1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đổi mới biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trung học phổ thông hoài đức b, thành phố hà nội

146 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 320,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nước, chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh… tổ chức cho học sinhtham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thể thao phù hợp với lứa tuổi và vớiyêu cầu giáo dục toàn diện”.Đối với các

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN DANH THÔNG

ĐỔI MỚI BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HOÀI ĐỨC B THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN DANH THÔNG

ĐỔI MỚI BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

HOÀI ĐỨC B THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGND Nguyễn Võ Kỳ Anh

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn của mình tới Ban Giámhiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học - Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia HàNội cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy tại lớp Cao họcQuản lý giáo dục khóa 11 - lớp 2, đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới Phó giáo sư, Tiến

sĩ Nhà giáo nhân dân Nguyễn Võ Kỳ Anh, người Thầy hướng dẫn khoa học đãchỉ bảo tận tình, trực tiếp giúp đỡ, động viên để em thực hiện đề tài và hoànthành luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cám ơn Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, BanGiám hiệu, tập thể các thầy cô giáo, cán bộ nhân viên trường THPT Hoài Đức

B nơi tôi đang công tác đã luôn cổ vũ, động viên, ủng hộ tôi trong suốt quátrình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin chân thành cám ơn Hội cha mẹ học sinh và các em họcsinh thân yêu của tôi đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát thựchiện đề tài

Tôi cũng vô cùng biết ơn các bạn đồng nghiệp, người thân trong giađình đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu vàhoàn thành luận văn

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắnkhông tránh khỏi thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý của cácthầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và những người quan tâm đến vấn đề đượctrình bày trong luận văn

Xin trân trọng cám ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Danh Thông

Trang 4

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Giáo dục đạo đứcGiáo dục thường xuyênGiáo dục và Đào tạoGiáo viên

Giáo viên bộ mônGiáo viên chủ nhiệmHiện đại hóa

Nhà xuất bảnPhụ huynh học sinh

Số lượngThể dục thể thaoTrung học cơ sởTrung học phổ thông

Tệ nạn xã hội

Ủy ban nhân dânVăn hóa văn nghệ

Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục các sơ đồ vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỔI MỚI QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 6

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 7

1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 9

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 9

1.2.2 Đạo đức, giáo dục đạo đức 12

1.2.3 Quản lý giáo dục đạo đức 16

1.2.4 Đổi mới quản lý giáo dục đạo đức trong nhà trường 17

1.3 Một số vấn đề cơ bản của giáo dục đạo đức trong trường THPT 18

1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức 18

1.3.2 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức 19

1.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức 20

1.3.4 Phương pháp giáo dục đạo đức 21

1.3.5 Hình thức giáo dục đạo đức 22

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở trường THPT 23

1.4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục đạo đức 23

1.4.2 Quản lý nội dung, hình thức giáo dục đạo đức 24

1.4.3 Quản lý phương pháp giáo dục đạo đức 24

1.4.4 Quản lý hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá trình giáo dục đạo đức 25

1.4.5 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục đạo đức 26

1.4.6 Quản lý các điều kiện để thực hiện quá trình giáo dục đạo đức 27

Trang 6

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục đạo đức cho học

sinh THPT 27

1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT 27

1.5.2 Vai trò của các lực lượng trong giáo dục đạo đức cho học sinh 30

Tiểu kết chương 1 33

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HOÀI ĐỨC B, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 34

2.1 Khái quát tình hình kinh tế xã hội và giáo dục của huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội 34

2.1.1 Khái quát về Huyện Hoài Đức 34

2.1.2 Về phát triển giáo dục 35

2.1.3 Đặc điểm trường THPT Hoài Đức B 36

2.2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Hoài Đức B, thành phố Hà Nội 39

2.2.1 Thực trạng đạo đức học sinh ở trường THPT Hoài Đức B, thành phố Hà Nội 39

2.2.2 Thực trạng các biểu hiện vi phạm đạo đức của học sinh 41

2.2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Hoài Đức B 44

2.2.4 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh về hoạt động giáo dục đạo đức đối với học sinh 45

2.2.5 Thực trạng về hình thức và nội dung hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Hoài Đức B 49

2.2.6 Thực trạng việc phối hợp các lực lượng giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sinh 51

2.2.7 Thực trạng việc xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Hoài Đức B 52

2.2.8 Đánh giá chung 54

Tiểu kết chương 2 58

Trang 7

Chương 3: ĐỔI MỚI BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG

HỌC PHỔ THÔNG HOÀI ĐỨC B, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 59

3.1 Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp 59

3.2 Một số biện pháp đổi mới quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Hoài Đức B, thành phố Hà Nội 61

3.2.1 Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ quản lí, GV, cha mẹ HS và các tổ chức xã hội về giáo dục đạo đức cho học 61 sinh

3.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Hoài Đức B, thành phố Hà Nội 63

3.2.3 Tăng cường năng lực công tác của giáo viên chủ nhiệm lớp 65

3.2.4 Phát huy vai trò tự quản của tập thể và ý thức tự rèn luyện của học sinh 68

3.2.5 Nâng cao vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên trong nhà trường 69

3.2.6 Nâng cao chất lượng các môn học có ưu thế trong giáo dục đạo đức cho học sinh 71

3.2.7 Đa dạng hoá các nội dung hoạt động giáo dục đạo đức 73

3.2.8 Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình, xã hội 75 trong quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

3.2.9 Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức học sinh 78

3.3 Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 80

3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 86

Tiểu kết chương 3 89

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Khuyến nghị 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 97

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

TrangBảng 2.1 Kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh từ năm học 2010-

2011 đến năm học 2012-2013 40Bảng 2.2 Đánh giá thực trạng các biểu hiện vi phạm đạo đức của học sinh42Bảng 2.3 Những nguyên nhân dẫn đến học sinh có hành vi vi phạm đạo 43đức

Bảng 2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục đạo đức học

sinh ở trường THPT Hoài Đức B 44Bảng 2.5 Thực trạng nhận thức về vai trò của giáo dục đạo đức đối

với việc phát triển toàn diện của học sinh 45Bảng 2.6 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, cán bộ

quản lý địa phương về sự cần thiết của các hoạt động giáo dục ở

trường THPT Hoài Đức B 46Bảng 2.7 Thực trạng nhận thức và hành động của PHHS đối với việc

rèn luyện đạo đức học sinh 48Bảng 2.8 Đánh giá về mức độ cần thiết và thái độ tham gia của học

sinh vào các hình thức hoạt động giáo dục đạo đức 49Bảng 2.9 Nhận thức của học sinh về sự cần thiết của các nội dung

giáo dục đạo đức 50Bảng 2.10 Sự phối hợp các lực lượng của nhà trường trong việc giáo

dục đạo đức cho học sinh của trường THPT Hoài Đức B 51Bảng 2.11 Đánh giá thực trạng việc xây dựng kế hoạch giáo dục đạo

đức cho học sinh ở trường THPT Hoài Đức B 53Bảng 3.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động giáo

dục đạo đức 82Bảng 3.2 Tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo

đức 84Bảng 3.3 Sự tương quan giữa mức độ cần thiết và tính khả thi của các

biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 86

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

TrangBiểu đồ 2.1 So sánh tỷ lệ xếp loại hạnh kiểm của học sinh từ năm

học 2010-2011 đến năm học 2012-2013 40Biểu đồ 2.2 Thực trạng nhận thức về vai trò của giáo dục đạo đức

đối với việc phát triển toàn diện của học sinh 45Biểu đồ 3.1 So sánh mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện

pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 87

Trang 10

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước, Đảng và nhà nước luônquan tâm đến vấn đề giáo dục đạo đức nói chung, giáo dục đạo đức cho họcsinh nói riêng Chỉ thị số 06-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 07 tháng 11 năm

2006 về tổ chức cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HồChí Minh", Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/05/2011 của Bộ Chính trị về việctiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

đã cho thấy sự quan tâm sâu sắc của Đảng và nhà nước về giáo dục đạo đức

Trong Luật Giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2005, Điều 2 đã chỉ rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Namphát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp,trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành vàbồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xâydựng và bảo vệ Tổ quốc” Để làm được điều đó, trong chương trình đào tạocủa các cấp học, Bộ Giáo dục và Đào tạo rất chú trọng đến việc giáo dục toàndiện cho học sinh, trong đó đặc biệt là giáo dục đạo đức

Tuy nhiên, do măṭtrái của cơ chếthị trường đã ảnh hưởng tiêu cưcc̣ đến

sư c̣nghiêpc̣ giáo ducc̣ , trong đósư c̣suy thoái vềđaọ đức vànhững giátri nhân

văn làm cho một bộ phận học sinh có lối sống thực dụng, thiếu ước mơ và hoàibão Thêm vào đó, sự du nhập văn hoá phẩm đồi truỵ, bạo lực thông qua cácphương tiện như phim ảnh, games, mạng internet… làm ảnh hưởng đến nhữngquan điểm về tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi thanh thiếu niên và học sinh,nhất là đối với những em thiếu kiến thức về vấn đề này

Đánh giáthực trangc̣ giáo ducc̣ đào taọ, Nghị quyết TW 2 khóa VIII nhấnmạnh: “Đăcc̣ biêṭđáng lo ngaịlàmôṭbô c̣phân hocc̣ sinh , sinh viên cótinh̀ trangc̣suy thoái vềđaọ đức , mờnhaṭvềlýtưởng , theo lối sống thưcc̣ dungc̣, thiếu hoàibão lập thân , lâpc̣ nghiêpc̣ vìtương lai của bản thân vàđất nước Trong nhữngnăm tới cần tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức công dân, lòng yêu

Trang 11

nước, chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh… tổ chức cho học sinhtham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thể thao phù hợp với lứa tuổi và vớiyêu cầu giáo dục toàn diện”.

Đối với các cơ sở giáo dục nói chung, các trường THPT nói riêng, nhìnchung vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh đã được các nhà trường rất quantâm, coi đó như một mặt giáo dục quan trọng trong nhà trường, góp phần rấtquan trọng trong việc giáo dục toàn diện, hình thành nhân cách cho học sinh

Trong giai đoạn hiện nay, trước sự phát triển như vũ bão của khoa họccông nghệ, sự bùng nổ của hệ thống thông tin, đòi hỏi nhà quản lý của các cơ

sở giáo dục cần phải đổi mới các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh đểvừa phù hợp với xu thế phát triển chung của toàn xã hội, vừa phù hợp với đặcthù riêng của từng cơ sở giáo dục

Trường THPT Hoài Đức B thuộc ngoại thành Thành phố Hà Nội, là mộttrường đã và đang chú trọng phát triển về chất lượng giáo dục toàn diện chohọc sinh Nhà trường đã có nhiều biện pháp đổi mới phương thức quản lýtrong đó đặc biệt chú trọng đổi mới quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh Vìvậy, bước đầu đã đạt được những kết quả đáng kể Tuy nhiên, hoạt động giáodục đạo đức cho học sinh nhiều khi còn mang tính chủ quan, đơn điệu, chưathường xuyên, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục Đứngtrước yêu cầu chung của xã hội, nhà trường cần phải đổi mới biện pháp quản

lý giáo dục đạo đức cho học sinh sao cho hiệu quả hơn, từ đó nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện cho học sinh toàn trường

Xuất phát từ những lýdo trên, là Hiệu trưởng, là người làm công tác quản lý ở trường THPT Hoài Đức B, tôi manḥ dan chon đềtài nghiên cứu:

“Đổi mới biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trung học phổ thông Hoài Đức B, thành phố Hà Nội” làm luận văn

thạc sĩ với mong muốn khắc phục những vấn đề bất cập trong thực tiễn quản

lý giáo dục đạo đức, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh của nhà trường

Trang 12

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nghiên cứu, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụsau:

- Xác định cơ sở lý luận của quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh

- Khảo sát , phân tich́, đánh giá thưcc̣ trangc̣ viêcc̣ quản lýhoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Hoài Đức B, thành phố Hà Nội

- Đề xuất đổi mới biên pháp quản lý hoạt động giáo ducc̣ đạo đức cho học sinh ở trường THPT Hoài Đức B, thành phố Hà Nội

4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Hoài Đức B,thành phố Hà Nội

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đổi mới quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPTHoài Đức B, thành phố Hà Nội

5 Giả thuyết khoa học

Hiện nay, công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh củatrường THPT Hoài Đức B, thành phố Hà Nội chưa thật hiệu quả, vẫn còn cónhững hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế và nâng cao chấtlượng giáo dục đào tạo trong giai đoạn mới Nếu đề xuất các biện pháp quản lýkhoa học và mang tính khả thi, sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt độnggiáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Hoài Đức B, thành phố Hà Nội

Trang 13

6 Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn phạm vi nghiên cứu là thực trạng quản lí hoạt động giáo dụcđạo đức cho học sinh ở THPT Hoài Đức B năm học 2011 - 2012 và đề xuất đổimới một số biện pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ởTHPT Hoài Đức B trong những năm tiếp theo, đề tài được tiến hành ở cả bakhối lớp: khối 10, khối 11 và khối 12, giáo viên, cha mẹ học sinh, cán bộ quản

lý trường THPT Hoài Đức B và cán bộ quản lý của địa phương

7 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai tốt các nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, tác giả đã kết hợpcác phương pháp sau:

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu về lý luận quản lý, các côngtrình khoa học liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài:

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng về giáo dục và đào tạo

- Nghiên cứu tài liệu kinh điển

- Nghiên cứu các giáo trình, sách báo, các công trình liên quan

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Quan sát, khảo sát thực tế

- Thống kê số liệu, phân tích thực trạng

- Tổng kết kinh nghiệm

- Điều tra cơ bản bằng phiếu hỏi

- Lấy ý kiến chuyên gia, trao đổi, toạ đàm

7.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu bổ trợ

- Thống kê toán học: Sử dụng công thức toán học để thống kê, xử lý số liệu đã thu được từ các phương pháp khác

- Sử dụng bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ

Trang 14

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu thamkhảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:Chương 1: Cơ sở lý luận của đổi mới quản lý hoạt động giáo dục đạo đứccho học sinh trung học phổ thông

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức chohọc sinh ở trường trung học phổ thông Hoài Đức B, thành phố Hà Nội tronggiai đoạn hiện nay

Chương 3: Đổi mới biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức chohọc sinh ở trường trung học phổ thông Hoài Đức B, thành phố Hà Nội

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỔI MỚI QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Ở mọi thời đại, ở bất cứ quốc gia nào thì đạo đức vẫn luôn giữ vai trò đặcbiệt quan trọng trong đời sống xã hội, với những chuẩn mực, giá trị đúng đắn.Cho dù ở giai đoạn nào của lịch sử loài người thì chuẩn mực chung của đạođức vẫn là hướng thiện, chống lại cái ác hướng tới quan hệ tốt đẹp giữa conngười với con người, giữa con người với tự nhiên và xã hội Đồng thời đạođức cũng khẳng định khả năng tự tu dưỡng, tự giáo dục của mỗi cá nhân, chonên đạo đức và giáo dục đạo đức luôn luôn được quan tâm, trú trọng ở mọithời đại

Ở phương Tây, nhà triết học Socrate (469-399 TCN) cho rằng, cái gốccủa đạo đức là tính thiện, bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy đượcnuôi dưỡng, phát triển thì con người sẽ có hạnh phúc Theo ông, chuẩn mựcđạo đức phải được nhận thức bằng lý tính kết hợp với phương pháp nhận thứckhoa học

Theo Rabơlen (1494-1553), nhà tư tưởng giáo dục thời kỳ phục hưng và

là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp thì giáo dục phải bao hàm cả

“Trí dục, Đức dục, Thể dục, Mỹ dục” và ông đã có sáng kiến tổ chức các hìnhthức giáo dục như việc học tập ở lớp, ở nhà, ngoài ra còn có các buổi thamquan ở xưởng thợ, các cửa hàng, với các nhà văn, các nghệ sĩ, đặc biệt là mỗitháng một lần thầy, cô và học trò về sống ở nông thôn một ngày

Vào thế kỷ XX, nhà giáo dục nổi tiếng người Nga A.S Makarenko đã nêulên nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua tập thể Trong tác phẩm “Bài ca

sư phạm” ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của giáo dục đạo đức

Ở phương Đông, vấn đề giáo dục đạo đức được quan tâm từ rất sớm.Khổng Tử (551-479 TCN), nhà giáo dục lớn của Trung hoa phong kiến mà tư

Trang 16

tưởng của ông đã trở thành một “Đạo” có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở TrungQuốc mà ở nhiều quốc gia khác Ông đề cao đường lối “Đức trị” để trị quốc andân, phát triển đất nước Theo quan điểm “Ngũ thường” của ông thì yếu tố đạođức được đặt lên hàng đầu “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín” Ông coi “Nhân” là gốc rễcủa các đức khác Ông được người đời tôn làm “Vạn thế sư biểu”.

Như vậy có thể thấy cả ở phương Đông lẫn phương Tây đều rất chútrọng đề cao vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức qua đó hình thành và pháttriển nhân cách của con người

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Vai trò, động lực tinh thần to lớn của đạo đức đối với sự phát triển, tiến bộ

xã hội được nhiều nhà khoa học ngày nay thừa nhận và các quốc gia trên thếgiới quan tâm sâu sắc Ở nước ta, Đảng và Bác Hồ luôn thường xuyên quantâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức Những tư tưởng đạo đứccũng như tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với quá trìnhphát triển tư tưởng đạo đức và việc xây dựng nền đạo đức cách mạng màNgười là tấm gương tiêu biểu, sinh động và trong sáng nhất của nền đạo đứccách mạng đó Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Có tài mà không cóđức thì là người vô dụng” hay “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơixuống mà do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, củng cố.Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [32]

Một số tác giả khác như Phạm Khắc Chương và Trần Văn Chương trongcuốn tài liệu bồi dưỡng thường xuyên dành cho GV THPT chu kỳ 1997-2000

“Đạo đức học” [10] đã phân tích quá trình phát triển tâm sinh lý của học sinhTHPT, về tình bạn, tình yêu, khẳng định đại đa số học sinh là hiếu học, ngoanngoãn, thông minh và chỉ có một bộ phận học sinh hư mà người có lỗi lạichính là người lớn chúng ta Trong chương VI đề cập một số vấn đề cần quantâm trong giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh, trong đó các tác giảcũng đã xây dựng chuẩn mực về đạo đức mới trong gia đình, trong học tập,trong tình bạn, tình yêu và trong giao tiếp Trong chương VII đề cập đến việchọc tập, tu dưỡng đạo đức theo gương cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trang 17

Đặc biệt trong chương VIII các tác giả đề xuất một số phương pháp giảngdạy và giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường THPT bằng một sốnhóm phương pháp cụ thể và bằng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cũngnhư mối quan hệ giữa các phương pháp đó.

Trong công trình nghiên cứu của mình: “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại” tác giả Thái Duy Tuyên đã đánh giá về thực trạng và tỏ ra rất lo

lắng trước sự sa sút về đạo đức ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn chấtlượng và mức độ nguy hại của một bộ phận học sinh Tác giả kết luận: đạo đứchọc sinh đang trên đà giảm sút và cho rằng giáo dục đạo đức là nhiệm vụ quantrọng của toàn xã hội đồng thời cũng kiến nghị cần đẩy mạnh hơn nữa công tácnghiên cứu về giáo dục đạo đức.[34]

Trong tác phẩm: “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [17] của một nhóm tác giả do GS.VS Phạm Minh

Hạc làm chủ biên, trong chương VII nói về định hướng chiến lược xây dựngđạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng

đã đánh giá thực trạng đạo đức học sinh, sinh viên hiện nay có một khoảngcách khá xa mới tiếp cận được với mục tiêu giáo dục giá trị đạo đức so với yêucầu của thời kỳ mới

Trong cuốn: “Văn hoá với thanh niên - Thanh niên với văn hoá” [4] do

Ban tư tưởng -Văn hoá Trung ương biên soạn, tác giả Hà Nhật Thăng trong bàiviết của mình đã nêu lên thực trạng đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống củathanh niên, học sinh, sinh viên hiện nay và đi đến nhận định: Trong học sinh,sinh viên có sự phân hoá khá rõ rệt, tỷ lệ giữa các nhóm có đạo đức tốt, chậmtiến, bình thường có sự chênh lệch khá lớn Tuy nhiên các giá trị đạo đức, tưtưởng chính trị, lối sống được đa số học sinh, sinh viên quan tâm vẫn là cácgiá trị đạo đức cốt lõi của nhân cách con người Việt Nam; cũng có những giátrị mới do yêu cầu của CNH, HĐH chưa được học sinh, sinh viên coi trọng.Một bộ phận không nhỏ học sinh, sinh viên có sự giao động về nhận thức cóhành vi sai trái liên quan tới một số giá trị quan trọng như: Trung thực,

Trang 18

thẳng thắn, tinh thần trách nhiệm, lòng nhân ái… Tác giả cũng nêu lên cácnguyên nhân, đó là: công tác giáo dục đạo đức còn chưa được coi trọng đúngmức, chưa đồng bộ; quá trình giáo dục còn nặng về kết quả học tập văn hoá,coi nhẹ việc rèn luyện đạo đức; hình thức giáo dục còn khô cứng, áp đặt,không phù hợp tâm lý lứa tuổi Từ thực trạng và nguyên nhân trên, tác giả đềxuất nhiều giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đứccho học sinh, sinh viên.

Như vậy, có thể thấy, mặc dù có những quan điểm chưa thống nhất nhưngphần lớn các tác giả đều khẳng định: Đa số học sinh, sinh viên có phẩm chất đạođức và lối sống tốt, ham hiểu biết, ham học hỏi, tôn trọng đạo lý, vẫn giữ gìnđược bản sắc và truyền thống văn hoá của dân tộc, mặc dù nhận thức và hànhđộng của một bộ phận học sinh chưa đạt những chuẩn mực đạo đức hiện nay Đặcbiệt đáng lo ngại là một bộ phận thanh niên, học sinh sa sút về phẩm chất đạođức, chạy theo lối sống thực dụng, coi thường luân thường đạo lý, phai nhạt lýtưởng XHCN, vi phạm pháp luật và sa vào các tệ nạn xã hội, có các hành vi lệch

so với chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hoá của dân tộc

1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.2.1.1 Quản lý

Quản lý là một khái niệm rộng lớn được sử dụng trong nhiều lĩnh vựckhác nhau Vì vậy, khi đưa ra khái niệm về quản lý, các tác giả thường gắn vớicác loại hình quản lý cụ thể phụ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu hay thực tếcông việc quản lý của mình Cụ thể:

Frederick Winslow Taylor (1856-1915) là người sáng lập ra thuyết quản

lý theo khoa học, theo ông thì: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốnngười khác làm, và sau đó hiểu được rằng đã hoàn thành công việc một cáchtốt nhất và rẻ nhất” [12, tr.89]

Henry Fayon (1845-1925), cha đẻ của thuyết quản lý hành chính lại chorằng: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo

Trang 19

thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính làthực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát” [9, tr.3-5].

Harold Koontz, được coi là người tiên phong của lý luận quản lý hiệnđại viết: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗlực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi cá thểđạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãncủa cá nhân ít nhất” [24, tr.20]

Các nhà nghiên cứu trong nước cũng đưa ra những quan điểm khácnhau về quản lý:

Theo PGS TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí thì Quản

lý là “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý)đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổchức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[8, tr.1]

Theo GS Đặng Vũ Hoạt và GS Hà Thế Ngữ thì: “Quản lý là một quátrình định hướng, quá trình có mục tiêu Quản lý một hệ thống là một quá trìnhtác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mụctiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mongmuốn”[20, tr.32-36]

Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung làkhách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đã dự kiến” [33, tr.56]

Theo PGS Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một hệ thống tác động khoahọc nghệ thuật vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợpnhằm đạt được những mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệthống”[29, tr.1]

Theo từ điển Tiếng Việt thì Quản lý là: “Tổ chức, điều khiển hoạt độngcủa một đơn vị, một cơ quan” [38]

Như vậy, khái niệm quản lý được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhautùy theo từng cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên các quan điểm trên đều đềcập đến bản chất chung của khái niệm quản lý:

Trang 20

- Quản lý là sự tác động liên tục có định hướng, có chủ đích của chủ thểquản lý lên khách thể quản lý trong một tổ chức thông qua quá trình lập kếhoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điềukiện biến động của môi trường.

- Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Quản lý mang tính khoa học

vì nó luôn là hoạt động có tổ chức, có định hướng dựa trên những quy luật,những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể Quản lý còn mang tínhnghệ thuật vì nó là một hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú đầy biến động,không có những nguyên tắc chung cho mọi tình huống Để đạt được mục tiêu

đề ra của tổ chức, người quản lý cần có những bí quyết sắp xếp nguồn nhânlực, nghệ thuật giao tiếp, kỹ năng ứng xử, khả năng thuyết phục đối với mọithành viên trong tổ chức

Cùng với sự phát triển chung của xã hội hiện nay, vai trò của quản lýngày càng được nâng cao Vì vậy, mỗi cấp quản lý, mỗi lĩnh vực hoạt độngcần vận dụng lý luận chung và lý luận cụ thể để phù hợp với quy mô và đặcthù của tổ chức mình qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý

1.2.1.2 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội, nóxuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội Vì vậy, khoa học quản lýgiáo dục trở thành một bộ phận của quản lý nói chung nhưng nó là một khoahọc tương đối độc lập vì tính chất đặc thù của nền giáo dục quốc dân

Theo M I Kônđacốp, chuyên gia giáo dục Liên Xô cũ: “Quản lý giáo dục

là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý

ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường)nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhậnthức và vận dụng những quy tắc chung của xã hội cũng như những quy luật củaquá trình giáo dục, của sự phát triển tâm thế và tâm lý trẻ em” [18]

Ở Việt Nam theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệthống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý

Trang 21

(hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên

lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN ViệtNam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dụctới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [33, tr.35]

Tác giả Đặng Quốc Bảo cũng đưa ra một nội dung khái quát: “Quản lýgiáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩymạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [2, tr.4]

Theo PGS TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí cho rằng:

“Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luậtkhách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáodục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó” [27]

Như vậy, có thể nói hệ thống giáo dục là một hệ thống mở, luôn vậnđộng và phát triển theo quy luật chung và chịu sự quy định của điều kiện kinh

tế - xã hội Các định nghĩa trên cũng cho thấy quản lý giáo dục luôn luôn phảiđổi mới, đảm bảo tính năng động, khả năng tự điều chỉnh, thích ứng của giáodục đối với sự vận động và phát triển chung

Tùy theo đối tượng quản lý mà quản lý giáo dục có nhiều cấp độ khácnhau Theo TS Nguyễn Phúc Châu thì quản lý giáo dục được chia ra:

- Quản lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô (quản lý hệ thống giáo dục): Ở cấp độ

này, “Quản lý giáo dục” được hiểu là những tác động tự giác, có ý thức, cómục dích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật,… của chủ thể quản lýgiáo dục các cấp đến các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm thực hiện cóchất lượng và hiệu quả việc tổ chức, huy động, điều phối, giám sát và điềuchỉnh,… các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin) để hệthống giáo dục vận hành đạt được mục tiêu phát triển giáo dục

- Quản lý giáo dục ở cấp độ vi mô (quản lý một cơ sở giáo dục): Ở cấp

độ này, quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ýthức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật,… của chủ thể quản lý một cơ sở giáo dục đến tập thể GV, CNV, tập thể người học và các lực

Trang 22

lượng tham gia giáo dục khác trong và ngoài cơ sở giáo dục đó, để thực hiện

có chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục và dạy học, nhằm làm cho cơ sởgiáo dục vận hành luôn luôn ổn định và phát triển để đạt tới mục tiêu đào tạocủa cơ sở giáo dục đó

1.2.1.3 Quản lý nhà trường

Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường, vì nhà trường

là cơ sở giáo dục, là nơi diễn ra các hoạt động và thực hiện các mục tiêu giáodục Vì vậy, quản lý nhà trường là một loại quản lý giáo dục đặc thù được thựchiện ở tầm vi mô

Theo M.I.Kônđacôp: “Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy vàhọc, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác đểdần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [26, tr.112]

Theo GS Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường ở Việt Nam là thực hiệnđường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vậnhành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạovới thế hệ trẻ và với từng học sinh” [16, tr.2]

Theo GS Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các

cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV và các lựclượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục và đàotạo trong nhà trường” [40, tr.17-19]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợpnhững tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, học sinh và cán bộkhác nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hộiđóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọihoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thựchiện có chất lượng, mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lêntrạng thái mới” [33, tr.34]

Như vậy, quản lý nhà trường là hoạt động được thực hiện trên cơ sởnhững quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng đặc thù của

Trang 23

nó Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy địnhbởi bản chất sư phạm của người GV, bản chất của quá trình dạy học, giáo dụctrong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủthể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cáchcủa người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyệntheo yêu cầu xã hội và được xã hội thừa nhận.

Quản lý nhà trường phải là quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và pháttriển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả Thànhcông hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới, nâng cao hiệu quả giáo dục đòi hỏingười quản lý phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của nhà trường, phảichú trọng tới việc cải tiến công tác quản lý giáo dục, để quản lý có hiệu quảcác hoạt động giáo dục trong nhà trường

1.2.2 Đạo đức, giáo dục đạo đức

1.2.2.1 Đạo đức

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, biểu hiện dưới dạng cácnguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực giúp điều chỉnh hành vi của con người trongcác mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên và

xã hội, giữa con người với chính bản thân mình

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đạo đức, một số định nghĩa đượchiểu như sau:

Theo “Từ điển Tiếng Việt” [38] định nghĩa: “Đạo đức là những tiêu

chuẩn, nguyên tắc được xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của conngười đối với nhau và đối với xã hội”

Theo tài liệu “Giáo dục công dân lớp 10” do Mai Văn Bính chủ biên và

các tác giả khác định nghĩa: “Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xãhội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp vớilợi ích chung của cộng đồng, của xã hội”

Theo GS.VS Phạm Minh Hạc định nghĩa: “Đạo đức, theo nghĩa hẹp làluân lý, những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con

Trang 24

người Nhưng trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã

mở rộng đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của conngười với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên vàmôi trường sống”

Theo tác giả Phạm Khắc Chương: “Đạo đức là một hình thái ý thức xãhội phản ánh những tồn tại xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội thực hiệntrên cơ sở kinh tế Sự phát triển của đạo đức xã hội từ thấp đến cao như nhữngnấc thang giá trị của văn minh con người, trên cơ sở phát triển của sức sảnxuất và thông qua sự đấu tranh, gạn lọc, kế thừa mà nội dung đạo đức ngàycàng phong phú và hoàn thiện hơn” [11, tr.25]

Trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, có thểthấy vấn đề cấp bách là cần xây dựng một số chuẩn mực đạo đức mới, nhằmphát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,bên cạnh đó chúng ta cũng cần loại bỏ một số chuẩn mực đạo đức cũ đã lạchậu không phù hợp Các chuẩn mực đạo đức mới được xây dựng trên cơ sở kếthừa các giá trị đạo đức truyền thống tốt dẹp của dân tộc Việt Nam, phù hợp xuthế phát triển của thời đại

Như vậy, có thể thấy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đạo đức,song có thể khái quát lại: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, tập hợpnhững nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giácách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với tự nhiên, xãhội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnhcủa dư luận xã hội

1.2.2.2 Giáo dục đạo đức

Giáo dục đạo đức là hình thành cho con người những quan điểm cơ bảnnhất, những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội Nhờ đó conngười có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hộicũng như tự đánh giá suy nghĩ về hành vi của bản thân mình Vì thế, công tácgiáo dục đạo đức góp phần vào việc hình thành phát triển nhân cách phù hợp

Trang 25

với từng giai đoạn phát triển “Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới ngườihọc để hình thành cho họ ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quantrọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức” [39, tr.85].

Theo tác giả Hà Nhật Thăng: “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhânvăn là một quá trình tổ chức hoạt động giáo dục bằng nhiều con đường, nhiềubiện pháp giúp mọi người hiểu biết hệ thống giá trị chuẩn mực đạo đức nhânvăn theo yêu cầu của sự phát triển xã hội và giúp mọi người tự giác có nhu cầuthực hiện những chuẩn mực đó Hệ thống giá trị đó định hướng, điều chỉnhhành vi của con người” [35,tr.52]

Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt đã định nghĩa: “Giáo dục đạo đức

là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xãhội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềmtin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục” [21]

Như vậy ở bất cứ thời đại nào, việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻcũng luôn luôn được coi trọng Ngày nay khi nền kinh tế của nước ta đangphát triển, đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt, các hiện tượng tiêucực, suy thoái về mặt đạo đức vẫn còn tồn tại Vì vậy, trong các trường họcviệc tăng cường công tác giáo dục đạo đức cho người học là rất cần thiết, gópphần định hướng và trang bị cho người học những tri thức, niềm tin, tính trungthực, giúp cho nhân cách ngày càng hoàn thiện

1.2.3 Quản lý giáo dục đạo đức

Quản lý quá trình giáo dục đạo đức là một nội dung của quản lý giáo dụctoàn diện trong nhà trường Đó là sự tác động có mục đích, ý thức của chủ thểquản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu giáo dục đạo đức một cáchhiệu quả nhất

Về bản chất, quản lý giáo dục đạo đức là quá trình tác động có địnhhướng của các nhà quản lý giáo dục lên các thành tố tham gia vào quá trìnhhoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đạo đức Như vậy,

Trang 26

quản lý giáo dục đạo đức là hoạt động điều hành việc giáo dục đạo đức để đạo đức vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của nền giáo dục.

1.2.4 Đổi mới quản lý giáo dục đạo đức trong nhà trường

1.2.4.1 Đổi mới

Theo từ điển Tiếng Việt “Đổi mới là sự thay đổi hoặc làm thay đổi tốt hơn,tiến bộ hơn trước”, “Đổi mới là sự thay đổi cho khác hẳn với trước, tiến bộ hơn,khắc phục tình trạng lạc hậu trì trệ và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển”

Trong giáo dục khái niệm này được hiểu là thường xuyên bổ sung cái mớivào giáo dục để tạo ra sự phát triển, nâng cao hiệu quả đào tạo mà vẫn giữđược thế ổn định

1.2.4.2 Đổi mới biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh

Biện pháp, theo nghĩa thông thường dùng để chỉ cách thức nhất định,được chủ thể hành động sử dụng để thực hiện mục đích đã đặt ra Theo nghĩachặt chẽ và khoa học, biện pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từtri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và thựctiễn nhằm thực hiện mục đích nhất định Biện pháp là phạm trù gắn liền vớihoạt động thực tiễn của con người Do đó, biện pháp là một trong những yếu

tố quyết định thành công hay thất bại trong hoạt động nhận thức và cải tạohiện thực Trên cơ sở những điều kiện khách quan đã có, biện pháp càng đúngđắn thì kết quả đạt được càng cao và ngược lại

Đổi mới biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh là bổ sung vềnội dung giáo dục đạo đức, phương pháp, các hình thức quản lý giáo dục đạođức để việc quản lý thực hiện đầy đủ các mục tiêu quản lý hoạt động giáo dụcđạo đức cho học sinh và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển

Như vậy, đổi mới biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh là đổimới về cách thức, hình thức giáo dục đạo đức để đáp ứng với mục tiêu nộidung giáo dục, để đáp ứng với những thay đổi sâu sắc từ quan niệm về chấtlượng giáo dục, xây dựng nhân cách học sinh đến cách thức tổ chức quá trìnhgiáo dục trong toàn bộ hệ thống giáo dục

Trang 27

1.3 Một số vấn đề cơ bản của giáo dục đạo đức trong trường THPT

1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức

Giáo dục đạo đức là một bộ phận của quá trình giáo dục toàn diện trongnhà trường phổ thông nói chung và của cấp THPT nói riêng, giúp cho mỗi họcsinh nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, theo côngbằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ xã hội vàphồn vinh của đất nước, tạo lập cho học sinh được những thói quen, hành viđạo đức Mục tiêu trên đã được Luật Giáo dục khẳng định: “Mục tiêu giáo dục

là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sứckhỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc vàchủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lựccông dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [30] Như vậy, giáodục đạo đức cần đạt được các mục tiêu chính sau đây:

- Về mặt nhận thức: Hiểu bản chất của đạo đức, các nguyên tắc, nội dung,

chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời kỳ mới phù hợp vớimức độ yêu cầu của lứa tuổi, đồng thời hiểu sự cần thiết phải tự rèn luyệnmình theo các yêu cầu của chuẩn mực đạo đức để trở thành những công dân cólối sống tốt, có tình cảm đẹp, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước.Nâng cao nhận thức chính trị, hiểu rõ các yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐHđất nước, nắm vững những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng HồChí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện, gắn liền với sự nghiệp đổimới của đất nước, có quan điểm rõ ràng về lối sống, thích ứng với những yêucầu của xã hội trong giai đoạn mới

- Về thái độ tình cảm: Có thái độ tình cảm đạo đức đúng đắn, trong sáng

trong các mối quan hệ xã hội Có tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc đối với cácthế hệ cha anh đã hy sinh xương máu vì độc lập tự do của Tổ quốc Có thái độ

rõ ràng đối với các hiện tượng đạo đức chính trị trong xã hội

- Về kỹ năng và hành vi: Tích cực học tập rèn luyện trong lao động, hoạt

động tập thể, hoạt động xã hội Có thói quen thường xuyên rèn luyện hành vi

Trang 28

đạo đức trong ứng xử, trong hoạt động Tự giác thực hiện những chuẩn mựcđạo đức, luật pháp, ứng xử văn hóa, có thói quen chấp hành pháp luật Biếtsống lành mạnh, trong sáng, thể hiện được tư cách của người học sinh Tíchcực đấu tranh với những biểu hiện của lối sống sa dọa, đồi trụy chỉ biết hưởngthụ, chạy theo đồng tiền, theo chủ nghĩa thực dụng, thờ ơ với các vấn đề củacuộc sống, không nghĩ đến sự hy sinh mất mát của thế hệ cha anh Thườngxuyên tích cực rèn luyện trong học tập, lao động sản xuất, hoạt động xã hội đểchuẩn bị cho ngày mai lập nghiệp.

1.3.2 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức

Mục tiêu của giáo dục là giúp cho học sinh được phát triển toàn diện Vìvậy giáo dục đạo đức trong nhà trường là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng vàrất nặng nề Để đạt được mục tiêu đã đề ra, giáo dục đạo đức có nhiệm vụ:

- Giáo dục về chính trị, tư tưởng: Giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan

khoa học, lòng yêu nước, tự hào dân tộc, niềm tin vào chế độ XHCN Trang bịcho học sinh những hiểu biết sâu sắc về các phạm trù cơ bản của đạo đức nhưnghĩa vụ, lương tâm, nhân phẩm, danh dự, hạnh phúc…

- Giáo dục về pháp luật: Giáo dục ý thức sống và làm việc theo hiến

pháp và pháp luật Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy của nhà trường, giáo dục

ý thức thực hiện tốt các quy định của cộng đồng và của địa phương

- Giáo dục về đạo đức gia đình: Lòng hiếu thảo, thái độ kính trọng lễ

phép với ông bà, cha mẹ, người thân Tinh thần đoàn kết, nhường nhịn, yêuthương, quan tâm giúp đỡ mọi người Giáo dục ý thức trách nhiệm của bảnthân với gia đình, họ hàng

- Giáo dục đạo đức trong các mối quan hệ xã hội: Đó là các mối quan hệ

giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng, quan hệ giữa cá nhân vớimôi trường tự nhiên, với hoạt động học tập và lao động Qua đó, hình thành chocác em những phẩm chất, thói quen, hành vi đạo đức cá nhân như tính thật thà,khiêm tốn, lòng tự trọng, đức tính kiên trì, dũng cảm, lạc quan… và có thái độhành vi đúng đắn phù hợp với các chuẩn mực đạo đức của xã hội

Trang 29

- Giáo dục về giá trị sống và kỹ năng sống: Giáo dục cho học sinh nhận

biết, giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống của nhân cách con người ViệtNam và những giá trị toàn cầu Giáo dục cho các em những kỹ năng sống cần

có, các hành vi lành mạnh, tích cực, nhằm giúp các em đối mặt với thách thứccủa cuộc sống hằng ngày như kỹ năng nhận biết và sống với chính mình, nhậnbiết và sống với người khác, kỹ năng ra quyết định một cách hiệu quả…

1.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức

Nội dung của giáo dục đạo đức là những chuẩn mực đạo đức truyềnthống tốt đẹp của dân tộc, những giá trị đạo đức cần thiết của con người ViệtNam trong thời kỳ CNH - HĐH cần trang bị cho học sinh nhằm đáp ứng yêucầu nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Trên cơ sở kế thừa những chuẩn mực đạo đức truyền thống, kết hợp với lýluận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể phân chiathành năm nhóm chuẩn mực của nội dung giáo dục đạo đức sau đây:

- Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức tư tưởng chính trị: bao

gồm giáo dục lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với xây dựng CNXH, tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào dân tộc,…

- Nhóm chuẩn mực đạo đức, lối sống hướng vào sự hoàn thiện của bản thân: Lòng tự trọng, tự tin, tự lập, sống giản dị, kiết kiệm, trung thực, siêng

năng, hướng thiện, nhân ái, giàu lòng vị tha,

- Nhóm những chuẩn mực đạo đức lối sống thể hiện quan hệ với mọi người: Đó là lòng nhân nghĩa, lòng biết ơn đối với tổ tiên, cha mẹ, thầy cô,

người có công với đất nước Biết kính trọng người già, yêu thương trẻ nhỏ,…

- Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với công việc: Đó là làm

việc có tinh thần hợp tác và trách nhiệm cao, có lương tâm nghề nghiệp, tôntrọng pháp luật, lẽ phải, dũng cảm, liêm khiết,

- Nhóm chuẩn mực đạo đức liên quan đến xây dựng môi trường sống tự nhiên và xã hội: Đó là xây dựng hạnh phúc gia đình, giữ gìn và bảo vệ tài

nguyên, môi trường, xây dựng xã hội dân chủ, tiến bộ văn minh, bảo vệ

Trang 30

hoà bình, phát huy các giá trị truyền thống, các di sản văn hoá dân tộc và nhânloại.

1.3.4 Phương pháp giáo dục đạo đức

Phương pháp giáo dục đạo đức là cách thức tác động của nhà giáo dụclên đối tượng giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức Nói cáchkhác là nhằm hình thành những phẩm chất đạo đức và những kỹ năng ứng xửtốt trong các mối quan hệ, từ đó hình thành và phát triển nhân cách cho họcsinh

Có nhiều phương pháp giáo dục đạo đức khác nhau, thông thường có thểđược chia làm ba nhóm sau đây:

- Nhóm phương pháp thuyết phục: Nhóm phương pháp này xuất phát từ

nguyên tắc thống nhất giữa ý thức và hành động, giữa lý trí và tình cảm trongmọi hành vi của con người có nguồn gốc từ nhận thức Giáo dục đạo đức cótrách nhiệm cung cấp cho họ những kinh nghiệm sống mà xã hội loài người đãtích luỹ được sau khi đã được khái quát hoá và hệ thống hoá nhằm giúp họcsinh có cách nhìn đầy đủ hơn trước các vấn đề đặt ra trong cuộc sống Nhómphương pháp này bao gồm: khuyên giải, trao đổi, đối thoại, nêu gương, làmgương…

- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động: Trong cuộc sống vốn vô cùng

đa dạng và phong phú Thông qua hoạt động thực tế, rất nhiều mối quan hệ xãhội nảy sinh đòi hỏi phải được giải quyết, yêu cầu học sinh phải suy nghĩ, vậndụng những tri thức đã có để ứng xử, từ đó các em sẽ được tích luỹ kinhnghiệm sống, tạo ra những hành vi, thói quen theo chuẩn mực từ đó dần hìnhthành và hoàn thiện nhân cách của mình

- Nhóm phương pháp kích thích hành vi đạo đức: Đây là nhóm các

phương pháp tác động vào mặt tình cảm của học sinh, kích thích, thúc đẩy,điều chỉnh, ức chế các hành vi ứng xử của học sinh Nhóm này gồm cácphương pháp: Thi đua, khen thưởng, phê bình, trách phạt Thưởng, phạt luônluôn đi liền với nhau, bổ sung cho nhau Nếu thi đua khen thưởng là để động

Trang 31

viên các cá nhân hoặc tập thể học sinh thì hình thức trách phạt biểu thị thái độkhông đồng tình, lên án của GV, của tập thể, của xã hội đối với những hành vi,những hành động của cá nhân hay tập thể trái với qui tắc chuẩn mực ứng xửcủa xã hội, buộc họ phải từ bỏ hoặc điều chỉnh lại cách ứng xử cho phù hợpvới chuẩn mực đã được qui định.

1.3.5 Hình thức giáo dục đạo đức

Trong quá trình giáo dục thì giáo dục đạo đức là một bộ phận của quátrình giáo dục tổng thể, nó được tiến hành thông qua những hình thức sau:

- Thông qua các môn học: Việc dạy học các bộ môn khoa học cơ bản làm

cho người được giáo dục tự giác chiếm lĩnh một cách có hệ thống những kháiniệm đạo đức Các môn khoa học xã hội và nhân văn như: Văn học, Lịch sử,Địa lý, Giáo dục công dân,…có tiềm năng to lớn trong việc giáo dục đạo đứccho người học Những kiến thức của các bộ môn khoa học này có liên quanđến nhận thức những chuẩn mực giá trị đạo đức, liên quan đến thái độ và cáchứng xử, hành vi đạo đức trong xã hội Các môn khoa học tự nhiên có tác dụnggiúp người học hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, những phẩm chất

xã hội như: Con đường tư duy hợp lý, tác phong làm việc, coi trọng nhân quả

và ý thức nâng cao kiến thức xã hội… Các môn học khác như: Giáo dục thểchất, giáo dục quốc phòng…tạo cơ hội để người học phát triển những xúccảm, rèn luyện ý chí kiên cường, lòng dũng cảm, những bổn phận và nghĩa vụcủa người công dân

- Thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các hoạt động đoàn thể và hoạt động xã hội: Đặc điểm tâm lý của học sinh là rất thích hoạt động,

năng động và hứng thú với các hoạt động phong trào, vì vậy cần phải tổ chức cáchoạt động theo từng chủ đề, mang nội dung giáo dục và phù hợp với đặc điểmtâm lý lứa tuổi của học sinh để lôi cuốn các em tham gia, thông qua đó giáo dụcđạo đức cho học sinh Các hoạt động này được tổ chức bởi các lực lượng giáodục trong và ngoài nhà trường như: Đoàn trường, GVCN, các CLB… Mỗi tổchức đều có vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh

Trang 32

- Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua con đường tự rèn luyện:

Thông qua ý thức tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự giáo dục của bản thân mỗi họcsinh nhất là đối với học sinh THPT, các em đã có những hiểu biết nhất định vềnhững kiến thức tự nhiên, xã hội, về mối quan hệ giữa con người với conngười, vì thế các nhà giáo dục cần khơi dậy và kích thích họ tự giác, tự giáodục bản thân là chính

- Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua sự gương mẫu của người thầy: Hình ảnh của người thầy trên bục giảng, trong những buổi sinh hoạt

mang tính tập thể của nhà trường hoặc ngay trong đời sống hàng ngày vànhững ứng xử trong các tình huống sư phạm có ý nghĩa giáo dục đạo đức chohọc sinh thiết thực nhất Chính vì vậy, mỗi thầy cô giáo phải thực sự là mộttấm gương sáng về đạo đức cho học sinh noi theo

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở trường THPT

1.4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục đạo đức

Căn cứ vào mục tiêu giáo dục đạo đức và những nhân tố ảnh hưởng đếnquá trình giáo dục đạo đức, công tác quản lý của nhà trường phải đảm bảo choquá trình giáo dục đạo đức cho học sinh của mọi lực lượng tham gia quá trìnhnày luôn được thực hiện thống nhất và đúng đắn mục tiêu đã xác định Cụ thể:

- Về nhận thức: Phổ biến, quán triệt cho các lực lượng tham gia quá trình

giáo dục để cùng thống nhất về mục tiêu giáo dục đạo đức cũng như quanđiểm trong quá trình triển khai thực hiện; nắm vững quan điểm của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện,

từ đó mỗi lực lượng sẽ chủ động hơn trong vai trò giáo dục đạo đức của mình

- Về thái độ tình cảm: Giúp mọi người biết ủng hộ những việc làm đúng

đắn, đấu tranh với những việc làm sai trái, có thái độ đúng đắn với hành vi củabản thân, với hoạt động quản lý giáo dục đạo đức

- Về kỹ năng và hành vi: Tích cực tham gia quản lý giáo dục đạo đức, xây

dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức của nhà trường trên cơ

sở chỉ đạo của cấp trên và bám sát các mục tiêu đã đề ra, làm tốt công tác kiểm

Trang 33

tra, giám sát, đánh giá các hoạt động giáo dục thường xuyên để kịp thời điềuchỉnh những lệch chuẩn so với mục tiêu đã đề ra.

Điều quan trọng nhất của việc quản lý giáo dục đạo đức là làm sao choquá trình giáo dục đạo đức tác động đến người học để hình thành cho các em ýthức, tình cảm và niềm tin đạo đức, tạo lập được các thói quen, thể hiệnthường xuyên trong các hành vi hằng ngày và cao hơn nữa là tiếp cận đến việcbiến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục đạo đức của học sinh

1.4.2 Quản lý nội dung, hình thức giáo dục đạo đức

Để công tác giáo dục đạo đức có hiệu quả, điều cốt lõi chúng ta phải quản

lý tốt việc thực hiện đầy đủ các nội dung giáo dục đạo đức trong nhà trườngnhư đã nêu trên

- Phổ biến, tuyên truyền các nội dung giáo dục đạo đức cho các lực lượngtham gia vào quá trình giáo dục, tạo sự thống nhất về các nội dung giáo dục cả

ở trong và ngoài nhà trường

- Đưa nội dung giáo dục đạo đức vào các hoạt động hàng ngày Nhữngnội dung giáo dục đạo đức cần được thể hiện trong từng bài giảng của GV bộmôn, qua hoạt động của GV chủ nhiệm, các hoạt động của Đoàn Thanh niên,hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động xã hội và nề nếp sinh hoạt trong giađình

- Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh

- Các nội dung giáo dục đạo đức cần cụ thể hoá thành các tiêu chí thi đua

- Thường xuyên kiểm tra đôn đốc việc thực hiện quy chế chuyên môn, nề nếp giảng dạy của GV

Tóm lại, nhà trường cần quản lý chặt chẽ các nội dung giáo dục đạo đức,huy động được mọi lực lượng cùng thực hiện tốt các nội dung này thì chúng tamới có cơ sở để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục

1.4.3 Quản lý phương pháp giáo dục đạo đức

Quản lý và sử dụng tốt các phương pháp giáo dục đạo đức sẽ giúp chúng

ta đạt được mục tiêu giáo dục một cách hiệu quả nhất Để quản lý tốt

Trang 34

các phương pháp giáo dục đạo đức, chúng ta phải thực hiện tốt những yêu cầu sau đây:

- Tăng cường công tác tuyên truyền vận động để nâng cao tinh thần tráchnhiệm của các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục

- Sử dụng đồng bộ các phương pháp, các con đường giáo dục đạo đứccho học sinh để các phưong pháp này hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm nâng caohiệu quả giáo dục

- Nâng cao chất lượng các môn học văn hoá, đặc biệt là các môn khoahọc xã hội và nhân văn, những môn học này có lợi thế trong việc giáo dục đạođức cho học sinh

- Thường xuyên đổi mới các hình thức giáo dục đạo đức để tránh sự đơnđiệu nhàm chán, đặc biệt là các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các hìnhthức sinh hoạt tập thể, đặc biệt là hoạt động của Đoàn TN nhà trường sao chohình thức tổ chức các hoạt động thật sự sinh động và hấp dẫn, vừa đảm bảođược mục tiêu và nội dung giáo dục, vừa phù hợp với tâm lý lứa tuổi vànguyện vọng của thanh niên, thu hút được đông đảo học sinh tham gia mộtcách tự nguyện và được các em nhiệt tình ủng hộ

- Quản lý tốt các lực lưọng giáo dục trên địa bàn, thường xuyên liên hệvới phụ huynh học sinh và địa phương nơi các em sinh sống để tạo ra sự đồng

bộ, nhất quán và phát huy được hiệu quả của các môi trường giáo dục

1.4.4 Quản lý hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá trình giáo dục đạo đức

Hoạt động dạy và học là những hoạt động chính trong nhà trường mà cácđối tượng trực tiếp tham gia quá trình này là GV và học sinh Đây cũng lànhững lực lượng quyết định đến việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diệncủa nhà trường, đặc biệt là chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Vì vậy,

để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong nhà trường, chúng ta phải quản

lý tốt các hoạt động dạy - học của GV và học sinh

Trang 35

Đối với hoạt động của GV, bên cạnh việc quản lý tốt mục tiêu, nội dung,phương pháp giáo dục đạo đức như đã trình bày ở trên, chúng ta cần chú trọngnâng cao nhận thức chính trị tư tưởng, tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ này,đồng thời quản lý chặt chẽ nề nếp, kỷ cương trong việc thực hiện quy chếchuyên môn, kỷ luật lao động trong các hoạt động giáo dục, chú trọng việc rènluyện và nâng cao phẩm chất đạo đức, tác phong của người thầy trong các hoạtđộng giáo dục và trong sinh hoạt Các hoạt động giáo dục đạo đức của họcsinh mà chúng ta cần quản lý bao gồm các hoạt động chính sau đây:

- Các hoạt động giáo dục chính khoá;

- Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp;

- Các hoạt động sinh hoạt đoàn thể;

- Các hoạt động xã hội và giáo dục trong gia đình

Các em học sinh vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quá trình giáo dục.Kết quả hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường phụ thuộc rất lớn vàoquá trình tự học, tự rèn luyện, tự giáo dục của học sinh Quá trình giáo dục đạođức cho học sinh chỉ thực sự có hiệu quả khi tạo được sự tham gia một cáchtích cực, tự giác của các em vào quá trình này

1.4.5 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục đạo đức

Kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất các hoạt động giáo dục đạo đứcdiễn ra trong và ngoài nhà trường

Thu thập, nắm bắt các thông tin phản hồi để có thể tháo gỡ các vướngmắc, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống phát sinh hay điều chỉnh kế hoạchgiáo dục đào đức cho phù hợp với thực tế

Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm theo từng hoạt động, theo từng đợt thiđua, theo học kỳ, theo từng năm học nhằm biểu dương, khen thưởng các cánhân, tổ chức đạt thành tích cao trong giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện Qua đótạo không khí thi đua sôi nổi trong toàn trường, giúp giáo viên, học sinh,CMHS hiểu rõ hơn về hoạt động của mình, khẳng định được mình, từ đó hoạt

Trang 36

động tích cực hơn, tự giác hơn, biết điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu chung.

1.4.6 Quản lý các điều kiện để thực hiện quá trình giáo dục đạo đức

Muốn có chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục đạo đức nói riêng thì trước hết phải xây dựng và quản lý tốt các điều kiện giáo dục, đó là:

- Công tác quản lý;

- Đội ngũ cán bộ GV;

- Cơ sở vật chất - Thiết bị;

- Điều kiện kinh tế - xã hội

Để quản lý tốt các điều kiện giáo dục, trước hết chúng ta cần đổi mớicông tác chỉ đạo, quản lý, chú trọng nâng cao trình độ năng lực chuyên môn vàphẩm đạo đức của cán bộ quản lý, GV nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng caocủa nền kinh tế xã hội

Điều kiện kinh tế xã hội của địa phương như: Vị trí địa lý, dân trí, thunhập, an ninh trật tự, các tệ nạn xã hội,…cũng có ảnh hưởng rất lớn tới quátrình giáo dục đạo đức của học sinh

Tóm lại, vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh, đặc biệt là họcsinh THPT hiện nay đang được dư luận xã hội hết sức quan tâm trước nhữngbiểu hiện xuống cấp về đạo đức, nhận thức lệch lạc của một bộ phận thanhniên hiện nay, đó cũng là nhiệm vụ hết sức nặng nề của các nhà trường và đặcbiệt là những người làm công tác quản lý giáo dục

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT

Các nhà nghiên cứu cho rằng giữa giáo dục và phát triển nhân cách có tácđộng qua lại với nhau rất mật thiết Chính vì vậy, để có thể tác động có hiệuquả đến sự phát triển nhân cách, giáo dục phải dựa vào những đặc điểm nhâncách của từng lứa tuổi nhất định, thậm chí của từng cá nhân

Trang 37

Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Các nhà tâm lý học trên thế giới đềuchung một quan niệm cho rằng tuổi thanh niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ

em sang người lớn và bao gồm một khoảng đời từ 11,12 tuổi đến 23, 24 hoặc

25 tuổi Giai đoạn này có thể chia làm hai thời kỳ: thời kỳ chuyển tiếp trước từ11,12 tuổi và kết thúc vào 16, 17 tuổi và thời kỳ chuyển tiếp sau từ 17, 18 tuổi

và kết thúc vào lúc thành người lớn thật sự 24,25 tuổi” [28, tr 88]

Như vậy, học sinh THPT là thời kỳ chuyển tiếp có độ tuổi từ 15 đến 18tuổi Các em đang trong giai đoạn phát triển mạnh về thể lực, tâm lý, sinh lý,đang ở thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn Đây là thời kỳ các em gianhập tích cực vào đời sống xã hội và hình thành cơ sở nhân cách của ngườicông dân trong tương lai Đặc điểm của sự phát triển nhân cách là tự ý thứcgắn liền với nhu cầu nhận thức và đánh giá các phẩm chất tâm lý, đạo đứctrong nhân cách của mình Sự đánh giá đó không phải là cái đã qua mà là cáihiện tại và tương lai Nét đặc trưng của sự phát triển các phẩm chất đạo đức là

sự tăng cường vai trò của các niềm tin đạo đức, ý thức đạo đức trong hành vi.Cuộc sống học tập, lao động xã hội trong các tập thể lành mạnh, có yêu cầucao sẽ có tác dụng tích cực đến các thành viên, ngăn ngừa, hạn chế và cải tạonhững yếu tố tiêu cực trong ý thức và hành vi của học sinh Cũng ở lứa tuổinày, học sinh có nhu cầu mạnh về tình bạn, tình yêu Các em cũng đang tự xâydựng cho mình những kế hoạch và viễn cảnh cuộc sống của bản thân trongtương lai

Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ như ngày naycùng với sự phức tạp của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến những biến đổi sâusắc trên mọi lĩnh vực của đời sống như: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, kéotheo đó là sự biến đổi về tâm lý, hành vi đạo đức của thế hệ trẻ Việt Nam màchủ yếu là học sinh Các em có những đặc điểm tâm lý đạo đức nói chung củathế hệ, mang truyền thống của dân tộc, song cũng có những nét mới mang dấu

ấn của thời đại Cụ thể:

Trang 38

- Đây là lứa tuổi giàu ước mơ hoài bão, có khát vọng được cống hiến,mong muốn được xã hội ghi nhận Đa số học sinh có ý thức rèn luyện phẩmchất đạo đức, có ý chí vươn lên trong học tập, chiếm lĩnh tri thức khoa học và

có ý thức sẽ tiếp tục học lên cao hơn nữa để lập thân, lập nghiệp Đó là ước

mơ, nguyện vọng chính đáng, hợp quy luật của tuổi trẻ trong sự phát triểnchung của xã hội

- Là lứa tuổi dồi dào về thể lực, trí tuệ, cảm xúc, nhạy bén, sáng tạo,thích tìm tòi, khám phá những điều mới mẻ Các em có ý thức học hỏi, có khátvọng tìm đến các giá trị “chân, thiện, mỹ”, mong muốn tự khẳng định bản thân

và có ý thức của người lớn nên tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, đặcbiệt là hoạt động văn hóa văn nghệ, TDTT, các hoạt động nhân đạo, từ thiện…Lứa tuổi này cũng nhận thức được các quy tắc, các chuẩn mực đạo đức xã hội,

có ý thức chính trị rõ nét, có lý tưởng và lẽ sống đúng đắn, có ý thức tự học và

tu dưỡng phẩm chất đạo đức Mặt khác, các em có khả năng giao lưu phongphú, tự tôn, phóng khoáng, hào hiệp, nhiệt tình, hăng hái trước những khókhăn, thử thách của cuộc sống

- Đây cũng là lứa tuổi phát triển tình cảm phong phú: Do đặc điểm tâmsinh lý nên đối với lứa tuổi học sinh THPT, bên cạnh những tình cảm lớn nhưtình cảm dân tộc, quốc gia, nhân loại như lòng nhân ái, vị tha, biết sống cónghĩa tình, có ý thức làm việc thiện các em đã bắt đầu có những tình bạn pháttriển mạnh mẽ, tình yêu nam nữ bắt đầu nảy nở

Bên cạnh những đặc điểm về đạo đức mang tính tích cực của học sinhTHPT có thể thấy một số hạn chế: Một bộ phận học sinh ý thức chính trị - xãhội còn mờ nhạt, niềm tin, lý tưởng, chưa vững chắc, ý thức tổ chức kỷ luật vàtrách nhiệm công dân chưa cao, còn mơ hồ, bàng quan với xung quanh, có xuhướng thực dụng, đua đòi chạy theo cái mới, chạy theo thị hiếu tầm thường, dễ

bị sa ngã, bị cuốn vào những tiêu cực về đạo đức của xã hội

Tóm lại, học sinh ở lứa tuổi này dồi dào về thể lực, phong phú về tinhthần, phức tạp về tính cách và hành vi Tuy nhiên, đây cũng là thời kỳ nhận

Trang 39

thức và hiểu biết các phẩm chất đạo đức của nhân cách sâu sắc hơn trước Hơnnữa, con người không phải là một thực thể thụ động mà là một chủ thể tíchcực Do đó, việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở lứa tuổi này phải căn cứ vàocác đặc điểm tâm, sinh lý và đặc điểm đạo đức của các em để xác định phươngchâm giáo dục phù hợp Bên cạnh đó cũng cần hiểu rằng mỗi cá nhân lại cónhững đặc điểm riêng về tâm, sinh lý và có vốn sống riêng của mình, cho nênquá trình giáo dục đạo đức cho học sinh, đặc biệt là học sinh

ở lứa tuổi có nhiều biến đổi về tâm, sinh lý như học sinh THPT là hết sức phức tạp và cần thiết

1.5.2 Vai trò của các lực lượng trong giáo dục đạo đức cho học sinh

1.5.2.1 Vai trò của nhà trường.

Nhà trường là một hệ thống giáo dục được tổ chức quản lý chặt chẽ, làyếu tố quan trọng nhất trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh Với nhữngđịnh hướng, mục tiêu giáo dục đạo đức theo những chuẩn mực giá trị tiến bộ,đúng đắn, với hệ thống chương trình khoa học, các tài liệu, sách giáo khoa,sách tham khảo phong phú, các phương tiện hỗ trợ giáo dục ngày càng hiệnđại và đặc biệt với đội ngũ cán bộ, GVCN, GV bộ môn được đào tạo cơ bản,

có đầy đủ phẩm chất và năng lực sẽ là yếu tố có tính quyết định hoạt động giáodục đạo đức cho học sinh Các thầy cô trong nhà trường có vai trò chủ đạotrong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh Các thầy cô không chỉthực hiện nhiện vụ cung cấp kiến thức mà còn tổ chức các hoạt động giáo dụcđạo đức cho học sinh, thầy cô giáo là những tấm gương cho học sinhhọc tập,noi theo Các thầy cô giúp các em chiếm lĩnh tri thức khoa học, hình thành vàphát triển nhân cách toàn vẹ theo mục tiêu giáo dục đã đề ra

Công tác tổ chức, quản lý của nhà trường cũng có ảnh hưởng rất quan trọngđến quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh Trên cơ sở mục tiêu giáo dục, nộidung chương trình, các hoạt động sư phạm của nhà trường có ý nghĩa quyết địnhđến việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng

Trang 40

1.5.2.2 Vai trò của gia đình

Gia đình là hạt nhân của xã hội, là nơi đặt nền móng đầu tiên cho sự hìnhthành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Trách nhiệm của cha mẹ khôngchỉ là sinh con, nuôi con mà còn phải giáo dục con cái trưởng thành, có nhâncách, trí tuệ, có ích cho xã hội Hơn thế nữa, việc chăm sóc nuôi dạy con cáinên người còn là một nhu cầu, một niềm hạnh phúc của các bậc cha mẹ Tronggia đình, tình thương yêu sâu sắc của cha mẹ tạo nên sức mạnh cảm hóa lớn

mà nhà trường, xã hội không thể có được Nhân cách không thể hình thành vàphát triển một cách đầy đủ và bền vững nếu không có một môi trường giáodục gia đình thuận lợi Chính vì vậy, giáo dục gia đình chiếm một vị trí quantrọng mà các hình thức giáo dục khác không thể thay thế được

Giáo dục trong gia đình là sự giáo dục nhiều chiều, đa dạng và liên tụchàng ngày, hàng giờ Nó vừa có ảnh hưởng của cá nhân ông bà cha mẹ đếncon cháu vừa có ảnh hưởng của tập thể gia đình lên từng cá nhân thông qua lốisống, nếp sống ở mỗi gia đình Việc giáo dục trong gia đình không chỉ ở lờinói mà còn bằng cử chỉ, hành động, thái độ, tình cảm của ông bà cha mẹ đốivới con cháu

Có thể nói, giáo dục gia đình có ý nghĩa rất to lớn đối với việc hình thành

và phát triển nhân cách của trẻ Nền tảng đạo đức gia đình tạo cho trẻ có đượcnhững phẩm chất quý báu như tính trung thực, sống có trách nhiệm với bảnthân và gia đình, biết phân biệt tốt, xấu, biết yêu thương nhường nhịn, biếtđùm bọc lẫn nhau Những phẩm chất đó là tiền đề vững chắc giúp trẻ trưởngthành, biết điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với chuẩn mực xã hội

1.5.3.3 Vai trò của xã hội

Môi trường sống, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội có tác độngkhông nhỏ đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Cùng với sự pháttriển của khoa học công nghệ, các em có điều kiện tiếp xúc với nhiều nguồnthông tin, khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội nên có những hiểu biết rất phongphú về mọi mặt của đời sống xã hội Bên cạnh những hiểu biết có lợi thì còn

Ngày đăng: 29/10/2020, 20:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w