(NB) Bài giảng Nguyên lý kế toán: Phần 1 gồm 5 chương với các nội dung chính như: Một số vấn đề chung về kế toán, chứng từ kế toán và kiểm kê, tài khoản kế toán, tính giá các đối tượng kế toán. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG
KHOA KINH TẾ
BÀI GIẢNG MÔN: NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN
(Dùng cho đào tạo tín chỉ - Bậc Đại học)
Lưu hành nội bộ - Năm 2018
Người biên soạn: Th.S Huỳnh Thị Thanh Dung
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN 6
1.1 Khái niệm về kế toán 6
1.1.1 Kế toán 6
1.1.2 Kế toán tài chính 9
1.1.3 Kế toán chi phí 9
1.1.4 Kế toán quản trị 9
1.2 Đối tượng của kế toán 9
1.2.1 Đối tượng kế toán 9
1.2.2 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán 13
1.3 Vai trò - Chức năng - Nhiệm vụ của kế toán 13
1.3.1 Vai trò 13
1.3.2 Chức năng 14
1.3.3 Nhiệm vụ 15
1.4 Các nguyên tắc kế toán 16
1.4.1 Các khái niệm chung được thừa nhận 16
1.4.2 Các nguyên tắc kế toán 16
1.5 Các phương pháp kế toán 18
1.5.1 Phương pháp chứng từ kế toán 18
1.5.2 Phương pháp tính giá 18
1.5.3 Phuơng pháp tài khoản kế toán 18
1.5.4 Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán 18
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 18
TỰ HỌC 18
CHƯƠNG 2: CHỨNG TỪ KẾ TOÁN VÀ KIỂM KÊ 20
2.1 Chứng từ kế toán 20
2.1.1 Khái niệm 20
2.1.2 Ý nghĩa và tác dụng của chứng từ kế toán 20
2.1.3 Tính chất pháp lý của chứng từ kế toán 21
2.1.4 Phân loại chứng từ kế toán 22
2.1.5 Trình tự luân chuyển chứng từ kế toán 25
2.2 Kiểm kê 25
2.2.1 Khái niệm 25
2.2.2 Các loại kiểm kê 26
2.2.3 Phương pháp kiểm kê 26
2.2.4 Vai trò của kế toán trong kiểm kê 27
Trang 3CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2 27
CHƯƠNG 3 : TÀI KHOẢN KẾ TOÁN 28
3.1 Khái niệm 28
3.2 Nội dung và kết cấu tài khoản kế toán 28
3.2.1 Kết cấu chung của tài khoản kế toán 28
3.2.2 Nội dung và kết cấu của các tài khoản kế toán chủ yếu 28
Chú ý: Tài khoản phản ánh các khoản thu và các khoản chi không có số dư (Đầu kỳ và cuối kỳ) 30
3.3 Phân loại tài khoản kế toán 30
3.3.1 Phân loại tài khoản theo nội dung kinh tế 30
Có 30
3.3.2 Phân loại tài khoản theo công dụng và kết cấu 32
3.3.3 Phân loại tài khoản theo mối quan hệ với báo cáo tài chính 35
3.3.4 Phân loại tài khoản theo mức độ khái quát của đối tượng kế toán phản ánh trong tài khoản 35
3.5.1 Ghi đơn 43
3.5.2 Ghi kép 43
3.5.3 Quan hệ ghi chép tài khoản tổng hợp và tài khoản chi tiết 46
BẢNG CÂN ĐỐI TÀI KHOẢN 47
BẢNG CHI TIẾT SỐ PHÁT SINH 48
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 3 49
Chương 4 : TÍNH GIÁ CÁC ĐỐI TƯỢNG KẾ TOÁN 50
4.3.1 Nguyên tắc giá phí (giá gốc hoặc giá vốn) 51
4.3.2 Nguyên tắc khách quan 51
4.3.3 Nguyên tắc nhất quán 51
4.3.4 Nguyên tắc thận trọng 51
4.4.1 Xác định đối tượng tính giá 53
4.4.2 Xác định chi phí cấu thành của đối tượng tính giá 53
4.4.3 Tập hợp chi phí theo đối tượng tính giá 53
4.4.4 Xác định giá trị thực tế của các đối tượng tính giá 53
4.5.1 Tài sản cố định 54
4.5.2 Hàng hoá, nguyên liệu 56
4.5.3 Thành phẩm 57
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 4 58
Chương 5: TỔNG HỢP VÀ CÂN ĐỐI KẾ TOÁN 59
5.3.1 Khái niệm 60
5.3.2 Nội dung và kết cấu 60
Trang 45.3.3 Tính cân đối 65
5.3.4 Nguyên tắc và phương pháp lập 66
5.3.5 Mối quan hệ giữa bảng cân đối kế toán và tài khoản kế toán 67
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 5 68
Chương 6: KẾ TOÁN CÁC QUÁ TRÌNH CHỦ YẾU TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH 69
6.1.1 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp 69
6.1.2 Nhiệm vụ kế toán trong hoạt động sản xuất kinh doanh 69
6.2.1 Tài khoản 70
6.2.2 Kế toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu 71
6.3.1 Kế toán các yếu tố chi phí cơ bản của sản xuất 73
6.3.2 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất 74
6.3.3 Kế toán giá thành sản phẩm 76
THẺ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM, DỊCH VỤ 78
6.4.1 Kế toán quá trình bán hàng 81
6.4.2 Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý 85
6.4.3 Kế toán kết quả kinh doanh 87
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 6 91
Chương 7 : SỔ KẾ TOÁN VÀ HÌNH THỨC KẾ TOÁN 92
7.1.1 Khái niệm 92
7.1.2 Ý nghĩa của sổ kế toán 92
7.1.3 Các loại sổ kế toán 92
7.1.4 Cách ghi sổ kế toán 93
7.1.5 Cách sửa sai trong sổ kế toán 94
7.2.1 Hình thức nhật Ký - sổ cái 96
7.2.2 Hình thức chứng từ ghi sổ 98
7.2.3 Hình thức nhật ký - chứng từ 100
7.2.4 Hình thức nhật ký chung 102
7.2.5 Hình thức kế toán trên máy vi tính 103
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 7 104
Chương 8: TỔ CHỨC CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN 105
8.1.1 Ý nghĩa của tổ chức công tác hạch toán kế toán 105
8.1.2 Nhiệm vụ của tổ chức công tác hạch toán kế toán 105
8.2.1 Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán 107
8.2.2 Tổ chức vận dụng tài khoản kế toán 107
8.2.3 Tổ chức vận dụng hình thức kế toán 108
8.2.4 Tổ chức báo cáo kế toán 108
Trang 58.2.5 Tổ chức bộ máy kế toán 108
8.2.6 Tổ chức công tác kiểm tra kế toán và kiểm toán nội bộ 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
BÀI TẬP MÔN NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN 112
Trang 7CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN
1.1 Khái niệm về kế toán
1.1.1 Kế toán
1.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của kế toán
Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở tồn tại và sự phát triển của xã hội loài người Ngay từ thời xa xưa, với công cụ lao động hết sức thô sơ, con người cũng đã tiến hành hoạt động sản xuất bằng việc hái lượm hoa quả, săn bắn, để nuôi sống bản thân và cộng đồng Hoạt động sản xuất là hoạt động tự giác, có ý thức và có mục đích của con người Cho nên khi tiến hành hoạt động sản xuất, con người luôn quan tâm đến các hao phí bỏ ra
và những kết quả đạt được Chính sự quan tâm này đã đặt ra nhu cầu tất yếu phải thực hiện quản lý hoạt động sản xuất Xã hội loài người càng phát triển thì mức độ quan tâm của con người đến hoạt động sản xuất càng tăng và do đó, yêu cầu quản lý hoạt động sản xuất cũng được nâng lên Để quản lý, điều hành hoạt động sản xuất mà ngày nay gọi là hoạt động kinh tế, cần phải có thông tin về hoạt động kinh tế đó Thông tin đóng vai trò quyết định trong việc xác định mục tiêu, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh tế Kế toán là một trong các công cụ cung cấp thông tin về hoạt động kinh tế phục vụ cho công tác quản lý
Ở thời kỳ Nguyên thủy, các cách thức xử lý, ghi chép, phản ánh được tiến hành bằng những phương thức giản đơn, như: đánh dấu lên thân cây, ghi lên vách đá, buộc nút trên các dây thừng, để ghi nhận những thông tin cần thiết, công việc trong thời kỳ này phục vụ cho lợi ích của từng nhóm cộng đồng Khi xã hội chuyển sang chế độ chiếm hữu
nô lệ, với việc hình thành giai cấp chủ nô, nhu cầu theo dõi, kiểm soát tình hình và kết quả sử dụng nô lệ, tài sản của chủ nô đã đặt ra những nhu cầu cao hơn trong công việc của kế toán Các kết quả của các nhà khảo cổ học cho thấy các loại sổ sách đã được sử dụng để ghi chép, kế toán còn được sử dụng trong các phòng đổi tiền, các nhà thờ và trong tài chính nhà nước, để theo dõi các nghiệp vụ về giao dịch, thanh toán và buôn bán
Mặc dù có nhiều đổi mới về cách thức ghi chép, phản ánh trải qua các giai đoạn phát triển của xã hội, nhưng kế toán vẫn chưa được xem là khoa học độc lập cho đến khi
xuất hiện phương pháp ghi kép Năm 1494, Luca Pacioli một nhà toán học, tu sĩ dòng
Phanxico người Ý đã tìm ra và giới thiệu phương pháp ghi kép Ông đã minh họa việc sử dụng khái niệm Nợ và Có để đảm bảo một lần ghi kép Nhiều nhà nghiên cứu về lịch sử
kế toán đã cho rằng sự xuất hiện phương pháp ghi kép của kế toán dựa trên bảy điều kiện sau:
➢ Có một nghệ thuật ghi chép riêng
➢ Sự xuất hiện của số học
➢ Việc tồn tại sở hữu tư nhân
Trang 8Sự phát triển của khoa học kỹ thuật gắn liền với những thay đổi về hình thái của các
tổ chức kinh tế, các trung gian tài chính, cách thức quản lý tổ chức này cũng như phương thức quản lý nền kinh tế ở góc độ vĩ mô Đó là sự phát triển của hệ thống ngân hàng với việc ra đời của nhiều công cụ tài chính, là sự phổ biến của mô hình công ty cổ phần vận hành trên các thị trường chứng khoán Trong bối cảnh đó, kế toán không chỉ là sự ghi chép và cung cấp thông tin cho người quản lý doanh nghiệp mà cong có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho những đối tượng bên ngoài, như: Cơ quan thuế, ngân hàng và các tổ chức tài chính khác, các nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng, Việc công bố thông tin
ra bên ngoài được xem là một yêu cầu khách quan của thực tiễn để nhà nước vận hành nền kinh tế tốt hơn; để các tổ chức kinh tế và cá nhan liên quan có điều kiện đánh giá các khoản vốn đầu tư của mình hoặc tìm kiếm cơ hội kinh doanh tốt nhất Vấn đề này đặt ra cho kế toán phải công bố những thông tin gì cho bên ngoài và vừa đảm bảo được tính bí mật thông tin của doanh nghiệp
Những yêu cầu của thực tiễn đã thúc đẩy khoa học kế toán có những thay đổi về phương pháp ghi chép, xử lý và công bố thông tin; thể hiện là vào những thập niên đầu thế kỷ 20, kế toán đã dần tách biệt thành hai hệ thống Một là, sự hình thành của hệ thống
kế toán nhằm cung cấp thông tin cho nhiều đối tượng bên ngoài thông qua các báo cáo tài chính, các báo cáo tài chính được trình bày theo những tiêu chuẩn thống nhất, hệ thống
này gọi là kế toán tài chính Hai là, sự ra đời của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp
thông tin đa dạng hơn cho người quản lý của các tổ chức Hệ thống kế toán này đòi hỏi những cách thức ghi chép và xử lý thông tin riêng để đáp ứng yêu cầu quả trị do áp lực cạnh tranh ngày càng tăng Do tính bí mật về thông tin, hệ thống kế toán quản trị dần tách biệt với kế toán tài chính
Tóm lại, sự ra đời và phát triển của kế toán gắn liền với sự phát triển của các hoạt động kinh tế và nhu cầu sử dụng thông tin kế toán Ở mỗi quốc gia, sự phát triển của kế toán phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, Tuy nhiên, khoa học kế toán
Trang 9ngày nay không còn là giới hạn trong biên giới mỗi quốc gia mà đã mang tính toàn cầu hóa Những nguyên tắc và phương pháp kế toán chung hay các chuẩn mực ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong hệ thống quản lý ở mỗi tổ chức, các đơn vị kinh tế
1.1.1.2 Khái niệm về kế toán
Trong nhiều tài liệu viết về kế toán, nhiều nhà khoa học kinh tế đã đưa ra nhiều định nghĩa về kế toán ở nhiều khía cạnh khác nhau Định nghĩa về kế toán được ghi nhận
trong Điều 4 luật kế toán Việt Nam (2015) : “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra,
phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động” Định nghĩa này cụ thể hoá các công việc của kế toán từ giai đoạn thu
thập dữ liệu ban đầu đến việc xử lý và cung cấp các thông tin kinh tế tài chính Kế toán
sử dụng nhiều thước đo nhưng thước đo giá trị là thước đo chủ yếu và bắt buộc
Hiệp hội kế toán Mỹ (1966) thì định nghĩa: “Kế toán là quá trình xác định, đo lường và cung cấp thông tin kinh tế hữu ích cho việc phán đoán và ra quyết định”
Ở góc độ là một môn khoa học thì kế toán là hệ thống thông tin thực hiện việc phản ánh và kiểm tra mọi diễn biến của các hoạt động thực tế diễn ra liên quan đến tình hình kinh tế, tài chính ở một đơn vị cụ thể
Đơn vị cụ thế có thể là các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp, hợp tác xã,…
Ở góc độ là một nghề nghiệp thì kế toán là một nghệ thuật ghi chép, tính toán bằng con số mọi hiện tượng kinh tế - tài chính phát sinh liên quan đến một đơn vị nhất định bằng sự quan sát và đo lường, nhằm mục đích cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời và trung thực về tình hình sử dụng tài sản và sự vận động của tài sản, tình hình và kết quả của hoạt động kinh tế tại đơn vị cho nhiều đối tượng ra quyết định
Tuy có nhiều định nghĩa về kế toán nhưng chung quy lại, có thể rút ra một số điểm chung sau:
- Kế toán nghiên cứu tài sản, nguồn hình thành tài sản và sự vận động của tài sản trong các tổ chức Đó cũng chính là các quan hệ kinh tế tài chính phát sinh ở các tổ chức
có sử dụng tài sản để thực hiện mục tiêu hoạt động của mình
- Kế toán sử dụng ba loại thước đo để phản ánh là thước đo giá trị, thước đo hiện vật và thước đo lao động, trong đó thước đo giá trị là bắt buộc để tổng hợp toàn bộ các hoạt động kinh tế ở các tổ chức
- Kế toán được xem là hệ thống thông tin ở mỗi tổ chức Hệ thống đó được vận hành quá một quá trình thu thập, xử lý, ghi chép và cung cấp thông tin bằng các phương pháp riêng có của kế toán
- Chức năng của kế toán là thông tin và kiểm tra về quá trình hình thành và sự vận động của tài sản
Trang 101.1.2 Kế toán tài chính
Kế toán tài chính là hệ thống kế toán thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế tài chính cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của doanh nghiệp qua các báo cáo tài chính Hệ thống báo cáo tài chính mà các doanh nghiệp phải lập bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính
1.2 Đối tượng của kế toán
Với tư cách là một công cụ quản lý kinh tế quan trọng, với chức năng thông tin và kiểm tra, hạch toán kế toán giữ vai trò quan trọng trong công tác quản lý tài sản, thông tin
do hạch toán kế toán cung cấp sẽ giúp nhà quản lý biết được tài sản của đơn vị theo từng loại, tổng số, đánh giá được tình hình trang bị và sử dụng Đồng thời thông qua chức năng thông tin và kiểm tra của mình, hạch toán kế toán giúp cho nhà quản lý nắm được một cách kịp thời, đầy đủ về quá trình cũng như kết quả của sự vận động tài sản trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế của đơn vị, là cơ sở để phân tích và đánh giá hiệu quả của quá trình vận động ấy
Như vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, hạch toán tài sản, hạch toán kế toán nghiên cứu, xem xét tài sản của đơn vị theo 2 hình thức biểu hiện là giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản, đồng thời cũng xem xét và nghiên cứu quá trình vận động của tài sản trong quá trình hoạt động kinh tế của đơn vị
1.2.1 Đối tượng kế toán
Trong quá trình hoạt động của đơn vị, các loại tài sản thường xuyên biến động đồng thời nguồn hình thành tài sản cũng biến động Sự vận động của tài sản và nguồn hình thành tài sản (nguồn vốn) là thể hiện sự tồn tại và đang hoạt động của một đơn vị Bên cạnh đó tài sản và nguồn vốn thực sự vận động cần phải có môi trường kinh doanh
và môi trường pháp lý
Đối tượng cơ bản của hạch toán kế toán là: Tài sản, nguồn vốn và sự vận động của tài sản, nguồn vốn và các quan hệ pháp lý trong quá trình hoạt động của đơn vị
Trang 11Trong nền kinh tế xã hội, các đơn vị thuộc các loại hình kinh tế khác nhau đảm nhận các khâu khác nhau trong quá trình tái sản xuất xã hội và có vai trò, chức năng, nhiệm vụ khác nhau đối với nền kinh tế
Để nghiên cứu đối tượng của hạch toán kế toán chỉ có thể chọn một loại hình đơn
vị mà ở đó thể hiện tương đối đầy đủ các khâu khác nhau của quá trình tái sản xuất và từ
đó suy rộng cho các loại hình đơn vị khác
Sau đây ta đi tìm hiểu cụ thể về đối tượng của kế toán trong đơn vị kế toán điển hình là doanh nghiệp sản xuất
1.2.1.1 Tài sản
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam 01: “ Tài sản là nguồn lực do đơn vị kiểm soát
và có thể mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai”
Trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển, các đơn vị nói chung và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói riêng có thể hoạt động được khi có đầy đủ các đối tượng sản xuất như nguyên vật liệu, nhiên liệu, công cụ dụng cụ và một lượng tiền cần thiết Mặt khác các doanh nghiệp luôn cần những thiết bị, máy móc sản xuất, nhà xưởng, mặt bằng, gọi chung là tư liệu sản xuất
Căn cứ vào thời gian luân chuyển của tài sản, tài sản chia thành 2 nhóm lớn là tài sản ngắn hạn (tài sản lưu động và đầu tư tài chính ngắn hạn) và tài sản dài hạn (tài sản lưư động và đầu tư tài chính dài hạn)
a Tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn là toàn bộ giá trị tài sản (vô hình, hữu hình) của đơn vị có thời gian luân chuyển ngắn, thông thường là nhỏ hơn hoặc bằng 1 năm, hay nhỏ hơn hoặc bằng một chu kỳ kinh doanh
+ Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, kim loại quý, ngoại tệ
+ Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, tín phiếu, ngân phiếu, là các khoản đầu tư có thời gian thu hồi trong vòng 1 năm
+ Các khoản phải thu: Đây là tài sản của doanh nghiệp đang bị các đối tượng khác chiếm dụng (nợ)
+ Hàng tồn kho: Là những tài sản dự trữ cho quá trình hoạt động của đơn vị
- Theo lĩnh vực tham gia luân chuyển toàn bộ tài sản lưu động của đơn vị chia thành: + Tài sản lưu động trong lĩnh vực sản xuất như nguyên liệu vật liệu, công cụ dụng cụ,
+ Tài sản lưu động trong lĩnh vực lưu thông như thành phẩm, hàng hoá,
b Tài sản dài hạn
Tài sản dài hạn là những tài sản của đơn vị có thời gian luân chuyển dài (thường là dài hơn một năm hoặc lớn hơn một chu kỳ kinh doanh)
Trang 12- Theo tiêu chuẩn biểu hiện toàn bộ tài sản được chia làm các loại sau:
+ Tài sản cố định hữu hình: Là những tư liệu lao động giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài như: nhà cửa, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật kiến trúc, vườn cây lâu năm,
+ Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản cố định không có hình thái vật chất, phản ảnh một lượng giá trị mà đơn vị đã thực sự đầu tư, xuất phát từ lợi ích hay đặc quyền, đặc lợi của đơn vị, gồm có: chi phí thành lập chuẩn bị sản xuất, bằng phát minh sáng chế, quyền sử dụng đất,
+ Các khoản đầu tư tài chính dài hạn: Đầu tư chứng khoán dài hạn, là các khoản đầu tư có thời gian thu hồi lớn hơn 1 năm
1.2.1.2 Nguồn hình thành tài sản (Nguồn vốn)
Tài sản của đơn vị được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Tuy nhiên có thể quy các nguồn hình thành tài sản thành 2 loại: Nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu
a Nợ phải trả
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01: “ Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của đơn vị phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà đơn vị phải thanh toán từ nguồn lực của mình”
Căn cứ vào thời hạn thanh toán các khoản nợ, nợ phải trả của đơn vị được chia thành 2 loại: Nợ ngắn hạn và Nợ dài hạn
- Nợ ngắn hạn: Là khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán trong thời hạn một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh
Trong doanh nghiệp, các khoản nợ ngắn hạn thường được thanh toán bằng tài sản lưu động hoặc tạo ra một khoảng nợ ngắn hạn mới Nợ ngắn hạn bao gồm: Vay ngắn hạn, phải trả người bán, phải trả, phải nộp thuế cho Nhà nước, phải trả lương cho công nhân viên, phải trả trong nội bộ, phải trả khác…
Theo tính chất các khoản nợ, nợ ngắn hạn chia làm 2 loại:
+ Nợ tín dụng: Là khoản nợ mà khi trả phải trả cả vốn lẫn lãi, bao gồm các khoản vay ngắn hạn
+ Nợ chiếm dụng: Là các khoản nợ mà đơn vị chiếm dụng của người khác, theo luật định trong quá trình mua bán không phải trả lãi
- Nợ dài hạn: Là khoản nợ mà các đơn vị phải có trách nhiệm thanh toán với thời hạn trên một năm hay trên một chu kỳ kinh doanh, nợ dài hạn chia làm 2 loại:
+ Nợ tín dụng: Vay dài hạn, vay trung hạn, nợ dài hạn
+ Nợ chiếm dụng: Các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn, nợ người bán, người nhận thầu trên một năm
Trang 13+ Lợi nhuận giữ lại: Nếu tài sản của đơn vị được sử dụng một cách hiệu quả và tạo
ra lợi nhuận cho đơn vị Số lợi nhuận còn lại sau khi nộp thuế thu nhập cho nhà nước và chia cho các chủ sở hữu được giữ lại để tích luỹ bổ sung vốn chủ sở hữu
- Phân theo mục đích sử dụng, nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm: Nguồn vốn kinh doanh, nguồn vốn chuyên dùng và nguồn vốn chủ sở hữu khác
+ Nguồn vốn kinh doanh: Là nguồn vốn chủ sở hữu tài trợ cho bộ phận tài sản dùng vào mục đích kinh doanh
+ Nguồn vốn chuyên dùng: Là nguồn vốn chủ sở hữu dùng cho mục đích nhất định ngoài mục đích kinh doanh: quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng, phúc lợi…Như vậy, nguồn vốn chuyên dùng chỉ ra phạm vi tài sản được sử dụng cho mục đích nhất định
+ Nguồn vốn chủ sở hữu khác: Là những nguồn vốn chủ sở hữu không thuộc hai loại trên, gồm lợi nhuận chưa phân phối, chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá hối đoái,
1.2.1.3 Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Tài sản của đơn vị thể hiện nguồn lực kinh tế
Bất kỳ một tài sản nào cũng được hình thành từ một hoặc một số nguồn nhất định hoặc ngược lại Bất cứ một tài sản nào của đơn vị cũng có nguồn hình thành tương ứng nên tổng giá trị của tài sản của đơn vị luôn luôn bằng tổng nguồn vốn của đơn vị Mối quan hệ này được biểu hiện qua phương trình kế toán sau:
Tổng giá trị tài sản = Tổng nguồn vốn
Tổng giá trị tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu
Phương trình kế toán cơ bản:
Tổng nguồn vốn chủ sở hữu = Tổng giá trị tài sản - Nợ phải trả
Phương trình này có thể đánh giá được khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp
Trang 141.2.1.4 Sự vận động của tài sản là đối tượng của hạch toán kế toán
Trong các doanh nghiệp sản xuất của cải vật chất, tài sản của đơn vị thường vận động qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn mua hàng: Trong giai đoạn này đơn vị bỏ tiền ra mua sắm vật tư, tài sản để chuẩn bị cho sản xuất và do đó tài sản của đơn vị chuyển từ hình thái tiền tệ sang hiện vật
- Giai đoạn sản xuất: trong giai đoạn này đơn vị sử dụng các loại nguyên vật liệu,
tư liệu lao động, sức lao động để tạo ra sản phẩm theo mục đích đã định
- Giai đoạn bán hàng: giai đoạn này đơn vị xuất kho thành phẩm, hàng hoá chuyển cho người mua để thu về một lượng tiền tương ứng và do đó tài sản của đơn vị biến đổi
từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ
1.2.2 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán
Các đối tượng sử dụng thông tin của kế toán tài chính rất đa dạng, từ cơ quan quản
lý nhà nước như: Thuế, ủy ban chứng khoán, nhà đầu tư, ngân hàng thương mại, nhà cung cấp,
Ngược với thông tin kế toán tài chính, thông tin kế toán quản trị không được công
bố công khai ra bên ngoài, mà chỉ sử dụng đối với các nhà quản trị các cấp ở doanh nghiệp
1.3 Vai trò - Chức năng - Nhiệm vụ của kế toán
1.3.1 Vai trò
- Thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị từ khâu mua hàng, sản xuất đến khâu bán hàng, tiêu dùng Qua đó phân tích được hiệu quả của công tác quản lý; phát hiện và khắc phục kịp thời những thiếu sót, đề ra những biện pháp hữu hiệu hơn nhằm đảm bảo sức cạnh tranh trên thị trường
- Thu thập và cung cấp thông tin để đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc hạch toán kinh doanh trong doanh nghiệp
- Thu thập và cung cấp thông tin cần thiết cho các đối tương kinh doanh ở bên ngoài doanh nghiệp thông qua báo cáo tài chính
- Cung cấp tài liệu để thực hiện việc kiểm tra nội bộ cũng như phục vụ cho việc kiểm tra, kiểm soát các cơ quan có thẩm quyền đối với hoạt động kinh doanh của đơn vị nhằm đảm bảo kinh doanh đúng pháp luật, cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của Nhà Nước, chịu sự cho phối và quản lý của Nhà Nước
- Về cơ bản, kế toán là một phương thức đo lường và thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin về kinh tế của toàn xã hội Các yêu cầu thông tin kinh tế hoặc ít hoặc nhiều, thô sơ hay phức tạp đều có chung một thuộc tính đòi hỏi các thông tin biểu hiện bằng tiền
về tình hình và sự biến động của tài nguyên kinh tế và tình hình sử dụng các tài nguyên này
Trang 15* Yêu cầu cơ bản đối với kế toán
Với vai trò của kế toán và để thực hiện những nhiệm vụ kế toán theo quy định của Chuẩn mực chung (VAS01), kế toán cần phải đáp ứng được những yêu cầu cơ bản sau:
- Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh Yêu cầu này đòi hỏi kế toán phải phản ánh trung thực hiện trạng, bản chất sự việc, nội dung và giá trị nghiệp vụ kinh tế phát sinh
- Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo
- Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót
- Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép báo cáo kịp thời không được chậm trễ
- Các thông tin trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng
- Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán phải giải trình trong thuyết minh báo cáo tài chính để người
sử dụng thông tin có thể so sánh được thông tin giữa các kỳ kế toán
1.3.2 Chức năng
Xuất phát từ định nghĩa của kế toán, có thể thấy kế toán có 2 chức năng liên quan đến công tác quản lý, đó là chức năng thông tin và chức năng kiểm tra
1.3.2.1 Chức năng thông tin
Chức năng thông tin được biểu hiện ở việc kế toán theo dõi toàn bộ các hiện tượng kinh tế, tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động của đơn vị thông qua việc tính toán, ghi chép, phân loại, xử lý và tổng kết các dữ liệu liên quan đến hoạt động sử dụng vốn và tài sản của đơn vị
1.3.2.2 Chức năng kiểm tra
Chức năng kiểm tra thể hiện thông qua số liệu đã được phản ánh, kế toán sẽ nắm được một cách có hệ thống toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động của đơn vị làm cơ sở cho việc đánh giá đúng đắn và kiểm soát chặt chẽ tình hình chấp hành luật pháp của đơn
vị trong công tác quản lý kế toán – tài chính Chức năng này giúp cho hoạt động của đơn
vị ngày càng đạt hiệu quả cao hơn
1.3.2.3 Mối quan hệ giữa các chức năng
Chức năng thông tin và kiểm tra có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chức năng thông tin là đối tượng của chức năng kiểm tra, chức năng kiểm tra là công cụ đôn đốc chức năng thông tin được chính xác, rõ ràng và đầy đủ hơn Thực hiện tốt chức năng
Trang 16kiểm tra là cơ sở để kế toán cung cấp thông tin đáng tin cậy phục vụ cho công tác phân tích, đánh giá được đầy đủ, đúng đắn tình hình và kết quả hoạt động của đơn vị trong từng thời kì nhất định, đề ra các quyết định đúng đắn, phù hợp nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị
Với các chức năng trên kế toán đã trở thành công cụ hết sức quan trọng trong công tác quản lý của bản thân đơn vị tổ chức kế toán và các chức năng này cũng rất cần thiết đối với các tổ chức khác có quyền lợi trực tiếp hoặc gián tiếp đối với hoạt động của đơn
vị tổ chức kế toán, như: người chủ sở hữu vốn của đơn vị, người cung cấp tín dụng, hàng hoá - dịch vụ, các nhà đầu tư, các cơ quan tài chính hoặc cơ quan chức năng khác
1.3.3 Nhiệm vụ
- Ghi chép, tính toán, phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh và sử dụng kinh phí của đơn vị
- Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh; kế hoạch thu; kỷ luật thu nộp, thanh toán, kiểm tra việc giữ gìn, sử dụng tài sản , vật tư, tiềm vốn, kinh phí, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những hành động lãng phí, tham ô, vi phạm chính sách, chế độ, kỹ luật kinh tế tài chính
- Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán
- Cung cấp các số liệu, tài liệu cho việc điều hành hoạt động sản xuất - kinh doanh, kiểm tra và phân tích hoạt động kinh tế tài chính, phục vụ công tác lập và theo dõi thực hiện kế hoạch, phục vụ cho công tác thống kê và thông tin kinh tế
Trên cơ sở văn bản Luật quy định, có thể phân tích nhiệm vụ của kế toán theo từng công tác kế toán Xuất phát từ yêu cầu quản lý và cung cấp thông tin cho các đối tượng khác nhau, kế toán được chia thành kế toán quản trị và kế toán tài chính
Mỗi loại đảm nhận một nhiệm vụ thể khác nhau:
* Kế toán tài chính
- Nhiệm vụ của kế toán tài chính: Là theo dõi, tính toán và phản ánh về tình hình
tài sản và nguồn vốn cũng như tình hình về kết quả hoạt động của đơn vị nhằm phục vụ cho các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài và bên trong đơn vị, nhưng chủ yếu là đối tượng bên ngoài đơn vị Kế toán tài chính cung cấp những thông tin về sự kiện đã xảy ra
* Kế toán quản trị
- Nhiệm vụ của kế toán quản trị: Là qua số liệu của kế toán tài chính, xử lý và cung
cấp thông tin về quá trình hình thành, phát sinh chi phí, tình hình quản trị tài sản, nguồn vốn và các quá trình hoạt động khác nhằm hỗ trợ đắc lực cho nhà quản lý của đơn vị trong việc hoạch định, kiểm soát và ra quyết định Kế toán quản trị có đặc điểm cơ bản là
Trang 17không những phản ánh những sự kiện đã xảy ra, mà còn phản ánh những sự kiện đang và
sẽ xảy ra trong tương lai
1.4 Các nguyên tắc kế toán
Những nguyên tắc kế toán chung được xây dựng nhằm mục đích đảm bảo quá trình xử lý thông tin kế toán dựa trên những cơ sở thống nhất Các nguyên tắc kế toán chung này được xem như là những tuyên bố chung về các quy định và sự hướng dẫn phục vụ cho việc xử lý thông tin kế toán và lập báo cáo tài chính
1.4.1 Các khái niệm chung được thừa nhận
1.4.1.1 Khái niệm thực thể kinh doanh
Đây là khái niệm cơ bản nhằm đề ra cho kế toán phạm vi, giới hạn của một thực
thể kinh doanh hay đơn vị kế toán trong việc ghi chép, phản ánh và cung cấp thông tin một cách đầy đủ Khái niệm này còn chỉ ra rằng đơn vị kế toán là tổ chức độc lập với các chủ thể, cá nhân khác và độc lập ngay cả với bản thân người chủ sở hữu đơn vị kinh doanh
sử dụng để lập báo cáo tài chính
1.4.1.3 Giả thuyết cơ sở dồn tích
Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai
1.4.2 Các nguyên tắc kế toán
1.4.2.1 Thước đo tiền tệ
Nguyên tắc này thừa nhận đơn vị tiền tệ như một đơn vị đồng nhất trong việc tính toán, ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Với nguyên tắc này, tất cả các đối tượng
kế toán phải được tính toán, xác định bằng tiền để ghi sổ, tức kế toán chỉ phản ảnh những
gì có thể biểu hiện bằng tiền
1.4.2.2 Kỳ kế toán
Kỳ kế toán là việc phân chia hoạt động của doanh nghiệp thành nhiều phân đoạn thời gian bằng nhau, để lập các báo cáo kế toán phục vụ cho việc phân tích đánh giá quá
Trang 18trình hoạt động và những thay đổi về tình hình tài chính của doanh nghiệp Để tiện cho việc so sánh, các kỳ kế toán thường dài như nhau (tháng, quí, năm)
1.4.2.3 Nguyên tắc giá gốc
Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể
1.4.2.4 Nguyên tắc phù hợp
Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau Khi ghi nhận một khoản
doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó 1.4.2.5 Nguyên tắc nhất quán
Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính
1.4.2.6 Nguyên tắc công khai
Nguyên tắc này đòi hỏi báo cáo kế toán của doanh nghiệp phải rõ ràng, dễ hiểu và phải đầy đủ thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, báo cáo phải được trình
bày công khai cho những ai sử dụng nó
1.4.2.7 Nguyên tắc trọng yếu
Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính
1.4.2.8 Nguyên tắc thận trọng
Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:
a/ Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn;
b/ Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;
c/ Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;
d/ Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả
năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả
năng phát sinh chi phí
Trang 191.5 Các phương pháp kế toán
Để thu thập, phân loại, xử lý, tổng hợp và cung cấp thông tin thì kế toán phải sử dụng một hệ thống các phương pháp bao gồm: Phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản kế toán, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp – cân đối kế toán
1.5.1 Phương pháp chứng từ kế toán
Phương pháp chứng từ kế toán là phương pháp kế toán phản ảnh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh và thật sự hoàn thành theo thời gian và dịa điểm phát sinh nghiệp vụ đó vào các bản chứng từ kế toán và sử dụng các bản chứng từ đó phục vụ cho
công tác kế toán và công tác quản lý kinh tế tài chính
1.5.2 Phương pháp tính giá
Phương pháp tính giá là phương pháp kế toán sử dụng đo tiền tệ để tính toán, xác định giá trị của từng loại và tổng số tài sản của đơn vị thông qua mua vào, sản xuất ra theo những quy tắc nhất định
1.5.3 Phuơng pháp tài khoản kế toán
Phương pháp tài khoản kế toán là phương pháp kế toán phân loại các đối tượng kế toán để phản ảnh và kiểm tra một cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình và
sự vận động của từng đối tượng kế toán riêng biệt
1.5.4 Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán
Phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán là phương pháp kế toán mà việc thiết kế và
sử dụng các bảng tổng hợp - cân đối được dựa trên cơ sở các mối quan hệ cân đối vốn có của kế toán để tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính cần thiết nhằm cung cấp thông tin cho việc điều hành, quản lý các hoạt động kinh tế của đơn
vị và những người có lợi ích nằm ngoài đơn vị
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
1 Hãy nêu định nghĩa về kế toán?
2 Trình bày những nội dung cơ bản của đối tượng kế toán?
3 Trình bày định nghĩa tài sản, những loại tài sản trong doanh nghiệp? Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ những nguồn nào?
4 Trình bày định nghĩa nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu Có những loại nợ phải trả
và nguồn vốn chủ sở hữu nào trong doanh nghiệp?
5 Trình bày mối quan hệ của tài sản và nguồn vốn?
6 Hãy nêu chức năng, vai trò, nhiệm vụ của kế toán?
7 Trình bày các nguyên tắc kế toán?
TỰ HỌC
1 Cho ví dụ về tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu và giải thích vì sao đó là tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu của đơn vị
Trang 202 Mô tả quá trình vận động của tài sản trong doanh nghiệp sản xuất, từ đó rút ra kết luận về sự vận động của tài sản trong doanh nghiệp
Trang 21CHƯƠNG 2: CHỨNG TỪ KẾ TOÁN VÀ KIỂM KÊ 2.1 Chứng từ kế toán
Phương pháp chứng từ là phương pháp thông tin ban đầu về nghiệp vụ kinh tế nhằm bảo đảm tính pháp lý của việc hình thành các nghiệp vụ kinh tế
Phương pháp chứng từ có nội dung là "sao chụp" các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thuộc đối tượng hạch toán kế toán phù hợp với đặc điểm và sự vận động của từng loại đối tượng kế toán, nên hình thái biểu hiện của phương pháp chứng từ là hệ thống bản chứng
từ để chứng minh tính hợp pháp của việc hình thành nghiệp vụ kinh tế và phản ảnh một cách trung thực, khách quan các nghiệp vụ đó theo thời gian và địa điểm phát sinh vào các bảng chứng từ làm căn cứ ghi sổ Bên cạnh nội dung "sao chụp" phương pháp chứng
từ còn thông tin kịp thời tình trạng và sự vận động của từng đối tượng theo yêu cầu quản
lý nghiệp vụ Với nội dung này, chứng từ có hình thái biểu hiện là kế hoạch luôn chuyển chứng từ nhằm luôn chuyển các chứng từ đến các bộ phận liên quan có nhu cầu thông tin
về nghiệp vụ kinh tế tài chính phản ảnh trong chứng từ, giúp các bộ phận thu nhận, xử lý những thông tin cần thiết để quản lý
Theo điều 16, chứng từ điện tử được coi là chứng từ kế toán khi được thể hiện
dưới dạng dữ liệu điện tử, được mã hóa mà không bị thay đổi trong quá trình truyền qua mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ, các loại thẻ thanh toán Trường hợp khi chứng từ bằng giấy được chuyển thành chứng từ điện tử để giao dịch, thanh toán hoặc ngược lại thì chứng từ điện tử có giá trị để thực hiện nghiệp vụ kinh tế, tài chính đó, chứng từ bằng giấy chỉ có giá trị lưu giữ để ghi sổ, theo dõi và kiểm tra, không có hiệu lực để giao dịch, thanh toán Chứng từ điện tử được quản lý như tài liệu kế toán ở dạng nguyên bản mà nó được tạo ra, gửi đi hoặc nhận nhưng phải có đủ thiết bị phù hợp để sử dụng
2.1.1 Khái niệm
Mọi số liệu ghi chép vào các loại sổ kế toán khác nhau cần có cơ sở bảo đảm tính pháp lý, những số liệu đó cần xác minh tính hợp pháp, hợp lệ thông qua các hình thức được Nhà nước quy định cụ thể hoặc có tính chất bắt buộc hoặc có tính chất hướng dẫn Các hình thức này chính là các loại chứng từ được các đơn vị sử dụng trong hoạt động
của mình
Theo khoản 7 Điều 4 của Luật kế toán 2015: "Chứng từ kế toán là những giấy tờ
và vật mang tin phản ảnh nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ"
2.1.2 Ý nghĩa và tác dụng của chứng từ kế toán
Chứng từ kế toán là phương tiện để phản ánh mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động của các đơn vị, nó có ý nghĩa quan trọng trong công tác kế toán và công tác quản lý, được biểu hiện cụ thể như sau:
Trang 22- Chứng từ kế toán là bằng chứng để chứng minh tính hợp pháp, hợp lý của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở đơn vị
- Chứng từ kế toán là căn cứ pháp lý cho mọi số liệu, thông tin kinh tế và là cơ sở
số liệu để ghi sổ kế toán
- Chứng từ kế toán là căn cứ pháp lý để kiểm tra việc chấp hành các chính sách chế độ và quản lý kinh tế, tài chính tại đơn vị
- Chứng từ kế toán là bằng chứng để kiểm tra kế toán, bằng chứng để giải quyết các vụ kiện tụng, tranh chấp về kinh tế, kiểm tra kinh té, kiểm toán trong đơn vị
2.1.3 Tính chất pháp lý của chứng từ kế toán
Chứng từ kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp phải thực hiện theo đúng nội dung, phương pháp lập và ký chứng từ theo quy định của Luật kế toán và Nghị định số 129/2004/NĐ - CP ngày 31/5/2004 của chính phủ, TT 39/2014/TT – BTC, TT 200/2014/TT - BTC của Bộ Tài chính và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến chứng từ kế toán
- Các đơn vị đo lường cần thiết: thể hiện quy mô của nghiệp vụ kinh tế phát sinh
về số lượng, giá trị, là căn cứ để kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của nghiệp vụ
- Tên, địa chỉ và chữ ký của những người có trách nhiệm liên quan đến nghiệp vụ kinh tế ghi trong chứng từ
2.1.3.2 Lập chứng từ kế toán
- Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến hoạt động của doanh
nghiệp đều phải lập chứng từ kế toán Chứng từ kế toán chỉ lập 1 lần cho mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh
- Nội dung chứng từ phải đầy đủ các chỉ tiêu, phải rõ ràng, trung thực với nội dụng nghiệp vụ kinh tế phát sinh Chữ viết trên chứng từ phải rõ ràng, không tẩy xóa, không viết tắt Số tiền viết bằng chữ phải khớp, đúng với số tiền viết bằng số
- Chứng từ toán phải được lập đủ số liên theo quy định cho mỗi chứng từ Đối với chứng từ lập nhiều liên phải được lập một lần cho tất cả các liên theo cùng một nội dung bằng máy tính, máy chữ hoặc lồng bằng giấy than Trường hợp đặc biệt phải lập nhiều
Trang 23liên nhưng không thể viết một lần thì có thể viết hai lần nhưng phải đảm bảo thống nhất nội dung và tính pháp lý của tất cả các chứng từ
- Các chứng từ kế toán được lập bằng máy vi tính phải đảm bảo nội dung quy định cho chứng từ kế toán
2.1.3.3 Ký chứng từ
- Mọi chứng từ phải có đủ chữ ký theo chức danh quy định trên chứng từ mới có
giá trị thực hiện Riêng chứng từ điện tử có chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật Tất cả chữ ký trên chứng từ đều phải ký bằng bút bi hoặc bút mực, không được ký bằng mực đỏ, bằng bút chì, chữ ký trên chứng từ dùng để chi tiền phải ký theo từng liên
- Chữ ký trên chứng từ kế toán của một người phải thống nhất và phải giống với chữ ký đã được đăng ký theo quy định, trường hợp không đăng ký chữ ký thì chữ ký lần sau phải khớp với chữ ký các lần trước đó
- Chữ ký của người đứng đầu doanh nghiệp (Tổng giám đốc hoặc người được ủy quyền), của kế toán trưởng (hoặc người được ủy quyền) và dấu đóng trên chứng từ phải phù hợp với mẫu dấu và chữ ký còn giá trị đã đăng ký tại ngân hàng Chữ ký của kế toán viên trên chứng từ phải giống chữ ký đã đăng ký với kế toán trưởng
- Kế toán trưởng (hoặc người được ủy quyền) không được ký "thừa ủy quyền" của người đứng đầu doanh nghiệp Người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho người khác
2.1.4 Phân loại chứng từ kế toán
2.1.4.1 Phân loại chứng từ theo công dụng
- Chứng từ mệnh lệnh: là loại chứng từ mang quyết định của chủ thể quản lý Ví
dụ như: lệnh chi tiền, lệnh xuất kho,
- Chứng từ thực hiện: là loại chứng từ phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực sự hoàn thành, là căn cứ để ghi sổ kế toán Ví dụ: Phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho,
- Chứng từ liên hợp: là loại chứng từ kết hợp 2 nội dung của 2 loại chứng từ trên
Ví dụ: Lệnh chi kiêm phiếu chi, Lệnh xuất kiêm phiếu xuất,
2.1.4.2 Phân loại chứng từ theo nội dung của nghiệp vụ kinh tế phản ánh trên chứng từ
Theo cách phân loại này chứng từ được chia thành các loại như sau:
Trang 242.1.4.3 Phân loại chứng từ theo địa điểm lập chứng từ
- Chứng từ bên trong: là các chứng từ do các bộ phận nội bộ của doanh nghiệp lập, như: phiếu xuất, phiếu nhập, phiếu thu, bảng thanh toán lương,
- Chứng từ bên ngoài: là loại chứng từ phản ảnh các nghiệp vụ kinh tế tài chính có liên quan đến đơn vị và được lập từ các đơn vị bên ngoài, như: Hóa đơn bán hàng,
Mẫu Hóa đơn Giá trị gia tăng mới nhất năm 2014 (Ban hành kèm theo Thông tư 39/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính)
(In tại Công ty in , Mã số thuế )
Ghi chú:
- Liên 1: Lưu
- Liên 2: Giao người mua
- Liên 3:
TÊN CỤC THUẾ: Mẫu số: 01GTKT3/001
HÓA ĐƠN GIÁ TRỊ GIA TĂNG
Ký hiệu: 01AA/14P Liên 1: Lưu Số: 0000001
Ngày………tháng………năm 20
Đơn vị bán hàng:
Mã số thuế: Địa chỉ: Điện thoại: Số tài khoản
Họ tên người mua hàng Tên đơn vị
Mã số thuế: Địa chỉ
Số tài khoản S
Người mua hàng Người bán hàng
(Ký, ghi rõ họ, tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ, tên)
(Cần kiểm tra, đối chiếu khi lập, giao, nhận hoá đơn)
Trang 25Mẫu Hóa đơn bán hàng do Cục Thuế phát hành
(In tại Công ty in , Mã số thuế )
Điện thoại: Số tài khoản
Họ tên người mua hàng
(Cần kiểm tra, đối chiếu khi lập, giao, nhận hoá đơn)
Trang 262.1.4.4 Phân loại chứng từ theo mức độ khái quát số liệu phản ánh trên chứng từ
- Chứng từ gốc: là loại chứng từ phản ánh trực tiếp tại chỗ các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh như phiếu thu, phiếu chi, phiếu xuất
- Chứng từ tổng hợp: là loại chứng từ được dùng để tổng hợp số liệu từ các chứng từ gốc theo từng nghiệp vụ kinh tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc ghi sổ
kế toán Ví dụ: Bảng tổng hợp chứng từ, chứng từ ghi sổ,
2.1.4.5 Phân loại theo số lần ghi nghiệp vụ kinh tế phát sinh lên chứng từ
- Chứng từ một lần: Là loại chứng từ dùng để ghi chép một lần nghiệp vụ kinh
tế phát sinh hoặc nhiều nghiệp vụ kinh tế cùng loại phát sinh tại một thời gian, một địa điểm rồi chuyển vào ghi sổ kế toán Ví dụ: Phiếu thu, phiếu chi, phiếu xuất kho,
- Chứng từ nhiều lần: Là loại chứng từ ghi một loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh, nhưng diễn ra trong nhiều lần trong kỳ hạch toán, đến cuối kỳ hạch toán mới dùng để ghi sổ Ví dụ: Phiếu xuất vật tư theo hạn mức,
2.1.5 Trình tự luân chuyển chứng từ kế toán
- Bước 1: Lập, tiếp nhận, xử lý chứng từ kế toán
Tất cả chứng từ kế toán do doanh nghiệp lập hoặc từ bên ngoài chuyển đến đều phải tập trung vào bộ phận kế toán doanh nghiệp
- Bước 2: Kế toán viên, kế toán trưởng kiểm tra và ký chứng từ kế toán hoặc trình Giám đốc doanh nghiệp ký duyệt
Bước này nhằm xem xét tính hợp lý, hợp pháp, hợp lệ của chứng từ, việc tính toán trên chứng từ đúng hay sai, có ghi đầy đủ các yếu tố quy định không? Đồng thời kiểm tra việc chấp hành quy chế quản lý nội bộ của người lập và xét duyệt đối với từng loại nghiệp vụ kinh tế
- Bước 3: Phân loại, sắp xếp chứng từ, định khoản và ghi sổ kế toán
Căn cứ vào nội dung kinh tế mà chứng từ phản ảnh, kế toán tiến hành phân loại chứng từ theo từng loại nghiệp vụ, từng tính chất các khoản chi phí, theo địa chỉ phát sinh,
- Bước 4: Lưu trữ, bảo quản chứng từ
Sau khi ghi sổ và kết thúc kỳ kế toán, chứng từ cần phải được tổ chức lưu trữ, bảo quản một cách khoa học, hợp lý nhằm đảm bảo an toàn và tiện việc tra cứu khi cần thiết
2.2 Kiểm kê
2.2.1 Khái niệm
Kiểm kê là phương pháp kiểm tra tại chỗ các loại tài sản hiện có nhằm xác định chính xác số lượng, chất lượng, các loại tài sản hiện có, phát hiện các khoản chênh lệch giữa số liệu thực tế và số liệu trên sổ kế toán
Trang 272.2.2 Các loại kiểm kê
- Theo phạm vi tiền hành kiểm kê: kiểm kê chia thành 2 loại:
+ Kiểm kê đầy đủ: áp dụng kiểm tra mặt số lượng hiện vật, hiện có thực tế của tài sản
+ Kiểm kê điển hình: áp dụng để kiểm tra mặt chất lượng của vật tư, hàng hoá
- Theo đối tượng tiến hành kiểm kê: kiểm kê được chia thành 2 loại sau:
+ Kiểm kê toàn bộ: là kiểm kê toàn bộ các loại tài sản của đơn vị, tài sản cố định,
+ Kiểm kê từng phần: là kiểm kê từng loại tài sản nhất định hoặc kiểm kê ở từng kho,
- Theo thời gian tiến hành kiểm kê: chia thành 2 loại:
+ Kiểm kê định kỳ: là kiểm kê theo thời hạn quy định, tuỳ theo từng loại tài sản
mà định kỳ kiểm kê khác nhau
+ Kiểm kê bất thường: là kiểm kê đột xuất ngoài kỳ hạn quy định kiểm kê bất thường tiến hành trong trường hợp thay đổi người quản lý tài sản khi có sự cố phát sinh hư hao, tổn thất tài sản,
2.2.3 Phương pháp kiểm kê
2.2.3.1 Kiểm kê hiện vật
Trước khi kiểm kê cần sắp xếp hiện vật theo thứ tự, ngăn nắp, chuẩn bị đủ phương tiện cân đo cần thiết
Khi kiểm kê hiện vật phải có mặt người phụ trách vật chất trực tiếp bảo quản, quản lý tài sản cần kiểm kê tham gia Phải tiến hành kiển kê theo một trình tự hợp lý tránh trùng lặp nhiều thiếu sót Ngoài việc cân, đo, đong, đếm số lượng còn cần quan tâm đánh giá chất lượng hiện vật, phát hiện những trường hợp tài sản, vật tư hư hỏng, kém phẩm chất
2.2.3.2 Kiểm kê tiền mặt và các chứng khoán có giá trị như tiền
Tiền mặt ở quỹ kiểm kê phải phân loại tiền theo từng loại và đếm số tờ của từng loại để ghi nhận vào mẫu biểu kiểm kê để tính tổng số tiền mặt hiện còn tại quỹ
2.2.3.3 Kiểm kê tiền gửi ngân hàng và các khoản thanh toán
Phương pháp kiểm kê là đối chiếu số dư của tài khoản "tiền gửi ngân hàng" với
số dư của tài khoản tiền gửi của đơn vị tại ngân hàng do ngân hàng sao kê báo cho đơn
vị hoặc đơn vị trực tiếp đối chiếu với ngân hàng các khoản thanh toán phải kê chi tiết theo từng khách nợ và tiến hành đối chiếu công nợ trực tiếp với khách nợ khi trực tiếp
Sau khi kiểm kê, các biên bản kiểm kê được gửi cho phòng kế toán để đối chiếu kết quả kiểm kê với số liệu trên sổ kế toán Toàn bộ kết quả kiểm kê, kết quả đối
Trang 28chiếu, tức là các khoản chênh lệch giữa kết quả kiểm kê và số liêu trên sổ kế toán phải báo cáo với thủ trưởng đơn vị
2.2.4 Vai trò của kế toán trong kiểm kê
Vai trò của kế toán được thể hiện trước, trong và sau khi kiểm kê
- Trước khi kiểm kê, căn cứ vào tình hình thực tế đơn vị, kế toán tham gia xây dựng phương hướng, xác định phạm vi kiểm kê, đối tượng kiểm kê
- Trong quá trình kiểm kê, kế toán tham gia kiểm tra, giám sát việc ghi chép kết quả kiểm kê, tham gia tổng hợp số liệu kiểm kê, đối chiếu số liệu kiểm kê với số liệu ghi trong sổ kế toán và đề xuất các biện pháp xử lý các khoản chênh lệch phát hiện trong kiểm kê
- Sau khi kiểm kê hoàn thành, kế toán phải căn cứ vào kết quả kiểm kê và ý kiến giải quyết xử lý mà tiến hành điều chỉnh sổ kế toán cho phù hợp với số liệu thực
tế kiểm kê
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2
1 Trình bày nội dung chứng từ kế toán?
2 Trình bày nội dung tính chất pháp lý của chứng từ kế toán?
3 Hãy cho biết các cách phân loại chứng từ kế toán Cho ví dụ về các cách phân loại kế toán
4 Hãy cho biết trình tự luân chuyển chứng từ kế toán?
5 Trình bày nội dung các phương pháp kiểm kê?
Trang 29CHƯƠNG 3 : TÀI KHOẢN KẾ TOÁN 3.1 Khái niệm
Phương pháp tài khoản kế toán và ghi kép là phương pháp thông tin và kiểm tra
về trạng thái, sự biến động và mối quan hệ giữa các đối tượng kế toán theo từng đối tượng (từng loại tài sản, từng loại nguồn vốn, từng quá trình kinh doanh)
Phương pháp tài khoản kế toán được thể hiện dưới 2 nội dung, đó là các tài khoản kế toán sử dụng và cách ghi chép trên tài khoản kế toán
Tài khoản kế toán là một nội dung của phương pháp tài khoản kế toán, tài khoản kế toán là những cột hay trang sổ dùng để phản ảnh thường xuyên, liên tục và
có hệ thống các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh theo từng đối tượng kế toán cụ thể
3.2 Nội dung và kết cấu tài khoản kế toán
Sự vận động của đối tượng kế toán bao giờ cũng là sự vận động của hai mặt đối lập Chẳng hạn, tiền mặt có thu và chi, nguyên liệu vật liệu có nhập và xuất, nợ vay ngân hàng có vay và trả, Do đó tài khoản phải được thiết kế theo kiểu hai bên để theo dõi sự vận động đặc thù này của đối tượng kế toán
3.2.1 Kết cấu chung của tài khoản kế toán
Trong thực tế công tác kế toán, tài khoản được biểu hiện trong các tờ số bao gồm 2 cột chủ yếu là cột Nợ và cột Có và các cột khác có liên quan như: cột số hiệu và ngày, tháng của chứng từ mà tài khoản phản ảnh, cột diễn giải,
Trong học tập và nghiên cứu tài khoản ký hiệu dưới hình thức chữ "T" như sau:
- Bên trái tài khoản gọi là bên Nợ;
- Bên phải tài khoản gọi là bên Có;
- Nợ, Có chỉ mang tính quy ước không có hàm ý về kinh tế
3.2.2 Nội dung và kết cấu của các tài khoản kế toán chủ yếu
3.2.2.1 Tài khoản phản ánh tài sản
Kết cấu chung:
- Bên Nợ phản ánh các nghiệp vụ làm tăng giá trị tài sản
- Bên Có phản ánh các nghiệp vụ làm giảm giá trị tài sản
- Số dư cuối kỳ bên Nợ = Số dư đầu kỳ (bên Nợ) + Số phát sinh tăng trong kỳ (bên Nợ)
Nợ Tài khoản Có
Trang 30- Số phát sinh giảm trong kỳ (bên Có) số dư cuối kỳ biểu hiện có ở thời điểm cuối kỳ
3.2.2.2 Tài khoản phản ánh nguồn vốn (nguồn hình thành tài sản)
Kết cấu chung:
- Bên Nợ phản ánh các nghiệp vụ giảm nguồn hình thành tài sản
- Bên Có phản ánh các nghiệp vụ làm tăng nguồn hình thành tài sản
- Số dư cuối kỳ (bên Có) = Số dư đầu kỳ (bên Có) + Số phát sinh tăng trong kỳ (bên Có) - Số phát sinh giảm trong kỳ (bên Nợ) Số dư cuối kỳ thể hiện nguồn vốn hiện có ở thời điểm cuối kỳ
3.2.2.3 Tài khoản phản ánh quá trình và kết quả hoạt động kinh tế
a.Tài khoản phản ánh các khoản thu
Kết cấu chung:
- Bên Nợ: + phản ánh các nghiệp vụ làm giảm các khoản thu
+ Kết chuyển các khoản thu
- Bên Có: + phản ánh các nghiệp vụ làm tăng các khoản thu
Số phát sinh tăng Số phát sinh giảm
TK phản ánh tài sản
Tổng số phát sinh giảm Tổng số phát sinh tăng
Số dư đầu kỳ
Số dư cuối kỳ
Trang 31
* Tài khoản phản ánh các khoản chi (Chi phí SXKD và chi phí khác)
Kết cấu chung:
- Bên Nợ: phản ánh các nghiệp vụ làm tăng các khoản chi
- Bên Có: phản ánh các nghiệp vụ là giảm các khoản chi và kết chuyển các khoản chi
Chú ý: Tài khoản phản ánh các khoản thu và các khoản chi không có số dư (Đầu kỳ
và cuối kỳ)
3.3 Phân loại tài khoản kế toán
Phân loại tài khoản là việc sắp xếp những tài khoản khác nhau vào từng nhóm, từng loại theo những đặc trưng nhất định của tài khoản
3.3.1 Phân loại tài khoản theo nội dung kinh tế
Phân loại tài khoản này được chia thành 4 loại:
* Loại 1: gồm những tài khoản phản ảnh các đối tượng kế toán có nội dung kinh tế là giá trị tài sản Loại này được chia thành các nhóm sau:
- Nhóm tài khoản phản ánh tài sản: gồm những tài khoản phản ánh các đối tượng tế toán có nội dung kinh tế là giá trị tài sản
+ Nhóm tài khoản phản ảnh vốn bằng tiền: tài khoản "tiền mặt", "tiền gửi ngân hàng",
+ Nhóm tài khoản phản ảnh đầu tư tài chính: tài khoản "chứng khoán kinh doanh”
+ Nhóm tài khoản phản các khoản nợ phải thu: tài khoản "phải thu khách hàng",
- Phát sinh tăng các khoản thu
TK phản ánh các khoản thu (Doanh thu, thu nhập khác)
- Phát sinh giảm các khoản thu
- Kết chuyển các khoản thu
TK phản ánh các khoản chi
- Phát sinh tăng các khoản chi - Phát sinh giảm các khoản chi
- Kết chuyển các khoản chi
Trang 32- Nhóm tài khoản phản ảnh tài sản cố định
+ Tài khoản phản ảnh tài sản cố định: tài khoản "tài sản cố định hữu hình", "Tài sản cố định hữu hình",
+ Tài khoản phản ảnh đầu tư dài hạn: Tài khoản "đầu tư vào công ty con, cty lien kết", Tài khoản "đầu tư dài hạn khác"
* Loại 2: loại tài khoản phản ánh nguồn hình thành tài sản Loại này được chia thành các nhóm sau:
- Nhóm tài khoản phản ảnh nguồn vốn chủ sở hữu (hoặc nguồn kinh phí)
+ Nhóm tài khoản phản ảnh vốn - quỹ: tài khoản "nguồn vốn kinh doanh",
"nguồn vốn xây dựng cơ bản",
+ Nhóm tài khoản phản ảnh nguồn kinh phí: tài khoản "nguồn kinh phí hoạt động", "nguồn kinh phí dự án",
- Nhóm tài khoản phản ảnh nợ phải trả:
+ Nhóm tài khoản phản ảnh nợ phải trả (chiếm dụng): tài khoản "phải trả người bán", "phải trả công nhân viên",
+ Nhóm tài khoản phản ảnh nợ tín dụng (đi vay): tài khoản "vay và nợ thuê tài chính”
* Loại 3: Loại tài khoản phản ảnh quá trình hoạt động kinh tế Loại này được chia thành các nhóm sau:
- Nhóm tài khoản phản ảnh các khoản thu: Gồm các tài khoản phản ảnh các đối tượng kế toán có nội dung kinh tế là các khoản thu phát sinh như các tài khoản: tài khoản "doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ"
- Nhóm tài khoản phản ảnh các khoản chi: gồm tài khoản phản ảnh các đối tượng
kế toán có nội dung kinh tế là chi phí sản xuất - kinh doanh,
+ Nhóm tài khoản phản ảnh chi phí hoạt động sản xuất - kinh doanh cơ bản:
• Nhóm tài khoản phản ảnh chi phí sản xuất: tài khoản "chi phí nguyên vật liêu trực tiếp", "chi phí nhân công trực tiếp",
• Nhóm tài khoản phản ảnh chi phí hoạt động kinh tế khác: tài khoản 'chi phí hoạt động tài chính", 'chi phí hoạt động bất thường",
• Nhóm tài khoản phản ánh các khoản chi sự nghiệp: tài khoản 'chi hoạt động",
"chi dự án",
* Loai 4:Loại tài khoản xác định kết quả hoạt động kinh tế: tài khoản 'xác định kết quả", "chênh lệch thu",
Trang 333.3.2 Phân loại tài khoản theo công dụng và kết cấu
* Loại 1: loại tài khoản cơ bản là những tài khoản phản ánh các chỉ tiêu kinh tế
chủ yếu, quan trọng Loại này được chia thành 3 nhóm:
- Nhóm tài khoản phản ánh các loại tài sản:
Kết cấu chung:
- Nhóm tài khoản phản ảnh nguồn vốn (nguồn hình thành tài sản):
Kết cấu chung:
- Nhóm tài khoản lưỡng tính: là nhóm tài khoản vừa mang kết cấu của tài khoản giá trị
tài sản, vừa mang kết cấu của tài khoản nguồn vốn
SDĐK: Giá trị tài sản hiện có đầu kỳ SDĐK: Nguồn vốn hiện có đầu kỳ
TK phản ánh tài sản
Tổng số phát sinh giảm Tổng số phát sinh tăng
Số dư đầu kỳ
Số dư cuối kỳ
Số phát sinh tăng Số phát sinh giảm
Trang 34* Loại 2: Loại tài khoản điều chỉnh: Dùng để tính toán lịa các chỉ tiêu đã được phản ảnh ở các tài khoản cơ bản nhằm cung cấp số liệu sát thực về tình hình tài sản tạo thời điểm tính toán
- Nhóm tài khoản điều chỉnh giảm: gồm có:
+ Nhóm tài khoản điều chỉnh giảm giá trị tài sản
+ Nhóm tài khoản giảm điều chỉnh nguồn hình thành tài sản
- Nhóm tài khoản điều chỉnh tăng
- Nhóm tài khoản điều chỉnh vừa giảm vừa tăng.Gồm có:
+ Nhóm tài khoản điều chỉnh tăng, giảm giá trị tài sản
+ Nhóm tài khoản điều chỉnh vừa tăng vừa giảm nguồn hình thành tài sản
* Loại 3: Loại tài khoản nghiệp vụ: Được chia thành 3 nhóm:
- Nhóm tài khoản tập hợp phân phối: là những tài khoản dùng để tập hợp số liệu, rồi từ đó phân phối cho các đối tượng sử dụng Được chia thành 2 nhóm nhỏ:
+ Nhóm tài khoản tập hợp phân phối:
Kết cấu:
Nhóm tài khoản này có số dư ở cuối kỳ
+ Nhóm tài khoản phân phối theo dự toán: Dùng để phản ảnh các khoản chi phí phát sinh theo dự toán lập từ trước Nhóm này gồm 2 tài khoản sau:
- Tài khoản chi phí phải trả: Dùng để phản ảnh các khoản chi phí sẽ phát sinh trong thời gian tới quy mô lớn có quan hệ đến nhiều chu lỳ kinh doanh như: tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất,
Kết cấu
Tập hợp chi phí thực tế phát sinh
Phân phối chi phí hoặc kết chuyển chi phí
SDCK: Chi phí phải trả còn cuối kỳ
SDDK: Chi phí phải trả còn đầu kỳ
TK Chi phí phải trả