BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI--- ---LƯƠNG THỊ QUANG KIỂM TRA KIẾN THỨC HỌC SINH BẰNG CÁC CÂU HỎI TỰ LUẬN ĐỂ LỰA CHỌN CÁC PHƯƠNG ÁN NHIỄU CHO HỆ THỐNG CÂU HỎI K
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
-
-LƯƠNG THỊ QUANG
KIỂM TRA KIẾN THỨC HỌC SINH BẰNG CÁC CÂU HỎI
TỰ LUẬN ĐỂ LỰA CHỌN CÁC PHƯƠNG ÁN NHIỄU CHO HỆ THỐNG CÂU HỎI KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN CHƯƠNG
I SINH HỌC 11 BAN CƠ BẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
HÀ NỘI - 2009
Trang 2MỤC LỤC
Trang
4
Trang 31.1.5 Quy trình kiểm tra đánh giá 181.1.5.1 Những nguyên tắc trong kiểm tra đánh giá 18
1.1.6 Những hạn chế trong thực tế về kiểm tra đánh giá 19
1.1.7.2 Ưu điểm của trắc nghiệm khách quan dạng MCQ 231.1.8 Vai trò của phương án nhiễu trong xây dựng hệ thống câu
2.4 Xây dựng các câu tự luận ngắn bao quát nội dung kiến thức
2.4.1 Nguyên tắc xây dựng các câu hỏi tự luận ngắn 33
2.4.4 Sử dụng câu tự luận ngắn để kiểm tra kiến thức học sinh tìm
Chương 3 Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Trang 43.1 Tiêu chuẩn một câu hỏi trắc nghiệm, một bài trắc nghiệm dạng
3.2 Các nguyên tắc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 883.3 Quy trình xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng
3.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu định lượng của câu hỏi trắc
3.4.3 Xác định độ tin cậy tổng thể của bài trắc nghiệm 95
3.4.5 Phân biệt độ giá trị và độ tin cậy của bài trắc nghiệm 98
3.5.2 Phân tích các chỉ số về độ khó và độ phân biệt 993.5.3 Kết quả phân tích tổng thể xác định độ tin cậy, tính giá trị 102
6
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với sự tiến bộ mạnh mẽ của các ngành khoa học cơ bản, khoa họccông nghệ, lí luận dạy học cũng có những bước phát triển đáng kể trong mấythập kỉ trở lại đây Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (2000-2020), sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trên đường tiến vào thế kỉ XXI bằngcạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi đổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi mới căn bản
về phương pháp dạy và học
Trong xu thế phát triển chương trình và đổi mới quan niệm về SGK củagiáo dục phổ thông trong khu vực và trên thế giới, từ năm 2001 Bộ Giáo dục vàĐào tạo nước ta đã thực hiện triển khai thực hiện đổi mới chương trình, SGK chocác bậc học từ tiểu học đến THPT
Trong những vấn đề cần phải đổi mới của dạy học thì đổi mới phươngthức kiểm tra, đánh giá là rất cấp thiết Có thể coi kiểm tra đánh giá là công cụchủ yếu điều chỉnh hoạt động dạy và học của thày và trò, là động lực để đổi mớiphương pháp, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theomục tiêu giáo dục KTĐG trong dạy học giúp làm sáng tỏ mức độ HS đạt vàkhông đạt về kiến thức, kĩ năng và thái độ, phát hiện những nguyên nhân sai sót,giúp HS điều chỉnh hoạt động học, tạo cơ hội cho HS phát triển kĩ năng tự đánhgiá, giúp HS nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích và thúc đẩy quá trìnhhọc tập, giúp GV có cơ sở thực tế để tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động dạy,phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học
Để đáp ứng được mục tiêu đổi mới KTĐG nêu trên, việc lựa chọn và hoànthiện hình thức KTĐG phù hợp là rất quan trọng Có rất nhiều hình thức kiểm trađánh giá và hiện nay, một trong những hình thức được quan tâm là bằng câu hỏitrắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (MCQ) Trắc nghiệm khách quan được
Trang 6quan tâm do: có thể đánh giá phạm vi kiến thức rộng hơn hình thức thi tự luận,
số lượng câu hỏi trong một bài kiểm tra nhiều hơn tự luận, mỗi câu lại có nhiềuphương án trả lời nên đề cập được khối lượng kiến thức lớn, có thể bao quát hầuhết nội dung của chương trình học
Đề trắc nghiệm khách quan với số lượng câu hỏi nhiều có thể phủ khắpphạm vi kiến thức của môn học trong chương trình THPT Vì vậy, bằng câu hỏitrắc nghiệm khách quan, HS sẽ không học tủ, học lệch mà phải học đầy đủ, toàndiện và không được bỏ qua bất cứ một kiến thức cơ bản nào có trong chươngtrình Việc chấm và cho điểm dễ bảo đảm khách quan hơn so với trắc nghiệm tựluận Có thể dễ dàng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để tổ chứcthi, chấm bài một cách nhanh chóng, chính xác và an toàn
Tuy nhiên, thực tế cho thấy bộ ngân hàng câu hỏi TNKQ dùng để KTĐGcòn ít về số lượng và chưa hoàn thiện về chất lượng thể hiện ở nhiều khía cạnh,trong đó các phương án nhiễu thường còn áp đặt, mang nhiều tính chủ quan củangười ra đề, thậm chí có phương án sai không có lý Cần phải có một bộ ngân hàngTNKQ bám sát nội dung chương trình sách giáo khoa (SGK), đo được nhiều mức
độ nhận thức khác nhau như: ghi nhớ, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp,
Xuất phát từ việc nhận thức vai trò quan trọng của phương án nhiễu trong
xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan (MCQ) chúng tôi chọn đề tài: “Kiểm
tra kiến thức học sinh bằng các câu hỏi tự luận để lựa chọn các phương án nhiễu cho hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương I sinh học 11 ban cơ bản.”
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Xây dựng hệ thống câu hỏi tự luận ngắn tổng quát về nội dung kiến thức của chương I sinh học 11 ban cơ bản
8
Trang 7- Chấm bài, lập được bảng trọng số về các phương án sai và tỉ lệ từngphương án sai là bao nhiêu phần trăm trong số các phương án sai mà học sinh gặp phải.
- Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm để sử dụng vào quá trình giảng dạy
chương I sinh học 11 ban cơ bản
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Các câu MCQ mà các phương án nhiễu được lựa chọn từ các câu trả lời saikhi học sinh trả lời các bài kiểm tra tự luận ngắn
4 Khách thể nghiên cứu
Học sinh khối 11 học môn sinh học ban cơ bản
5 Mẫu khảo sát:
Học sinh khối 11 của 2 trường THPT:
- Trường THPT chuyên Trần Phú - Hải Phòng
- Trường THPT Lê Quý Đôn - Hải Phòng
6 Giả thuyết nghiên cứu
Sử dụng hệ thống các câu hỏi tự luận ngắn kiểm tra kiến thức học sinh từ
đó phân tích kết quả làm bài có thể lựa chọn được các phương án nhiễu phù hợp
để xây dựng được các câu hỏi MCQ
7 Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
7.1 Nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu văn bản nghị quyết của Đảng và Nhà nước, Bộ giáo dục - Đàotạo về đổi mới dạy học, kiểm tra đánh giá Nghiên cứu chương trình dạy bộ mônSinh học ở trường THPT
Trang 8Nghiên cứu tài liệu có liên quan : Lý luận và phương pháp dạy học Sinhhọc, Đo lường và đánh giá trong giáo dục, các luận án, luận văn thạc sĩ, tiến sĩ cóliên quan.
7.2 Phương pháp điều tra
Khảo sát trực tiếp việc KT-ĐG kết quả học tập môn Sinh để thấy đượcthực trạng của việc KT-ĐG môn Sinh ở trường THPT hiện nay Khảo sát bằngcách dự giờ, sử dụng phiếu điều tra để biết được thực trạng của việc thực hiệnKT- ĐG môn Sinh ở trường THPT hiện nay
7.3 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: thực nghiệm bằng cách kiểm tra
học sinh bằng các câu hỏi ngắn để xác định các phương án trả lời mà học sinhhay nhầm lẫn
7.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phép thống kê trong xử lý các số liệu thu được trong các khảosát và thực nghiệm
9 Những đóng góp mới của luận văn
9.1 Xác định thực trạng sử dụng câu hỏi trắc nghiệm MCQ trong dạy học bộ
môn Sinh học 11 ở trường THPT hiện nay
9.2 Bổ sung, hoàn chỉnh quy trình xây dựng MCQ
9.3 Xây dựng hệ thống câu hỏi tự luận ngắn kiểm tra kiến thức HS để tìm các
phương án nhiễu hiệu quả để xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm chất lượng
10
Trang 99.4 Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm MCQ chương I Sinh hoc 11 ban cơ bản
bảo đảm độ tin cậy cao để đưa vào sử dụng trong dạy học Sinh học 11 ở trườngTHPT
10 Cấu trúc của luận văn
- Ngoài phần mở đầu, kết luận và đề nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn.
Chương 2: Xây dựng hệ thống các câu hỏi tự luận chương I Sinh học 11
ban cơ bản
Chương 3: Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa
chọn chương I Sinh học 11 ban cơ bản
Trang 10độ học tập Cũng khoảng thời gian đó, DarWin đã đề cập đến sự khác biệt giữacác chủng loại trong “origin of species” Francis Galton (Anh) đã áp dụng nhữngnguyên tắc của Darwin nhằm triển khai các trắc nghiệm về trí tuệ Một học tròcủa Galton là Karl Pearson đã triển khai nhiều kỹ thuật thống kê về sự tươngquan, giúp cho xử lý kết quả nhanh hơn.
Đầu thế kỷ XX Alfred Binet - nhà tâm lý học người Pháp, khi nghiên cứukhảo sát những trẻ em mắc bệnh tâm thần, không có khả năng tiếp thu tri thứcbằng cách dạy ở trường học, cùng với cộng sự, ông đã phát hiện ra bài trắcnghiệm về trí thông minh Năm 1910, trắc nghiệm của Binet đã được dùng ở Mỹ
Năm 1916, TS Lewis Terman ở trường Đại học Stanford tiến hành sửa đổi,
bổ sung nên gọi là trắc nghiệm Stanford - Binet và nó tiếp tục được sửa đổi vào năm
1937 và 1960 Từ khi ra đời, mặc dù có nhiều trường hợp lạm dụng hay áp dụng sailầm bài trắc nghiệm trên nhưng mọi người đều phải công nhận rằng, các bài trắcnghiệm trên đã giúp cho các nhà giáo dục đánh giá trí tuệ trẻ em hữu hiệu hơn bất
kỳ các phương pháp nào khác Thực chất các trắc nghiệm của Bitnet là dùng để đonăng lực trí tuệ tổng quát của cá nhân, không dùng cho việc đo
12
Trang 11lường thành quả học tập ở trường, nhưng nó là sự mở đầu của con đường đi đếncác trắc nghiệm theo nhóm, có thể dùng được trong trường học.
Năm 1920, trắc nghiệm nhóm ra đời ở Mỹ, học sinh được trắc nghiệm vớimục đích xem họ có thể nhớ được tư liệu đã học từ các bài giảng và sách giáokhoa nhanh chóng như thế nào Các công cụ này thật sự có nhiều thuận tiện(nhanh chóng, chính xác, khách quan) nên được nhiều nhà giáo dục hưởng ứng
Do đó, cần tiêu chuẩn hoá các bài trắc nghiệm và các thủ tục để định chuẩn Đâychính là cơ sở để ra đời các nhà xuất bản trắc nghiệm tại các nước phát triển vàonhững năm 30 của thế kỷ này
Các bài trắc nghiệm dần được các chuyên gia củng cố, bổ sung, hoàn thiện
và kết quả những năm 40, các đề trắc nghiệm dùng trong tuyển sinh ra đời
Giữa thế kỷ XX, các bài trắc nghiệm mang tính kinh doanh ra đời, chúngđược tin tưởng một cách tuyệt đối và sử dụng một cách máy móc nên đã khôngthu được kết quả như ý đối với người sử dụng
Một thời gian sau, các bài trắc nghiệm bị nghi ngờ và phản đối ở Liên Xô(cũ).Chỉ từ năm 1963, Liên Xô (cũ) mới khôi phục việc sử dụng trắc nghiệm đểkiểm tra tri thức của học sinh Năm 1964, các bài trắc nghiệm đã được cài đặtvào chương trình vi tính để xử lý kết quả
Ngày nay, phương pháp trắc nghiệm đã trải qua hàng loạt những thửnghiệm trên nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng Phương pháp này đã được áp dụngtrong nhiều kỳ thi tuyển sinh ở các trường Đại học cũng như các cuộc thi cửkhác, mặc dù có nhiều ý kiến chưa thống nhất khi đánh giá vai trò của nó Hiệnnay ở nhiều nước trên thế giới (Anh, Pháp, Úc, Bỉ, Hà lan, Nhật) cùng với sựphát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, họ đã cải tiến việc thực hiện cáctrắc nghiệm như cài đặt chương trình chấm điểm, xử lý kết quả trên máy tính,
Trang 12nhằm kiểm tra trí thức ở nhiều mục đích khác nhau: thi vào cao đẳng, đại học,tuyển năng khiếu, học sinh giỏi… các chương trình tự học, tự đào tạo.
Từ đây, cũng xuất hiện nhiều công ty xuất bản tư vấn về việc lập quy trìnhcác bài trắc nghiệm theo dịch vụ, theo đơn đặt hàng (chương trình ACT của Mỹ
đã tạo dịch vụ chấm điểm trọn gói)
1.1.1.2 Trong nước
*Ở Miền Bắc:
Phương pháp TNKQ trong kiểm tra, đánh giá thành quả học tập của họcsinh còn là vấn đề mới mẻ Giáo sư Trần Bá Hoành là người nghiên cứu sớmnhất trong lĩnh vực này Năm 1971, giáo sư đã soạn thảo các câu hỏi, thựcnghiệm và áp dụng vào kiểm tra, đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm hầu nhưkhông được sử dụng
Năm 1986, tại khoa Sinh-KTNN thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội đã tổchức các cuộc hội thảo với nội dung “Phương pháp xây dựng hệ thống câu hỏilựa chọn đa phương án” do tiến sĩ S.P.Herath trình bày và hướng dẫn trongchương trình tài trợ của UNDP Phát huy kết quả của hội thảo, khoa Sinh-KTNN
đã triển khai và xây dựng hàng loạt các bộ câu hỏi trắc nghiệm ở các bộ môn, sửdụng như một phương tiện để kiểm tra một số môn
Từ năm 1990, trắc nghiệm lượng giá mới được thực sự quan tâm và ứngdụng ở nhiều cấp học
Năm 1990, Bộ y tế với sự giúp đỡ của đề án “Hỗ trợ hệ thống đào tạo” củachương trình hợp tác Việt Nam - Thuỵ Điển (03/SIDA) đã mở những lớp tậphuấn về kỹ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ cho toàn bộ giảng viên các trường y
tế Kết quả là, đã xây dựng được bộ công cụ đánh giá bằng hệ thống các câu hỏiTNKQ chuyên khoa, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường y dược
14
Trang 13Tháng 2/1994, Bộ Giáo dục - đào tạo theo hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá, đãphối hợp với Viện công nghệ Hoàng gia Melbourne của Australia, tổ chức cáccuộc hội thảo với chủ đề “Kỹ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ” tại thành phố HồChí Minh - Huế - Hà Nội Nội dung hội thảo đã trang bị cho nhiều cán bộ giảngdạy đại học những lý luận cơ bản về việc thực thi phương pháp mới mẻ này [33].
Năm 1994 - 1995, với sự tài trợ của Liên hiệp quốc, Đại học Tổng hợp HàNội cũng đã mở những lớp dài hạn bồi dưỡng về phương pháp xây dựng câu hỏiTNTQ và việc sử dụng nó vào dạy học, được rất nhiều giảng viên tham gia.Vào những năm này, TS Lê Đình Trung với nghiên cứu về “Sử dụng câu hỏiTNTQ dạng MCQ để kiểm tra hiệu quả của phương pháp giảng dạy tích cực ởtrường phổ thông bằng toán học nhận thức” đã khẳng định được tác dụng lớn laocủa TNKQ trong đánh giá kết quả học tập
Từ năm 1996 - 2000, nhiều luận văn thạc sỹ như: Nguyễn Thị Kim Giang,Nguyễn Thị Lý, Nguyễn Kỳ Loan - dưới sự hướng dẫn của TS Lê Đình Trung -
đã xây dựng được bộ câu hỏi TNKQ dùng cho sinh viên Đại Học và Cao đẳngtrong cả nước Tác giả Nguyễn Thanh Mỹ cũng xây dựng được hệ thống câu hỏiTNKQ dạng MCQ dùng cho chương trình sinh học 10 THPT dưới sự hướng dẫncủa TS Lê Đình Trung và TS Lê Văn Trực… Đặc biệt luận văn tiến sĩ của tác giả
Vũ Đình Luận dưới sự hướng dẫn của Giáo sư tiến sĩ Đinh Quang Báo đã nghiêncứu sử dụng MCQ trong dạy học di truyền ở trường Cao đẳng sư phạm
Từ năm 2000-2003, TS lê Đình Trung và TS Trịnh Nguyên Giao đã chủbiên nhiều cuốn sách dùng cho ôn thi học sinh giỏi, ôn thi THPT, Cao đẳng, Đạihọc… theo hướng TNKQ như “1111 câu hỏi trắc nghiệm sinh học”, “tuyển tậpsinh học 1000 câu hỏi và bài tập”, “chuyên đề luyện thi đại học”,…
Tóm lại, việc đổi mới nội dung dạy học, cùng với đổi mới phương phápkiểm tra, đánh giá theo hướng TNKQ đã, đang và sẽ được triển khai rộng rãi
Trang 14trong toàn quốc ở các cấp học, bậc học, đáp ứng những đòi hỏi về công cuộc đổi mới giáo dục và đào tạo của xã hội.
Phương pháp TNKQ được sử dụng sớm hơn ở miền bắc, nó được áp dụngrải rác trong các trường học từ năm 1950 Đó là những bài khảo sát ngoại ngữ docác tổ chức quốc tế tài trợ Đến năm 1960 thì TNKQ đã được dùng rộng rãi vàphổ biến trong kiểm tra và thi ở bậc trung học Đã có những cuốn sách nghiêncứu về vấn đề này như “ trắc nghiệm vạn vật lớp 12” của tác giả Lê Văn Nghĩa(1963) và “phương pháp học và thi trắc nghiệm vạn vật lớp 12” của tác giảPhùng Văn Hướng (1964)
Cuối năm 1969, môn trắc nghiệm và thống kê giáo dục đã được giáo sưDương Thiệu Tống đưa vào giảng dạy tại các lớp cao học và tiến sỹ giáo dụctrong trường Đại Học Sài Gòn Đây là lần đầu tiên khoa học trắc nghiệm đượcchính thức giảng dạy cho các thày giáo nước ta
Việc soạn thảo câu hỏi TNKQ cũng đã trở thành đề tài của nhiều nghiêncứu khoa học lúc bấy giờ Năm 1974, đã thực hiện thi tú tài toàn phần bằngTNKQ Cũng vào khoảng thời gian này, tại số 7 Nguyễn Bỉnh Khiêm - Sài Gòn
đã thành lập Nha khảo thí (trực thuộc Bộ giáo dục chế độ cũ) là nơi chuyên pháthành các đề trắc nghiệm cho các kỳ thi ở trường phổ thông
Sau năm 1975, một số trường tiểu học và trung học chuyên nghiệp vẫn ápdụng thi TNKQ trong các bộ môn khoa học tự nhiên Và mặc dù còn nhiều tranhluận nên hay không nên sử dụng TNKQ trong thi cử nhưng vấn đề này vẫn đượcnghiên cứu ở bậc đại học Bộ môn giải phẫu ở trường Đại học Y thành phố HồChí Minh, dưới sự chỉ đạo của giáo sư Nguyễn Quang Quyền, đã xuất bản cuốn
“Mục tiêu bài giảng và trắc nghiệm giải phẫu học”
16
Trang 15Năm 1995, trường Đại học Y, Dược, Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã
đi tiên phong trong việc áp dụng tin học vào trắc nghiệm đánh giá thành quả họctập của sinh viên
Từ năm 1992 - 1995 tại Đại học khoa học Huế, đã đồng loạt triển khai bộcâu hỏi TNKQ ở các bộ môn trong khoa, đã thu được nhiều kết quả khả quan
GS Nguyễn Phụng Hoàng là một trong những người có nhiều đóng góp tích cực
Tóm lại, trong giáo dục ngày nay, đổi mới nội dung dạy học kết hợp vớiđổi mới phương pháp KT- ĐG theo hướng TNKQ đang và đã được triển khairộng rãi ở các cấp học, bậc học trong toàn quốc Thực tiễn đã dần khẳng định,việc nghiên cứu, xây dựng và áp dụng TNKQ một cách hợp lý trong dạy học làcần thiết, đáp ứng đòi hỏi của công cuộc đổi mới GD& ĐT theo chiến lược pháttriển kinh tế xã hội năm 2001 - 2010 của Đảng cộng sản Việt Nam
1.1.2.Những khái niệm cơ bản về kiểm tra đánh giá.
1.1.2.1.Kiểm tra
- Trong giáo dục, KT là quá trình tác động của người KT làm cho ngườiđược KT tự bộc lộ khả năng của mình về tình hình lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,giúp người học thu được những thông tin phản hồi để điều chỉnh cách học, giúpngười dạy biết tình hình thực tế để điều chỉnh cách dạy Có thể KT để ĐG hay KTkhông ĐG
Trang 16Trong giáo dục, đơn vị đo lường trong ĐG là đo kiến thức, kỹ năng, kỹxảo của HS được ghi nhận bằng điểm số (có thể là các thang điểm 5, 10, 20,100…) Điểm số là những kí hiệu gián tiếp phản ánh trình độ của mỗi HS về mặtđịnh tính (theo thang giỏi, khá, trung bình, yếu) [10] ;
1.1.2.4.Lượng giá
“Lượng giá (Assessment) căn cứ vào các số đo để ước lượng năng lựchoặc phẩm chất của sản phẩm đào tạo” [27]
18
Trang 17Dựa vào các số đo người ta đưa ra các thông tin ước lượng trình độ kiếnthức, kỹ năng, kỹ xảo của một HS, đây là bước trung gian giữa đo và ĐG.
Lượng giá theo chuẩn : đây là sự so sánh tương đối với chuẩn trung bìnhchung của tập hợp
Lượng giá theo tiêu chí : đối chiếu với tiêu chí đã đề ra
1.1.3.Vai trò của kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra, đánh giá là một khâu có vai trò, chức năng rất quan trọng vàkhông thể thiếu được trong giáo dục Có thể coi kiểm tra đánh giá là công cụ chủyếu điều chỉnh hoạt động dạy và học của thày và trò, là động lực để đổi mớiphương pháp, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theomục tiêu giáo dục
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh sẽ giúp giáo viên thuthập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS
để điều chỉnh học sinh học tập ngày một tiến bộ hơn
Đánh giá chính xác, khách quan, công bằng, kịp thời và không bỏ sót sẽ cótác dụng giáo dục và động viên học sinh, giúp học sinh sửa chữa thiếu sót kịpthời Kiểm tra đánh giá với nhiều hình thức đa dạng và độ phân hoá cao sẽ giúp
ta đánh giá được cả quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh Tăng cường cácphương thức đánh giá trong giờ, ngoài giờ, qua quan sát, trao đổi- thảo luận, qua
tự học không chỉ nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của học trò màcòn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạycủa thày
Trước đây GV giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tíchcực, GV phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnhcách học Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cầncho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường cần phải trang bị cho học sinh
Trang 181.1.4 Các hình thức kiểm tra, đánh giá
Về hình thức, kiểm tra đánh giá có 3 hình thức: quan sát, vấn đáp và viết
Trong đó hình thức kiểm tra viết được quan tâm nhiều hơn do khả năng ứng
dụng rộng rãi của nó Có nhiều hình thức kiểm tra viết, trong đó chia thành 2
nhóm lớn đó là trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan Chúng tôi có thể
tóm tắt theo sơ đồ sau:
Các hình thức kiểm tra đánh giá
*Trắc nghiệm tự luận:
Đây là phương pháp trắc nghiệm được dùng phổ biến nhất
Ưu điểm: Học sinh có thể chủ động lập luận sắp xếp, trình bày, diễn đạt ý
kiến liên quan tới vấn đề kiểm tra Đây là phương pháp có lợi thế khi kiểm tra dễ
20
Trang 19làm bộc lộ phẩm chất hoạt động tư duy của học sinh, mặt khác giáo viên khôngmất nhiều thời gian cho việc soạn thảo câu hỏi.
Nhược điểm: phụ thuộc nhiều vào tính chủ quan của người ra đề, người
chấm, từ khâu xây dựng đáp án, biểu điểm, xác định các tiêu chí đánh giá, đếnkhi đối chiếu bài trả lời với đáp án, bảng điểm
- Bài kiểm tra, thi thường không đề cập được hết nội dung mà các em đãđược học theo chương trình do số lượng các câu hỏi ít Do khó đề cập đến nhiều nộidung kiến thức trong các bài kiểm tra nên thường chỉ chú ý đến kiểm tra các vấn đềtrọng tâm, phổ kiến thức không rộng, dễ dẫn tới tình trạng học tủ, học lệch
- Trong thực tiễn, ĐG chỉ dựa trên điểm số của HS mà ít phân tích, nhậnxét mặt định tính của bài làm, vì vậy không ĐG được phẩm chất, năng lực nhận thứccủa HS
- GV chấm điểm thường không thống nhất nên thường dễ xảy ra hiện tượng các GV khác nhau cho điểm khác nhau trên cùng một bài làm
- Thông tin phản hồi của GV không kịp thời, chưa cụ thể và chưa thườngxuyên vì số câu hỏi một bài kiểm tra ít, số bài kiểm tra không nhiều Thông tin
phản hồi càng chậm, không thường xuyên đã hạn chế tác dụng điều chỉnh và tự điều chỉnh hoạt động dạy học
Hình thức trắc nghiệm tự luận thường được sử dụng khi:
- Nhóm học sinh được khảo sát không quá đông và đề thi chỉ được sử dụng một lần
- Khuyến khích và khen thưởng sự phát triển kỹ năng diễn tả bằng văn viết
- Vừa thăm dò thái độ hoặc tìm hiểu tư tưởng của học sinh về vấn đề nào
đó vừa khảo sát được kết quả học tập của học sinh, về nhiều phẩm chất khác
nhau
Trang 20- Giáo viên có nhiều thời gian chấm bài và khi chấm bài có thể kiểm tra, đánh giá kết quả định tính bên cạnh định lượng bằng điểm số.
* Trắc nghiệm khách quan:
TNKQ có nhiều loại, mỗi loại có ưu nhược điểm riêng và được chọn để sửdụng phù hợp với các mục đích và đối tượng khác nhau
- Loại chọn đúng sai: Đưa ra một nhận định, học sinh phải lựa chọn một
trong hai phương án trả lời để khẳng định nhận định đó đúng hay sai
Ưu điểm: Loại câu này thích hợp cho việc kiểm tra kiến thức về các sự
kiện, định nghĩa, khái niệm, công thức
Nhược điểm: Loại câu này chỉ đòi hỏi trí nhớ, ít kích thích suy nghĩ, do đó
khả năng phân biệt học sinh giỏi và học sinh kém rất thấp Mặt khác, chỉ có haiphương án nên dễ xảy ra sự lựa chọn ngẫu nhiên theo kiểu may - rủi
- Loại ghép đôi: Loại này thường gồm hai dãy thông tin Một dãy là
những câu hỏi (hay câu dẫn) Một dãy là những câu trả lời (hay câu lựa chọn) Họcsinh phải tìm ra từng cặp câu trả lời ứng với câu hỏi
Ưu điểm: Câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng, đặc biệt rất thích hợp khi
dùng để thẩm định các mục tiêu ở mức tư duy thấp Chúng thường được dùng để
đo lường việc hiểu thực tế về các môn học như nghiên cứu xã hội, khoa họcngôn ngữ
Nhược điểm: Câu hỏi này đòi hỏi tư duy ở mức độ cao hơn loại đúng
-sai, tuy nhiên học sinh vẫn có thể trả lời phỏng đoán chứ không phải bằng sự lựachọn trí tuệ
- Loại điền khuyết: Nêu lên một mệnh đề có khuyết một bộ phận, học
sinh phải tìm ra nội dung thích hợp để điền vào chỗ trống Tuy nhiên, trong một sốtrường hợp câu trả lời có thể đòi hỏi óc suy luận hay sáng kiến
22
Trang 21Ưu điểm: ở loại này, học sinh phải tìm kiếm câu trả lời đúng hơn là nhận
câu trả lời từ các thông tin đã cho Vì vậy, loại câu này có độ tin cậy cao hơn
Nhược điểm: Việc chấm bài mất nhiều thời gian, giáo viên thường không
đánh giá hết các câu trả lời sáng tạo, đa dạng
- Loại câu nhiều lựa chọn MCQ: Đây là loại câu hỏi được dùng phổ biến
trong các bài kiểm tra TNKQ Loại này gồm hai phần: Phần đầu được gọi là phần dẫn,nêu ra vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu ra một câu hỏi, phần sau là phương
án chọn, thường được đánh dấu bằng chữ cái A,B,C,D hoặc con số 1, 2, 3, 4, Trongcác phương án chọn chỉ có duy nhất một phương án đúng nhất, các phương án khác đưavào có tác dụng gây nhiễu đối với học sinh
- Có thể giúp cho người đọc tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập một cách chủ động, khách quan, hoặc giúp việc tự ôn đạt hiệu quả cao trước kì thi
- Có thể áp dụng công nghệ thông tin vào các khâu: ra đề thi, chấm điểm, lưu trữ và xử lý kết quả đảm bảo tính khách quan, chính xác, tiện lợi
- Có thể sử dụng toán thống kê để xác định giá trị câu hỏi, qua đó có thể chỉnh lí nâng cao chất lượng câu hỏi
Trang 22Nhược điểm:
- Phải soạn rất nhiều câu hỏi, lại phải qua thử nghiệm công phu mới chọnđược những câu đạt yêu cầu sử dụng Do vậy, việc đầu tư công sức, trí tuệ vào
xây dựng câu hỏi là rất lớn
- Các câu trắc nghiệm MCQ có thể không đo được khả năng phán đoántinh vi, khả năng giải quyết vấn đề khéo léo một cách hiệu nghiệm bằng câu hỏi tựluận soạn kỹ, nhưng nếu có sự phối hợp nhuần nhuyễn với câu tự luận thì sẽ
mang lại hiệu quả sư phạm cao
Trong các hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh thìtrắc nghiệm hiện nay đang được quan tâm và sử dụng để thi tốt nghiệp, thi đạihọc đối với một số bộ môn học
Trắc nghiệm cũng có nhiều loại: Trắc nghiệm khách quan, trắc nghiệm chủquan, trắc nghiệm chuẩn hoá, trắc nghiệm theo tiêu chí… Nhưng loại trắc nghiệmđược sử dụng nhiều nhất là trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm chủ quan
1.1.5 Quy trình kiểm tra, đánh giá.
1.1.5.1 Những nguyên tắc trong kiểm tra, đánh giá
KT- ĐG cần được tiến hành một cách có hệ thống (để xác định phạm viđạt được của các mục tiêu môn học đã được đề ra), và đảm bảo thu được thôngtin phản hồi về kết quả dạy học một cách chính xác, phong phú, kịp thời
Quy trình và công cụ KT- ĐG phải được chọn hệ thống nhất theo mục tiêumôn học
Nắm vững những hạn chế của từng công cụ KT-ĐG để sử dụng một cáchchủ động, có sự phối hợp hợp lí
Thang điểm đánh giá chỉ cần ít bậc (giỏi, khá, trung bình, không
đạt) 1.1.5.2 Quy trình kiểm tra, đánh giá
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học, môn học
24
Trang 23Bước 2: Xây dựng yêu cầu của từng hình thức KT-ĐG
Bước 3: Xây dựng ngân hàng câu hỏi theo yêu cầu của mục tiêu chương trình.
Bước 4: Xây dựng đề kiểm tra và đáp án
Bước 5: Tiến hành kiểm tra và chấm bài
Bước 6: Tổng hợp, đánh giá kết quả
Bước 7: Rút kinh nghiệm để hoàn thiện dần hoạt động dạy và học
1.1.6 Những hạn chế trong thực tế về kiểm tra - đánh giá
Vài năm gần đây, Bộ GD - ĐT đã tiến hành KTĐG bằng việc sử dụng câuhỏi TNKQ thay cho câu hỏi tự luận ở các kì thi tốt nghiệp THPT, kỳ thi tuyểnvào Đại học, đầu tiên là môn Ngoại ngữ, sau đó là Hoá, Lí, Sinh và tiến tới là tất
cả các môn thi đại học (trừ Ngữ văn) Việc làm này được đông đảo tầng lớpnhân nhân ủng hộ và đã đem lại hiệu quả đáng kể cho việc thực hiện hai khôngtrong giáo dục Tuy nhiên, cũng còn nhiều khó khăn đối với giáo viên trong việcsoạn câu hỏi Các câu hỏi TNKQ cần có tiêu chuẩn khoa học, nhất quán về sựtương đương của câu hỏi, cũng như cần cân nhắc nên đưa hình thức KT này vàomôn học nào, với lượng bao nhiêu phần trăm của bài KT (đan xen với câu hỏi
TN tự luận) cho phù hợp với từng môn, từng đơn vị kiến thức Theo nhiều tácgiả, đề thi hay KT nên sử dụng tỉ lệ TN chủ quan/ TNKQ: (70% : 30%); (60% :40%); (50% : 50%); (40% : 60%)
Mặc dù Bộ GD & ĐT đã thực hiện thi TN từ năm 2006 -2007 ở môn Sinhhọc trong các kỳ thi tốt nghiệp THPT và Đại học bằng hình thức TN (MCQ),nhưng nhìn chung tỉ lệ các trường sử dụng đề thi bằng TNKQ còn quá ít
Việc quay cóp bài, chép tài liệu, gian lận trong thi cử, học tủ, học lệch đãtrở thành thói quen của một bộ phận HS Tuy nhiên, thói quen này không thể hoàntoàn đổ lỗi cho HS được mà có sự tiếp tay của một bộ phận GV, phụ huynh
HS dẫu sao các em cũng chỉ là sản phẩm của một PPDH lỗi thời và những quan
Trang 24niệm tiêu cực phát sinh từ nó Việc thay đổi PPDH cũng như KTĐG kết quả họctập của HS là một tất yếu của lịch sử, một việc làm cần thiết như ăn và thở.
1.1.7.Trắc nghiệm dạng MCQ trong dạy học
1.1.7.1 Ưu điểm của trắc nghiệm khách quan
Nếu KT là phương tiện, là hình thức quan trọng của ĐG thì TN được coi
là phương tiện, là hình thức quan trọng của KT
Theo Trần Bá Hoành [10]: TN trong giáo dục là một PP đo để thăm dòmột số đặc điểm năng lực trí tuệ của HS (chú ý, tưởng tượng, thông minh, năngkhiếu ) hoặc để KTĐG một số kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ của HS
Trong quá trình dạy học, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của
TN là cung cấp sự phản hồi về thành tích học tập của một HS cho cả GV lẫn HS
đó [27]
Trắc nghiệm nâng cao hiệu quả dạy - học Người dạy được cung cấp thôngtin phản hồi để điều chỉnh hoạt động dạy cho phù hợp trình độ năng lực củangười học, tìm ra những khó khăn vướng mắc giúp đỡ người học đạt hiệu quảcao trong học tập TN sử dụng hiệu quả trong ôn tập, củng cố kiến thức kiến thức
cũ, học và tự học kiến thức mới, KTĐG sau khi học xong một đơn vị kiến thức,thi sát hạch, dạy bài mới
Mặt khác, sử dụng trắc nghiệm giúp người học có thể phát hiện năng lựctiềm ẩn của mình và phát triển năng lực tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiếnthức đã học để giải quyết các tình huống nảy sinh trong thực tế cuộc sống [21]
Trắc nghiệm khách quan có ưu điểm rõ ràng là đánh giá phạm vi kiến thứcrộng hơn hình thức thi tự luận Số lượng câu hỏi nhiều hơn tự luận, mỗi câu lại
có nhiều phương án trả lời nên khối lượng kiến thức đưa vào đề kiểm tra và thikhá lớn, có thể đủ để dàn trải hầu hết nội dung của chương trình học Đề trắcnghiệm khách quan với số lượng câu hỏi nhiều có thể phủ khắp phạm vi kiến
26
Trang 25thức của môn học trong chương trình THPT Vì vậy, bằng câu hỏi trắc nghiệmkhách quan, HS sẽ không học tủ, học lệch mà phải học đầy đủ, toàn diện vàkhông được bỏ qua bất cứ một kiến thức cơ bản nào có trong chương trình Do
đó học sinh phải có kế hoạch tự học và tổ chức học để nắm vững nội dung chuẩnxác và đạt mục tiêu môn học đã đề ra
Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm cho mỗi môn học là sự thể hiện yêu cầuchuẩn kiến thức để giúp giáo viên và học sinh định hướng dạy và học phù hợpmục tiêu, yêu cầu chương trình Giáo viên có thể dùng loại câu hỏi trắc nghiệmkhách quan nhiều lựa chọn để kiểm tra, đánh giá những mục tiêu giảng dạy, họctập khác nhau Ngoài ra, còn giúp các giáo viên sử dụng để đổi mới phương phápgiảng dạy: sử dụng các câu hỏi để học sinh chuẩn bị ở nhà, thảo luận và tranhluận trên lớp sẽ làm tăng hào hứng học tập của người học vì được đối thoại,tránh độc thoại Quá trình phân tích, đánh giá và thảo luận các câu hỏi trắcnghiệm tại lớp đã góp phần dạy nhận thức và tư duy bậc cao cho học sinh
Việc chấm và cho điểm tương đối dễ dàng và khách quan hơn so với trắcnghiệm tự luận
Có thể dễ dàng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để tổ chứcthi, chấm bài một cách nhanh chóng, chính xác và an toàn
Với ưu điểm nêu trên câu hỏi TNKQ có vai trò:
Đối với giáo viên
Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan được dùng để:
- Đổi mới phương pháp giảng dạy: sử dụng các câu hỏi để cho học sinhchuẩn bị ở nhà, thảo luận và tranh luận trên lớp, phụ đạo và hướng dẫn cách học Làmtăng hứng thú học tập của người học vì được đối thoại, tránh độc thoại
- Chuẩn hoá kiến thức môn học: Tránh dạy tuỳ tiện, sai sót trong việc truyền thụ kiến thức
Trang 26Như vậy căn cứ vào ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn học giáo viên thểhiện phương pháp giảng dạy tích cực như: dạy thu thập thông tin, dạy năng lực
xử lý thông tin, dạy năng lực giải quyết vấn đề
Đối với học sinh
Căn cứ vào ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm của môn học học sinh xác địnhđược kiến thức chuẩn của môn học cần phải nắm Giúp học sinh tự học, tự tìmtòi lời giải và tự kiểm tra nhận thức của mình, mở rộng kiến thức qua các tài liệutham khảo khác nhau Ngoài ra ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm còn giúp học sinh
tự tổ chức học nhóm, học phụ đạo lẫn nhau, trao đổi thảo luận các quan điểm,nhận thức vấn đề và cách giải quyết vấn đề với nhau trên cơ sở câu hỏi đặt ra cótrong ngân hàng câu hỏi môn học
Đối với các nhà quản lý
Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan là giảI pháp hữu hiệu để đadạng hoá các loại hình đàop tạo, nhằm mở rộng qui mô đào tạo, từng bước nângcao chất lượng đào tạo, giảm tiêu cực trong thi cử
Như vậy ngân hàng câu hỏi trăc nghiệm có rất nhiều giá trị trong giáo dục
và đào tạo để giúp chúng ta xây dựng một xã hội học tập thực sự
Tuy vậy, muốn ứng dụng thành công, chúng ta cần nắm vững ưu, nhượcđiểm của TNKQ nói chung và của từng hình thức nói riêng để có phương pháp,hình thức sử dụng phù hợp và quy trình soạn các công cụ trắc nghiệm hợp lí
1.1.7.2 Ưu điểm của trắc nghiệm khách quan dạng MCQ
- Có thể áp dụng MCQ để KT, ĐG những lĩnh vực MT giảng dạy khác nhau
- MCQ là công cụ thu nhận thông tin phản hồi hiệu quả về kết quả dạy học
28
Trang 27- Tính chất giá trị tốt hơn Với một bài TN có nhiều phương án lựa chọn,người ta có thể đo được các mức độ MTBH khác nhau như nhớ, áp dụng, suy diễn,phân tích
- Có thể phân tích được tính chất của mỗi câu hỏi, có thể phát hiện câu hỏinào quá dễ, câu hỏi nào quá khó, câu nào mơ hồ hay không có giá trị đối với các MTcần TN, và qua đó có thể dùng để tổ chức dạy học phân hoá phù hợp với đối tượngHS
- Tính chất khách quan khi chấm, cũng giống như các loại TN khác, điểm sốcủa MCQ không phụ thuộc vào phẩm chất của chữ viết hoặc khả năng diễn đạt tưtưởng
- MCQ nếu được xây dựng công phu sẽ không chỉ là công cụ KT, ĐG mà còn là biện pháp, phương pháp dạy học hiệu quả
1.1.8 Vai trò của phương án nhiễu trong xây dựng hệ thống câu hỏi MCQ
Để xây dựng được một hệ thống MCQ, mỗi câu hỏi nêu ra phải có từ 3 đến 5đáp án trả lời sẵn, trong đó chỉ có một đáp án đúng Những câu trả lời trả lời khácđược xem là câu gây nhiễu hoặc câu gài bẫy Các câu gây nhiễu hoặc câu gài bẫy có
vẻ bề ngoài là đúng nhưng thực chất là sai hoặc chỉ đúng một phần Để lựa chọn raphương án đúng, học sinh buộc phải nắm vững kiến thức, sử dụng chính kiến thứccủa mình để lựa chọn, tập trung làm bài với tốc độ cao và cẩn trọng mới không bịnhầm lẫn Câu nhiễu càng nhiều càng kích thích được sự suy nghĩ của học sinhđồng thời làm giảm xác suất đoán mò cho bài thi trắc nghiệm
Câu nhiễu hay sẽ phân loại được học sinh khi kiểm tra, đánh giá Đồngthời giúp cho giáo viên có thông tin phản hồi để điều chỉnh kịp thời nhằm tạo rahiệu quả ở mức cao nhất thể hiện ở chất lượng học tập của học sinh Câu nhiễucàng nhiều, càng hay, thông tin phản hồi càng đa dạng Sự điều chỉnh, bổ sung
Trang 28những kiến thức, kĩ năng thái độ còn chưa hoàn thiện giúp cho chất lượng họctập trở thành những tri thức bền vững cho mỗi học sinh Như vậy câu nhiễu có ýnghĩa quyết định chất lượng soạn và sử dụng MCQ trong dạy học Tuy nhiên, để
có được những câu nhiễu cho MCQ tốt cần có phương pháp lựa chọn khoa học
1.1.9 Quan hệ giữa câu hỏi tự luận và câu hỏi trắc nghiệm khách quan MCQ
Câu hỏi tự luận là câu hỏi chưa có các câu trả lời cho trước Đó là điểmkhác cơ bản với câu MCQ Lời giải đúng cho câu tự luận là một bài viết, hoặc trảlời bằng ngôn ngữ nói Tuỳ theo phạm vi nội dung cần đề cập tới trong lời giảiđáp mà có các câu tự luận có quy mô lời giải khác nhau về lượng kiến thức, vềmức độ hệ thống hoá, khái quát hoá một chương, nhiều chương, một chủ đề lớn,một bài, một đơn vị kiến thức nhỏ trong một chủ đề
Đề tài của chúng tôi nghiên cứu, xây dựng câu tự luận ngắn với mục đích
để KT kiến thức HS sao cho khi trả lời HS bộc lộ tối đa những sai sót, chưa hoànthiện, chưa thật chính xác về nội dung mà các em cần lĩnh hội Những thông tin
đó là nguồn để lựa chọn các phương án nhiễu cho các câu hỏi MCQ Nếu cácphương án nhiễu là kết quả thu được từ xử lý, tổng hợp, lựa chọn những thiếusót, chưa chính xác, chưa đủ về một vấn đề nội dung khoa học thì đó là thông tin
có thực phản ánh chính xác chất lượng kiến thức mà học sinh lĩnh hội được Vớiđặc điểm đó thì các câu nhiễu sẽ có giá trị dạy học to lớn trong việc kiểm tra,đánh giá, điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học, biên soạn tài liệu giáo khoa
Số phương án sai trong câu tự luận có thể rất nhiều trong cùng một mẫu sốđông HS Về nguyên tắc, các câu MCQ không thể có nhiều phương án sai hơncâu tự luận
Như vậy, 1 câu hỏi tự luận = n câu trả lời ngắn = m câu hỏi TNKQ
30
Trang 29câu hỏi trả lời ngắn câu dẫn 1 CHTNKQCâu hỏi tự luận
câu hỏi trả lời ngắn câu dẫn một số CHTNKQVới đặc điểm trên mỗi câu hỏi tự luận ngắn tương đương với một câu dẫncủa câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn ( MCQ), mà câu trả lời đúng là phương ánlựa chọn, các câu nhiễu là các câu trả lời chưa chính xác hoặc sai cho câu tự luận
đó Do đó, ta có thể viết câu hỏi TNKQ bằng cách lấy chính câu hỏi ngắn đó sửachữa thành câu dẫn, các câu trả lời là phương án chọn và câu nhiễu Ví dụ vớicâu hỏi tự luận ngắn: Yếu tố nào làm cho dịch mạch rây có độ pH từ 8.0 đến 8.5?
Câu trả lời đúng là: ion Kali
Các phương án trả lời sai như:
axitamin chiếm 38% các phương án sai.vitamin chiếm 25% các phương án sai.saccarzơ chiếm 19% các phương án sai.ion Natri chiếm 6% các phương án sai.amit chiếm 5% các phương án sai
hoocmon chiếm 2% các phương án sai.Các phương án khác chiếm 5% các phương án sai
Từ các phương án sai trên ta có thể xây dựng câu hỏi MCQ có độ khó
Trang 30Câu 2: Yếu tố làm cho dịch mạch rây có độ pH từ 8.0 đến 8.5 là
Như vậy căn cứ vào các phương án sai của HS ta có thể lựa chọn phương
án nhiễu đảm bảo tính có thực để xây dựng câu hỏi MCQ Từ đó ta có thể xâydựng các câu hỏi MCQ có độ khó khác nhau căn cứ vào các phương án sai mà
HS lựa chọn với tỉ lệ nhiều hay ít Mức độ khó của các câu trắc nghiệm được xâydựng trên cơ sở nêu trên là đáng tin cậy do dựa vào những cái sai có thực và có
lí, do đó có giá trị sư phạm cao
Tóm lại phương án trả lời sai từ câu hỏi tự luận ngắn là nguồn thông tinngược phong phú, đa dạng về kết quả dạy học của một nhóm, một tập hợp đông
HS của một trường, một địa phương, một quốc gia, và của mỗi cá nhân học sinh
Chính từ mối quan hệ này, trong quá trình dạy học, GV cần biết sử dụngkết hợp câu hỏi tự luận và câu hỏi TNKQ để tổ chức hoạt động nhận thức củahọc sinh bằng nhiều biện pháp khác nhau để đem lại hiệu quả cao
1.2 Cơ sở thực tiễn
Để thực hiện đề tài chúng tôi đã tìm hiểu thực tế tình hình sử dụng câu hỏiTNKQ trong các khâu của quá trình dạy học và khảo sát nguồn câu hỏi mà giáoviên sử dụng ở một số trường THPT (năm học 2007-2008 và năm học 2008-2009) Chúng tôi đã gặp gỡ và khảo sát tình hình sử dụng câu hỏi trắc nghiệmcủa 40 giáo viên thuộc các trường THPT Lê Quý Đôn, THPT Trần Phú, THPTHải An, THPT Lê Hồng Phong kết quả điều tra có thể tóm tắt như sau:
32
Trang 31Bảng 1.2 Nguồn MCQ thường sử dụng ở trường THPT
Tài liệu tham khảo Tự xây dựng Nguồn khácTổng số GV Số GV Tỉ lệ % Số GV Tỉ lệ % Số GV Tỉ lệ %
Trang 3233
Trang 33Bảng 1.3 Nguồn phương án nhiễu được sử dụng trong xây
MCQ được sử dụng chủ yếu để kiểm tra đánh giá Một số trường THPT đãtiến hành tổ chức thi, kiểm tra cùng một đề, cùng một ngày, cùng một khối nhằmthực hiện nghiêm túc quy chế KT- ĐG, hạn chế hiện tượng dạy không đồng đềugiữa các khối học của giáo viên hoặc hiện tượng học tủ của học sinh Tuy nhiên,việc thực hiện chủ yếu tập trung vào thi học kỳ và tập trung ở một số bộ môn đòihỏi thi tốt nghiệp sử dụng trắc nghiệm như Vật lý, Hoá học, Sinh học
Phần lớn các đề thi, KT lấy sẵn từ nguồn tài liệu tham khảo, các giáo trình
mà GV có và thường dùng y nguyên các câu hỏi và bài tập trong tài liệu, giáotrình đã có sẵn lời giải Một số giáo viên cũng đã tự xây dựng nguồn câu hỏiMCQ để sử dụng trong dạy học, tuy nhiên việc xây dựng dựa trên kinh nghiệm
Trang 34cá nhân, đôi khi còn theo cảm tính, thiếu cơ sở khoa học Do đó tính khách quan
và độ tin cậy của thi và KT chưa cao, nguyên nhân chính là không có một bộ đề
KT hay ngân hàng câu hỏi đủ lớn, đủ độ tin cậy cho nên chỉ tiến hành KT ở một
số chương, phần có câu hỏi Mặt khác xây dựng một câu hỏi TNKQ đúng yêucầu kỹ thuật phải soạn thảo rất công phu, mỗi đề KT lại gồm nhiều câu hỏi nênđòi hỏi đầu tư nhiều công sức, trí tuệ, thời gian Đối với chương trình Sinh họcnói chung chưa có một bộ câu hỏi hoàn chỉnh cho học sinh
Như vậy, việc xây dựng một ngân hàng câu hỏi TNKQ đủ độ tin cậy đểdùng trong các khâu của dạy học là rất quan trọng và cần thiết để nâng cao chấtlượng dạy học, giảm nhẹ công việc xây dựng câu hỏi và chấm bài Qua tài liệu
mà chúng tôi có được, qua thực tế điều tra chưa có một nghiên cứu nào tìm hiểu,xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm dựa trên nguồn phương án nhiễu từ khảo sáthọc sinh bằng các câu hỏi tự luận ngắn
35
Trang 35CHƯƠNG 2:
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TỰ LUẬN CHƯƠNG I SINH HỌC 11 BAN CƠ BẢN 2.1 Đặc điểm cấu trúc chương trình Sinh học 11 cơ bản
Chương trình Sinh học 11 gồm 4 chương
Chương 1: đề cập đến sự chuyển hoá vật chất và năng lượng ở mức độ cơ
thể Chương có 14 bài giới thiệu về chuyển hoá vật chất và năng lượng ở cơ thểthực vật như: trao đổi nước, trao đổi chất khoáng ở thực vật, các hiện tượngquang hợp, hô hấp ở thực vật cung như các yếu tố ảnh hưởng đến quang hợp và
hô hấp và ứng dụng trong việc tăng năng suất cây trồng Chương 6 bài giới thiệu
về chuyển hoá năng lượng ở cơ thể động vật, chủ yếu đề cập đến sự tiêu hoá, hôhấp, tuần hoàn và cân bằng nội môi
Chương 2: đề cập đến tính cảm ứng của cơ thể, trong đó có 3 bài giới thiệu
về vận động và cảm ứng của thực vật và 8 bài giới thiệu về cảm ứng và tập tính ởđộng vật
Chương 3: đề cập đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể, trong đó có 3 bài
giới thiệu về sinh trưởng và phát triển ở thực vật, về các hoocmôn thực vật và tácđộng của chúng Có 4 bài giới thiệu về sinh trưởng và phát triển ở động vật, vaitrò của hoocmon cũng như các yếu tố khác ảnh hưởng đến sinh trưởng và pháttriển ở động vật
Chương 4: đề cập đến sinh sản của cơ thể, trong đó có 3 bài giới thiệu về
sinh sản vô tính và hữu tính ở thực vật, các vấn đề về giâm, chiết, ghép cànhcũng như nuôi cấy mô tế bào ứng dụng trong chọn giống cây trồng
Chương có 4 bài giới thiệu sinh sản ở động vật như sinh sản VT và sinh sản
HT, tiến hoá trong các hình thức sinh sản, sự điều hoà sinh sản và ứng dụng đểtăng năng suất ở động vật nuôi cũng như điều chỉnh dân số và kế hoạch hoá giađình ở người
Trang 36Cuối mỗi chương đều có bài thực hành nhằm minh hoạ, củng cố hoặc pháttriển nhận thức của HS về nội dung của chương.
2.2 Xây dựng bảng trọng số chung
Dựa vào đặc điểm cấu trúc ND chương trình chương I, Sinh học 11 cơbản Căn cứ vào khối lượng kiến thức, yêu cầu trong từng bài cụ thể của chương,chúng tôi xây dựng bảng trọng số chung
Bảng 2.1: Bảng trọng số chung cho chương I.
dự kiến xây dựng
7 Thực hành: thí nghiệm thoát hơi nước và thí nghiệm
Trang 3720 Cân bằng nội môi 7- 10 7
21 Thực hành : đo một số chỉ tiêu sinh lí ở người 0 0
122- 194 150
37
Trang 382.3 Xây dựng bảng trọng số chi tiết
Theo yêu cầu sư phạm của câu hỏi TNKQ, nhiều tác giả đã xây dựng theothang bậc nhận thức của Bloom (1956) [3]
Hiện nay có nhiều tác giả [20], [25] đã đề nghị cải tiến thang đo này khixây dựng câu hỏi, đặc biệt khi xây dựng câu hỏi MCQ vì nó quá chi tiết, khó ápdụng khi xây dựng các mức độ câu hỏi Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quanđiểm này, tuy vậy khi xây dựng các MCQ chúng tôi vẫn vận dụng 6 bậc nhậnthức đó làm cơ sở:
- Tái hiện : (nhớ lại, nhận biết) sự kiện, hiện tượng, quá trình, định luật, quy luật…nào đó (là gì?)
- Thông hiểu (hiểu và áp dụng) : Hiểu một vấn đề, sự kiện, hiện tượng, định luật, quy luật và áp dụng được nó trong điều kiện cụ thể (như thế nào?)
- Suy luận và sáng tạo (nâng cao) : suy luận như các thao tác phân tích, tổng hợp, sáng tạo ra cách thức mới có tư duy ở trình độ cao (tại sao?)
Dựa trên những quan điểm trên, chúng tôi xây dựng bảng trọng số chi tiết cho từng đơn vị kiến thức chương I Sinh học 11 ban cơ bản như sau:
38
Trang 39Bảng 2.2: Bảng trọng số chi tiết xây dựng câu hỏi tự luận ngắn cho từng đơn vị
kiến thức chương I Sinh học 11 ban cơ bản
Các mức độ nhận thức đo được Tổng sốNội dung kiến thức cần kiểm tra
câu hỏi
rễ
nước và thí nghiệm về vai trò của
Trang 4039