ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM THỊ THUỶ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN DẪN XUẤT HIDROCACBON HOÁ HỌC LỚP 11 NÂNG CAO LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ THUỶ
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN DẪN XUẤT HIDROCACBON HOÁ HỌC
LỚP 11 NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC (BỘ
MÔN HÓA HỌC)
Mã số: 60 14 10 Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Kim Long
HÀ NỘI - 2012
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Điều tra việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh THPT 23
Bảng 2.1 So sánh tính chất hoá học của dẫn xuất halogen và ancol no, đơn chức, mạch hở 45
Bảng 2.2 So sánh tính chất của ancol và phenol 46
Bảng 3.1 Thống kê kết quả kiểm tra Trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm.76 Bảng 3.2 Thống kê kết quả kiểm tra THPT Hoàng Cầu 77
Bảng 3.3 Phân phối tần suất và tần suất lũy tích của lớp 11A1 và 11A2 trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm – Hà Nội 77
Bảng 3.4 Phân phối tần suất và tần suất lũy tích của lớp 11A3 và 11A4 trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm, Hà Nội 79
Bảng 3.5 Phân phối tần suất và tần suất lũy tích của trường THPT Hoàng Cầu, Hà Nội 80
Bảng 3.6 Kết quả xử lý để tính toán các tham số trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm - Hà Nội 82
Bảng 3.7 Kết quả xử lý để tính toán các tham số trường THPT Hoàng Cầu – Hà Nội 83
Bảng 3.8 Các tham số đặc trưng 83
Bảng 3.9 Bảng Hopkin 86
Bảng 3.10 So sánh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 87
Bảng 3.11 Giá trị p và hệ số ảnh hưởng 87
Trang 4DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1 Chu trình tự học 10
Sơ đồ 1.2 Cấu trúc của hệ bài tập 18
Đồ thị 3.1 Phân phối tần suất của lớp 11A1 và 11A2 trường
THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm 78
Đồ Thị 3.2 Phân phối tần suất lũy tích của lớp 11A1 và 11 A2
trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm 78
Đồ thị 3.3 Phân phối tần suất của lớp 11 A3 và 11A4 của trường
THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm 79
Đồ thị 3.4 Phân phối tần suất lũy tích của lớp 11A3 và 11A4 trường
THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm 80
Đồ thị 3.5 Phân phối tần suất của trường THPT Hoàng Cầu 81
Đồ thị 3.6 Phân phối tần suất lũy tích của trường THPT Hoàng Cầu
81
4
Trang 5Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
Mục lục
MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÍLUÂṆ VÀTHỰC TIỄN VỀ BỒI DƯỠNG NĂNG LƯCC̣ TƯ C̣HOCC̣………
1.1 Tổng quan vềvấn đềnghiên cưu
1.1.1 Quan niệm về tự học trên thế giới
1.1.2 Quan niệm về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam
1.1.3 Quan điểm và tư tưởng về tự học đối với 1.2 Cơ sơ ly luâṇ vềbồi dương năng lưcc̣ tư c̣hocc̣ ̉̉ 1.2.1 Tự học
1.2.2 Năng lực tự học
1.2.3 Bài tập hóa học
1.3 Cơ sơ thưcc̣ tiêñ vềbồi dương năng lưcc̣ tư c̣hocc̣
̉̉ 1.3.1 Thực trạng tự học của HS ở trường THPT trên địa bàn Hà Nội
1.3.2 Thực trạng của việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh THPT
Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM LỰC TỰ HỌC QUA DẠY HỌC PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON HÓA HỌC LỚP 11 NÂNG CAO
2.1 Giơi thiêụ vềchươ ng trinh sach giao khoa hoa hocc̣ lơp 11
̉ 2.1.1 Quan điểm xây dựng chương trình Hoá học nâng cao
2.1.2 Cấu trúc của chương trình hóa học 11 nâng cao (NC)
2.2 Mục tiêu bài học và một số chú ý về phương pháp dạy học (PPDH) phần dẫn xuất hiđrocacbon
2.2.1 Dẫn xuất halogen của hidrocacbon
2.2.2 Ancol
2.2.3 Phenol
2.2.4 Andehit và xeton
Trang 62.2.5 Axit cacboxylic 34
2.3 Môṭsốbiêṇ pháp bồi dưỡng năng lưcc̣ tư c̣hocc̣ 35
2.3.1 Bồi dưõng năng lực tự học sách giáo khoa (SGK), sách tham khảo 35 2.3.2 Bồi dưỡng năng lực tự học theo chủ đề. 48
2.3.3 Bồi dưỡng năng lực tự học thông qua việc đề xuất nhiều giải pháp cho một vấn đề 56
2.3.4 Bồi dưỡng năng lực tự học thông qua làm việc ở nhà 60
2.4 Môṭsốgiáo án cósư c̣lưạ choṇ , phối hơpc̣ các hinh̀ thức tổchức day học nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh 60
2.4.1 Bài 51 : Dẫn xuất halogen của hiđrocacbon (tiết 80, tiết 81) 61
2.4.2 Bài 52: Luyện tập dẫn xuất halogen 66
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 74
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 74
3.1.1 Mục đích 74
3.1.2 Nhiệm vụ 74
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 74
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 75
3.2.2 Nội dung của thực nghiệm sư phạm 75
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 75
3.4 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 75
3.4.1 Phân tích định tính kết quả thực nghiệm 75
3.4.2 Phân tích định lượng kết quả thực nghiệm 76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
1 Kết luận 90
2 Khuyến nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 95
6
Trang 7MỞ ĐẦU
Trong điều kiện của xã hội hiện đại, khi mà khoa học và công nghệ pháttriển mạnh mẽ, sự bùng nổ của cách mạng thông tin đã ảnh hưởng sâu sắc đếngiáo dục nói chung và quá trình dạy học nói riêng Giáo dục ý thức tự học, tựhọc thường xuyên, có kế hoạch và có phương pháp đúng đắn, khoa học chohọc sinh là một nhiệm vụ bắt buộc và trách nhiệm nặng nề của người thầy.Người thầy cần bồi dưỡng cho học sinh khả năng tự học, một khả năng luôntiềm tàng trong mỗi người nhưng đa số học sinh của chúng ta hiện nay chưabiết sử dụng để đáp ứng được yêu cầu cao của sự phát triển xã hội
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
tư duy sáng tạo của người học: bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả
phải đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học nhằm nâng caochất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước
Để góp phần đổi mới phương pháp tự học cho học sinh thì nhiệm vụ đặt
ra cho giáo viên là phải có năng lực hướng dẫn học sinh tự học, biết thu thập
và xử lý thông tin để tự biến đổi mình Qua thực tế dạy học cho thấy trình độtiếp cận những kiến thức mới của giáo viên và học sinh còn hạn chế, khả năng
tự học của học sinh chưa tốt, giáo viên chưa có phương pháp bồi dưỡng hợp
lý Hệ thống bài tập phục vụ cho việc tự học, tự mở rộng kiến thức cho họcsinh tuy đa dạng nhưng chưa khoa học, chưa sát với nội dung chương trình
Trong dạy học Hóa học, do thời gian dạy học môn hoá học trên lớp cònhạn hẹp, thời gian ôn tập, hệ thống hoá lý thuyết và giải bài tập chưa đượcnhiều, không phải học sinh nào cũng đủ thời gian để thấu hiểu, ghi nhớ và vậndụng những kiến thức mà giáo viên truyền thụ ở trên lớp Vì vậy việc tự học ởnhà của học sinh là rất quan trọng và cần thiết
Xuất phát từ những nhu cầu và thực trạng trên tôi quyết định chọn đề tài:
“Bồi dƣỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học phần dẫn xuất
hiđrocacbon Hóa học lớp 11 nâng cao” Thực tế đây chỉ là phần áp dụng có
Trang 8tính minh họa đối với một phần nội dung SGK Với mong muốn giúp học sinh
ởlớp 11 tự học, tự rèn luyện, tự đánh giá trình độ bản thân và phục vụ cho các
kì thi Mặt khác, giúp giáo viên đáp ứng mục tiêu giáo dục và đổi mới phươngpháp dạy học hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận và thực tiễn về bồi dưỡng năng lực tự học, xây dựngmột số biện pháp và hình thức tổ chức dạy học, thiết kế một số bài dạy học tựhọc Hoá học, thử nghiệm trong phần dẫn xuất hiđrocacbon Hóa học lớp 11nâng cao nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh góp phần đổi mớiphương pháp dạy học (PPDH) hóa học ở trường THPT
3 Nhiêṃ vu C̣nghiên cƣƣ́u
- Nghiên cứu cơ sởliluâṇ và thực tiễn của việc bồi dưỡng năng lực
tự học
- Tìm hiểu thực trạng về tự học Hóa học trong trường THPT
- Xây dựng một số biện pháp trong dạy học phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học lớp 11 nâng cao nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
- Thiết kế một số bài dạy học tự học Hóa học lớp 11 nâng cao
- Vận dụng các phương pháp bồi dưỡng năng lực tự học để bồi dưỡng năng lực tự học Hóa học cho học sinh THPT
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của các phương pháp đã
đề xuất
- Đối tượng nghiên cứu : Khả năng tự học môn Hóa có vận dụng các biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh ở trường THPT
- Khách thể nghiên cứu : Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT
- Nội dung : Nghiên cứu khả năng vận dụng các biện pháp và hình thức
tổ chức dạy học bồi dưỡng năng lực tự học trong dạy học phần dẫn xuấthiđrocacbon Hóa học lớp 11 nâng cao
- Địa bàn: 2 trường THPT tại TP.Hà Nội
- Thời gian : Từ 7/2012 đến 11/2012
Trang 98
Trang 106 Giả thuyết khoa học
Xây dựng được một số biện pháp dạy học trong dạy học Hóa học có tácdụng bồi dưỡng năng lực tự học và vận dụng vào dạy học để học sinh có thể nắmchắc, vận dụng tốt một lượng kiến thức lớn mà không cần tăng thời gian đến lớp,đồng thời có thể nâng cao tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập
- Biên soạn một số giáo án dạy tự học Hóa học lớp 11 nâng cao phầndẫn xuất hiđrocacbon có hướng dẫn và kiểm tra - đánh giá của giáo viên chohọc sinh THPT
- Là tài liệu tham khảo cho giáo viên (GV) và học sinh (HS) trong quá trình học hóa học ở trường THPT
8.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Đọc và nghiên cứu các tài liệu về tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạy học hóa học và các tài liệu liên quan đến đề tài
- Truy cập thông tin liên quan đến đề tài trên internet
- Phân tích và tổng hợp các tài liệu đã thu thập được
8.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bằng các phiếu câu hỏi
Trang 119 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo luận vănđược trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về bồi dưỡng
Chương 2 Một số biện pháp nhằm bồi dưỡng năng lực tự học qua dạy học phần dẫn xuất hidrocacbon Hóa học lớp 11 nâng cao
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞLÍLUÂṆ VÀTHỰC TIỄN VỀ BỒI DƯỠNG NĂNG LƯCC̣
TƯC̣HOCC̣
1.1 Tổng quan vềvấn đềnghiên cưứu
Vấn đề tự học của HS – SV đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu quantâm ở nhiều góc độ khác nhau
1.1.1 Quan niệm về tự học trên thế giới
Vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử giáo dục ởtrên thế giới Nó vẫn còn là vấn đề nóng bỏng cho các nhà nghiên cứu giáodục hiện tại và tương lai bởi vì tự học có vai trò rất quan trọng, quyết địnhmọi sự thành công trong học tập, là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả, chấtlượng của mọi quá trình giáo dục, đào tạo
Rubakin trong “Tự học như thế nào” giúp bạn đọc biết tự học tập, nângcao kiến thức toàn diện của mình [24] Gần đây, khá nhiều cuốn sách cũng đềcập đến vấn đề tự học
Cuốn “Phương pháp dạy và học hiệu quả” – Cark Rogers – một nhàgiáo dục học, nhà tâm lý học người Mỹ do Cao Đình Quát dịch đã giải đápcho HS câu hỏi học cái gì và học như thế nào? Câu hỏi dạy cái gì và dạy nhưthế nào cũng được giải đáp [23]
“Hiểu biết là sức mạnh của thành công” do Klas Mellander chủ biên,các tác giả đã đề cập đến bí ẩn của việc học, trong đó nhấn mạnh vai trò của tựhọc, hướng dẫn 5 bước cần thực hiện để giúp chúng ta dễ dàng hơn trong quátrình học hỏi [20]
Năm 2008, cuốn “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế !” của Adam Khoo chứngminh rằng được khả năng trí tuệ tìềm ẩn và sự thông minh sáng tạo của conngười vượt xa hơn những gì chúng ta nghĩ và thường được nghe tới [17]
1.1.2 Quan niệm về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam
Ở nước ta, tự học đã có từ thời phong kiến Truyền thống tự học là một
bộ phận trong truyền thống hiếu học của nhân dân ta Vấn đề tự học được phát
11
Trang 13động, nghiên cứu nghiêm túc và rộng rãi từ năm 1945, mà Chủ tịch Hồ chíMinh vừa là người khởi xướng vừa là tấm gương để mọi người noi theo.Người từng nói “còn sống thì còn học” và “về cách học phải lấy tự học làmcốt” Sau đó, truyền thống tự học vẫn tiếp tục phát huy nhưng vẫn là khả năng
tự học tự phát vì hồi đó chưa có chủ trương, chính sách chăm lo việc tự học,thầy giáo cũng không có trách nhiệm khơi dậy và phát triển năng lực tự họccủa HS Nhưng thực tiễn chứng minh rằng khả năng tự học tiềm tàng là rất dồidào và nội lực cố gắng tìm học, tự học là nội lực quyết định đối với sự nghiệpgiáo dục
Cốthủtướng Phạm Văn Đồng, một trong những học trò xuất sắc củaChủ tịch Hồ Chí Minh, đã tiếp nhận, thể hiện và làm phong phú tư tưởng, sựnghiệp giáo dục của Người trong lí luận và thực tiễn Đồng chí chỉ rõ:
“phương pháp giáo dục không phải chỉ là những kinh nghiệm, thủ thuật trong
truyền thụ và tiếp thu kiến thức mà còn là con đường để người học có thể tự học, tự nghiên cứu chứ không phải là bắt buộc trí nhớ làm việc một cách máy
GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước
ta Từ một GV trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên cứuông đã trở thành nhà toán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học cơbản, ông còn có nhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tựhọc Ông cho rằng “học bao giờ cũng gắn liền với tự học, tự rèn luyện, coitrọng việc tự học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài”
Nhiều công trình nghiên cứu về quá trình tự học và hướng dẫn tự họccũng chỉ ra tính cấp thiết, cơ sở khoa học và tính khả thi của hình thức tổ chứcđào tạo tự học có hướng dẫn Nhưng bàn đến tự học môn Hóa học thì mới chỉ
có rất ít tác giả đề cập đến
Như vậy, vấn đề tự học đã được đề cập, nghiên cứu từ lâu trong lịch sửgiáo dục Hoạt động tự học của người học đã được quan tâm nghiên cứu sâu
Trang 14sắc Việc tự học là điều rất cần thiết không phải chỉ ở mỗi cá nhân mà còn liênquan đến chiến lược phát triển chung của đất nước.
1.1.3 Quan điểm và tư tưởng về tự học đối với môn hóa học
Theo GS.TS.Trịnh Văn Biều, học không chỉ là quá trình ghi nhận, thuthập thông tin Học là hiểu, ghi nhớ, liên hệ và vận dụng Nhờ liên hệ và vậndụng HS sẽ hiểu bài sâu sắc hơn, nhớ bài lâu hơn Trong thực tế một người cóthể học theo nhiều kiểu khác nhau nhưng dưới hình thức nào thì tự học cũng làcốt lõi của quá trình học Tự học đóng một vai trò quan trọng trong quá trìnhtiếp thu tri thức và hoàn thiện nhân cách của con người
Hóa học là một môn học có những đặc trưng riêng nên đòi hỏi ngườihọc phải có tư duy thích hợp, đó là năng lực quan sát, phân tích các hiện tượng
TN, năng lực khái quát, tổng hợp thành quy luật và phải có phong cách họctập độc lập sáng tạo
Đã có một số luận văn thạc sĩ khoa học bước đầu nghiên cứu về tự học
và bồi dưỡng năng lực tự học nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về bồidưỡng năng lực tự học cho học sinh phần dẫn xuất hidrocacbon hóa học lớp 11nâng cao
Như vậy, nội dung về xây dựng các biện pháp bồi dưỡng năng lực tự
học phần dẫn xuất hiđrocacbon (hợp chất hữu cơ có nhóm chức) Hóa học lớp
11 nâng cao trường THPT vẫn chưa được quan tâm đúng mức Do đó, bồidưỡng năng lực tự học cho HS phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học lớp 11nâng cao là cần thiết
1.2 Cơ sởlýluâṇ vềbồi dƣỡng năng lƣcC̣ tƣ C̣hocC̣
1.2.1 Tự học
1.2.1.1 Khái niệm về tự học
Trong quá trình dạy học ở nước ta hiện nay, tự học của người học đang làvấn đề đặc biệt được quan tâm Để học được suốt đời thì phải có khả năng tự học.Khả năng này cần được rèn luyện ngay trong khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tự học :
13
Trang 15Hồ Chủ Tịch đã nói: “Tự học là một cách hành động”, tức là: Học tập
một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giaonhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch ra kế hoạch học tập cho mình, rồi tựmình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thờigian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình [16]
Theo từ điển Giáo dục học-NXB từ điển Bách khoa 2001: “Tự học làquá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năngthực hành…”
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn đào tạo, GS.TSKH NguyễnCảnh Toàn - một tấm gương lớn về tự học - cho rằng: “Tự học là tự mình độngnão, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổnghợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chấtcủa mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (nhưtrung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì,nhẫn nại, lòng say mê khoa học,…), để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào
đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [32]
Còn theo cố GS Nguyễn Văn Đạo (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã cómột vài suy nghĩ chung về vấn đề tự học: “Tự học là công việc suốt cả cuộcđời mỗi người Số thời gian dành cho việc học với sự giúp đỡ của người thầy
là rất ít, chỉ chiếm khoảng 1/4 của một đời người Thời gian còn lại chủ yếu làdành cho việc tự học, cho lao động sáng tạo Ngay cả trong giai đoạn đi học,việc tự học luôn luôn có vai trò đặc biệt quan trọng Những người biết tự học,năng động, sáng tạo trong quá trình đi học là những người có triển vọng vàtiến xa trong cuộc đời này” [13]
Như vậy, tự học là một bộ phận của học, nó cũng được hình thành bởinhững thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thốngtương tác của hoạt động dạy học Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc vềhọc tập của người học, phản ánh tính tự giác và nỗ lực của người học, phản
Trang 16ánh năng lực tổ chức và điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhấtđịnh trong hoàn cảnh nhất định với những nội dung học tập nhất định.
Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi con người trongquá trình học hỏi thường xuyên của cả cuộc đời Quá trình tự học diễn ra đúngqui luật của hoạt động nhận thức Kiến thức tự học là kết quả của hứng thú,của tìm tòi, của lựa chọn, của định hướng ứng dụng Kiến thức tự học bao giờcũng vững chắc, bền lâu, thiết thực và nhiều sáng tạo Tự học xét cho kĩ là mộtvấn đề then chốt của Giáo dục và Đào tạo, đồng thời cũng là một vấn đề có ýnghĩa văn hoá, khoa học, xã hội và chính trị sâu sắc Đề cao tự học trong bốicảnh hiện nay của đất nước và thế giới là một cách nhìn vừa thực tế, vừa có ýnghĩa chiến lược
Như vậy, có thể nói là con người ai cũng phải học, khi nói đến học thìđiều đương nhiên là phải tự học, chính là cách học với sự tự giác, tính tích cực
và độc lập cao của từng cá nhân Chính hoạt động tự học tạo cơ hội cho ngườihọc phát huy được trí tuệ, tư duy đồng thời giúp HS có lòng ham học Kết quả
tự học cao hay thấp còn phụ thuộc vào năng lực của mỗi cá nhân, khả năng tựhọc tiềm ẩn trong mỗi con người
1.2.1.2 Các hình thức tự học
Theo tài liệu Lí luận dạy học hóa học, tự học có 3 hình thức:
hiểu, vận dụng các kiến thức trong đó Cách học này sẽ đem lại rất nhiều khókhăn cho người học, mất nhiều thời gian và đòi hỏi khả năng tự học rất cao
hoặc bằng các phương tiện thông tin khác
tiết trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học
1.2.1.3 Chu trình tự học của học sinh
- Giai đoạn 1: Tự nghiên cứu
15
Trang 17- Giai đoạn 2: Tự thể hiện
- Giai đoạn 3: Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sơ đồ 1.1 Chu trình tự học Chu trình tự học
Giai đoạn 1: Tự nghiên cứu
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, địnhhướng, giải quyết vấn đề tự tìm ra kiến thức mới (chỉ đối với người học) vàtạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân
Giai đoạn 2: Tự thể hiện
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trongcác tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân banđầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với cácbạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính xã hội của cộng đồng lớp học
Giai đoạn 3: Tự kiểm tra, tự điều chỉnh.
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy,sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầucủa mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)
Chu trình tự nghiên cứu-tự thể hiện-tự kiểm tra, tự điều chỉnh “thựcchất cũng là con đường phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyếtvấn đề của nghiên cứu khoa học
1.2.1.4 Vai trò của tự học
Trang 18Tự học có vai trò và ý nghĩa rất lớn, không chỉ trong giáo dục nhàtrường mà nó còn có ý nghĩa cả trong cuộc sống Trong nhà trường, bản chấtcủa sự học là tự học Do đó mà kết quả học tập của HS tỷ lệ thuận với NLTHcủa họ Ngoài ra, tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện khả nănghoạt động độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó tạo tiền đề và cơ hộicho họ học tập suốt đời.
Theo V.P Xtơrôricôrin (1981), tổ chức tự học cho HS có những vai trò sau:
- Nâng cao tính tự giác và tính vững chắc trong việc nắm kiến thức của HS.
- Rèn cho HS kĩ năng, kĩ xảo được quy định trong chương trình của mỗi
bộ môn, phù hợp với mục đích của nhà trường
- Dạy cho HS biết cách áp dụng các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đã thu nhậnđược vào cuộc sống và lao động công ích
- Phát triển khả năng nhận thức của HS (tính quan sát, tính ham hiểu biết, khả năng tư duy logic, tích cực sáng tạo)
- Luyện cho HS khả năng lao động có kết quả, biết say mê vươn tới mục đích đặt ra
- Chuẩn bị cho HS để các em có thể tiếp tục tự học một cách có kết quả
- Tự học là biện pháp tối ưu nhất làm tăng độ bền kiến thức ở mỗi HS
1.2.2 Năng lực tự học
1.2.2.1 Khái niệm năng lực tự học
Ta đã biết học có nghĩa là tự học, có hai cách học cơ bản
Một là: Cách học có phần bị động, từ ngoài áp vào dựa theo mô hình Pavlốp
Hai là: Cách học chủ động, tự bản thân mình tìm ra kiến thức theo mô hình Skinner
Về cách tự học thì mỗi người một vẻ tuỳ theo tư chất, điều kiện và hoàncảnh cụ thể
Như vậy ta thấy rõ: NLTH luôn tiềm ẩn trong mỗi con người Vậy NLTH chính là nội lực phát triển của bản thân mỗi người học
Trang 1917
Trang 20Tiếp xúc với các nguồn kiến thức khác nhau, HS cần có kĩ năng hànhđộng tương ứng Khi HS biết cách tổ chức, thu thập, xử lí thông tin, tự kiểmtra, tự điều chỉnh khi làm việc với các nguồn tri thức nghĩa là đã nắm đượcphương pháp học để học trên lớp và tự học Hoạt động học được hiểu là baogồm một số hành động học Muốn thực hiện hoạt động học cần biết lựa chọncác hành động học có mục đích phù hợp, đáp ứng mục đích chung của hoạtđộng học, biết sắp xếp trình tự các hành động học một cách hợp lí, biết thựchiện các hành động học có kết quả Người nào biết lựa chọn, sắp xếp và thựchiện đúng các hành động theo đúng qui trình để đạt tới mục đích hoạt động thìngười đó biết phương pháp học.
Theo Nguyễn Kì, trong bất cứ con người Việt Nam nào trừ những người
bị khuyết tật, tâm thần - đều tiềm ẩn một tiềm lực, một tài nguyên quốc gia vôcùng quí giá đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề thựctiễn, tự đổi mới, tự sáng tạo trong công việc hàng ngày gọi chung là NLTHsáng tạo [18]
“Năng lực tự học là tổng thể các năng lực cá thể, năng lực chuyên môn,năng lực phương pháp và năng lực xã hội của người học tác động đến nộidung học trong những tình huống cụ thể nhằm đạt mục tiêu (bằng khả năng trítuệ và vật chất, thái độ, động cơ, ý chí v.v của người học) chiếm lĩnh tri thức
kĩ năng” 1.2.2.2 Các biểu hiện của năng lực tự học của học sinh
Năng lực tự học của học sinh là khả năng độc lập thực hiện hoạt độnghọc tập, nghiên cứu, đồng hóa các tri thức học tập từ môi trường thành củachính mình với chất lượng cao Các biểu hiện năng lực tự học của học sinhbao gồm:
a Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Năng lực này đòi hỏi học sinh phải quan sát, phân tích, tổng hợp, sosánh, suy luận, khái quát hóa các tài liệu Hóa học, kiến thức Hóa học, suy xét
từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những tri thức, kinh nghiệm cá nhân;phát hiện ra các khó khăn, thách thức, mâu thuẫn, các điểm chưa hoàn chỉnh
18
Trang 21cần giải quyết, cần bổ sung và phát hiện các bế tắc, nghịch lí cần khai thông,làm sáng tỏ, Việc thường xuyên rèn luyện năng lực này tạo cho học sinh thóiquen hoạt động trí tuệ, luôn luôn tích cực khám phá, tìm tòi ở mọi nơi, mọilúc, mọi trường hợp và nhiều đối tượng khác nhau.
b Năng lực giải quyết vấn đề
Hoạt động học tập được tiến hành trong những tình huống giáo dụchoặc học tập, cần được kế hoạch hóa trong chương trình, trong đơn vị dạy họcứng với mục tiêu xác định Việc giải quyết vấn đề không phải giải quyết từngbài tập lẻ tẻ, mà tiến hành giải quyết những tình huống học tập ứng với mụctiêu xác định, một hệ thống kỹ năng, thái độ rõ ràng Mỗi quá trình giải quyếtvấn đề đều sử dụng những thao tác trí tuệ và hướng đến những mục tiêu nhấtđịnh Những mục tiêu này đều có thể chia được thành những mục tiêu thànhphần Giải quyết vấn đề chính là quá trình thực hiện các thao tác trí tuệ đểchiếm lĩnh những mục tiêu thành phần và từ đó chiếm lĩnh mục tiêu cuối
cùng c Năng lực tư duy quyết định đúng (kiến thức, cách thức, con đường,
giải pháp ) từ quá trình phát hiện vấn đề và quá trình giải quyết vấn đề
Quyết định bắt nguồn ở vấn đề, có vấn đề mới cần đến quyết định Giảiquyết vấn đề là mục đích, nhưng giải quyết vấn đề đến mức độ nào lại là vấn
đề mục tiêu Do đó bước thứ hai của tư duy quyết định đúng là xác định mộtmục tiêu thích hợp Xác định mục tiêu để giả quyết vấn đề xong thì vạchphương án ra quyết định thích hợp, cần phải có nhiều phương án giải quyết đểlựa chọn Đây là năng lực quan trọng cần cho học sinh đạt đến những kết luậnđúng của quá trình giải quyết vấn đề Năng lực đó bao gồm các kĩ năng khẳngđịnh hay bác bỏ giả thuyết, kĩ năng lựa chon, hình thành kết quả và đề xuấtvấn đề mới hoặc áp dụng
d Năng lực vận dụng phương pháp tư duy biện chứng, tư duy logic vào việc phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề và quyết định đúng, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Trang 22Quá trình học tập của học sinh là quá trình rèn luyện tư duy biện chứngtrong phát hiện vấn đề (phát hiện mâu thuẫn, các mối quan hệ, đưa ra nhữngcon đường khác nhau để đi đến mục tiêu ), vận dụng tư duy logic trong việcgiải quyết vấn đề (như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, cụthể hóa, đặc biệt hóa, suy luận )
e Năng lực đánh giá và tự đánh giá
Dạy học đề cao vai trò tự chủ của học sinh đòi hỏi phải tạo điều kiện,
cơ hội và khuyến khích, bắt buộc học sinh đánh giá và tự đánh giá Chỉ có nhưvậy, họ mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn luôn tìm tòi, sáng tạocái mới, cái hợp lý, cái có hiệu quả cao hơn
Theo tác giả Vũ Quốc Chung, [8] sự đánh giá trong thang nhận thức cóthể hiểu là: người học ra những quyết định hay đưa ra những nhận định, kếtluận, phán xét, lựa chọn, liên quan tới tính chính xác, tính chân lý, sự xácđáng đúng đắn, tính tương hợp, sự mong muốn phù hợp với những tiêu chuẩn,với những ý tưởng, với những mục tiêu đã được chuẩn hóa nhằm đáp ứng mụcđích của vấn đề đang được đặt ra Một đề thi, một đề kiểm tra cũng nhằm đánhgiá và đo đếm mức thang nhận thức của thí sinh Chuẩn mực của các đề thi và
đề kiểm tra là đáp án của đề thi hoặc đề kiểm tra đó Công cụ để đánh giá cácmức thang nhận thức là biểu điểm, thang điểm, là đánh giá nhận xét của ngườichấm Mỗi một chương mục trong giáo trình có rất nhiều kiến thức (câu hỏi vàbài tập) được đưa ra để đánh giá và đo đếm mức độ nắm vững các kiến thứctrong chương mục đó Các bài tập có thể yêu cầu người học phải hiểu, phảingoại suy, phải phân tích, phải tổng hợp, phải ứng dụng Nếu người học trả lờiđúng các bài tập của chương mục đó có nghĩa rằng người học đã đưa ra đượcnhững quyết định, phán xét, lựa chọn, gải pháp, đúng đắn, phù hợp và đãnắm vững chương mục đó
1.2.2.3 Vai trò của năng lực tự học
NLTH sáng tạo đã làm nên biết bao nhà quân sự, chính trị, khoa học vàvăn hoá lỗi lạc của đất nước, của thế giới
20
Trang 23Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, danh nhân văn hoákiệt xuất của thế giới chính là tấm gương lớn của NLTH sáng tạo.
+ Tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử
lí thông tin từ môi trường xung quanh mình
+ Tự học, tự nghiên cứu, tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của
chính mình, cá nhân hoá việc học, đồng thời hợp tác với các bạn trong cộngđồng lớp học dưới sự hướng dẫn của GV - xã hội hoá lớp học
1.2.2.4 Những biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
Thực chất của việc bồi dưỡng năng lực tự học là hình thành và pháttriển năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề, năng lực giải quyết vấn
đề, năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, giải pháp,biện pháp ) từ quá trình giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức vàothực tiễn hoặc vào nhận thức kiến thức mới, năng lực đánh giá và tự đánh giá
Để có thể bồi dưỡng và phát triển năng lực tự học cho học sinh thì bản thâncác em phải có ý chí quyết tâm cao độ, luôn tìm tòi phương pháp học tập tốtcho mình, phải học bằng chính sức mình, nghĩ bằng cái đầu mình, nói bằng lờinói của mình, viết theo ý mình, không rập khuôn theo câu chữ của thầy, rènluyện khả năng độc lập suy nghĩ, suy luận đúng đắn và linh hoạt sáng tạothông qua những câu hỏi và bài toán
Muốn rèn được năng lực tự học thì trước hết và quan trọng nhất là phảirèn luyện cho các em năng lực tư duy độc lập Bởi lẽ, việc rèn cho học sinh cóthói quen tư duy (suy nghĩ và hành động) độc lập, sẽ dẫn đến tư duy phê phán,khả năng phát hiện, giải quyết vấn đề rồi đến tư duy sáng tạo Rõ ràng, độc lập
là tiền đề cho sự tự học
Trang 24Biểu hiện của “độc lập”:
- Không có sự viện trợ trực tiếp từ bên ngoài;
- Tự mình nhìn thấy vấn đề, phát hiện vấn đề, đặt vấn đề để giải quyết;
- Tự mình tìm ra cách giải quyết bài toán, tự mình kiểm tra được,đánh
giá được cách giải của bản thân;
- Có đầu óc tự phê phán và phê phán được cách giải của người khác
- Bằng sự hiểu biết tự mình trình bày suy nghĩ, lập luận cách giải bài toán một cách chặt chẽ
Như vậy, để rèn được tư duy độc lập cho học sinh thì phải tạo điều kiện
để học sinh suy nghĩ độc lập Giáo viên nêu câu hỏi, nêu vấn đề để học sinhnghiên cứu đề xuất cách giải quyết, ra kết luận Giáo viên quan tâm chỉ đạocông tác độc lập của học sinh, nhất là bài tập ở nhà; khuyến khích nhận xétcách giải của bạn giúp học sinh biết phương pháp suy nghĩ độc lập và thựchiện hành động độc lập; tái hiện kiến thức trước khi làm bài tập vận dụng; yêucầu học sinh tự ra đề của bài tập; cho giải bài tập nâng cao dần nội dung củabài tập tính toán; ra bài tập nhỏ áp dụng vào tình huống mới, gây cho học sinhhứng thú suy nghĩ độc lập; hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa và tựhọc; khuyến khích học sinh sưu tầm các hiện tượng trong thực tế và bài tậpmới Giáo viên phải có kế hoạch kiểm tra, đánh giá đúng mức suy nghĩ vàhành động độc lập của học sinh
Ngoài ra, để bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh một cách toàn diệnhơn, chúng ta cần phối hợp một số biện pháp cụ thể sau:
* Đối với giáo viên
- Tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn, năng lực nhận thức của bản thân
để có kinh nghiệm thực tiễn trong việc hướng dẫn học sinh cách tự học
- Giảm tỉ lệ thuyết trình trên lớp của giáo viên, dành thời gian thíchđáng cho học sinh tự học, tự nghiên cứu, xemina, thảo luận, giải đáp thắc mắc
- Tăng cường biên soạn giáo án theo hướng phát triển năng lực tự lựcnhận thức cho học sinh, đáp ứng yêu cầu về tài liệu tham khảo và trang bị đầy
Trang 2522
Trang 26đủ các phương tiện dạy học cần thiết Tổ chức phong trào thiết kế, xây dựng các bài tập trong tổ chuyên môn.
- Tăng cường tìm kiếm và xây dựng các dạng bài tập, các hình thức ôn tập và tự ôn tập kiến thức qua các kênh thông tin
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
- Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học nhằm tăng hiệu quả giờ học
* Đối với học sinh
- Cần xác định thái độ học tập đúng đắn
- Bồi dưỡng cho học sinh phương pháp, kĩ năng tự học, tự nghiêncứu
- Xây dựng kế hoạch và thời gian biểu tự học và nghiêm túc thực hiện
kế hoạch, thời gian biểu
- Bồi dưỡng phương pháp đọc sách, phương pháp nghe bài giảnghoặc
1.2.3.1 Khái niệm bài tập hóa học
Thực tiễn ở trường phổ thông, bài tập giữ vai trò rất quan trọng trong việcthực hiện mục tiêu đào tạo Bài tập vừa là mục đích, vừa là nội dung, vừa làphương pháp dạy học hiệu quả Bài tập cung cấp cho HS cả kiến thức, con đườnggiành lấy kiến thức và cả niềm vui sướng của sự phát hiện - tìm ra đáp số - mộttrạng thái hưng phấn - hứng thú nhận thức - một yếu tố tâm lý góp phần rất quantrọng trong việc nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thực tiễn của con người,điều này đặc biệt được chú ý trong nhà trường của các nước phát triển
Trang 2723
Trang 28Vậy BTHH là gì? Nên hiểu khái niệm này như thế nào cho trọn vẹn,đặc biệt là GV nên sử dụng BTHH như thế nào để đạt hiệu quả trí - đức dụccao nhất?.
Khái niệm BTHH
Theo từ điển tiếng việt, bài tập là yêu cầu của chương trình cho HS làm
để vận dụng những điều đã học và cần giải quyết vấn đề bằng phương phápkhoa học Một số tài liệu lý luận dạy học “thường dùng bài toán hoá học” đểchỉ những bài tập định lượng - đó là những bài tập có tính toán - khi HS cầnthực hiện những phép tính nhất định
Về mặt lý luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của BTHH trongquá trình dạy học người GV phải sử dụng và hiểu nó theo quan điểm hệ thống
và lý thuyết hoạt động Một HS lớp 1 không thể xem bài tập lớp 11 là một ”bàitập” và ngược lại, đối với HS lớp 11, bài toán lớp 1 không còn là “bài tập”nữa! Bài tập chỉ có thể là “bài tập” khi nó trở thành đối tượng hoạt động củachủ thể, khi có một người nào đó có nhu cầu chọn nó làm đối tượng, mongmuốn giải nó, tức là khi có một “người giải” Vì vậy, bài tập và người học cómối quan hệ mật thiết tạo thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất, và liên hệchặt chẽ với nhau
a) Bài tập - đối tượng
Trang 29Những yêu cầu Phương tiện giải
Sơ đồ 1.2 Cấu trúc của hệ bài tập
Thông thường trong SGK và tài liệu lý luận dạy học bộ môn, người tahiểu bài tập là nhưng bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mụcđích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng hoá học, hình thành khái niệm, pháttriển tư duy hoá học và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức của HS vào thựctiễn
Theo chúng tôi, thuật ngữ “BTHH” chung hơn khái niệm “bài toán hóahọc” và bao hàm cả khái niệm bài toán hóa học và có thể coi BTHH là nhữngvấn đề học tập được giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán vàthí nghiệm hóa học trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phươngpháp hóa học
1.2.3.2 Vai trò của bài tập hóa học trong việc bồi dưỡng năng lực tự học
Bài tập có vai trò quan trọng trong môn Hóa học Thông qua việc giảibài tập, học sinh phải thực hiện những hoạt động nhất định, những hoạt độngHóa học phức hợp, những hoạt động trí tuệ phổ biến trong Hóa học Hoạtđộng của học sinh liên hệ mật thiết với mục tiêu, nội dung và phương pháp, vìvậy vai trò của bài tập Hóa học được thể hiện trên cả ba bình diện :
Thứ nhất, trên bình diện mục tiêu dạy học:
- Hình thành, củng cố tri thức kĩ năng, kĩ xảo ở những khâu khác nhau của quá trình dạy học, kể cả những ứng dụng của Hóa học vào thực tiễn đời sống
- Phát triển năng lực trí tuệ: rèn luyện những hoạt động tư duy, hình thành những phẩm chất trí tuệ
Trang 30- Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng, hình thành những phẩm chất đạo đức của người lao động mới.
Thứ hai, trên bình diện nội dung dạy học, bài tập hóa học là mộtphương tiện cài đặt nội dung để hoàn chỉnh hay bổ sung cho những tri thứcnào đó đã được trình bày trong phần lý thuyết
Thứ ba, trên bình diện phương pháp dạy học, bài tập hóa học là hoạtđộng để người học kiến tạo những tri thức nhất định và trên cơ sở đó thực hiệncác mục tiêu dạy học khác nhau Khai thác tốt những bài tập như vậy sẽ gópphần tổ chức cho học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác,tích cực, chủ động và sáng tạo được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu
Bài tập là một hình thức tốt để dẫn dắt học sinh tự mình đi đến kiếnthức mới Theo GS TSKH Nguyễn Cảnh Toàn: “Cái thu hoạch chính đối vớihọc sinh không phải là những kiến thức mới (đối với họ) đó vì kiến thức mới
do học sinh tự tìm ra, hoặc là rất thứ yếu, hoặc nếu có một tầm quan trong nào
đó thì khi lên các lớp trên họ sẽ được học kĩ hơn, hệ thống hơn, mà cái đángquý là qua lao động tìm tòi, sáng tạo, họ nhuyễn dần với một kiểu tư duy màlâu nay nhà trường ít dạy cho họ và cùng với sự nhuyễn dần đó là lòng tin vàokhả năng sáng tạo của mình, lòng ham muốn tìm tòi, phát minh” [27]
Như vậy thông qua việc giải các bài tập, học sinh được rèn luyện các kĩnăng kĩ xảo; rèn luyện các thao tác tư duy; nâng cao khả năng tự phân tích, tựtổng hợp và tự đánh giá một vấn đề Cũng thông qua việc giải một hệ thốngcác bài tập về một chủ đề nào đó sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc trước hết vềchủ đề đó, tiếp đến là hiểu rõ phần nào bản chất của nội dung đang đượcnghiên cứu, tìm hiểu Từ đó giúp cho học sinh có hứng thú trong học tập, pháttriển tư duy sáng tạo và góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho bản thân
1.3 Cơ sởthƣcC̣ tiêñ vềbồi dƣỡng năng lƣcC̣ tƣ C̣hocC̣
1.3.1 Thực trạng tự học của HS ở trường THPT trên địa bàn Hà Nội
Địa bàn: 2 trường THPT tại TP.Hà Nội
26
Trang 31Để điều tra về tình hình tự học của bản thân học sinh chúng tôi đã
sử dụng một số câu hỏi và thu được kết quả sau:
1 Em có yêu thích bộ môn Hoá học hay không ?
TT1
23
2 Trong quá trình học tập em có thường xuyên tự học hay không ?
3 Thời gian dành cho việc tự học ở nhà
- Ít hơn 2 giờ/ngày : 125 HS (61,9%)
- Từ 2 giờ đến 3 giờ/ ngày: 39 HS (19,3%)
- Từ 3 giờ trở lên/ ngày : 36 HS (17,8%)
- Không tự học : 2 HS ( 1%)
4 Biện pháp tự học của em trong quá trình học tập
2 Nghe giảng, thông hiểu, ghi chép
4 Học thuộc lý thuyết để vận dụng làm bài tập
5 Tự tham khảo SGK , tài liệu nâng cao và làm bài tập
Trang 32TT Để chuẩn bị cho bài học môn Hoá:
1 Nghiên cứu trước bài học theo nội dung hướng dẫn
Của thầy (cô)
2 Tự đọc trước nội dung bài học ngay cả khi không
có nội dung hướng dẫn
3 Tìm đọc thêm tài liệu có liên quan ngoài SGK
4 Học thuộc lòng bài cũ để chuẩn bị cho kiểm tra
(miệng, viết)
5 Tự đọc trước bài, tìm các mối liên quan giữa bài
cũ và bài mới
Qua kết quả khảo sát cho thấy, đa số HS đều có ý thức học tập, có
78,2% số HS yêu thích môn học, tuy nhiên % số lượng HS yêu thích môn học
cao không đồng nghĩa với việc % chất lượng học sẽ cao, vì phương pháp học
mới ảnh hưởng lớn tới kết quả học tập
Nhìn chung, học sinh đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau trong
quá trình học tập Phương pháp được xem là truyền thống vẫn còn rất phổ
biến: Học lý thuyết trong vở ghi (83,2%), nghe giảng, thông hiểu, ghi chép
(85,1%), học theo sách giáo khoa (79,2%), học thuộc lý thuyết để vận dụng
làm bài tập (75,2%) Một số phương pháp khác cũng được học sinh sử dụng
nhưng ở mức độ không nhiều ví dụ như : Tự tham khảo SGK, tài liệu nâng cao
và làm bài tập (28,2%), hay như phương pháp học thảo luận theo nhóm chỉ ở
mức độ thấp (10,9%)
Về việc chuẩn bị bài: nếu thầy (cô) giao nhiệm vụ cụ thể (nghiên cứu
trước bài mới ở nhà có hướng dẫn) thì phần nhiều HS có ý thức chuẩn bị bài,
nếu không có sự hướng dẫn cụ thể thì các em cũng cho qua tức là không chuẩn
bị gì hết Rất ít HS tìm sự liên quan giữa kiến thức của bài sắp học với các
kiến thức cũ Càng ít HS tìm đọc thêm tài liệu có liên quan ngoài SGK, thậm
chí còn có những trường hợp không chuẩn bị gì cả Ở đây chủ yếu là HS chỉ
chuẩn bị bài bằng cách học thuộc những nội dung ghi trong vở
Kết quả điều tra cũng phản ánh được nhận thức của HS về vai trò của tự
học Phần lớn các em đều khẳng định sự cần thiết của tự học (85,1%) Tuy
28
Trang 33nhiên từ nhận thức đến thực hiện đối với các em là khoảng cách khá xa Đánhgiá tình hình tự học của bản thân học sinh cho thấy rõ mức độ của tự học: tựhọc thường xuyên (23,3%), bình thường (50%), bên cạnh những học sinh có ýthức tự học tương đối tốt thì vẫn còn một số học sinh còn thiếu tích cực trongviệc tự học: chưa thường xuyên, thiếu tích cực (7,9%), có những HS cá biệtcòn không bao giờ tự học (chỉ học khi GV yêu cầu) (1%).
Việc bố trí thời gian tự học cũng chưa hợp lí, HS chủ yếu chỉ dành thờigian dưới 3 giờ trong một ngày để tự học trong đó số lượng HS dành dưới 2giờ/một ngày chiếm 61,9%, với thời gian đó HS khó có thể hoàn thành nhiệm
vụ học tập của mình
Như vậy, qua số liệu thu được cho thấy: HS ở một số trường THPT vẫnchưa chú ý đúng mực đến các phương pháp tự học, chưa phát huy được hếttính tích cực, tự lực trong quá trình học tập, chưa phát huy được khả năng độclập sáng tạo và năng lực có sẵn của bản thân để tìm tòi khám phá tri thức khoahọc Có thể nói, đây cũng là thực trạng chung của các trường THPT trên toànquốc, vì vậy, đây là một vấn đề đang được quan tâm trong giáo dục hiện nay
1.3.2 Thực trạng của việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh THPT
Nhận thức quyết định thái độ, hành vi và hoạt động của con người Vìthế, để việc bồi dưỡng và nâng cao năng lực cho học sinh thông qua dạy họcHóa học nói chung và dạy học Hóa học lớp 11 nói riêng đạt hiệu quả, giáoviên và học sinh phải có nhận thức đúng về vai trò của phương pháp này.Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu vấn đề này thông qua việc lấy ý kiến của giáoviên và học sinh, kết quả thu được như sau:
Bảng 1.1 Điều tra việc bồi dƣỡng năng lực tự học cho học sinh THPT
Trang 343 Cũng như bồi dưỡng các năng lực khác
4 Có hay không cũng được
5 Không cần thiết
Qua bảng số liệu trên ta thấy, hầu hết các giáo viên và học sinh đều có
nhận thức đúng đắn về vai trò của việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học
sinh 72,2% GV và 57,9% HS cho rằng phương pháp này giữ vai trò cần thiết;
22,2% GV và 27,2% HS cho rằng bồi dưỡng năng lực cho HS là rất cần thiết
Những số liệu này đã khẳng định được tầm quan trọng của việc bồi dưỡng
năng lực tự học cho HS
Ngoài việc điều tra bằng phiếu, chúng tôi còn tiến hành dự giờ ở một số
lớp và ở các GV khác nhau, kết quả dự giờ cho thấy:
- Đối với những tiết dạy mà GV chỉ áp dụng các phương pháp dạy học
truyền thống như: thuyết trình, nếu có đặt câu hỏi thì những câu hỏi đó rất dễ
để HS có thể trả lời, HS không cần phải suy nghĩ, tổng hợp các kiến thức để
trả lời, không dùng các thiết bị dạy học thì HS học tập một cách rất thụ động
và kết quả kiểm tra kiến thức cuối tiết học cũng không cao
- Đối với các tiết học mà GV sử dụng phương pháp dạy học tích
cực thì
giờ học rất sôi nổi, các em chủ động, tích cực tham gia vào bài giảng Kết quả
điều tra cuối tiết học cũng đạt kết quả cao
30
Trang 35TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong phần này tôi đã nghiên cứu tổng hợp cơ sở lý luận và cơ sở thựctiễn phục vụ cho việc tiến hành đề tài Trên thực tế ở các trường THPT, hoạtđộng hướng dẫn tự học chưa được quan tâm và tổ chức một cách có hiệu quả.Phương pháp được đánh giá cao nhưng hầu như không được thực hiện hoặcchỉ áp dụng một cách đơn lẻ, chưa tiến hành một cách triệt để theo quy trìnhcủa phương pháp Đứng trước thực trạng trên thì việc nghiên cứu, lựa chọncác phương pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh là phù hợp và cầnthiết
Trang 36CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC
QUA DẠY HỌC PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON HÓA HỌC LỚP
11 NÂNG CAO
2.1 Giới thiêụ vềchương trinhh̀ sách giáo khoa hoáhocC̣ lớp 11
2.1.1 Quan điểm xây dựng chương trình Hoá học nâng cao
Chương trình THPT nâng cao môn Hoá học được xây dựng trên những quan điểm sau:
1 Đảm bảo thực hiện mục tiêu môn Hoá học trường THPT
2 Đảm bảo tính phổ thông, nâng cao, tính khoa học, tính thực tiễn, tính hiện đại, tính khả thi
3 Đảm bảo tính đặc thù của môn Hoá học:
- Tăng cường thí nghiệm nghiên cứu, thí nghiệm chứng minh và thực
hành hoá học
- Chú ý đến PP nghiên cứu, hình thành các khái niệm, định luật lí thuyết
cơ bản của hoá học và việc hình thành kiến thức về cấu tạo chất cụ thể
4 Đảm bảo tính định hướng đổi mới PPDH hoá học theo hướng tích
Trang 3732
Trang 38- Đánh giá trình độ tư duy cũng như khả năng vận dụng kiến thức để phát hiện và giải quyết một vấn đề nào đó.
6 Đảm bảo được tính kế thừa những thành tựu dạy học Hoá học trong nước và thế giới
- Kế thừa và phát huy những ưu điểm của chương trình hoá học cải cách, chương trình hoá học chuyên ban
- Nghiên cứu và học tập có chọn lọc những kinh nghiệm tốt từ chương trình hoá học của các nước phát triển trên thế giới và trong khu vực
7 Đảm bảo tính phân hoá của chương trình hoá học PT, có các loại chương trình sau:
- Chương trình hoá học cơ bản
- Chương trình hoá học nâng cao
- Chương trình tự chọn nâng cao
2.1.2 Cấu trúc của chương trình hóa học 11 nâng cao (NC)
Chương trình môn Hóa học lớp 11 NC có nội dung cấu trúc như sau :
- Kiến thức cơ sở hóa học chung:
1 Sự điện li
1.1 Sự điện li
1.2 Phân loại các chất điện li Độ điện li Hằng số điện li
1.3 Axit - Bazơ - Muối Thuyết axit - bazơ của Are-ni-ut và Bron-stet.1.4 Sự điện li của nớc pH Chất chỉ thị axit - bazơ
1.5 Phản ứng trao đổi ion trong dung dịch các chất điện li Bản chất củaphản ứng trong dung dịch chất điện li
2 Nhóm nitơ
2.1 Khái quát về nhóm nitơ
2.2 Nitơ
2.3 Amoniac và muối amoni
2.4 Axit nitric và muối nitrat
2.5 Photpho
33
Trang 392.6 Axit photphoric và muối photphat.
2.7 Phân bón hoá học
3 Nhóm cacbon
3.1 Khái quát về nhóm cacbon
3.2 Cacbon
3.3 Hợp chất của cacbon
3.4 Silic và hợp chất của silic
3.5 Công nghiệp silicat
4 Đại cương về hoá học hữu cơ
4.1 Hoá học hữu cơ và hợp chất hữu cơ
4.2 Phân loại và danh pháp hợp chất hữu cơ
4.3 Phân tích nguyên tố
4.4 Công thức phân tử hợp chất hữu cơ
4.5 Cấu trúc phân tử hợp chất hữu cơ Khái niệm về cấu tạo, cấu hình, cấu dạng, đồng phân
7 Hiđrocacbon thơm Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên
Mở đầu về hiđrocacbon thơm (Aren)
7.1 Benzen và ankyl benzen
Trang 407.2 Stiren và naphtalen.
7.3 Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên
8 Dẫn xuất halogen - Ancol - Phenol
8.1 Dẫn xuất halogen của hiđrocacbon
Ôn tập đầu năm, học kì I, cuối năm
Ôn, luyện tập, chữa bài tập
1 Bài luyện tập 1 : Este - Lipit
2 Bài luyện tập 2 : Cacbohiđrat
3 Bài luyện tập 3, 4 : Amin - Amino axit - Protein
4 Bài luyện tập 5 : Polime và vật liệu polime
5 Bài luyện tập 6, 7 : Đại cương kim loại
6 Bài luyện tập 8, 9 : Kim loại kiềm - Kiềm thổ - Nhôm
7 Bài luyện tập 10, 11 : Sắt, hợp chất của sắt Một số kim loại quan trọng
8 Bài luyện tập 12 : Phân biệt một số chất vô cơ - Chuẩn độ dungdịch
- Kiểm tra:
Kiểm tra 1 tiết : 4 bài
Kiểm tra học kì I và cuối năm : 2 bài