Giả thiết khoa học- Nếu tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập “chương Đại cương hữucơ” hợp lý với khả năng tiếp thu của học sinh trong từng tiết học được tốt thì giúpcho giáo viên dạ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐÀO THỊ LUÂN
NÂNG CAO HỨNG THÚ VÀ KẾT QUẢ HỌC TẬP CHO HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP
CHƯƠNG ĐẠI CƯƠNG VỀ HÓA HỌC HỮU CƠ
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM HÓA HỌC
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐÀO THỊ LUÂN
NÂNG CAO HỨNG THÚ VÀ KẾT QUẢ HỌC TẬP CHO HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP
CHƯƠNG ĐẠI CƯƠNG VỀ HÓA HỌC HỮU CƠ
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM HÓA HỌC Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN HÓA HỌC)
Mã số: 60.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: GS TSKH Nguyễn Đình Triệu
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tớiBan Giám hi ệu, các thầy cô giáo vàcán bô ̣c ủa trường Đ ại học Giáo dục - Đạihọc Quốc gia Hà Nội đã truyền thụ cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quíbáu vàgiúp đỡtôi hoàn thành luâṇ văn
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn GS.TSKH Nguyễn Đình Triệu, đã
tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện trong suốt quá trình nghiên cứu và hoànthành luận văn
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPTThanh Oai A, trường THPT Thanh Oai B đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôihoàn thành luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên,giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
ĐÀO THỊ LUÂN
i
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Hứng thú học tập 6
1.1.1 Hứng thú và hứng thú học tập 6
1.1.2 Tầm quan trọng và biện pháp nâng cao hứng thú đối với hoạt động học 6
1.2 Kết quả học tập của học sinh 8
1.2.1 Khái niệm 8
1.2.2 Mục đích đánh giá kết quả học tập 9
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh 10
1.2.4 Các biện pháp nâng cao kết quả học tập môn Hóa học 12
1.3 Một vài vấn đề về học sinh trung bình, yếu môn Hóa học 14
1.3.1 Nhận diện học sinh trung bình, yếu 14
1.3.2 Nguyên nhân học sinh học yếu 14
1.4 Bài tập hóa học 17
1.4.1 Khái niệm 17
1.4.2 Tác dụng của bài tập hóa học 19
1.4.3 Phân loại bài tập hóa học 20
1.4.4 Vị trí của bài tập hóa học trong quá trình dạy học 22
1.4.5 Xu hướng phát triển bài tập hóa học 22
1.4.6 Yêu cầu của một bài tập hoá học 22
1.4.7 Điều kiện để học sinh giải bài tập hóa học tốt 23
1.4.8 Những chú ý khi ra bài tập và những chú ý khi chữa bài tập cho HS 23
iii
Trang 61.5 Thực trạng sử dụng hệ thống bài tập hóa học vào dạy học ở trường
THPT 25
1.5.1 Mục đích điều tra 25
1.5.2 Đối tượng điều tra 25
1.5.3.Kết quả điều tra 25
Tiểu kết chương 1 28
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG ĐẠI CƯƠNG VỀ HÓA HỌC HỮU CƠ 29
2.1 Tổng quan chương đại cương về hóa học hữu cơ 29
2.1.1 Vị trí nội dung, kiến thức chương đại cương về hóa học hữu cơ 29
2.1.2 Mục tiêu kiến thức của chương 30
2.1.3 Một số lưu ý về phương pháp dạy học chương đại cương về hóa học hữu cơ 30
2.2 Cơ sở tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập 33
2.2.1 Theo cấu trúc chương trình sách giáo khoa 33
2.2.2 Theo năng lực, trình độ nhận thức của học sinh 33
2.2.3 Theo dạng bài tập 33
2.3 Các nguyên tắc khi xây dựng hệ thống bài tập hóa học 33
2.3.1 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học 33
2.3.2 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thông, tính đa dạng 33
2.3.3 Hệ thống bài tập phải phù hợp với mức độ nhận thức 33
2.3.4 Hệ thống bài tập phải mở rộng kiến thức, vốn hiểu biết của học sinh 34
2.3.5 Hệ thống bài tập phải phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện kĩ năng hóa học cho học sinh 34
2.4 Quy trình thiết kế hệ thống bài tập 34
2.5 Hệ thống bài tập chương đại cương hữu cơ cho học sinh trung bình, yếu 35
2.5.1 Một số bài tập dạng biết 35
2.5.2 Một số bài tập dạng hiểu 43
2.5.3 Một số bài tập vận dụng 49
Trang 72.5.4 Một số bài tập vận dụng sáng tạo 53
2.6 Sử dụng hệ thống bài tập tao hứng thú, nhận thức, kiến thức, kĩ năng mới cho học sinh trung bình yếu 56
2.6.1 Hệ thống bài tập tạo hứng thú học tập, nhận thức hóa học cho học sinh 56
2.6.2 Hệ thống bài tập củng cố kiến thức, xây dựng kiến thức và tạo kĩ năng mới cho học sinh 70
2.6.3 Sử dụng hệ thống bài tập tạo động cơ hứng thú và nâng cao kết quả học tập trong việc kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh 78
Tiểu kết chương 2 79
2 Vấn đề sử dụng hệ thống bài tập 79
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 80
3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 80
3.3 Phương pháp thực nghiệm 80
3.3.1 Chọn đối tượng và địa bàn thực nghiệm 80
3.3.2 Chọn bài thực nghiệm 81
3.3.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 81
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 81
3.4.1 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm 81
3.4.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm 82
3.4.3 Xử lý kết quả TNSP 84
3.5 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm 87
Tiểu kết chương 3 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
1 Kết luận 91
2 Khuyến nghị 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 95
v
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả điều tra về mục đích sử dụng BTHH 26
Bảng 1.2: Kết quả điều tra về tác dụng của các dạng BTHH 26
Bảng 3.1 Đối tượng và địa bàn TNSP 80
Bảng 3.2: Kết quả các bài kiểm tra 83
Bảng 3.3: Bảng tổng hợp điểm các bài kiểm tra 83
Bảng 3.4: Số % HS đạt điểm Xi 84
Bảng 3.5: Số % HS đạt điểm Xi trở xuống 84
Bảng 3.6: Số % HS đạt điểm yếu-kém, trung bình, khá và giỏi: 85
Bảng 3.7: Giá trị của các tham số đặc trưng 87
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 85Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 86Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 3 86
vii
Trang 10Các yếu tố tác động trên đã dẫn đến những biến đổi cơ bản của giáo dục.
Sự thay đổi của mục tiêu giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức và kỹ năng sanghình thành năng lực, phẩm chất nhân cách của người học Mục tiêu giáo dục củachúng ta hiện nay là tạo ra những con người có năng lực, đầy tự tin, có tính độclập, sáng tạo, những người có khả năng tự học, tự đánh giá, có khả năng hoànhập và thích nghi với cuộc sống luôn biến đổi Không gian giáo dục và các loạihình đào tạo được mở rộng Sự giao thoa, tích hợp giữa các môn học và ngànhhọc ngày càng lớn Xu hướng giáo dục toàn diện được đề cao Sự thay đổi cácphương tiện và phương pháp dạy học Phương pháp thuyết giảng dần mất đi vaitrò là phương pháp dạy học chủ yếu, mà thay vào đó là hệ thống các phươngpháp dạy học linh hoạt và đa dạng
Trong nghị quyết Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IV đã viết:
“Hơn bao giờ hết, bước vào giai đoạn này nhà trường phải đào tạo những con người năng động, sáng tạo, tiếp thu những kiến thức hiện đại, tự tìm giải pháp cho các vấn đề do cuộc sống công nghiệp đặt ra.”
Muốn thực hiện được điều đó không còn cách nào khác chúng ta phải đổi
mới phương pháp dạy học Phải chuyển từ dạy học lấy “thầy làm trung tâm” của những năm cuối thế kỷ XX sang dạy học lấy “trò làm trung tâm” nhằm hướng
vào người học, phát huy tính tích cực của người học từ đó đào tạo ra những
người “ vừa hồng vừa chuyên” như Bác đã từng nói.
Xã hội đòi hỏi mỗi con người năng lưc ̣ tư ̣chủvàxét đoán cao hơn , khôngthểcoi nhe ̣bất kỳtiềm năng nào của từng cánhân trí nhớ, lâp ̣ luâṇ, mỹ cảm, thểlưc ̣, kỹ năng giao lưu… Khuyến khich́ sư ̣phát triển đầy đủnhất tiềm năng sáng
Trang 11tạo của mỗi học sinh vơi toan bô ̣sư ̣phong phu va phưc tap ̣ cua con ngươi Mục
tích cực , tư ̣lưc ̣ , chủ động , sáng tạo của người học Vậy phải làm thế nào để nâng cao hứng thú và kết quả học tập của học sinh?
Trong quá trinh học tập người hoc ̣ đươc ̣ tham gia vào quátrinh… đánh giá,
tư ̣đánh giávàđánh giálâñ nhau Bài tập là một phương tiện dạy học quan trọngcủa người giáo viên Bài tập giúp học sinh hệ thống lại kiến thức cơ bản đồngthời qua đó rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo, kỹ năng vận dụng kiến thức, giảiquyết vấn đề Với vai trò cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn đời sống, bài tập làmột công cụ rất hiệu nghiệm để củng cố khắc sâu và mở rộng kiến thức cho họcsinh Trong quá trình giải bài tập, nếu có sự kiên trì, chịu khó, cẩn thận, thì họcsinh sẽ giải quyết được những mâu thuẫn trở ngại, từ đó có được niềm vui sướng
của sự nhận thức sáng tạo, sự yêu thích và say mê khoa học Thế nhưng làm thế nào để bài tập phát huy tính tích cực sáng tạo, kích thích tư duy mà không nằm ngoài tầm hiểu biết của học sinh?
Qua quá trình giảng dạy ở các trường THPT ở khu vực huyện Thanh Oai
tôi thấy tình hình học sinh chán nản, cảm thấy sợ môn hoá học Tại sao tình
trạng học môn hóa học của học sinh lại như vậy? Có vấn đề gì nội dung bài tậphay phương pháp dạy học chưa phù hợp? Đặc biệt các em đã quên khá nhiềukiến thức quan trọng ở lớp 8 và lớp 9 do các em chỉ tập trung vào hai môn toán
và văn thì tốt nghiệp cấp 2 Bắt đầu học lại hóa học là một điều khó khăn khôngđơn giản khi một lượng kiến thức của các em bị yếu và thiếu nhiều như vậy.Nghiên cứu nội dung chương trình môn hóa học, tôi nên chọn phần nào tronghóa học làm sao cho ít liên quan đến kiến thức lớp 8 và lớp 9 Tôi cũng địnhhướng tìm hiểu tất cả các phương pháp dạy học áp dụng vào giảng dạy môn hóa
để làm thế nào giờ hóa học đối với các em là một giờ giải trí và giúp các em
2
Trang 12phấn đấu học tập để không còn là học sinh trung bình, yếu với môn hóa học màcác em có thể đạt được mức khá, giỏi và vươn tới các trường đại học hay cao
đẳng Chính những suy nghĩ như vậy mà tôi đã chọn đề tài “ Nâng cao hứng
thú và kết quả học tập cho học sinh trung bình, yếu thông qua hệ thống bài tập chương Đại cương về hóa học hữu cơ”.
3 Vấn đề và nhiệm vụ nghiên cứu Vấn đề nghiên cứu:
- Làm thế nào để nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh?
- Xây dựng hệ thống bài tập cho tiết giảng như thế nào cho phù hợp vớiđối tượng học sinh?
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
- Nghiên cứu chuẩn kiến thức, kĩ năng chương Đại cương hóa học hữu cơ
- Lựa chọn , xây dựng và sử dụng HTBT nhằm nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh khi dạy học phần Đại cương hữu cơ
- Hướng dẫn áp dụng HTBT hợp lý vào hoạt động dạy và học
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của HTBT đã xây dựng vàcác biện pháp đã đề xuất, từ đó rút ra kết luận về khả năng sử dụng HTBT để nângcao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh trung bình, yếu
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể: Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT huyện Thanh Oai
- Đối tượng nghiên cứu: Áp dụng hệ thống bài tập chương Đại cương hữu
cơ hóa học lớp 11 ban cơ bản nhằm nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho họcsinh trung bình, yếu
Trang 135 Giả thiết khoa học
- Nếu tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập “chương Đại cương hữucơ” hợp lý với khả năng tiếp thu của học sinh trong từng tiết học được tốt thì giúpcho giáo viên dạy học phù hợp với đối tượng, qua đó góp phần nâng cao hứng thú
và kết quả học tập của học sinh trung bình, yếu ở trường phổ thông
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nội dung kiến thức chương Đại cương hữu cơ hóa học lớp 11 ban cơ bản
- Phạm vi về đối tượng: Ôn tập hè cho HS trung bình, yếu hết lớp 11
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Tổng kết thực tiễn chất lượng học sinh, công tác giảngdạy hiện nay, chỉ ra những bài học thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sởkhoa học để xây dựng phương pháp giảng dạy tích cực
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Xây dựng được hệ thống bài tập hóa học phân loại theo mức độ tiếp thucủa học sinh trong phần “ Đại cương hữu cơ” Nâng cao được hứng thú và kết quảhọc tập cho học sinh
+ Đề xuất một số phương pháp sử dụng hệ thống bài tập đã xây dựng trong dạy học phần “ Đại cương hữu cơ”
+ Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các đồng nghiệp khác
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học hóa học.+ Nghiên cứu các tài liệu về các phương pháp bồi dưỡng cho học sinh trung bình, yếu
+ Phân tích và tổng hợp các số liệu điều tra
+ Thu thập tài liệu và truy cập thông tin trên internet có liên quan đến đềtài
+ Đọc nghiên cứu và xử lý các tài liệu
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
4
Trang 14+ Điều tra – khảo sát thực trạng sử dụng BTHH trong dạy hiện nay ở trường phổ thông.
+ Quan sát, điều tra thực trạng kết quả học tập của HS phổ thông
+ Dự giờ giáo viên hóa học
+ Phỏng vấn trao đổi kinh nghiệm với các giáo viên hóa học
+ Thông qua thực nghiệm sư phạm đánh giá chất lượng hệ thống bài tập áp dụng bồi dưỡng cho học sinh trung bình, yếu
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
- Nội dung của luận văn là tư liệu giúp cho giáo viên trong việc giảng dạy
và ôn tập cho học sinh trung bình, yếu
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văncòn được dự kiến trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập chương Đại cương hữu cơ
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Hứng thú học tập
1.1.1 Hứng thú và hứng thú học tập
Khái niệm hứng thú và hứng thú học tập:
- Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, nó có ý nghĩa với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trình hoạt động
- Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn bởi nội dung hoạt động, ở bề rộng và chiều sâu
- Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc
- Từ khái niệm về hứng thú ta có thể suy ra được định nghĩa của hứng thúhọc tập: hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạtđộng học tập
1.1.2 Tầm quan trọng và biện pháp nâng cao hứng thú đối với hoạt động học
Hứng thú thể hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê củachủ thể hoạt động Sự hứng thú gắn liền với tình cảm của con người, nó là động
cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động đó Trong bất cứ côngviệc gì, nếu có hứng thú làm việc con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạtđộng, nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực và sáng tạo hơn vàohành động đó Ngược lại nếu không có hứng thú, dù là hành động gì cũng sẽkhông đem lại kết quả cao
Đối với các hoạt động nhận thức, sáng tạo, hoạt động học tập, khi không
có hứng thú sẽ làm mất đi động cơ học, kết quả học tập sẽ không cao, thậm chíxuất hiện hành vi tiêu cực
Để nâng cao hứng thú trước hết phải hình thành, giáo dục động cơ học tập, nhu cầu học tập đúng đắn Động cơ học tập tốt không tự dưng có mà cần phải được xây dựng, hình thành trong quá trình học sinh đi sâu chiếm lĩnh tri thức với sự hướng dẫn của thầy cô giáo Động cơ học tập là muôn hình muôn vẻ, muốn tạo động cơ học tập đúng đắn, chiếm lĩnh được tri thức thì trước hết cần phải khơi dậy ở
6
Trang 16các em nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập vì nhu cầuchính là nơi khơi nguồn của tính tự giác, tính tích cực học tập.
Mặt khác, hành vi của con người phụ thuộc vào nhiều khả năng kháchquan, nhất là ở những học sinh có nhân cách chưa hình thành ổn định, chưa cómục đích sống chủ đạo, cho nên môi trường khách quan cần có những điều kiệnthuận lợi, là mảnh đất màu mỡ để ươm mầm cho hứng thú phát triển: thư việnphong phú các đầu sách, phòng thí nghiệm, thực hành đầy đủ, những kỳ vọng,
sự động viên của thầy cô và gia đình
Hứng thú học tập của học sinh được tăng cường phần lớn chịu sự ảnhhưởng bởi giáo viên do đó:
- Giáo viên cần không ngừng trau dồi kỹ năng, phẩm chất đạo đức, nghềnghiệp, cải tiến phương pháp giảng dạy, đảm bảo việc truyền thụ tri thức ngàycàng chính xác, hấp dẫn, có chất lượng
- Giáo viên cần giúp cho học sinh thấy được ý nghĩa và vai trò của cáckiến thức môn học đối với cuộc sống, giúp học sinh biết cách học thích hợp, tăngcường thời lượng, chất lượng thực hành, nắm vững lý thuyết, luôn có sự vận dụngcác kiến thức đã học vào cuộc sống và giải quyết các tình huống trong đời sốngtheo các khía cạnh khác nhau
- Cần có những bài giảng nêu vấn đề, những giờ thảo luận trên lớp, nhữngtrò chơi mang tính chất giáo dục để kích thích hứng thú học tập cho các em Quátrình kích thích hứng thú không chỉ diễn ra ở bài giảng này hay bài giảng khác màcần phải diễn ra trong suốt quá trình
- Người giáo viên cần tạo ra các hoàn cảnh nhằm kích thích hứng thú họctập của học sinh, tăng tính tích cực của trí tuệ Chỉ ra được cái mới, cái phong phú,nhiều hình nhiều vẻ, tính chất sáng tạo và triển vọng trong hoạt động học tập đểtạo ra hứng thú vững chắc cho học sinh trong quá trình học tập
Về phía nhà trường: thường xuyên tổ chức các hoạt động học tập, sinhhoạt mang tính tập thể Điều đó sẽ kích thích sự hăng hái thi đua, cạnh tranhlành mạnh Tổ chức các buổi ngoại khóa, trò chuyện, giao lưu giữa thầy cô – họcsinh, học sinh – học sinh nhằm khắc phục những khó khăn gặp phải trong
Trang 17quá trình học tập Từ đó, tìm thấy tiếng nói chung, sự đồng thuận giữa các học sinh để các em cùng giúp nhau học tốt hơn.
1.2 Kết quả học tập của học sinh
1.2.1 Khái niệm
- Trong cuốn “Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của HSphổ thông” tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc đã đưa ra cách hiểu vềKQHT Kết quả học tập là một khái niệm thường được hiểu theo hai quan niệmkhác nhau trong thực tế cũng như trong khoa học:
+ Đó là mức độ thành tích mà một chủ thể học tập đã đạt, được xem xét trong mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra, với mục tiêu xác định
+Đó còn là mức độ thành tích đã đạt của một học sinh so với các bạn họckhác
Theo quan niệm thứ nhất, kết quả học tập là mức thực hiện tiêu chí
Với quan niệm thứ hai, đó là mức thực hiện chuẩn
- Theo tác giả Nguyễn Đức Chính thì “Kết quả học tập là mức độ đạtđược kiến thức, kĩ năng hay nhận thức của người học trong một lĩnh vực nào đó(môn học)
- Theo tác giả Trần Kiều “dù hiểu theo nghĩa nào thì kết quả học tập cũngđều thể hiện ở mức độ đạt được các mục tiêu của dạy học, trong đó bao gồm 3 mụctiêu lớn là: nhận thức, hành động, xúc cảm Với từng môn học thì các mục tiêu trênđược cụ thể hóa thành các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng và thái độ”
-Theo tác giả Norman E Gronlund, ông đã bàn đến “kết quả học tập” nhưsau:
+ Mục đích của giáo dục là sự tiến bộ của HS Đây chính là kết quả cuối cùng của quá trình học tập nhằm thay đổi hành vi của học sinh
+ Khi nhìn nhận mục tiêu giáo dục theo hướng kết quả học tập, cần phảilưu tâm rằng chúng ta đang đề cập đến những sản phẩm của quá trình học tậpchứ không phải bản thân quá trình đó
8
Trang 18+Mối liên hệ giữa mục tiêu giáo dục (sản phẩm) và kinh nghiệm học tập(quá trình) được thiết kế nhằm hướng tới những thay đổi hành vi theo như mongmuốn.
1.2.2 Mục đích đánh giá kết quả học tập
Làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu dạy học,tình trạng kiến thức, kĩ năng, kỉ xảo, thái độ của HS so với yêu cầu của chươngtrình Phát hiện những sai sót và nguyên nhân dẫn tới những sai sót, giúp họcsinh điều chỉnh hoạt động học tập của mình
Công khai hóa các nhận định về năng lực, kết quả học tập của mỗi em HS
và cả tập thể lớp, tạo cơ hội cho các em có kĩ năng tự đánh giá, giúp các emnhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên và thúc đẩy việc học tậpngày một tốt hơn
Giúp giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh, điểm yếucủa mình, tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nângcao chất lượng và hiệu quả dạy học
Như vậy việc đánh giá kết quả học tập của HS nhằm:
• Nhận định thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động học tập của HS.
• Tạo điều kiện nhận định thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động giảng dạy của giáo viên.”
Trong cuốn tài liệu “Đánh giá kết quả học tập ở Tiểu học”, tác giả Phó ĐứcHòa cho rằng, “Đánh giá kết quả học tập là thuật ngữ chỉ quá trình hình thànhnhững nhận định, rút ra những kết luận hoặc phán đoán về trình độ, phẩm chất củangười học, hoặc đưa ra những quyết định về việc dạy học dựa trên cơ sở nhữngthông tin đã thu thập được một cách hệ thống trong quá trình kiểm tra.”
Theo tác giả Trần Kiều: “có thể coi đánh giá kết quả học tập của HS làxác định mức độ đạt được về kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học đốichiếu với mục tiêu của chương trình môn học.”
Theo tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc, “Đánh giá kết quả họctập là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mụctiêu học tập của HS, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ
Trang 19sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân HS
để họ học tập ngày một tiến bộ hơn.”
Từ những nghiên cứu trên, chúng tôi cho rằng, “Đánh giá kết quả học tậpcủa HS là đưa ra những nhận định, những phán xét về mức độ thực hiện mụctiêu giảng dạy đã đề ra của HS, Từ đó đưa ra các giải pháp điều chỉnh phươngpháp dạy của thầy và phương pháp học của trò, đưa ra các khuyến nghị góp phầnthay đổi các chính sách giáo dục.”
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh
Yếu tố chủ quan là yếu tố then chốt quyết định đến kết quả học tập mônhóa học của học sinh bao gồm các yếu tố sau:
- Yếu tố tâm lí: Tâm lí của học sinh ảnh hưởng khá lớn đến kết quả họctập bộ môn hóa học Học sinh có tâm trạng vui vẻ không chỉ tiếp thu được nhiềukiến thức (về số lượng) mà còn giúp học sinh nhớ lâu hơn (về chất lượng) Ngượclại nếu học sinh bị stress, buồn phiền, lo âu thì hiệu quả của việc tiếp thu bài học làrất thấp, do đó ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập Lòng ham mê học hỏi là mộtyếu tố tâm lí quan trọng giúp học sinh có động lực tự tìm tòi kiến thức, tự chiếmlĩnh tri thức Khiến cho quá trình tiếp thu kiến thức trở nên nhanh hơn và có hiệuquả hơn, dẫn đến đạt được kết quả học tập tốt hơn Yếu tố tâm lí tiêu cực sẽ làmhọc sinh mất định hướng không thấy được ý nghĩa của việc tiếp thu kiến thức, do
đó kết quả học tập của những học sinh này sẽ không cao
- Yếu tố tư duy: Bên cạnh yếu tố tâm lí thì yếu tố tư duy cũng là mộttrong những yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao kết quả học tập cho học sinh.Những học sinh có tư duy tốt sẽ có những thao tác tốt (phân tích, so sánh, tổnghợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa…) Tư duy tốt sẽ giúp học sinh liên kết đượccác kiến thức lại với nhau thành một hệ thống, điều này sẽ giúp học sinh nhớ lâuhơn và giải quyết các bài tập hóa học một cách nhanh chóng và chính xác hơn.Ngược lại những học sinh có tư duy kém sẽ không thấy được tính hệ thống củakiến thức, đối với học sinh đó kiến thức là những mảng rời rạc Vì vậy việc tiếpthu kiến thức trở nên khó khăn dẫn đến kết quả học tập cũng bị ảnh hưởng theo
10
Trang 20- Phương pháp học tập: Phương pháp học tập có thể được xem là chìakhóa để mở được kho tàng kiến thức Học sinh có phương pháp học tập tốt biếtcách lập kế hoạch học tập, thấy được nội dung kiến thức nào cần rèn luyện nhiều,nội dung nào cần rèn luyện ít, nội dung nào cần phải hiểu, nội dung nào cần phảihọc thuộc lòng… Ngược lại những học sinh không có phương pháp học tập tốt sẽcảm thấy rất khó khăn trong việc đánh giá những kiến thức đã học, kiến thức nào
là quan trọng, chủ đạo, kiến thức nào là kiến thức vận dụng… Do đó những họcsinh có phương pháp học tập tốt thì kết quả học tập sẽ tốt
Yếu tố khách quan ảnh hưởng không ít đến kết quả học tập của học sinh bao gồm các yếu tố sau:
- Đặc thù bộ môn Hóa học: Bộ môn Hóa học là một môn thực nghiệm nênviệc dạy và học hóa học gắn liền với thực nghiệm Do đó một số kiến thức hóa họcđược xây dựng hoàn toàn trên thực nghiệm chứ không thể nào dự đoán được Ví
dụ như: thuyết lai hóa, các công thức cấu tạo, độ dài liên kết, momen lưỡng cực…Với điều kiện của nước ta thì học sinh chỉ được học trên lí thuyết chứ ít được thựchành thí nghiệm, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp thu kiến thức bộ mônHóa học Những bài tập về nhận biết chất luôn là bài tập gây khó khăn cho họcsinh phổ thông Tất cả bài tập nhận biết đều chỉ được thực hành trên giấy chứkhông được thực hành trong phòng thí nghiệm Bên cạnh đó các công thức cấu tạophân tử hợp chất hữu cơ đều được học sinh chấp nhận một cách máy móc, chứkhông được nghiên cứu trực tiếp và cụ thể… Chính những yếu tố đặc thù của bộmôn Hóa học đã ảnh hưởng khá nhiều đến kết quả học tập của học sinh
- Phương tiện học tập: Hầu hết các trường phổ thông trong cả nước đềuđược trang bị phòng thí nghiệm hóa học Tuy nhiên đa số các phòng thí nghiệm
ở trường phổ thông thì chưa đạt yêu cầu Đặc biệt là các trường ở các huyệnvùng sâu vùng xa hầu như không có phòng thí nghiệm hóa học hoặc có mà không
sử dụng được Hóa chất được giao về trường không chỉ thiếu về số lượng mà cònkhông đảm bảo về chất lượng, không thực hiện được đầy đủ các bài thực hành thínghiệm trong sách giáo khoa Ở một số trường, phòng thí nghiệm được
Trang 21sử dụng chung nhiều môn như: hóa, lí, sinh Những tác động của phương tiệnhọc tập học sinh có thể khắc phục được nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đếnkết quả học tập của học sinh.
- Ảnh hưởng của giáo viên đứng lớp: Giáo viên là người truyền thụ, hoặc
là người hướng dẫn cho học sinh chiếm lĩnh kiến thức Một giáo viên có năng lựcchuyên môn vững vàng, có phương pháp dạy học tốt sẽ gây hứng thú học tập chohọc sinh, đồng thời giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo
và phát triển tư duy của học sinh Ngược lại một người giáo viên có năng lựcchuyên môn kém sẽ làm cho học sinh mất lòng tin, không giúp được học sinh hoànthiện các kĩ năng cũng như năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo Một người giáoviên có năng lực chuyên môn tốt nhưng phương pháp dạy học không tốt thì sẽkhông gây hứng thú cho học sinh học tập cũng như không kích thích được lòngđam mê học tập ở học sinh Do đó người giáo viên đứng lớp có một tầm ảnhhưởng quan trọng đến kết quả học tập của học sinh
1.2.4 Các biện pháp nâng cao kết quả học tập môn Hóa học
Qua tìm hiểu thực trạng kết quả học tập và phương pháp dạy học hóa học
ở trường phổ thông cho thấy Thời gian dành cho học sinh hoạt động trong mộttiết học là quá ít Hình thức học tập đơn điệu chủ yếu là nghe thầy đọc sau đó chépvào vở Học sinh ít phải động não và chủ động tích cực trong các vấn đề Phươnghướng chung để nâng cao kết quả học tập môn Hóa học của học sinh là quan tâm
và tạo điều kiện để người học trở thành chủ thể hoạt động trong giờ bằng cácphương pháp sau:
+ Dạy cốt lõi, dạy lặp đi lặp lại các vấn đề cốt lõi
+ Vừa dạy vừa dỗ: Khi thấy có một chút tiến bộ GV nên động viên các
em bằng điểm số để dần dần lôi kéo cho học sinh thấy được thật sự hóa học khôngquá khó
+ Nhắc lại các kiến thức cơ bản, trọng tâm có liên quan Những kiến thức
cơ bản, trọng tâm thường giúp học sinh suy ra được những kiến thức khác và chínhnhững kiến thức cơ bản, khác lại giúp đào sâu thêm kiến thức cơ bản nhất
12
Trang 22+ Kiểm tra bài tập thường xuyên: Kiểm tra bài tập thường xuyên là biệnpháp hữu hiệu để giúp người giáo viên có thể phát hiện được các lỗ hổng kiến thứccủa học sinh Thông qua kiểm tra người giáo viên thu được những tín hiệu ngược
từ phía học sinh, giúp cho giáo viên phát hiện kịp thời những thiếu sót trong việctiếp thu kiến thức của từng học sinh và của cả lớp
+ Sửa kỹ bài tập trên lớp: Giáo viên nên sửa kỹ bài tập mẫu, cho học sinh làm các bài tương tự, thay đổi bài tập theo bài tập mẫu, bài tập xuôi ngược…
+ Thường xuyên củng cố, kiểm tra xen kẽ với giảng bài mới trong tiếntrình bài lên lớp hóa học Khi kiểm tra cần phối hợp điểm mạnh của cả hai phươngpháp trắc nghiệm và tự luận Đồng thời phân hóa câu hỏi kiểm tra thành ba cấp độ:câu hỏi tái hiện, câu hỏi giải thích – minh họa, câu hỏi suy luận
+ Dạy học kết hợp với thực hành, thí nghiệm trực quan: Hóa học là bộmôn khoa học lí thuyết và thực nghiệm Kiến thức hóa học, đặc biệt là chất cụ thểrất gần gũi với đời sống các em Việc nắm chắc các kiến thức căn bản khôngnhững giúp các em hoàn thành tốt việc học mà còn có ý nghĩa quan trọng trong đờisống thực tiễn Các em thấy được tầm quan trọng môn học và yêu thích, say mênghiên cứu Chính vì vậy, để giúp học sinh học tốt, yêu thích bộ môn, người giáoviên hóa học ngoài việc phải có phương pháp dạy tốt còn cần có sự chăm chút, sựkiên trì kiểm tra, theo dõi thường xuyên việc nắm chắc nội dung bài học Quantrọng hơn cả là phải phát hiện được những kiến thức mà học sinh hiểu chưa chínhxác, những kiến thức bị hổng ngay từ đầu để sửa chữa kịp thời, giúp em có độnglực học tập, thúc đẩy được quá trình chiếm lĩnh tri thức với chất lượng cao hơn.+ Cho HS làm các bài tập tương tự: Việc cho HS làm các bài tập tương tự
sẽ giúp HS nắm chắc kiến thức và phương pháp giải các bài tập hơn
+ Phương pháp dạy học phải phù hợp với trình độ của từng đối tượng HS,đặc biệt đối với học sinh trung bình yếu HS càng khá thì càng cần nhiều sự giúpđỡ của giáo viên về phương pháp suy nghĩ để tự tìm ra kiến thức và vận dụng sángtạo trong nhiều tình huống mới Nhưng đối với HS càng yếu thì càng cần
Trang 23nhiều sự giúp đỡ của giáo viên về phương pháp tiếp nhận kiến thức và tập vậndụng theo kiểu làm mẫu bắt chước.
1.3 Một vài vấn đề về học sinh trung bình, yếu môn Hóa học
1.3.1 Nhận diện học sinh trung bình, yếu
Về kiến thức: HS mất căn bản kiến thức về hóa trị, kí hiệu hóa học, số oxihóa, tính tan, TCHH đặc trưng của kim loại, phi kim, axit, bazơ, muối
Về kĩ năng: HS gặp nhiều khó khăn về cân bằng phản ứng oxi hóa - khử,viết phản ứng trao đổi, tính toán (số mol, nồng độ,…), phương pháp giải một sốdạng toán cơ bản (toán hỗn hợp, hiệu suất, xác định tên kim loại, dư - thiếu,…).Diễn đạt bằng ngôn ngữ khó khăn, lúng túng trong việc sử dụng ngôn ngữ hóahọc (thuật ngữ, kí hiệu)
Về phương pháp học tập: HS trung bình, yếu chưa tìm được phương pháphọc tập phù hợp và hiệu quả Chẳng hạn, cầm vở học thuộc lòng từng câu, từngchữ Chưa nắm vững lý thuyết đã vội làm bài tập Chưa có sự liên kết các kiếnthức đã học thành một thể thống nhất Sự chú ý, óc quan sát, trí tưởng tượng cònyếu, khả năng phân tích, tổng hợp hạn chế
Biểu hiện bên ngoàì: Thái độ thờ ơ với việc học, chán nản, trong lớp haynói chuyện riêng, làm việc riêng, không làm bài tập về nhà, không học lý thuyết,tập vở ghi chép cẩu thả Khả năng tiếp thu bài chậm so với HS bình thường Đihọc không chuyên cần, nghỉ học không phép, bỏ tiết Làm bài không cẩn thận,sai nhiều lỗi Có hành vi vô lễ với thầy cô
Điểm số: Kết quả các bài kiểm tra thường không cao Điểm trung bìnhcác môn tự nhiên liên quan như toán, lý không cao Kết quả môn hóa ở các nămhọc trước thấp
1.3.2 Nguyên nhân học sinh học yếu
1.3.2.1 Giáo viên và nhà trường
Giáo viên: Một số GV còn yếu kém về năng lực, trình độ chuyên môn,nghiệp vụ, việc đổi mới PPDH còn mờ nhạt, chất lượng bài lên lớp chưa tốt.Chưa nắm chắc những yêu cầu kiến thức của từng bài, còn dàn trải, nâng caokiến thức một cách tùy tiện Giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến đối tượng
14
Trang 24HS yếu, kém Chưa theo dõi sát sao và xử lý kịp thời các biểu hiện sa sút củaHS.Tốc độ giảng dạy kiến thức mới và luyện tập còn nhanh khiến cho HS yếu,kém không theo kịp Một số GV chưa thật sự toàn tâm, toàn ý với nghề do bị chiphối bởi nhiều vấn đề của cuộc sống, chưa thật sự giúp đỡ HS thoát khỏi yếu,kém Lại có GV còn thiếu nghệ thuật cảm hóa HS yếu, kém không gây hứng thú
để HS thích học môn hóa Chưa coi trọng việc đánh giá chất lượng thực của HS,còn có hiện tượng chạy theo thành tích Còn có hiện tượng đối xử không côngbằng, trù dập HS để lại những dấu ấn không tốt trong lòng HS, khiến HS ghétmôn học đó
Nhà trường: Tác dụng không mong muốn của công tác đánh giá thi đua:căn cứ đánh giá thi đua trong giáo dục là dựa vào chất lượng dạy học, nhưnghiện vẫn chưa có phương pháp đánh giá một cách khách quan Đặc trưng củamôn hóa là vừa lý thuyết vừa thực nghiệm, việc nghiên cứu về cấu tạo nguyên
tử, liên kết hóa học, các phản ứng hóa học… còn trừu tượng, cần sự hỗ trợ củacác phương tiện dạy học Nhưng điều kiện cơ sở vật chất nhiều trường THPThiện nay còn hạn chế Đa số các lớp học đều có số lượng HS từ 40 đến 60, vớitrình độ khác nhau: giỏi - khá - trung bình - yếu - kém GV thật sự khó khăntrong việc tìm ra PPDH chung cho cả lớp Sự phối hợp giữa nhà trường và giađình còn thiếu chặt chẽ, chưa đồng bộ Kênh thông tin cung cấp dữ liệu từ nhàtrường đến phụ huynh HS và ngược lại còn hạn chế
1.3.2.2 Gia đình và xã hội
Gia đình: Trong hoàn cảnh hiện nay, nhiều phụ huynh bận rộn với cuộcsống mưu sinh, chưa quan tâm đúng mực đến việc học tập cũng như sự pháttriển về thể chất và tinh thần của con em mình HS chưa ý thức được tráchnhiệm và tầm quan trọng của việc học, thiếu thốn tình cảm, dễ bị cám dỗ bởi cáctệ nạn xã hội, sao nhãng việc học hành HS không học bài, không chuẩn bị bàitrước khi đến lớp trở nên phổ biến, việc tiếp thu bài mới khó khăn, dẫn đến tìnhtrạng lười học, chán học… Gia đình gặp nhiều khó khăn về kinh tế hoặc đờisống tình cảm khiến HS không chú tâm vào học tập Một số cha mẹ quá nuôngchiều con cái Khi HS lười học xin nghỉ để làm việc riêng (như đi chơi, đi du
Trang 25lịch, ) cha mẹ dễ dàng đồng ý lâu dần HS mất căn bản, không theo kịp bạn bè,chán học Một số phụ huynh rất quan tâm đến việc giúp đỡ con cái học tậpnhưng lại lúng túng trong việc đưa ra phương pháp phù hợp.
Xã hội: Tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường và quá trình hội nhậpquốc tế, ảnh hưởng của một bộ phận thanh thiếu niên bỏ học, tác động của gameonline, những tác động xấu của internet do không được định hướng đúng đắn
HS mất dần khả năng tư duy tự học, tự sáng tạo, tự đào sâu kiến thức Vì điềukiện học tập ngày nay khá đầy đủ ngoài SGK, HS còn được trang bị nhiều loạisách tham khảo, sách học tốt, sách nâng cao Ngoài thời gian học ở trường HScòn có điều kiện và thời gian học thêm, học kèm ở các thầy cô giáo Thực tế chothấy nhiều HS không hề biết cách tự học và chưa bao giờ tự học được
1.3.2.3 Bạn bè và học sinh
Bạn bè: Bước vào tuổi vị thành niên bạn bè có một vai trò quan trọng HS
dễ bị tác động từ bạn bè, từ cái tốt (cố gắng học tập, chơi thể thao, hoạt độngĐoàn…), đến cái xấu (sự đua đòi, hút thuốc, đua xe, bỏ học, trò chơi điện tử,bạo lực học đường ) HS rất sợ bị bạn bè tẩy chay hay loại ra khỏi nhóm nếukhông hòa nhập theo
Học sinh: Chưa xác định được mục đích, động cơ học tập, chưa tập trungtrong giờ học Mất kiến thức căn bản từ lớp dưới nên gặp nhiều khó khăn trongviệc tiếp thu kiến thức mới Hóa học là môn khoa học tự nhiên, có mối liên quannhất định với các môn toán, lý Nếu HS yếu những môn này thì ít nhiều cũngảnh hưởng đến kết quả học tập môn hóa Năng lực trí tuệ của một số HS hạn chếnên tiếp thu bài còn chậm, khuyết tật (khiếm thính, sức khỏe yếu…)
1.3.3 Những khó khăn khi dạy học sinh trung bình, yếu
Việc dạy cho HS trung bình, yếu trong nhà trường là việc làm đòi hỏinhiều công sức, sự yêu thương, tận tụy và cố gắng của GV Công tác này thườnggặp một số khó khăn như sau:
Về phía chương trình: Không có một chương trình nào dành riêng chođối tượng này
16
Trang 26Về phía lãnh đạo nhà trường: Rất khó khăn để phối hợp với cha mẹ HS,phần lớn phụ huynh HS yếu - kém ít quan tâm đến việc học của các con, phómặc cho giáo viên và nhà trường.
Về phía GV: hầu hết GV đều khá e ngại khi dạy lớp có tỉ lệ HS trung bình,yếu cao Công việc này đòi hỏi GV phải mất rất nhiều công sức, tâm huyết, thờigian, rất khó khăn để tìm ra phương pháp thích hợp cho từng đối tượng HS, thậmchí có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả thi đua cuối học kì, cuối năm
Về phía HS: chậm hiểu, dễ nản lòng, không hợp tác, khó tập trung… Chính vì vậy việc dạy và bồi dương cho học sinh trung bình, yếu còn gặpnhiều khó khăn đối với giáo viên và nhà trường
1.4 Bài tập hóa học
Phương pháp sử dụng bài tập là một trong những phương pháp được sửdụng rộng rãi và đạt hiệu quả cao trong việc rèn luyện tư duy cho học sinh, giúphọc sinh khắc sâu kiến thức Trong dạy học Hóa học cũng như trong giảng dạycác môn học khác, ta có thể đánh giá giáo viên đó có thành công hay khôngthông qua cách giáo viên đó sử dụng hệ thống bài tập có phù hợp với học sinhhay không Mặt khác, ta cũng có thể đánh giá năng lực của học sinh thông quacách học sinh giải quyết hệ thống bài tập Có thể nói quá trình học tập là mộtquá trình giải một hệ thống bài tập đa dạng Thực tế giảng dạy cho thấy một bàigiảng, một giờ lên lớp có hiệu quả, có đạt được các yêu cầu sư phạm nhằm nângcao kết quả học tập của học sinh hay không phụ thuộc rất lớn vào hệ thống bàitập (bao gồm cả câu hỏi, bài toán, bài tập nhận thức …) có hệ thống, có khoahọc, có biên soạn được tốt không
1.4.1 Khái niệm
Theo nghĩa chung nhất thuật ngữ “bài tập dùng để chỉ một loạt hoạt độngnhằm rèn luyện thể chất và tinh thần (trí tuệ) Trong giáo dục theo “Từ điểnTiếng Việt” do GS Hoàng Phê chủ biên, thuật ngữ “bài tập” có nghĩa là “bài racho học sinh làm để vận dụng những kiến thức đã học” Theo Thái Duy Tuyên
“bài tập là một hệ thông tin xác định bao gồm những điều kiện và những yêu cầuđược đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học một lời giải đáp, mà lời
Trang 27giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái có sẵn của người giảitại thời điểm mà bài tập được đặt ra”.
Về mặt lí luận dạy học hóa học, bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán màkhi hoàn thành chúng học sinh nắm được hay hoàn thiện một tri thức hay một kĩnăng nào đó, bằng cách trả lời miệng hay trả lời viết kèm theo thực nghiệm Ởnước ta, sách giáo khoa và sách tham khảo hay các sách điện tử… thuật ngữ “bàitập” được dùng theo quan niệm này
Câu hỏi: Đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng, học sinh phải tiếnhành một loạt hoạt động tái hiện Hình thức sử dụng các câu hỏi đó có thể làbằng lời, bằng các phiếu học tập hay bằng máy chiếu Nội dung câu hỏi có thể
về kiến thức cơ bản, hoặc để rèn luyện kĩ năng hay về thực hành thí nghiệm.Trong các câu hỏi, giáo viên thường yêu cầu học sinh phải nhớ lại nội dung cácđịnh luật các quy tắc, định nghĩa, các khái niệm, trình bày lại một mục trongsách giáo khoa hoặc các câu hỏi mang tính chất gợi ý, nêu vấn đề câu hỏi cònmang tính chất củng cố nhằm khắc sâu kiến thức cho học sinh
Bài toán: Đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng, học sinh phảitiến hành một loạt hoạt động sáng tạo Hình thức sử dụng của bài toán thườngđược viết lên bảng hoặc được in thành các tài liệu Thông thường bài toán đượcphân thành hai loại chính đó là bài toán định lượng và bài toán định tính
Mục đích chính của việc sử dụng câu hỏi và bài toán mà một giáo viêncần đạt tới đó là giúp học sinh nắm vững hay hoàn thiện một tri thức hoặc một kĩnăng Ví dụ, đối với phần Hóa học Hữu cơ lớp 11 có thể ra các dạng câu hỏi vàbài toán về cách lập công thức phân tử các hợp chất hữu cơ, viết đồng phân, xácđịnh công thức cấu tạo, viết các phương trình hóa học thể hiện tính chất của cácloại nhóm chức, nhận biết các chất hữu cơ…Tùy theo tính chất của hoạt độngcần tiến hành (tái hiện hay sáng tạo) mà bài tập có thể chỉ gồm toàn những câuhỏi hay toàn những bài toán hay hỗn hợp cả câu hỏi lẫn bài toán
Tóm lại, bài tập hóa học được xem như là một phương tiện dạy học thenchốt trong quá trình dạy học, dùng bài tập trong quá trình hình thành kiến thức,khai thác kiến thức, phát triển tư duy, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho người học
18
Trang 28và kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập… Như vậy, có thể xem bài tập là một
“vũ khí” sắc bén cho giáo viên, học sinh trong quá trình dạy học và sử dụng bàitập là một trong những yêu cầu quan trọng trong quá trình dạy học nhằm nângcao chất lượng đào tạo, và nâng cao kết quả học tập cho học sinh
1.4.2 Tác dụng của bài tập hóa học
Bài tập hóa học là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để dạy HStập vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiêncứu khoa học, biến những kiến thức đã tiếp thu được qua bài giảng thành kiếnthức của chính mình Vì chỉ có vận dụng kiến thức vào giải bài tập HS mới nắmvững kiến thức một cách sâu sắc Kiến thức sẽ nhớ lâu khi được vận dụngthường xuyên như M.A Đanilôp nhận định: "Kiến thức sẽ được nắm vững thực
sự nếu HS có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập
lý thuyết và thực hành"
Bài tập hóa học là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thứcmột cách tốt nhất, đồng thời giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức đã học mộtcách sinh động, phong phú Bài tập hóa học còn làm chính xác hóa các kháiniệm, định luật đã học
Bài tập hóa học giúp phát triển tư duy, rèn luyện trí thông minh cho HS.Một số vấn đề lý thuyết cần phải đào sâu mới hiểu được trọn vẹn, một số bàitoán có tính chất đặc biệt, ngoài cách giải thông thường còn có cách giải độc đáonếu HS có tầm nhìn sắc bén Khi GV yêu cầu HS giải bằng nhiều cách và tìm racách giải ngắn nhất đó là một phương pháp rèn luyện trí thông minh cho HS
Bài tập hóa học phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thànhphương pháp học tập hợp lý
Bài tập hóa học còn được sử dụng như một phương tiện để nghiên cứu tàiliệu mới (hình thành khái niệm, định luật), khi trang bị kiến thức mới, giúp HStích cực, chủ động, lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững
Bài tập hóa học là phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng của
HS một cách chính xác
Trang 29Bài tập hóa học có tác dụng giáo dục đạo đức, tác phong như rèn tính kiênnhẫn, trung thực, chính xác, khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoahọc (có tổ chức, có kế hoạch,…), nâng cao hứng thú học tập.
Trên đây là một số tác dụng của bài tập hóa học, nhưng cần phải khẳngđịnh rằng: Bản thân bài tập hóa học chưa có tác dụng gì cả Không phải một bàitập hóa học hay thì luôn có tác dụng tích cực Vấn đề phụ thuộc chủ yếu làngười sử dụng, phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt đểmọi khía cạnh có thể có của bài toán, để HS tự tìm ra lời giải Lúc đó bài tập hóahọc mới thực sự có ý nghĩa, không phải chỉ dạy học để giải bài toán, mà là dạyhọc bằng giải bài toán
1.4.3 Phân loại bài tập hóa học
Tùy vào cơ sở phân loại mà có nhiều cách phân loại bài tập hóa học khác nhau Sau đây là các cách phân loại bài tập: Dựa vào nội dung toán học của bài tập hóa học:
- Bài tập định tính (không có tính toán)
- Bài tập định lượng (có tính toán)
Dựa vào nội dung chủ đạo của bài tập hóa học:
- Bài tập lý thuyết
- Bài tập định lượng
- Bài tập thực nghiệm
- Bài tập tổng hợp
Dựa vào hoạt động học tập của học sinh:
- Bài tập lý thuyết (không có tiến hành thí nghiệm)
- Bài tập thực hành (có tiến hành thí nghiệm)
Dựa vào chức năng của bài tập:
- Bài tập tái hiện kiến thức (hiểu, biết, vận dụng)
- Bài tập rèn luyện tư duy độc lập, sáng tạo (phân tích, tổng hợp, đánh giá) Dựa vào kiểu hay dạng bài tập:
- Bài tập xác định công thức phân tử của hợp chất
- Bài tập xác định công thức cấu tạo của chất
20
Trang 30- Bài tập xác định tính chất hóa học của chất.
- Bài tập xác định thành phần phần trăm của hỗn hợp
- Bài tập nhận biết các chất
Dựa vào khối lượng kiến thức cần giải quyết:
- Bài tập đơn giản (cơ bản)
- Bài tập phức tạp (tổng hợp) Dựa vào cách thức kiểm tra:
- Bài tập trắc nghiệm khách quan
- Bài tập trắc nghiệm tự luận Dựa vào phương pháp giải bài tập:
- Bài tập tính theo công thức và phương trình
- Bài tập biện luận
- Bài tập dùng các giá trị trung bình
Dựa vào mục đích sử dụng:
- Bài tập dùng để kiểm tra đầu giờ
- Bài tập dùng để củng cố kiến thức
- Bài tập dùng để ôn luyện, tổng kết
- Bài tập dùng để phụ đạo học sinh yếu … Dựa theo các bước của quá trình dạy học:
- Bài tập mở bài, tạo tình huống dạy học
- Bài tập vận dụng khi giảng bài mới
- Bài tập củng cố, hệ thống hóa kiến thức
- Bài tập về nhà
- Bài tập kiểm tra
Trong 10 phương pháp phân loại trên thì bài tập hóa học được phân loạichủ yếu theo nội dung toán học Các phương pháp phân loại khác được cụ thểhóa trong các trường hợp nhất định
Trang 311.4.4 Vị trí của bài tập hóa học trong quá trình dạy học
Trong thực tế dạy học hiện nay, nhiều giáo viên chưa nắm được vị trí củabài tập hóa học trong quá trình dạy học Họ thường sử dụng BT vào đầu giờ đểkiểm tra bài cũ hoặc cuối giờ học, cuối chương, cuối học kì để ôn tập và kiểm trakiến thức Quan niệm đó chưa thật đúng, làm giảm tác dụng của BT khi dạy học
GV có thể sử dụng BT ở bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào khi thấy nó có thể giúpmình thỏa mãn nhiệm vụ dạy học và mục đích dạy học Ngược lại, GV hoàntoàn có thể không sử dụng BT khi điều đó không cần thiết cho công việc giảngdạy của mình BTHH không phải là nội dung nhưng nó chứa đựng nội dung dạyhọc BT phải phù hợp với nội dung dạy học, với năng lực nhận thức của học sinh
và phải phục vụ được ý đồ của GV Khi ra một bài tập phải xác định đúng vị trícủa nó để BT trở thành một bộ phận hữu cơ của hệ thống kiến thức cần truyềnthụ
1.4.5 Xu hướng phát triển bài tập hóa học
Theo tác giả Nguyễn Xuân Trường , xu hướng xây dựng BT hóa học hiệnnay là: Loại bỏ những bài tập có nội dung hóa học nghèo nàn nhưng lại cần đếnnhững thuật toán phức tạp để giải (hệ nhiều ẩn nhiều phương trình, bất phươngtrình, phương trình bậc 2, cấp số cộng, cấp số nhân…) Loại bỏ những bài tập cónội dung léo lắt, giả định rắc rối, phức tạp, xa rời hoặc phi thực tiễn hóa học
Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm Tăng cường sử dụng bài tậptrắc nghiệm khách quan Xây dựng bài tập mới về bảo vệ môi trường và phòngchống ma túy Xây dựng bài tập mới để rèn luyện cho học sinh năng lực pháthiện vấn đề và giải quyết vấn đề
Đa dạng hóa các loại hình bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ đồ thị, sơ đồ,bài tập lắp dụng cụ thí nghiệm…Xây dựng những bài tập có nội dung hóa họcphong phú, sâu sắc, phần tính toán đơn giản, nhẹ nhàng Xây dựng và tăngcường sử dụng bài tập thực nghiệm định lượng
1.4.6 Yêu cầu của một bài tập hoá học
Xu hướng chung của bài tập hóa học trong giai đoạn hiện nay cần đảmbảo các yêu cầu sau: Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng
22
Trang 32về tính toán mà cần tập trung vào rèn luyện và phát triển năng lực nhận thức, tưduy hóa học và hành động cho học sinh Bài tập cung cấp kiến thức mới hoặckiểm nghiệm các dự đoán khoa học.
Bài tập hóa học cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức hóa học và các ứngdụng của hóa học vào thực tiễn cuộc sống, khai thác các nội dung hóa học vớivấn đề kinh tế, môi trường, hóa học với các hiện tượng tự nhiên
Bài tập hóa học định lượng không phức tạp về thuật toán mà phải chútrọng về nội dung hóa học và chứa đựng các phép tính được sử dụng nhiều trongtính toán hóa học Sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan Chuyển dần dần cácbài tập tự luận sang trắc nghiệm khách quan
1.4.7 Điều kiện để học sinh giải bài tập hóa học tốt
Nắm chắc lý thuyết: như là các định luật cơ bản về hóa học, các quá trìnhhóa học, tính chất hóa học của các chất, nắm vững đầy đủ ý nghĩa định tính vàđịnh lượng của kí hiệu công thức và phương trình hóa học
Nắm được các dạng bài tập cơ bản Nhanh chóng xác định bài tập đanggiải thuộc dạng bài tập nào
Nắm được một số phương pháp giải thích hợp với từng dạng bài tập, vàchọn phương pháp giải tối ưu nhất
Nắm được các bước giải một dạng bài tập nói chung và với một bài tậpnói riêng
Biết được một số thủ thuật và phép biến đổi như là cách giải phương trình
và hệ phương trình
1.4.8 Những chú ý khi ra bài tập và những chú ý khi chữa bài tập cho HS
Nội dung kiến thức phải nằm trong chương trình Các kết quả phải phùhợp với thực tế Phải vừa sức với trình độ HS, chú ý đến yêu cầu cần đạt được(thi tốt nghiệp hay đại học…) Phải đủ các dạng: dễ, trung bình, khó… Phải rõràng chính xác, không đánh đố HS Xác định rõ mục đích của từng bài tập, mụctiêu của tiết bài tập Đặt câu hỏi ôn tập kiến thức gì? Kiến thức cơ bản nào cầncũng cố? Những lổ hổng kiến thức nào của học sinh cần bổ sung? Hình thànhcho học sinh những phương pháp giải nào ?
Trang 33Chọn chữa các bài tập tiêu biểu điển hình, tránh trùng lặp về kiến thứccũng như về dạng bài tập Chú ý các bài có phương pháp giải mới Dạng bàiquan trọng phổ biến hay được ra thi Có trọng tâm kiến thức hóa học cần khắcsâu.
Phải nghiên cứu chuẩn bị trước thật kỹ càng như: Tính trước kết quả, giảibằng nhiều cách khác nhau Dự kiến trước những sai lầm học sinh hay mắc phải
và cả những thắc mắc của học sinh
Giúp học sinh nắm chắc các phương pháp giải các bài tập cơ bản Chữa kĩcác bài tập mẫu, khi chữa bài tập tương tự có thể cho học sinh lên bảng, chỉ nóihướng giải, các bước tiến hành, đáp số và các điểm mới cần lưu ý Ôn luyệnthường xuyên, giao bài tập về nhà
Biết sử dụng hình vẽ, sơ đồ một cách linh hoạt trong quá trình giải bàitập Cụ thể hóa các vấn đề, các quá trình trừu tượng, trình bày bảng ngắn gọn,giúp HS dễ hiểu bài và giải được nhiều bài tập khó
Cần hình thành cho học sinh kỹ năng tóm tắt đề bởi nó sẽ giúp HS hìnhdung một cách khái quát các dữ kiện tạo thuận lợi cho quá trình tư duy, tìm ralời giải Dùng phấn màu khi cần làm nổi bật các chi tiết đáng chú ý Phải biết tiếtkiệm thời gian (photo đề bài, sử dụng phiếu học tập)
Chữa bài tập cho HS yếu chú ý: yêu cầu vừa phải những bài tập cơ bản,
số liệu đơn giản, những bài tương tự, không nên giải nhiều phương pháp vì sẽlàm cho HS rối Từng bước nâng cao trình độ cho HS
Chữa bài tập với lớp có nhiều trình độ khác nhau: Phân chia bài tập rathành các phần nhỏ (các câu a, b, c…) từ thấp đến cao những câu dễ cho HS yếulàm, những câu tiếp theo cho HS khá làm
Các bước giải bài tập trên lớp: Tóm tắt đầu bài một cách ngắn gọn trênbảng Bài tập về các quá trình hóa học có thể dùng sơ đồ, hình vẽ…Xử lý các sốliệu thô thành dạng cơ bản
Gợi ý HS suy nghĩ tìm lời giải bằng cách: Phân tích các dữ kiện của đề bàixem từ đó cho ta biết được những điều gì Liên hệ với các dạng cơ bản đã giảiquyết, suy luận ngược từ yêu cầu của bài toán Trình bày lời giải viết các
24
Trang 34phương trình phản ứng xảy ra nếu có Đặt ẩn số cho các dữ kiện phải tìm, tìmmối liên hệ giữa các ẩn, lập phương trình đại số, giải phương trình, biện luận tìmkết quả.
1.5 Thực trạng sử dụng hệ thống bài tập hóa học vào dạy học ở trường THPT
1.5.1 Mục đích điều tra
1.5.1.1.Về phía giáo viên
Tìm hiểu về tình hình xây dựng HTBT của GV
Tìm hiểu cách nhìn nhận sử dụng HTBT trong dạy học của giáo viên.Tìm hiểu cách thức phương pháp áp dụng HTBT vào dạy học
1.5.1.2 Về phía học sinh
Tìm hểu thái độ, nhận thức, đam mê, hứng thú học tập môn hóa học.Chuẩn bị tiết bài tập của học sinh
Tìm hiểu những khó khăn các em gặp phải khi giải bài tập hóa học
1.5.2 Đối tượng điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra trên hai đối tượng là: HS và GV hóa học Chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu tham khảo ý kiến 60 giáo viênhóa học ở hai trường THPT Thanh Oai A và THPT Thanh Oai B Số phiếu thu hồi là 60 phiếu
Chúng tôi cũng đã gửi phiếu điều tra đên 365 HS ở hai trường THPT Thanh Oai A và THPT Thanh Oai B Số phiếu thu hồi được là 360 phiếu
Chúng tôi phát phiếu điều tra, thu thập thông tin và sử lý thông tin
1.5.3.Kết quả điều tra
Sau khi tiến hành điều tra và xử lý số liệu, chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Về mục đích sử dụng BTHH
Trang 35Bảng 1.1 Kết quả điều tra về mục đích sử dụng BTHH
Phát triển năng lực nhận thức tư duy 40(66.6%) 19(31.6%) 1(1.6%)
Nhận xét: Đa số GV chỉ chú trọng bài tập vào mục đích vận dụng, ôn tập,củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo Trong khi đó chỉ ít GV sử dụngbài tập trong việc nghiên cứu kiến thức mới vì không đủ thời gian để truyền thụkiến thức, nhưng thực chất theo cách biên soạn của sách giáo khoa mới (chủ yếutăng cường khả năng tự đọc cho HS ít ghi chép nhiều), nếu GV chuẩn bị nhữngbài tập ngắn phù hợp hoặc các bài tập thực nghiệm với nội dung của bài học vàlồng vào bài giảng sẽ giúp cho tiết học đỡ khô khan trừu tượng hơn Việc sửdụng bài tập vào mục đích hệ thống hóa kiến thức hoặc phát triển năng lực nhậnthức và tư duy là hết sức cần thiết mà không ít GV lãng quên vì chỉ với mục đíchnày thì những kiến thức rời rạc mới được hệ thống lại theo khối thống nhất liênhệ từ đầu đến cuối một cách liên tục giúp cho HS hiểu sâu hơn về lí thuyết đãhọc, lúc này bài tập hóa học mới phát huy hết tác dụng trí đức dục của nó
Tác dụng của các dạng bài tập:
Bảng 1.2: Kết quả điều tra về tác dụng của các dạng BTHH
Trang 3626
Trang 37Nhận xét: Các dạng bài tập đưa ra chủ yếu áp dụng cho học sinh trungbình, yếu Qua số liệu nghiên cứu có thể tạo động cơ hứng thú học tập cho các
em qua các dạng bài tập như phân loại viết CTCT, đồng đẳng, đồng phân là cácbài tập đơn giản học sinh dễ làm và dễ hiểu Tuy nhiên trong các dạng bài tậpnày cũng có một số dạng bài tập tạo khó khăn trở ngại cho học sinh như dạngphân biệt phản ứng hóa học và hoàn thành sơ đồ phản ứng, vì dạng bài tập này
sử dụng một lượng kiến thức khó đối với học sinh trung bình yếu khi kiến thứctổng hợp các em còn quá thiếu và yếu Việc áp dụng dạng bài tập này vào chohọc sinh cần phải xem xét lựa chọn ở mức độ phù hợp với các em Ngoài ratrong các dạng bài tập sẽ có phương pháp giải giúp cho các em có hứng thú họctập
27
Trang 38Tiểu kết chương 1
Trong chương này chúng tôi đã trình bày cơ sở lý luận của đề tài bao gồm:
1 Cơ sở lý luận về: hứng thú và nâng cao kết quả học tập cho học sinh trung bình yếu, mối quan hệ giữa BTHH và vấn đề phát triển năng lực tư duy
2 Tình hình sử dụng BTHH để phát triển tư duy cho HS hiện nay thông qua lăng kính thực tiễn
Tất cả các vấn đề trên là cơ sở cho phép chúng tôi nêu lên một số vấn đề,cần được hiểu và làm theo quan điểm tiếp cận hệ thống, góp phần tạo hứng thúhọc và nâng cao kết quả học tập cho học sinh trung bình yếu
Trang 39CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG
ĐẠI CƯƠNG VỀ HÓA HỌC HỮU
CƠ 2.1 Tổng quan chương đại cương về hóa học hữu cơ
2.1.1 Vị trí nội dung, kiến thức chương đại cương về hóa học hữu cơ
Đây là chương mở đầu, bao gồm các kiến thức đại cương về hóa hữu cơnhằm cung cấp các kiến thức cơ sở lý thuyết ban đầu dùng làm phương tiện đểnghiên cứu các hợp chất hữu cơ cụ thể ở các chương sau
Nội dung kiến thức trong phần đại cương về hóa học hữu cơ đã chú trọngđến các phần sau:
+ Khái niệm chất hữu cơ, đặc điểm chung của hợp chất hữu cơ
+ Phương pháp tách biệt và tinh chế hợp chất hữu cơ cung cấp một sốkhái niệm về phương pháp thực nghiệm cơ bản được sử dụng trong nghiên cứuhợp chất hữu cơ
+ Phân loại hợp chất hữu cơ theo nhóm chức và gọi tên theo danh phápquy định của IUPAC (tên thay thế, tên nhóm chức) Sử dụng hệ thống danh phápnày đảm bảo tính nhất quán, logic trong việc sử dụng danh pháp hóa học hữu cơtheo chuẩn quốc tế ngay từ ban đầu khi nghiên cứu hóa học hữu cơ
+ Phân tích định tính, định lượng các nguyên tố trong hợp chất hữu cơ làm cơ sở cho việc thiết lập công thức phân tử hợp chất hữu cơ
+ Cấu trúc phân tử hợp chất hữu cơ có xem xét đến thuyết cấu tạo hóahọc, hiện tượng đồng đẳng, đồng phân, các dạng liên kết trong hóa học hữu cơ, cấutrúc không gian của phân tử hợp chất hữu cơ
+ Phản ứng hữu cơ có nghiên cứu đến các dạng phản ứng hóa học hữu cơ(thế, cộng, tách, phân hủy) và quá trình phản ứng có sự phân cắt các liên kếtcộng hóa trị trong hợp chất hữu cơ tạo ra các sản phẩm trung gian rất kém bền làcác gốc tự do, cacbocation
Vậy nội dung kiến thức trong chương là cơ sở lý thuyết ban đầu giúp chohọc sinh nghiên cứu các hợp chất hữu cơ được thuận tiện và sâu sắc hơn
29
Trang 402.1.2 Mục tiêu kiến thức của chương
- Sau khi nghiên cứu kiến thức trong chương học sinh biết đươc:
+ Thế nào là hợp chất hữu cơ, hóa học hữu cơ, phân loại, khái niệm đồngđẳng, đồng phân, CTĐG, CTCT, CTPT, những đặc điểm của hợp chất hữu cơ, cácphương pháp phân tích định, định lượng, liên kết hóa học và cấu trúc phân tử.+ Phương pháp nghiên cứu xác định công thức phân tử, cấu trúc phân tử hợp chất hữu cơ, cách biểu thị và danh pháp
+ Các dạng phản ứng hữu cơ cơ bản: Phản ứng thế, cộng hợp, tách, phân hủy và đặc điểm của mỗi loại phản ứng
- Học sinh hiểu được:
+ Cấu trúc phân tử hợp chất hữu cơ có quan hệ chặt chẽ với tính chất vật
lí và tinh chất hóa học
+ Nguyên nhân của hiện tượng đồng đẳng, đồng phân
- Học sinh vận dụng kiến thức để:
+ Giải thích các tính chất vật lí của hợp chất hữu cơ dựa vào cấu tạo phân
tử và cấu trúc hóa học của chất
+ Giải các bài toán lập công thức phân tử, công thức cấu tạo của hợp chất hữu cơ, gọi tên
- Học sinh có lòng say mê hóa học, phương pháp nghiên cứu khám phátìm tòi, phát triển tư duy phân tích tổng hợp và có ý thức vận dụng kiến thứctrong giải bài toán tìm công thức hợp chất hữu cơ
2.1.3 Một số lưu ý về phương pháp dạy học chương đại cương về hóa học hữu cơ
Đây là chương nghiên cứu mở đầu nhằm cung cấp kiến thức ban đầu cơbản nhất dùng làm phương tiện, cơ sở lý thuyết để nghiên cứu những loại hợpchất hữu cơ cụ thể ở các chương sau Khi giảng dạy chương đại cương về hóahọc hữu cơ cần lưu ý một số điểm sau: