1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những biện pháp vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông luận văn ths 60 14 10

112 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 164,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự lựa chọn một hướng quan trọng trong quan điểm tiếp cận đồng bộ : tiếp cận lịch sử phát sinh và việc vận dụng một cách thích hợp những hiểu biết ngoài văn bản xã hội, văn hóa, nhà văn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐỖ THỊ THU HÀ

NHỮNG BIỆN PHÁP VẬN DỤNG HIỂU BIẾT NGOÀI VĂN BẢN

ĐỂ GIẢI MÃ TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Ở TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy

học (Bộ môn Ngữ văn)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: GS NGND Phan Trọng Luận

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

DANH MỤC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Giới hạn và đối tượng nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Giả thuyết của luận văn 5

7 Phương pháp nghiên cứu 6

8 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Khái quát về ưu thế và nhược điểm của những khuynh hướng tiếp cận tác phẩm văn chương trong quá trình phát triển văn học 7

1.1.2 Bước phát triển mới của quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường hiện nay 12

1.1.3 Sự lựa chọn một hướng quan trọng trong quan điểm tiếp cận đồng bộ : tiếp cận lịch sử phát sinh và việc vận dụng một cách thích hợp những hiểu biết ngoài văn bản (xã hội, văn hóa, nhà văn … ) để cắt nghĩa tác phẩm

17 1.2 Cơ sở thực tiễn 33

1.2.1 Khảo sát tình hình vận dụng hiểu biết ngoài văn bản ở THPT hiện nay 33

Trang 4

1.2.2 Một số kết luận rút ra từ quá trình khảo sát 39

Chương 2: NHỮNG BIỆN PHÁP VẬN DỤNG HIỂU BIẾT

NGOÀI VĂN BẢN ĐỂ GIẢI MÃ TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG

Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 452.1 Hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn học sử và mục Tiểu dẫn SGK 452.2 Hướng dẫn học sinh vận dụng những hiểu biết về tâm sự của

nhà văn để giải mã tác phẩm 502.3 Hướng dẫn học sinh khai thác ý kiến các nhà phê bình nghiên

cứu, ý kiến các nhà văn khác về nhà văn và tác phẩm được học 552.4 Hướng dẫn học sinh khai thác hiểu biết ngoài văn bản từ chính bảnthân 64

Chương 3 THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM ÁP DỤNG

NHỮNG BIỆN PHÁP VẬN DỤNG HIỂU BIẾT NGOÀI VĂN

BẢN ĐỂ GIẢI MÃ TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Ở TRUNG

HỌC PHỔ THÔNG 673.1 Thiết kế bài giảng 673.2 Kết luận rút ra từ việc thiết kế bài giảng áp dụng những biện phápvận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương ở

Trung học phổ thông 92

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương ở THPT là hướng tiếp cận quan trọng mang tính khoa học

Nhiều thập kỉ qua, phương pháp tiếp cận lịch sử phát sinh được áp dụng

trong nghiên cứu phê bình văn học đã đạt hiệu quả và gặt hái những thànhcông to lớn không thể phủ nhận Đây là cách tiếp cận tác phẩm văn học chínhxác, khoa học, hiệu quả, đáng tin cậy Theo quan điểm của lí luận văn nghệmác xít, văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù mang tính thẩm mĩ,văn học bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ quan điểm, lậptrường của người viết với đời sống Đối tượng phản ánh của văn học là cácquan hệ hiện thực mà trung tâm là con người xã hội Vì vậy, muốn hiểu nộidung ý nghĩa các hình tượng nghệ thuật nhà văn hư cấu trong tác phẩm, cầnphải được soi chiếu từ góc độ hiện thực

Theo thời gian, trong sự biến động nhiều mặt của nền kinh tế, chính trị, xãhội thế giới, một số trường phái lí luận mới xuất hiện với nhiều phát hiện,khám phá mới mẻ đáng ghi nhận Tuy nhiên, chính vì đề cao cái mới Tuynhiên, chính vì đề cao cái mới, muốn cổ súy cho tính ưu việt của các tân líthuyết về tiếp cận văn học, đã có những ý kiến cực đoan phủ nhận hoàn toànphương pháp tiếp cận lịch sử xã hội đang được sử dụng lâu nay Tùy theotừng trường phái mà văn nghệ mác xít, văn học là một hình thái ý thức xã hộiđặc thù mang tính thẩm mĩ, văn học bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đờisống, bày tỏ quan điểm, lập trường của người viết với đời sống Đối tượngphản ánh của văn học là các quan hệ hiện thực mà trung tâm là con người xãhội Vì vậy, muốn hiểu nội dung ý nghĩa các hình tượng nghệ thuật nhà văn

hư cấu trong tác phẩm, cần phải được soi chiếu từ góc độ hiện thực

Theo thời gian, trong sự biến động nhiều mặt của nền kinh tế, chính trị, xã hội thế giới, một số trường phái lí luận mới xuất đề cao vai trò của văn bản

Trang 6

hay của người đọc trong việc khám phá ý nghĩa tác phẩm văn chương Họcho rằng, phương pháp cắt nghĩa tác phẩm bằng các hiện tượng xã hội, đi từnhững hiểu biết ngoài văn bản để hiểu văn bản là cách thức lỗi thời, lạc hậu,mang tính áp đặt và dung tục Bởi nếu chỉ quan tâm đến những hiểu biết xãhội, con người nhà văn để tìm hiểu một tác phẩm văn học dễ đi đến khuynhhướng xã hội học dung tục Nhưng không vì thế mà gạt bỏ hoặc xem nhẹkhuynh hướng tiếp cận lịch sử xã hội đã khẳng định giá trị và sự tồn tại của

nó qua nhiều thập kỉ nay

Trong sự chồng chéo phức tạp của những luồng tư tưởng khác nhau ở cáctrường phái đối lập, đã xuất hiện một phương pháp mới tiến bộ trên thế giớicũng như ở Việt Nam: khuynh hướng tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương.Đây là hướng đi đúng đắn cho các hệ thống phương pháp lí luận văn học đangtrong giai đoạn phát triển đa chiều nhưng thiếu sự thống nhất và đồng thuận.Phương pháp tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương chú trọng sự hài hòa, tiếpthu những mặt ưu điểm, tích cực, hợp lí, khoa học của tất cả các khuynh hướngkhác nhau để tạo thành một phương pháp hoàn chỉnh, có khả năng tìm hiểu tácphẩm văn chương trong cái nhìn bao quát, đầy đủ và toàn vẹn

Trên cơ sở phát triển lí thuyết về phương pháp tiếp cận đồng bộ tác phẩm vănchương, không thể không quan tâm đến phương pháp tiếp cận lịch sử phát sinh.Đây là một trong ba phương pháp quan trọng gắn kết thành một thế chân kiềngtạo nên sự vững chắc cho phương pháp tiếp cận đồng bộ Lâu nay, vì sự pháttriển mạnh mẽ của các phương pháp mới mà người ta nghi ngờ, phủ nhận hoặcquên đi khuynh hướng tiếp cận lịch sử xã hội đã từng được sử dụng và có nhữngđóng góp không nhỏ cho quá trình phát triển văn học.Vì vậy, chúng tôi chọn đềtài này với mục đích một lần nữa khẳng định tầm quan trọng và tính tất yếu củaviệc vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương trongmối quan hệ gắn bó hữu cơ với phương pháp tiếp cận đồng

Trang 7

bộ, một phương pháp tiên tiến đang thu hút sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới.

1.2 Việc vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương của GV trong nhà trường hiện nay chưa được quan tâm đúng mức

Cùng với sự phát triển và tầm ảnh hưởng của các trường phái lí thuyết tiếpcận văn chương khác nhau, việc giảng dạy văn học trong nhà trường cũngkhông tránh khỏi những chao đảo nhất định Có những đổi mới, tìm tòi, sángtạo của GV ở các giờ lên lớp đã áp dụng khá tốt ưu thế của các khuynhhướng tiếp cận văn bản hay hướng vào đáp ứng của người học Tuy nhiên,theo quan sát và tìm hiểu, các GV hiện nay đang ít quan tâm hoặc áp dụngmột cách máy móc việc vận dụng phương pháp tiếp cận lịch sử phát sinh đểhướng dẫn HS khám phá tác phẩm văn học Vì vậy, trong các giờ học có thểdiễn ra hai hướng sau: Một là, GV hầu như bỏ qua các kiến thức về tác giả,tác phẩm (dạy qua loa, đại khái, sơ lược) Thứ hai, GV áp dụng máy móc, xơcứng các kiến thức lịch sử xã hội, tác giả tác phẩm vào việc đọc hiểu văn bản,khiến giờ học văn chương của HS trở nên bị áp đặt và khiên cưỡng Vì GV ítchú ý, thiếu quan tâm, không xem trọng các kiến thức lịch sử xã hội, nhữnghiểu biết ngoài văn bản để giải mã, cắt nghĩa tác phẩm văn chương đã dẫnđến việc giảng dạy môn văn ở THPT chưa đạt được kết quả cần có

Đề tài cố gắng đem đến một phương pháp làm thế nào vận dụng hiểu biếtngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn học một cách hiệu quả nhất, nhằmnâng cao chất lượng dạy và học tác phẩm văn chương ở THPT

2 Lịch sử vấn đề

Trong lịch sử phát triển văn học, những hình thức tiếp cận, đánh giá tácphẩm văn chương được giới nghiên cứu phê bình văn học rất quan tâm chú ý.Tuy nhiên, đối với khuynh hướng tiếp cận lịch sử phái sinh hầu như chưa thực

sự có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách rõ ràng, cụ thể

Trang 8

Người viết đề tài căn cứ vào bài viết của giáo sư Phan Trọng Luận trong cuốn

Phương pháp dạy học văn (xuất bản năm 2004) bàn về phương pháp tiếp cận

đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường và phát triển sâu hơn mộtbước một trong ba mũi tiếp cận của phương pháp này: mũi tiếp cận lịch sửphát sinh

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Trong quá trình phát triển của lịch sử lí luận, phương pháp tiếp cận văn

học, đã có thời kì phương pháp tiếp cận lịch sử phát sinh được đề cao Theothời gian, sự xuất hiện của những phương pháp mới dần chiếm lĩnh và có xuhướng phủ nhận cái cũ, việc giải mã tác tác phẩm văn chương thông quanhững kiến thức lịch sử xã hội không còn được xem trọng Phương pháp tiếpcận đồng bộ với bước phát triển mới và những ưu thế đang được khẳng định

đã trả lại vị trí, vai trò không thể thiếu của phương pháp tiếp cận lịch sử phátsinh trong mối quan hệ thống nhất hữu cơ với các phương pháp khác Vì vậy,

ở đề tài này chúng tôi muốn một lần nữa khẳng định vai trò, ý nghĩa quantrọng của việc vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm vănchương ở THPT

3.2 Cùng với việc nghiên cứu lí thuyết, mục đích của đề tài còn trực tiếp

tham gia tìm hiểu việc vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩmvăn chương trong giảng dạy của GV ở THPT Trên cơ sở đó sẽ đưa ra cácphương án tối ưu, những biện pháp thích hợp góp phần nâng cao chất lượng,hiệu quả của giờ học văn

4 Giới hạn và đối tượng nghiên cứu

Tác giả đề tài tiến hành nghiên cứu trên cơ sở tổng hợp và phân tích những dữliệu sau:

- Những cuốn sách về Lí luận văn học, những tài liệu, bài viết liên quan đếnphương pháp sáng tác, lao động nhà văn, tâm lí học sáng tạo văn học, nhà văn

Trang 9

nói về tác phẩm…Đặc biệt là những công trình về phương pháp tiếp cận tác phẩm văn chương của các nhà khoa học.

-Những kiến thức về tác giả, tác phẩm được trình bày trong bộ SGK Ngữ văn THPT hiện hành

- Các giáo án và giờ dạy của đồng nghiệp mà tác giả đề tài tiến hành khảo sát

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Tìm hiểu các cách thức tiếp cận để giải mã tác phẩm văn chương trong

nhà trường Giải thích vai trò, ý nghĩa của cách tiếp cận cắt nghĩa tác phẩmvăn chương bằng những hiểu biết ngoài văn bản

5.2 Thống kê, phân tích, nhận xét những kiến thức ngoài văn bản (Mục Tiểu

dẫn, phần tác giả, phần văn học sử) được trình bày trong SGK THPT hiệnhành

5.3 Khảo sát giáo án và giờ dạy của GV ở THPT, đưa ra kết luận, nhận xét

khái quát

5.4 Đề xuất phương pháp vận dụng hợp lí hiểu biết ngoài văn bản để giải mã

tác phẩm văn chương ở THPT một cách hiệu quả

5.5 Thiết kế giáo án thể nghiệm trong đó thể hiện được cách vận dụng tối ưu

những hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương ở THPT

6 Giả thuyết của luận văn

6.1 Vận dụng hiểu biết ngoài văn bản là một trong ba mũi tiếp cận quan trọng,

cơ bản, cần thiết của phương pháp tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương ởTHPT Nếu thiếu đi mũi tiếp cận này đồng nghĩa với việc làm giảm chất lượng,hiệu quả của việc khám phá, phân tích, cắt nghĩa tác phẩm văn học

6.2 Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn, luận văn tiến hành nghiên cứu và

đề xuất các biện pháp vận dụng hợp lí hiểu biết ngoài văn bản để giúp GV cócái nhìn toàn diện, chính xác, hệ thống về các cách thức hướng dẫn HS tì mhiểu tác phẩm thông qua kiến thức lịch sử xã hội Từ đó sẽ góp phần nâng caochất lượng và hiệu quả giờ học tác phẩm văn chương ở THPT hiện nay

Trang 10

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống; phương pháp nghiên cứu tài liệu; tổng

hợp và vận dụng lí luận

7.2 Phương pháp khảo sát thực tế: Tiến hành khảo sát giáo án và dự giờ dạy

của GV và HS trong nhà trường THPT

7.3 Phương pháp thể nghiệm giáo án bài dạy: soạn giáo án minh họa.

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo; phần nội dung được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Những biện pháp vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải

mã tác phẩm văn chương ở THPT

Chương 3: Thiết kế giáo án thể nghiệm áp dụng biện pháp vận dụng hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương ở THPT

Trang 11

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC

TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái quát về ưu thế và nhược điểm của những khuynh hướng tiếp cận tác phẩm văn chương trong quá trình phát triển văn học

Việc phân tích, tiếp cận tác phẩm văn chương trong nhà trường các nướcnhiều thập kỷ qua đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp của sự biến đổi cáckhuynh hướng và phương pháp nghiên cứu phê bình văn học Có sự biến đổinày là do những tác động trong quan niệm khác nhau về tác phẩm văn học

1.1.1.1 Những khuynh hướng tiếp cận khác nhau

* Khuynh hướng tiếp cận theo phương pháp lịch sử xã hội

Quan niệm về tác phẩm văn học hình thành dần dần, bắt đầu từ quan hệchỉnh thể với bộ phận Thời cổ đại Hi Lạp, Aristote đã nhìn tác phẩm nghệthuật dưới góc độ triết học và đưa ra khái niệm chỉnh thể hữu cơ Đến thờitriết học cổ điển Đức, Hegel trong công trình Mĩ học đã coi tác phẩm thơ (vănhọc) nói chung là chỉnh thể và bộ phận, đó là “sản phẩm của trí tưởng tượngphóng túng tự do được biểu hiện dưới hình thức một tổng thể hữu cơ khépkín, hữu hạn mà mỗi bộ phận của nó đều trọn vẹn” Ông chia tác phẩm nghệthuật làm 2 thành phần : bên ngoài và bên trong, hình thức và nội dung, chothấy phương diện biểu đạt của tác phẩm Sau Hegel từ V.Bielinski,N.Chernyshevski cho đến các nhà lí luận văn học macxit như V.Plekhanov,A.Lunacharski nói chung đều hiểu tác phẩm văn học dưới góc độ thống nhấthình thức và nội dung Tuy nhiên, vì dựa vào cặp phạm trù triết học có tínhphổ quát là “nội dung” và “hình thức”, mà nội dung quyết định hình thức nênngười ta ưu tiên đi tìm bản chất nội dung văn học, mở ra các quan niệm xãhội học, văn hoá học của văn học, do đó ít quan tâm đến thực chất đặc trưngnghệ thuật và thẩm mỹ của tác phẩm văn học

Sau quan niệm cổ điển là quan điểm thực chứng Đại diện của trường pháinày là H.Taine cho rằng nghiên cứu văn học chỉ cần 3 yếu tố “chủng tộc”

Trang 12

“hoàn cảnh” “thời đại” là đủ Theo ông bản thân tác phẩm văn học hầu nhưkhông có giá trị độc lập tự thân nào Tiếp theo phái thực chứng, các nhà phêbình lãng mạn chủ nghĩa lại xem tác phẩm là sự biểu hiện của tình cảm, cảmxúc, cá tính nhà văn nên đã tập trung chú ý vào cá nhân nhà văn.

Như vậy, trước thế kỷ XX, khuynh hướng tiếp cận tác phẩm theo phươngpháp lịch sử xã hội luôn được xem trọng và đề cao Đến thế kỷ XX, nhữngquan niệm mới về tác phẩm văn học dần được hình thành.[44,tr.12-17]

*Khuynh hướng tiếp cận tác phẩm theo hình thức, cấu trúc văn bảnChủ nghĩa hình thức Nga là trường phái lý luận văn học đầu tiên nghiêncứu văn học như 1 giá trị sáng tạo ngôn ngữ độc lập Họ phản đối phươngpháp nhị phân tác phẩm văn học thành nội dung và hình thức Họ đề nghị xemtác phẩm như là hiện tượng đời sống, là kinh nghiệm sống do nhà văn lựachọn, nắm bắt, còn hình thức là sự gia công, cải tạo chất liệu bằng thủ phápnghệ thuật Do đó, để hiểu tác phẩm, không cần bàn về chất liệu đời sống màchỉ cần phân tích thủ pháp nghệ thuật để hiểu nội dung là đủ Đây là quanniệm có phần thiên lệch, giản đơn, rút gọn nghệ thuật vào thư pháp, quá đềcao tầm quan trọng của hình thức, khẳng định tính quyết định của hình thức,

đi ngược lại quan niệm truyền thống

Trường phái “phê bình mới” của Anh, Mĩ cũng cho rằng việc tách bạch cơgiới nội dung với hình thức là điều phi lí Họ coi nội dung tác phẩm là cấutrúc, coi biểu hiện ngôn từ là cơ chất, cơ chất mới là nơi biểu hiện chất văn.Chủ nghĩa cấu trúc đi sâu hơn một bước, đem “văn bản” thay cho “tác phẩm”,chủ trương không nghiên cứu tác phẩm văn học cụ thể, mà chỉ nghiên cứucấu trúc trừu tượng của văn học, tức là chỉ tìm những nguyên tắc chìm, có tácdụng chi phối làm cho tác phẩm ngôn từ trở thành tác phẩm có “chất vănhọc”

Chủ nghĩa cấu trúc xem văn học như một ngôn ngữ Vận dụng sự phân biệt

“ngôn ngữ” và “lời nói” là do nhà ngôn ngữ học F.De Saurssure đưa ra Nhà

Trang 13

cấu trúc chủ nghĩa đã phân biệt tác phẩm cụ thể ( lời nói ) với cấu trúc ( ngônngữ ) và chỉ nghiên cứu cấu trúc mà thôi Cấu trúc là một cấu tạo trừu tượng,gồm quan hệ của các yếu tố trong văn bản, mà tác phẩm cụ thể chỉ là các biểuhiện khác nhau của một cấu trúc đó Quan niệm về cấu trúc văn học của cácnhà cấu trúc chủ nghĩa rất đa dạng và phức tạp Nhìn chung cấu trúc tác phẩmchưa phải là tác phẩm vì tác phẩm là một “cấu tạo siêu ngôn ngữ”, nó là phátngôn đặc thù gắn với hoạt động của nhà văn và bạn đọc Do khép kín trongngôn ngữ, quan niệm cấu trúc chẳng những xem nhẹ vai trò sáng tạo của tácgiả mà cũng không thấy vai trò đồng sáng tạo của người đọc Tuy nhiên chủnghĩa cấu trúc đã sáng tạo một bộ máy công cụ rất có giá trị để đi sâu phântích tác phẩm văn học.[44,tr.18-21]

* Khuynh hướng tiếp cận tác phẩm theo phương pháp hướng vào đáp ứng của người đọc

Lí luận tiếp nhận văn học chú trọng phân biệt “văn bản” với “tác phẩm” vàlàm thay đổi căn bản quan niệm về tác phẩm Văn bản là một tổ chức ký hiệuđược sáng tạo ra cho người đọc, tồn tại trước khi có hoạt động đọc củangười đọc Văn bản là một chuỗi ký hiệu được in trên giấy, là một cấu trúc cótính lược đồ, nhiều tầng bậc, chưa xác định Nó không tự sản sinh ý nghĩanếu không được đọc thì nó cũng chẳng khác gì các từ trong từ điển Tác phẩm

là sản phẩm tiếp nhận văn bản, tồn tại trong ý thức người đọc Tất nhiên tácphẩm không đồng nhất với bất cứ sự cụ thể hoá văn bản cá biệt của người đọc

cụ thể nào Theo lý lụân tiếp nhận thì tác phẩm do hai yếu tố tạo thành: vănbản (trong chất liệu) và khách thể thẩm mỹ (trong tâm trí) Văn bản có thể tồntại qua các thời đại, còn tác phẩm do người đọc cụ thể hoá, đồng sáng tạo nênluôn mang tính chất lịch sử, mỗi thời một khác, tuỳ theo cách tiếp nhận của xãhội, lịch sử thời đó

Quan niệm hiện tượng học cho rằng, mọi khách thể đều do vô vàn nhân tốxác định mà hoạt động nhận thức không bao giờ có thể bao quát hết vì thế

Trang 14

khách thể trong văn học bao giờ cũng có những khoảng trống, những điểmchưa xác định Quan niệm này có cơ sở trong lí thuyết nhận thức luận phátsinh Văn bản luôn có những khoảng trống, khoảng trắng chỗ đứt đoạn để chongười đọc đồng sáng tạo Tuy nhiên, không nên hiểu tính lược đồ này chỉ là

sơ đồ trừu tượng, không cụ thể, vì văn bản văn học với chữ nghĩa, hình tượngbao giờ cũng sinh động giàu chi tiết và sức gợi Vấn đề là văn bản thường chỉcung cấp cái thông báo, mà thông báo có khoảng trống nên ý nghĩa không xácđịnh Sự cụ thể hoá văn bản của người đọc cũng có quy luật của nó, khôngphải mọi sự cụ thể hóa đều có giá trị thẩm mỹ như nhau

Quan niệm hậu cấu trúc cho rằng văn bản có tính liên văn bản, nghĩa là mọivăn bản đều giống như loại đồ khảm các hành văn khác nhau, văn bản nàocũng hấp thu và chuyển hóa các văn bản khác (J.Kristeva) Tất nhiên liên vănbản không có nghĩa là sao chép lẫn nhau, mà như R.Barthes nói, mọi văn bảnđều là liên văn bản với nghĩa là bao hàm tiền văn bản, văn bản văn hoá, vănbản nhìn thấy và văn bản không nhìn thấy, sự dẫn văn vô thức và tự động Vìthế liên văn bản nói lên tính xã hội, tính chỉnh thể, tính sản sinh của văn bản

Nó là một sự truyền bá Do sự tồn tại giữa các văn bản, có vô vàn quan hệchằng chịt với các văn bản khác, một văn bản trong quá trình hình thành vàtiếp nhận đều mang tính liên văn bản

Cùng với lí thuyết tiếp nhận, lý luận phản ứng của người đọc xem văn bản chỉ là cái khung trống rỗng, chỉ khi người đọc xuất phát từ tình huống của mình để tìm ý nghĩa “rót” nội dung cụ thể vào thì mới thành tác phẩm Người đọc trở thành kẻ sáng tạo ý nghĩa tác phẩm, tác giả hầu như chẳng có vai trò

gì Quan niệm này có phần cực đoan, bởi vì hoạt động đọc không thể thoát li,

bất chấp văn bản, mà văn bản là sự thể hiện của tác giả [44,tr.21-24] 1.1.1.2 Những kết luận chung về các khuynh hướng

Như vậy, tuỳ theo những quan niệm khác nhau về phương thức tồn tại của tác phẩm văn học trong các thời kỳ lịch sử để tạo ra sự đa dạng, khác biệt

Trang 15

trong cách thức tiếp cận tác phẩm văn chương ở các khuynh hướng khácnhau Ở Việt Nam, đã có những cách tiếp cận tìm hiểu văn chương đi theonhững chiều hướng đúng sai khác nhau tuỳ theo sự am hiểu tinh thôngphương pháp luận nghiên cứu văn học, tuỳ theo bản lĩnh khoa học của mỗingười Có khuynh hướng coi trọng hoàn cảnh phát sinh hay tuyệt đối hoá yếu

tố ngoài tác phẩm Có khuynh hướng khám phá cấu trúc văn bản một cáchkhoa học Lại có cách tiếp cận biệt lập văn bản khỏi hoàn cảnh phát sinh,hướng vào bạn đọc không khép kín trong văn bản hay cường điệu hoá sởthích cảm thụ chủ quan của người đọc đi đến thoát ly văn bản Từ lâu, người

ta đã phê phán khuynh hướng tiếp cận “phi văn bản” “ngoài văn bản”, “trênvăn bản” hoặc khuynh hướng phân tích không địa chỉ Tóm lại, nếu chúng taquá cường điệu hay máy móc trong phương pháp luận tiếp cận tác phẩm vănchương nhất định sẽ đưa đến hậu quả thiếu khách quan và phản khoa học.Bởi đơn giản, khi phân tích bất cứ một phương pháp tiếp cận tác phẩm vănchương nào trên đây ta đều nhận thấy những đóng góp, những ưu điểm tíchcực, nhưng không phải không có những mặt hạn chế.[23,tr.181]

Chúng ta vẫn có thể xem xét, chọn lọc, tiếp nhận những điều hợp lí trongquan niệm, nhất là trong phương pháp của các lí thuyết nói trên Có thể rút ramột kết luận khoa học và cơ bản đối với người nghiên cứu và giảng dạy vănhọc: phải luôn luôn nắm vững một quan điểm tiếp cận đồng bộ, một sự vậndụng hài hoà các phương pháp lịch sử phát sinh, cấu trúc văn bản và lịch sửchức năng khi tiếp cận tác phẩm văn chương Đây là phương pháp tiếp cậnkhoa học được xây dựng từ nhận thức đúng đắn về nguồn gốc của văn học, vềbản chất cấu trúc và sinh mệnh của tác phẩm văn chương Đó cũng là sự vậndụng nhuần nhuyễn những quan điểm khách quan và khoa học về sáng tác vàtiếp nhận văn chương vào việc tìm hiểu một tác phẩm văn chương cụ thể

Trang 16

1.1.2 Bước phát triển mới của quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường hiện nay

Trên thế giới, một số nhà sư phạm Mĩ tuy không vận dụng khái niệm “tiếpcận đồng bộ” song đã nhấn mạnh đến bốn quan điểm : xã hội, văn hoá, vănbản và chủ đề Thực chất đó cũng là sự phân chia rạch ròi các phương diệncủa quan điểm tiếp cận đồng bộ một tác phẩm mà giáo trình phương phápgiảng dạy văn học ở Mĩ đang rất quan tâm

Ở Việt Nam, giáo sư Phan Trọng Luận trong các công trình nghiên cứu về

phương pháp giảng dạy văn học của mình đã rất tâm huyết với vấn đề tiếpcận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường hiện nay

Theo giáo sư, tiếp cận đồng bộ là sự vận dụng hài hoà các phương pháplịch sử phát sinh, cấu trúc văn bản và lịch sử chức năng khi tiếp cận tác phẩmvăn chương Như vậy, đối với bất kỳ tác phẩm văn chương cụ thể nào, muốntìm hiểu phân tích, giải mã được thấu đáo, khoa học khách quan cũng khôngthể thiếu đi một trong những hướng tiếp cận văn bản sau:

1.1.2.1 Quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh

Văn học cũng như mỗi tác phẩm văn chương luôn luôn ra đời trong nhưngbối cảnh lịch sử xã hội văn hoá cụ thể, những yếu tố đó thẩm thấu, chắt lọcthông qua lăng kính của nhà văn để đi vào tác phẩm Vì vậy, muốn nghiên cứumột tác phẩm văn chương cụ thể chúng ta không thể không tìm đến bối cảnh

và nhà văn Đành rằng những tác phẩm văn chương kiệt xuất bao giờ cũng có

ý nghĩa phổ quát toàn nhân loại, nhưng không phải vì vậy mà mỗi tác phẩmvăn chương ấy lại mất đi giá trị lịch sử cụ thể của nó

Tiếp cận lịch sử phát sinh là đi từ những yếu tố ngoài văn bản để cắt nghĩa,giải mã ý nghĩa nội dung tư tưởng của tác phẩm Yếu tố ngoài văn bản trướctiên là bối cảnh, hoàn cảnh xã hội, là khoảng thời gian, không gian nơi mà tácphẩm văn học được sản sinh Nửa cuối thế kỉ XIII đến nửa đầu thế kỉ XIX làthời kì chế độ phong kiến suy tàn, mục ruỗng đến cùng kiệt Mâu thuẫn ngày

Trang 17

càng gay gắt trong nội bộ giai cấp thống trị và giữa giai cấp thống trị với cáctầng lớp nhân dân Vì vậy văn học giai đoạn này chứa đựng một tinh thầnchống phong kiến khá cao, vai trò của quần chúng được phản ánh trong vă nhọc, hình thức nghệ thuật ngôn ngữ quần chúng được coi trọng và trở thànhnhững phương tiện phổ biến Các sự kiện lịch sử tiêu biểu trong phong tràođấu tranh của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng qua các cao trào XôViết – Nghệ Tĩnh, phong trào Mặt trận dân chủ, cao trào “đánh Pháp đuổiNhật” tiến tới khởi nghĩa tháng Tám Bối cảnh đó đã quyết định tới sự pháttriển của phong trào văn học cách mạng, văn học hiện thực và sự bế tắc cóphần suy đồi của văn học lãng mạn…[20]

Phần quan trọng thứ hai ở yếu tố ngoài văn bản là tác giả, cha đẻ của nhữngđứa con tinh thần chứa đựng cảm xúc, tình cảm, ước mơ, khát vọng…củachính người đã hoài thai ra nó Muốn tìm hiểu nội dung sáng tác của nhà văncần phải nắm được tiểu sử tác giả Nói đến tiểu sử là nói đến hoàn cảnh sinhsống, vị trí giai cấp, quan hệ xã hội…nghĩa là những điều kiện làm nguyênnhân và cơ sở cho việc hình thành thế giới quan, nhân sinh quan của nhà văn.Những điều kiện về thế giới quan sẽ quyết định tới sáng tác của nhà văn Hiểuđược hoàn cảnh sống của Hồ Xuân Hương, cuộc đời, tình duyên có nhiều éo

le, ngang trái ta sẽ hiểu vì sao bà lại nhiệt tình bênh vực cho hạnh phúc củangười phụ nữ, kịch liệt lên án cảnh phải chia sẻ trong hạnh phúc vợ chồng

“ Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung”

Hiểu được thế giới quan của Nguyễn Du mới hiểu được mối mâu thuẫntrong tư tưởng Truyện Kiều Một mặt, nhà văn tố cáo thế lực phong kiến bấtcông, tàn bạo là nguyên nhân trực tiếp xô đẩy người con gái tài sắc hiếu hạnhThúy Kiều rơi vào vực thẳm của bùn lầy đen tối và đau khổ Mặt khác, ông lại

đổ lỗi cho:

Trang 18

“ Ngẫm thay muôn sự tại trời Trời kia đã bắt làm người có thân Bắt phong trần phải phong trần Cho thanh cao mới được phần thanh cao”

Như vậy, mỗi tác phẩm văn chương bao giờ cũng là một lời nhắn gửi trựctiếp hay gián tiếp, kín đáo hay công khai của nhà văn về cuộc đời và với cuộcsống Quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh sẽ đem đến một cách hiểu và cảmthụ tác phẩm đúng đắn, khoa học, chính xác theo ý đồ sáng tác của tác giả.[20,tr.47-48]

Ưu thế của cách tiếp cận này đã được khẳng định từ nhiều thập kỉ nay, tuynhiên không phải là không có những mặt hạn chế Một thời đã có quan niệmcho rằng tác giả là người duy nhất đem lại nội dung tư tưởng cho tác phẩm.Một khi đã được sáng tác ra thì tác phẩm văn học đã có sẵn nội dung, tưtưởng rõ ràng, có đề tài, chủ đề xác định chỉ chờ người đọc đến tiếp nhận thụđộng nữa mà thôi Đối với từng tác phẩm văn học cụ thể, người ta cho rằngchỉ có một cách hiểu duy nhất đúng, tức là cách hiểu phù hợp với ý định banđầu của tác giả Quan niệm đồng nhất ý định tác giả với tác phẩm tạo nên lốinghiên cứu đi từ tác giả để hiểu tác phẩm Hoặc cũng có khi người ta quá chútrọng vào nghiên cứu bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh xã hội khiến tác phẩm trởthành một bức tranh xã hội hai màu về xã hội và con người khô khan và xơcứng Vì thế cần có một công trình nghiên cứu nghiêm túc về việc ứng dụngphương pháp tiếp cận lịch sử phát sinh với cách thức, liều lượng như thế nào

để khai thác được ưu thế và đạt hiệu quả cao nhất trong việc cắt nghĩa, phântích và giảng dạy tác phẩm văn chương

1.1.2.2 Quan điểm tiếp cận văn bản

Hiểu biết ngoài văn bản là quan trọng nhưng cũng không thể thay đượcviệc khám phá bản thân văn bản Quan điểm tiếp cận văn bản giúp người đọc,

Trang 19

người nghiên cứu giảng dạy không thoát ly văn bản vốn là đề án tiếp nhận mànhà văn muốn gửi đến bạn đọc.

Đặc trưng cơ bản của văn bản nghệ thuật là thông tin thẩm mĩ Nhà văngửi đến cuộc đời niềm xúc động mãnh liệt nhất, những rung động tha thiếtnhất về cuộc sống và con người Đây là điểm mấu chốt phân biệt phươngpháp tiếp cận văn học đích thực với lối phân tích xã hội học tầm thường, biếntác phẩm văn chương thành một đề cương giáo huấn, một sơ đồ xã hội họchay một hiện tượng lịch sử cằn cỗi, một phương tiện minh hoạ giản đơn vềbức tranh xã hội Tuy nhiên cũng cần ngăn ngừa một khuynh hướng cựcđoan chỉ nhìn nhận giá trị của văn bản nghệ thuật ở phương diện thẩm mĩ.Nói đến tác phẩm văn chương là nói đến một văn bản trong chỉnh thể Tácphẩm văn chương được cấu tạo bằng ngôn ngữ nghệ thuật nhằm xây dựngnên một thế giới nghệ thuật riêng được kết cấu một cách chặt chẽ trong nhữngquan hệ giữa nội dung và hình thức giữa bộ phận và tổng thể, giữa yếu tố hữuhình hay vô hình, giữa phản ánh và biểu hiện, giữa văn bản và tiền văn bản …Trong giảng văn một số giáo viên vẫn có xu hướng xé lẻ đập vụn tác phẩmlàm cho văn bản văn chương mất đi tính nhất quán, cảm hứng chủ đạo củanhà văn, tư tưởng chủ đề của tác phẩm bị mờ nhạt hay xuyên tạc

Một trong những con đường đi vào tác phẩm văn chương là nhận diệnđược loại thể Nghĩa là khi đến với thơ không giống với tự sự hay kịch, đếnvới văn học dân gian không hoàn toàn giống với văn học viết Văn học trungđại và hiện đại có những đặc trưng thủ pháp riêng Với văn học dịch cũng cần

có cách tiếp cận riêng

1.1.2.3 Quan điểm tiếp cận hướng vào đáp ứng của học sinh

Nhiều thập kỷ qua, tác phẩm văn chương bị coi như một hiện tượng tĩnh, nayđược nhìn nhận trong trạng thái động, trong sự vận động đến với bạn đọc Tácphẩm văn chương là một hệ thống mở Vòng đời tác phẩm văn chương cũngđược nhận diện lại trong nhiều quan hệ hữu cơ biện chứng hơn Tác

Trang 20

phẩm văn chương chỉ thực sự đi trọn vòng đời trong mối quan hệ với bạn đọc

để trở lại với cuộc sống vốn là xuất phát điểm Cả ba khuynh hướng tiếp cậntác phẩm văn chương của mĩ học tiếp nhận, hiện tượng luận và hậu cấu trúcđều hướng vào sự đáp ứng của người đọc Các khuynh hướng này coiphương thức tồn tại của tác phẩm văn học là sự tồn tại của văn bản có tiềmnăng nghĩa, có khả năng tạo nghĩa trong mối quan tâm của người đọc Từ vănbản người đọc dựng nên hình tượng nghệ thuật có dụng ý, là sự tồn tại của ýnghĩa văn học Hình tượng được mở ra nhiều chiều, ý nghĩa được khám phá

từ nhiều góc độ trong nhiều ngữ cảnh

Trên thế giới, nhiều nhà văn lớn như Tsêkhôp, Mác Sác, A.Tônxtôi…cungrất coi trọng vai trò của bạn đọc, coi đó là yếu tố quyết định sinh mệnh củamỗi tác phẩm Có nhiều ý kiến cho rằng nếu không có bạn đọc thì tất cả chỉ là

những đống giấy vô hồn, những kí hiệu câm lặng kể cả Iliat Ôđyxê hay Chiến tranh và hòa bình…Các tác giả có uy tín ở Mĩ về Phương pháp dạy học văn

trong nhà trường theo hướng tiếp cận đáp ứng (responses-centred) Ở Việt Nam,giáo sư Phan Trọng Luận cũng hết sức quan tâm đến quan điểm tiếp cận

này qua các công trình nghiên cứu chuyên sâu về lí luận tiếp nhận văn học vàchuyên ngành giảng dạy văn học

Công cuộc đổi mới phương pháp giảng văn ở trung học đã diễn ra mườinăm nay theo hướng coi học sinh là bạn đọc sáng tạo là sự vận dụng sáng tạokịp thời những thành tựu về lí thuyết tiếp nhận, tư tưởng dạy học hiện đại.Tuy nhiên khi nhấn mạnh đến quan điểm người đọc, đến phản ứng và đápứng của học sinh trong giờ văn, chúng ta vẫn không tuyệt đối hóa hay cườngđiệu hóa sở thích của học sinh Trong nhà trường luôn có sự kết hợp hài hòagiữa cảm thụ cá nhân học sinh với định hướng sư phạm của người thầy

Trang 21

Một quan điểm tiếp cận đồng bộ văn hóa, văn bản và đáp ứng của ngườihọc là sự kết hợp chuẩn mực hài hòa đồng bộ, bảo đảm hiệu quả vững chắccho việc nghiên cứu và dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường.

1.1.3 Sự lựa chọn một hướng quan trọng trong quan điểm tiếp cận đồng bộ : tiếp cận lịch sử phát sinh và việc vận dụng một cách thích hợp những hiểu biết ngoài văn bản ( xã hội, văn hóa, nhà văn … ) để cắt nghĩa tác phẩm

Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi quan tâm đến việc vận dụng hiểubiết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương, tức hướng tiếp cận lịch sửphát sinh Đây là cách tiếp cận chính xác khoa học, hiệu quả, đáng tin cậy xuấtphát từ nội dung tư tưởng triết học Mác – Lênin đã được khẳng định nhiều thập

kỷ qua, cũng là hướng tiếp cận quan trọng mang tính tất yếu trong con đườngtiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông

Trước khi tiến hành nghiên cứu cần xác định lại sự thống nhất trong kháiniệm về quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh Tiếp cận theo hướng lịch sửphát sinh hiểu một cách đơn giản và cơ bản là đi từ hoàn cảnh sáng tác, hoàncảnh phát sinh tác phẩm để hiểu tác phẩm Cách tiếp cận này không xuất phát

từ bản thân tác phẩm hay từ phía người tiếp nhận Có thể nói, đó là nhữnghiểu biết nằm ngoài văn bản như hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, tiểu sửnhà văn…những yếu tố này sẽ giúp soi sáng cách hiểu, cách cảm về ý nghĩanội dung, tư tưởng mà tác phẩm đem đến cho bạn đọc

1.1.3.1 Nhận diện những yếu tố ngoài văn bản

* Bối cảnh lịch sử và tình hình văn học ( Hoàn cảnh rộng)

Không có bất cứ một tác phẩm văn học nào khi ra đời lại không nằm trongmột hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể nào đó Bởi theo chủ nghĩa Mác, văn họcnghệ thuật là một hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng, tồn tại và lệthuộc vào cơ sở kinh tế xã hội, tức là vào phương thức sản xuất của mỗi giaiđoạn lịch sử nhất định Tuy không thể đồng nhất lịch sử văn học nghệ thuật vớilịch sử kinh tế nhưng rõ ràng văn học trong nội dung và trình độ phát triển

Trang 22

của nó đều trực tiếp hoặc gián tiếp bị chi phối bởi điều kiện kinh tế, cụ thể làbởi trình độ sản xuất của thời đại Khi nền kinh tế với trình độ sản xuất thấpkém, con người còn đầy hoang mang, sửng sốt trước thế giới tự nhiên bao la,

bí ẩn thì chắc chắn nền văn học nghệ thuật cổ đại không thoát khỏi sự chi phốicủa lối tư duy thần thoại đậm màu sắc tôn giáo Cho nên hình tượng ngườianh hùng bộ tộc Đam San uy phong lừng lẫy chỉ được tạo ra trong thời đạichưa có thuốc súng, đạn chì Những bản trường ca Tây Nguyên hùng vĩ,được truyền miệng trong những đêm kể khan của già làng trưởng bản, khôngthể nảy sinh trong thời đại đã có máy in và các nhà xuất bản Chiếc nỏ thầntrong truyền thuyết Cổ Loa không thể xuất hiện khi người Việt Nam đã biếtchống giặc bằng súng thần công

Triết học Mác-xit cũng khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng

và kiến trúc thượng tầng, mối quan hệ giữa xã hội với văn học Trong “ Nguyên

lý giảng dạy văn học” Gơ-lut-côp nhà khoa học giáo dục Nga có viết:

“Nếu chúng ta không hiểu chế độ chính trị và các chế độ xã hội của thế kỉ XVIII, nếu chúng ta không hiểu cuộc đấu tranh giai cấp trong thời đại thống trị của Pi-e đệ nhất, của nữ hoàng Ê-li-za, của E.Ca-tơ-ri-na và của Pôn đệ nhất thì làm sao mà hiểu được văn học Nga thế kỉ XVIII ? Nếu không hiểu rõ quan điểm lịch sử của Lê-nin, nếu không hiểu rõ học thuyết của Người về ba giai đoạn của phong trào giải phóng Nga, không hiểu nguyên nhân những biến cố xã hội lớn lao có tính chất tiêu biểu ở thế kỉ XIX và đầu XX thì làm thế nào mà hiểu được văn học thời kì đó.”

Điều kiện kinh tế xét đến cùng bao giờ cũng là nhân tố quyết định sự thayđổi của thượng tầng kiến trúc, của nghệ thuật nói chung và của văn học nóiriêng Như vậy, sự hình thành và phát triển của một nền văn học trong mộtgiai đoạn nhất định nào đó có sự chi phối quan trọng của điều kiện kinh tế xãhội Vào thế kỉ XVI-XVII, ở Việt Nam nền sản xuất hàng hóa giản đơn được

mở rộng, thị trường trao đổi phát triển, buôn bán mở mang hơn, nhu cầu giao

Trang 23

dịch trong xã hội về mọi mặt kinh tế, thương mại, sinh hoạt là những nhân tốthúc đẩy sự hình thành và phát triển một nền văn học chữ nôm Tình hình vănhọc Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1930 có sự phát triển của nhiều xu hướngvăn học và một nền quốc văn mới phải kể đến ảnh hưởng quyết định của sựđổi mới trong cơ cấu kinh tế xã hội ta dưới chính sách khai thác của thực dânPháp từ sau đại chiến lần thứ nhất Chính sách khai thác này đã tạo ra mốiquan hệ sản xuất mới và sự ra đời nhanh chóng của các giai cấp tư sản, tiểu

tư sản; trên cơ sở đó đã xuất hiện những ý thức hệ tư tưởng khác nhau làmnội dung cho các xu hướng văn học sau này.[20,tr.12-13]

Việc hình thành và phát triển của tình hình văn học bên cạnh sự ảnh hưởngquyết định của nhân tố kinh tế cũng cần phải kể đến tác động của tình hìnhđấu tranh giai cấp trong xã hội; tác động của các trào lưu tư tưởng văn hóabên ngoài dội vào Khi nói tới tình hình văn học từ 1930 đến 1945 mà chỉ thấy

sự tác động của điều kiện kinh tế thì khó mà giải thích được đầy đủ, chính xác

về tình hình văn học Việt Nam lúc bấy giờ Nếu không nắm được các cuộcđấu tranh giai cấp của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng từng bước đưatới thành công của cách mạng tháng Tám thì chúng ta cũng không thể hiểuđược những cơ sở xã hội, giai cấp nào đã quyết định sự phát triển của phongtrào văn học cách mạng, văn học hiện thực và sự bế tắc của văn học lãngmạn…Có nắm vững đặc điểm giai cấp, hiểu tâm lí của giai cấp tiểu tư sảnmới hiểu được sự ra đời và phát triển của văn chương Tự lực văn đoàn vàphong trào thơ mới.[20]

Ảnh hưởng của nhân tố các trào lưu, tư tưởng nước ngoài tới nền văn họcViệt Nam có thể thấy khá rõ, bởi nền văn học dân tộc ta đã từng trải qua biết baonăm dưới sự thống trị của phong kiến Trung hoa và thực dân Pháp.Văn học yêunước đầu thế kỉ XX với Đông Kinh nghĩa thục, Phan Bội Châu, Phan ChuTrinh…chịu ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng Trung Quốc tràn sang Việt Namlúc bấy giờ qua các sách “Tân thư” Trào lưu văn học lãng mạn Việt

Trang 24

Nam xuất hiện trong những năm 30 của thế kỉ XX cũng ảnh hưởng sâu sắc từvăn học lãng mạn Pháp.[20,tr.17]

Tóm lại, xác định hoàn cảnh rộng là xác định bối cảnh lịch sử và tình hìnhvăn học tại thời điểm tác phẩm ra đời Nắm được sự chi phối của tình hìnhkinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng…trong giai đoạn lịch sử nhất định đối vớinền văn học, chúng ta mới có thể hiểu tác phẩm sản sinh trong thời kì đó chứađựng những nội dung tư tưởng, có ý nghĩa lịch sử cụ thể nào

* Tác giả ( Hoàn cảnh hẹp)

Mỗi tác phẩm văn chương luôn là lời nhắn gửi trực tiếp hay gián tiếp, kínđáo hay công khai của nhà văn về cuộc đời và với cuộc sống Tác phẩm nghệthuật phản ánh quy luật, bản chất của đời sống xã hội, chịu sự chi phối củahoàn cảnh khách quan đồng thời nó cũng là con đẻ, là sản phẩm sáng tạo củanghệ sĩ Nhà văn phát hiện chân lí đời sống bằng sự mẫn cảm của trái tim, trítuệ và qua tưởng tượng, hư cấu cùng tài năng sử dụng sáng tạo chất liệungôn từ của người nghệ sĩ thì mỏ quặng chất liệu hiện thực xù xì kia đã thực

sự kết tinh thành những áng văn chương kì diệu Như vậy, tác phẩm vănchương là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Dấu ấn chủ quan củanhà văn xuyên thấm từ cách tiếp cận hiện thực, cách phát hiện vấn đề vàphương thức chuyển tải tư tưởng tình cảm qua hình tượng văn học

Nói đến hiểu biết ngoài văn bản trong bối cảnh hẹp nghĩa là nhắc đếnnhững hiểu biết về cuộc đời, con người, sự nghiệp của các nhà văn Muốnhiểu được sâu sắc, toàn diện một tác phẩm văn chương cụ thể không thểkhông trang bị một lượng kiến thức đầy đủ, có hệ thống về tiểu sử nhà văn.Bản thân con người vốn là một kì công của cuộc sống Nó tồn tại với biết baomối quan hệ vô cùng tinh tế, phức tạp Con người không phải một thực thểđơn thuần, thiên tài lại càng có nhiều quan hệ phức tạp phong phú, sâu sắchơn Vì vậy, tìm hiểu về một nhà văn là phải hiểu được cuộc đời tư, ảnhhưởng của điều kiện xã hội trong việc nhào nặn, đào tạo ra thiên tài; tìm hiểu

Trang 25

được thế giới quan, nhân sinh quan, nội dung tư tưởng trong những tác phẩm

họ sáng tạo

Mối quan hệ gia đình có ảnh hưởng không nhỏ đến sự xây dựng tâm hồn,nhận thức của nhà văn từ tuổi thơ ấu Xã hội đầu tiên mà nhà văn tiếp xúc gầngũi nhất từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi bước chân vào ngưỡng cửa cuộc đời

xã hội chính là gia đình riêng : ông bà, cha mẹ, anh chị em, bà con thânthuộc…Những tập quán, những ấn tượng, những hệ thống tình cảm, tư tưởngđầu tiên được hình thành dần dần từng bước, từ trên nôi, trong tiếng hát rucon của bà mẹ, từ trong lời ăn tiếng nói hay trò chuyện…Những người thânthuộc đã để lại những ấn tượng nhiều khi không phai mờ trong suốt cả cuộc

đời và có khi góp phần ảnh hưởng trong thơ văn sau này Bà mẹ của Hồ Xuân Hương giúp cho nàng sớm làm quen với chuyện văn chương chữ nghĩa Bà ngoại của M Gooc-ki với những câu chuyện thần thoại cổ tích dân gian đã góp phần xây dựng tâm hồn nhà văn vĩ đại đó Bà mẹ nghèo khổ của Nguyên Hồng để lại trong lòng tác giả những cảm xúc tràn trề trước những đau khổ đói rét của con người nghèo khổ Ông thân của Tố Hữu đã nhóm lên trong lòng cậu con trai những xúc cảm sâu sắc về cuộc đời, vè tấm lòng yêu nước

và yêu văn thơ qua những đêm khuya thanh vắng cùng con đọc văn thơ yêu nước của cụ Phan.[20]

Cùng với ảnh hưởng của mối quan hệ gia đình, quê hương cũng là một yếu tốkhông nhỏ góp phần tạo nên tâm hồn nhà văn Quê hương là thế giới thiên nhiênđầu tiên con người tiếp xúc Một dòng sông trong mát, một bãi cỏ xanh, bầu trờitươi sáng, chim muông cây cỏ…nguồn thực tại dồi dào mát xanh ấy nhiều khi đểlại những tình cảm đằm thắm, gắn bó không phai Khái niệm quê hương khôngchỉ là vẻ đẹp của núi sông cây cỏ mà còn bao hàm nhiều nhân tố phức tạp khác

mà con người chịu ảnh hưởng Đó là những tập quán, tâm lí tình cảm, truyềnthống đấu tranh của nhân dân Có khi là một lời ca giọng hát chứa chan tình cảmđất nước, có khi là một câu chuyện truyền thuyết dân gian

Trang 26

hay một di chỉ địa phương nhưng đã để lại một dấu vết khó phai mờ trong

tâm hồn và kí ức của nhà văn “Năm 1940, tôi viết một truyện cho thiếu niên,

truyện Dế mèn phiêu lưu kí Khi đó còn ít tuổi (cũng chỉ ở tuổi mới bỏ chơi

dế) tôi thích viết thì tôi viết, tôi viết cho tôi trước vì tôi rất ham và giỏi “đúc dế” Nhưng bây giờ thì biết chẳng phải chỉ thích trong tưởng tượng mà tôi có thể viết được chàng Dế mèn, ông Đại vương Ếch cốm và thầy đồ Cóc trở thành những bầu bạn thân thiết của các bạn nhỏ là do một hoàn cảnh thực tế thời niên thiếu tôi đã được trải qua Trước cổng làng quê tôi hồi nhỏ có một bãi sông rộng, trên bãi ấy đã sinh hoạt một thế giới rất nhiều cây cỏ và các loại giống vật cho chúng tôi đào ra chơi, bởi những con giống trong truyện

Dế mèn phiêu lưu kí mà tôi nói đúng được sự hoạt động, tính nết và “phong

tục” của chúng là do tôi có bè bạn quen biết chúng nhiều lắm…” (Tô Hoài).

[20]

Tình cảm riêng, thế giới bên trong tâm hồn nhà văn là cũng là nhân tố tạonên sự tác động tới sáng tạo của người nghệ sĩ Nhiều khi có mối liên hệ khámật thiết giữa tình cảm chủ quan của nhà văn với tình cảm khách quan trongtác phẩm Tuy nhiên, cũng không nên máy móc suy luận từ tình cảm riêng,tâm sự riêng của nhà văn để đi đến kết luận máy móc về xu hướng tư tưởng,tình cảm trong sáng tác

Những ảnh hưởng trong đời sống riêng từ mối quan hệ gia đình, bà con,quê hương cho đến những tâm sự riêng chỉ là những điều kiện có tính chấtriêng tư, nặng về mặt chủ quan của nhà văn Tuy nhiên nguồn gốc sâu xa, cănbản và quyết định nhất vẫn là những nhân tố xã hội đã góp phần xây dựng thếgiới quan, nhân sinh quan cũng như quan điểm của nhà văn về văn học nghệthuật.M Goóc-ki đã viết: “Nghệ sĩ là cơ quan thụ cảm của đất nước mình,giai cấp mình, là tai, là mắt, là trái tim của giai cấp; nghệ sĩ là tiếng nói của

thời đại…” (Tôi đã học viết văn như thế nào)

Trang 27

Nói đến ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội là nói đến ảnh hưởng của điềukiện giáo dục, học vấn, của những cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội màcon người được chứng kiến và tham dự trên cơ sở bảo vệ quyền lợi của giaicấp mình Nơi mà con người được tiếp xúc với nền giáo dục thời đại mộtcách có hệ thống chủ yếu vẫn là nhà trường Nhà trường là nơi truyền thụnhững hệ thống quan điểm triết học, đạo đức, học thuật của từng giai cấp nhấtđịnh trong từng thời đại nhất định Giai cấp thống trị nắm chắc lấy vũ khí giáodục để tuyên truyền phổ biến những quan điểm triết học, chính trị vào đầu ócthế hệ trẻ, đào tạo thành những con người trung thành của chế độ Cho nênxét đến thế giới quan, nhân sinh quan của nhà văn trong những xã hội xưa vànay không thể không xét đến những ảnh hưởng sâu xa của giáo dục nhàtrường Các nhà văn cổ điển hầu như không có ai là không chịu ảnh hưởngnhiều hay ít roi vọt nơi cửa Khổng sân Trình Nguyễn Du, học trò trung thànhcủa nhà trường phong kiến, dù về sau đã có những nhận thức khác đi đối vớicuộc đời nhưng không khỏi không luẩn quẩn trong vòng tư tưởng cũ Tuynhiên ảnh hưởng của giáo dục thời đại không phải chỉ là ảnh hưởng của nhàtrường mà thôi, nhiều khi còn chịu sự tác động quan trọng của học thuật, tưtưởng của những truyền thống văn học nghệ thật mà nhà văn thu lượm đượctrên sách vở Có biết bao nhà văn vĩ đại đã không học qua nhà trường.Trường học của họ chính là cuộc sống và sách vở tự học lấy M Gooc-ki, N.A-tơ-rôp-xki chỉ là những nhà văn tự học lấy Phan Bội Châu đâu có học chủnghĩa Tam dân ở trong cửa Khổng sân Trình Ông thầy chữ nho đâu có dạycho cụ Phan tìm đến người Nga la tư Ảnh hưởng của sách vở, cuộc đời vẫnmạnh hơn sức mạnh giáo dục của nhà trường.[20]

Nói đến ảnh hưởng quan trọng của hoàn cảnh giáo dục là cần thiết nhưng cáiquyết định chính vẫn là tác dụng của hoàn cảnh xã hội, của điều kiện lịch sử màthực chất là cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội đương thời Con người sốngtrong xã hội tiếp xúc với cuộc sống phong phú, phức tạp bên ngoài

Trang 28

Thực tế cuộc sống bao giờ cũng mạnh hơn ý định chủ quan của con người, nóquyết định việc hình thành thế giới quan cùng với bao nhiêu quan điểm đạođức, luân lí, mĩ học Hiện tượng thay đổi chính kiến ở một con người từ tuổitrẻ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay vĩnh biệt cuộc đời, chính là biểu hiện của

sự thay đổi về nhận thức của con người trước cuộc sống Sự thay đổi chínhkiến, việc chuyển dịch từ vị trí xã hội này sang vị trí xã hội khác là một việc

có thể hiểu được trong quá trình đấu tranh giai cấp trong xã hội

Lịch sử đã chứng kiến biết bao trường hợp điển hình về sự thay đổi trongthế giới quan của nhà văn Cùng với sự thay đổi của thời cuộc, của giai cấp,quan điểm chính trị, thái độ nhân sinh, ý thức tư tưởng tình cảm của nhà văncũng có những chuyển biến nhất định Ngô Tất Tố xuất thân là một ông đồnho, nhưng cuộc sống thực tế sau lũy tre xanh, cảnh xôi thịt rượu chè, “việclàng” bê tha, cảnh “lều chõng” hủ bại, chế độ độc ác đương thời đối vớingười nghèo khổ v.v…tất cả những thực tế đó của xã hội đã đập vào mắt nhànho, đã thay đổi dần dần cái quan điểm triết học Tống nho ở ông Rồi ánhsáng của phong trào đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, chođến ảnh hưởng của cách mạng tháng Tám đã dội vào trí óc và tâm hồn nhànho đó những nhận thức mới về xã hội, vè đấu tranh giai cấp, về con đườngcách mạng… và từ một ông đồ nho, Ngô tất Tố đã trở thành một chiến sĩ cộngsản với thế giới quan tiền tiến thời đại Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, ChếLan Viên, Nguyễn Tuân…từ những nhà văn lãng mạn tiêu cực đã trở thànhnhững nhà văn gần gũi với chúng ta Cách mạng đã thay đổi họ ở vị trí xã hội,nội dung quan điểm chính trị và nghệ thuật cũng như nội dung tâm hồn nghệ

sĩ để họ có thể chuyển từ phương pháp sáng tác tiêu cực sang phương phápsáng tác cách mạng Có theo dõi và nắm chắc được quá trình biến đổi đótrong con người tác giả thì mới tìm hiểu được nội dung sáng tác của nhà văntrong từng thời kì nhất định và cũng có cơ sở để đánh giá được một cách khoahọc sự nghiệp một nhà văn.[20]

Trang 29

Tất cả những điều kiện trình bày trên là cơ sở để tìm hiểu thế giới quan,nhân sinh quan của nhà văn Thế gới quan là kết quả của cả quá trình rènluyện đào tạo trong cuộc sống, và là kết quả của của điều kiện giáo dục , họcvấn, gia đình, bè bạn, giai cấp, thời đại…Thế giới quan không phải là mộtcông thức cứng đờ mà là kết quả của nhiều điều kiện xa gần, trực tiếp và giántiếp, quá khứ và hiện tại…Nó cũng luôn biến đổi theo quá trình tích lũy kinhnghiệm sống của con người trong xã hội Nắm chắc được thế giới quan vàphương pháp sáng tác của nhà văn là nắm chắc được phương pháp để phântích, tìm hiểu nội dung sáng tác của nhà văn Vì trong sáng tác cụ thể, nhà vănnhất định đã thể hiện ở khía cạnh này hay khía cạnh khác thế giới quan,phương pháp sáng tác của mình Vì vậy, muốn tìm hiểu nội dung sáng tác vàđặc điểm nghệ thuật của nhà văn thì bước quan trọng là phải xác định đượcthế giới quan (ưu cũng như khuyết) trên cơ sở nghiên cứu tìm hiểu tiểu sửcủa họ một cách toàn diện, khoa học.

1.1.3.2 Mối quan hệ giữa những yếu tố ngoài văn bản với việc tìm hiểu tác phẩm văn chương

Chúng tôi đã đề cập đến các khuynh hướng tiếp cận tác phẩm văn chươngkhác nhau trong mục 1.1 Có thể thấy mỗi khuynh hướng đều có những ưu thếriêng xuất phát từ những hạt nhân tư tưởng hợp lí của nó Nói đến tác phẩm vănchương là nói tới tính đa nghĩa trong nội dung tư tưởng và tính đa trị trong tiếpnhận Mỗi cách thức tiếp cận, cắt nghĩa tác phẩm văn chương lại xuất phát từnhững khía cạnh, phương diện khác nhau ở một quá trình trong vòng đời sinhmệnh của tác phẩm Vì vậy, nhiều khi có những cách hiểu rất xa nhau Quanđiểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương thực sự đã đóng góp một cách nhìn,một phương pháp nghiên cứu khách quan, khoa học, toàn diện, hiệu quả với việctìm hiểu, cắt nghĩa một tác phẩm văn chương cụ thể Trong ba mũi tiếp cận màquan điểm tiếp cận đồng bộ đều nhấn mạnh và xem trọng, chúng tôi quan tâmđến hướng tiếp cận lịch sử phát sinh Việc vận dụng

Trang 30

những hiểu biết ngoài văn bản để giải mã tác phẩm văn chương là phươngpháp được áp dụng từ lâu trong nhà trường phổ thông Tuy nhiên, với sự xuấthiện mạnh mẽ và ấn tượng của nhiều trường phái, khuynh hướng nghiên cứuvăn học hiện đại gần đây ở các nước tiên tiến dường như đã khiến cho cáchtiếp cận lịch sử, xã hội bị coi nhẹ (Có lúc còn bị phủ nhận) Ở đây, chúng tôimuốn chứng minh nếu không vận dụng những hiểu biết ngoài văn bản thìnhiều khi tác phẩm văn chương sẽ mất đi những nội dung ý nghĩa đích thựcmột cách vô cùng đáng tiếc Thậm chí, trong một số trường hợp, nếu không

có sự soi sáng của những yếu tố ngoài văn bản thì khó có thể hiểu nổi tácphẩm văn chương ấy hàm chứa nội dung ý nghĩa gì

Bài viết của tác giả Dương Quốc Anh: “ Phát hiện mới về bài thơ Bài ca người tiết phụ” đã cho thấy tác dụng quan trọng của việc tìm hiểu hoàn cảnh

xuất xứ với việc hiểu ý nghĩa nội dung tác phẩm:

“Trương Tịch là một nhà thơ nổi tiếng thời Đường Trong tập Thơ Đường

do Nhà xuất bản Văn học Việt nam phát hành năm 1987 có giới thiệu hai bài

của ông, trong đó có Bài ca người tiết phụ, nguyên văn như sau:

Quân tri thiếp hữu phu, Tặng thiếp song minh châu, Cảm quân triền miên ý,

Hệ tại hồng la nhu.

Thiếp gia cao lâu liên uyển khởi, Lương nhân chấp kích Minh Quang lý, Tri quân dụng tầm như nhật nguyệt,

Sự phu thê nghĩ đông sinh tử, Hoàn quân minh châu song lệ thùy Hận bất tương phùng vị giá thi.

Trang 31

Bài thơ này được cụ Ngô Tất Tố dịch sang tiếng Việt rất hay :

Chẳng hay em có chồng rồiYêu em chàng tặng một đôi ngộc lànhVấn vương những cảm mối tình

Em đeo trong áo lót mình màu sen

Nhà em vườn ngự kề bênChồng em cầm kích trong đền Minh Quang

Như gương vâng biết long chàngThờ chồng quyết chẳng phụ phàng thề

xưa Trả ngọc chàng lệ như mưaGiận không gặp gỡ khi chưa có chồngTrong phần ghi chú tóm tắt tiểu sử các tác giả ( Thơ Đường- tập 1, tr.331.Nhà xuất bản Văn học,1987) khi viết về Trương Tịch(768-830) cụ Trương

Chính đã viết: “…Bài Tiết phụ ngâm hay ở chỗ sử dụng những nét đơn giản, như trong nhạc phủ, nhưng lại rất điêu luyện để diễn tả tình yêu thủy chung như nhất của người phụ nữ bình thường”.

Đọc qua bài thơ ta có thể đồng ý với lời giới thệu của cụ Trương Chính.Nhưng nếu đọc nhiều lần và liên hệ với bối cảnh đương thời thì sẽ thấy vấn đềkhông phải như vậy Tại sao ở cái thời lễ giáo phong kiến thịnh hành ấy, một phụ

nữ bình thường, lấy chồng tử tế lại dám công khai biểu lộ tình cảm sâu sắc của

mình đối với một người đàn ông khác, như: “Cảm quân triền miên ý, hệ tại hồn

la nhu” (vấn vương những cảm mối tình, em đeo trong áo lót mình màu sen)

hoặc: “ Hoàn quân minh châu song lệ thủy; Hận bất tương phùng vị giá thi” ( trả ngọc chàng lệ như mưa; giận không gặp gỡ khi chưa có chồng) Qua sự việc đó,

có thể nói, người phụ nữ trong bài thơ, tuy chưa bước qua ranh giới ngoại tìnhthực sự, nhưng rõ ràng là từ chốn sâu xa của trái tim, nàng đã không “thủychung như nhất” với chồng: bởi vì nàng đã nhận ngọc tặng, đã đeo ở bên mình,rồi phải đấu tranh, viện dẫn nhiều thứ mới đi đến

Trang 32

chỗ “trả lại ngọc” Nhưng trả lại ngọc mà “lệ như mưa” mà lại “Giận khônggặp gỡ khi chưa có chồng” thì là tại làm sao? Câu trả lời là: Nếu không muốnnói nàng đã thầm yêu thì ít cũng phải nói nàng đã thực sự có cảm tình với

“người tặng ngọc”

Tóm lại, Tiết phụ ngâm là một bài thơ miêu tả nỗi lòng của một người đàn

bà trẻ có chồng, kính trọng chồng nhưng có thể là chưa thực sự yêu chồng, vì vậy nàng đã rung động trước hành động hào hoa, phong nhã của một chàng trai nào đó, nhưng do lí trí mách bảo, nàng đã biết dừng lại đúng lúc, đúng chỗ dù trong lòng vẫn còn luyến tiếc.

Trong một thời gian dài ở Trung Quốc, người ta cũng cho là bài thơ có chủ

đề như vậy Thế nhưng gần đây, Lư Thiếu Hoa trong cuốn Đường thi cố sựxuất bản tai Trung Quốc năm 1994 đã đưa ra dẫn chứng cụ thể chứng minh

rằng Tiết phụ ngâm chỉ là một bài thơ mà Trương Tịch mượn đó để bày tỏ ý chí của mình một cách khôn khéo mà thôi.

Theo Lư Thiếu Hoa, thời Trương Tịch sống, thế lực địa phương tương đốimạnh Một số quan chức địa phương để mở rộng thế lực của mình đã dùngnhiều thủ đoạn để lôi kéo, câu kết các văn nhân nổi tiếng và quan chức Trungương vào phe cánh của mình Cũng đã có một số sĩ phu do bất đắc chí vềđường hoạn lộ đã ngả theo họ, dùng văn tài tâng bốc họ Hàn Dũ và Trương

Tịch đều không ưa hiện tượng này Hàn Dũ đã có bài “Tống Đổng Chiêu Nam tự” để phê bình hiện tượng đó một cách khéo léo.

Khi đó có một người tên là Lí Sư Đạo đang làm Tiết độ sứ Bình Lư, lạikiêm thêm chức Kiểm hiệu Tư không, là một nhân vật rất có quyền thế Ôngnày biết Trương Tịch là người có tài, muốn kéo Trương Tịch với lời lẽ kínhtrọng nhưng vẫn có ngụ ý sẽ có quan cao, bổng hậu Nhận được thư, lúc đầuTrương Tịch định trực tiếp trả lời là không đồng ý, nhưng sau khi cân nhắc,biết Lí Sư Đạo là người quyền thế nghiêng trời ở địa phương, nếu xúc phạmlàm ông ta giận dữ, không những không hay cho mình mà còn có thể làm liên

Trang 33

lụy đến người khác, vì vậy ông mới làm bài thơ Tiết phụ ngâm để gián tiếp trả

lời

Bài thơ viết rất uyển chuyển, khôn khéo, từ chối lời mời vưa có tình vừa có

lí, Lí Sư Đạo đọc xong rất khâm phục tài năng và nhân phẩm của TrươngTịch, nên tự nguyện rút bỏ lời mời và không gây khó khăn gì cho TrươngTịch

Biết chuyện, đọc thơ, Hàn Dũ đã vô cùng khen ngợi bài thơ viết rất hay, xử

lí công việc cũng vô cùng khôn khéo

Có lẽ vì có hai hàm nghĩa như vậy, bài thơ mới được lưu truyền đến ngàynay và mãi tận mai sau.”[23,tr.333-336]

Trên đây là một ví dụ cụ thể cho thấy vai trò quan trọng của việc tìm hiểuhoàn cảnh bài thơ để nắm bắt ý nghĩa tác phẩm Còn rất nhiều minh chứngkhác trong lịch sử văn học Việt Nam để khẳng định mối quan hệ gắn bó giữanhững yếu tố ngoài văn bản với ý nghĩa, nội dung tư tưởng của tác phẩm vănchương Ở thế kỉ XVI- XVII, sự tác động của các yếu tố kinh tế đã thúc đẩynền văn học chữ nôm phát triển Do tác động của nền kinh tế hàng hóa, việcbuôn bán mở mang, thế lực của đồng tiền trở nên ngày càng quan trọng, ảnhhưởng đến cả giai cấp thống trị, đạo đức phong kiến càng suy đồi thêm Vìvậy nội dung văn học thời kì này đã phản ánh sự xấu xa của xã hội phong kiếnđang bước đầu suy vong, phản ánh tư tưởng chán ghét xã hội, muốn thoát ly

để sống một cuộc đời tự do, an nhàn, “ lánh đục về trong” Nếu không nắmđược hoàn cảnh xã hội cũng như tình hình văn học thời kì đó sẽ khó lònghiểu được tâm trạng của Nguyễn Bỉnh Khiêm chán ngán cuộc đời, căm ghétthói đời chỉ biết trọng của hơn người:

“ Còn bạc còn tiền còn đệ tử Hết cơm hết rượu hết ông tôi”.

Cũng vậy, chúng ta khó có thể hiểu được những mâu thuẫn trong tư tưởng

của Nguyễn Du thể hiện trong Truyện Kiều Nỗi đau khổ của nàng Kiều tài

Trang 34

sắc đã được nhà thơ trực tiếp phản ánh và vạch rõ nguyên nhân không gì khácngoài thế lực phong kiến cùng tác động xấu xa của đồng tiền Tuy nhiên cũng

có lúc tác giả lại cho rằng : những bất hạnh của nàng Kiều là do “trong sổ đoạn trường có tên”, do “ma đưa lối quỷ dẫn đường Lại tìm những lối đoạn trường mà đi” hay “Ngẫm thay muôn sự tại trời…” Điều này có thể được lí

giải sáng rõ nếu chúng ta nắm chắc tiểu sử cuộc đời của đại thi hào dân tộc.Nguyễn Du xuất thân trong gia đình đại quý tộc, đã từng chạy theo Lê ChiêuThống, mưu toan chống lại Tây Sơn, phục hồi triều đại phong kiến… nhưngcuộc sống vẫn mạnh hơn định kiến của nhà thơ Nguyễn Du cũng đã có lúcbăn khoăn cho số phận của con người, đau khổ niềm đau khổ của nhân dânqua những ngày loạn lạc Thực tế cuộc đời đã đưa lại cho Nguyễn Du nhữngảnh hưởng mới về quan niệm đối với cuộc đời, đối với hiện thực, với conngười…Những mặt đối lập trong thế giới quan đó đã chi phối sáng tác củanhà thơ, tạo ra những quan điểm mâu thuẫn đan xen trong tác phẩm mà chúng

ta có thể lí giải được

Trong văn học hiện đại Việt Nam, có nhiều tác giả cùng những tác phẩmvăn chương xuất sắc, nếu không hiểu được hoàn cảnh sáng tác cũng nhưcuộc đời con người nhà văn thì cũng khó lòng hiểu được sâu sắc, toàn diệnnội dung ý nghĩa thông điệp mà tác phẩm gửi đến bạn đọc Trong bài thơ

“Tiếng thu” nổi tiếng của Lưu Trọng Lư có một hình ảnh đặc biệt gây ấn tượng “ Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô” Đó chính là một kỉ

niệm không phai của tác giả thời thơ ấu khi hàng ngày ngắm bức tranh vẽ

hình ảnh “ con nai có hoa” treo cạnh bàn học ở gian buồng phía tây nhà mình

Và những kỉ niệm về cuộc đời đau khổ của bà mẹ và các chị gái bất hạnh củachính nhà thơ đã ghi dấu ấn vào những vần thơ đẫm nước mắt, chất chứa nỗiniềm xót thương về thân phận người phụ nữ trong xã hội bấy giờ Nhà thơGiang Nam cũng để lại cho đời một thi phẩm vô cùng xúc động, xây dựng ý

thơ từ cái chết của người yêu Có người phê bình bài thơ “Quê hương” không

Trang 35

mang giá trị phổ quát vì không chọn hình ảnh người phụ nữ nói chung mà lạiviết về người yêu khiến bài thơ thu hẹp trong tình cảm riêng tư Thực ra,chính vì hạn chế trong việc tìm hiểu hoàn cảnh ra đời bài thơ nên vị độc giả

nọ đã không thấy dụng ý nghệ thuật của tác giả và ý nghĩa khái quát điển hìnhcủa bài thơ khi nói đến cái chết có vẻ riêng tư Nếu được sống trong khôngkhí nặng nề, bức bối trong những ngày quân thù đang ra sức truy lùng, tàn sát,bắt bớ những người thân của cán bộ cách mạng thì có lẽ vị độc giả kia sẽkhông có những nhận định đơn giản, phiến diện như vậy.[22,tr.264] Các sángtác hiện thực của nhà văn Nam Cao đến thẳng với nhân vật và người đọcbằng một tấm lòng Tấm lòng ấy được nuôi dưỡng và lớn lên từ những cảnhđời nghèo khó Hình ảnh bà mẹ già ngồi trủng trẳng nhai cơm nguội mỗi buổichiều, những đứa em thiếu ăn mặc quây quần trong cảnh đời vất vả, nhữngngười hàng xóm giàu tình thương mà lại nhiều bất hạnh, một mái rạ, mộtmảnh vườn xơ xác sau những trận bão, khuôn mặt xanh xao của những ngườiphụ nữ chịu đựng và thương chồng…tất cả những hình ảnh đó luôn luôn gắn

bó, ám ảnh, day dứt và theo suốt cuộc đời nhà văn Một nhà văn nghèo vàham viết thực sự, một giáo khổ trường tư…trước những xô đẩy từ nhiều phíacủa cuộc đời, Nam Cao vẫn là mình, tấm lòng ấy vẫn sau trước thủy chungtrọn vẹn Vì thế, trên những trang sách của nhà văn hiển hiện rõ ràng và sâusắc một tấm lòng đầy tin cậy, yêu thương với con người nghèo khổ, bất hạnh;

là ước mong da diết một cuộc sống tốt đẹp và công bằng hơn Chủ nghĩa hiệnthực của Nam Cao lớn lên, phát triển ra từ những nguồn mạch đó nên nómang những đặc điểm riêng vô cùng đáng quý

Qua những ví dụ trên đây chúng ta có thể thống nhất quan điểm để khẳngđịnh rằng: muốn nắm chắc nội dung, ý nghĩa tư tưởng của một tác phẩm vănchương không thể thiếu đi hiểu biết ngoài văn bản về hoàn cảnh lịch sử xã hội

và tiểu sử nhà văn Hiểu biết ngoài văn bản có mối quan hệ gắn bó mật thiết,hữu cơ với việc giải mã sáng tác văn chương Nếu thiếu đi những yếu tố này

Trang 36

đồng nghĩa với việc làm mất đi cách lí giải, soi sáng tác phẩm ở những góckhuất, các phương diện khác nhau của nó, đồng thời giá trị tác phẩm sẽ mất đi

Ngược lại, có những luận thuyết duy tâm tư sản của những khuynh hướngvăn học tư sản hiện đại lại hoàn toàn phủ định vai trò của lịch sử hình thành

và lịch sử phản ánh trong tác phẩm văn học Ở phần khái quát về các khuynhhướng tiếp cận tác phẩm văn chương chúng tôi đã chỉ ra những mặt hạn chếphiến diện của các trường phái “Phê bình mới”, chủ nghĩa cấu trúc, của mĩhọc tiếp nhận, hiện tượng luận và hậu cấu trúc

Từ những vấn đề trên chúng tôi nhận thấy sự cần thiết phải có một cáchthức tiếp cận tác phẩm khoa học, chính xác, khách quan, hiệu quả và toàn diệnhơn Việc tìm ra những biện pháp vận dụng thích hợp hiểu biết ngoài văn bản

để cắt nghĩa tác phẩm chính là sự đáp ứng yêu cầu đó Vấn đề cần bàn đến làcách thức, giới hạn và mức độ vận dụng như thế nào cho thích hợp? Nếu quáchú trọng vào việc tìm hiểu hoàn cảnh xã hội, lịch sử cũng như cuộc sống,con người nhà văn để lí giải, phân tích tác phẩm chắc chắn sẽ rơi vào khuynhhướng xã hội học dung tục cực đoan như trên đã đề cập tới Nếu quá

Trang 37

thờ ơ, coi nhẹ những kiến thức về bối cảnh và nhà văn, chỉ quan tâm đến hìnhthức văn bản hay hướng vào đáp ứng của học sinh lại sa vào những khuynhhướng cực đoan khác Cho nên, trong đề tài này, chúng tôi muốn nghiên cứu

và đề xuất một cách vận dụng khoa học, hợp lí những hiểu biết ngoài văn bản

để giải mã tác phẩm văn chương trên cơ sở nắm chắc quan điểm tiếp cậnđồng bộ và thông qua quá trình khảo sát thực trạng dạy học tác phẩm vănchương của giáo viên trong nhà trường hiện nay

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khảo sát tình hình vận dụng hiểu biết ngoài văn bản ở THPT hiện nay

1.2.1.1 Khảo sát chương trình sách giáo khoa

Để đánh giá được chất lượng vận dụng những hiểu biết ngoài văn bảntrong quá trình dạy học tác phẩm văn chương của giáo viên và học sinh trongnhà trường, trước tiên chúng tôi muốn tìm hiểu khối lượng nội dung kiếnthức, cách trình bày về phần Văn học sử và mục Tiểu dẫn trong sách giáokhoa Ngữ văn THPT

- Về lịch sử văn học

Nội dung

Lớp

10

Trang 38

Nếu phân loại theo các kiểu bài văn học sử thì SGK Ngữ văn THPT hiện nay gồm có bốn kiểu sau:

a Bài tổng quan về văn học Việt Nam (1 bài)

b Các bài khái quát về thời kì văn học (3 bài)

c Các bài khái quát về tác giả (không có bài học riêng, là phầnđầu của bài đọc hiểu văn bản - 7 tác gia: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,Nguyễn Đình Chiểu, Xuân Diệu, Nam Cao, Nguyễn Ái Quốc- HồChí Minh, Tố Hữu.)

d Bài khái quát về văn học dân gian (1 bài)

- Về phần Tiểu dẫn

Phần Tiểu dẫn được trình bày đầu tiên trước mỗi bài đọc văn Chúng tôinhặt ngẫu nhiên mỗi phần Tiểu dẫn của mỗi khối lớp để khảo sát cách thứcthể hiện nội dung khái quát về cuộc đời và sự nghiệp tác giả trong bài đọc vănđó

Ngày đăng: 29/10/2020, 20:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w