Đổi mới PPDH Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học, trong đó có năng lực cảm thụ văn học – một dạng đặc biệt của năng lực đọc hiểu văn bản là mục tiêu quan trọng của dạy
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Minh Diệu – cán bộhướng dẫn – đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiệnluận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Ngữ văn, trườngĐại học Giáo dục – ĐHQGHN; Ban Giám hiệu, tổ Ngữ văn trường THPT MỹTho, tỉnh Nam Định, cùng bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã tạo mọi điềukiện giúp đỡtôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Hà Nội, tháng 11 năm
2017
Tác giả
Phạm Thị Kiều Oanh
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng, biểu v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11
1.1.Cơ sở lí luận 11
1.1.1 Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực 11
1.1.2 Dạy học kí hiện đại Việt Nam theo hướng phát triển năng lực CTVH.15 1.2 Cơ sở thực tiễn 28
1.2.1.Văn bản kí hiện đại trong CT và SGK Ngữ văn THPT hiện nay 28
1.2.2 Thực trạng dạy học kí hiện đại Việt Nam trong trường THPT hiện nay 29
Chương 2: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HS LỚP 12 TRONG DẠY HỌC KÍ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM 41
2.1 Những nguyên tắc đề xuất biện pháp 41
2.1.1 Dạy học bám sát đặc trưng thể loại 41
2.1.2 Đảm bảo tính giáo dục 41
2.1.3 Đảm bảo tính thường xuyên, liên tục 41
2.1.4 Đảm bảo tính tương tác 41
2.2 Các biện pháp phát triển năng lực CTVH cho HS trong dạy học kí hiện đại Việt Nam 42
2.2.1 Xác định rõ mục tiêu dạy học kí hiện đại Việt Nam theo định hướng phát triển năng lực CTVH 42
2.2.2 Quan tâm hình thành những tri thức về kí hiện đại cho HS 44 2.2.3 Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản kí hiện đại để phát triển năng lực
Trang 62.2.4 Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập phát triển năng lực CTVH cho HS
thông qua đọc hiểu văn bản kí hiện đại 74
Tiểu kết chương 2 83
Chương 3: Thực nghiệm 84
3.1 Mục đích thực nghiệm 84
3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 84
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm và địa bàn thực nghiệm 84
3.2.2 Thời gian thực nghiệm 84
3.3 Nội dung thực nghiệm và cách thức tiến hành thực nghiệm 85
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 85
3.3.2 Cách thức tiến hành 85
3.3.3 Cách đánh giá kết quả thực nghiệm 86
3.4 Giáo án thực nghiệm 87
3.4.1 Thiết kế giáo án 87
3.4.2 Thuyết minh về giáo án thực nghiệm 106
3.5 Kết quả thực nghiệm 109
3.5.1 Phân tích định lượng 109
3.5.2 Phân tích định tính 112
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 114
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 117
PHỤ LỤC 121
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Hệ thống các VB kí hiện đại trong CT THCS và THPT 28
Bảng: 1.2 Hệ thống câu hỏi trong mục hướng dẫn học bài 31
Bảng: 1.3 Kết quả khảo sát GV ở câu hỏi từ 1- 7 33
Bảng: 1.4 Đối tượng khảo sát học sinh 36
Bảng: 1.5 Kết quả khảo sát HS 37
Bảng: 3.1 Đối tượng thực nghiệm và đối chứng 84
Bảng: 3.2 Bảng đánh giá kết quả bài kiểm tra 110 Bảng: 3.3 Bảng tổng hợp kết quả của lớp thực nghiệm so với lớp đối chứng 110
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: So sánh kết quả tổng hợp của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 111
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Đổi mới PPDH Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học, trong đó có năng lực cảm thụ văn học – một dạng đặc biệt của năng lực đọc hiểu văn bản là mục tiêu quan trọng của dạy học Ngữ văn hiện nay
Trong CT Ngữ văn hiện nay, số lượng văn bản văn học chiếm tỉ lệ lớnhơn so với các kiểu loại văn bản khác như văn bản thông tin, văn bản nhậtdụng Nếu năng lực đọc hiểu là yêu cầu đặt ra cho mọi đối tượng đọc, với tất
cả các kiểu loại văn bản thì năng lực CTVH là yêu cầu đặt ra với người đọckhi đọc hiểu các văn bản nghệ thuật Điểm nổi bật của năng lực CTVH là đọcvăn bản trong quá trình nhận thức và rung động thẩm mĩ Qua việc đọc, ngườiđọc sẽ thiết lập một trường liên tưởng thẩm mĩ giữa cá nhân mình với vănbản Người có năng lực CTVH tốt là người có trường liên tưởng thẩm mĩphong phú, có xúc cảm tinh tế Yếu tố quyết định để có trường liên tưởngthẩm mĩ phong phú với những rung cảm thực sự của quá trình đọc hiểu vănbản văn học chính là phải sống thật sâu sắc với những điều mình đã đọc, đãnghe Năng lực CTVH ở mỗi cá nhân hoàn toàn không giống nhau bởi vốnsống và vốn hiểu biết, trình độ kiến thức và sự nhạy cảm khi đọc hiểu các tácphẩm văn học Tuy nhiên mỗi người đều có thể rèn luyện cách đọc để từngbước nâng cao năng lực CTVH cho bản thân mình, từ đó khả năng thấu cảmcuộc sống sẽ ngày một tốt hơn “Khi đọc, tôi không chỉ thấy dòng chữ mà cònthấy cảnh tượng ở sau dòng chữ, trí tưởng tượng nhiều khi dẫn tôi đi rất xa, vẽthêu ra lắm điều thú vị” [21, tr.3]
1.2 Dạy học thể kí trong nhà trường phổ thông góp phần hình thành
và phát triển năng lực cảm thụ văn học của học sinh
Trang 10và tư duy khoa học Kí không những không thua kém các thể loại khác vềmàu sắc thẩm mĩ mà còn có thể linh hoạt vận dụng, kết hợp các phương thứctiếp cận, lí giải, phản ánh, khái quát hiện thực của các thể loại khác, tạo nêngiá trị phong phú và độc đáo của riêng mình Với sự phong phú về mặt thểloại, khả năng tác động trực tiếp tới người đọc, văn bản kí, đặc biệt là kí hiệnđại có vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực CTVH cho HS Ngoàiviệc cung cấp cho HS mã “sự thực”, kí giúp HS có những cảm nhận, nhữngrung động tinh tế trước vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống, của con người, những đối tượng miêu tả thường thấy của văn bản kí.
Hai văn bản kí hiện đại trong CT Ngữ văn 12 là tùy bút Người lái đò sông Đà và bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? có đầy đủ phẩm chất của một
tác phẩm kí văn học – một thể loại không chỉ đòi hỏi người viết phải có “ngòibút sang trọng” mà người đọc cũng phải biết thưởng thức “một cách sangtrọng”
1.3.Thực trạng dạy học kí hiện đại ở THPT chưa phát huy hết vai trò của thể kí, cũng như chưa phát triển được năng lực cảm thụ văn học cho HS.
Các VB kí được đưa vào CT THPT có vai trò quan trọng trong việc pháttriển năng lực CTVH cho người học Thế nhưng qua việc dự giờ các tiết dạy họcđọc hiểu VB kí hiện đại của đồng nghiệp tại nơi công tác và dự giờ sinh hoạtchuyên môn ở các trường bạn chúng tôi nhận thấy: Dạy học tác phẩm kí hiện naythường sa vào hai khuynh hướng, hoăcc̣ làđocc̣ hiểu kí như môṭtác phẩm truyện,hoăcc̣ làcóđềcâpc̣ đến đăcc̣ trưng của thể kí thì cũng qua loa, chiếu lệ Đa số GV chỉtập trung truyền đạt kiến thức mà ít chú ý đến các biện pháp nhằm phát triểnnăng lực cảm thụ cho HS Hơn nữa, do áp lực thi cử, hiện nay tình trạng GV
“đọc hộ”, “hiểu hộ”, “cảm thụ hộ” HS diễn ra phổ biến trong các giờ đọc hiểuvăn bản kí HS thường nghe và ghi chép lại bài giảng của GV hơn là tự mình tìmhiểu, khám phá, cảm thụ VB Điều đó chưa phát huy hết vai trò của thể kí khi
Trang 11năng đọc hiểu nhằm hình thành và phát triển năng lực cho người học đặc biệt lànăng lực CTVH qua loại hình văn bản này chưa được quan tâm đúng mức nêngiờ học chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Thực trạng ấy dẫn đến hệ quả
là không rèn luyện được kĩ năng đọc hiểu văn bản kí cho HS; nhiều HS còn thụđộng trong việc tiếp nhận văn bản; khả năng CTVH còn hạn chế và năng lực vậndụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống chưa cao
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề Phát triển năng lực cảm thụ văn học cho HS trong dạy học kí hiện đại Việt Nam (Ngữ văn 12) làm đề
tài nghiên cứu của luận văn với mong muốn khắc phục thực trạng dạy học kítrong trường phổ thông hiện nay, góp phần dạy học kí theo đặc trưng thể loại
để phát triển năng lực CTVH cho HS
2 Lịch sử vấn đề
Trong phần này, chúng tôi khảo sát những công trình nghiên cứu về dạy họcNgữ văn theo định hướng phát triển năng lực, trong đó có năng lực CTVH;những nghiên cứu về dạy học kí trong nhà trường phổ thông, trong đó có dạy học
kí hiện đại để làm cơ sở lí luận khi đề xuất những biện pháp nhằm phát triểnnăng lực CTVH cho HS khi học kí hiện đại Việt Nam trong CT Ngữ văn 12
2.1 Nghiên cứu về dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực, trong đó có năng lực cảm thụ văn học
Nhiều năm trở lại đây, giáo dục định hướng năng lực hay còn gọi là
“định hướng đầu ra” đã trở thành xu hướng đổi mới của giáo dục của ViệtNam Muốn xác định đúng các năng lực cần phát triển qua một môn học cầnxuất phát từ đặc trưng môn học ấy Môn Ngữ văn cũng không phải ngoại lệ.Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết chuyên sâu củacác nhà khoa học, các nhà giáo dục về mục tiêu giáo dục quan trọng này.Chúng tôi xin điểm lại các công trình nghiên cứu và bài viết tiêu biểu:
Trang 12dạy đọc hiểu văn bản cho HS Khi bàn về năng lực CTVH, tác giả nhấn mạnh:
“ Cảm thụ chi tiết nghệ thuật có khi chỉ là một từ ngữ, một hình ảnh, một chitiết, một sự kiện, một tâm trạng, một nhân vật và biết cắt nghĩa nó một cáchkhái quát trong hệ thống chỉnh thể của tác phẩm dưới ý đồ tư tưởng của nhàvăn đó là một năng lực cơ bản quan trọng nhất của tiếp nhận văn học.” [27,tr.127]
Trong cuốn Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chương tác giả Nguyễn
Thanh Hùng cũng khẳng định: Năng lực đọc hiểu tác phẩm văn chương của
HS THPT là giải quyết các vấn đề tương quan của các cấu trúc tồn tại trongtác phẩm Trước hết là cấu trúc ngôn ngữ, tiếp theo là cấu trúc hình tượngthẩm mĩ và cuối cùng là cấu trúc ý nghĩa của tác phẩm [20]
Nhiều bài viết của các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành về giáo dục
được đăng trên các tạp chí khoa học uy tín trong nước như Giảng dạy theo năng lực và đánh giá theo năng lực trong giáo dục: “Một số vấn đề lí luận cơ bản”
của tác giả Nguyễn Quang Ninh [36, tr 56 – 64]; “Đánh giá kết quả học tập làmvăn của HS phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực” [14, tr 46-54] của tác giả
Nguyễn Thu Hà; Phát triển năng lực đọc hiểu cho HS THPT đáp ứng yêu cầu của CT giáo dục phổ thông mới của tác giả Nguyễn Thị Thanh Lâm [23, tr 87 -
98] đều có điểm thống nhất: “Năng lực đọc hiểu của môn Ngữ văn khác vớinhững môn học khác bởi nó gắn liền với điểm sáng thẩm mỹ nghệ thuật của vănbản Hơn nữa sự phát hiện và cảm thụ vẻ đẹp nghệ thuật của văn bản văn họcngoài tâm lý nghệ thuật phải được xây dựng trên nền duy lý khoa học, sở dĩ cóđiều này là do bản chất của bộ môn Ngữ văn, như đã nói trước, vừa là nghệ thuậtcũng vừa là khoa học” [23, tr 92]
Trên thế giới, CTVH như một yêu cầu cần hướng tới trong dạy học Văn
đã có từ lâu, có thể kể tới công trình Cảm thụ văn học của O.L.Nhikiphôrôva (1959); Cảm thụ nghệ thuật của B.X.Mailax (1971) cũng như một số công
trình liên quan đến vấn đề cảm thụ của những nhà lí luận tên tuổi như
Trang 13Ở nước ta, ý thức rõ vai trò của quá trình cảm thụ nghệ thuật đối vớingười học ở môn Văn, năm 1983, Phan Trọng Luận cho xuất bản chuyên luận
đầu tiên là Cảm thụ văn học và giảng dạy văn học Trong chuyên luận này, tác
giả đã cung cấp được một số hệ thống lý thuyết về tính đặc thù của cảm thụvăn chương, mối quan hệ thẩm mĩ của bạn đọc đối với tác phẩm, tính chủquan, tính khách quan, tính sáng tạo của tiếp nhận và những khái quát về đặcđiểm cũng như tiêu chí phát triển văn học ở người đọc Chuyên luận này đãtrở thành một gợi ý, hướng sự quan tâm đến một vấn đề lí luận thú vị và bổích cho giới nghiên cứu và giảng dạy văn học ở nước ta
Từ đây, vấn đề về dạy học văn theo đúng đặc trưng môn học đã đượcnghiên cứu, vấn đề cảm thụ nghệ thuật trong quá trình dạy học văn được đặtvào trọng tâm chú ý Có thể kể tới những đóng góp của Nguyễn Duy Bình với
bài “Dạy văn là dạy cái hay cái đẹp”, Nguyễn Thanh Hùng với bài “Hiểu văn, dạy văn” và “Đọc và tiếp nhận văn chương” Trong các công trình nghiên cứu
này, hầu hết các tác giả đều thống nhất quan điểm: Đọc văn là một khoa học
và nghệ thuật tư duy ngôn ngữ luôn được sáng tạo trong quá trình giải mã văn
bản nghệ thuật “Hiểu văn là đồng cảm và nắm được những gì mà nhà văn
muốn nói, muốn gửi gắm tới người tiếp nhận bằng nhiệt tình và năng lựcthuyết phục của phương thức trình bày nghệ thuật hấp dẫn, mới lạ, có giá trịnâng cao sự cảm thụ hình thức thẩm mĩ của ngôn ngữ tác phẩm” [20, tr 89]
Từ năm 2006, tên gọi môn học Ngữ văn ra đời Từ đây, vấn đề lí luận vềCTVH như một năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn đã được đề cập, giúp chongười dạy văn, học văn có thể xác định được con đường đi đúng đắn Có thể kể
đến các tài liệu nghiên cứu như giáo trình Cảm thụ văn học của tác giả Dương Thị Hương, giáo trình Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn chương cho học sinh tiểu học của tác giả Phạm Minh Diệu Tác giả của các công trình nghiên cứu này
Trang 14kín nhất của tác giả gửi gắm qua hình tượng, là khả năng đánh giá chính xác vàsâu sắc tài năng cũng như sự độc đáo trong phong cách tác giả CTVH còn làmột vấn đề mang tính chủ quan, lệ thuộc vào thiên hướng riêng của bạn đọc.Năng lực CTVH, vấn đề tưởng như đã biết, trở thành vấn đề mới mẻ,phong phú nhờ có những cách nhìn đa dạng hơn.
2.2 Nghiên cứu về dạy học kí trong nhà trường phổ thông, trong đó có dạy học kí hiện đại
Đặc trưng của kí với hai phương diện nổi bật là ghi chép sự thực và hưcấu nghệ thuật đã được xác định và nhận được sự đồng quan điểm của nhiều
nhà nghiên cứu Cuốn giáo trình Lí luận văn học do Trần Đình Sử chủ biên đã
nêu ra những đặc trưng của kí là một loại văn tự sự với đặc trưng là trần thuậtngười thật, việc thật, người trần thuật trong kí thường xưng tôi, hiện diện với
tư cách là nhân chứng, và chính là tác giả
Công trình nghiên cứu Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường của tác giả Nguyễn Viết Chữ khẳng định:“Kí là sự nhức
nhối của trí tuệ Kí văn học có tính nghệ thuật vì nó được diễn đạt bằng vănbản đa nghĩa chứ không phải đơn nghĩa như kí báo chí” [9, tr 171] Từ đó, tácgiả đã đề xuất PPDH kí: “Với những văn bản kí giàu chất trữ tình như tùy bút,bút kí GV nên tận dụng con đường theo dấu vết tác giả kết hợp với đọc diễncảm, kết hợp biện pháp giảng với bình và câu hỏi hình dung, tưởng tượng, táihiện.” [9, tr 171]
Tiếp cận VB kí theo đặc trưng thể loại là quan điểm được xác định sớm
trong lịch sử nghiên cứu văn học Trong cuốn Vấn đề giảng dạy văn chương theo loại thể do tác giả Trần Thanh Đạm chủ biên [11] cho rằng “cần xác định chất
của loại trong thể” để đề xuất những PPDH tích cực Trong phần viết về kí, cáctác giả đã đề xuất khá cụ thể cách tiếp cận loại hình văn bản này theo đặc trưngloại thể, việc giảng dạy kí được bàn đến với tư cách là một thể loại ngang hàng
với các loại hình văn bản khác như tự sự, trữ tình, kịch Trong phần Kí và giảng
Trang 15và cách phân loại các tiểu loại kí Hướng tiếp cận VB kí được đề xuất là quanđiểm dạy học kí theo đặc trưng thể loại.
Tiếp cận VB kí theo phong cách tác giả cũng được nhiều tác giả quan tâm
Có thể kể đến là công trình Đặc trưng tùy bút Nguyễn Tuân của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hà (2010) [13], Giảng dạy tác phẩm kí trong trường THPT qua Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường (2010) của Đinh Thị Phương Thảo [45], Ngôn ngữ kí Hoàng Phủ Ngọc Tường (2016) của Vi Thị Thảo [46],… đã đi sâu nghiên cứu phong
cách nghệ thuật của tác giả cũng như những đặc điểm, đặc trưng nổi bật củanhững cây bút hàng đầu trong nghệ thuật viết kí hiện đại Việt Nam
Luận văn Vận dụng lý thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường của Lâm Thị Hảo; luận văn Dạy học đọc hiểu tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân từ góc độ trường nghĩa của Nguyễn Thị Quỳnh Trang [51] đã
nghiên cứu việc vận dụng lý thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu tácphẩm kí Đóng góp của các luận văn này là giúp HS hiểu được vẻ đẹp độc đáocủa hai áng văn tài hoa bậc nhất văn đàn văn học Việt Nam hiện đại thông quacách sử dụng từ ngữ cùng trường nghĩa Tuy nhiên, tác giả chủ yếu mới dừnglại ở việc chỉ ra một hướng tiếp cận mới đối với các văn bản kí trong CT vàSGK 12 mà chưa khái quát lên thành kĩ năng, thành biện pháp để phát triểnnăng lực CTVH cho HS
Luận án tiến sĩ Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản kí cho HS phổ thông
(2016) của Lê Hồng Mai [29] là công trình nghiên cứu công phu khi đề xuấtnhững biện pháp nhằm rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản kí cho HS, một thểloại mà đa phần HS cho là hay nhưng khó Trong luận án, tác giả đã nêunhững chiến thuật và kỹ năng đọc hiểu khoa học, hợp lý, phù hợp với đặc
Trang 16Tóm lại: Những công trình nghiên cứu, những bài viết nêu trên đã đề cập
đến năng lực người học, mối quan hệ của năng lực đọc hiểu văn bản và nănglực CTVH như đích đến quan trọng của dạy học Ngữ văn hiện nay Nhiềucông trình nghiên cứu bàn về đặc trưng thể loại kí; đề xuất các PPDH kí theophong cách nghệ thuật tác giả, theo đặc trưng loại thể hoặc vận dụng lý thuyếttrường nghĩa Tuy nhiên, vấn đề dạy học kí hiện đại theo định hướng pháttriển năng lực người học, nhất là năng lực CTVH lại chưa được quan tâmđúng mức Đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào bàn về vai trò của thể
kí trong việc phát triển năng lực CTVH cho HS phổ thông để từ đó đề xuấtnhững biện pháp phù hợp Dẫu vậy, chính các bài viết, các công trình nghiêncứu nêu trên là những gợi dẫn, là cơ sở khoa học lí luận mở ra cánh cửa choviệc nghiên cứu các biện pháp nhằm phát triển năng lực CTVH cho HS trongdạy học kí hiện đại Việt Nam – đề tài mà chúng tôi mong muốn thực hiệntrong luận văn này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của luận văn là:
- Nghiên cứu các cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất các biện pháp phát triển năng lực CTVC trong dạy học kí hiện đại ở THPT
-Vận dụng các biện pháp đã đề xuất vào việc thiết kế các bài dạy thử nghiệm
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
- Xác định cơ sở khoa học (lí luận và thực tiễn) của việc phát triển năng lực CTVH cho HS khi dạy học kí hiện đại Việt Nam ở trường THPT
- Đề xuất các biện pháp nhằm phát triển năng lực CTVH cho HS trong dạy học các văn bản kí ở CT Ngữ văn 12
- Thực nghiệm nhằm chứng minh hiệu quả của các biện pháp mà luận văn đặt ra
Trang 174 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
-Kí hiện đại Việt Nam; hai bài kí Người lái đò sông Đà và Ai đã đặt tên
- Về khảo sát thực tế và thực nghiệm, đề tài chỉ mới tiến hành tại 2 trường THPT là trường THPT Mỹ Tho và THPT Lý Nhân Tông tỉnh Nam Định
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành được nhiệm vụ nghiên cứu và đạt được mục đích đề racủa luận văn, chúng tôi đã sử dụng một số nhóm phương pháp nghiên cứuchính như sau:
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận được dùng trong việc thu
thập tư liệu, nghiên cứu các vấn đề lí luận làm cơ sở khoa học cho đề tàinghiên cứu Đó là các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, hệ thống hóacác luận điểm khoa học của các chuyên ngành liên quan như tâm lí học, giáodục học, xã hội học, văn hóa học, lí luận văn học, chiến lược dạy học,PPDH… để có hệ thống cơ sở lí luận khoa học cho các đề xuất có ý nghĩathực tiễn
Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận được sử dụng để nghiên cứucác vấn đề lí luận về năng lực, về đọc hiểu văn bản, về kí và đặc trưng loạihình văn bản kí, để tổng hợp hệ thống lí luận phù hợp, làm cơ sở đề xuất cácbiện pháp nhằm phát triển năng lực cảm thụ cho HS
Trang 18đọc hiểu văn bản kí hiện đại có nhằm hướng tới phát triển năng lực CTVHnhư một năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thônghay không? Từ kết quả nghiên cứu thực tiễn để đề xuất các biện pháp nhằmkhắc phục thực trạng Phương pháp nghiên cứu thực tiễn còn được sử dụngtrong quá trình thực nghiệm, ở giai đoạn đánh giá kết quả thực nghiệm để đolường hiệu quả và giá trị thực tiễn của kết quả nghiên cứu.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi còn kết hợp vậndụng một số phương pháp khác như phương pháp thống kê, phân loại… đểthực hiện các nội dung nghiên cứu phù hợp
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu các biện pháp phát triển năng lực CTVH cho HS trong dạy học kí hiện đại
Chương 2: Các biện pháp phát triển năng lực CTVH cho HS lớp 12 trong dạy học kí hiện đại Việt Nam
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1.Cơ sở lí luận
1.1.1 Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực
1.1.1.1 Khái niệm năng lực
Năng lực là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng Latinh “competentia” Theo John Erpenbeck (1998),“năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử
dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hóa qua ý chí” [Theo 55, tr 73].
Weinert (2001) định nghĩa: “Năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [3, tr 67].
Các tác giả của chương trình Quesbec trong Ministere de l’Education
(2004) thì cho rằng: năng lực là “khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và sự đam mê để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” [14, tr 57].
Ở Việt Nam, các tác giả trong từ điển Tiếng Việt định nghĩa:“Năng lực
là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó; Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [54, tr 660]
Trên phương diện tâm lý học, Trần Việt Dũng cho rằng:“Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt.” [10, tr 107].
Trang 20hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ
cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” [6, tr 46]
Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn: Năng lực là khả năng vận dụng
tất cả những yếu tố chủ quan mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành quahọc tập để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống Đó làkhả năng thực hiện, làm việc dựa trên hiểu biết chắc chắn, kỹ năng thuần thục
và thái độ phù hợp của mỗi cá nhân
Trong dự thảo CT giáo dục có phân biệt năng lực chung, cốt lõi và nănglực đặc thù đối với từng môn học
Năng lực chung là “năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ một người nào
cũng cần có để sống, học tập và làm việc Các hoạt động giáo dục (bao gồm cácmôn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo), với khả năng khác nhau, nhưng đềuhướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực chung của HS” Cácnăng lực chung được xác định bao gồm: tự học; giải quyết vấn đề và sáng tạo;thẩm mỹ; thể chất; giao tiếp; hợp tác; tính toán; công nghệ thông tin và truyềnthông Vai trò của môn Ngữ văn đối với việc hình thành năng lực cho HS đượcnhấn mạnh đối với các năng lực: tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo, thẩm mỹ,giao tiếp; ngoài ra, năng lực hợp tác cũng cần được quan tâm
Năng lực đặc thù là “năng lực mà môn học có ưu thế hình thành và phát
triển cho HS” (do đặc điểm của môn học đó) Một năng lực có thể là năng lựcđặc thù của nhiều môn học khác nhau Trên cơ sở đó, có thể hiểu năng lựcchuyên biệt của môn Ngữ văn bao gồm: đọc hiểu và tạo lập văn bản, năng lựcCTVH/ năng lực thẩm mỹ và năng lực sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt Tuynhiên, cả ba năng lực chuyên biệt này đều được hiểu ở mức độ phổ thông vànhấn mạnh các yêu cầu như: tự học, thẩm mĩ, sáng tạo,…
1.1.1.2 Năng lực cảm thụ văn học
CTVH là một dạng đặc biệt của năng lực đọc hiểu văn bản Người đọc
không chỉ nắm bắt thông tin mà còn phải thẩm thấu được thông tin, phân tích,
Trang 21đánh giá được khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả, tạo được mối giao cảmđặc biệt giữa tác giả và bạn đọc và có thể truyền thụ cách hiểu đó cho ngườikhác [21, tr.7]
Cấu trúc của cảm thụ là sự đan xen phức tạp của các yếu tố tri giác, lý giải,tưởng tượng, cảm xúc Mục đích của cảm thụ là “cảm nhận, phát hiện, khámphá, chiếm lĩnh bản chất thẩm mĩ của văn chương nhằm đào tạo, bồi dưỡng mĩcảm phong phú, tinh tế cho độc giả.” [57] Cảm thụ trong dạy học tác phẩm vănhọc không chỉ giúp HS khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm mà trên cơ sở cảm xúc,khả năng liên tưởng và huy động vốn biểu tượng của từng cá nhân người đọc sẽ
bổ sung những yếu tố, đường nét thành “tác phẩm” mang dấu ấn của riêng mình.Hiểu một cách đơn giản thì CTVH chính là sự kết hợp hài hòa giữa việchiểu và rung động trong quá trình cảm nhận những giá trị nổi bật, những điềusâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của một văn bản nghệ thuật hay một bộ phận của vănbản Đó là một hình thức của nhận thức thẩm mĩ là một quá trình tích cực vậndụng vốn sống và những năng lực tư duy để lĩnh hội, thưởng thức những cáihay, cái đẹp của tác phẩm
Năng lực CTVH thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận ra
được các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sốngthông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó biếthướng những suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện
Như vậy, năng lực cảm thụ, một biểu hiện quan trọng của năng lực trí tuệxúc cảm thường dùng với hàm nghĩa nói về các chỉ số cảm xúc của mỗi cánhân Đó là năng lực đặc thù của môn học Ngữ văn, gắn với tư duy hìnhtượng trong việc tiếp nhận văn bản văn học Quá trình tiếp xúc với tác phẩmvăn chương là quá trình người đọc bước vào thế giới hình tượng của tác phẩm
và thế giới tâm hồn của tác giả từ chính cánh cửa tâm hồn của mình Năng lựctrí tuệ xúc cảm, như trên đã nói, được thể hiện ở nhiều khía cạnh; trong quá
Trang 22- Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trước nhữnghình ảnh, hình tượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con người,cuộc sống qua ngôn ngữ nghệ thuật
-Nhận ra được những giá trị thẩm mỹ được thể hiện trong tác phẩmvăn học: cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi, cái cao cả, cái thấp hèn… từ đó cảmnhận được những giá trị tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật của nhà văn đượcthể hiện qua tác phẩm
- Cảm hiểu được những giá trị của bản thân qua việc cảm, hiểu tác phẩmvăn học; hình thành và nâng cao nhận thức và xúc cảm thẩm mĩ của cá nhân;biết cảm nhận và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con
người, cuộc sống; có những hành vi đẹp đối với bản thân và các mối quan hệ
xã hội; hình thành thế giới quan thẩm mĩ cho bản thân qua việc tiếp nhận tácphẩm văn chương; [6, tr 59]
Tóm lại: Năng lực CTVH được hiểu là khả năng nắm bắt một cách nhanh
nhạy, chính xác các đặc điểm đặc trưng, bản chất của VB về nội dung và nghệthuật, là khả năng hiểu, rung cảm một cách sâu sắc, tinh tế với những điềuthầm kín nhất của tác giả gửi gắm qua hình tượng, là khả năng đánh giá chínhxác và sâu sắc tài năng cũng như sự độc đáo trong phong cách tác giả
1.1.1.3 Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực CTVH
Định hướng đổi mới PPDH Ngữ văn là chuyển những kết quả về đổimới PPDH của CT Ngữ văn hiện hành từ “mặt bên ngoài” vào “mặt bêntrong” để phát huy hiệu quả đổi mới PPDH, đáp ứng mục tiêu hình thành vàphát triển năng lực của HS với quan điểm dạy học “lấy HS làm trung tâm”chính là cơ sở để xác định các nội dung đổi mới PPDH Đối với môn Ngữvăn, khi vận dụng các PPDH phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sángtạo của HS như giải quyết vấn đề, dạy học khám phá, dạy học theo dự án,…cần chú ý đến sự khác biệt về năng lực và sở thích của mỗi HS trong tiếp nhậnvăn bản, nhất là các văn bản văn học để có cách tổ chức dạy học phân
Trang 23hóa phù hợp; đặc biệt chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, qua đó hướngdẫn HS biết kiến tạo tri thức và nền tảng văn hóa cho bản thân từ những cảmnhận, suy nghĩ và những trải nghiệm của cá nhân trong cuộc sống Tăngcường tính giao tiếp, khả năng hợp tác của HS trong giờ học Ngữ văn qua cáchoạt động thực hành, luyện tập, trao đổi, thảo luận, Vận dụng các PPDHtheo đặc thù của môn học và các PPDH chung một cách phù hợp nhằm từngbước nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn.
Dạy học đọc hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mớiPPDH Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản Nếu như trước đây chúng ta coiphân tích tác phẩm hay giảng văn là một phương pháp đặc thù của dạy văn thìhiện nay đã có những thay đổi trong cách tiếp cận vấn đề này của CT và SGKNgữ văn mới Cách dạy đọc hiểu không nhằm truyền thụ một chiều cho HSnhững cảm nhận của GV về văn bản được học, mà hướng đến việc cung cấpcho HS cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề nội dung và nghệthuật của văn bản, từ đó hình thành cho HS năng lực tự đọc một cách tích cực,chủ động, có sắc thái cá nhân Hoạt động đọc hiểu của HS cần được thực hiệntheo một trình tự từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, trải qua các giai đoạn từ đọcđúng, đọc thông đến đọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo Khi hìnhthành năng lực đọc – hiểu của HS cũng chính là hình thành năng lực cảm thụthẩm mĩ, khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng và tư duy cho HS
Có thể nói từ đọc – hiểu đến cảm thụ là một quá trình chiếm lĩnh thế giớinghệ thuật Nếu coi đọc hiểu là bước khởi đầu, là nền móng thì CTVH làbước cuối cùng, là đích đến khi đọc hiểu một văn bản nghệ thuật Dựa vàonăng lực đọc hiểu văn bản văn học, chúng ta có thể đánh giá được năng lựccảm thụ nghệ thuật của HS
1.1.2 Dạy học kí hiện đại Việt Nam theo hướng phát triển năng lực CTVH
Trang 24cảnh sắc thiên nhiên, có thật trong cuộc sống.
Theo những nhà biên soạn Từ điển thuật ngữ văn học, kí là thể loại văn
học có đặc điểm “tôn trọng sự thật khách quan của cuộc sống, không hư cấu”
và “Nhà văn viết kí luôn chú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực đời
sống được phản ánh trong tác phẩm” Còn các tác giả của Từ điển tiếng Việt thì cho rằng, kí là “thể văn tự sự có tính chất thời sự, trung thành với hiện
thực đến mức cao nhất”
Chính vì các tính chất nói trên mà thể loại kí có một phạm vi biểu hiệnđời sống rất rộng lớn Kí có thể thiên về ghi chép sự việc, hiện tượng nhưphóng sự, kí sự; có thể thiên về biểu hiện những cảm xúc trữ tình như tùy bút,tản văn; bút kí… Chính vì cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong nhìn nhận vàkhai thác các sự kiện của đời sống cũng như năng động phát huy vai trò sángtạo của người cầm bút mà loại kí rất đa dạng và tác phẩm kí cụ thể luôn độcđáo
Kí văn học là sự can dự trực tiếp của nghệ thuật vào hiện thực đời sống
Đó là những sáng tác văn học theo sát các vấn đề thời sự nóng hổi mang ýnghĩa xã hội rộng lớn Mặt khác, kí văn học còn là sự biểu hiện của những giátrị nhân sinh, là thông tin về sự thực của những quan niệm, tư tưởng Nộidung đặc thù của kí đã chứa đựng trong bản thân nó cơ sở để “thông tin sựthực” chuyển thành “thông tin thẩm mĩ” và những dòng chữ ghi việc có thểphát triển thành tác phẩm văn chương Nhưng cũng chính vì thế mà kí đúng làghi chép sự việc, nhưng không phải ai cũng có thể viết kí Muốn viết kí, ngườisáng tác phải vừa là nhà hoạt động xã hội năng nổ, xông xáo, vừa là nhà nghệ
sĩ tài hoa và là nhà văn hóa có tư tưởng rộng lớn với vốn tri thức uyên thâm
1.1.2.2 Phân loại kí
Theo lịch sử văn học và tiến trình phát triển của thể loại chia kí thành kítrung đại và kí hiện đại Căn cứ vào phương thức biểu hiện và chất liệu kếtcấu chia kí thành ba loại: kí tự sự, kí trữ tình và kí chính luận Căn cứ vào đề
Trang 25phân chia kí báo chí – kí văn học; kí nghệ thuật – kí thông tin,… Căn cứ vàobút pháp và đối tượng phản ánh mà kí được chia thành các tiểu loại: phóng sự,
kí sự, bút kí, truyện kí, tuỳ bút, tản văn… Với mỗi tiêu chí và góc nhìn khácnhau, kí được chia thành các thể, các tiểu loại, thể loại khác nhau Từ tên gọicủa thể loại có thể thấy rõ chức năng quan trọng nhất ban đầu của kí là ghichép, ghi nhớ thông tin, sự kiện
Dựa vào mục đích, hoàn cảnh, chất liệu của ghi chép, mà người ta phânchia ra các thể loại kí Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, kí có xu hướngtrở thành một thể loại nghệ thuật Nhưng dù phần hư cấu có tăng đến mức nàothì hạt nhân sự thật vẫn là trọng tâm để đảm bảo tính xác thực của nội dungphản ánh trong VB kí Cách chia phổ biến nhất là các tác phẩm thuộc loạihình văn học kí thành các thể loại kí Mỗi thể loại kí bên cạnh đặc điểm chung
về mặt loại hình là hạt nhân cấu trúc tương đối ổn định của kí (ghi chép sựthực, người thật việc thật) còn mang những đặc trưng riêng về mặt thể loại:+ Kí sự: ghi chép khá hoàn chỉnh diễn biến một sự kiện, một phong trào,
một giai đoạn
+ Truyện kí: thường tập trung trần thuật một nhân vật như: danh nhân,
anh hùng
+ Phóng sự: chú trọng sự kiện khách quan, đòi hỏi tính thời sự trực tiếp,
thường hướng vào những vấn đề nóng hổi, bức xúc của cuộc sống
+ Bút kí: kết hợp việc ghi chép con người, sự kiện cùng với việc bày tỏ
cảm xúc, suy nghĩ của người viết
+ Tuỳ bút: so với các tiểu loại khác của kí giàu chất trữ tình hơn
cả tuy
vẫn không ít yếu tố chính luận và chất suy tưởng, triết lí Tuỳ bút không bịràng buộc, câu thúc bởi một cốt truyện cụ thể song nội dung vẫn được triểnkhai theo một cảm hứng chủ đạo, một tư tưởng chủ đề nhất định Liên tưởng
Trang 2617
Trang 271.1.2.3.Đặc trưng của kí hiện đại Việt Nam
Khi bàn đến đặc trưng của loại hình kí, cho đến nay giới lí luận văn họcvẫn chưa đưa ra một hệ thống lí thuyết thống nhất cho đặc trưng của thể loạinày Có nhiều ý kiến khác nhau trong việc xác định đặc trưng của kí, nhất là
kí hiện đại Việt Nam, qua tổng hợp và nghiên cứu chúng tôi thấy có một sốđặc trưng nổi bật sau:
a Điểm tựa nội dung của văn bản kí chính là mã “sự thực”
Mang tính chất của báo chí, kí là một loại văn xuôi trần thuật người thật,
việc thật, tôn trọng tính xác thực và tính thời sự của đối tượng được miêu tả,tiếp cận hiện thực nhanh nhạy, nắm bắt và thể hiện cuộc sống kịp thời, mạnhdạn hướng vào những vấn đề nóng bỏng đang được xã hội quan tâm, thông tin
đa dạng, xác thực được đảm bảo bằng thực chứng có giá trị tư liệu lịch sử quýgiá, đáp ứng những nhu cầu hiểu biết thế giới của độc giả
Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh hạt nhân sự thật và tính nghệ thuật là haiphương diện quan trọng nhất của loại hình này Ghi lại “sự thực” bằng điểmnhìn và phong cách trần thuật của người sáng tạo nghệ thuật nên tác giả viết kílàm công việc của người “ghi chép sự thực cuộc sống bằng ngôn ngữ nghệthuật”.Nhưng dù yếu tố hư cấu có nhiều đến đâu (như ở tuỳ bút, bút kí, tảnvăn hiện đại) thì hạt nhân “sự thực” vẫn là điểm tựa nội dung của VB kí “Sựthực” trong VB kí thường được biểu hiện cụ thể ở các phương diện sau:
Người trần thuật là nhân chứng của sự thực Đây là nhân vật luôn xuất
hiện trong VB kí, có khi trực tiếp xưng “tôi”, có khi không xuất hiện trực tiếp
mà lồng trong người kể chuyện
Nhân vật, sự kiện, thời gian, địa điểm cụ thể, đơn nhất Đây là các yếu tố
đảm bảo sự tin cậy cho tính xác thực của nội dung sự thực trong kí và cũng lànhững thông tin hữu ích mà người viết muốn truyền tải đến bạn đọc Đó làcác nhân vật lịch sử, các nhân vật người tài, người tốt có thật, những sự kiện
Trang 28miêu tả sự thực phù hợp chứ không lồng ghép, hư cấu, đảo lộn trật tự theodụng ý nghệ thuật của người viết như trong truyện hay thơ.
Do vậy, “dù xuất hiện với vị trí là đối tượng chính của nội dung trầnthuật, chủ thể của “dòng sự kiện” hay là điểm tựa cho mạch cảm xúc, “dòngtâm tư” của người trần thuật thì “sự thực” chính là yếu tố làm đặc trưng riêngcủa loại hình kí Có thể khẳng định rằng, đặc trưng quan trọng nhất của kí vănhọc là lựa chọn những sự thật của đời sống để xây dựng hình tượng nghệthuật thông qua vai trò của nhân vật trần thuật
“Sự thực” là điểm tựa còn cảm xúc, suy ngẫm dòng tâm tưởng của ngườiviết là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt mạch VB Sông Đà là “nhân vật chính” của tuỳ
bút Người lái đò sông Đà nhưng các yếu tố kết nối mạch cảm hứng của bài kí
không phải là tri thức về lịch sử hay địa lí hay vẻ đẹp văn hóa của dòng sông
mà là cảm xúc, mạch suy tưởng với những liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, của hình tượng tác giả Mạch cảm hứng trữ tình về sông Đà đã tạo nên mộthình tượng nghệ thuật về sông Đà từ chất liệu sự thực về lịch sử, văn hoá,cảnh sắc thiên phú của dòng sông qua quan sát và cảm nhận của người viết.Sông Đà tạo cảm hứng cho người viết và cảm hứng nghệ thuật của người viếttạo nên vẻ đẹp cho dòng sông Bút pháp trữ tình là chất men làm cho kí lấplánh, trong mỗi tác phẩm kí là một sự thực được tạo nên bởi ánh mắt say mê
và nhịp đập tinh tế, nhạy cảm của trái tim người viết
b Cái nhìn nghệ thuật về “sự thực” tạo nên linh hồn của văn bản kí hiện đạiNếu “sự thực” là điểm tựa nội dung thì yếu tố tạo nên giá trị nghệ thuật, nộidung tư tưởng của VB kí là dòng cảm xúc, góc nhìn, cách cảm, cách nghĩ,quan điểm tư tưởng của người viết “Sự thực” ở đây là những người thật, việcthật, sự kiện, sự vật, các địa danh, vẻ đẹp văn hoá, sản phẩm văn hoá,… đượcnhà văn lựa chọn và đảm bảo sự xác thực khi đưa vào tác phẩm Nhưng “xácthực” không có nghĩa là y như thật như cách ta vẫn “sao y bản chính”, là nhàvăn chụp lại hay bê nguyên sự thực ấy vào tác phẩm của mình Người thật,việc thật ấy được ghi lại qua cái nhìn, qua “lăng kính” nghệ thuật, có sự chi
Trang 29phối của trình độ văn hoá, năng lực thẩm mĩ, năng lực tư duy, cảm quan nghệthuật, quan điểm nhân sinh, của nhà văn Con sông Đà trên bản đồ địa líkhác với sông Đà chảy trong những trang kí tài hoa của Nguyễn Tuân dù vẫn
là những con thác ấy, mặt ghềnh ấy, hướng chảy ấy, Qua cách “ghi chép”của nhà văn, nó trở thành một sinh thể nghệ thuật có tâm hồn, có tính cách, cónỗi niềm riêng
Khi viết kí, mối quan hệ giữa yếu tố sự thật và phẩm chất nghệ thuật củađối tượng được nhà văn xử lí một cách khéo léo để nội dung VB kí vừa khônglệch khỏi quỹ đạo của sự thực vừa đảm bảo tính nghệ thuật Dựa trên hạt nhân
sự thật, người viết vừa huy động tri thức về đối tượng phản ánh, vừa hư cấu
Hư cấu trong kí được sử dụng ở những thành phần không thật xác định như:miêu tả nội tâm, miêu tả thiên nhiên, bên cạnh đó hư cấu ở kí còn thể hiệntrong việc sắp xếp, san định tư liệu, sự kiện trong quá trình tái tạo hiện thựcngoài đời thành hiện thực trong tác phẩm Một trong những cách thức vận
dụng hư cấu trong kí là nghệ thuật sử dụng cái Tôi Nhờ cái Tôi, nhà văn thoát
khỏi tình trạng quẩn quanh giữa người thực, việc thực để mở rộng hoàn cảnhvăn học đến những chân trời xa xôi khác, bằng cảm xúc, tưởng tượng, liêntưởng, hồi ức Tuy vậy, hư cấu không làm ảnh hưởng tới tính xác thực củanội dung và phải làm tăng ý nghĩa xã hội và giá trị nghệ thuật của tác phẩm.Tính nghệ thuật làm nên giá trị văn học của VB kí được thể hiện ở các phươngdiện:
Nhân vật người trần thuật trong VB kí: chính là người chứng kiến, người
ghi chép Khi viết kí, dù muốn hay không, dấu ấn chủ quan của người viết sẽxuất hiện trong văn bản, đó là tình cảm, cảm xúc, là quan điểm, thái độ về sựthực được phản ánh Đối với VB kí văn học như tùy bút và bút kí, cảm xúc củangười viết được thể hiện trực tiếp, rõ nét trong tác phẩm Xét từ thể loại, sức hấpdẫn của một bài kí không chỉ phụ thuộc vào những ghi chép của tác giả với
Trang 30văn học chứ không dừng lại ở tính chất đưa tin như báo chí thì nhà văn phảisáng tạo tác phẩm theo quy luật của nghệ thuật và nhất thiết nhân vật trần
thuật phải hiện mình trong cảm xúc, trong những phân tích, lí giải, phát hiện
về đối tượng phản ánh
Cái tôi trữ tình trong kí được bộc lộ phong phú, trực tiếp khiến người
viết phải biểu hiện độc đáo cá tính sáng tạo trong mạch cảm xúc, suy nghĩ,trong cách bình luận và phân tích sự vật cũng như trong phương thức thể hiện.Đến với kí Nguyễn Tuân ta bắt gặp một cái tôi tài hoa, uyên bác, Vũ Bằng –một cái tôi thao thiết nhớ thương hồn dân tộc hay Hoàng Phủ Ngọc Tường làcái tôi với tâm linh Huế sâu thẳm, đúng như ý kiến của GS Hà Minh Đức:
“các thể kí trữ tình đòi hỏi người viết phải biểu hiện độc đáo cá tính sáng tạotrong mạch cảm xúc, suy nghĩ trong cách bình luận và phân tích sự vật cũngnhư trong phương thức thể hiện Trong loại kí trữ tình, mỗi tác giả đều bộc lộcái tôi trữ tình, hoặc sắc sảo linh hoạt, hoặc chân thực, mộc mạc, hoặc đônhậu, đằm thắm”[12, tr 123]
Đối tượng trần thuật là sự vật, sự kiện, con người được người viết chọn lựa làm trung tâm của VB kí không còn là “sự thực như chính nó” mà là sự
thật được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của người viết Dù là cây cầu LongBiên lịch sử, là con Sông Đà xa xôi nơi thượng nguồn Tây Bắc, là đặc sảncốm làng Vòng thơm nồng vương nếp áo, là sông Hương thơ mộng của thànhphố Huế hay một nét kín đáo nhà vườn, đều trở thành một hình tượng nghệthuật chứa đựng những suy tư, tình cảm và thái độ trân trọng của người viết
Điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật trong VB kí ít nhiều mang
dấu ấn cá nhân của người viết Đặc biệt là giọng điệu trần thuật, đây là yếu tốthể hiện rất rõ cá tính sáng tác, quan điểm lựa chọn các phương tiện nghệthuật như từ ngữ, hình ảnh, chi tiết Điểm nhìn trần thuật, quan điểm, thái độcủa người trần thuật thể hiện ý nghĩa tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm.Ýnghĩa của VB kí, nhất là kí nghệ thuật, không bao giờ dừng lại ở ghi chép sựthực khách quan, những đoạn văn trữ tình chính là những đoạn trực tiếp thể
Trang 31hiện tình cảm, cảm xúc của người viết về đối tượng trần thuật hay hình tượngnghệ thuật của VB.
Về phương diện kết cấu, kí hiện đại, đặc biệt là tùy bút, bút kí …gần với
thơ ở chỗ nó có cấu tứ, cấu tứ gắn kết các chi tiết tưởng như không liên quantrong thực tế thành những tín hiệu thẩm mĩ có cùng chung một nhiệm vụ nghệthuật là bộc lộ nội dung tư tưởng trong chỉnh thể tác phẩm Người viết phảixâu chuỗi, tập hợp các sự vật, hiện tượng, gắn kết những cái rời rạc thành một
chỉnh thể bằng lôgic suy nghiệm riêng độc đáo, bất ngờ Cấu tứ qui tụ tất cả các chi tiết trong quỹ đạo của nó Đọc Tờ hoa của Nguyễn Tuân có thể thấy
mạch văn triển khai từ không khí làm việc tại một công trường làm đườngTây Bắc, tổ ong do các anh chị công nhân kiếm được, đời sống con ong, quátrình tạo ngọc trai, nghề viết văn, bước sinh trưởng của đóa hoa thơm, hoatưởng niệm những nạn nhân của phát xít Đức, tấm tranh hoa của em bé Nga,chiếc đồng hồ của chị phiên dịch, các loại đồng hồ đông tây kim cổ…và kếtthúc ở sự bàn luận về bánh xe thời gian, bánh xe lịch sử, xu thế chiến thắngcủa quân ta trước quân đội Mĩ
Mạch kết nối các vấn đề trên là sự liên tưởng trên những nét đồng nhấtcủa các yếu tố tưởng như không có quan hệ gì trong đời sống thực tế: mật củacon ong, ngọc của con trai, đóa hoa thơm và nghề viết; hoa và sự sống, hòabình; đồng hồ đo thời gian và vòng quay lịch sử Các vấn đề trên lại đượcthống nhất trong ý tưởng lớn bao trùm toàn bộ tác phẩm: đó là ý thức dấnthân, là trọng trách của người cầm bút trước những vấn đề lớn lao của lịch sử,của thời đại, của nhân loại Như vậy, Nguyễn Tuân đã cấu tứ tác phẩm trênnhững sự kiện khác xa nhau về không gian, thời gian, về đặc điểm loại hình…Chính cái Tôi của nhà văn với màu sắc tư duy và cá tính riêng đã quyết địnhđến việc tạo thành ý tưởng và liên kết các chi tiết trong những cấu tứ độc đáo.Tóm lại, dù có một số tiểu loại có sự giao thoa với báo chí nhưng kí là
Trang 32người viết Do đó, khi tiếp cận với VB kí cần tiếp cận từ hai hướng: tác giả người trần thuật và hiện thực – sự thực trong kí Điểm nhìn nghệ thuật, cáchlựa chọn đối tượng nghệ thuật của nhân vật trữ tình tác giả trong VB kí sẽ quyđịnh mức độ sử dụng hai yếu tố “sự thực” và “hư cấu”, cách xử lí mối quan hệgiữa hai yếu tố ấy của người viết.
-c Hiện thực đa chiều văn hóa, một kiểu “sự thực” đặc trưng của văn bản
kí hiện đại
Với sự phong phú, đa dạng về mặt thể loại, lại có phẩm chất năng độngtrong việc ghi chép hiện thực nên các mảng đề tài trong VB kí hiện đại vôcùng phong phú: đó là các sự kiện, các nhân vật lịch sử, các nét đẹp trongtruyền thống văn hóa dân tộc đến các vấn đề của cuộc sống đời thường, Điểm nổi bật, hầu như xuất hiện hoặc ẩn sâu trong các trang viết thuộc thểloại kí hiện đại chính là hiện thực mang đậm sắc màu văn hóa dân tộc, vănhoá nhân loại Nói cách khác, những vấn đề có giá trị văn hóa, có thể là vănhóa vật chất hoặc văn hóa tinh thần là vấn đề được các tác giả viết kí đặc biệtquan tâm Hơn nữa, dù là ghi chép sự thực nào, người viết kí cũng dẫn dắtđến giá trị văn hóa của vấn đề đó hoặc trong cách viết, cách ghi của họ đã ẩnchứa những định hướng khiến người đọc tìm đến hoặc nhận ra
Đặc điểm nổi bật, làm nên phẩm chất văn học của VB kí chính là “bên
cạnh nghĩa chỉ vật, nghĩa nghệ thuật, trong kí còn một lớp “nghĩa mở rộng, nghĩa liên văn bản, nghĩa văn hóa” [32, tr 79] Lớp nghĩa bề sâu, mở rộng này là một trong những mục tiêu của hoạt động đọc hiểu VB kí Nghĩa văn
hoá không phải là điểm riêng nhưng là điểm nổi bật, có giá trị đặc sắc của văn
bản thuộc loại hình kí Trong Hà Nội băm sáu phố phường Thạch Lam “ghi
lại” các món ăn dân dã của Việt Nam với ý thức nâng chúng đến độ thể hiệnquốc hồn, quốc túy, chứa đựng truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc
Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng quặn lên tình cảm da diết nhớ về một
vùng quê hương phương Bắc trong hàng chục năm trời đất nước cách chia,
Miền cỏ thơm của Hoàng Phủ Ngọc Tường phát hiện và khẳng định Huế là
Trang 33thành phố được dành cho cỏ Những mùi hương hoa cỏ ấy cứ dậy lên thànhmùi hương văn hóa rất riêng của Huế, của mùi Thiền hư không, của nắng
vàng trên sông Hương, của mùi mơ hồ và cả mùi biển dâu cuộc thế…Đường chúng ta đi của Nguyễn Trung Thành xoáy vào chủ đề bản lĩnh của dân tộc,
vang vọng một âm hưởng trữ tình – sử thi hiện đại: “Lạ lùng thay, từ trongmáu lửa cháy đỏ cả lịch sử, chúng ta lên tiếng nói, và tiếng nói ấy lại là tiếnghát trữ tình, điềm đạm, trong sáng, duyên dáng và say sưa như một cuộc hòhẹn, xao xuyến như buổi gặp gỡ ban đầu Một dân tộc đánh giặc bốn nghìnnăm mà tiếng hát vẫn êm dịu, uyển chuyển như vậy, dân tộc ấy mãnh liệt vàbình tĩnh biết chừng nào”
d Ngôn từ nghệ thuật của kí hiện đại mang đậm tính chủ thể, biến đổilinh hoạt, gắn liền với cá tính sáng tạo của người viết
Các nhà nghiên cứu cho rằng đặc điểm văn học của kí lộ rõ nhất ở vănphong, ngôn từ nghệ thuật Chính bản thân Nguyễn Tuân cũng khẳng định
“Cách diễn đạt của thể kí rất đa dạng và phức tạp” Do vai trò đặc biệt nổi bật
và quan trọng của tác giả trong tác phẩm kí, ngoài những đặc điểm chung củangôn từ văn học, ngôn từ nghệ thuật trong kí cũng mang đậm tính chủ thể,gắn liền với đặc điểm cá tính sáng tạo của tác giả
“Ngôn từ trong tác phẩm kí văn học chủ yếu là ngôn ngữ trực tiếp củatác giả - người chứng kiến và tái hiện các hiện tượng đời sống Đồng thời, tácgiả luôn là người đối thoại, chứng kiến, ghi nhớ và ghi chép lại ngôn từ củacác nhân vật khác.” [43, tr 202] So với ngôn từ nghệ thuật của các loại tácphẩm khác, ngôn từ nghệ thuật của kí luôn có xu hướng mở rộng, thừa nhận,dung nạp nhiều hình thức và phong cách sáng tạo Nói như Nguyễn Tuân: “kí
có quyền dùng tất cả các cách của truyện, kịch, thơ ca và cả các cách thức củađiện ảnh, sân khấu, ca vũ, hội họa, điêu khắc…”
Ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm kí thường rất linh hoạt về giọng điệu
Trang 34phẩm.” [43, tr 202] Ta có thể thấy rõ điều này ở đoạn đầu của tùy bút Đường chúng ta đi của Nguyễn Trung Thành Sau lời trần thuật: “Thường vẫn vậy
đấy, bắt đầu hầu như chẳng có gì cả Chỉ là một giọng hát Đội trưởng chúngtôi vừa tắt đài Trên đài, một người con gái nào đó vừa hát một bản dân ca củađất nước ta trong đêm khuya… ” là sự phân tích: “một giọng hát dân ca, ngânnga bát ngát như cánh cò trên đồng lúa miền Nam chạy tới chân trời, có lúcrụt rè, e thẹn như khóe mắt người yêu mới gặp, có lúc tinh nghịch, duyên dángnhư những con đường làng trộn lẫn bóng tre và bóng nắng…”; là sự khái quát:
“Đó chính là quê hương ta đang lên tiếng hát Tiếng ngân nga dội lên từ lòngđất (…) Đó là tiếng ngân của mặt đất, của dòng sông, của những xóm làng vànhững cánh đồng, sau một ngày lao động và chiến đấu”
Cùng với trần thuật hoặc trên nền trần thuật, kí cũng khêu gợi xúc cảm ởbạn đọc, truyền cảm xúc, cách nhìn nhận, đánh giá của tác giả tới bạn đọc.Ngôn từ nghệ thuật trong kí không chủ yếu hướng về đối tượng được phảnánh, mà là thứ ngôn từ thuyết phục trực tiếp và tích cực hướng về gây hiệuquả nhận thức, làm rung động tình cảm của người đọc Ví như từ giọng hátcủa người con gái trên đài, nhân vật “tôi”- người lính cũ đã khêu gợi nhữngliên tưởng của người đọc về đất nước và con người Việt Nam ta, trong lịch sử
và trong hiện tại Từ đó giúp mỗi cá nhân nhận thức sâu sắc trách nhiệm củachính mình đối với đất nước
Do vậy, đến với các VB kí, dù thuộc tiểu loại nào, bạn đọc cũng dễ dàngtìm được tiếng nói chung với tác giả nhờ những đề tài rất gần gũi được “ghichép” một cách trung thành với hiện thực bằng nghệ thuật trần thuật dễ gâyhiệu ứng xúc cảm bởi sự “lây lan” cảm xúc từ giọng điệu trần thuật giàu chấttrữ tình và thấm đẫm chất suy tư của nhà văn
1.1.2.4 Dạy học kí hiện đại theo đặc trưng thể loại
Một trong những định hướng đúng đắn trong lịch sử khoa học nghiêncứu về lí luận và phương pháp dạy học Ngữ văn là dạy học theo đặc trưng thểloại Mỗi thể loại có những đặc điểm riêng về cách thức tổ chức tác phẩm, về
Trang 35hiện tượng đời sống được miêu tả và mối quan hệ của nhà văn đối với đốitượng phản ánh Những đặc điểm ấy chi phối cách tiếp nhận VB của ngườihọc Tiếp cận đúng hướng, hiểu đúng đặc trưng thể loại là tìm ra đúng chìakhoá để “mở cửa” bước vào thế giới nghệ thuật và các tầng lớp ý nghĩa của
VB Dạy học kí hiện đại Việt Nam trong trường THPT hiện nay cũng khôngphải là một ngoại lệ Để hướng tới phát triển hệ thống năng lực tổng hợp chongười học chứ không phải là một tập hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ rời rạc,
GV cần phải xác định rõ và nắm vững các yêu cầu sau:
- Về mục tiêu dạy học: Bên cạnh những năng lực chung cần hướng đến,dạy học kí hiện đại Việt Nam cần chú trọng đến mục tiêu phát triển nhữngnăng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn:
+ Phát triển năng lực đọc hiểu VB cho HS
+ Phát triển năng lực CTVH cho HS
+ Phát triển năng lực tạo lập VB cho HS
-Về nguyên tắc dạy học, GV cần đảm bảo những nguyên tắc cơ bản sau:+ Phát huy tính chủ động sáng tạo của người học
+ Bám sát đặc trưng thể loại
+ Theo hướng tích hợp
- Về phương pháp dạy học: Với các đặc trưng cơ bản của kí hiện đại ViệtNam, nhất là ở các thể loại đậm chất trữ tình như tùy bút, bút kí cần chú trọnghơn vào các PPDH như: phương pháp đọc sáng tạo (đặc biệt là đọc diễn cảm);phương pháp thảo luận nhóm; phương pháp giảng bình; phương pháp gợi mở;phương pháp so sánh; phương pháp nêu và giải quyết vấn đề Với mỗiphương pháp cần nắm rõ đặc điểm của phương pháp; cách thức thực hiệnphương pháp khi sử dụng các chiến thuật đọc và hệ thống câu hỏi, bài tập, sao cho phù hợp với từng phương pháp
1.1.2.5 Phát triển năng lực CTVH cho HS trong dạy học kí hiện đại Phát
Trang 36“Năng lưcc̣ cam thụ văn học thểhiêṇ kha năng cua mỗi c
̉̉
nhâṇ ra đươcc̣ cac gia tri c̣thẩm mi cua sư c̣vâṭ
̉́
sống; thông qua những cảm nhâṇ , rung đôngc̣ trước cái đepc̣ vàcái thiêṇ , từ đó biết
hướng những suy nghi ̃, hành vi của mình theo c ái đẹp, cái thiện.” [6, tr 52] Vănbản kí hiện đại với sự năng động, phong phú về mặt thể loại, khả năng tác độngtrực tiếp tới tư tưởng, tình cảm của người đọc có vị trí quan trọng trong sự pháttriển năng lực, phẩm chất của HS bởi đó là sự kết hợp của một nguồn tri thứcphong phú và một cảm hứng trữ tình sâu lắng, dạt dào về cuộc đời, về quê hươngđất nước, văn hoá của nhà văn Nó vừa giúp người đọc được tiếp xúc với nguồntri thức phong phú về hiện thực tự nhiên xã hội, những không gian văn hóa củađất nước, vừa được đắm mình trong những dòng cảm xúc ngọt ngào về những gìtưởng rất bình thường của cuộc sống xung quanh
Sự xuất hiện phong phú hơn của những VB kí hiện đại trong CT Ngữ văn
sẽ phát huy được khả năng tác động của thể loại này đối với sự phát triển cácnăng lực trong đó có năng lực cảm thụ văn học của HS Ngoài việc cung cấpcho HS một hệ thống tri thức phong phú về khoa học và hiện thực, kí hiện đạicòn giúp HS biết cảm nhận, biết rung động trước vẻ đẹp muôn màu của cuộcsống, của con người, những nét đẹp vốn vẫn khiêm tốn ẩn sau những điềubình dị nhất
Điểm thú vị của kí hiện đại Việt Nam là những cái nhìn riêng, khám pháriêng của tác giả được đan cài với việc tái hiện hình tượng từ hiện thực đờisống Vì vậy sức hấp dẫn của những VB kí hiện đại được lựa chọn giảng dạytrong CT THPT chính là khả năng tái hiện hiện thực một cách sinh động quangòi bút tài hoa của tác giả Kí hiện đại Việt Nam không chỉ là văn bản nghệthuật mà còn mang trong nó đặc điểm của những kiểu loại văn bản quenthuộc trong đời sống hàng ngày – văn bản thông tin Tác giả khéo sử dụng tưliệu đời sống kết hợp với tư tưởng, cảm thụ, nhận xét đánh giá, của mình đểđem đến sức hấp dẫn cho hình tượng Vì vậy, rèn kĩ năng đọc hiểu kí ViệtNam hiện đại nhằm phát triển năng lực CTVH không chỉ giúp HS hứng thú
Trang 37hơn với các tác phẩm thuộc thể kí - thể loại đang rất phổ biến trong xã hội
hiện đại - mà còn có tác dụng nâng cao hơn nữa tính thực hành, vai trò thực
tế của môn Ngữ văn
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1.Văn bản kí hiện đại trong CT và SGK Ngữ văn THPT hiện nay
CT và SGK từ bậc tiểu học đến THPT đều có các văn bản kí hiện đại Ở
bậc tiểu học, một số trích đoạn của kí hiện đại, cụ thể là tùy bút đã được lựa
chọn thành các bài tập đọc nhằm giúp các em tiếp cận gần hơn với thể loại
văn biểu cảm, thuyết minh
Đến CT và SGK bậc THCS, THPT hầu như đều có sự xuất hiện của các
văn bản kí hiện đại Cụ thể là:
Bảng 1.1 Hệ thống các VB kí hiện đại trong CT THCS và THPT
TT
Lao xao (Trích Cây tre Việt Nam Lòng yêu nước
Sài Gòn tôi yêu Một thứ quà của lúa non: Cốm phố phường)
Ca Huế trên sông Hương
Trang 38Với những đặc trưng về nội dung và nghệ thuật; khả năng tác động trựctiếp tới người tiếp nhận, kí hiện đại đã và sẽ có vị trí quan trọng trong việcvừa cung cấp cho HS tri thức phong phú về mọi lĩnh vực của đời sống, vừabồi dưỡng năng lực cảm thụ thẩm mĩ, đồng thời rèn luyện những kĩ năng viếtcần thiết, nhất là văn biểu cảm cho các em.
Sự xuất hiện của những VB kí hiện đại trong CT Ngữ văn 12 sẽ phát huy
được khả năng tác động của VB kí đối với sự phát triển năng lực của ngườihọc Ngoài việc cung cấp cho HS một hệ thống tri thức phong phú về khoahọc và đời sống, kí hiện đại còn giúp HS biết cảm nhận, biết rung động trước
vẻ đẹp của cuộc sống, của con người: một khúc hát quê hương, một cánh diều
no gió, hay một bến sông quê, nhiều khi rất dễ rơi khỏi suy nghĩ của các em
“Kí sẽ kết tụ những giọt trầm trong tâm hồn thế hệ trẻ để các em bớt vô tâm
với những điều tưởng rất bình dị của sự sống mà vô cùng quan trọng với mỗingười.” [29, tr 48] Chắc chắn khi đọc những trang tuỳ bút, bút kí nồng nàncảm xúc và rất mực tài hoa về những dòng sông quê hương của Nguyễn Tuân,Hoàng Phủ Ngọc Tường, những trang viết đậm sắc màu văn hóa về Hà Nộicủa Thạch Lam, Vũ Bằng,… các em sẽ hiểu hơn và tự hào hơn với truyềnthống dân tộc, sẽ trân trọng hơn những giá trị của quá khứ Và đương nhiên,các em sẽ mặn mà với văn chương hơn
Kí, nhất là kí hiện đại với những mối quan tâm rất đỗi bình thường củađời sống sẽ góp phần vào việc thức dậy trong HS những rung cảm đáng quýtrước vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống và con người qua lăng kính nghệ thuậtcủa nhà văn Việc đổi mới PPDH trong dạy đọc hiểu văn bản kí hiện đại nhằmphát triển năng lực và phẩm chất cho người học là việc làm cần được quantâm hơn nữa trong giai đoạn hiện nay
1.2.2 Thực trạng dạy học kí hiện đại Việt Nam trong trường THPT hiện nay
1.2.2.1 Yêu cầu của CT và SGK Ngữ văn
Qua việc khảo sát yêu cầu CT Ngữ văn bậc THPT, tác giả luận văn nhận
Trang 39thấy CT giáo dục phổ thông xác định mục tiêu chung của các VB kí trong CT
Ngữ văn 12 như sau:
- Hiểu những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của một số trích đoạn
tác phẩm kí Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân), Ai đã đặt tên cho dòng sông?(Hoàng Phủ Ngọc Tường): vẻ đẹp và sức hấp dẫn của cuộc sống, con
người và quê hương qua những trang viết chân thực, đa dạng, hấp dẫn
- Hiểu một số đặc điểm và sự đóng góp của thể loại kí Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX
- Biết cách đọc hiểu một tác phẩm kí hiện đại Việt Nam theo đặc trưng thể loại
- Biết vận dụng những hiểu biết trên vào việc làm bài văn nghị luận văn học GSK Ngữ văn12 xác định mục tiêu cụ thể của các VB kí như sau:
a Mục tiêu dạy học văn bản Người lái đò Sông Đà.
- Phân tích được vẻ đẹp đa dạng của con Sông Đà vừa “hung bạo” vừa
“trữ tình” cùng hình ảnh giản dị mà kì vĩ của người lái đò trên dòng sông ấy
Từ đó thấy được tình yêu, sự đắm say của Nguyễn Tuân trước thiên nhiên vàcon người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc
- Hiểu và yêu mến tài năng nghệ thuật độc đáo của nhà văn trong việc khắc họa những kì công của tạo hóa, những kì tích lao động của con người
b Mục tiêu dạy học văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông?
- Phân tích được vẻ đẹp độc đáo, đa dạng của sông Hương qua ngòi búttài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường và tình yêu, niềm tự hào của tác giả vớidòng sông quê hương, với xứ Huế thân thương và cũng là cho đất nước
- Nhận biết được đặc trưng của thể loại bút kí và nghệ thuật viết bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Trang 40Bảng: 1.2 Hệ thống câu hỏi trong mục hướng dẫn học bài
Người lái đò sông Đà
(Nguyễn Tuân)
Câu hỏi hướng dẫn học bài:
Câu 1 Chứng minh rằng Nguyễn Tuân
đã quan sát công phu và tìm hiểu kĩ càng
khi viết về sông Đà và người lái đò sông
Đà
Câu 2 Trong thiên tùy bút, tác giả đã
dùng những biện pháp nghệ thuật nào để
khắc họa được một cách ấn tượng hình
ảnh của một con sông Đà hung bạo?
Câu 3 Cách viết của nhà văn đã thay đổi
như thế nào khi chuyển sang biểu hiện
sông Đà như một dòng chảy trữ tình?
Câu 4 Phân tích hình tượng người lái đò
trong cuộc chiến đấu với con sông hung
dữ Từ đó hãy cắt nghĩa vì sao trong con
mắt Nguyễn Tuân, thiên nhiên Tây Bắc
quý như vàng nhưng con người Tây Bắc
mới thật xứng đáng là vàng mười của đất
nước ta?