1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận thức về bệnh tâm thần phân liệt của thân nhân có bệnh nhân đang điều trị tại bệnh viện tâm thần thành phố hồ chí minh

126 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 239,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiêncứu cho thấy nhận thức thấp về bệnh không những liên quanđến việc bệnhnhân không đến cơ sở chăm sóc y tế cho đến khi bệnh kéo dài,trởnên trầm trọng hơn [35] mà còn ảnh hưởng lớ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐẶNG VĂN THẠCH

NHẬN THỨC VỀ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT CỦA THÂN NHÂN CÓ BỆNH NHÂN ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐẶNG VĂN THẠCH

NHẬN THỨC VỀ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT CỦA THÂN NHÂN CÓ BỆNH NHÂN ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN

Mã số: Thí điểm

NGƯỜI HƯỠN DẪN KHOA HỌC: PGS TS Bahr

Weiss TS.BS Lâm Tứ Trung

Trang 3

HÀ NỘI - 2018

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn tôi gửi lời cảm ơn đến Ban Giámhiệu các thầy cô tại trường Đại học Giáo dục đã tạo điều kiện giúp đỡ tôitrong quá trình học tập tại trường

Xin trân trọng cảm ơn người hướng dẫn khoa học TS.BS Lâm Tứ Trung

đã tận tình hướng dẫn và định hướng quan trong cho nghiên cứu và đặc biệt làtình thần nghiêm túc trong quá trình nghiên cứu khoa học

Xin chân thành cam ơn đến các lãnh đạo, các nhân viên và các thân nhâncủa người bệnh tại Bệnh viện Tâm thần Thành Phố Hồ Chí Minh đã tạo điềukiện và giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và đồngnghiệp đã luôn bện cạnh động viên và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quátrình học tập và thực hiện luận văn này

Hà Nội, tháng 02 năm 2018

Tác giả

Đặng Văn Thạch

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 Các nghiện cứu về nhận thức, thái độ của cộng đồng về sức khoẻ tâm thần 7 1.1.1 Các nghiên cứu trong nước 7

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới 8

1.2 Các khái niệm công cụ đề tài 11

1.2.1 Khái niệm nhận thức 11

1.2.2 Bệnh tâm thần phân liệt 18

Chương 2TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 39

2.1 Khách thể nghiên cứu 39

2.2 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 40

2.3 Chọn mẫu điều tra 41

2.4 Phương pháp nghiên cứu 41

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 41

2.4.2 Điều tra bằng bảng hỏi 42

2.4.3 Phương pháp thống kê toán học 42

CHƯƠNG 3KẾT QỦA NGHIÊN CỨU 43

3.1 Thực trạng nhận thức của người thân bệnh nhân về bệnh tâm thần phân liệt 43

3.1.1 Khả năng nhận diện bệnh tâm thần phân liệt của thân nhân 43

3.1.2 Khả năng nhận biết các triệu chứng bệnh tâm thần phân liệt của thân nhân người bệnh 44

3.1.3 Khả năng nhận biết các nguyên nhân của bệnh tâm thần phân liệt 45

3.1.4 Khả năng nhận biết cách tìm kiếm sự trợ giúp 47 3.2 Sự khác biệt về nhận thức về tâm thần phân liệt dưới ảnh hưởng của một

Trang 6

số đặc đểm về nhân khẩu học 48

3.2.1 Sự khác biệt dưới sự ảnh hưởng của trình độ học vấn 48

3.2.2 Sự khác biệt dưới sự ảnh hưởng của nhóm tuổi 54

3.2.3 Sự khác biệt dưới sự ảnh hưởng của tình trạng hôn nhân 59

3.2.4.Sự khác biệt dưới sự ảnh hưởng của thu nhập 62

3.2.5.Sự khác biệt dưới sự ảnh hưởng của giới tính 66

3.2.5.Sự khác biệt dưới sự ảnh hưởng của nghề nghiệp 67

3.3 Mỗi liên hệ giữa khả năng nhận diện bệnh tâm thần phân liệt và cách tìm kiếm sự trợ giúp 71

3.4.Mỗi liên hệ giữa nhận thức về nguyên nhân và cách tìm kiếm sự trợ giúp .74

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHỤ LỤC 87

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

1 BVTTTPHCM Bệnh viện Tân thần Thành Phố Hồ Chí Minh

2 NBTTPL Người bệnh tâm thần phân liệt

7 RLSKTT Rối loạn sức khỏe Tâm thần

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng mô tả nhân khẩu 39

Bảng 3.1: Tên vấn đề người thân đang gặp phải 43

Bảng 3.2: Mức độ nhận diện các triệu chứng 45

Bảng 3.3: Nguyên nhân gây ra bệnh tâm thần phân liệt 46

Bảng 3.4: Mức độ nhận thức tìm kiếm sự trợ giúp 47

Bảng 3.5: Sự khác trình độ học vấn trong nhận diện nguyên nhân 49

Bảng 3.6: Sự khác biệt trình độ học vấn trong nhận diện triệu chứng 51

Bảng 3.7: Sự khác biệt trình độ học vấn trong nhận tìm kiếm trợ giúp 53

Bảng 3.8: Sự khác biệt nhóm tuổi trong nhận diện tiệu chứng 55

Bảng 3.9: Sự khác biệt nhóm tuổi trong nhận diện nguyên nhân 57

Bảng 3.10: Sự khác biệt nhận thức về triệu chứng dưới ảnh hưởng của tình trạng hôn nhân 59

Bảng 3.11: Sự khác biệt nhận thức về nguyên nhân dưới ảnh hưởng của tình trạng hôn nhân 60

Bảng 3.12: Sự khác biệt nhận thức về cách tìm kiếm trợ giúp dưới ảnh hưởng của tình trạng hôn nhân 61

Bảng 3.13: Sự khác biệt nhận thức về triệu chứng dưới ảnh hưởng của mức thu nhập 63

Bảng 3.14: Sự khác biệt nhận thức về tìm kiếm sự trợ giúp dưới ảnh hưởng của mức thu nhập 65

Bảng 3.15: Sự khác biệt nhận thức về triệu chứng dưới ảnh hưởng của giới tính 66

Bảng 3.16: Sự khác biệt nhận thức về triệu chứng dưới ảnh hưởng của nghề nghiệp 67

Bảng 3.17: Sự khác biệt nhận thức về nguyên nhân dưới ảnh hưởng của nghề nghiệp 68

Bảng 3.17: Sự khác biệt nhận thức về cách tìm kiếm trợ giúp dưới ảnh hưởng của nghề nghiệp 69

Bảng 3.18: Khả năng nhận diện bệnh tâm thần phân liệt và cách tìm kiếm trợ giúp 71

Bảng 3.19: Khả năng nhận thức về nguyên nhân và cách tìm kiếm sự trợ giúp .74

Trang 9

v

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tâm thần phân liệt là rối loạn tâm thần nặng được đặc trưng bởi nhữngrối loạn về cảm xúc, tư duy và hành vi Biểu hiện trên lâm sàng bằng nhữngtriệu chứng dương tính và âm tính, tiến triển mãn tính và hay tái phát Bệnhthường khởi phát ở độ tuổi từ 15-35 tuổi, vì vậy ảnh hưởng nhiều đến khảnăng học tập và lao động của bệnh nhân Theo tổ chức y tế thế giới (WHO)vào năm 2013, tâm thần phân liệt chiếm tỷ lệ 0,3-0,7% dân số tương đương

29 triệu người trên thế giới và ở Việt Nam tỉ lệ này là 0,47% [30],[19] Tỉ lệmắcbệnh giữa nam và nữ tương đương nhau nhưng nữ giới có xu hướng phátmuộn hơn [41],[29],[17]

Đặc điểm chung của bệnh TTPL là các rối loạn về tư duy và tri giác,cảm xúc cùn mòn hoặc không phù hợp Ý thức và năng lực trí tuệ thường vẫnđược duy trì tuy một số thiếu sót về nhận thức có thể xuất hiện trong tiến triểncủa bệnh Rối loạn thường liên quan đến các chức năng cơ bản nhất tạo chongười bình thường cảm giác về cá tính, sự độc nhất và tính tự chủ của mình

Do những đặc điểm như trên cho nên việc chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhântâm thần phân liệt đang thực sự gặp rất nhiều khó khăn nếu chính nhữngngười thân của bệnh nhân không nhận thức đúng những vấn đề mà bệnh nhânđang gặp phải

Các nghiêncứu cho thấy nhận thức thấp về bệnh không những liên quanđến việc bệnhnhân không đến cơ sở chăm sóc y tế cho đến khi bệnh kéo dài,trởnên trầm trọng hơn [35] mà còn ảnh hưởng lớn đối với việc tìm kiếm sựgiúpđỡ và cam kết với những can thiệp được đề nghị [37] và cả phòng ngừa[40].Chính vì thế, trên thế giới trong những năm qua, nghiên cứu hiểu biết vềsứckhỏe tâm thần nói chung và tâm thần phân liệt nói riêng của cộng đồng và

cả của bệnh nhân được tiến hành nhằm tìm giải pháp để tăng cường hiệu quả

và cam kết điều trị Kết quả của các nghiên cứu đi trước đều khẳng định rằng

Trang 11

khảnăng hiểu triệu chứng, nhận định về nguyên nhân và ý thức sự ảnh hưởngcủabệnh có ảnh hưởng tích cực đến cách chọn dịch vụ điều trị, sự chăm sóccủa người thân của bệnh nhâncũng như tăng cường niềm tin, sự tuân thủ củangười bệnh về phương pháp trịliệu hay hỗ trợ được chứng minh có hiệu quảđặc biệt ảnh hưởng đến sự nhìn nhận vấn đề của thân nhân và việc chăm sóccho bệnh nhân

Nhưng trên thực tế người nhà thườngdùng những phương pháp phảnkhoa học như đưa bệnh nhân đi đến thầy mo, thầy cúng để trị trước khi đưađến bệnh viện, hoặc sợ ảnh hưởng đến danh tiếng của gia đình nên che giấu,nhốt người bệnh lại Bên cạnh đó là thái độ chán nản, bỏ mặc, hắt hủi, nhữngđiều đó đã làm cản trở quá trình chăm sóc và điều trị cho người bệnh, vì thế

để việc chăm sóc cũng như điều trị đạt hiệu quả tốt thì nhận thức về bệnh làmột trong những yếu tố quan trọng cần được quan tâm Trong những năm gầnđây, nhận thức được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm trên cácchuyên ngành và đối tượng khác nhau như: tâm lý học, tâm thần học, y tếcông cộng, xã hội học, giáo dục học

Việc điều trị tâm thần phân liệt còn nhiều khó khăn do bệnh nhân vàgia đình họ hay bỏ thuốc điều trị củng cố Nguyên nhân chính của việc bỏthuốc điều trị củng cố là do bệnh nhân và gia đình họ hiểu biết rất ít về bệnhtâm thần phân liệt, dẫn đến việc cho rằng bệnh đã khỏi, không cần điều trịcủng cố nữa

Điều tra nhận thức của thân nhân bệnh nhân về bệnh tâm thần phân liệtgiúp chúng ta biết được những sai lầm trong nhận thức của họ về bệnh này, từ

đó có cách tiếp cận và tư vấn chính xác cho họ tuy nhiên tại Việt Nam hiệnnay chúng tôi vẫn chưa tìm thấy nhiều nghiên cứu bài bản chuyên sâu về nhậnthức của người thân đối với bệnh TTPL đang điều trị

Từ những lý do trên, trước những đòi hỏi của thực tiễn, chúng tôi tiếnhành nghiên cứu đề tài: Nhận thức về bệnh tâm thần phân liệt của thân nhân

có bệnh nhân đang điều trị tại BV tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 12

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá thực trạng nhận thứccủa thân nhân có người thân bị tâm thần phân liệt về: (1) các biểu hiện củatâm thần phân liệt (2) nguyên nhân gây ra tâm thần phân liệt (3) cách thức tìmkiếm sự trợ giúp khi có người thân mắc bệnh tâm thần phân liệt Từ đó, đưa ramột số khuyến nghị, đề xuất cho các cơ sở chuyên khoa và cộng đồng nhằmtìm các biện pháp nâng cao hiểu biết về bệnh tâm thần phân liệt cũng như ứngdụng và phát triển những liệu pháp tâm lý phù hợp với nguồn lực sẵn có màvẫn được chấp nhận về mặt khoa học, văn hóa, kinh tế và xã hội

Từ những mục đích nghiên cứu của đề tài, đặt ra một số câu hỏi như sau: Câu hỏi 1 Thực trạng nhận thức về bệnh tâm thần phân liệt của thân nhân bệnh

nhân đang điều trị tại bệnh viện tâm thần TP HCM trong việc nhận diện các triệu chứng, nguyên nhân gây bệnh

Câu hỏi 2 Nhận thức của thân nhân người bệnh về bệnh tâm thần phân liệt có

sự khác biệt nào không giữa các nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghềnghiệp, thu nhập hay không

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.

2.2.1 Nghiên cứu lý luận.

Tìm hiểu cơ sở lý luận tổng quan về tâm thần phân liệt, tìm hiểu vềhiểu biết của thân nhân của bệnh nhân về tâm thần phân liệt Cụ thể đề tàinghiên cứu này sẽ tìm hiểu các biểu hiện của tâm thần phân liệt, nguyên nhânđược nhận biết bệnh tâm thần phân liệt và cách giải quyết vấn đề của thânnhân khi người nhà mắc chứng bệnh tâm thần phân liệt

2.2.2 Nghiên cứu thực tiễn

Triển khai khảo sát và thu thập dữ liệu – khảo sát về nhận thức về bệnhtâm thần phân liệt của thân nhân bệnh nhân đang điều trị nội trú tại bệnh việntâm thần Thành Phố Hồ Chí Minh

Tiến hành phân tích số liệu để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu của đề tài đã đặt

ra, và chứng minh hoăc bác bỏ các giả thuyết của đề tài

Trang 13

3 Giả thuyết nghiên cứu.

Các giả thuyết được đặt ra cho kết quả nghiên cứu như sau

Giả thuyết 1:

Thân nhân bệnh nhân không nhận diện được hoặc nhận diện không đầy

đủ về các triệu chứng và không thể gọi tên chính xác bệnh mà người thân củamình đang mắc phải

Giả thuyết 2:

Nhận thức của thân nhân bệnh nhân về bệnh tâm thần phân liệt có sự khácbiệt giữa các nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp và phân bổdân cư hay không

4 khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu:

Tất cả các thân nhân có người nhà được chẩn đoán tâm thần phân liệttheo tiêu chuẩn chẩn đoán ICD – 10 hoặc DSM – IV đang được điều trị nộitrú, cũng như ngoại trú tại Bệnh viện Tâm thần Thành Phố Hồ Chí Minh

- Cỡ mẫu: 100 thân nhân có người thân đang điều trị tại tại Bệnh viện Tâm thần Thành Phố Hồ Chí Minh

- Cách chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên, tất cả các thân nhân đưa người bệnhtới khám, cũng như các thân nhân có người thân đang điều trị nội trú tại hai

cơ sở của Bệnh viện Tâm thần Thành Phố Hồ Chí Minh được bác sĩ chẩnđoán tâm thần phân liệt trên lâm sàng theo đúng các tiêu chẩn chẩn đoán vàđáp ứng đầy đủ các tiêu chí chọn mẫu đã đề ra sẽ được chọn tham gia vàonghiên cứu

4.2 Đối tượng nghiên cứu:

Nhận thức về bệnh tâm thần phân liệt của thân nhân có bệnh nhân tâm thần phân liệt về các triệu chứng, nguyên nhân gây bệnh, cách giải quyết vấn đề

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp này sẽ hệ thống lại toàn bộ cơ sở lý thuyết về tâm thần phân liệt, nhận thức và đồng thời tìm hiểu các nghiên cứu đã có về tâm thần

Trang 14

phân liệt, nhận thức của cộng đồng về tâm thần phân liệt, nhận thức của thânnhân, người chăm sóc bệnh nhân về tâm thần phân liệt bằng việc tham khảo cáccông trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước

5.2 Điều tra bằng bảng hỏi

Bảng hỏi là dạng câu hỏi được xây dựng và nghiên cứu và thực hiện ởnước ngoài, sau khi được dịch đã áp dụng thực hiện với một nhóm nhỏ ngườitham gia để điều chỉnh, thích ứng cho phù hợp với ngôn ngữ, văn hóa thôngqua một đề tài khảo sát về nhận thực được thực hiện trước đó (2015)

5.3 Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp này sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để xử lý thông tin và các kếtquả thu được từ bảng khảo sát

6 Giới hạn đề tài

6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Trong nghiên cứu nhận thức về bệnh tâm thần phân liệt của đề tài nàychỉ giới hạn ở các mặt sau:

Khả năng nhận biết về các triệu chứng của tâm thần phân liệt

Khả năng nhận biết về nguyên nhân của bệnh tâm thần phân liệt

Cách người thân của người bệnh tâm thần phân liệt giải quyết vấn đề

6.2 Giới hạn về địa bàn và thời gian nghiên cứu

Địa bạn khảo sát: Do thời gian và nhân lực có hạn nên chúng tôi chỉtiến hành khảo sát tại Bệnh viện Tâm thần Thành Phố Hồ Chí Minh (ThànhPhố Hồ Chí Minh)

Giới hạn về Thởi gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng5/2017 đến tháng 11/2017

6.3 giới hạn về khách thể nghiên cứu

Khách thể: Thân nhân của bệnh nhân từ từ 16 tuổi có người thân đượcchẩn đoán tâm thần phân liệt đến khám hoặc đang điều trị nội trú tạiBVTTTPHCM Tiêu chuẩn loại trừ là những thân nhân dưới 16 tuổi, ngườikhông biết chữ và không đồng ý tham gia nghiên cứu này

Trang 15

Giới hạn về cỡ mẫu: Do giới hạn về nhân lực, địa lý và thời gian nghiên cứutương đối ngắn cho nên tác giả chỉ chọn mẫu là 100 thân nhân có bệnh nhậnđến khám và điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần TPHCM

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, mục lục, danh mục tài liệutham khảo thì luận văn gồm ba phần với các nội dung chính sau

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Các nghiện cứu về nhận thức, thái độ của cộng đồng về sức khoẻ tâm thần

1.1.1 Các nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu về khả năng nhận thức về các vấn đề sức khoẻ tâm thầnthần nói chung và nhận thức về bệnh tâm thần phân liệt nói riêng trên cộngđồng tại Việt Nam trong những năm qua chưa được quan tâm một cách đúngmực Tuy cũng có một số nghiên cứu được thực hiện nhưng với một quy môcòn nhỏ trên địa bàn còn hẹp nên tính đại diện còn chưa cao

Nghiên cứu của Ts.Trần Thành Nam (năm 2001) về nhận thức của cha mẹ vềsức khoẻ tâm thần tại khu vực Hà Nội chỉ ra rằng đa số các bậc cha mẹ(78,6%) cho rằng các tổn thương về SKTT là biểu hiện của các tổn thương vềnão bộ,viêm não dẫn đến suy giảm hoặc mất ý thức [7] Nghiên cứu của TrầnThành Nam cũng cho thấy ngoài các nhóm nguyên nhân như: Tâm sinh lý, xãhội thì nguyên nhân về yếu tố tâm linh cũng là một yếu tố quan trọng gây ravấn đề về rối loạn về sức SKTT

Nghiên cứu của Đinh Quốc Khánh,Trần Hữu Bình và Nguyễn ThanhHương (năm 2010) về Kiến thức - thái độ - thực hành của người chăm sócchính người bệnh tâm thần phân liệt tại nhà và một số yếu tố liên quan ởhuyện Bình Xuyên Vĩnh Phúc Khảo sát tiến hành phỏng vấn toàn bộ 100người chăm sóc chính bệnh nhân TTPL đang được quản lý:Kết quả nghiêncứu cho thấy tỷ lệ khá cao người chăm sóc không biết các dấu hiệu của bệnhTTPL, trong nghiên cứu này chỉ ra rằng: Tỷ lệ NCSC biết được NBTTPL cầnđược giúp vệ sinh cá nhân hàng ngày và giúp người bệnh tham gia sinh hoạt

xã hội để hòa nhập cộng đồng là rất thấp, bên cạch đó đa số người chăm sóckhi được khảo sát tại địa bàn nghiên cứu có thái độ chưa thật khả quan đối vớiNBTTPL Nhiều người cho rằng NBTTPL tham gia lao động và sinh hoạt xã

Trang 17

hội hòa nhập cộng đồng thì không những không hiệu quả trong công việc màcòn gây ra những phiền toái cho gia đình và cộng đồng Đa số người chăm sócchỉ quan tâm chú trọng đến việc thực hành cho người bệnh uống thuốc, giúp

vệ sinh cá nhân hàng ngày, đưa người bệnh đi khám và lĩnh thuốc là khá cao.Trong khi đó, các hoạt động giúp người bệnh tái hòa nhập cộng đồng lại rấtthấp.[5]

Nghiên cứu của Cao Tiến Đức và Nguyễn Tất Định tìm hiểu nhận thứccủa người dân trong cộng đồng tại Hà Nội (năm 2013) về nguyên nhân, biệnpháp can thiệp trợ giúp người bệnh mắc bệnh tâm thần phân liệt Kết quả chothấy đại đa số người dân được khảo sát tại khu vực Hà Nội có nhận thức khá mơ

hồ về bệnh tâm thần phân liệt, đa số người dân nhận thức sai rằng tâm thần phânliệt là bệnh Thần kinh Về nguyên nhân 26,33% cho rằng TTPL là do nguyênnhân sinh học; 20,83% cho là nguyên nhân tâm lý; 5,67% cho là do vấn đề xãhội; 4,17% cho rằng TTPL thuộc về vấn đề cá nhân Nhóm có người thân bịbệnh tâm thần cho rằng yếu tố sinh học là nguyên nhân chính.[3]

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới

Về vấn đề nhận thức về sức khỏe tâm thần cũng như tâm thần phân liệt

đã có những nghiên cứu sâu rộng về nhận thức và thái độ của người dân đốivới vấn đế này Như nghiên cứu vào năm 2007 của một tổ chức ở Ireland về

“Nhận thức và thái độ của người dân Ireland đối với vấn đề Sức khỏe tâmthần”[26] Nghiên cứu được tiến hành trên 1000 người dân nhằm thông báocho sự phát triển nhận thức về vấn đề sức khỏe tâm thần của người dânIreland hướng đến việc nâng cao nhận thức và hiểu biết về sức khỏe tâm thầncủa người dân Những người thực hiện nghiên cứu này cũng có mong muốnphát triển khả năng ứng phó của người dân Ireland đối với những rối loạn sứckhỏe tâm thần Ngoài ra có thể kể đến nghiên cứu của tổ chức Y tế ở Ireland

về “Thái độ và nhận thức của người dân Bắc Ireland đối với vấn đề Sức khỏetâm thần” [25] Những người thực hiện nghiên cứu này cho rằng đây lànghiên cứu cần thiết để giúp thông tin cho cộng đồng các vấn đề sức khỏe tâm

Trang 18

thần, đồng thời đây là một cách tiếp cận toàn dân để hiểu và giải quyết cácnguy cơ gặp phải rối loạn sức khỏe tâm thần cũng như các yếu tố bảo vệ giúpngười dân phòng ngừa và chữa trị khi gặp phải rối loạn sức khỏe tâm thần.Các nghiên cứu nhằm đưa ra những chiến lược phòng ngừa RLSKTT cũngkhá phổ biến trên thế giới Trong đó phải kể đến “Hướng dẫn về phòng chốngRLSKTT (2011) củahiệp hội tâm thần Châu Âu”, hướng dẫn này đã nói rằng

“Một cơ sở khoa học cho thấy bằng chứng chúng ta có thể ngăn ngừa nhiềurối loạn tâm thần, tình cảm và hành vi trước khi họ bắt đầu gặp phải những rốiloạn này” [49]

Về vấn đề chữa trị có bài viết của bác sĩ tâm thần Allen Frances (2013)nói về vấn đề sự tin cậy đối với các chẩn đoán tâm thần và cho rằng các chẩnđoán vẫn còn dựa hoàn toàn vào đánh giá chủ quan [49]

Các tác giả Christine A Harrison, Mark R.Dadds, và Glen Smith thuộc TrườngTâm lý học của Đại học Queensland, Brisbane, Queensland, Úc đã thực hiệnnghiên cứu về các chỉ trích của các gia đình có bệnh nhân tâm thần phân liệt.Nghiên cứu chỉ ra rằng ở các gia đình có nhiều lời chỉ trích thì bệnh nhân cónhiều triệu chứng tiêu cực hơn so với nhóm còn lại

Brown GW, Birley JLT, Wing JK cũng chỉ ra bằng chứng cho thấy rằng môitrường gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tiến triển của bệnh tâmthần phân liệt, đặc biết một số nghiên cứu về việc bày tỏ cảm xúc hoặc các chỉtrích của những người chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt đã chứng minhkết quả rẳng ở môi trường gia đình có mức độ thể hiện cảm xúc ở mức cao có

tỷ lệ tái phát bệnh thấp hơn gấp ba lần so với những gia đình có mức độ thểhiện cảm xúc thấp

Như vậy có thể thấy là đã có những nghiên cứu về nhận thức và thái độcủa người dân đối với vấn đề sức khỏe tâm thần và mục đích của nhữngnghiên cứu này cũng chủ yếu là nhằm đưa ra những chiến lược phát triển khảnăng ứng phó và phòng ngừa rối loạn sức khỏe tâm thần Còn những nghiêncứu về nhận thức và thái độ đối với vấn đề Rối loạn sức khỏe tâm thần thì

Trang 19

dường như rất ít và chỉ có những nghiên cứu nhằm đo các rối loạn tồn tại ởmỗi người dân Chẳng hạn như nghiên cứu của tác giả Bayram, Bilgel.N mô

tả cắt ngang trên 1.617 sinh viên trầm cảm, lo âu và stress với mức độ nặngvừa phải hoặc cao hơn đã được tìm thấy ở 27%, 47% và 27% người trả lờitương ứng

Tác giả Mahadeo Shinde, Amol Desai, Shivaji Pawarđã tiến hành nghiêncứu về kiến thức, thái độ và thực hành của những người chăm sóc bệnh nhântâm thần phân liệt Nghiên cứu được thực hiện trên 50 người chăm sóc tạiViện sức khỏe tâm thần ở Tây Maharashtra, Ấn Độ bằng bảng hỏi bán cấutrúc Kết quả nghiên cứu cho thấy 30% người nghiên cứu không có kiến thức

về tâm thần phân liệt Cha và người thân là những người chăm sóc chính chobệnh nhân Người chăm sóc coi can thiệp y tế là quan trọng nhất, nhưng họcũng ủng hộ các can thiệp hỗ trợ như tư vấn và hỗ trợ gia đình Vấn đề tàichính là một trong những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến việc theo dõi bệnhnhân.[39]

Một nghiên cứu được tiến hành tại Nhật Bản về kiến thức tâm thầnphân liệt và thái độ hướng tới tìm kiếm sự giúp đỡ của cha mẹ nhằm phòngngừa trước những triệu chứng sớm của tâm thần phân liệt ở học sinh trunghọc Khách thể nghiên cứu gồm 666 ông bố và 613 bà mẹ., trong đó 97,5%ông bố đều từ 40 đến 59 tuổi; 78,3% bà mẹ tuổi từ 40 đến 49 Phân tích thống

kê bao gồm kiểm tra chéo, bài kiểm tra chi bình phương và phân tích hồi quy

đa biến Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa bố và mẹxung quanh kiến thức cơ bản về tâm thần phân liệt (P <0,001); tuy nhiên, bố

và mẹ không có sự khác biệt đáng kể về thái độ của họ đối với tâm thần phânliệt (P> 0,05) Bố và mẹ có sự khác biệt có ý nghĩa trong việc tìm kiếm nơigiúp đỡ, chăm sóc y tế tại một khoa tâm thần (P <0,05) và trong việc tìm kiếm

sự giúp đỡ từ y tá ở trường của con em mình (P <0,001) Các ông bố và bà mẹcũng khác biệt nhau về quyết định không tìm kiếm sự giúp đỡ (P <0,001).Trong phân tích về phản ứng của cha mẹ dành cho một đứa trẻ mất ngủ và thurút xã hội, phân tích hồi quy đa biến cho thấy rằng cha và mẹ khác

Trang 20

biệt đáng kể trong khả năng tìm kiếm sự giúp đỡ y tế tại một khoa tâm thần và

từ một y tá nhà trường và có khả năng không tìm kiếm sự trợ giúp (P <0,05, P

= 0,001 và P = 0,001) Tóm lại, hành vi giúp đỡ có khác nhau giữa cha và mẹNhật Do đó những phát hiện này hỗ trợ trong việc phát triển các chương trình giáodục tâm thần phân liệt mà mục tiêu là đẩy nhanh sự can thiệp.[48]

Amanda Worrall có một bài viết về kỹ năng và kiến thức của cha mẹ cócon cái được chẩn đoán tâm thần phân liệt Bài viết được chia thành 2 phần :phần đầu mô tả sự khám phá ra 4 chủ đề khác nhau mà các bậc cha mẹ muốnthảo luận : Xấu hổ và buồn phiền, giận dữ và tuyệt vọng, tội lỗi và tự tráchmình, và cách đối phó Phần sau mô tả những tài liệu thu thập được tạo quanhững cuộc nói chuyện nâng đỡ họ trong thời gian chịu đựng đau khổ

Các bậc cha mẹ diễn tả các cung bậc cảm xúc và trải nghiệm đa dạng,nhiều trong số đó là thái độ và niềm tin hiện hành về các bệnh lý tâm thần trêncác nền văn hóa rộng hơn :

 Cảm xúc cô lập chiếm một phần lớn trong cuộc đời

 Một số bậc cha mẹ cảm thấy bị cản trở bởi ý nghĩ tội lội và tự trách bản thân

 “Thất bại” là cảm giác mà họ miêu tả cứ quét qua họ như những cơnsóng thủy triều Họ có những suy nghĩ như “ Tôi không xứng đáng làm chamẹ” ,”Đây là lỗi lầm của tôi mà con tôi mới bị tâm thần phân liệt” ,”Tôi phải có gì

đó yếu đuối truyền qua con tôi : những bộ gen bị lỗi hay những thứ khác khôngtương thích !” ,”Tôi đã làm gì sai?”

 Xấu hổ và buồn bã là cảm giác chung ,cũng như là cảm giác không có giá trị,cảm giác bất lực và vô vọng

 Trầm cảm và lo âu thường xuyên là những vị khách không mời mà đến,

để tạo thêm những cảm xúc ở cực trên.(?).[46]

1.2 Các khái niệm công cụ đề tài

1.2.1 Khái niệm nhận thức

1.2.1.1 Khái niệm

Có rất nhiều định nghĩa về nhận thức, ở đây xin nêu ra một số định nghĩa thường được sử dụng nhiều nhất ở Việt Nam

Trang 21

Theo từ điển Tiếng Việt, Nhận thức là kết quả của quá trình phản ánh

và tái hiện hiện thực trong tư duy, kết quả con người nhận biết, hiểu biết thếgiới khách quan [9]

Theo định nghĩa này có thể thấy nhận thức vừa là một quá trình phảnánh có mở đầu, diễn tiến và kết thúc của tư duy con người với hiện thựckhách quan vừa là kết quả của sự phản ánh đó Khi đã nhận thức được mộthiện thực nào đó hay nói cách khác là có nhận thức về bất kỳ một vấn đề nào

đó trong cuộc sống, con người lại dùng chính nhận thức đó để tiếp tục tiếnhành những quá trình nhận thức mới Sự nhận biết là nhận thức sơ khai đầutiên, giúp con người thu được những kết quả nhận thức ban đầu từ thế giớikhách quan, là cơ sở để con người tiến hành sự phản ánh cao hơn nhằm thuđược sự hiểu biết sâu rộng về sự vật hiện tượng của thế giới

Theo từ điển triết học, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tíchcực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên

cơ sở thực tiễn [6] Như vậy, để cải tạo thực tiễn hướng đến việc phục vụ chocuộc sống, con người không ngừng tìm hiểu, tác động vào thế giới khách quan

để có được những nhận thức nhất định về hiện thực khách quan Với nhữngnhận thức có được về hiện thực khách quan con người tự nguyện tìm hiểu vàtác động vào thế giới khách quan với thái độ tích cực và những sáng kiến mớinhằm biến đổi thực tiễn, phục vụ cho cuộc sống ngày càng phát triển của conngười

Theo từ điển tâm lý năm 2011 do tác giả Nguyễn Khắc Viện chủ biên,nhận thức (tiếng Pháp: Connaisance) là quá trình hoặc kết quả phản ánh và táihiện hiện thực vào trong tư duy, nhận biết là hiểu biết thế giới khách quan.Quá trình ấy đi từ cảm giác đến tri giác, từ tri giác đến tri thức, diễn ra ở cácmức độ [14]

+ Kinh nghiệm hàng ngày về các đồ vật và người khác, mang tính tự phát,thường hỗn hợp với tình cảm, thành kiến, thiếu hệ thống

+ Khoa học, các khái niệm được kiến tạo một cách chặt chẽ, có hệ thống với ý

Trang 22

thức về phương pháp và những bước đi của tư duy để chứng nghiệm đúng – sai.

Trong quá trình nhận thức này, những cái sai sẽ dần dần được loại bỏ

để con người có được nhận thức đúng đắn về hiện thực khách quan

Theo từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng chủ biên (2008) thì nhận thức làhiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểubiết những quy luật về những hiện tượng, quá trình nào đó [2]…

Những quan điểm nêu trên đều có những điểm tương đồng khi địnhnghĩa về nhận thức Cụ thể đều xem nhận thức là một quá trình phản ánh hiệnthực khách quan thông qua sự nhận biết và các bước của tư duy Sản phẩmcủa quá trình nhận thức có thể là nhận thức đúng đắn và sai lầm nhưng thôngqua sự tích cực và tự giác con người sẽ dần dần loại bỏ cái sai và có nhận thứcđúng đắn để cải thiện hiện thực khách quan làm cho nó ngày càng phục vụcuộc sống con người ngày một tốt hơn

Tác giả Phạm Minh Hạc xem nhận thức là một trong ba mặt cơ bản củađời sống tâm lý con người, hai mặt còn lại là tình cảm và hành động Trongkhi hoạt động để tồn tại trong thế giới tự nhiên và môi trường xã hội, conngười phải nhận thức, phản ánh hiện thực xung quanh và cả hiện thực của bảnthân mình, để trên cơ sở đó con người tỏ thái độ, tình cảm và hành động.Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức độ nhậnthức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Kết quả nhận thức

có thể cho ra sản phẩm là nhận thức đúng hoặc nhận thức sai, nhận thức từng

bộ phận hay nhận thức cái tổng thể, nhận thức một phần hay nhận thức trọnvẹn sự vật hiện tượng, nhận thức thuộc tính bên ngoài hay đi sâu vào bản chấtbên trong, dẫn đường tìm ra quy luật và chân lý [13]

Như vậy, theo định nghĩa này cần xác định ba yếu tố:

+ Thứ nhất, nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan Nếu conngười có nhận thức tốt là quá trình phản ánh hiện thực khách quan đúng đắn,đầy đủ

+ Thứ hai, nhận thức có mối quan hệ với tình cảm, thái độ Tức là khi con

Trang 23

người nhận thức tốt sẽ chỉ đạo, định hướng, điều khiển tình cảm, và giúp con người tỏ thái độ phù hợp.

+ Thứ ba, nhận thức có mối quan hệ với hành động Nghĩa là nhận thức tốt sẽ làm động lực thúc đẩy con người hành động và đạt kết quả tốt

Với mục đích nghiên cứu không nhằm tìm hiểu chuyên sâu về bản chất củanhận thức mà chỉ lựa chọn và chấp nhận một số quan điểm để làm cơ sở lýluận theo hướng nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu xin lựa chọn địnhnghĩa của tác giả Phạm Minh Hạc để làm cơ sở nghiên cứu vì sự phù hợp của

nó với đối tượng nghiên cứu của đề tài và chúng tôi đặc biệt quan tâm và lưu

ý đến yếu tố thứ nhất và thứ hai nêu trên vì nó là cơ sở cho hướng nghiên cứucủa đề tài và cho thấy được mối quan hệ giữa nhận thức và thái độ của nhómkhách thể đối với đối tượng nghiên cứu

1.2.1.2 Các mức độ của nhận thức

Nhận thức là một quá trình tâm lý hết sức đa dạng, phức tạp và đượcthể hiện ở nhiều mức độ khác nhau Hiện nay, trong tâm lý học việc phân chiacác mức độ của quá trình nhận thức cũng có nhiều quan niệm khác nhau.Nhưng quan niệm phổ biến và được dùng rộng rãi nhất là các quan niệm sau:

* Quan niệm thứ nhất: Nhận thức được chia làm hai mức độ là nhận thức

cảm tính và nhận thức lý tính

+ Nhận thức cảm tính: quá trình nhận thức cảm tính là giai đoạn thấp của hoạtđộng nhận thức, tuy đơn giản nhưng nó mang lại những tài liệu đầu tiên chonhận thức của con người Nhận thức cảm tính bao gồm quá trình cảm giác vàtri giác [12]

(1) Cảm giác: là một quá trình nhận thức phản ánh một cách riêng lẻ từngthuộc tính, bề ngoài của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giácquan của con người (màu sắc, hình dáng, khối lượng…)

- Khâu 1: kích thích xuất hiện và tác động vào một cơ quan thụ cảm

- Khâu 2: Xuất hiện xung thần kinh được truyền theo các dây thần kinh tới não

Trang 24

- Khâu 3: Vùng thần kinh cảm giác tương ứng ở vỏ não hoạt động tạo racảm giác Ngoài ra, con người còn có những cảm giác từ các kích thích xuất hiệnbên trong cơ thể, phản ánh chính các trạng thái cơ thể đang tồn tại (cảm

giác đói, cảm giác khát…)

(2) Tri giác: là sự phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của sựvật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan Hình ảnh của sự vật

có được là dựa trên cơ sở của các thông tin do cảm giác đem lại, dựa trên việc

tổ chức, sắp xếp các thuộc tính bên ngoài thành một thể thống nhất theo đúngcấu trúc của sự vật, hiện tượng khách quan [12]

Như vậy, cảm giác được coi như là một nguồn cung cấp thông tin đầu vào,còn tri giác là tổ hợp, diễn giải, gán ý cho các thông tin đó

+ Nhận thức lý tính: là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bêntrong, bản chất của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Nhận thức lý tínhgồm có quá trình tư duy và tưởng tượng

(1) Tư duy: là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất,những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng khách quan

mà trước đó ta chưa biết

Xét trên phương diện lịch sử hình thành và mức độ phát triển của tư duy thì

có các loại tư duy sau

- Tư duy trực quan hành động: đây là loại tư duy xuất hiện sớm nhất vềphương diện phát sinh chủng loại cũng như về phương diện phát sinh cá thể Làloại tư duy mà việc giải quyết các nhiệm vụ được thực hiện nhờ sự cải tổ

thực tế các tình huống và nhờ các hành động vận động có thể quan sát được

- Tư duy trực quan hình ảnh: loại tư duy này chỉ có ở con người, đặc biệt là ởtrẻ nhỏ Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được thực hiện bằng

sự cải tổ tình huống chỉ dựa trên bình diện hình ảnh

- Tư duy trừu tượng: là loại tư duy ra đời muộn nhất và chỉ có ở con người.Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được dựa trên việc sử dụng các khái niệm, các kết cấu lôgic, được tồn tại và vận hành nhờ ngôn ngữ

Trang 25

Ba loại tư duy này có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau vàchi phối lẫn nhau, trong đó tư duy trực quan hành động và tư duy trực quanhình ảnh là cơ sở cho tư duy trừu tượng.

(2) Tưởng tượng: là một quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa từng cótrong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sởnhững biểu tượng đã có

Về nội dung phản ánh, tưởng tượng phản ánh cái mới, những cái chưa từng có trong kinh nghiệm cá nhân hoặc xã hội

Về phương thức phản ánh, tưởng tượng tạo ra cái mới từ các biểu tượng

đã có nhờ phương thức chắp ghép, liên hợp, nhấn mạnh, mô phỏng…

Về sản phẩm phản ánh của tượng tượng là những biểu tượng mới đượcxây dựng từ các biểu tượng đã có (biểu tượng của trí nhớ) Biểu tượng của củatưởng tượng mang tính khái quát, biểu tượng của biểu tượng

Tưởng tượng là một quá trình nhận thức lí tính được bắt đầu và thực hiện chủ yếu bằng hình ảnh nhưng vẫn mang tính khái quát và gián tiếp Tưởng tượng có quan hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính, nó sử dụng những biểu tượng của trí nhớ do nhận thức cảm tính mang lại Tưởng tượng cũng có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ và lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn

* Quan niệm thứ hai: Bloom chia lĩnh vực nhận thức thành 6 mức độ hoạt

động tri thức, theo một tiến trình liên tục từ dễ đến khó [13]:

(1) Biết: chủ yếu là sự ghi nhớ và tái hiện được các sự kiện, khái niệm cơ bản

và các câu trả lời, cũng bao gồm việc có thể xác định, miêu tả, gọi tên, phân loại,nhận biết một sự vật hiện tượng, khái niệm hoặc mô phỏng, bắt chước một thaotác

(2) Hiểu: hiểu nghĩa, có thể tóm tắt nội dung hoặc diễn giải khái niệm, có thểbiến đổi tương đương, hoặc chứng minh sự hiểu biết về các sự kiện và ý tưởngbằng cách so sánh, đối chiếu, có thể nêu ví dụ minh họa

(3) Vận dụng: có thể sử dụng thông tin hay khái niệm trong tình huống mới,biết thiết lập, thực hiện, tạo dựng, mô phỏng thao tác và các quy tắc theo một cáchkhác, có thể giải

Trang 26

quyết vấn đề bằng cách áp dụng kiến thức đã thu được, dự đoán các sự kiệntiếp theo dựa trên dữ kiện đã có.

(4) Phân tích: biết phân chia thông tin, khái niệm thành những bộ phận, nhận

ra mối quan hệ giữa những bộ phận ấy, biết xem xét động cơ hoặc nguyênnhân của sự vật, hiện tượng, biết suy luận và tìm bằng chứng cho những nộidung khái quát

(5) Tổng hợp: biết chắp ghép các thành phần với nhau, khái quát hóa để tạo nênnội dung mới, biết tái cấu trúc để tạo thành tổng thể mới, biết kết hợp các thôngtin với nhau theo những cách khác nhau hoặc đề xuất các giải pháp thay thế.(6) Đánh giá: có thể nhận xét, nhận định, phê bình ý nghĩa hoặc giá trị của sựvật, hiện tượng dựa trên sự xem xét lược sử trình tự vấn đề, có thể lượng địnhcác các dữ kiện để khẳng định hoặc bác bỏ một luận điểm

Cách phân chia này của Bloom được biết đến rộng rãi vì tính ứng của nó đặcbiệt là trong lĩnh vực dạy học

* Quan niệm thứ ba: chia các mức độ nhận thức thành 3 mức độ như sau:

nhận biết, thông hiểu, vận dụng [11]

+ Nhận biết: tức là có thể nhận lại, thậm chí nhắc lại các tài liệu, các tri thứctheo trình tự nhất định đã được tiếp nhận Ở mức độ này con người hiểu đượchình thức của tài liệu chứ chưa hiểu được nội dung tài liệu hoặc hiểu một cáchhời hợt Mức nhận biết giúp con người phân biệt được sự vật, hiện tượng trên

cơ sở những dấu hiệu bề ngoài

+ Mức độ thông hiểu: Ở mức độ này tức là nắm được nội dung tài liệu, có thể trình bày được nội dung của tài liệu nhưng chưa vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể + Mức độ vận dụng: là khả năng vận dụng tài liệu đã tiếp thu vào hoàn cảnhđiều kiện cụ thể Để đạt được mức độ này mỗi người cần phải: Say mê vớicông việc mình đang làm, có trình độ và kiến thức văn hóa nhất định; có lòngthương yêu đối với con người

Do đối tượng nghiên cứu của đề tài là một lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ so vớihọc viên nên trong ba quan niệm nêu trên, người nghiên cứu đánh giá mức độnhận thức của thân nhân đối với vấn đề nghiên cứu dựa theo quan niệm thứ

Trang 27

ba Việc lựa chọn quan điểm ngoài việc phù hợp với nhận thức của thân nhânđối với một vấn đề khá mới mẻ này còn tạo ra những thuận lợi cho ngườinghiên cứu trong việc xây dựng nội dung của phiếu điều tra và trong quá trìnhphân tích các số liệu thu được từ phiếu điều tra.

1.2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức

Nhận thức của mỗi người bị tác động bởi nhiều yếu tố, từ các yếu tố bẩm sinhđến môi trường sống, lứa tuổi…Trong đó, có những yếu tố có sự tác độngnhiều nhất như:

(1) Bẩm sinh di truyền: cấu tạo của não bộ, đặc điểm hệ thần kinh, giácquan… sẽ ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của con người, cụ thể đó là tốc

độ xử lí và tiếp nhận các kiến thức nhanh hay chậm

(2) Giới tính: Trong quá trình phát triển của mỗi người chúng ta, thông quaviệc dạy dỗ, cách cư xử của cha mẹ và những người lớn xung quanh chúng ta ýthức được “giới tính” của bản thân Với bản sắc riêng của giới tính nam hoặc nữ sẽ

có những ảnh hưởng nhất định và tạo nên những khác biệt trong suy nghĩ giữa namgiới và nữ giới

(3) Lứa tuổi: Ở những giai đoạn lứa tuổi khác nhau cùng với sự trưởng thànhhơn cả về mặt thể lý và tâm lý sẽ có những ảnh hưởng nhất định và tạo nên nhữngkhác biệt trong nhận thức của mỗi người ở mỗi giai đoạn lứa tuổi

(4)Môi trường sống: Với những môi trường sống khác nhau, chịu ảnh hưởng

từ những gì diễn ra xung quanh bản thân trong mỗi môi trường sống đó như từcác mối quan hệ bạn bè, mối quan hệ với những người xung quanh, với giađình, chịu ảnh hưởng từ lối sống của mọi người xung quanh, lối sống của giađình…tất cả những yếu tố này sẽ tác động và ảnh hưởng không nhỏ đến việcđịnh hướng giá trị sống của mỗi cá nhân Định hướng giá trị khác nhau ở mỗi

cá nhân sẽ cho thấy quá trình nhận thức khác nhau ở mỗi cá nhân

1.2.2 Bệnh tâm thần phân liệt

1.2.2.1.Lịch sử tâm thần phân liệt:

- Bệnh tâm thần phân liệt đã được mô tả từ năm 1400 trước công nguyên vàchính sự đa dạng về lâm sàng của bệnh này đã tiếp tục lôi cuốn sự chú ý của

Trang 28

nhiều tác giả trong lĩnh vực tâm thần.

- Esquirol (1772-1840) đã mô tả sa sút tâm thần mắc phải ở những người trẻtuổi dưới 25 tuổi khác với chứng đần độn

- Benedict Morel (1809-1873), nhà tâm thần học người Bỉ là người đầu tiênđưa ra cụm từ “sa sút sớm” (démence précoce) để mô tả các rối loạn của bệnhnhân tuổi trẻ được đặc trưng bởi ảnh hưởng suy giảm nhận thức và tiến trình

sa sút tiến triển.Tuy nhiên định nghĩa này chưa được hoàn chỉnh do ảnhhưởng nhiều bởi những khái niệm về di truyền của Darwine.Khái niệm này đãgây ra sự ảnh hưởng lớn suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 dẫn đến nhiều nghiêncứu về tính gia đình của bệnh lý tâm thần và đặt nền tảng sớm cho nhiềunghiên cứu vai trò của gien trong tâm thần phân liệt sau này [19],[ 30]

- Emil Kraepeline (1856-1926): nhà tâm thần học người Đức là người đầu tiên

mô tả chi tiết, rõ ràng về hội chứng tâm thần “praecox”, ông nhấn mạnh những đặcđiểm chính về quá trình sa sút trong nhận thức (sa sút tâm thần) ,

có khuynh hướng khởi phát sớm của rối loạn và những rối loạn này có liênquan đến sự phát triển mạn tính Các bệnh nhân sa sút tâm thần sớm này cóquá trình sa sút tiến triển trong thời gian dài và có các triệu chứng lâm sàngchung gồm các hoang tưởng và ảo giác Ông cũng phân biệt các bệnh nhânnày với các bệnh nhân loạn thần hưng trầm cảm có các giai đoạn bệnh và cácgiai đoạn hoạt động bình thường mà ngày nay được DSM IV-TR (Sổ tay chẩnđoán và thống kê các rối loạn tâm thần) mô tả trong rối loạn lưỡng cực I Mặc

dù Kraepelin thừa nhận khoảng 4% các bệnh nhân của ông có thể hồi phụchoàn toàn và 13% thuyên giảm rõ rệt nhưng các nhà nghiên cứu sau này đôikhi vẫn nhầm lẫn khi cho rằng theo Kraepelin “sa sút sớm” chắc chắn đưa đến

sa sút tâm thần [8],[29]

- Eugen Bleuler (1857-1939), nhà tâm thần học người Thụy sĩ nhấn mạnh sựtan rã của tư duy là một nét nhấn mạnh của tâm thần phân liệt, ông nhận thấytriệu chứng đặc trưng này biểu hiện trong các bệnh tâm thần phân liệt nên đưa

ra thuật ngữ tâm thần phân liệt (schizophrenia) thay cho thuật ngữ sa sút tâm

Trang 29

thần sớm (dementia precox) Ông dùng thuật ngữ này để mô tả sự phân liệttrong những rối loạn tư duy, cảm xúc và hành vi ở các bệnh nhân tâm thầnphân liệt và nhấn mạnh các bệnh nhân này không cần phải có quá trình sa sútnhư trong khái niệm sa sút tâm thần sớm của Kraepeline Bleuler cũng đưa racác triệu chứng khởi phát cơ bản của tâm thần phân liệt và tóm tắt trong bốnchữ A còn gọi là 4 chữ A của Bleuler như: liên tưởng rời rạc (incoherenceassociations), cảm xúc thờ ơ (affective flattening), tự kỷ (autism) và tính haichiều (ambivalence) Ông cũng mô tả các triệu chứng khác như trong mô tảcủa Kraepeline trong sa sút tâm thần sớm là hoang tưởng và ảo giác.Tên ôngchọn cho rối loạn này được sử dụng cho tới ngày nay [17],[20].

- Ludwig Kalbaum (1828-1899) đã mô tả các triệu chứng căng trươnglực (catanonia)

- Ewold Hecker (1843-1909): đã mô tả các hành vi kỳ dị của các bệnh nhân tâm thần phân liệt thể thanh xuân.[24]

- Schneider đã mô tả các triệu chứng hàng đầu (first-rank symptoms) củabệnh tâm thần phân liệt tuy không chuyên biệt nhưng cần thiết cho việc chẩn

đoán bệnh này Các triệu chứng này gồm: tư duy vang thành tiếng, tư duy bịphát thanh, tư duy bị đánh cắp hoặc bị áp đặt, ảo thanh tranh luận hay bìnhphẩm, tri giác hoang tưởng, các triệu chứng thụ động về cơ thể Nếu bệnhnhân không có những triệu chứng hàng đầu này thì chẩn đoán vẫn có thể dựatrên các triệu chứng ở hàng thứ hai (second-rank symptoms) như các rối loạnkhác về tri giác, các ý tưởng hoang tưởng đột ngột, sự bối rối, sự nghèo nàn

về cảm xúc

Ngày nay, các dấu hiệu và triệu chứng của tâm thần phân liệt được tómtắt trong ba vấn đề chính:

o Các triệu chứng lâm sàng rất đa dạng, không chỉ có trong tâm thần phân liệt

mà còn có thể gặp trong các rối loạn tâm thần khác và thời gian tồn tại của triệuchứng có ý nghĩa trong chẩn đoán, vì vậy bệnh sử của bệnh nhân là mấu chốt đểchẩn đoán tâm thần phân liệt

Trang 30

o Các triệu chứng này không cố định, một số triệu chứng có thể mất đi, một

số triệu chứng có thể xuất hiện thêm và thay đổi theo thời gian

o Các triệu chứng cần phải được đánh giá trong một khung cảnh tổng thể bao gồm: trình độ học vấn, văn hóa, tôn giáo và môi trường sống của bệnh nhân

1.2.2.2 Đại cương về tâm thần phân liệt

a.Định nghĩa

Tâm thần phân liệt là một rối loạn hoặc một nhóm gồm nhiều rối loạnđược đặc trưng bằng những nét tự kỷ và thiếu hòa hợp trong các hoạt độngtâm thần của người bệnh bao gồm các triệu chứng dương tính, âm tính, căngtrương lực và các rối loạn và thiếu sót trong nhận thức [18],[23] Tâm thầnphân liệt được chia ra làm nhiều thể lâm sàng khác nhau và được đánh số từF20.0 đến F20.9 trong ICD 10 và 295.10, 295.20, 295.30, 295.60, 295.90trong DSM IV-TR [23] Sự phân chia này không mang nhiều ý nghĩa thựctiễn lâm sàng do sự chuyển đổi thể trên bệnh nhân theo thời gian và hầu nhưkhông có sự khác biệt trong điều trị giữa các thể do sự ra đời của các thuốcchống loạn thần thế hệ 2, nên trong phiên bản DSM 5 (xuất bản tháng5/2013), Hiệp hội các nhà tâm thần học Hoa Kỳ-APA đã không còn phân chiacác thể của tâm thần phân liệt [27] Việc chuẩn hóa các tiêu chuẩn chẩn đoántrong ICD 10 và DSM 4 đã giúp chẩn đoán và điều trị sớm các trường hợpmới mắc hàng năm và cũng giúp tăng khả năng phục hồi cho bệnh nhân tâmthần phân liệt

b Các giả thuyết về nguyên nhân của tâm thần phân liệt

Hiện nay nguyên nhân tâm thần phân liệt vẫn còn chưa rõ Có rất nhiềugiả thuyết được cho là có liên quan đến cơ chế bệnh sinh của tâm thần phânliệt,trong đó nổi bật là các yếu tố di truyền, sự thay đổi và rối loạn của cácchất dẫn truyền thần kinh,sự bất thường về cấu trúc của hệ thần kinh trungương, các yếu tố tâm lý-xã hội và môi trường được đề cập đến nhưng khônggiả thuyết nào có tính thuyết phục cao Hiện nay, các nhà tâm thần học chorằng: nguyên nhân của tâm thần phân liệt là kết quả tác động của tác động củanhiều yếu tố cả sinh học lẫn môi trường gây ra

Trang 31

• Các chất dẫn truyền thần kinh và vai trò của dopamine – serotonine:

- Có rất nhiều chất hóa học có hoạt động trong não nhưng vai trò củadopamine và các thụ thể dopaminergic cùng với serotonine và các thụ thể

5HT là quan trọng và nổi bật hơn cả và là cơ sở sinh lý, sinh hóa và dược lý học cho các thuốc chống loạn thần ngày nay

- Giả thuyết được biết đến nhiều nhất là giả thuyết dopamine theo đó bệnhTTPL là do sự tăng quá mức hoạt động của hệ dopaminergic Giả thuyết này dựavào các nhận xét sau :

Hiệu quả và sức mạnh của các thuốc chống loạn thần có liên quan trực tiếpđến khả năng của chúng trong việc phong toả các thụ thể dopamine sau tiếp hợp, đặc biệt là thụ thể D2

Các chất Amphetamine, Levodopa và Methylphenidate làm tăng hoạt động hệ dopaminergic và có thể gây ra các rối loạn tâm thần rất giống TTPL Nồng độ của Homovanilic acid (HVA), chất chuyển hóa chính của dopamine trong huyết tương có liên quan đến độ nặng của các triệu chứng loạn thần

- Những giả thuyết gần đây gợi ý rằng những thụ thể dopamin như D1 quantrọng hơn là thụ thể D2 và có liên quan đến tâm thần phân liệt Những vùngtrên não có liên quan bao gồm vùng trung viền, vùng trước trán và hệ thốngdopamin thể vân Ngược lại với thụ thể D2 thì thụ thể D3 không có liên quanđến tâm thần phân liệt Với các thụ thể D4 và D5 thì vai trò của nó trong tâmthần phân liệt hiện chưa rõ Sự giảm hoạt hóa của Dopamin ở thùy trán trướcthì thường liên quan với các triệu chứng âm tính và sự tăng hoạt động củaDopamin ở vùng trung viền thì thường kết hợp với các triệu chứng dươngtính Các thuốc chống loạn thần thế hệ 1 có tác dụng làm giảm các triệu chứngdương tính của tâm thần phân liệt thông qua tác dụng đối vận trên các thụ thểDopamin

- Serotonin: được chú ý nhiều trong bệnh sinh TTPL từ khi nhận thấy cácthuốc chống loạn thần thế hệ mới có tác dụng trên hệ thống serotonin trong đó

sự đối vận ở thụ thể serotonin có thể làm giảm các triệu chứng âm tính của

Trang 32

bệnh TTPL cũng như các rối loạn vận động do đối vận ở thụ thể D2 Ngoài ra,cũng giống như trong rối loạn khí sắc, hoạt động serotonin còn liên quan đếncác hành vi tự sát và xung động gặp trong TTPL

- Với sự ra đời của các thuốc chống loạn thần thế hệ mới hay còn gọi là chốngloạn thần thế hệ 2 dựa trên những hiểu biết mới về vai trò của serotonine và cácphân nhóm của thụ thể 5HT Dược lý học các thuốc mới này khá phức tạp, chúngvừa đồng vận, đồng vận một phần hoặc đồng vận nghịch đảo trên

các phân nhóm 5HT này và cũng có thể đối vận hoặc đối vận một phần trêncác phân nhóm 5HT khác (hiện nay có tất cả 14 phân nhóm đã và đang đượcnghiên cứu) Các thuốc điển hình thuộc nhóm này là olanzapine, quetiapine vàaripiprazole

• Yếu tố di truyền và phả hệ:

- Nhiều nghiên cứu gợi ý một yếu tố di truyền trong bệnh TTPL Từ các thậpniên 30, các nghiên cứu đã cho thấy một người sẽ dễ bị TTPL hơn khi có ngườithân bị bệnh này và khả năng này liên quan với sự gần gũi về mức độ

quan hệ (thân nhân độ 1 hoặc độ 2) Sinh đôi cùng trứng có tỉ lệ tương hợp(concordance rate) cao nhất Trong nghiên cứu về các cặp sinh đôi, nhữngngười được nuôi bởi cha mẹ nuôi cũng bị TTPL cùng một tỉ lệ với người anh

em của họ được nuôi bởi cha mẹ ruột,chiếm tỷ lệ 60-80% nguy cơ gây bệnh.Điều này cho thấy ảnh hưởng của di truyền quan trọng hơn của môi trường,một phát hiện được củng cố thêm khi người ta nhận thấy rằng khi bệnh TTPLcàng nặng thì sự tương hợp (cùng bị bệnh) càng dễ xảy ra

- Hiện nay chưa có bằng chứng xác thực về gien trên tâm thần phân liệt.Toyosima M và cộng sự tại viện nghiên cứu di truyền phân tử Tokyo đã ghi

nhận có mối liên quan giữa tâm thần phân liệt và khiếm khuyết đoạn gien22q11.2 Nhưng do quy mô của nghiên cứu nhỏ nên tác giả nhận định rằng:

sự khiếm khuyết này có thể làm tăng 50% khả năng mắc tâm thần phân liệtnếu được kết hợp thêm một số yếu tố nguy cơ khác Shaheen E Lakhan vàcộng sự nghiên cứu trên 2 gien ZDHHC8 và DTNBP1 nhận thấy tính dể bị

Trang 33

tổn thương của 2 gien này trên bệnh nhân tâm thần phân liệt Tuy nhiên ông cũng lưu ý rằng sự thay đổi này không là bằng chứng và nguyên nhân duy nhất của tâm thần phân liệt James B Potash cũng nhận thấy mối liên quan giữa tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực [36],[43] - Các nghiên cứu phả

hệ đã cho thấy có mối liên quan:

oAnthony F Lehman, trong hướng dẫn thực hành điều trị các rối loạn tâmthần (Practice Guidelines for the Treatment of Psychiatic Disorders-2006)trích dẫn nghiên cứu của Gottesman và Kestenbaum: nguy cơ là 13% ở người

có cha hoặc mẹ bị bệnh và nguy cơ tăng đến 35-40% ở người có cả cha và mẹ

bị bệnh Trong nghiên cứu trên trẻ sinh đôi, cũng nhận thấy có đến 50% cáctrẻ sinh đôi cùng trứng mắc bệnh trong khi chỉ có 9% ở các trẻ không cùngtrứng [32]

o Theo Assen Jablensky yếu tố gia đình là yếu tố nguy cơ đứng đầu trong tâmthần phân liệt với tỷ lệ 9-18% [28]

o Josephine Loftus nghiên cứu trên các anh chị em ruột trong 1 gia đình và nhận thấy yếu tố gia đình là nguyên nhân hàng đầu trong tâm thần phân liệt OJames B Potash và O Joseph Bienvenu nghiên cứu trên 73.929 bệnh nhân rốiloạn lưỡng cực hoặc tâm thần phân liệt tại Thụy Điển và nhận thấy trong 2 rốiloạn này có chia sẻ một nửa yếu tố di truyền [36]

thể gặp ở bệnh nhân bị rối loạn lưỡng cực và do đó có thể không đặc trưng

Trang 34

cho bệnh TTPL Các nghiên cứu dùng MRI (Magnetic resonance imaging)cho thấy có giảm thể tích phức hợp hải mã-hạnh nhân và hồi não cạnh hải mã.-Wenting Ren và cộng sự chụp cộng hưởng từ trên 100 bệnh nhân tâm thầnphân liệt ngay cơn khởi phát đầu tiên và chưa sử dụng thuốc trước đó đã nhậnthấy có những khác biệt đáng kể về khối lượng chất xám ở vùng đồi thị-vỏnão (thalamo-cortical).

- G Serban và cộng sự chụp cắt lớp 31 bệnh nhân tâm thần phân liệt mạn tínhvới các triệu chứng âm tính nhận thấy không có sự khác biệt đáng kể về kích

thước của não thất bên so với nhóm chứng, nhưng ghi nhận có một mức độteo não và đặc biệt ghi nhận có một hình ảnh mờ nhạt của các rãnh trong não.John A Sweeney cũng ghi nhận có những thay đổi trên hình ảnh MRI củanhững bệnh nhân tâm thần phân liệt mạn tính và có sa sút trí tuệ [42]

• Yếu tố tác động của môi trường sống:

Hiện không có các yếu tố môi trường đặc biệt được chứng tỏ ảnhhưởng đến nguyên nhân bệnh TTPL Tuy nhiên dường như có sự tương quangiữa bệnh TTPL và các chấn thương quanh sinh cũng như giữa TTPL và việcsinh vào mùa đông và đầu mùa xuân Một số nghiên cứu gợi ý nhiễm siêu vihoặc suy dinh dưỡng bào thai dễ đưa đến TTPL do ảnh hưởng đến sự pháttriển não Có giả thuyết cho rằng những người có kiểu nhân cách đặc biệt nhưnhân cách khép kín dễ bị TTPL hơn những người khác Có nhiều ý kiến tráingược về yếu tố tác động của môi trường sống trên tâm thần phân liệt Hầuhết các nhà tâm thần học đều nhìn nhận rằng môi trường sống có ảnh hưởngrất lớn với sự khởi phát của tâm thần phân liệt Sau cùng các yếu tố stress tâmlý-xã hội cũng là một nhân tố thuận lợi cho việc phát sinh bệnh TTPL: TTPLgặp nhiều hơn ở những nhóm người có trình độ kinh tế xã hội thấp cũng như

ở các thành phố có mật độ dân số cao, ở những người phải chịu đựng một sựthay đổi đột ngột về nền văn hóa (các di dân) Các thống kê cho kết quả là tỷ

lệ mắc tâm thần phân liệt tăng cao trong những quốc gia đã và đang phát triển hơn là những quốc gia chậm tiến Harvey và Bhugra thống kê trên những gia

Trang 35

đình di dân từ Phi châu và Caribbean đến Anh cho thấy tỷ lệ cao từ thế hệ thứ

2 trở đi so với thế hệ đầu mà lẽ ra phải cao hơn do những xáo trộn và lo toan trong bước đầu của cuộc sống nhập cư Các nghiên cứu về mức sống của cộng đồng dân cư tại chân Âu trong thập niên 1930s-1950s cho thấy tỷ lệ mắctâm thần phân liệt cao trong giới có mức thu nhập thấp, nhưng các nghiên cứu

từ thập niên 1960s không cho thấy có sự khác biệt c Tiên lượng tâm thần phân liệt

Tâm thần phân liệt là một bệnh tâm thần nặng, có khuynh hướng tiến triểnmạn tính với các giai đoạn tăng bệnh xen kẽ các giai đoạn thuyên giảm, sự phụchồi hoàn toàn tương đối hiếm gặp Sau giai đoạn loạn thần đầu tiên, bệnh nhânphục hồi dần, hoạt động tương đối bình thường trong một thời gian Bệnh TTPLhay tái phát, mỗi lần tái phát về sau sẽ làm cho tình trạng bệnh nhân ngày mộtxấu đi và cuối cùng đưa đến thiếu sót tâm thần nặng nề nên tiên lượng nói chungkhông được tốt, đặc biệt ở những bệnh nhân không tuân thủ điều trị Những bệnhnhân tâm thần phân liệt tuân thủ điều trị tốt đã hạn chế được tái phát và cũng cóchất lượng cuộc sống tốt hơn Tiên lượng cũng rất thay đổi và tùy thuộc vào thểlâm sàng, thể thanh xuân có diễn tiến đến sa sút nhanh nhất trong khi thểparanoid được xem là có tiên lượng khá nhất

1.2.2.3 Dịch tể học của tâm thần phân liệt

Do có những khó khăn trong việc thống nhất các tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân liệt nên những dữ liệu dịch tễ học về tâm thần phân liệt là rất khác nhau giữa các tác giả và khu vực trên thế giới Có 3 tỷ lệ mắc bệnh thường được nói đến trong tâm thần phân liệt là: tỷ lệ mắc trong cộng đồng dân số tại một thời điểm khảo sát, tỷ lệ mắc mới hằng năm và tỷ lệ mắc trọn đời a.Dịch tể học của tâm thần phân liệt

- Theo WHO (2013): tâm thần phân liệt có ảnh hưởng đến khoảng 29 triệungười trên toàn thế giới và có tỷ lệ 7/1.000 dân trong độ tuổi trưởng thành Hầu hếttrong nhóm tuổi 15-35 tuổi, tỷ lệ mắc mới tương đối thấp (3/10.000 dân) trong khi

tỷ lệ lưu hành khá cao do đây là một bệnh mạn tính Theo tài

Trang 36

liệu: dữ kiện và thống kê tâm thần phân liệt (Schizophrenia Facts andStatistics) của Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ-NIMH (NationalInstitutes of Mental Health) thì tỷ lệ lưu hành là 1,1% trong dân số trên 18tuổi [30] Theo tác giả Angelo Barbato thì các tỷ lệ mắc trong cộng đồng dân

số tại một thời điểm khảo sát, tỷ lệ mắc mới hằng năm và tỷ lệ mắc trọn đờilần lượt là: 0,1-1,7%, 0,1-0,75% và 0,1-1,8% [21]

- Theo Tác giả Assen Jablensky trong New Oxford Textbook of Psychiatry(2011)[38]: thống kê ước tính bình quân trên 188 nghiên cứu tại 46 quốc gia đượccông bố trong khoảng thời gian 1965 đến 2002 là:

o Khảo sát cắt ngang là 4,6 bệnh nhân trên 1000 dân

o Tỷ lệ mắc trong suốt cuộc đời là 7,2 bệnh nhân trên 1000 dân

oTỷ lệ mới mắc thay đổi từ 0,17 đến 0,57 bệnh nhân trên 1000 dân được ghi nhận trong 12 nghiên cứu

-Theo các tác giả Anthony F Lehman, tỷ lệ mắc tâm thần phân liệt trong suốtcuộc đời được ước lượng khoảng 1% với tỷ lệ nam/nữ dưới 60 tuổi bằngnhau Còn tại Hoa Kỳ tỷ lệ này dao động từ 0,7%-1,5% tùy theo các tác giả.Theo Bromet EJ tỷ lệ mới mắc là 0,22 trên 1000 dân [32]

b.Liên quan đến tuổi khởi phát và giới

• Tuổi khởi phát:

- Theo ghi nhận của hầu hết y văn trên thế giới: tỷ lệ mắc tâm thần phân liệtchung trong dân số là bằng nhau giữa 2 giới nhưng có sự khác biệt trong từng lứatuổi và đặc biệt ghi nhận tuổi khởi phát của nam thấp hơn nữ Bệnh thường bắt đầu

ở lứa tuổi từ 15–45 tuổi, cao nhất từ 18-26 tuổi, rất hiếm gặp trước 10 tuổi và sau

50 tuổi Ở phái nam bệnh thường xuất hiện sớm hơn (15-25 tuổi) so với phái nữ(25-35 tuổi) Một số nghiên cứu cho thấy bệnh nhân nam thường có nhiều triệuchứng âm tính hơn bệnh nhân nữ Bệnh nhân nữ thường có hoạt động xã hội tốthơn bệnh nhân nam và nói chung, tiên lượng ở bệnh nhân nữ tốt hơn so với bệnhnhân nam

-Theo tác giả Assen Jablensky: hầu hết khởi phát ở lứa tuổi 20-24 Có ghi nhận khác biệt

Trang 37

Về giới: nam giới có tuổi khởi phát trẻ hơn [28].

- Theo Jeffrey A Lieberman: có 20-40% bệnh nhân khởi phát ở lứa tuổi <20,

ở nam giới, tần suất cao nhất ở lứa tuổi từ 15 đến 25 trong khi nữ giới là 25đến 35 tuổi Các tác giả cũng ghi nhận tuổi khởi phát có liên quan đến tiênlượng của bệnh nhân và hiếm gặp ở trẻ em cũng như trung niên Theo tài liệucủa tổ chức y tế thế giới, sự khác biệt này là 3,4 tuổi Ngoài ra, ở nữ giới còn

có 1 đỉnh tuổi khởi phát ở lứa tuổi 40-45, và sự thuyên giảm cũng như hồiphục dưới tác động điều trị của nữ cũng tốt hơn nam giới [33]

- Những bệnh nhân khởi phát bệnh sớm thường là ở thể thanh xuân vàtiên lượng xấu hơn cũng như khó hồi phục các chức năng so với những bệnhnhân khởi phát muộn (thường ở thể hoang tưởng)

* Tâm thần phân liệt khởi phát sớm và khởi phát muộn:

Tâm thần phân liệt có tuổi khởi phát trung bình 20-35t, ngoài độ tuổi trênthường được gọi là khởi phát sớm và khởi phát muộn

Tác giả Vahia I V trong nghiên cứu của mình đã chia tuổi khởi phát làm 3nhóm: nhóm khởi phát sớm (early onset schizophrenia-EOS) < 20t, nhómkhởi phát muộn (late onset schizophrenia-LOS) >40t và nhóm chứng 20-40t(normal comparision subjects-NCs) đã nhận thấy có mức độ suy giảm lớn trêncác mặt hoạt động nhận thức và các chức năng tâm thần làm giảm chất lượngcuộc sống so nhóm 20-40t Vahia cũng gợi ý rằng: cách chia các thể trong tâmthần phân liệt hiện nay (trong ICD-10 và DSM-IV-TR) đã có từ một thế kỷtrước bởi các tác giả Kraepelin và Bleuler với những hiểu biết giới hạn về tâm

lý, sinh lý, dược lý và bệnh học của thời đó nên được thay đổi theo cách chiatheo tuổi khởi phát như các bệnh: đái tháo đường, Huntington và Alzheimer

để có thái độ ứng xử thích hợp trong giáo dục sức khỏe và chăm sóc sức khỏeban đầu đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt [45]

c Yếu tố gia đình và môi trường sống

Tác giả Anthony F Lehman, trong Practice Guidelines for the Treatment of Psychiatic Disorders (2004) trích dẫn nghiên cứu của Gottesman và

Trang 38

Kestenbaum nhận thấy: hơn 80% bệnh nhân tâm thần phân liệt có cha mẹ không bị tâm thần phân liệt, tuy nhiên nguy cơ là 13% ở người có cha hoặc

mẹ bị bệnh và nguy cơ tăng đến 35-40% ở người có cả cha và mẹ bị bệnh Anthony F Lehman cũng nhấn mạnh: yếu tố gia đình cần được xem xét như làmột yếu tố nguy cơ hàng đầu với tỷ lệ 9-18% và là sự kết hợp giữa phả hệ và môi trường gia đình của người bệnh tâm thần phân liệt [32] d Các yếu tố khác

Ngoài ra, các yếu tố khác như: sang chấn tâm lý, sang chấn sản khoa,nhiễm trùng sơ sinh, địa lý, văn hóa-xã hội, chủng tộc, mức sống … cũngđược cho là có ảnh hưởng đến tâm thần phân liệt [34]

1.2.2.4 Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán tâm thần phân

liệt a.Đặc điểm lâm sàng của tâm thần phân liệt

Đặc điểm chung của bệnh TTPL là các rối loạn về tư duy và tri giác,cảm xúc cùn mòn hoặc không phù hợp Ý thức và năng lực trí tuệ thường vẫnđược duy trì tuy một số thiếu sót về nhận thức có thể xuất hiện trong tiến triểncủa bệnh Rối loạn thường liên quan đến các chức năng cơ bản nhất tạo chongười bình thường cảm giác về cá tính, sự độc nhất và tính tự chủ của mình.Các triệu chứng lâm sàng của tâm thần phân liệt rất đa dạng và phong phú,luôn biến đổi tùy theo thể và giai đoạn tiến triển của bệnh nhân Các triệuchứng này có thể khái quát hoá thành hai nhóm triệu chứng âm tính và dươngtính như sau[4],[17]

b.Nhóm các triệu chứng âm tính

- Cảm xúc bàng quan bao gồm: cảm xúc nghèo nàn, không thay đổi biểu lộnét mặt, ít các tiếp xúc bằng mắt, không có phản ứng cảm xúc, cảm xúc khôngphù hợp, thiếu các phản hồi về âm thanh

- Tư duy nghèo nàn: ngôn ngữ-nội dung lời nói nghèo nàn, giảm vốn từ, kéo dài thời gian suy nghĩ trước khi trả lời hoặc ngừng nói

- Giảm các hoạt động: không thể duy trì một công việc lâu dài, thụ động, giảmcác cử động tự phát, ít quan tâm đến vệ sinh nơi ở và cá nhân

Trang 39

- Ít tiếp xúc với người xung quanh-ít hoạt động xã hội thể hiện trong các hoạtđộng: hoạt động giải trí, giảm quan tâm và hoạt động tình dục, giảm thể hiện

và đón nhận các tiếp xúc thân mật, thu rút bản thân

- Giảm tập trung chú ý: ít chú ý các hoạt động xung quanh, ít chú ý trong lúcthăm khám

c.Nhóm triệu chứng dương tính

Bao gồm những triệu chứng đa dạng, phong phú, xuất hiện trong quátrình bị bệnh và luôn biến đổi, tồn tại nhất thời rồi mất đi hoặc thay thế bằngnhững triệu chứng khác Các triệu chứng thường gặp gồm có:

■ Hoang tưởng, một số hoang tưởng thường gặp:

- Hoang tưởng bị hại: là hoang tưởng hay gặp nhất, bệnh nhân cho rằng mình

bị người xung quanh (người thân hoặc người lạ) tìm cách làm hại bệnh nhân

và gia đình họ…

- Hoang tưởng liên hệ: thường phát sinh sớm và trước hoang tưởng

bị hại, bệnh nhân nghĩ rằng mọi việc chung quanh đều có liên hệ mật thiết với mình.

- Hoang tưởng bị chi phối: bệnh nhân cho rằng có người nào đó dùng quyềnlực hay phương tiện hoặc các yếu tố bên ngoài như thế lực siêu nhiên, tia vũ

trụ, dòng điện…tác động vào cơ thể để chi phối toàn bộ tư tưởng, cảm xúc và hành vi của bệnh nhân

- Hoang tưởng tự cao (mang tính chất kỳ quái): bệnh nhân khoe khoang mìnhtài giỏi, có khả năng siêu phàm, giàu có,có thể tạo ra tiền từ cao su…nhưng hoangtưởng này kém đặc hiệu trong tâm thần phân liệt vì có thể gặp trong một số rốiloạn tâm thần khác như loạn thần cấp hay rối loạn lưỡng cực…

■ Ảo giác:

- Hay gặp nhất là ảo thanh bao gồm ảo thanh thô sơ và ảo thanh lời nói: bệnhnhân nghe thấy những âm thanh, tiếng nói khác thường mà người khác không nghethấy được Nội dung có thể là trò chuyện với bệnh nhân, khen chê bình phẩm vềbệnh nhân, đe dọa, ra lệnh bắt bệnh nhân làm việc này việc khác…

-Ngoài ra còn có các ảo giác khác như ảo thị, ảo khứu… nhưng ít gặp hơn

Trang 40

-Các hoang tưởng, ảo giác có thể đơn độc hoặc kết hợp với nhau và có thể chi phối mạnh mẽ cảm xúc, hành vi của bệnh nhân.

■ Hành vi vô tổ chức: Kích động, đập phá, đánh, giết người xung quanh hoặc

tự hủy hoại bản thân, tự sát…

1.2.2.5.Các thể lâm sàng của tâm thần phân liệt

- F20.0 Tâm thần phân liệt thể paranoid

- F20.1 Tâm thần phân liệt thể thanh xuân

- F20.2 Tâm thần phân liệt thể căng trương lực

- F20.3 Tâm thần phân liệt thể không biệt định

- F20.4 Tâm thần phân liệt thể trầm cảm sau phân liệt

- F20.5 Tâm thần phân liệt thể di chứng

- F20.6 Tâm thần phân liệt thể đơn thuần

- F20.8 Các thể tâm thần phân liệt khác

- F20.9 Tâm thần phân liệt không biệt định

1.2.2.6 Chẩn đoán tâm thần phân liệt

Chẩn đoán tâm thần phân liệt

Theo ICD-10, tiêu chuẩn chung để chẩn đoán tâm thần phân liệt bao gồm [16]: (a) Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hoặc bị đánh cắp và tư duy

bị phát thanh

(b) Các hoang tưởng bị kiểm soát, bị chi phối hoặc bị động, có liên quan rõrệt đến các cử động của cơ thể hoặc các chi hoặc các ý nghĩ, hành vi, hoặccảm giác đặc biệt, tri giác hoang tưởng

(c) Các ảo thanh lời nói liên tục bình phẩm về hành vi của bệnh nhân, hoặcbàn tán với nhau về bệnh nhân, hoặc các loại ảo thanh lời nói khác xuất phát

từ một phần nào đó của cơ thể

(d) Các loại hoang tưởng dai dẳng khác không phù hợp với nền văn hóa vàhoàn toàn không thể có như sự đồng nhất về tôn giáo hoặc chính trị hoặc cácquyền lực và khả năng siêu nhân (ví dụ có thể kiểm soát thời tiết, hoặc có thểgiao tiếp với những người từ một thế giới khác)

Ngày đăng: 29/10/2020, 20:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w