ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC VŨ TRỌNG DŨNG ĐỔI MỚI QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN AN LÃO – HẢI PHÒNG LUẬN VĂN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ TRỌNG DŨNG
ĐỔI MỚI QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC
CƠ SỞ HUYỆN AN LÃO – HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ TRỌNG DŨNG
ĐỔI MỚI QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC
CƠ SỞ HUYỆN AN LÃO – HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH:
QUẢN LÝ GIÁO DỤC Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thị Tuyết Oanh
HÀ NỘI – 2011
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học của đề tài 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 4
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 4
1.2 Các khái niệm của đề tài 6
1.2.1 Quản lý 6
1.2.2 Quản lý giáo dục 9
1.2.3 Kiểm tra 10
1.2.4 Đánh giá 11
1.2.5 Kết quả học tập của học sinh 12
1.2.6 Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh 12
1.2.7 Đổi mới 14
1.3 Kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS 14
1.3.1 Vị trí, chức năng, vai trò và nguyên tắc của kiểm tra - đánh giá 14 1.3.2 Các hình thức, phương pháp và quy trình kiểm tra – đánh giá 18
1.3.3 Đặc điểm của kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS 22
1.3.4 Xu hướng đổi mới kiểm tra – đánh giá kết quả học tập hiện nay 24 1.4 Lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở 27
Trang 41.4.1 Nội dung quản lý của các chủ thể quản lý hoạt động kiểm tra –
đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở 271.4.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động kiểm tra –
đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS 34Tiểu kết chương 1 37
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM
TRA – ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN AN LÃO - HẢI PHÒNG 38
2.1 Khái quát về giáo dục trung học cơ sở huyện An Lão - Hải Phòng 382.1.1 Đặc điểm chung của huyện An Lão – Hải Phòng 382.1.2 Tình hình giáo dục THCS huyện An Lão 382.2 Thực trạng hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học
sinh trung học cơ sở huyện An Lão - Hải Phòng 452.2.1 Thực trạng về nhận thức 452.2.2 Thực trạng hình thức, phương pháp kiểm tra – đánh giá kết quả
học tập của học sinh 472.2.3 Thực trạng các khâu soạn đề kiểm tra 492.3 Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập
của học sinh THCS 512.3.1 Thực trạng tổ chức các kỳ kiểm tra – đánh giá 522.3.2 Thực trạng quản lý quy trình kiểm tra – đánh giá kết quả học
tập của học sinh THCS 572.3.3 Thực trạng quản lý việc tổ chức hoạt động kiểm tra – đánh giá
kết quả học tập của học sinh THCS 602.3.4 Thực trạng quản lý công tác chấm, trả bài và ghi điểm 622.3.5 Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra – đánh
giá kết quả học tập của học sinh THCS huyện An Lão – Hải Phòng 63Tiểu kết chương 2 66
Chương 3: BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC
SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN AN LÃO - HẢI PHÒNG 67
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 67
Trang 53.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với các quy định đã được
ban hành về kiểm tra – đánh giá 67
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 67
3.1.3 Nguyên tắc kế thừa và phát triển 67
3.1.4 Nguyên tắc phù hợp với tình hình thực tiễn 68
3.2 Các biện pháp 68
3.2.1 Tập huấn nâng cao nhận thức, năng lực và trách nhiệm đối với kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh 68
3.2.2 Tổ chức xây dựng kế hoạch và quy trình kiểm tra – đánh giá cho các môn học và quản lý các quy trình kiểm tra – đánh giá 72 3.2.3 Tập huấn kỹ năng xây dựng cấu trúc đề, viết câu hỏi kiểm tra -đánh giá 83
3.2.4 Chỉ đạo việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý công tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh 85
3.2.5 Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ cho kiểm tra – đánh giá kết quả học tập 88
3.2.6 Mối liên hệ giữa các biện pháp 89
3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 90
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
1 Kết luận 94
2 Khuyến nghị 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chất lượng dạy và học chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, như: mụctiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học, đội ngũ giáo viên, độingũ cán bộ quản lý, người học, kiểm tra – đánh giá kết quả học tập, cơ sở vậtchất trang thiết bị, nguồn tài chính
Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái gì
mà còn dạy học như thế nào? Tức là muốn nâng cao chất lượng dạy – học phảitiến hành đổi mới phương pháp dạy học và vấn đề đổi mới phương pháp dạy –học đã trở thành yêu cầu mang tính cấp bách, là giải pháp đột phá Tuy nhiên,đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ đổi mới
từ nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy học cho đến kiểm tra
- đánh giá chất lượng dạy - học Như vậy, song song với việc đổi mới phươngpháp dạy – học cần đổi mới hoạt động kiểm tra – đánh giá Bởi lẽ, kết quả họctập của học sinh được đánh giá chính xác qua quá trình kiểm tra sẽ giúp cho họcsinh điều chỉnh hoạt động học, giúp giáo viên điều chỉnh hoạt động dạy và nhàquản lý giáo dục có những chỉ đạo kịp thời, quyết định phù hợp để điều chỉnhhoạt động dạy – học Ngược lại, nếu kiểm tra - đánh giá sai dẫn đến nhận địnhsai về chất lượng dạy – học sẽ không nâng cao được chất lượng dạy – học, thậmchí còn gây tác hại to lớn trong giáo dục – đào tạo
Để có thể giúp cho hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập củahọc sinh diễn ra đúng định hướng, đạt được mục đích thì trong suốt quá trìnhkiểm tra – đánh giá cần phải thường xuyên đặt dưới sự quản lý chặt chẽ củacác cấp quản lý và trong quá trình quản lý đó yếu tố đổi mới quản lý phảiđược quan tâm đúng mức, các biện pháp quản lý phải luôn được điều chỉnh,
bổ sung
Là cán bộ đang công tác tại Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện An Lão– Hải Phòng, được đồng chí Trưởng phòng phân công quản lý chuyên môncấp trung học cơ sở, nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt
Trang 8động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh trong việc đổi mới,nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra – đánh giá, góp phần nâng cao chất
lượng dạy và học, tôi đã lựa chọn đề tài “Đổi mới quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở huyện An Lão – Hải Phòng” làm Luận văn tốt nghiệp.
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kếtquả học tập của học sinh THCS, thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra - đánhgiá kết quả học tập của học sinh THCS huyện An Lão - Hải Phòng, đề xuấtmột số biện pháp đổi mới quản lý hoạt động này nhằm nâng cao hiệu quảkiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh góp phần nâng cao chấtlượng dạy - học ở các trường THCS huyện An Lão – Hải Phòng
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả
học tập của học sinh THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp đổi mới quản lý hoạt động kiểm tra –
đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS huyện An Lão - Hải Phòng
4 Giả thuyết khoa học của đề tài
Quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinhTHCS góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu giáo dục – đào tạo Tuynhiên, vẫn còn tồn tại, những bất cập ảnh hưởng đến hiệu quả của công tácnày Nếu xác định và áp dụng các biện pháp đổi mới quản lý hoạt động kiểmtra – đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS được đề xuất trong luận văn
sẽ nâng cao được hiệu quả của hoạt động kiểm tra – đánh giá, góp phần nângcao chất lượng dạy – học ở các trường THCS huyện An Lão – Hải Phòng,chất lượng giáo dục THCS nói chung
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài xác định các nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
Trang 9- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS huyện An Lão - Hải Phòng
- Đề xuất một số biện pháp nhằm đổi mới quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS huyện An Lão - Hải Phòng
6 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn chỉ nghiên cứu công tác quản lý hoạt động kiểm tra – đánhgiá kết quả học tập của học sinh THCS huyện An Lão - Hải Phòng đối với kiểmtra viết 1 tiết trở lên, kiểm tra học kỳ và kiểm tra khảo sát chất lượng
- Khảo sát và sử dụng số liệu từ năm học 2008-2009 trở lại đây
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận, bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, xử lý tài liệu
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn, bao gồm: phương pháp điều trabằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn, phương pháp quan sát, phương pháp tổngkết kinh nghiệm giáo dục, phương pháp chuyên gia
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng để xử lý các số liệu thu được từ khảo sát thực tế
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và các phụ lục luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết
quả học tập của học sinh THCS
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả
học tập của học sinh THCS huyện An Lão - Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp đổi mới quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá
kết quả học tập của học sinh THCS huyện An Lão - Hải Phòng
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Ngay từ khi xuất hiện mô hình nhà trường, các hình thức kiểm tra –đánh giá mức độ nhận thức của người học cũng ra đời Tuy nhiên ở mỗi giaiđoạn lịch sử, mỗi quốc gia khác nhau có những hình thức kiểm tra – đánh giákhác nhau nhưng đều đưa ra những qui định chuẩn, phù hợp với yêu cầu của
xã hội hiện tại Chẳng hạn: Thời kì phong kiến sử dụng thi, kiểm tra để đánhgiá kết quả của người học; Thời kì tiền công nghiệp thi, kiểm tra phải phù hợpvới trình độ người học và coi đó là một cách thức dạy – học, có vai trò khuyếnkhích học sinh tích cực, tự giác học tập; Thời kì hậu công nghiệp kiểm tra –đánh giá phát triển theo tiêu chí hướng vào mục đích, yêu cầu của chươngtrình giảng dạy
Đầu thế kỷ XVI, nhà giáo dục vĩ đại người Sec Slovakia là J.AComenxki (1592 - 1670) đã đưa ra mô hình nhà trường và được nhiều quốcgia trên thế giới áp dụng Đó là nhà trường được phân theo cấp học, bậc học ởnhững lứa tuổi nhất định; các môn học trong nhà trường được quy định chặtchẽ có chương trình, có nội dung cụ thể thống nhất; thời gian đào tạo cũngđược ấn định, đương nhiên cách kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của họcsinh cũng được quy định rõ ràng
Đến thế kỷ XVIII thì hệ đánh giá chất lượng giáo dục đầu tiên được ápdụng phổ biến trong các nhà trường Lúc đầu hệ đánh giá có 3 bậc chính: Tốt– Trung bình – Kém; Sau đó chia nhỏ thành 5 bậc: Tốt – Khá – Trung bình –Yếu – Kém Tuy nhiên để có thể đánh giá được theo 5 bậc chất lượng họcsinh thì kiểm tra phải như thế nào để đánh giá được chính xác, phù hợp vớiđối tượng học sinh nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dạy – học mới làvấn đề được các nhà giáo dục quan tâm
Trang 11Từ những năm 1970 trở lại đây có rất nhiều những công trình nghiêncứu từng vấn đề cụ thể, trong đó xác định một cách khoa học nội dung đánhgiá kết quả học tập của học sinh như: Những vấn đề lý luận dạy học của việcđánh giá tri thức (V.M.Palomxki); Con đường hoàn thiện việc kiểm tra trithức kỹ năng (X.V.Uxova) Cũng trong giai đoạn này nhiều tác giả cũng đãnghiên cứu các nguyên tắc của việc kiểm tra – đánh giá nhằm đảm bảo tínhkhách quan như: Các hướng nâng cao tính khách quan trong việc đánh giá trithức học sinh (A.M.Levitor).
Thời kỳ Pháp thuộc, nền giáo dục Việt Nam mang tính nô dịch thuộcđịa với chủ trương đào tạo một số ít người làm tay sai, còn đại đa số nhân dân
là mù chữ (chính sách ngu dân để dễ cai trị) Thời kỳ này các kỳ thi tuyển
được tổ chức rất nghiêm túc và được bảo đảm bằng pháp luật, trung tâm khảothí là đơn vị độc lập với Bộ Giáo dục Công tác kiểm tra – đánh giá chấtlượng giáo dục luôn gắn liền với mục tiêu đào tạo của thực dân phong kiến
Từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến nay kiểm tra – đánh giá đã cónhiều biến đổi căn bản so với chế độ xã hội cũ Nền giáo dục Việt Nam đã trảiqua 3 lần cải cách, với mỗi lần mục tiêu giáo dục đào tạo được điều chỉnh chophù hợp với tình hình đất nước Đặc biệt là trong những năm gần đây, cùngvới sự phát triển giáo dục – đào tạo, hoạt động nghiên cứu kiểm tra – đánhgiá; nghiên cứu công tác quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá có những phát
Trang 12triển mới Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yêu cầu về quản lý nhằmnâng cao chất lượng kiểm tra – đánh giá, góp phần nâng cao chất lượng dạy –học đáp ứng mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tàitrong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Một số tài liệu nghiêncứu về kiểm tra – đánh giá trong lĩnh vực giáo dục của các chuyên gia như:+ Nguyễn Đức Chính, Đo lường đánh giá trong giáo dục, tập bài giảng
lưu hành nội bộ - khoa Sư phạm, Hà Nội 2004
+ Trần Thị Tuyết Oanh, Đo lường và đánh giá kết quả học tập, Nxb
Đại học sư phạm Hà Nội, 2007
+ Dương Thiệu Tống, Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập,
Nxb Khoa học xã hội, 2005
Các đề tài luận văn thạc sỹ như: Nghiên cứu cải tiến quy trình tổ chứckiểm tra – đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại khoa du lịch – viện đạihọc mở Hà Nội của tác giả Lê Quỳnh Chi, năm 2006; Biện pháp quản lý côngtác kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở trường Cao đẳng dulịch Hà Nội của tác giả Nghiêm Nữ Diễm Thùy, năm 2008; Quản lý hoạt độngkiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường trung học phổthông thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay của tác giả TạThị Bích Liên, năm 2011
Tuy nhiên, trên địa bàn huyện An Lão thành phố Hải Phòng chưa có tácgiả nào nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quảhọc tập của học sinh THCS Do vậy, đề tài nghiên cứu của luận văn là cầnthiết trong công tác dạy – học cấp THCS huyện An Lão thành phố Hải Phònggiai đoạn hiện nay
1.2 Các khái niệm của đề tài
1.2.1 Quản lý
Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loàingười Nó là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhucầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia và mọi thời đại
Trang 13Từ điển Tiếng Việt viết: “Quản lý là hoạt động của con người tác động
vào tập thể người khác để phối hợp điều chỉnh phân công thực hiện mục tiêu chung” [26] Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “quản
lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [7].
Như vậy, quản lý là một khái niệm có nội hàm xác định song lâu naythường có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và được thể hiện bằng
thuật ngữ khác nhau Thực chất của quản lý là gì? (hoặc quản lý trước hết,
chủ yếu là gì?) cũng có những quan niệm không hoàn toàn giống nhau Tuy
nhiên với sự phát triển của khoa học, quản lý đã cơ bản được làm sáng tỏ để
có một cách hiểu thống nhất
Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các
cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thựchiện mục tiêu chung của tổ chức Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủthể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết cácthành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốtnhất Quản lý bao gồm các yếu tố:
- Phải có một chủ thể quản lý là các tác nhân tạo ra tác động quản lý vàmột một đối tượng bị quản lý Đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận và thực hiện tácđộng quản lý Tác động quản lý có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tụcnhiều lần
- Phải có mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng Mục tiêu này làcăn cứ chủ yếu để tạo ra các tác động Chủ thể quản lý có thể là một người, nhiều
người Còn đối tượng bị quản lý có thể là người hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết
bị, đất đai, thông tin, hầm mỏ ) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng )
Từ những khái niệm nêu trên ta thấy đối tượng chủ yếu và trực tiếp củaquản lý là những con người trong tổ chức; thông qua đó tác động lên các yếu
tố vật chất (vốn, vật tư, công nghệ) để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ
Trang 14hành động Vì vật khi xét về thực chất, quản lý trước hết và chủ yếu là quản
lý con người (trong bất cứ hành động nào).
Xác định như vậy để thấy con người là yếu tố quyết định trong mọihành động, hoàn toàn không có nghĩa là nội dung các chức năng quản lý nhân
sự (một bộ phận trọng yếu của quản lý) Điều này đã được nhiều nhà khoa
học quản lý nhấn mạnh qua cách thể hiện như: "Quản lý là một quá trình làmcho những hành động được hoàn thành với hiệu quả cao, bằng và thông quanhững người khác” (S.P.Robbing) và "Các nhà quản lý có trách nhiệm duy trìcác hành động làm cho các cá nhân có thể đóng góp tốt nhất và các mục tiêucủa nhóm" (H Koontz, C.O' donnell, )
Để quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện nhiều loại công việc khácnhau Những loại công việc quản lý này được gọi là các chức năng quản lý.Như vậy các chức năng quản lý là những công việc quản lý khác nhau mà chủ
thể quản lý (các nhà quản lý) phải thực hiện trong quá trình quản lý một tổ
chức Phân tích chức năng quản lý nhằm trả lời câu hỏi: các nhà quản lý phảithực hiện các công việc gì trong quá trình quản lý?
Có nhiều ý kiến khác nhau về sự phân chia các chức năng trong quátrình quản lý Vào những năm 1930, Gulick và Urwich nêu lên 7 chức năngcủa quản lý trong từ viết tắt POSDCORB: P: Planning - lập kế hoạch, O:organnizing - tổ chức, S: Staffing - Quản trị nhân sự, D: Directing - chỉ huy,CO: Coordinating - phối hợp, R: Reviewing - kiểm tra, B: Budgeting - tàichính Herni Fayol nêu 5 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp
và kiểm tra Trong những năm 60, Koontx và O'Donnell nêu 5 chức năng: lập
kế hoạch, tổ chức, quản trị nhân sự, điều khiển và kiểm tra Cuối những năm
1980 và đầu những năm 1990, giữa các giáo sư đại học Mỹ cũng không có sựthống nhất về cách thức phân chia các chức năng quản trị, James Stoner chiathành 4 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Cũng tương tựnhư thế, Stephen Ropbbin chia thành 4 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, lãnhđạo và kiểm tra Andang và Stearns chia thành 4 chức năng: Lập kế hoạch, tổ
Trang 15chức và quản trị nhân sự, điều khiển và kinh tế Các chức năng như lập kếhoạch, tổ chức, điều hành, kiểm tra và điều chỉnh là phổ biến đối với mọi nhàquản trị, dù đó là tổng giám đốc một Công ty lớn, hiệu trưởng một trường đạihọc, trưởng phòng chuyên môn trong một cơ quan, hay tổ trưởng một tổ gồm
5 - 7 công nhân
Có thể nói, các chức năng quản lý trên đây chung nhất đối với mọi nhàquản lý, không phân biệt cấp bậc, ngành nghề, quy mô lớn nhỏ của tổ chức vàmôi trường xã hội, dù ở Mỹ, Nhật hay Việt Nam Dĩ nhiên, phổ biến haychung nhất không có nghĩa là đồng nhất Ở những tổ chức khác nhau, nhữngcấp bậc khác nhau, có sự khác nhau về mức độ và sự quan tâm cũng nhưphương thức thực hiện các chức năng chung này
1.2.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống có ý thức hợp quy luậtcủa chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau lên tất cả các mắt xích của hệ thốnggiáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường và liêntục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng Hay nói cáchkhác: quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có chủ đích có kế hoạchhợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên học sinh cha
mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thự hiện
có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục
Như vậy, quản lý giáo dục là một công việc hết sức quan trọng tronglĩnh vực giáo dục và đào tạo, nội dung của quản lý giáo dục bao gồm: Thamgia quản lý học sinh, sinh viên, quản lý đào tạo và cơ sở vật chất, phương tiệnphục cho công tác giáo dục đào tạo, tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờlên lớp và các công tác khác ở các trường mầm non, phổ thông và dạynghề, , quản lý chuyên môn, hành chính, nhân sự tại các Sở GD&ĐT, PhòngGD&ĐT; Làm công tác giảng dạy khoa học quản lý giáo dục ở các cơ sở đàotạo và bồi dưỡng giáo viên, cán bộ, nhân viên quản lý trong và ngoài ngànhgiáo dục; Nghiên cứu khoa học quản lý và quản lý giáo dục ở các cơ sở
Trang 16nghiên cứu, các cơ quan tham mưu hoạch định chiến lược quản lý xã hội nóichung và phát triển giáo dục nói riêng.
1.2.3 Kiểm tra
Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về khái niệm kiểm tra Trong
từ điển Tiếng Việt (1998) có định nghĩa: “Kiểm tra là xem xét tình hình thực
tế để đánh giá, nhận xét” [26] Từ điển Bách Khoa (2001) có định nghĩa thuật
ngữ “Kiểm tra là bộ phận hợp thành của quá trình hoạt động dạy
– học nhằm nắm được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của học sinh,
về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những biện pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động dạy – học” [27] Theo GS Nguyễn Đức Chính (2005) “Đo lường (kiểm tra) là quá trình thu thập thông tin một cách định lượng và định tính về các đại lượng đặc trưng như nhận thức, tư duy, kỹ năng và các phẩm chất nhân cách khác trong quá trình giáo dục” [8].
Như vậy, kiểm tra là đo lường và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm đảmbảo rằng các mục tiêu và các kế hoạch vạch ra để thực hiện các mục tiêu này
đã và đang được hoàn thành
Có thể nói rằng kiểm tra là sợi chỉ xuyên suốt cả quá trình quản lý nhằm đạt được mục đích:
- Bảo đảm kết quả đạt được phù hợp với mục tiêu của tổ chức
- Bảo đảm các nguồn lực được sử dụng một cách hữu hiệu
- Làm bày tỏ và đề ra những kết quả mong muốn chính xác hơn theo thứ tự quan trọng
- Xác định và dự đoán những biến động và những chiều hướng chính
- Phát hiện kịp thời các sai sót và bộ phận chịu trách nhiệm để chấn chỉnh
- Đơn giản hóa các vấn đề ủy quyền, chỉ huy, quyền hành và trách nhiệm
- Phác thảo các tiêu chuẩn tường trình báo cáo để loại bớt những gì quan trọng hay không cần thiết
Trang 17- Phổ biến những chỉ dẫn cần thiết một cách liên tục để cải tiến việc hoàn thành công việc, tiết kiệm thời gian, công sức của mọi người.
Xây dựng cơ chế kiểm tra cần tuân theo các nguyên tắc: Căn cứ kếhoạch hoạt động và theo cấp bậc của đối tượng kiểm tra; Dựa vào đặc điểm cánhân của nhà quản lý; Thực hiện tại những điểm trọng yếu; Khách quan; Phùhợp với bầu không khí của tổ chức; Tiết kiệm, công việc kiểm tra tương xứngvới chi phí; Kiểm tra phải đưa đến hành động
Để hoạt động kiểm tra có ý nghĩa, trong kiểm tra cần thực hiện theo qui
trình, đó là: Xây dựng các tiêu chuẩn (định lượng, định tính); Đo lường việc thực hiện (đo lường, đánh giá sai lệch); Điều chỉnh các sai lệch.
Khi hoạt động kiểm tra đạt được mục đích nêu trên lúc đó có tác dụng:Làm nhẹ gánh nặng cấp chỉ huy; Kiểm tra lại quá trình hoạch định, tổ chức,điều khiển
1.2.4 Đánh giá
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kếtquả công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu vớinhững mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp
để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu qủa công việc
Theo GS Nguyễn Đức Chính, thuật ngữ đánh giá được định nghĩa “Đánh giá
là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mục tiêu đã và đang đạt được ở mức độ nào” [8].
Trong giáo dục, đánh giá là một hình thức chuẩn đoán của việc xem xétchất lượng và đánh giá việc giảng dạy, học tập và chương trình đào tạo dựavào việc kiểm tra chi tiết các chương trình học, cơ cấu và hiệu quả của một cơ
sở đào tạo, xem xét bên trong và các cơ chế kiểm soát chất lượng của cơ sở
đó Trong dạy – học, đánh giá là quá trình thu thập thông tin về năng lực,phẩm chất của một học sinh và sử dụng thông tin đó để đưa ra những quyếtđịnh về người học và việc tổ chức quá trình dạy – học
Trang 18Đánh giá là sự phán xét trên cơ sở đo lường, kiểm tra bao giờ cũng điliền với đánh giá Vì vậy, kiểm tra – đánh giá là một khâu không thể thiếu củaquá trình dạy – học, là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy –học Kiểm tra – đánh giá là công việc của cả giáo viên, học sinh và các nhàquản lý giáo dục Đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượnghay định tính.
1.2.5 Kết quả học tập của học sinh
Theo lý luận dạy học hiện đại, học tập là hoạt động nhận thức củangười học được thực hiện dưới sự tổ chức điều khiển của nhà sư phạm, Mụcđích của hoạt động học tập là tiếp thu nền văn hóa, văn minh nhân loại vàchuyển hóa chúng thành năng lực thể chất, năng lực tinh thần của mỗi cá nhânngười học Đối tượng của hoạt động học là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảotương ứng được thể hiện ở nội dung của môn học, bài học bằng hệ thống kháiniệm khoa học và khái niệm môn học Quá trình dạy – học là khái niệm chỉhoạt động chung của người dạy, người học và hai hoạt động này tồn tại songsong Kết quả học tập thể hiện chất lượng của quá trình dạy – học
Kết quả học tập chỉ xuất hiện khi có những biến đổi tích cực trong nhậnthức, hành vi của người học Trong khoa học cũng như trong thực tế, kết quảhọc tập được hiểu theo 2 nghĩa: Mức độ người học đạt được so với các mục
tiêu đã xác định (theo tiêu chí), hoặc là mức độ người học đạt được so với các người cùng học khác (theo tiêu chuẩn).
Dù được hiểu theo nghĩa nào thì kết quả học tập đều thể hiện ở mức độđạt được của các mục tiêu dạy – học Theo GS Nguyễn Đức Chính (2005):
“Kết quả học tập là mức độ kiến thức, kỹ năng hay nhận thức của người học trong một lĩnh vực (môn học) nào đó” [8].
1.2.6 Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh
Theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách khoa (2001), đánh giá
kết quả học tập là “xác định mức độ nắm được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của
học sinh so với yêu cầu của chương trình đề ra” [27].
Trang 19Đánh giá kết quả học tập của học sinh là việc đưa ra những kết luận,nhận định, phán xét về trình độ học sinh Muốn đánh giá kết quả học tập củahọc sinh thì việc đầu tiên là phải kiểm tra, soát xét lại toàn bộ công việc họctập của học sinh, sau đó tiến hành đo lường để thu thập những thông tin cầnthiết, cuối cùng là đưa ra một quyết định.
Do vậy kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh là hai khâu cóquan hệ mật thiết với nhau Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá vàđánh giá thông qua kết quả của kiểm tra Hai khâu đó hợp thành một quá trìnhthống nhất là kiểm tra - đánh giá
Dạy học là một quá trình thay đổi Việc đánh giá sự thay đổi này đượcgọi là “sự đánh giá kết quả học tập”, và đó là một phần quan trọng trong quátrình dạy và học Sự đánh giá này bao gồm sự hiểu bài của học sinh và hiệuquả giảng dạy của giáo viên Hơn nữa, sự đánh giá này cũng phản ánh sự tiến
bộ trong học tập của học sinh; là sự phát triển đối với nhà trường và xã hộibởi vì sự đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng là thước đo thành tíchgiáo dục
Việc đánh giá một cách liên tục là một cách thức phổ biến và thôngdụng trên thế giới ngày nay Đánh giá liên tục có nghĩa là bài tập của học sinhđược chấm điểm trong suốt các học kỳ và các điểm số này được ghi lại cẩnthận Sau đó giáo viên tính điểm trung bình dựa trên các điểm số này Có rấtnhiều cách để đánh giá, trong đó có các cách phổ biến sau:
- Các bài kiểm tra (kiểm tra viết hoặc kiểm tra miệng) giúp giáo viên
theo dõi hoặc phân loại học sinh; đánh giá sự hiểu biết của học sinh theo chiềurộng, chất lượng hiểu biết của học sinh theo chiều sâu, kiến thức mà học
sinh vừa được học và liệu học sinh có đủ kiến thức để học ở trình độ tiếp theokhông
- Ngoài ra còn có các phương pháp khác: các bài tập theo nhóm, bài tập
về nhà, các bài viết luận, trình bày các đề án v v
Trang 20Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh nên công khai cho học sinh,phụ huynh và người giám hộ Tuy nhiên có những điểm số cần phải được giữkín Giáo viên có thể đặt kế hoạch cho mình hệ thống kiểm tra riêng và
thường xuyên (ví dụ: 1 tuần 1 lần, hoặc 3 tuần 1 lần, v v ).
Như vậy kết quả học tập của học sinh là thước đo của quá trình dạy –học, kiểm tra - đánh giá chính xác kết quả học tập của học sinh là điều vôcùng cần thiết trong suốt quá trình dạy – học
1.2.7 Đổi mới
Đổi mới là cải cách cái lỗi thời thay vào đó, thừa kế cái tốt cũ và thêm
cái mới hợp với thời đại mới (tương thích) Đó là con đường tiến hóa của nền văn minh (khác với cách mạng) Đổi mới không bao giờ là đủ, nó kéo dài theo
chiều dài của lịch sử
Theo Wikipedia tiếng Việt, đổi mới giáo dục là chuyển từ lối giáo dục
từ chương (vốn là truyền thống trong cách giáo dục Á Đông) sang phương
pháp giáo dục lấy người học làm trung tâm, tăng tính chủ động cho học sinh
và tấn công vào căn bệnh thành tích
1.3 Kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS
1.3.1 Vị trí, chức năng, vai trò và nguyên tắc của kiểm tra - đánh giá
1.3.1.1 Vị trí của kiểm tra – đánh giá trong quá trình dạy – học
Trong quá trình dạy học, kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của họcsinh là một khâu quan trọng nhằm xác định thành tích học tập và mức độchiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, vận dụng của người học Kiểm tra, đánh giá làhai công việc được tiến hành theo trình tự nhất định hoặc đan xen lẫn nhaunhằm khảo sát, xem xét về cả định lượng và định tính kết quả học tập, đánhgiá mức độ chiếm lĩnh nội dung học vấn của học sinh Bởi vậy, cần phải xácđịnh “thước đo” và chuẩn đánh giá một cách khoa học, khách quan
Kiểm tra - đánh giá là một bộ phận hợp thành không thể thiếu trong quátrình giáo dục Nó là khâu cuối cùng, đồng thời khởi đầu cho một chu trìnhkín tiếp theo với một chất lượng cao hơn
Trang 211.3.1.2 Chức năng của kiểm tra – đánh giá trong quá trình dạy – học
Chức năng định hướng: Xem xét kết quả của kiểm tra - đánh giá cho
phép đề xuất định hướng điều chỉnh những sai sót, phát huy những kết quảtrong cải tiến hoạt động dạy - học với các phần kiến thức đã dạy Chính vìvậy, kiểm tra - đánh giá giúp cho học sinh, giáo viên trong việc thực hiệnnhiệm vụ dạy - học Nó có tác dụng định hướng hoạt động học tập tích cựcchủ động của học sinh
Chức năng đốc thúc, kích thích tạo động lực: Thông qua kiểm tra –
đánh giá có thể kích thích tinh thần học tập của học sinh Kết quả sau mỗi bàikiểm tra sẽ giúp cho học sinh biết được mức độ nắm kiến thức của bản thân
để có hướng phấn đấu; với những học sinh giỏi, kết quả học tập tốt sẽ độngviên, khuyến khích các em hăng say học tập, còn với học sinh yếu sẽ là mộtminh chứng thôi thúc các em cố gắng vươn lên
Chức năng sàng lọc, lựa chọn: Trong quá trình dạy – học giáo viên
phải tiến hành sàng lọc, lựa chọn và phân loại học sinh Điều này chỉ có thểthực hiện được thông qua kết quả kiểm tra – đánh giá Qua đó giúp cho giáoviên có phương pháp dạy - học phù hợp với từng đối tượng học sinh góp phầnnâng cao chất lượng dạy – học
Như vậy, ba chức năng trên luôn luôn quan hệ chặt chẽ với nhau Tuynhiên, tuỳ vào đối tượng hình thức, phương pháp đánh giá mà một chức năngnào đó có thể sẽ trội hơn
1.3.1.3 Vai trò của kiểm tra – đánh giá trong quá trình dạy – học
Đối với giáo viên: Giúp giáo viên biết được hiệu quả, chất lượng giảng
dạy Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao và hoàn thiện mình về trình độ họcvấn, về phương pháp giảng dạy, từ đó điều chỉnh hay phát huy quá trình dạyhọc giúp học sinh hoàn thiện hoạt động học
Đối với học sinh: Việc đánh giá có hệ thống và thường xuyên cung cấp
kịp thời những thông tin "liên hệ ngược" giúp học sinh điều chỉnh hoạt độnghọc
Trang 22- Về giáo dưỡng chỉ cho học sinh thấy mình đã tiếp thu điều vừa học đến mức độ nào, còn thiếu sót nào cần bổ khuyết.
- Về mặt phát triển năng lực nhận thức giúp học sinh có điều kiện tiếnhành các hoạt động trí tuệ như ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa, khái quát hóa, hệthống hóa kiến thức, tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy sáng tạo, linhhoạt vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống thực tế
- Về mặt giáo dục, giáo dục học sinh có tinh thần trách nhiệm cao tronghọc tập, có ý chí vươn lên đạt những kết quả cao hơn, cũng cố lòng tin vào khảnăng của mình, nâng cao ý thứcc tự giác, khắc phụ tính chủ quan tự mãn
Đối với cán bộ quản lí giáo dục: Cung cấp cho cán bộ quản lí giáo dục
những thông tin về thực trạng dạy và học trong một đơn vị giáo dục để cónhững chỉ đạo kịp thời, uốn nắn được những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợnhững sáng kiến hay, giúp đưa ra những quyết định phù hợp trong việc điềuchỉnh, cải tiến chương trình, nội dung đào tạo, hình thức tổ chức dạy họcnhằm bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu dạy – học
1.3.1.4 Nguyên tắc của kiểm tra – đánh giá trong quá trình dạy - học
Lý luận và thực tiễn dạy học ngày nay chứng tỏ rằng, vấn đề kiểm tra đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chỉ có tác dụng khi thực hiện những nguyêntắc trong việc kiểm tra đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh [3] Đó
- Tổ chức kiểm tra phải nghiêm túc, nghiêm minh
Để đảm bảo tính khách quan trong kiểm tra đánh giá, cần cải tiến, đổimới các phương pháp, hình thức kiểm tra, đánh giá, từ khâu ra đề, tổ chức thitới khâu cho điểm Xu hướng chung là tuỳ theo đặc trưng môn học mà lựa
Trang 23chọn hình thức kiểm tra thích hợp Song dù hình thức nào, vấn đề “lượnghoá” nội dung môn học theo các đơn vị kiến thức để làm chuẩn cho việc kiểmđánh giá, cho điểm khách quan là cực kỳ quan trọng [15].
Đảm bảo tính toàn diện:
Trong quá trình kiểm tra - đánh giá phải đánh giá được các yếu tố về sốlượng, chất lượng chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, vận dụng thuộc về các mônhọc; về kết quả phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, tư duy sáng tạo, ý thức,thái độ … trong đó, chú ý đánh giá cả số lượng và chất lượng, cả nội dung vàhình thức
Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống
Quá trình kiểm tra – đánh giá cần được thực hiện một cách thườngxuyên theo kế hoạch và mang tính hệ thống Kiểm tra có hệ thống giúp thuthập chính xác, đầy đủ thông tin cần thiết cho việc đánh giá khách quan, toàndiện Ngoài ra với lượng thông tin đầy đủ sẽ có cơ sở chắc chắn để thực hiệnđiều chỉnh hoạt động giáo dục Do vậy, cần thực hiện kết hợp các hình thứckiểm tra – đánh giá thường xuyên với kiểm tra – đánh giá định kỳ; số lần,hình thức kiểm tra cần phù hợp đảm bảo cho việc đánh giá kết quả học tập củahọc sinh
Đảm bảo tính xác nhận và phát triển
Tính xác nhận là việc kiểm tra – đánh giá phải khẳng định được hiện
trạng của nội dung cần đánh giá so với mục tiêu đánh giá (cả về mặt định tính
lẫn định lượng) và nguyên nhân của hiện trạng đó dựa trên những tư liệu khoa
học, chính xác và các lập luận xác đáng Tuy nhiên, giáo dục có bản chất nhânđạo và phát triển nên việc kiểm tra – đánh giá cũng phải mang tính phát triển,tức là phải đảm bảo chức năng phát triển của đánh giá giúp cho người học
không chỉ nhận ra hiện trạng cái mình đạt được (chức năng xác nhận) mà còn
có niềm tin vào khả năng của mình trong việc tiếp tục phát triển hoặc khắcphục những điểm không phù hợp Nói cách khác, kiểm tra – đánh giá trong
Trang 24dạy học không đơn thuần là phán xét kết quả học tập của người học mà thực
sự là một nội dung của hoạt động dạy – học
Đảm bảo tính quy chuẩn, khoa học trong kiểm tra đánh giá
Kiểm tra – đánh giá dù theo bất kỳ hình thức nào cũng đều nhằm mụctiêu phát triển hoạt động dạy – học, đồng thời phải đảm bảo lợi ích cho ngườiđược đánh giá Vì vậy, kiểm tra – đánh giá cần tuân theo những chuẩn mựcnhất định, những chuẩn này được qui định rõ trong qui chế chuyên môn, phânphối chương trình như: xác định rõ nội dung, cách thức, thời điểm thực hiện
và công khai đối với học sinh Như vậy, mới tránh được sự tùy tiện, ngẫuhứng trong quá trình kiểm tra – đánh giá và kết quả mới đảm bảo tính ổn định
Để đảm bảo tính khoa học của việc kiểm tra - đánh giá kiến thức, kỹnăng, cần quán triệt một nguyên tắc chung quan trọng là: việc kiểm tra đánhgiá kiến thức kỹ năng cần được tiến hành theo một qui trình hoạt động chặtchẽ sau:
- Xác định rõ mục đích kiểm tra đánh giá
- Kiểm tra nhằm mục đích dạy học: bản thân việc kiểm tra đánh giá nhằm định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức cần dạy
- Kiểm tra nhằm mục đích đánh giá thành quả học tập hoặc nhằm nghiên cứu đánh giá mục tiêu, phương pháp dạy học
- Kiểm tra trình độ xuất phát của người học có liên quan đến việc xác định nội dung phương pháp dạy học của một học phần sắp bắt đầu…
- Xác định rõ nội dung cụ thể của các kiến thức kĩ năng cần kiểm trađánh giá; các tiêu chí cụ thể của mục tiêu dạy học với từng kỹ năng đó để làm căn
cứ đối chiếu các thông tin sẽ thu lượm được trong kiểm tra
1.3.2 Các hình thức, phương pháp và quy trình kiểm tra – đánh giá
1.3.2.1 Các hình thức, phương pháp kiểm tra – đánh giá
Song hành với việc đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa cấpTHCS, kiểm tra - đánh giá, xếp loại đối với học sinh trung học cơ sở cũngđược bắt đầu thay đổi từ năm 2002 Sau nhiều lần điều chỉnh đến năm 2006,
Trang 25Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 40/2006/QĐ-BGDĐT, ngày05/10/2006 về việc ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ
sở và học sinh trung học phổ thông Theo Quyết định này khi đánh giá, xếploại HS có 2 lĩnh vực:
Đánh giá hạnh kiểm của học sinh: Phải căn cứ vào biểu hiện cụ thể về
thái độ và hành vi đạo đức; ứng xử trong mối quan hệ với thầy giáo, cô giáo,với bạn bè và quan hệ xã hội; ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập; kết quảtham gia lao động, hoạt động tập thể của lớp, của trường và hoạt động xã hội;rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường Hạnh kiểm được xếpthành 4 loại: Tốt, Khá, Trung bình, Yếu sau khi kết thúc học kỳ, năm học.Không căn cứ vào kết quả học tập nhưng có xem xét đến kết quả học tập khixếp hạnh kiểm [4]
Đánh giá, xếp loại học lực: Căn cứ đánh giá học lực của học sinh là
hoàn thành chương trình các môn học trong kế hoạch giáo dục của cấp THCS,kết quả đạt được của các bài kiểm tra Học lực được xếp thành 5 loại: Giỏi,Khá, Trung bình, Yếu và Kém [4]
Trong quá trình kiểm tra – đánh giá bao gồm các hình thức:
Hình thức kiểm tra: Kiểm tra miệng (kiểm tra bằng hỏi đáp), kiểm tra
viết và kiểm tra thực hành Các loại bài kiểm tra: Kiểm tra thường xuyên,
kiểm tra định kỳ (gồm kiểm tra viết từ 1 tiết lý thuyết và thực hành trở lên),
kiểm tra học kỳ [4]
Hình thức đánh giá: Kiểm tra và cho điểm các bài kiểm tra, tính điểm
trung bình môn học và tính điểm trung bình các môn học sau một học kỳ, mộtnăm học Việc đánh giá chất lượng giáo dục toàn diện đối với học sinh đượcthực hiện sau mỗi học kỳ, mỗi năm học nhằm thúc đẩy học sinh rèn luyện,học tập để không ngừng tiến bộ Căn cứ đánh giá, xếp loại hạnh kiểm và họclực của học sinh được dựa trên cơ sở: Mục tiêu giáo dục của cấp học, chươngtrình, kế hoạch giáo dục của cấp học, điều lệ nhà trường, kết quả rèn luyện vàhọc tập của học sinh [4]
Trang 26Kiểm tra vấn đáp là cách đánh giá phổ biến trong dạy học, ở cấp trunghọc cơ sở phương pháp này thể hiện thông qua hình thức kiểm tra miệng vàđược thực hiện tại bất cứ thời điểm nào trong một tiết học Phương pháp này
sẽ giúp cho giáo viên đánh giá được sự chuẩn bị cho bài học mới, mức độnắm bắt kiến thức của học sinh để từ đó giáo viên có sự điều chỉnh ngay vềphương pháp, hình thức tổ chức dạy – học sao cho phù hợp
Luận đề và trắc nghiệm khách quan đều là những phương tiện kiểm trakhả năng học tập của học sinh Thật ra, việc dùng danh từ “khách quan” đểphân biệt hai loại kiểm tra nói trên cũng không hẳn đúng lắm, vì trắc nghiệmluận đề không nhất thiết là trắc nghiệm “chủ quan” và trắc nghiệm kháchquan không phải là hoàn toàn “khách quan” Cả hai đều bổ túc cho nhau, tuỳtheo nhu cầu, mục tiêu khảo sát, vì loại kiểm tra, đánh giá nào cũng có những
ưu khuyết điểm riêng của nó
Với hình thức tự luận, điều quan trọng là phải xác định được hệ thốngchuẩn đánh giá kiến thức, kỹ năng, vận dụng của học sinh Việc xác định tiêuchuẩn đánh giá là vấn đề rất phức tạp và trừu tượng Tuy nhiên, việc kiểm travới những đề thi tự luận thường bộc lộ nhiều nhược điểm, đặc biệt là khôngphản ánh được toàn bộ nội dung, chương trình, dễ gây tâm lý học tủ, dạy tủ vàkhi chấm bài giáo viên còn nặng tính chủ quan
Vì thế, để nâng cao tính khách quan trong kiểm tra, đánh giá nên sửdụng trắc nghiệm khách quan Nhìn chung nếu xây dựng và sử dụng có hiệuquả hệ thống trắc nghiệm thì chừng mực nhất định có thể khắc phục nhữnghạn chế của hình thức kiểm tra tự luận
Trong xu thế phát triển của khoa học giáo dục nói chung, lý luận dạy học nói riêng, vấn đề kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh trong các loại hình nhà trường cần được nghiên cứu thực hiện nghiêm túc, trước hết
là cần đổi mới và hoàn thiện các hình thức và cách thức kiểm tra, đánh giá
1.3.2.2 Quy trình tổ chức một kỳ kiểm tra – đánh giá
Quy trình đánh giá kết quả học tập gồm các bước:
Trang 27- Căn cứ vào mục tiêu dạy học và mục đích học tập để xác định mục tiêu đánh giá;
- Lượng hóa các mục tiêu dạy học để đặt ra các mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm xác định nội dung và các tiêu chí đánh giá;
- Lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu, nội dung đã đề
ra trên cơ sở các đặc điểm của đối tượng được đo lượng, thẩm định và trên cơ sởhoàn cảnh xã hội;
- Soạn thảo công cụ: Viết câu hỏi, đặt bài toán dựa trên mục tiêu đề ra
và nội dung cần đánh giá;
- Sắp xếp câu hỏi, bài toán từ dễ đến khó, chú ý đến tính tương đương
của các đề (nếu có nhiều đề) và duyệt lại đáp án;
- Tiến hành đo lường;
- Phân tích kết quả, đánh giá độ tin cậy và độ giá trị của bài kiểm tra, thi;
- Điều chỉnh, bổ sung để hoàn thiện công cụ đánh giá bài kiểm tra, thi Theo Guber và Stuffebeam, quy trình đánh giá kết quả học tập gồm các
bước sau đây:
- Xác định mục tiêu đánh giá để xây dựng bộ câu hỏi;
- Thu thập số liệu;
- Tổ chức, sắp xếp và phân loại số liệu;
- Phân tích số liệu;
- Báo cáo kết quả để rút ra các kết luận cần thiết
Đánh giá trong giáo dục là một vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn vì
nó mang tính tổng hợp nhiều yếu tố Vì vậy, để đánh giá chính xác một họcsinh, một lớp, hay một khóa học, điều đầu tiên người giáo viên phải làm làxây dựng quy trình, lựa chọn một phương pháp cũng như thu thập các thôngtin cần thiết cho việc đánh giá Như vậy, quy trình đánh giá có thể bao gồmbốn bước: đo, lượng giá, đánh giá và ra quyết định
Đo: Kết quả bài kiểm tra của mỗi học sinh được ghi nhận bằng điểm số.Điểm số là những kí hiệu gián tiếp phản ánh trình độ của mỗi học sinh về mặtđịnh tính, nhưng nó không có ý nghĩa về mặt định lượng
Trang 28Lượng giá: Dựa vào các số đo để đưa ra những tính toán về ước lượng,
về trình độ kiến thức, kĩ năng kĩ xảo của một học sinh Lượng giá là một bướctrung gian giữa đo và đánh giá, có thể lượng giá theo chuẩn lượng giá theotiêu chí
Đánh giá: Bước này đòi hỏi giáo viên phải đưa ra những nhận định phánđoán về thực chất trình độ của một học sinh trước vấn đề được kiểm tra, đồngthời đề xuất những định hướng bổ khuyết, sai sót hoặc phát huy hiệu quả
Quyết định: Đây là bước cuối cùng của quá trình đánh giá, giáo viên sẽđưa ra những biện pháp cụ thể để giúp học sinh tiến bộ
1.3.3 Đặc điểm của kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh
THCS
Kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở có đặcđiểm: giao Hiệu trưởng nhà trường xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉđạo và kiểm tra, giám sát ở tất cả các khâu trên cơ sở tuân thủ Quyết định số40/2006/QĐ-BGDĐT của Bộ GD&ĐT; Giáo viên giảng dạy và giáo viên chủnhiệm là người chủ động thực hiện tất cả các khâu, từ khâu xác định mục tiêucủa kiểm tra đến khâu cuối cùng là ghi chép kết quả và tổ chức đánh giá họcsinh, cụ thể:
1.3.4.1 Về mục đích, căn cứ, nguyên tắc và hình thức đánh giá
Đánh giá chất lượng giáo dục đối với học sinh THCS sau mỗi học kỳ,mỗi năm học nhằm thúc đẩy học sinh rèn luyện, học tập
Căn cứ đánh giá, xếp loại của học sinh THCS được dựa trên cơ sở sau:Mục tiêu giáo dục của cấp học; Chương trình, kế hoạch giáo dục của cấp học;Điều lệ nhà trường; Kết quả rèn luyện và học tập của học sinh
Bảo đảm nguyên tắc khách quan, công bằng, công khai, đúng chấtlượng trong đánh giá, xếp loại hạnh kiểm, học lực học sinh
Đánh giá học sinh THCS bao gồm 3 hình thức:
- Đánh giá bằng nhận xét kết quả học tập (sau đây gọi là đánh giá bằng
nhận xét) đối với các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục.
Trang 29- Kết hợp giữa đánh giá bằng cho điểm và nhận xét kết quả học tập đối với môn Giáo dục công dân
- Đánh giá bằng cho điểm đối với các môn học còn lại Các bài kiểm trađược cho điểm theo thang điểm từ điểm 0 đến điểm 10; nếu sử dụng thang điểmkhác thì phải quy đổi về thang điểm này [4]
Như vậy, kết quả các bài kiểm tra là một trong những căn cứ quan trọng
để đánh giá kết quả học tập của học sinh và người trực tiếp đánh giá chính làcác giáo viên giảng dạy
1.3.4.2 Chủ thể đánh giá học sinh trong trường THCS
Các chủ thể tham gia đánh giá kết quả học tập của học sinh trongtrường THCS hiện nay là giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn Giáo viênchủ nhiệm chủ yếu được giao nhiệm vụ đánh giá về hạnh kiểm, giáo viên bộmôn đánh giá về học lực dựa trên kết quả của các bài kiểm tra thường xuyên,kiểm tra định kỳ với phương thức như sau:
1.3.4.3 Phương thức đánh giá học sinh trong trường THCS
Phương thức đánh giá học sinh trong trường THCS hiện nay được thiếtlập qua hai hoạt động cơ bản là: đánh giá thường xuyên hàng ngày, ghi nhận ở
hệ thống sổ bộ như sổ điểm, sổ điểm danh, sổ chủ nhiệm; đánh giá định kỳqua bài kiểm tra 1 tiết trở lên và kiểm tra học kỳ
Kiểm tra định kỳ: các bài kiểm tra 1 tiết trở lên được tính hệ số 2; thờiđiểm kiểm tra với số lần kiểm tra tùy theo số tiết học/tuần được quy định
trong kế hoạch dạy học (do Sở GD&ĐT quy định) [24] Cụ thể:
Học
kỳ I 6
Học
kỳ II
Trang 3023
Trang 31Phương thức đánh giá phổ biến qua các kỳ kiểm tra nói trên là làm bàiviết dưới hình thức tự luận Tuy nhiên, hình thức trắc nghiệm khách quanđang được sử dụng phổ biến trong các kiểm tra từ khi bắt đầu thực hiện đổimới nội dung chương trình giáo dục phổ thông theo tinh thần Nghị quyết40/2000/QH10 của Quốc hội.
Trên cơ sở các nguyên tắc, các quy định về hình thức, phương thứckiểm tra - đánh giá học sinh trong trường THCS nêu trên, giáo viên tiến hànhthực hiện tất cả các khâu trong quy trình kiểm tra – đánh giá dưới sự chỉ đạotrực tiếp của Hiệu trưởng và sự kiểm tra, giám sát của Phòng Giáo dục
1.3.4 Xu hướng đổi mới kiểm tra – đánh giá kết quả học tập hiện nay
Trang 3224
Trang 33điểm, phương pháp và các hoạt động cụ thể Những thay đổi này có thể so
sánh ở bảng sau:
Các bài thi trên giấy được thực hiện
Nhiều bài kiểm tra đa dạng trong suốtvào cuối một chủ đề, một chương,
quá trình học tậpmột học kỳ
Do bên ngoài khống chế Do giáo viên và học sinh chủ động
Việc lực chọn câu hỏi và tiêu chí Việc lực chọn câu hỏi và tiêu chí
đánh giá không được nêu rõ từ trướcđánh giá không được nêu trước
(công khai, rõ ràng)
Nhấn mạnh sự cạnh tranh Nhấn mạnh sự hợp tác
Quan tâm đến mục tiêu cuối cùng của
Quan tâm đến kinh nghiệm của HSviệc giảng dạy
Chú trọng vào kết quả dạy học Chú trọng vào toàn bộ quá trình dạy
học, chú ý đến ý tưởng sáng tạoTập trung vào kiến thức sách vở, hàn Tập trung vào năng lực thực tế và
Những thay đổi trên thể hiện quan điểm mới trong giáo dục, đó là coi
người học (learner) và quá trình học tập (learning) là trung tâm của toàn bộ
hoạt động giáo dục Cùng với sự phát triển của khoa học giáo dục, khoa học
về kiểm tra – đánh giá cũng được đổi mới, phát triển và xuất hiện một số kháiniệm mới Ba đặc trưng quan trọng của xu hướng mới về kiểm tra – đánh giálà: đánh giá quá trình, đánh giá thực tiễn và đánh giá sáng tạo
Đánh giá quá trình: Theo Wikipedia tiếng Việt đánh giá quá trình là
một loạt các quy trình đánh giá chính thức và không chính thức được thựchiện bởi nhiều giáo viên trong quá trình học tập, rèn luyện của học sinh, đểthay đổi hoạt động dạy-học nhằm cải thiện thành tích đạt được của học sinh
Nó liên quan đến thông tin phản hồi về chất lượng học tập, rèn luyện của học
Trang 34sinh cho cả giáo viên và học sinh Mối quan tâm của đánh giá quá trình làhiệu quả của hoạt động giảng dạy trong quá trình phát triển năng lực củangười học chứ không chứng minh học sinh đạt được một mức thành tích nàođó Các khà khoa học giáo dục đã khẳng định đánh giá quá trình có giá trịphản hồi (Feedback) rất cao Có 7 nguyên tắc phản hồi tốt, đó là:
- Làm rõ những gì có hiệu quả tốt (mục tiêu, tiêu chuẩn hiện tại và dự kiến);
- Tạo điều kiện cho phát triển tự đánh giá trong học tập;
- Cung cấp thông tin chất lượng cao cho HS về học tập và rèn luyện;
- Khuyến khích GV, HS đối thoại bình đẳng xung quanh học tập;
- Khuyến khích tích cực thúc đẩy niềm tin và lòng tự trọng của học sinh;
- Cung cấp cơ hội để thu hẹp khoảng cách giữa hiệu quả hiện tại và mong muốn;
- Cung cấp thông tin hình mẫu giáo dục mới để giáo viên sử dụng
Bên cạnh đánh giá quá trình, để phụ vụ công tác quản lý vẫn phải thựchiện đánh giá tổng kết Mục tiêu của đánh giá tổng kết là mức độ thành tíchđạt được của học sinh và thông qua đó đánh giá thành tích của giáo viên vàcủa nhà trường, sau một quá trình dạy – học Đánh giá này không quan tâmđến học sinh đạt được thành tích đó như thế nào, mà chỉ quan tâm đến điểm
số của từng học sinh, hoặc điểm trung bình của học sinh trong một lớp, mộttrường, một vùng, để dễ dàng so sánh học sinh này với học sinh khác, trườngnày với trường khác, suy rộng ra vùng này với vùng khác…
Đánh giá thực tiễn: Đánh giá thực tiễn bao gồm mọi hình thức và
phương pháp kiểm tra – đánh giá được được thực hiện với mục đích kiểm tracác năng lực cần có trong cuộc sống hằng ngày và được thực hiện trong bốicảnh thực tế Đánh giá này nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa cách đánhgiá với những yêu cầu của cuộc sống thực Đánh giá này khác với đánh giátruyền thống, tức là đánh giá trên giấy thông qua bài viết tự luận, câu hỏi trắcnghiệm ngắn và trắc nghiệm khách quan
Trang 35Đánh giá sáng tạo: Đánh giá sáng tạo hay đánh giá thay thế, nó trái
ngược với cách đánh giá truyền thống Nó gần với các khái niệm đánh giáthực tiễn, đánh giá tích hợp, đánh giá toàn diện Đánh giá sáng tạo nhấn mạnh
sự mới mẽ, đa dạng và sáng tạo của những cách thức kiểm tra – đánh giá.Trong mô hình này, học sinh, giáo viên và có khi cả cha mẹ các em chọn một
số mảng hoạt động, những thành tích hay điểm kiểm tra môn học, kỹ năngviết, nói của học sinh qua các năm, để chứng minh rằng việc học được cảithiện trong quá trình nhiều năm liên tục Một số đặc điểm của một đánh giásáng tạo là nó nhấn mạnh, chứng cứ quá trình học tập như là một minh chứngtích cực của kiến thức và kỹ năng Nó được sử dụng để đánh giá quá trình họctập và kết quả học tập Đánh giá sáng tạo khuyến khích sự tham gia của họcsinh trong đánh giá thành tích và khả năng đạt được của chính học sinh vớinhau, có sự tương tác của học sinh này với hoc sinh khác, giữa giáo viên vớihọc sinh và có khi cả cha mẹ và cộng đồng lớn hơn
1.4 Lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở
Bên cạnh việc đảm bảo quản lý chặt chẽ, khoa học các hoạt động kiểm tra– đánh giá về mục tiêu, kế hoạch, quy trình, tổ chức – chỉ đạo thực hiện quytrình, kiểm tra thường xuyên, trong quá trình quản lý cần phải xác định rõ chứcnăng, nội dung quản lý của các chủ thể quản lý cũng như các yếu tố ảnh hưởngđến quá trình quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá của các chủ thể này:
1.4.1 Nội dung quản lý của các chủ thể quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở
1.4.1.1 Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo
* Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Phòng GD&ĐT: Theo
lý luận quản lý chung thì Phòng Giáo dục và Đào tạo thực hiện nhiệm vụ quản
lý của mình theo 4 chức năng, đó là: Xây dựng kế hoạch; Tổ chức thực hiện
kế hoạch; Lãnh đạo, chỉ đạo; Kiểm tra Tuy nhiên, chức năng của PhòngGD&ĐT được quy định cụ thể tại thông tư liên tịch Số 47/2011/TTLT-
Trang 36BGDĐT-BNV, ngày 19 tháng 10 năm 2011 của Bộ GD&ĐT và Bộ Nội vụ,
- Phòng Giáo dục và Đào tạo có tư cách pháp nhân, có con dấu và tàikhoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và nhiệm vụ công táccủa UBND cấp huyện; đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn,nghiệp vụ của Sở Giáo dục và Đào tạo
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trình UBND cấphuyện: Dự thảo các văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế chính sách, pháp luật, cácquy định của UBND cấp tỉnh về hoạt động giáo dục trên địa bàn…
- Hướng dẫn, tổ chức thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung, kếhoạch, chuyên môn, nghiệp vụ, các hoạt động giáo dục, phổ cập giáo dục; côngtác tuyển sinh, thi cử, xét duyệt, cấp văn bằng, chứng chỉ đối với các cơ sở giáodục thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng côngchức, viên chức các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấphuyện sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
- Tổ chức ứng dụng các kinh nghiệm, thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, tổng kết kinh nghiệm, sáng kiến của địa phương trong lĩnh vực giáo dục
- Tổ chức thực hiện công tác xây dựng và nhân điển hình tiên tiến, côngtác thi đua, khen thưởng về giáo dục trên địa bàn huyện
- Quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, luân chuyển, cáchchức, giáng chức người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu các cơ sở giáo dụccông lập; công nhận, không công nhận hội đồng quản trị, chủ tịch hội
Trang 37đồng quản trị, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các cơ sở giáo dục ngoài công lậpthuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện theo quy định của pháp luật
và ủy quyền của UBND cấp huyện
- Thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo định kỳ và hàng năm,báo cáo đột xuất về tổ chức và hoạt động giáo dục theo hướng dẫn của Sở Giáodục và Đào tạo và UBND cấp huyện … [6]
Như vậy, căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Giáo dục
có thể thấy hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh là mộttrong những nội dung quản lý của Phòng GD&ĐT, đồng thời nội dung quản
lý này còn được quy định tại một số văn bản khác có liên quan như: Quyếtđịnh số 40/2006/QĐ-BGDĐT, ngày 05/10/2006 của Bộ GD&ĐT về việc banhành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trunghọc phổ thông; Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường
phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số:
12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo); Hướng
dẫn giảng dạy các môn học, phân phối chương trình của Sở GD&ĐT
* Nội dung quản lý của Phòng GD&ĐT đối với hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh:
Đối với hoạt động kiểm tra - đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ
sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm: Xây dựng kế hoạch hướngdẫn các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện thực hiện Quy chế về đánhgiá, xếp loại học sinh trung học cơ sở ban hành kèm theo Quyết định số40/2006/QĐ-BGDĐT, ngày 05/10/2006 của Bộ GD&ĐT Tổ chức, kiểm tra,giám sát, chỉ đạo các trường THCS thông qua Hiệu trưởng nhà trường khắcphục ngay sai sót trong những việc sau đây:
- Thực hiện chế độ kiểm tra cho điểm, ghi điểm vào sổ gọi tên và ghi điểm, học bạ; xếp loại hạnh kiểm, học lực học sinh;
- Sử dụng kết quả đánh giá, xếp loại hạnh kiểm và học lực của học sinh
Từ những nhiệm vụ nêu trên cho thấy trong bối cảnh của nhà trường
Trang 38trung học cơ sở hiện nay, kết quả của các bài kiểm tra là cơ sở quan trọng, có ýnghĩa quyết định tới việc đánh giá, xếp loại học sinh Chính vì vậy, tăng cường
đổi mới hoạt động kiểm tra kết quả học tập của học sinh THCS (nhất là các bài kiểm viết lý thuyết 1 tiết trở lên và bài kiểm tra học kỳ) là một yêu cầu cấp thiết.
Tuy nhiên trong quá trình đổi mới không thể tránh khỏi sai sót, vì vậy công tácquản lý hoạt động này cần chặt chẽ, khoa học và thường xuyên, bảo đảm chonhiệm vụ kiểm tra, đánh giá, xếp loại đạt được mục đích đánh giá chất lượnggiáo dục toàn diện đối với học sinh sau mỗi học kỳ, mỗi năm học, thúc đẩy họcsinh rèn luyện, học tập để không ngừng tiến bộ Trên cơ sở các căn cứ đánh giá,xếp loại hạnh kiểm và học lực của học sinh được dựa vào: Mục tiêu giáo dục củacấp học; Chương trình, kế hoạch giáo dục của cấp học; Điều lệ nhà trường; Kếtquả rèn luyện và học tập của học sinh Bảo đảm nguyên tắc khách quan, chínhxác, công bằng, công khai, đúng chất lượng
Phòng Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhândân cấp huyện, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyệnthực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực giáo dục và đào tạo,bao gồm: mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục và đào tạo, bảo đảm chấtlượng giáo dục và đào tạo…[6] Vì vậy, trong quá trình quản lý chỉ đạo củamình, Phòng GD&ĐT cần phải tiến hành thu thập, nắm bắt thông tin ngược từ
các nhà trường (đặc biệt là thông tin về công tác dạy – học) thông qua rất nhiều các các hoạt động như: thanh – kiểm tra (thường xuyên, định kì, đột
xuất), khảo sát chất lượng học sinh, kiểm định chất lượng,…
Công tác khảo sát chất lượng học sinh nhằm đánh giá chất lượng dạy –học các trường trung học cơ sở của Phòng Giáo dục được xem là một giải phápquản lý cần thiết, quan trọng Bởi thông qua kết quả khảo sát này sẽ giúp choPhòng Giáo dục có những đánh giá, so sánh về thực trạng chất lượng giảng dạy,thực trạng kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh trong các nhà trường
để từ đó có những biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáodục Ngược lại, kết quả của các kỳ khảo sát này sẽ tạo động lực kích thích,
Trang 39thúc đẩy quá trình dạy – học, là cơ sở khoa học để mỗi nhà trường tự điều chỉnh các biện pháp quản lý quá trình giáo dục, dạy – học.
Tuy nhiên, để cho công tác khảo sát chất lượng đạt được mục đích, Phòng Giáo dục cần phải xây dựng kế hoạch chi tiết cụ thể, triển khai tổ chức theo đúng quy trình của một kì kiểm tra – đánh giá, đồng thời phải tính toán đến nhiều yếu tố như: thời điểm khảo sát, xây dựng và bảo quản đề kiểm tra, nguồn nhân lực làm công tác coi chấm, các điều kiện về cơ sở vật chất, nguồnkinh phí, tâm lý giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, dư luận xã hội,…
1.4.1.2 Đối với Hiệu trưởng các trường THCS
Hiệu trưởng các trường THCS có trách nhiệm quản lý học sinh và cáchoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếploại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình tiểuhọc cho học sinh tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp học vàquyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh [5];
* Đối với hoạt động kiểm tra – đánh giá học sinh, Hiệu trưởng trường
- Quản lý, hướng dẫn giáo viên, nhân viên, học sinh thực hiện và phổ biến đến gia đình học sinh các quy định của Quy chế kiểm tra - đánh giá
- Kiểm tra việc thực hiện quy định về kiểm tra, cho điểm và đánh giánhận xét của giáo viên Hàng tháng ghi nhận xét và ký xác nhận vào sổ gọi tên vàghi điểm của các lớp
- Kiểm tra việc đánh giá, xếp loại, ghi kết quả vào sổ gọi tên và ghiđiểm, vào học bạ của giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm; phê chuẩn việc sửachữa điểm, sửa chữa mức nhận xét của giáo viên bộ môn khi đã có xác nhận củagiáo viên chủ nhiệm
- Tổ chức kiểm tra lại các môn học theo quy định; phê duyệt và công bốdanh sách học sinh được lên lớp sau khi có kết quả kiểm tra lại các môn học
- Kiểm tra, yêu cầu người có trách nhiệm thực hiện Quy chế kiểm tra –đánh giá phải khắc phục ngay sai sót trong những việc như: Thực hiện chế độ
Trang 40kiểm tra cho điểm và mức nhận xét; ghi điểm và các mức nhận xét vào sổ gọitên và ghi điểm, học bạ; xếp loại hạnh kiểm, học lực học sinh; sử dụng, đánhgiá xếp loại học lực của học sinh…[4].
* Bên cạnh các nhiệm vụ nêu trên, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý Hiệu trưởng có thể chủ động tiến hành tổ chức kiểm tra khảo sát chất lượng.Đối với các bài khảo sát chất lượng học tập của học sinh có thể được
tổ chức dưới nhiều hình thức:
- Khảo sát chất lượng học sinh sau khi dự giờ, thăm lớp để đánh giá giờdạy của giáo viên và kết quả học tập của học sinh tại giờ học đó
- Khảo sát đột xuất không báo trước
- Khảo sát chất lượng đầu năm, cuối mỗi học kỳ Với hình thức khảosát này đòi hỏi phải được chuẩn bị kỹ lưỡng ở tất cả các khâu trong quy trình kiểmtra – đánh giá
Việc tổ chức khảo sát chất lượng học sinh có thể diễn ra đối với mộtlớp hoặc toàn trường, đối với một môn học hay nhiều môn học tùy theo yêucầu và đặc điểm tình hình cụ thể của nhà trường nhằm điều chỉnh công tácquản lý của mình đối với hoạt động giáo dục, dạy – học của giáo viên và họcsinh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Bên cạnh đó, Hiệu trưởng chịu sự chỉ đạo, giám sát và tổ chức thựchiện kế hoạch về công tác kiểm tra khảo sát chất lượng cũng như sử dụng kếtquả khảo sát chất lượng của Phòng GD&ĐT phục vụ cho quản lý công tác dạy– học
* Xuất phát từ những yêu cầu nhiệm vụ nêu trên nên trong quá trình quản lý của mình, Hiệu trưởng cần chỉ đạo thực hiện một số nội dung sau:
- Quản lý xây dựng kế hoạch tổ chức kiểm tra – đánh giá: Chỉ đạo lập
kế hoạch kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh một cách khoa học, chitiết theo từng tháng, từng kỳ, từng năm học Chỉ đạo các buổi học tập nghiên cứu,tìm hiểu nghiệp vụ, quy chế liên quan đến kiểm tra – đánh giá Tăng cường tổchức bồi dưỡng giáo viên về kỹ năng ra đề kiểm tra, viết đáp