Nhưng nếu thiếu những sáng tạo trong hoạt động giảng dạythì hiệu quả lại không cao nhất là giảng dạy cho học sinh có năng khiếu vềtoán học.. Lịch sử nghiên cứuLĩnh vực sáng tạo trong Toá
Trang 1Đại học quốc gia Hà nôi
KHoa s- phạm
nguyễn đức đại
một ph-ơng pháp xây dựng và giải đẳng thức và bất đẳng thức đại số
từ đẳng thức và bất đẳng thức l-ợng giác
Luận văn thạc sĩ s- phạm Toán học
Hà Nội - 2009
Trang 2§¹i häc quèc gia Hµ n«i
Häc viªn: NguyÔn §øc §¹i
Cao häc ngµnh S- ph¹m To¸n häc Ng-êi h-íng dÉn
khoa häc: PGS.TS NguyÔn Vò L-¬ng
Hµ Néi - 2009
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Khách thể nghiên cứu 2
5 Phạm vi nghiên cứu 2
6 Giả thuyết khoa học 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Những đóng góp của luận văn 3
9 Cấu trúc luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài: 4
1.1.1 Khái niệm sáng tạo 4
1.1.2 Lịch sử của thuật ngữ sáng tạo 4
1.1.3 Điều kiện cần và đủ để thừa nhận sự sáng tạo 4
1.1.4 Phạm vi sử dụng khái niệm sáng tạo 5
1.1.5 Quá trình đáp ứng nhu cầu thúc đẩy khả năng sáng tạo 6
1.2 Tư duy sáng tạo:. 6
1.3 Khoa học sáng tạo 7
1.4 Thực trạng sự sáng tạo của học sinh và giáo viên hiện nay 8
Trang 41.5 Gợi ý về một phương pháp hoạt động sáng tạo 10
1.6 Một số kỹ năng xây dựng bài toán mới 13
1.6.1.Sử dụng các kết quảtrung gian để xây dựng bài toán mới 13
1.6.2 Sử dụngcác bất đẳngthức trung gian có điều kiện 15
1.6.3.Bài tập đề nghị 22
Kết luận chương 1 24
Chương 2 XÂY DỰNG CÁC ĐẲNG THỨC VÀ BẤT ĐẲNG THỨC ĐẠI SỐ TỪ ĐẲNG THỨC VÀ BẤT ĐẲNG THỨC LƯỢNG GIÁC 25 2.1 Các kết quả cơ bản 25
2.1.1 Kết quả cơ bản thứ nhất 25
2.1.2 Kết quả cơ bản thứ hai 26
2.1.3 Kết quả cơ bản thứ ba 27
2.1.4 Kết quả cơ bản thứ tư 28
2.1.5 Kết quả cơ bản thứ năm 28
2.1.6 Kết quả cơ bản thứ sáu 28
2.2 Xây dựng đẳng thức và bất đẳng thức đại số từ đẳng thức và bất đẳng thức lượng giác. 29
2.2.1 Xây dựng các đẳng thức đại số từ các đẳng thức lượng giác 29
2.2.2 Xây dựng các bất đẳng thức đại số từ các bất đẳng thức lượng giác 31
Kết luận chương 2 49
Trang 5Chương 3: CHỨNG MINH CÁC ĐẲNG THỨC VÀ BẤT ĐẲNG
THỨC ĐẠI SỐ ĐÃ XÂY DỰNG MÀ KHÔNG SỬ
DỤNG CÁC KIẾN THỨC CỦA LƯỢNG GIÁC 50
3.1 Chứng minh các đẳng thức đại số 50
3.2 Chứng minh các bất đẳng thức 51
Kết luận chương 3 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 72
1 Kết luận 72
2 Khuyến nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành trung ương Đảng Cộngsản Việt Nam (khoá VII, 1993) đã chỉ rõ: “Mục tiêu giáo dục - đào tạo phảihướng vào đào tạo những con người lao động tự chủ, sáng tạo, có năng lựcgiải quyết những vấn đề thường gặp, qua đó mà góp phần tích cực thực hiệnmục tiêu lớn của đất nước là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh”
Lĩnh vực khó sáng tạo và giá trị sáng tạo được đánh giá không caochính là toán cho học sinh phổ thông Nếu chúng ta chỉ hạn chế phạm vinghiên cứu ở những lĩnh vực cơ bản, phổ thông thì việc tìm ra những kết quảmới là không tưởng Chính vì vậy mà những nhà toán học hướng đánh giákhông mấy thiện cảm những đồng nghiệp của mình đang dạy toán ở phổthông trung học Nhưng nếu thiếu những sáng tạo trong hoạt động giảng dạythì hiệu quả lại không cao nhất là giảng dạy cho học sinh có năng khiếu vềtoán học Xu hướng mới trong giảng dạy ở phổ thông trung học hiện nay baogồm:
*) Tiết kiệm thời gian giảng dạy
*) Xây dựng những kỹ năng giải để học sinh có thể hiểu và giải nhữngbài toán khó một cách dễ dàng
Những sáng tạo toán học trong xu hướng này được đánh giá cao, mặc
dù rất khó
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Một phương pháp xây dựng và giải đẳng thức và bất đẳng thức đại số từ đẳng thức và bất đẳng thức lượng giác”
1
Trang 72 Lịch sử nghiên cứu
Lĩnh vực sáng tạo trong Toán học thì có rất nhiều đặc biệt là sáng tạocho đẳng thức và bất đẳng thức bởi đây là một lĩnh vực được rất nhiều ngườiquan tâm Ta có thể kể ra một số tác giả như: Phan Huy Khải, Nguyễn VũLương , Nguyễn Văn Mậu, Đặng Hùng Thắng, Nguyễn Kim Hùng, TrầnPhương, Tuy nhiên chưa có tác giả nào xây dựng đẳng thức và bất đẳngthức đại số từ đẳng thức và bất đảng thức lượng giác Đây là nguồn mà chúng
ta khai thác để trở thành những bài toán hay với những lời giải đẹp Có thể nóirằng đề tài là một trong những đóng góp đầu tiên về vấn đề này
3 Mục tiêu nghiên cứu
*) Nghiên cứu cơ sở lí luận về kĩ năng sáng tạo và giải các đẳng thức
và bất đẳng thức đại số trên cơ sở đẳng thức và bất đẳng thức lượng giác
*) Nâng cao hiệu quả giảng dạy, bồi dưỡng cho những học sinh yêuthích và có năng khiếu về bộ môn toán
Quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp và luyện thi đại học
4.2 Đối tƣợng nghiên cứu
Đẳng thức và bất đẳng thức đại số, đẳng thức và bất đẳng thức lượnggiác
5 Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian nên luận văn chỉ nghiên cứu vấn đề sau: Xâydựng những đẳng thức và bất đẳng thức đại số từ đẳng thức và bất đẳng thứclượng giác của những góc trong tam giác và những góc trong tam giác chiahai Còn việc xây dựng những đẳng thức và bất đẳng thức đại số từ đẳng thức
2
Trang 8và bất đẳng thức lượng giác của những góc lượng giác khác nằm ngoài khuônkhổ của đề tài.
6 Giả thuyết khoa học
Sự sáng tạo của người thầy trong những bài toán về đẳng thức và bấtđẳng thức đại số trên nền tảng của bài toán lượng giác chính là cơ sở, độnglực cho học sinh sáng tạo những bài toán về đẳng thức và bất đẳng thức nóiriêng và cho môn Toán nói chung
7 Phương pháp nghiên cứu
*) Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu và phân tích các tài liệu
về các phương pháp hoạt động sáng tạo của học sinh, chương trình sách giáokhoa Đại số, Lượng giác ở THCS và THPT
*) Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia vềđẳng thức và bất đẳng thức
*) Góp phần thúc đẩy sự sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập
*) Đề xuất một phương pháp sáng tạo ra đẳng thức và bất đẳng thứcmới
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Xây dựng các đẳng thức và bất đẳng thức đại số từ đẳng thức và bất đẳng thức lượng giác
Chương 3: Chứng minh các đẳng thức và bất đẳng thức đại số đã xây dựng mà không sử dụng các kiến thức lượng giác
3
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm sáng tạo
Thuật ngữ “Sáng tạo” đã được nhiều tác giả khác nhau đề cập đến:Theo tác giả Hoàng Phê, trong từ điển Tiếng Việt, Sáng tạo được địnhnghĩa là: “Tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, hay là tìm racái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có” [7,tr.817]
Theo trang Web Bách khoa toàn thư Wikipedia: “Sáng tạo là quá trình
làm phát sinh (phát hiện, phát kiến hoặc phát minh) một sự vật hoặc hiệntượng mới và hữu ích, đáp ứng nhu cầu tồn tại hoặc phát triển của con ngườitrong xã hội đương đại Khái niệm sáng tạo được sử dụng trong mọi lĩnh vựccủa thế giới vật chất và tinh thần”
1.1.2 Lịch sử của thuật ngữ sáng tạo
Thuật ngữ khoa học về sáng tạo (Heuristics, Creatology hayArsinveniendi), lần đầu tiên xuất hiện trong những công trình của nhà toánhọc Papp, sống vào nửa cuối thế kỷ thứ III tại Alexandri - Hy Lạp Sau đó cácnhà toán học và triết học nổi tiếng như Descartes, Leibnitz, BernardBolzano đã có nhiều cố gắng thành lập hệ thống khoa học nghiên cứu vềkhả năng sáng tạo của con người Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có những côngtrình nghiên cứu đầy đủ về năng lực sáng tạo của con người như một ngànhkhoa học độc lập
1.1.3 Điều kiện cần và đủ để thừa nhận sự sáng tạo
Về thuộc tính mới của sự vật Một vật lần đầu tiên xuất hiện (ghi nhận)đều có thuộc tính (và được gọi là) mới Người tìm ra vật mới này có thể đượccấp bằng phát minh hay sáng chế
4
Trang 10Về thuộc tính hữu ích của sự vật Hữu ích (có ích) là quá trình một vật
đáp ứng được nhu cầu bảo vệ hoặc phát triển của các chuẩn mực trong đờisống vật chất, tinh thần, đạo đức, văn hóa, văn minh của xã hội loài người
Theo giáo sư - tiến sĩ khoa học Phan Dũng - Giám đốc Trung tâm sáng
tạo KHKT thuộc ĐH Khoa học tự nhiên, khái niệm sáng tạo được dùng để chỉnhững sự vật mới và có ích cho đời sống con người Do đó, mọi sự vật hoặchiện tượng mới phát sinh phải thỏa mãn điều kiện thứ hai mới được thừa nhận
là sáng tạo, đó là tính hữu ích cho đời sống con người hoặc văn minh nhânloại Có những sự vật hoặc hiện tượng mới, nhưng không thỏa mãn điều kiện
này (về tính hữu ích) thì cũng không được gọi là sáng tạo, mà chỉ dùng từ
"mới" để nói về chúng mà thôi Như vậy, không phải phát kiến nào cũng đượcxem là sáng tạo
1.1.4 Phạm vi sử dụng khái niệm sáng tạo
Sáng tạo là khái niệm vô cùng rộng lớn về phạm vi sử dụng Nó không
có giới hạn cuối cùng khi sử dụng (hoặc áp dụng) trong tất cả các hệ thốngphân loại hiện có của nền văn minh nhân loại như: hệ thống đo, đếm, quychiếu, chuẩn mực, các thông số theo toán học, vật lý học, hóa học đến cảtâm lý học, xã hội học, thần học, triết học, tương lai học hay vũ trụ học
Tính phổ biến của khái niệm sáng tạo thể hiện ở phạm vi sử dụng nó Ởđâu, trong bất kỳ lĩnh vực nào của nền văn hóa, văn minh nhân loại, khi xuấthiện một sự vật hay hiện tượng mới, thỏa mãn điều kiện cần và đủ của nó thìđều được xem đó là sự sáng tạo Theo đó, ta có thể thấy từ sáng tạo được gắnkết với rất nhiều khái niệm khác nhau như: ý tưởng sáng tạo, tư duy sáng tạo,quan điểm sáng tạo, việc làm sáng tạo, hành động sáng tạo, công cụ sáng tạo,phương tiện sáng tạo, phương pháp sáng tạo
Nhiều nước trên thế giới còn tổ chức các cuộc thi sáng tạo, và xem xéttrao tặng các giải thưởng sáng tạo hàng năm
5
Trang 111.1.5 Quá trình đáp ứng nhu cầu thúc đẩy khả năng sáng tạo
Với việc vận dụng phương pháp nghiên cứu và thành quả của nhiềungành khoa học khác nhau như Tâm lý học, Giáo dục học, Logic học, Giảiphẫu học, Điều khiển học, Lý thuyết thông tin, Lý thuyết hệ thống và các tiến
bộ của y học nghiên cứu về bộ não của con người; Hiện nay đã có hàng trămcông cụ hoặc phương tiện giúp tích cực hóa tư duy - giảm sức ỳ trong tư duy,khơi gợi và phát triển năng lực sáng tạo của con người như: Phương pháp nãocông (Brainstorming method), Phương pháp các câu hỏi kiểm tra (Method ofcontrol questions), Phương pháp phân tích hình thái (Morphogical analysis),
Sơ đồ khối TRIZ & ARIZ, Sáu mũ tư duy (six thinking hats), Bản đồ tư duy(của Tony Buzan)
về sự kết hợp độc đáo hoặc liên tưởng, phát ra các ý tưởng đạt được kết quảmới và ích lợi Mọi người có thể dùng tính sáng tạo của mình để đặt vấn đềmột cách bao quát, phát triển các phương án lựa chọn, làm phong phú các khả
6
Trang 12năng và tưởng tượng các hậu quả có thể nảy sinh Để làm được điều đó cầnphải biết:
*) Gạt bỏ những hiều biết về kiến thức thông thường
*) Gạt bỏ những kinh nghiệm trong quá khứ *) Tạo
điều kiện phát triển khả năng sáng tạo
Giữ gìn truyền thống là điều không ai chối cãi Những trong thời đạitên lửa hiên nay, bất cứ ai cũng cần có những sáng tạo trong tư duy Nhưngthực tế thì hầu hết những người thông thường không có sự cố gắng trong việcrèn luyện tính sáng tạo tư duy của mình Bởi lẽ họ cho rằng khả năng sáng tạo
là bẩm sinh Không thể rèn luyện hoặc nhờ sự cố gắng mà có
Giới hạn con người trong khuôn khổ lấy những hiểu biết về kiến thứcthông thường, những tập tục, những truyền thống, những ký ức để ràng buộccon người sẽ không thể có sáng tạo trong tư duy và công việc
1.3 Khoa học sáng tạo
Hoạt động sáng tạo gắn liền với lịch sử tồn tại và phát triển của xã hộiloài người Từ việc tìm ra lửa, chế tạo công cụ bằng đá thô sơ đến việc sửdụng năng lượng nguyên tử, chinh phục vũ trụ , hoạt động sáng tạo của loàingười không ngừng được thúc đẩy Sáng tạo không thể tách rời khỏi tư duy -hoạt động bộ não của con người Chính quá trình tư duy sáng tạo với chủ thể
là con người đã tạo các giá trị vật chất, tinh thần, các thành tựu vĩ đại về mọimặt trong cuộc sống và tạo ra nền văn minh nhân loại
Ý định "khoa học hóa tư duy sáng tạo" có từ lâu Nhà toán học Hy LạpPappos, sống vào thế kỷ III, gọi khoa học này là Ơristic (Heuristics) Theo quanniệm lúc bấy giờ, Ơristic là khoa học về các phương pháp và quy tắc làm sáng chế,phát minh trong mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật, chính trị,triết học, toán, quân sự Do cách tiếp cận quá chung và không có nhu cầu xã hộicấp bách, Ơristic bị quên lãng cho đến thời gian gần đây
7
Trang 13Cùng với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, số lượng bài toán phức tạp
mà loài người cần giải quyết tăng nhanh, đồng thời yêu cầu thời gian phải giảiđược chúng rút ngắn lại Trong khi đó không thể tăng mãi phương tiện và sốlượng người tham gia giải bài toán Thêm nữa, cho đến nay và trong tương laikhá xa sẽ không có công cụ nào thay thế được bộ óc tư duy sáng tạo Ngưòi ta
đã nhớ lại Ơristic và phát triển tiếp để tìm ra cách tổ chức hợp lý, nâng caonăng suất, hiệu quả quá trình tư duy sáng tạo - quá trình suy nghĩ giải quyếtvấn đề và ra quyết định trong mọi lĩnh vực không riêng gì khoa học kỹ thuật
Trên con đường phát triển và hoàn thiện, khoa học sáng tạo (Heuristics,Creatology) tách ra thành một khoa học riêng, trong mối tương tác hữu cơ vớicác khoa học khác (có đối tượng nghiên cứu, hệ thống các khái niệm kiếnthức riêng, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu riêng )
Một số nước tiên tiến trên thế giới đã bắt đầu đào tạo cử nhân, thạc sỹ vềchuyên ngành sáng tạo và đổi mới (BA, BS, MA, MS in Creativity andInnovation) Ví dụ Trung tâm nghiên cứu sáng tạo (Center for Studies inCreativity) thuộc Đại học Buffalo bang New York (Mỹ) đến cuối năm 1994
đã đào tạo được 100 thạc sỹ
1.4 Thực trạng sự sáng tạo của học sinh và giáo viên hiện nay
Theo báo điện tử Dân trí: Một nguyên nhân sâu xa khiến chủ trương đổimới cách dạy và học chưa đạt được nhiều kết quả là chỗ, ta yêu cầu các giáoviên rèn óc thông minh sáng tạo cho học trò nhưng lại không trang bị cho giáoviên khoa học về sự sáng tạo
Học sinh được dạy phân tích, tổng hợp, suy diễn, được rèn luyện quanhững bài tập đòi hỏi khả năng phân tích, tổng hợp nhưng thiếu những bài tậpyêu cầu sáng tạo ra cái mới, dù chỉ là mới đối với họ
Ngay ở các kỳ thi toán quốc tế, thí sinh cũng chỉ làm những bài toánkhó trong đó người ta cho biết giả thiết và kết luận, thí sinh chỉ phải tìm racách suy diễn từ giả thiết ra kết luận Tư duy của họ giống như một con chim
8
Trang 14trong lồng, có thể nhảy nhót nhưng không ra khỏi cái lồng kín Cái lồng đâychính là đề bài Dĩ nhiên, rèn được óc thông minh cũng tốt và không dễ,nhưng dù sao trong dạy học ngày nay, việc này là chưa đủ.
Thời đại ngày nay đòi hỏi sự sáng tạo ra cái mới Vậy giáo dục phảilàm gì để tạo ra được năng lực sáng tạo ở học sinh? Hiện nay, trong cán bộquản lý giáo dục và giáo viên cũng còn nhiều nhận thức cảm tính không đúngxung quanh hai chữ "sáng tạo", ví như cho rằng phải dạy thật tốt, học thật tốt,chờ cho học sinh có nhiều kiến thức đã rồi mới dạy sáng tạo, học sáng tạo
Đành rằng nhiều kiến thức là một thuận lợi cho sự sáng tạo nhưngkhông nhất thiết người nhiều kiến thức hơn thì sáng tạo hơn người ít kiếnthức; thậm chí người mù chữ cũng có thể sáng tạo Cho nên, một đặc điểmcủa "sáng tạo" là nó có thể xuất hiện ở những người trình độ học vấn rất khácnhau Từ trước tới nay, ta chỉ đưa công tác nghiên cứu khoa học vào cáctrường đại học mà không đưa vào các trường phổ thông
Đã là con người thì ai cũng chán khi phải kéo dài mãi một việc màkhông hề có đổi mới gì cả; các cháu ở nhà trẻ cũng đã bộc lộ rõ tâm lý đó.Cho các cháu một đồ chơi dù hay, dù đẹp đến mấy, chơi mãi rồi cũng chán.Khi đó các cháu sẽ bày ra những đồ chơi, cách chơi do các cháu tự nghĩ ra.Ngày nay, nhiều người nói đến việc học sinh bỏ học, chán học, không hứngthú học và chỉ ra nhiều nguyên nhân nhưng hay quên nguyên nhân cốt lõi làmột số giáo viên coi thường tâm lý "thích sáng tạo" của học sinh, chỉ lo nhồinhét kiến thức
Nhiều giáo viên đồng nhất việc đổi mới cách dạy với việc giảng dạynêu vấn đề Đó là một sự tiến bộ so với giảng dạy áp đặt, nhồi nhét, nhưngvẫn là một sự hạn chế vì học sinh vẫn thụ động ngồi chờ thầy nêu vấn đề cho.Sức ỳ tâm lý là một trở ngại cho việc phát hiện vấn đề Ngày nay, người ta cónhiều cách để chống sức ỳ tâm lý nhưng chưa có cách nào xuất hiện trong nhàtrường chúng ta
9
Trang 15Trong quản lý Giáo dục và quản lý dạy học, các ngành giáo dụcSingapore, Hàn Quốc cách đây rất lâu cũng đề ra một yêu cầu chặt chẽ: “Cầnphải có cái gì để phân biệt một bên là thợ dạy bên kia là thầy giáo; một bên làthợ học, bên kia là học sinh” Với họ, không thể đánh đồng giữa thầy với thợ,giữa người học theo lối “cầm tay chỉ việc” với người học theo kiểu tìm tòinghiên cứu.
Bởi vậy, từ Nhật Bản, Hàn Quốc đến nhiều nước mới phát triển ở ĐôngNam Á, trong giáo dục người ta chú trọng tới cách học (phương pháp ) nhiềuhơn học cái gì (nội dung)
Với thầy giáo đúng nghĩa, chức năng chính yếu của họ là dạy cách học(thay vì truyền đạt nội dung) Với học sinh đúng nghĩa, nhiệm vụ quan yếucủa họ là học cách học (thay vì “dùi mài kinh sử”, hay là “cày sâu cuốc bẫm”– một văn hóa học phương Đông đã tồn tại tương đối lâu)
Trong cách học họ đề cao hai điểm then chốt là tự học và sáng tạo Haimặt đó quan hệ mật thiết với nhau: sẽ không có sáng tạo nếu không có tự họctích cực, sẽ không có tự học hiệu quả nếu không mài sắc trí sáng tạo Tự học
để khám phá nhận thức và khai phá sáng tạo Sáng tạo để khẳng định sự tìmtòi siêu thoát trong tự học Các nhà giáo dục Nhật Bản và Singapore đều chorằng đó là những kĩ năng “kép” cần cho một người học sinh hiện đại, để rútngắn khoảng cách thua kém và để trở thành người chủ thực sự của tương lai
Vậy, phải xây dựng được một khoa học về sáng tạo để chỉ đạo việc dạy
và học sáng tạo Muốn vậy phải có một sự nhất trí cao và một quyết tâm lớn
để xây dựng nên một lộ trình từng bước thích hợp Không thể vội vã nhưngphải nhanh chân vào cuộc, đừng chần chừ, nấn ná như trước đây đối với tinhọc
1.5 Gợi ý về một phương pháp hoạt động sáng tạo
Theo giáo sư Phan Trọng Ngọ: “Hoạt động sáng tạo luôn có một conđường riêng đầy bí ẩn và không bao giờ đi theo một khuôn mẫu quen thuộc,
10
Trang 16cứng nhắc, vì vậy không dễ hoạch định nó Tuy nhiên nếu quan tâm sâu sắcđến hoạt động này thì có thể phác hoạ một quy trình mà nhờ nó có thể cảithiện được hiệu quả sáng tạo Dưới đây là một gợi ý về quy trình như vậy.
*) Quy trình khuyến khích tính sáng tạo theo mô hình sáu bước: cảm hứng – làm rõ - chắt lọc - ấp ủ - đổ mô hôi – đánh giá.
+ Cảm hứng Đây là giai đoạn nghiên cứu, tìm kiếm các ý tưởng Quá
trình này mang tính trực giác Trí tưởng tượng được tự do và ngẫu hứng, bột
phát, không e ngại, dám liều, tự tin Trong cảm hứng không có sự phê phán.Giai đoạn này giống như cuộc công não, với mục tiêu sản sinh ra càng nhiều ýtưởng càng tốt Để tạo ra nguồn cảm hứng và sản sinh ý tưởng, có thể sử dụngrất nhiều thủ pháp: lục tìm trong quá khứ (hồi tưởng về kinh nghiệm); liên kết(phối hợp, chắp ghép) các sự kiện quan sát được; phát triển một cách ngẫuhứng từ một sự kiện ban đầu (phát triển theo lôgic thuận và ngược); rà soát
mọi khả năng v.v.Cảm hứng không có tính chỉ trích.
+ Làm rõ Làm rõ mục đích của hoạt động đang được tiến hành Đây
là nếp tư duy có tính chiến lược, không vội vàng và thường xuyên đặt ra cáccâu hỏi: ta đang định làm gì? Ta muốn công việc này được tiến hành như thếnào? v v
+ Chắt lọc Những ý tưởng đã có cần được phân tích, đánh giá và sàng
lọc để có ý tưởng tốt Những ý tưởng này sẽ được tiếp tục phát triển và chọnlọc Quá trình chắt lọc la sự biên tập mang tính tự phê phán Nó đòi hỏi phải
có sự phân tích, đánh giá một cách sâu sắc, lạnh lùng Tuy nhiên cũng khôngnên quá khắt khe với bản thân, tới mức cản trở khả năng sản sinh ý tưởng củamình
+ Ấp ủ Đay chính là thời kì tĩnh lặng quý báu trong hoạt động sáng tạo.
Trong học tập bình thường thì điều này khó diễn ra do hoạt động là một chuỗiliên tục Tuy nhiên trong sáng tạo việc ngưng nghỉ tạm thời giữa các giai đoạn
là rất bổ ích Nó giúp cho tiềm thức có điều kiện quay trở về với những vấn đề
11
Trang 17đang vướng mắc trong tư duy, giúp cho con người tách ý thức ra xa các ýtưởng, để đánh giá chúng tốt hơn Những người có khả năng sáng tạo cao ítkhi bị thu hút ngay lập tức vào những ý tưởng mới nảy sinh, họ thường để chonhững ý tưởng đó tiếp tục nung nấu trong tiềm thức cho đến khi nào “nảy rađược điều gì đó”
+ Đổ mồ hôi Khi các ý tưởng đã được sản sinh thì không có nghĩa là đã
sáng tạo Ngay cả trước và sau khi chúng được chắt lọc và trong lúc suy tư, tĩnhlặng vẫn diễn ra sự làm việc vất vả và căng thẳng với những ý tưởng đó, cho đếnbao giờ chúng hiện hữu đầy đủ trước cá nhân và người khác Cần lưu
ý tới câu nói nổi tiếng của Th Edison mà mọi người đều biết: “Thiên tài gồm 1% cảm hứng và 99% là mồ hôi”.
Trong giai đoạn này cần xem xét lại bản thảo, để tìm ra điểm mạnh,điểm yếu và cân nhắc cách thức hoàn thiện ra nó Sau đó tiếp tục đổ công sức
để thực hiện những chỉnh sửa Để có được sản phẩm cuối cùng, có thể phảitrải qua nhiều lần chắt lọc, ấp ủ, lao động, đánh giá Đó là quá trình đầy tínhkiên trì, không phê phán và sãn sáng đáp ứng mọi phê phán
Trên đây là các giai đoạn của quá trình sáng tạo Trong thực tiễn cácgiai đoạn này không hoàn toàn theo lôgic trên, mà có đảo lộn giữa các côngđoạn, thậm chí phải lặp lại nhiều lần một số công đoạn nhất định Điều quantrọng là mỗi công đoạn có chức năng và tính chất riêng Vì vậy một mặt cầntriệt để thực hiện đúng tính chất của từng công đoạn và không được thâmnhập vào nhau, mặt khác phải linh hoạt chuyển từ công đoạn này sang côngđoạn khác Khi đang tìm kiếm những ý tưởng thì thái độ phê phán hay cầutoàn là điều không tốt Ngược lại, việc lựa chọn những ý tưởng lại chất đầychất ngẫu hứng và thiếu sự phê phán, sẽ dẫn đến hỏng việc Triệt để thực hiệnđúng tính chất của các công đoạn là việc rất khó trong tư duy sáng tạo, nhất làđối với những học sinh và cả những giáo viên đã quen với nếp tư duy hỗn hợpđan xen.” [6, tr.318 - 320]
12
Trang 181.6 Một số kĩ năng xây dựng bài toán mới
1.6.1 Sử dụng các kết quả trung gian để xây dựng bài toán mới
Trong phần này chúng ta xét một vài ví dụ điển hình:
Ta có kết quả: Với a, b, c > 0, chứng minh rằng:
Như các bạn đã biết nhiều tác giả trên thế giới sử dụng kết quả này để
chứng minh các bài toán khó trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia và quốc
tế Tuy nhiên trong mục này chúng ta quan tâm nhiều hơn đến phương pháp
Và chúng ta thu được bài toán mới sau:
a b c2 3
2 ab bc ca 2
Trang 1913
Trang 20a 4 b 4 c4 3
b 3a c c 3a b a 3c a 2Hoàn toàn tương tự ta thu được bài toán
Hoặc khó hơn ta thu được
Trang 2114
Trang 221.6.2 Xây các bất đẳng thức trung gian có điều kiện
Suy ra a + b + c ≤ 32 Áp dụng kết quả của bài toán 1 ta suy ra
đpcm Dấu đẳng thức xảy ra khi a = b = c = 12
Trang 2315
Trang 24Chứng minh tương tự ta được các bất đẳng thức sau:
Trang 2516
Trang 27sinA sin B sinC
Trang 283 cos A cos B cos C 3
2 cot 2 A cot 2 B cot2 C 5
3
Giải
Vì sin2A + sin2B + sin2C = 2 + 2cosA cosB cosC nên bất đẳng thức cần
chứng minh tương đương với
Trang 2918
Trang 3223
Trang 36sin 2 sin2 sin 2 sin2 sin 2 sin2
Bài tập 2 Giả sử A, B, C là ba góc của một tam giác nhọn, chứng
Trang 3722
Trang 380, CosB > 0, CosC > 0 ta suy ra.
cos A cos B cos C cos1A cos1B cos1C
Trang 393 2 3 2 3 2toán
23
Trang 40Kết luận chương 1
Trong chương 1, luận văn đã phân tích cơ sở lí luận về hoạt động sángtạo trong quá trình dạy học bao gồm các khái niệm sáng tạo, tư duy sáng tạo,khoa học sáng tạo Luận văn đã phân tích được thực trạng về sự sáng tạo củahọc sinh và giáo viên hiện nay Luận văn đã đưa ra một gợi ý về phương pháphoạt động sáng tạo Như vậy theo nghĩa thông thường sáng tạo là một quátrình phát kiến ra các ý tưởng và các quan niệm mới, hay một kết hợp mớigiữa các ý tưởng và quan niệm đã có Đơn giản hơn sáng tạo là một hànhđộng làm nên những cái mới Với cách hiểu đó thì cái quan trọng nhất đối vớisáng tạo là phải có ý tưởng, như lời của nhà Toán học vĩ đại Poincaré: “Trongsáng tạo khoa học, ý tưởng chỉ là những ánh chớp, nhưng ánh chớp đó là tấtcả”
24