta

áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kĩ năng học được do quá trình lặp đi lặp lạimột hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kĩ năng luôn có chủ đích và

Trang 19

định hướng rõ ràng Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu bàn về kĩ năng và các

luận điểm trên, theo chúng tôi “kĩ năng là khả năng, là năng lực vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế thông qua hệ thống các hoạt động hoặc các thao tác, nhằm đạt được hiệu quả tương ứng”.

Học tập của HS là một quá trình nhận thức, song khác với quá trình nhậnthức trong nghiên cứu khoa học nó mang tính đặc thù, HS không nhằm pháthiện những điều loài người chưa biết về bản chất, tính qui luật của các hiệntượng khách quan mà nhằm lĩnh hội những tri thức mà loài người đã tích lũy,phù hợp với yêu cầu và trình độ nhận thức của mình Để làm được điều đó các

em cần phải có các kĩ năng cơ bản của nhận thức để tự mình khám phá nhữngkiến thức mới đối với bản thân mình dù đó chỉ là khám lại những điều loàingười đã biết mà trước hết là ghi nhớ lại những gì đã xảy ra trong quá khứ Bởi

vì, con người chỉ thực sự nắm vững cái mà mình giành được bằng chính nhữnghoạt động của bản thân HS sẽ hiểu những gì trải qua bằng hoạt động nhận thứctích cực và sự cố gắng trí tuệ cùng với kĩ năng nhận thức cơ bản nhằm đạtđược mục đích đặt ra Đó chính là kĩ năng nhận thức là khả năng tiếp thu và xử

lí thông tin về các sự vật, hiện tượng xung quanh thông qua hệ thống của cácthao tác tư duy tương ứng Trong quá trình học tập lịch sử, HS được rèn luyệncác kĩ năng nhận thức tư duy, kĩ năng học tập bộ môn mà trước tiên là kĩ năngghi nhớ sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử

Giữa kĩ năng với phản xạ có sự khác nhau Phản xạ là phản ứng của cơthể với môi trường, phản xạ mang tính thụ động Ngược lại, kĩ năng là phảnứng có ý thức và hoàn toàn mang tính chủ động

Giữa kĩ năng và thói quen cũng có sự khác nhau Hầu hết các thói quenhình thành một cách vô thức và khó kiểm soát, trong khi đó kĩ năng được hìnhthành một cách có ý thức do quá trình luyện tập Thói quen rất khác với kiếnthức, thậm chí có một số người còn nhầm lẫn kiến thức là kĩ năng cứng Vậyđâu là khác biệt? Kiến thức là biết, là hiểu nhưng chưa bao giờ làm, thậm chí

Trang 20

không bao giờ làm Trong khi đó kĩ năng lại là hành động thuần thục trên nềntảng kiến thức Nhiều học giả cho rằng chỉ có kiến thức suông thì chưa mạnh

sử dụng kiến thức mới là sức mạnh Nói cách khác kĩ năng chính là sức mạnh

Có nhiều cách phân loại kĩ năng Nếu xét theo tổng quan thì kĩ năngphân ra làm 3 loại: kĩ năng chuyên môn, kĩ năng sống và kĩ năng làm việc Nếuxét theo liên đới chuyên môn có kĩ năng cứng, kĩ năng mềm và kĩ năng hỗnhợp Theo tính hữu ích cộng đồng có kĩ năng hữu ích và phản lợi ích xã hội.Cần nói thêm rằng kĩ năng mềm hay kĩ năng sống cũng chỉ là một nhóm kĩnăng với tên gọi khác nhau đều là những nhóm kĩ năng thiết yếu giúp cho chủthể tồn tại và thăng hoa trong cuộc sống

Ghi nhớ: quá trình nhận thức của con người trải qua hai giai đoạn cảm

tính và lí tính.Trong nhận thức sự kiện, muốn đánh giá được sự kiện phải trảiqua giai đoạn nhận thức cảm tính, tức là HS phải ghi nhớ sự kiện, hiện tượng

lịch sử Trong cuốn “Từ điển từ và ngữ” ghi nhớ được hiểu chính là “sự ghi nhận, tái hiện và nhận thức lại của bộ não với những gì đã trải qua Ghi nhớ

là sự nhận thức và ghi nhận lại những đặc điểm của sự vật, hiện tượng và mối liên hệ giữa chúng, cơ sở sinh học của quá trình này là mối liên hệ thần kinh tạm thời dưới dưới hình thức là tự làm sống lại mối liên hệ tạm thời đó bằng nhận thức và lưu giữ để tích lũy tri thức và kinh nghiệm Bản thân sự tái hiện

và nhận thức có tác dụng khôi phục tri thức và kinh nghiệm trong quá khứ Sự nhanh, chậm, độ chuẩn xác, bền vững và linh hoạt trong ghi nhớ ở mỗi người khác nhau tùy theo mục đích, nhiệm vụ ghi nhớ, do phương pháp và thái độ trong quá trình ghi nhớ Nội dung ghi nhớ của mỗi người thay đổi phụ thuộc vào giai đoạn, cảm hứng, kinh nghiệm sống, đối với một sự vật hiện tượng Sự ghi nhớ ở mỗi người có sự khác biệt về chiều sâu và chiều rộng [ 55-tr 9-10].

Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Cao Lũy, Nguyễn Văn Vang,

trong Giáo trình Tâm lí học đại cương định nghĩa “Ghi nhớ là giai đoạn đầu tiên của một hoạt động nhớ Đó là quá trình tạo nên dấu vết của đối tượng trên vỏ não, đồng thời cũng là quá trình gắn đối tượng đó với những kiến thúc

Trang 21

đã có”[53- tr69] Cho nên, căn cứ vào mục đích ghi nhớ người ta chia thành

ghi nhớ có chủ định và ghi nhớ không có chủ định

Ghi nhớ không chủ định là ghi nhớ không có từ trước, không đòi hỏi phải

nỗ lực ý chí, không dùng một thủ thuật nào để ghi nhớ tài liệu một cách tựnhiên Tuy nhiên, không phải mọi sự kiện hiện tượng đều được ghi nhớ khôngchủ định như nhau Ở loại ghi nhớ này mức độ ghi nhớ phụ thuộc vào sự hấpdẫn của nội dung tài liệu Nếu nội dung tài liệu có khả năng tạo ra sự tập trungcao độ hay một xúc cảm mạnh mẽ thì sự ghi nhớ sẽ đạt hiệu quả

Ghi nhớ có chủ định là loại ghi nhớ theo một mục đích đặt ra từ trước, đòihỏi sự nỗ lực ý chí nhất định và cần có những thủ thuật phương pháp nhất định

để đạt được mục đích ghi nhớ

Hiệu quả của loại ghi nhớ này phụ thuộc vào động cơ mục đích ghi nhớ.Đối với ghi nhớ có chủ định, việc sử dụng phương pháp hợp lý là một điềukiện quan trọng để đạt hiệu quả cao Thông thường có hai cách ghi nhớ là ghinhớ máy móc và ghi nhớ ý nghĩa

Ghi nhớ máy móc tức là dựa trên sự lặp đi lặp lại nhiều lần một cách đơn

giản tạo ra mối liên hệ bề ngoài giữa các phần của tài liệu ghi nhớ, không cầnthông hiểu nội dung tài liệu Cách ghi nhớ này thường tìm mọi cách để đưa vàotrí nhớ tất cả nhứng gì có trong tài liệu một cách chính xác và chi tiết Nhưng

do không dựa trên thông hiểu nội dung tài liệu nên trong trí nhớ gồm toàn tàiliệu không liên quan gì tới nhau Biểu hiện của hình thức ghi nhớ máy móc củahọc sinh là học vẹt, ghi nhớ máy móc sẽ trở thành thói quen của học sinh nếuthầy-cô giáo thường xuyên đòi hỏi HS phải trả lời nguyên vẹn như trong sách

Ví dụ như ghi nhớ định nghĩa, định luật, bài thơ, thuật nhớ là học thuộc lòng

Ghi nhớ ý nghĩa là loại ghi nhớ dựa trên sự thống nhất nội dung của tài

liệu, dựa trên sự nhận thức những mối liên hệ lô gic giữa các bộ phận của tàiliệu đó Tức là ghi nhớ tài liệu trên cơ sở hiểu bản chất của nó, gắn quá trìnhghi nhớ với quá trình tư duy và tưởng tượng nhằm nắm lấy bản chất của tài

Trang 22

liệu Do vậy, người ta gọi ghi nhớ ý nghĩa là ghi nhớ lôgic Điển hình của loạighi nhớ này trong học tập của HS là phương pháp ghi nhớ theo điểm tựa Ghinhớ ý nghĩa là loại ghi nhớ chủ yếu trong học tập của HS, nó đảm bảo cho sựlĩnh hội tri thức một cách sâu sắc, bền vững Loại hình ghi nhớ này tốn ít thờigian nhưng lại tiêu hao năng lượng thần kinh nhiều hơn.

Quá trình ghi nhớ được tạo nên bởi các khâu không thể thiếu là ghi nhận,

lưu giữ và nhớ lại

Ghi nhận là quá trình nhận biết và ghi lại những đặc điểm sự vật và mối

liên hệ giữa chúng, từ đó tích lũy tri thức và kinh nghiệm Ghi nhớ được xuấtphát từ ghi nhận, ghi nhận là tiền đề cho lưu giữ và nhớ lại

Lưu giữ là quá trình lưu lại những nội dung đã ghi nhận vào não bộ dưới

các hình thức nhất định Lưu giữ là khâu trung gian của ghi nhớ, nếu không cólưu giữ thì không có quá trình nhớ lại

Nhớ lại là sự khôi phục lại những gì đã xảy ra trong quá khứ, là quá trình

sử dụng, ứng dụng thông tin lưu giữ trong bộ não Nhớ lại có hai dạng là táihiện và nhận thức lại Hai giai đoạn này có sự khác nhau đặc biệt cơ bản về bảnchất nhưng chúng đều thuộc phạm trù nhớ lại và quá trình sử dụng những trithức kinh nghiệm lưu giữ trong bộ nhớ

Tiêu chí để đánh giá mức độ ghi nhớ bao gồm:

Mức độ thấp: HS không thể trình bày lại được về sự kiện đã học kể cả khi

có gợi ý của GV HS không thể trình bày lại về sự kiện đã học nhưng khi cógợi ý của GV thì HS cảm thấy sự kiện được nhắc lại là quen thuộc HS có thểtừng bước nhớ lại được những nội dung kiến thức đã học khi có sự gợi ý củaGV

Mức độ trung bình: HS có thể nhớ lại kiến thức đã học khi GV yêu cầu.

HS ghi nhớ sự kiện một cách máy móc, không có xúc cảm

Ở mức độ cao: HS nhớ lại, hình dung lại, tưởng tượng về sự kiện, có cảm

giác như được quan sát diễn biến của sự kiện Khi trình bày về sự kiện có xúc cảm lịchsử

Trang 23

Sự kiện: thuật ngữ “sự kiện” bắt nguồn từ tiếng Latinh “factum” lấy từ động từ gốc “facere”, nghĩa là “làm” Như vậy, nghĩa gốc của từ “sự kiện” là việc đã làm xong, về sau có nghĩa “hành động” “biến cố”, “điều đã xảy ra”.Từ “factum” đã đi vào hầu hết ngôn ngữ của các nước châu Âu Sau đó nội dung của sự kiện ngày càng được mở rộng và có ý nghĩa rộng hơn như sự kiện chỉ hành động, sự việc xảy ra, biến cố và hiện tượng thuộc về quá khứ hay sự kiện là hiện thực, tồn tại khách quan, không bịa đặt, sự kiện là cái cụ thể và đơn nhất, trái với cái trừu tượng và chung nhất.

Nhà sử học tư sản F.M Pôvâysơ cho rằng: “Lịch sử mà chúng ta đọc, dù được xây dựng trên cơ sở hiện thực, thực ra không phải là sự kiện mà là một loạt những phán đoán đã có Còn cái mà chúng ta gọi là khái quát lịch sử lại

là những phán đoán về sự phán đoán” [32- tr123] Từ quan niệm trên có thể

khẳng định mỗi nhà sử học thực hiện sự nhận thức riêng của mình về lịch sử vàkhả năng thu nhận tri thức lịch sử dựa vào điều kiện lịch sử

C.I Biếc-cơ - nhà sử học Mĩ lại có quan niệm khác về sự kiện, cho rằng sựkiện là “cứng rắn” và “lạnh lùng” giống như “viên gạch” Bất cứ một sự kiệnđơn giản nào cũng bao gồm vô số những sự kiện khác nhỏ hơn mà các nhà sửhọc không hề biết Quan niệm trên cho thấy, sự kiện lịch sử do trí óc tạo nên,hay nói cách khác sự kiện là sản phẩm của trí tuệ mang tính chủ quan, còn hiện

thực lịch sử trở thành “thế giới không sờ mó được, nó được khôi phục bằng tư duy và tồn tại trong ý thức ta” [38-tr123-124].

Tác giả C Hucow khi nghiên cứu về khái niệm “sử học” lại cho rằng bản

thân lịch sử được xem như một quá trình vận động trong không gian và thời

gian nhưng không có sự kiện Theo ông “sự kiện chỉ được nêu ra trong quá trình nghiên cứu” sự kiện sinh ra là do ý thức chủ quan của của nhà sử học.

Còn tác giả R Aragông đứng trên quan điểm duy lí để xem xét sự kiệnlịch sử như những cấu tạo chủ quan về nội dung của người nghiên cứu Nó ra

đời từ ý thức của sử gia và là kết quả của tư duy khái niệm “các khái niệm

Trang 24

không tồn tại cho nó mà thông qua ý thức và cho ý thức” Ông cho rằng sử gia

chỉ nhận thức một trận đánh trong ý tưởng về nó chứ không nhìn thấy trậnđánh xảy ra trong hiện thực lịch sử Như vậy R Aragông có quan niệm khác

với các sử gia tư sản khác ở chỗ “lịch sử nghiên cứu khách thể không phải là cái đã qua rồi, không phải là cái đã biến mất mà chỉ là những tồn tại và thay đổi trong ý thức của chúng ta” [38-tr124].

Quan niệm Mác xít khẳng định sự kiện mà con người nhận thức phải gắnliền với hiện thực, phản ánh tính hiện thực, có những đặc trưng như tính khách

quan, tính kế thừa, tính không lặp lại Trong “Hệ tư tưởng Đức”,Mác và Ăngghen lên án các sử gia tư sản chỉ viết “ lịch sử của những quan niệm, tách rời các sự kiện với các quá trình thực tiễn”[38-tr125] Trong lời nói đầu bộ Tư bản Mác đã khẳng định, sự kiện là điểm xuất phát, là chỗ dựa của việc nghiên

cứu chứ không phải là ý tưởng, nó là hiện tượng khách quan bên ngoài Phântích, phê phán một sự kiện không phải là so sánh nó với ý tưởng mà là với sự

kiện khác V.I Lênin chỉ ra rằng: “chủ nghĩa Mác đứng vững trên cơ sở của sự kiện chứ không phải trên cơ sở của khả năng” [38-tr126].

Khoảng giữa thế kỉ XIX đến nay, khái niệm sự kiện không chỉ dùng đểchỉ một hiện tượng riêng lẻ chỉ xảy ra một lần mà còn là một quá trình các mối

quan hệ và toàn bộ hiện tượng cùng loại có liên quan tới nhau như: “cách mạng - cải cách - phục hưng” Sự kiện là nguồn thông tin về một biến cố, một

hiện tượng, một sự vật nào đấy có thực cho nên thuật ngữ sự kiện còn dùngtrong các tác phẩm kinh điển của Mác, Ăngghen

Cho đến nay vẫn còn giải thích khác nhau về sự kiện lịch sử Có người

cho rằng khái niệm sự kiện lịch sử được dùng đồng nghĩa với biến cố, trong trường hợp khác khái niệm lại đồng nghĩa với thuật ngữ tài liệu (thu thập tài

liệu về một cuộc cách mạng hay một cuộc khởi nghĩa) Một số nhà sử học khác

quan niệm về khái niệm sự kiện lịch sử có nhiều nghĩa khác nhau “người ta gọi sự kiện là bản thân hiện tượng, sự vật và biến cố, người ta xem sự kiện là cảm giác và tri giác của chúng ta về sự vật và những thuộc tính của nó;

Trang 25

cuối cùng, sự kiện có thể hiểu rằng đó là những nguyên tắc lý luận không thể chối cãi được mà người ta muốn sử dụng để xác nhận hay bác bỏ một điều gì”

[38-tr126]

Tuy có những nghĩa khác nhau như vậy nhưng xuất phát từ bản chất củahiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử có thể hiểu sự kiện lịch sử tồn tại ở ba

dạng: sự kiện hiện thực, sự kiện tư liệu và sự kiện nhận thức.

Sự kiện hiện thực là những gì có thực đã xảy ra trong quá khứ Sự kiện tư liệu là sự kiện hiện thực để lại dấu ấn thông qua các tư liệu như sách báo, hồi

kí, phim ảnh

Sự kiện nhận thức là những sự kiện tư liệu được con người ghi chép và

nhận thức lại.Ví dụ như ngày 2-9-1945 ở Việt Nam là sự kiện có thật đã xảy ra,

nó để lại những dấu vết gọi là sự kiện tư liệu như báo chí, hồi kí, phim ảnh,hiện vật Từ những nguồn tư liệu đó mà các nhà sử học viết thành sự kiện nhậnthức, đặt tên cho sự kiện này là quốc khánh nước Việt Nam

Ba dạng tồn tại trên của sự kiện lịch sử có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,không thể tách rời Nếu thiếu một trong ba dạng ấy thì không còn là sự kiệnnữa Nếu sự kiện hiện thực mà không có tư liệu thì nó vẫn là ẩn số, ngược lạinếu có sự kiện nhận thức mà mà không có tư liệu thì đó là sự kiện bịa đặt

Tóm lại, sự kiện lịch sử là tất cả những gì xảy ra trong xã hội loài người,được con người nhận thức, ghi chép lại trong các nguồn tư liệu Sự kiện lịch sửchính là cơ sở để nhận thức quá khứ, không có sự kiện lịch sử sẽ không cónhận thức lịch sử Tuy nhiên, sử học không chỉ dừng lại ở việc liệt kê, miêu tả

sự kiện mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất của nó, rút ra những qui luật vận động

và tác động đến nó Nắm được quy luật lịch sử mới nêu đúng những kết luậnkhái quát, rút ra bài học kinh nghiệm có giá trị cho cuộc sống hiện tại và tươnglai

Việc nhận thức các sự kiện lịch sử của HS khác với nhận thức sự kiệnlịch sử của các nhà nghiên cứu Các nhà sử học nhận thức sự kiện bằng con

Trang 26

đường khám phá, nhận thức cái mới với nhân loại thì HS chỉ rút ra từ kho tàngcác sự kiện mà các nhà nghiên cứu đã nhận thức Những sự kiện mà HS nhậnthức là những sự kiện được ghi chép trong SGK Những sự kiện này là cơ bản,phổ thông, phù hợp với nhận thức của HS được rút ra từ kiến thức khoa học vàđược người thầy gia công về mặt sư phạm Như vậy, sự kiện trong DHLS ởtrường phổ thông cũng là những sự kiện lich sử nhưng phạm vi hẹp hơn, đượcgiới khoa học thừa nhận, tương đối ổn định và mang tính giáo dưỡng, giáo dục

và phát triển Sự kiện lịch sử là những hiện thực mang tính khách quan, đã diễn

ra trong quá khứ và HS cần nhận thức làm cơ sở để hiểu biết lịch sử

Sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông đa dạng, phong phú trên

mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Cần phân biệt các loại sự kiện lịch sử để tạothuận lợi cho việc ghi nhớ các kiến thức này Có nhiều tiêu chí để phân loại sựkiện lịch sử, về cơ bản có thể chia theo các cách sau:

Trong các khoá trình lịch sử ở trường phổ thông sự kiện lịch sử được sử

dụng ở hai dạng: hiện tượng và biến cố.

Biến cố là sự kiện lịch sử xảy ra được xác định cụ thể về mặt địa điểm,

thời gian, nhân vật, nó không lặp lại Ví dụ, sự kiện Cách mạng tháng Támnăm 1945 là một biến cố

Hiện tượng là sự kiện lịch sử mang tính điển hình, không xác định cụ thể

về thời gian, nhân vật Ví dụ, sự phát triển kinh tế Việt Nam từ thế kỉ XVIII, hiện tượng hưng khởi của các đô thị như Thanh Hà, Vân Đồn Sự phânbiệt này chỉ có tính tương đối vì không có ranh giới giữa hai loại sự kiện này

XV-Do tính toàn diện của việc học tập lịch sử, các khoá trình và bài giảngcung cấp cho HS nhiều loại sự kiện thuộc lĩnh vực khác nhau của đời sống xã

hội; sự kiện kinh tế, sự kiện chính trị, sự kiện văn hoá- tư tưởng.

Trang 27

Sự kiện kinh tế phản ánh những biến cố, hiện tượng và quá trình của lịch

sử phát triển kinh tế Ví dụ: Công cuộc xây dựng kinh tế Việt Nam trong gầnhai mươi năm đổi mới 1986-2000

Sự kiện chính trị phản ánh những biến cố, hiện tượng về quá trình phát

triển chính trị, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cách mạng, lịch sử phát triển vàsuy vong của các quốc gia

Sự kiện văn hóa tư tưởng: bao gồm các hiện tượng về đời sống tinh thần,

sự phát triển của các hình thái ý thức xã hội, ý thức hệ, hoạt động tinh thần của con người, thành tựu văn học nghệ thuật Các loại sự kiện này không độc lập với nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nó giúp cho học sinh hiểu sự phong phú, tính đa dạng của lịch sử xã hội, phát triển hợp quy luật Sự phân biệt này chỉ có tính tương đối vì không có ranh giới giữa hai loại sự kiện này

Về mặt cấu tạo của sự kiện, các khoá trình và bài giảng còn phân ra “sựkiện đơn giản” và “sự kiện phức tạp”

Sự kiện đơn giản là sự kiện thể hiện tính đơn nhất về nội dung, phản ánh

một biến cố nhất định

Sự kiện phức tạp phản ánh một quá trình phát triển lịch sử, những sự kiện

có những chi tiết, rườm rà

Về mặt ý nghĩa, các khóa trình và bài học lịch sử còn phân ra “sự kiên cơ bản” và “sự kiện không cơ bản”.

Sự kiện cơ bản là sự kiện phản ánh những biến cố, hiện tượng chi phối

một phạm vi nhất định của một quá trình xã hội, những nét đặc biệt và điểnhình của quá trình này đồng thời có ảnh hưởng đến thời kì sau.Ví dụ: khi nói

về cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, sự kiện ngày 2/9/1945 là sự kiện cơbản vì nó đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của cách mạng đồng thời có ảnhhưởng đến thời kì sau

Sự kiện không cơ bản là những biến cố, hiện tượng thứ yếu không có ý

nghĩa quan trọng trong một quá trình lịch sử và không để lại dấu vết sâu sắc

Trang 28

gì trong sự kiện này Ví dụ: chiều ngày 17/ 8/1945 phe bù nhìn thân Nhật tổchức một cuộc mít tinh ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim không phải là sựkiện cơ bản trong cách mạng tháng Tám, không bắt buộc học sinh phải nhớ.Tuy nhiên, sự phân biệt trên cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối vì một sựkiện cơ bản hay không cơ bản còn phụ thuộc vào vị trí, tác động của nó đối vớimột hoặc nhiều mặt của sự phát triển nào đó của lịch sử.

Trong DHLS việc lựa chọn sự kiện cung cấp cho HS cần phải đảm bảochính xác, có tác dụng phát triển gợi lên hình ảnh của quá khứ tạo được cảmxúc mạnh mẽ của HS đối với lịch sử, kích thích hoạt động tư duy của các em

Sự kiện vừa sức tiếp thu sẽ giúp HS nắm vững diễn biến của lịch sử, hiểu rõbản chất của sự kiện, những kiến thức đó phù hợp với khả năng nhận thức củaHS

Trong DHLS nói chung DHLS Việt Nam 1945-1975 nói riêng muốnhướng dẫn HS tiếp thu được kiến thức về khoa học lịch sử, GV cần có nhận

thức đầy đủ về sự kiện và sự kiện lịch sử GV phải hiểu được bản chất của sự

kiện, các quan niệm khác nhau về sự kiện lịch sử để qua đó giúp HS ghi nhớ sựkiện và phát triển thành kĩ năng ghi nhớ sự kiện để nắm vững tri thức về nhữngthành tựu mà xã hội loài người và dân tộc đã đạt được

Kĩ năng ghi nhớ sự kiện: có ý kiến cho rằng kĩ năng ghi nhớ là một năng

khiếu thiên bẩm và bất kì HS giỏi nào cũng phải là người có năng khiếu này.Tuy nhiên, trong thực tế kĩ năng ghi nhớ hoàn toàn có thể phát triển đượcthông qua rèn luyện và phải được thường xuyên trau dồi Sự kiện là cơ sở, nềntảng cho việc nhận thức lịch sử Cho nên, thông qua kĩ năng ghi nhớ HS sẽhiểu và nắm vững sự kiện lịch sử

Phát triển kĩ năng: bất cứ một kĩ năng nào được hình thành nhanh hay

chậm, bền vững hay lỏng lẻo đều phụ thuộc vào khát khao, quyết tâm, năng lựctiếp nhận của chủ thể, cách luyện tập, tính phức tạp của chính kĩ năng đó Trên

cơ sở kĩ năng đã hình thành liên tục lặp lại nó cho thành thục hơn nhằm pháttriển các kĩ năng Cho nên, trong dạy học hiểu đúng về kĩ năng, học tập

Trang 29

có kĩ năng thuần thục là chìa khóa cho sự thành công của HS và cho thànhcông của chính các em trong cuộc sống sau này Vì vậy, và phát triển kĩ năngnhận thức trong học tập mà trước hết là kĩ năng ghi nhớ cho HS là vấn đề quantrọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn ở trường phổ thông.

Phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử: là quan trọng và cần thiết được

sử dụng trong cuộc sống của một con người Đối với HS, nó giúp các em ghinhớ được kiến thức và hệ thống hóa kiến thức tốt hơn, giảm được thời gian họctập Đối với việc DHLS, phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện là tối cần thiết bởilịch sử là dòng chảy của cuộc sống, nếu phát triển được kĩ năng ghi nhớ sựkiện thì sẽ không tốn nhiều thời gian cho việc ghi nhớ

Kĩ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử đã được hình thành trong quá trình họctập lịch sử từ lớp 6 và được rèn luyện, phát triển dần ở lớp 7,8,9,10,11,12 Lênlớp 12 các kĩ năng này được hình thành thuần thực hơn qua đó giúp các em ghinhớ sự kiện một cách hiệu quả

Trên cơ sở tìm hiểu bản chất của các khái niệm kĩ năng, ghi nhớ, sự kiện,

phát triển kĩ năng, chúng tôi cho rằng “phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện lịch

sử chính là tìm ra phương pháp ghi nhớ sự kiện một cách nhanh nhất, thuần thục và ghi nhớ sâu nhất”.

1.1.2 Cơ sở xuất phát của việc phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử cho học sinh

* Mục tiêu giáo dục, mục tiêu DHLS ở trường THPT đòi hỏi phải phát triển kĩ năng ghi nhớ cho HS

Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông có vị trí, vai trò quan trọng trong việchình thành và phát triển toàn diện HS Mục tiêu của môn lịch sử ở trườngTHPT được xây dựng trên cơ sở mục tiêu giáo dục cấp học, quan điểm đườnglối của Đảng về lịch sử học và Giáo dục học Luật Giáo dục 2005, sửa đổi và

bổ sung năm 2009 chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực,

Trang 30

năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Khoản 2, Điều 5) Đồng thời cũng nhấn mạnh “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” (Khoản 2, Điều 28).

Căn cứ vào nội dung, đặc trưng của hiện thực lịch sử và nhận thức lịchsử; yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng hiện nay mục tiêu của mônlịch sử phải thực hiện nhiệm vụ sau:

Về kiến thức: cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản của khoa học lịch

sử bao gồm sự kiện cơ bản, các khái niệm thuật ngữ, nhân vật, niên đại, nhữnghiểu biết về quan điểm lí luận đơn giản, những vấn đề về phương pháp nghiêncứu học tập phù hợp với yêu cầu, trình độ của HS

Về kĩ năng: môn lịch sử ở trường phổ thông giúp người học phát triển và

rèn luyện năng lực tư duy lịch sử Cụ thể:

Biết miêu tả, khôi phục những sự kiện lịch sử quá khứ với một số tài liệu

cơ bản được lựa chọn chính xác

Nêu được nguyên nhân xuát hiện, phát sinh của sự kiện lịch sử

Xác định được điều kiện hoàn cảnh, những mối liện hệ của sự kiện

Nhận biết tính chất, ý nghĩa bài học, kinh nghiệm rút ra từ sự kiện, nhất

là những sự kiện lớn quan trọng

Làm sáng tỏ những biểu hiện đa dạng của các quy luật lịch sử

Xác định động cơ hoạt động của những tầng lớp, tập đoàn hay cá nhântrong lịch sử

Biết liên hệ, so sánh, đối chiếu tài liệu lịch sử với đời sống hiện nay để từ

đó rút ra bài học kinh nghiệm.Từ đó mà hình thành các kĩ năng như phân tích,

so sánh, tổng hợp, đánh giá, kĩ năng học tập và kĩ năng thực hành gồm thựchành bộ môn và thực hành trong cuộc sống

Trang 31

Về thái độ, tình cảm: lịch sử có ưu thế trong việc giáo dục thế hệ trẻ Chính vì vậy ngay từ thời cổ đại các nhà triết học đã khẳng định “lịch sử là thầy dạy của cuộc sống” Tri thức lịch sử không chỉ có tác dụng giáo dục trí

tuệ mà còn giáo dục tư tưởng tình cảm, góp phần đào tạo con người toàn diện

Do đó, giáo dục cho HS quan điểm tư tưởng, tình cảm là mục tiêu quan trọngtrong DHLS Với tính đa dạng, phong phú của bộ môn, nội dung các khóa trìnhlịch sử ở trường THPT có khả năng giáo dục HS nhiều mặt Cụ thể:

Xây dựng niềm tin vững chắc vào lí tưởng cách mạng trên cơ sở nhậnthức đúng sự phát triển khách quan, hợp quy luật của xã hội loài người

Giáo dục cho HS truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong quátrình dựng nước và giữ nước

Bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức của giai cấp công nhân và nhân dânlao động

Như vậy, mục tiêu bộ môn lịch sử ở trường phổ thông nhằm cung cấpnhững kiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển của dân tộc và xã hộiloài người Trên cơ sở đó giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lí tưởng xãhội chủ nghĩa, rèn luyện năng lực tư duy thực hành

* Đặc điểm của sự kiện lịch sử

Tồn tại với tư cách là cơ sở nhận thức nên sự kiện lịch sử mang nhữngđặc điểm sau:

Sự kiện lịch sử mang tính quá khứ: lịch sử là quá trình phát triển hợp quy

luật của xã hội loài người Tất cả những sự kiện, hiện tượng lịch sử được chúng

ta nhắc đến đều là những chuyện đã xảy ra, nó mang tính quá khứ Sự kiện lịch

sử phản ánh quá khứ xã hội loài người mà hiện nay không tồn tại, không thểtrực tiếp quan sát, không thể tái hiện trong phòng thí nghiệm Vì vậy, yêu cầuđặt ra trong DHLS phải khôi phục lại quá khứ một cách sinh động để giúp HStái hiện lại, biết lịch sử diễn ra như thế nào Từ đó tổ chức, hướng dẫn HS nhậnxét, đánh giá về các sự kiện

Trang 32

Mặt khác, tính quá khứ gây không ít những khó khăn cho GV trong quátrình giảng dạy Sự kiện lịch sử luôn đi theo trình tự thời gian cái gì xảy ratrước học trước, mà nhận thức của con người thì lại đi từ hiện tại đến quá khứ,

từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Vì vậy, trong quá trình giảng dạy đòihỏi người GV phải có những biện pháp sư phạm để giúp HS tránh tình trạngquên sự kiện và học đến đâu nhớ đến đó

Sự kiện lịch sử mang tính không lặp lại về cả thời gian và không gian.

Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra một lần, trong một thời gian vàkhông gian nhất định Không có một sự kiện, hiện tượng lich sử nào xảy racùng một thời điểm, trong các thời kì giống nhau là hoàn toàn khác nhau, dù cóđiểm giống nhau;lặp lại mà là sự kế thừa phát triển Ví dụ, chiến thắng BạchĐằng năm 938 và 1288 tưởng chừng giống nhau vì đều là thắng lợi chiến lượcđập tan cuộc xâm lược của phong kiến phương Bắc, đều lợi dụng thủy triều Nhưng bản thân hai sự kiện trên chứa đựng những yếu tố không lặp lại nhưmỗi chiến thắng lại gắn liền với tên tuổi của một nhân vật lịch sử khác nhau,thời gian khác nhau (chiến thắng Bạch Đằng năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo,Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lãnhđạo) Tính không lặp lại này đã gây nhiều khó khăn cho HS trong việc ghi nhớ

sự kiện lịch sử Điều này đặt ra yêu cầu trong quá trình tổ chức, hướng dẫn HSghi nhớ các sự kiện lịch sử, GV cần khôi phục lại lịch sử một cách sinh động,

cụ thể để HS nắm vững các sự kiện, phân biệt sự kiện này với sự kiện khác,tránh nhầm lẫn kiến thức và phải giành thời gian thỏa đáng để củng cố

Sự kiện lịch sử có tính cụ thể Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình

lịch sử cụ thể của các nước, các dân tộc khác nhau và quy luật của nó Lịch sửcủa mỗi nước có diện mạo riêng do những điều kiện riêng quy định Mặt kháccác quốc gia, các dân tộc sống ở khu vực khác nhau, mặc dù chịu tác động củanhững quy luật chung, nhưng tiến trình phát triển của mỗi quốc gia dân tộc lạikhác nhau Cụ thể, cùng một hình thánh kinh tế xã hội nhưng các quốc

Trang 33

gia khác nhau cũng có các mặt kinh tế, thể chế nhà nước, ý thức xã hội mangmàu sắc riêng Điều này đòi hỏi người GV phải hướng dẫn HS ghi nhớ sự kiện,hiện tượng trong DHLS Thông qua việc hướng dẫn ghi nhớ HS sẽ hiểu đượcnhững nét đặc trưng, bản chất của sự kiện, thấy rõ hơn tính cụ thể của lịch sử.

Sự kiện lịch sử vừa mang tính chính xác vừa mang tính tương đối Các sự

kiện lịch sử đã diễn ra trong quá khứ, không lặp lại, luôn gắn với thời gian,không gian, con người cụ thể nên kiến thức lịch sử mang tính chính xác Vínhư, nói đến sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa người ta nhớ đếnngày 2-9-1945, Hồ Chủ Tịch đọc tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường BaĐình chứ không phải là người khác, thời gian và không gian khác.Tuy nhiên,

sự kiện lịch sử lại được con người nhìn nhận và đánh giá dưới những lăng kínhchủ quan khác nhau nên kiến thức lịch sử còn mang tính tương đối Cách trìnhbày, ngôn ngữ, văn phong khi phản ánh một đơn vị kiến thức lịch sử khácnhau Do đó, trong DHLS cần chỉ cho HS nhận thức đúng về kiến thức lịch sử

mà không thể đồi hỏi sự chính xác tuyệt đối Bởi vì cùng một đơn vị kiến thứcnhưng có thể mở rộng đến vô cùng hay được chắt lọc diễn tả gọn với nhiềucách khác nhau

Đặc điểm này của sự kiện lịch sử yêu cầu người GV, trong QTDH phảicăn cứ vào trình độ HS để xác định mức độ kiến thức đạt được cho phù hợpvới đối tượng Ví dụ, trong một lớp học có HS giỏi, khá, trung bình, yếu GVcần phải có phương pháp lựa chọn kiến thức giảng dạy phù hợp sao cho HSđều nắm được kiến thức tối thiểu để HS trung bình, yếu không cảm thấy quákhó đồng thời khơi gợi HS khá, giỏi vươn lên

Sự kiện lịch sử có tính hệ thống Lịch sử bao gồm các sự kiện, hiện

tượng đã xảy ra trong xã hội loài người do đó đề cập đến mọi lĩnh vực của xãhội loài người như chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, khoa học kĩ thuật SGK phổ thông tuy giản lược nhưng vẫn bao quát được các mặt đó Các sựkiện lịch sử, nhân vật lịch sử không xuất hiện một cách ngẫu nhiên nó có một

Trang 34

quá trình hình thành, phát triển và kết thúc nhất định Nó biểu hiện mối quan

hệ giữa sự kiện đã qua với sự kiện mới một cách chặt chẽ, tạo nên tính logiccủa lịch sử Vì vậy, trong QTDH lịch sử ở trường phổ thông đòi hỏi người GVphải luôn chú ý đến mối quan hệ của sác sự kiện hiện tượng lịch sử Việchướng dẫn các em ghi nhới sự kiện hiện tượng lịch sử chính là giúp các emhiểu rõ hơn tính logic của các sự kiện, hiện tượng lịch sử Quan điểm này đượcChủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:

Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam

Sự kiện lịch sử mang tính thống nhất giữa sử và luận Mỗi sự kiện lịch

sử gồm hai phần là “sử” và “luận” Phần “sử” là sự kiện, phần “luận” là giảithích, đánh giá, bình luận Lịch sử là những già đã xảy ra trong quá khứ, mangtính duy nhất không lặp lại Tuy nhiên, học lịch sử tức là tiếp thu những tiến bộcủa quá khứ, loại bỏ những hạn chế cho tương lai “Sử” và “Luận” có mốiquan hệ khăng khít với nhau trong hệ thống kiến thức lịch sử Tức là mỗi phần

sử phải có phần luận và luận phải trên cơ sở phần sử Nếu sử mà không cóphần luận thì bài trình bày ấy không sâu sắc, nếu luận mà không dựa vào sử thìnói suông, vô nghĩa.Vì vậy, kiến thức lịch sử phải có sự thống nhất giữa sử vàluận Đặc điểm này của kiến thức lịch sử buộc chúng ta phải chú ý trongDHLS: không một sự kiện, hiện tượng nào là không hướng dẫn HS giải thích,đánh giá, ngược lại không được áp đặt đánh giá, giải thích khi không xuất phát

từ sự kiện lịch sử

Trong hai phần đó “sử” là phần HS chủ yếu thừa nhận, được lĩnh hộithông qua bài giảng của thầy hoạc từ sách tham khảo Phần “luận” đòi hỏi sựsáng tạo của thầy và trò Đây chính là phần trọng tâm, có ưu thế phát triển tínhtích cực, chủ động sáng tạo của người học Cho nên, khi trình bày phần “luận”cần tránh áp đặt quan điểm của thầy đối với trò.Song điều này không có nghĩa

là HS bình luận một cách tùy tiện mà phải theo sự định hướng của người thầy,

từ đó giúp các em sửa chữa

Trang 35

* Đặc điểm nhận thức lịch sử của HS phổ thông

Nhận thức là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào óc con người.Quá trình này diễn ra theo quy luật và trải qua các giai đoạn sau: nhận thứccảm tính đến nhận thức lí tính, từ nhận thức lí tính đến thực tiễn, như Lênin đã

khẳng định “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan”.

Nhận thức là hoạt động của chủ thể Con người thông qua thực tiễn đểnhận thức, rồi từ nhận thức trở lại thực tiễn và nâng cao nhận thức sâu sắc hơn.Quá trình này diễn ra không ngừng để nhận thức và cải tạo thế giới khách quanđồng thời cải tạo, biến đổi thế giới chủ quann của mình Quá trình nhận thứctrong dạy học nói chung và DHLS nói riêng cũng không nằm ngoài những quiluật về nhận thức đó

Tuy nhiên, quá trình nhận thức của HS lại có những nét đặc thù so với quátrình nhận thức chung của loài người, của nhà khoa học Nó được tiến hànhtrong QTDH với những điều kiện sư phạm nhất định Tức là quá trình nhậnthức của HS không phát hiện những điều loài người chưa biết về bản chất, quiluật của các khách quan mà nhằm lĩnh hội tri thức loài người đã tích lũy được.Tuy nhiên, trong quá trình học tập HS phải tìm ra cái mới cho bản thân mìnhbằng việc rút ra ý nghĩa và bài học kinh nghiệm từ kho tàng hiểu biết chungcủa nhân loại Muốn nắm vững kiến thức và biến nó thành vốn riêng của mình,trong quá trình nhận thức HS không thể bỏ qua khâu ghi nhớ Mặt khác, từnhững kiến thức đã ghi nhớ, lĩnh hội dần dần HS phải hình thành được cơ sởcủa thế giới quan khoa học và những tư tưởng tình cảm đúng đắn

Đặc trưng của bộ môn lịch sử là DHLS bắt đầu từ sự kiện nhưng sự kiệnlại xảy ra trong quá khứ Vì vậy, thật khó để HS hiểu được sự kiện lịch sử khicác em không trực tiếp quan sát, hoặc không thể thực nghiệm được Cho nên,quá trình nhận thức của HS có những đặc điểm riêng

Trang 36

Trong học tập lịch sử, nhận thức sự kiện lịch sử mang tính gián tiếp, quátrình nhận thức của HS bắt đầu bằng quan sát (tri giác) tài liệu từ đó nhớ, hìnhdung lại để hình thành những mối quan hệ tạm thời tương ứng (biểu tượng).Biểu tượng là dấu ấn ghi lại trong ý thức của các em những hình ảnh về sựkiện, hiện tượng lịch sử đã được tri giác Song để hiểu sự kiện, hiện tượng quákhứ phải tìm ra bản chất của chúng tức là hình thành khái niệm Để làm đựơcviệc này cần phải thông qua các thao tư duy như đối chiếu, so sánh, phân tích,tổng hợp tìm ra dấu hiệu bản chất Quá trình này không tự diễn ra mà đòi hỏiphải có sự kích thích nhất định cho tư duy Yêu cầu tìm ra bản chất của sựkiện, hiện tượng quá khứ là biểu hiện của nhiệm vụ nhận thức nảy sinh ra trên

cơ sở tri giác Các câu hỏi “Như thế nào?”, “Tại sao?” sẽ kích thích óc tìmtòi, sự phân tích, so sánh và khái quát hóa của HS Như vậy, trong các hoạtđộng nhận thức lịch sử của HS (tri giác, ghi nhớ, hình dung, tưởng tượng, tưduy) thì ghi nhớ là công việc đầu tiên trong việc lĩnh hội kiến thức nói chung

và DHLS nói riêng

Nhận thức lịch sử mang tính “được hướng dẫn” - tức là quá trình nhậnthức của HS được tiến hành trong điều kiện sư phạm nhất định, dưới sự hướngdẫn của GV để khám phá kiến thức khoa học Trong quá trình nhận thức, HSkhông phải tìm ra cái mới cho nhân loại mà nhận thức cái mới đối với bản thân

từ việc rút ra trong kho tàng hiểu biết chung của nhân loại Vì vậy, trongQTDH người thầy đóng vai trò tổ chức, điều khiển quá trình nhận thức củangười học, còn HS là đối tượng của QTDH và có vai trò chủ động tích cực hoạtđộng nhận thức của mình Giữa hoạt động dạy và học có mối quan hệ biệnchứng với nhau.Với sự phát triển của công nghệ thông tin như hiện nay HSkhông thể nắm vững toàn bộ kho tàng hiểu biết chung của nhân loại mà chỉ họcnhững tri thức phổ thông cơ bản, phù hợp với yêu cầu thực tiễn được các nhàkhoa học lựa chọn đưa vào môn học và được thầy, cô gia công về mặt sư phạmphù hợp với đối tượng và điều kiện dạy học Nhờ đó mà HS nhận thức theomột “đường thẳng” mà không phải trải qua con đường

Trang 37

nhận thức quanh co phức tạp như các nhà khoa học Tuy nhiên, trong DHLS,

GV phải biết xác định, lựa chọn kiến thức (sự kiện) lịch sử cơ bản, đồng thờiphải giúp HS tìm ra phương pháp học tập, kĩ năng kĩ xảo, mang lại hiệu quảcho mình

Tính giáo dục HS được thể hiện thông qua việc lĩnh hội tri thức, rèn luyện

kĩ năng, hình thành kĩ xảo, qua đó các em có được thế giới quan khoa học vàbồi dưỡng những phẩm chất đạo đức Trong quá trình giáo dục, nhận thứcchính là quá trình HS được giáo dục để phát triển toàn diện, hình thành nhữngnăng lực công dân nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Để HSnắm vững các sự kiện lịch sử thì GV phải sử dụng các biện pháp sư phạm để

giúp HS ghi nhớ sự kiện để các em đi từ biết đến thông hiểu sự kiện, từ thông

hiểu để rút ra bài học cho bản thân và cuộc sống

Như vậy, học tập lịch sử là quá trình nhận thức theo quy luật song phảicăn cứ vào đặc trưng riêng của môn học Để HS ghi nhớ được các sự kiện lịch

sử thì GV phải sử dụng các biện pháp phát huy hoạt động trí tuệ của các em

Cụ thể như đưa ra nhiều bài tập nhận thức, thường xuyên kiểm tra, đánh giá kếtquả học tập của HS

* Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Trong QTDH, PPDH là một yếu tố quan trọng góp phần thực hiện mụctiêu dạy học đặt ra Đổi mới PPDH có ý nghĩa góp phần nâng cao chất lượngdạy học Chính vì vậy, trong những năm gần đây, bộ môn lịch sử đã có sự đổimới toàn diện về cả nội dung và phương pháp Đổi mới phương pháp DHLS ởtrường phổ thông là quá trình chuyển từ mô hình dạy học lấy GV làm trung

tâm sang lấy người học làm trung tâm Về mặt bản chất đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới các phương tiện

và hình thức triển khai phương pháp linh hoạt nhằm phát huy tối đa tính tích cực chủ động và sáng tạo của người học”[ 25-tr15]

Đổi mới PPDH nhấn mạnh tới vai trò tổ chức, điều khiển của GVtrong quá trình nhận thức của HS HS tích cực chủ động linh hoạt, phát huy

Trang 38

các năng lực phẩm chất để chiếm lĩnh kiến thức - tức là HS tích cực độc lập,chủ động trong hoạt động tư duy của mình Cho nên, đổi mới nội dung vàPPDH phải xuất phát từ việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong đó

có việc hướng dẫn các em ghi nhớ sự kiện trong DHLS Việc hướng dẫn HSghi nhớ sự kiện trong DHLS là cơ sở để các em nhận thức và tăng cường hơnnữa năng lực tư duy, khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, mềm dẻo góp phần quantrọng vào việc đổi mới nội dung và PPDH lịch sử ở trường phổ thông

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử

Kĩ năng ghi nhớ có vai trò quan trọng trong cuộc sống và cả công việc củatất cả mọi người (kể cả HS hay người đã trưởng thành) Đối với HS, sự kiệnlịch sử vô cùng phong phú, diễn ra trong một thời gian và không gian nhấtđịnh Trong mỗi tiết học, mỗi chương học hay khoá trình lịch sử HS được tìmhiểu nhiều sự kiện lịch sử Các sự kiện không độc lập với nhau mà có mối liên

hệ, quan hệ chặt chẽ, qua đó giúp HS hiểu sự phong phú, tính đa dạng của lịch

sử phát triển của xã hội loài người một cách hợp quy luật

Sự kiện là cơ sở để hình thành tri thức lịch sử cho HS Cho nên, GV cầnphải hướng dẫn HS nắm vững các thành tố cấu thành hệ thống kiến thức lịch

sử toàn diện Nếu chỉ dừng ở chỗ biết kiến thức lịch sử mà không hiểu, khôngbiết cách học (tự học) sẽ không đem lại kết quả tốt trong học tập Việc kháiquát hóa, hệ thống hóa kiến thức chỉ được tiến hành trên cơ sở nắm vững bảnchất của sự kiện Sự kiện là công cụ của việc nhận thức lịch sử Sự hình thànhkiến thức lịch sử là một quá trình vận động của nhận thức, từ không biết đếnbiết, từ biết không đầy đủ, hời hợt đến hiểu biết đầy đủ sâu sắc, có suy nghĩ.Trên cơ sở các sự kiện, sự nhận thức lịch sử thường phải trải qua các quá trìnhnhư tạo biểu tượng và hình thành khái niệm lịch sử, rút ra quy luật bài học lịchsử

Trong thực tế DHLS vẫn còn tồn tại quan niệm rằng DHLS chỉ cần kểchuyện thật hay, tạo biểu tượng về các nhân vật lịch sử, quá trình lịch sử thật

Trang 39

sở của nhận thức, là giai đoạn đầu tiên để HS hiểu biết lịch sử Chỉ có trên cơ

sở các sự kiện HS mới có được biểu tượng về lịch sử, hình thành nên các kháiniệm và rút ra khái niệm, qui luật, bài học lịch sử Từ đó nhận thức lịch sử của

HS sẽ đi từ biết đến hiểu sâu sắc và vững chắc (vận dụng rút ra qui luật lịch sử

và bài học cho bản thân trong cuộc sống) Việc phát triển kĩ năng ghi nhớ sựkiện lịch sử vì vậy có ý nghĩa với HS trên cả ba mặt:

Về nhận thức kiến thức: sự kiện là cơ sở của nhận thức lịch sử Thông qua

các sự kiện lịch sử tiêu biểu trong một bài học, một chương hay cả một giaiđoạn giúp HS biết được một cách căn bản lịch sử đã diễn ra như thế nào?.Đồng thời, sự kiện lịch sử là cơ sở khôi phục lại hình ảnh bức tranh quá khứ

hoàn chỉnh và sinh động nhất Không biết lịch sử thì không thể hiểu được lịch

sử đã diễn ra như thế nào Biết là giai đoạn nhận thức kiến thức đầu tiên trong quá trình học tập của HS giúp các em ghi nhớ được những sự kiện tiêu biểu

trong một bài học, một chương hay một giai đoạn lịch sử nghĩa là các em sẽhiểu được những nét lớn của lịch sử nhân loại cũng như lịch sử dân tộc từ đócác em sẽ chiếm lĩnh được tri thức lịch sử của nhân loại và rút ra bài học chobản thân

Sự kiện lịch sử gắn liền với thời gian, không gian, nhân vật, diễn biến, kếtquả Do vậy, hiểu biết được những sự kiện tiêu biểu đồng nghĩa với việc các

em hiểu được những kiến thức khoa học của bộ môn lịch sử ở nhà trường phổ

thông Sự kiện lịch sử cơ bản được ví như “ xương sống” của tiến trình lịch sử,

nối các sự kiện trong một mối liên hệ nhất định thì HS sẽ có bức tranh cơ bản

về quá khứ hiện thực khách quan Chẳng hạn, sự kiện ngày 6/3/1946 kí hiệpđịnh sơ bộ giữa chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa với Chính phủ Pháptrong bối cảnh nước ta cùng một lúc đối mặt với nhiều khó khăn thách thức cảtrong và ngoài nước Trong đó, Chính quyền dân chủ nhân dân non trẻ vừa mớithành lập chưa có kinh nghiệm trong công tác quản lí, điều hành đất nước, bọnphản cách mạng tìm mọi cách chống phá nhằm lật đổ chính quyền; ngân khốquốc gia trống rỗng, nạn đói, nạn dốt, kinh tế lạc hậu manh mún;

Trang 40

quân Trung Hoa dân quốc vào nước ta với danh nghĩa quân đồng minh giảigiáp quân đội phát xít Nhật nhưng kì thực là chống phá chính quyền, ở niềmNam quân Anh có mặt đang tạo điều kiện giúp đỡ quân Pháp tái chiếm ĐôngDương, quân Pháp đang gây chiến với đồng bào ta ở miền Nam Trên đất nước

ta còn có hơn 6 vạn quân Nhật, một số trong đó tìm cách dọn đường cho Pháp.Nếu không hiểu được bức tranh lịch sử về bối cảnh tình hình đất nước ta sauCách mạng tháng Tám năm 1945 thì không thể hiểu được sự lãnh đạo sángsuốt của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranhchống phản động trong và ngoài nước để bảo vệ chính quyền non trẻ, bảo vệnền độc lập dân tộc của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa như thế nào? Chonên, phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử cho HS lớp 12 sẽ giúp các em cócái nhìn một cách hệ thống và toàn diện hơn về lịch sử

Về rèn luyện kĩ năng: sự kiện lịch sử với tất cả những đặc điểm của nó có

vai trò phát triển trí tưởng tượng phong phú, tư duy tái tạo và trí nhớ cho HS

Sự kiện lịch sử luôn gắn liền với một địa danh, địa điểm, thời gian cụ thể nên

nó giúp HS tưởng tượng phong phú, biết ghi nhớ những sự kiện cơ bản trongtiến trình lịch sử của nhân loại nói chung và lịch sử dân tộc nói riêng qua đó

rèn luyện cho các em nhiều kĩ năng trong học tập bộ môn Khi học về “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1953- 1954)” với đỉnh cao chiến

dịch Điện Biên Phủ (1954) HS sẽ được bồi dưỡng kĩ năng quan sát và sử dụngbản đồ khi tìm hiểu vị trí của mặt trận Điện Biên Phủ, diễn biến của chiến dịch.Hơn nữa các em còn phát triển khả năng phân tích, giải thích, đánh giá về ýnghĩa của chiến thắng này đối với lịch sử dân tộc và thế giới

Về hình thành thái độ, tình cảm: sự kiện lịch sử có vai trò to lớn trong

việc giáo dục đạo đức, tư tưởng tình cảm, nhân cách và hành vi cho học sinh.Thông qua các sự kiện lịch sử tiêu biểu, thông qua hoạt động của con ngườitrong lịch sử mà HS có thể tự rút ra cho mình bài học hoặc noi theo những tấmgương anh hùng HS có thể bày tỏ thái độ yêu ghét, cảm thông, khâm

Ngày đăng: 29/10/2020, 20:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w