1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biện pháp quản lý trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề xanh tại việt nam

143 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhânlực thông qua quá trình đào tạo nghề xanh trong nhà trường, rất cần có những biệnpháp quản lý nhà trường để đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề xanh.Là

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐOÀN DUY ĐÔNG

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TRƯỜNG DẠY NGHỀ

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO NGHỀ XANH TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐOÀN DUY ĐÔNG

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TRƯỜNG DẠY NGHỀ

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO NGHỀ XANH TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 01 14

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mạc Văn Tiến

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi đãnhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ tận tình của các thầy giáo, các đồng nghiệp, gia đình vàbạn bè

Tôi xin bày tỏ sự kính trọng, lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trườngĐại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tận tụy trong giảng dạy và giúp đỡtôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Tôi xin được gởi lời cảm ơn chân thành tới lãnh đạo Tổng cục Dạy nghề, lãnhđạo Viện nghiên cứu Khoa học Dạy nghề đã tạo điều kiện cho tham gia khóa họccũng những kinh nghiệm quý báu trong quá trình công tác và nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Mạc Văn Tiến - ngườithầy đã định hướng, hướng dẫn tôi trong nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên, hỗ trợ tôi hoàn thànhluận văn Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện luận văn, song chắc chắn vẫncòn những sơ suất do điều kiện thời gian có hạn và kinh nghiệm bản thân về vấn đềnghiên cứu còn nhiều hạn chế Rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy cô, bạn

Trang 4

: Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (United NationEnvironment Programme)

: Ngân hàng thế giới (World Bank)

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn ……… i

Danh mục chữ viết tắt ……… ii

Mục lục……… iii

Danh mục bảng hộp ……… vi

Danh mục hình ……… vii

MỞ ĐẦU ……… 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG DẠY NGHỀ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO NGHỀ XANH ……… 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu ……… 5

1.2 Những khái niệm cơ bản……… ……… 9

1.2.1 Quản lý, biện pháp quản lý và chức năng quản lý ……… 9

1.2.2 Nhà trường và trường dạy nghề ……… 14

1.2.3 Quản lý nhà trường ……… 15

1.2.4 Đào tạo nghề ……… 17

1.2.5 Đào tạo nghề xanh ……… 17

1.2.6 Kinh tế xanh ……… 17

1.2.7 Kỹ năng xanh ……… 17

1.3 Tầm quan trọng của đào tạo nghề xanh đáp ứng nhân lực nền kinh tế xanh 18 1.4 Nội dung quản lý nhà trường của người hiệu trưởng ……… 19

1.4.1 Trách nhiệm của người hiệu trưởng ……… 20

1.4.2 Nhiệm vụ của người hiệu trưởng nhà trường ……… 20

1.4.3 Nội dung quản lý đào tạo nghề xanh của hiệu trưởng 21 ………

1.5 Kinh nghiệm quốc tế ……… 22

1.5.1 Kinh nghiệm từ Đức ……… 22

1.5.2 Kinh nghiệm từ Hàn Quốc ……… 31

1.5.3 Kinh nghiệm từ Trung Quốc ……… 38

1.5.4 Khả năng vận dụng kinh nghiệm của các nước vào Việt Nam ………… 47

Tiểu kết chương 1 ……… 48

Trang 6

2.1 Khái quát đào tạo nghề ……… 49

2.1.1 Quản lý đào tạo nghề ……… 49

2.1.2 Thực trạng đào tạo nghề ……… 52

2.2 Thực trạng đào tạo nghề xanh ……… 54

2.3 Thực trạng quản lý nhà trường cho đào tạo nghề xanh ……… 59

2.3.1 Thực trạng nhận thức đào tạo nghề xanh ……… 59

2.3.2 Thực trạng quản lý nhà trường đáp ứng những biến đổi và thách thức 60 trong dịch chuyển sang nền kinh tế xanh ……… ………

2.3.3 Thực trạng quản lý nhà trường về các khía cạnh trường xanh ………… 62

2.3.4 Thực trạng quản lý nhà trường về các khía cạnh chương trình đào tạo 63 xanh………

2.3.5 Thực trạng quản lý nhà trường về các khía cạnh cộng đồng xanh …… 64

2.3.6 Thực trạng quản lý nhà trường về các khía cạnh văn hóa xanh ….…… 65

2.3.7 Thực trạng quản lý nhà trường về các khía cạnh nghiên cứu xanh …… 66

Tiểu kết chương 2 ……… 68

CHƯƠNG 3: MÔT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHÀ TRƯỜNG ĐÁP 69 ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO NGHỀ XANH ……….…

3.1 Những yêu cầu (nguyên tắc) đối với biện pháp đề xuất ……….…… 69

3.1.1 Đảm bảo tính khoa học của các biện pháp ……….… 69

3.1.2 Đảm bảo tính khả thi và tính thực tiễn của các biện pháp ……….…… 69

3.1.3 Đảm bảo tính lợi ích của các biện pháp ……….…… 70

3.2 Một số biện pháp quản lý nhà trường đáp ứng yêu cầu đào tạo việc làm 70 xanh ………

3.2.1 Chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên về nhận thức cũng như kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm đáp ứng nhu 72 cầu đào tạo nghề xanh ………

3.2.2 Thúc đẩy việc xây dựng, phát triển nhà trường theo các đặc điểm của 74 trường xanh ………

3.2.3 Tăng cường xanh hóa chương trình đào tạo ……… 76

3.2.4 Tạo ra cộng đồng xanh trong và ngoài nhà trường ……… 78

3.2.5 Phát triển văn hóa xanh trong và ngoài nhà trường ……… 79

Trang 7

3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp ………… 100

Tiểu kết chương 3 ……… 103

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ……… 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….… 107

PHỤ LỤC ……….… 109

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, HỘP

Bảng 1 Tổng hợp một số ngành/ hoạt động đào tạo nghề xanh đang có nhu

cầu ở Việt Nam……… 57

Bảng 2: Tổng hợp thực trạng quản lý nhà trường đáp ứng những biến đổi và thách thức trong dịch chuyển sang nền kinh tế xanh ……… 60

Bảng 3: Tổng hợp thực trạng quản lý nhà trường về khía cạnh trường xanh 62 Bảng 4: Tổng hợp thực trạng quản lý nhà trường về khía cạnh trường xanh 63 Bảng 5: Tổng hợp thực trạng quản lý nhà trường về khía cạnh cộng đồng xanh ……… 64

Bảng 6: Tổng hợp thực trạng quản lý nhà trường về khía văn hóa xanh … 65 Bảng 7: Tổng hợp thực trạng quản lý nhà trường về khía nghiên cứu xanh 67 Bảng 8 Thống kê kết quả đánh giá về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý nhà trường………

Hộp 1 Các chỉ số bền vững trong quản lý nhà trường……… 75

Hộp 2 Tái chế rác thải……… 80

Hộp 3 Tiết kiệm năng lượng……… 88

Hộp 4: Không gian xanh trong trường……… 93

Hộp 5: Không gian ký túc xá, chỗ ở……… 95

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Sơ đồ các chức năng quản lý ……… 14Hình 2 Sơ đồ quản lý các thành tố của quá trình dạy học 16Hình 3 Sơ đồ hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam ……… 50Hình 4 Biểu đồ cơ cấu cơ sở dạy nghề theo trình độ đào tạo năm 2013 … 51Hình 5 Biểu đồ phân bố cơ sở dạy nghề theo vùng kinh tế - xã hội năm

Hình 7 Mô hình 5 trụ cột xanh hóa đào tạo nghề của Majumdar……… 71

Trang 10

lũ Thứ hai là việc phải phát triển bền vững và tạo ra nguồn việc làm phù hợp cho tất

cả mọi người Tức là phải trợ giúp cho 1,3 tỷ người - bốn phần mười số người laođộng trên toàn thế giới và gia đình họ thoát khỏi mức đói nghèo; đồng thời cung cấpviệc làm phù hợp cho hơn 500 triệu người trong độ tuổi đang bước vào ngưỡng cửathị trường lao động trong thời gian 10 năm tới Điều đó đồng nghĩa đến việc hướngđến cung cấp cho 1,6 tỷ người không có nhà ở hoặc có mức sống thấp hơn mức tốithiểu các nguồn năng lượng đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc sống; và cung cấpcác dịch vụ an sinh xã hội cho trên 1 tỷ người dân sống

ở các khu ổ chuột ven rìa các thành phố trên thế giới Tại Việt Nam, việc cung cấp việclàm cho thị trường lao động cũng là một bài toán khó đang cần phải có lời giải thích hợp Haithách thức này có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời để giải quyết một cách riêng biệtđược Quá trình “Đào tạo nghề xanh” và việc thúc đẩy “nền kinh tế xanh” đã trở thành chìa khóa

để mở ra sự phát triển kinh tế và xã hội gắn liền với phát triển môi trường một cách lâu dài vàbền vững

Hiện nay, đào tạo nghề xanh không những là chủ đề rất mới ở Việt Nam, trênthế giới tuy đã có nhắc đến nhưng cũng chưa định hình rõ rệt và cũngbắt đầu đượcquan tâm hơn và chú ý trong những năm gần đây Phát triển giáo dục, đào tạo nghề là

sự nghiệp và trách nhiệm của toàn xã hội, là một nội dung quan trọng của chiến lược,quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia Trên con đường hội nhập quốc tế về mọi mặtcủa nước ta hiện nay, đào tạo nghề là lĩnh vực được chú ý trong phát triển nguồnnhân lực kĩ thuật vì nó góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, trước hếttrên thị trường lao động Lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về quốc gia nào có

Trang 11

nguồn nhân lực chất lượng cao và không thể phủ nhận rằng: “Nguồn nhân lực chấtlượng cao phụ thuộc vào chất lượng đào tạo” Việt Nam đã dần khẳng định nguồnnhân lực chất lượng cao, trong đó có nhân lực qua đào tạo nghề là một trong ba trụcột tăng trưởng và phát triển bền vững kinh tế Việt Nam Chất lượng nguồn nhân lựccũng được chỉ rõ là một trong ba khâu đột phá để thực hiện Chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội giai đoạn 2011- 2020 Do vậy, phát triển và nâng cao chất lượng đàotạo nghề là yêu cầu, là đòi hỏi cấp thiết của đất nước, nhằm góp phần nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung.Bên cạnh đó, quá trình đào tạo nghề xanh cũng đang là một mục tiêu rất quan trọngcủa lĩnh vực dạy nghề Việt Nam trong việc đột phá chất lượng dạy nghề Và đào tạonghề xanh là một trong những phần quan trọng của nền kinh tế xanh Để tạo ra đượcmôi trường học tập tối ưu nhất cho người học nhằm đảm bảo chất lượng hiệu quả chonguồn nhân lực sau này, quá trình xanh hóa đào tạo nghề với rất nhiều khía cạnh củamình gắn liền với các khía cạnh: nhà trường xanh, chương trình xanh, nghiên cứuxanh, văn hóa xanh, cộng đồng xanh Với mục tiêu phát triển đất nước một cách bềnvững, đã đặt ra ra những yêu cầu to lớn, cấp bách về nguồn lực, đặc biệt là chất lượngnguồn lực con người Đó là chất lượng toàn diện con người Việt Nam về phẩm chấtđạo đức, bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ, thể lực và kĩ năng nghề nghiệp của conngười Việt Nam Nền kinh tế trí thức của Việt Nam có đạt được hiệu quả hay không,tương lai đất nước, tiền đồ của dân tộc ta có được phồn vinh, thịnh vượng hay không,

có sánh vai với các nước tiên tiến trên thế giới hay không là tuỳ thuộc vào phần lớnchất lượng đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường

Trường dạy nghề có những đặc thù riêng của mình, đó là việc đào tạo nghề,đào tạo ra những người thợ cho tương lai - nguồn nhân lực cho đất nước, cũng nhưtập trung vào việc đào tạo rèn luyện kỹ năng làm việc cho người học để thích ứng vớinhu cầu của thị trường lao động Việc rèn luyện kỹ năng khác với việc thu nhận kiếnthức ở chỗ người ta cần một quá trình thực hành, rèn luyện bền bỉ và chủ động thìmới đạt được những kỹ năng cần có, còn việc thu nhận kiến thức thì nhanh chónghơn, có thể không mất nhiều thời gian Hơn nữa, trong thực tế quá trình làm việc,ngoài nền tảng kiến thức được trang bị, kỹ năng hành nghề là một trong những khâuthen chốt vô cùng quan trọng, và nó là một trong những tiêu chí hàng đầu để

Trang 12

đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Để góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhânlực thông qua quá trình đào tạo nghề xanh trong nhà trường, rất cần có những biệnpháp quản lý nhà trường để đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề xanh.

Là một người có thời gian làm việc, có kinh nghiệm nghiên cứuvề lĩnh vựcđào tạo nghề tại Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề - cơ quan nghiên cứu hệ thốngdạy nghề, với những kiến thức đã được học trong khóa học cao học ngành Quản lýgiáo dục tại trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, và quan trọng hơn

cả là mong muốn tìm ra lời giải đáp cho việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề đểcung cấp lực lượng lao động có chất lượng cao cho thị trường lao động, theo kịp với

xu hướng của thế giới, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề xanh tại Việt Nam”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng, đề xuất những biện phápquản lý nhà trường nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề xanh trong giai đoạn hiệnnay

3 Khách thểvà đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu:Hoạt động quản lý nhà trường tại các trường dạy

Giai đoạn nghiên cứu:Nghiên cứu thực trạng đến năm 2013

Địa điểm nghiên cứu: Tổ chức khảo sát và khảo nghiệm 14 trường cao đẳngnghề trên phạm vi cả nước

5 Vấn đề nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Trang 13

Tăng cường và đẩy mạnh xanh hóa nhà trường, xanh hóa chương trình đàotạo, tạo ra các môi trường văn hóa xanh, cộng đồng xanh, nghiên cứu xanh.

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận qua tài liệu

Phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận, văn bản pháp quy của Nhà nước, củangành Giáo dục và Đào tạo, ngành Dạy nghề, các công trình nghiên cứu khoa học,những bài học kinh nghiệm trong quản lý nhà trường của các trường dạy nghề Tàiliệu về hoạt động xanh hóa đào tạo nghề của các nước trên thế giới;

6.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi và phỏng vấn

Dự kiến chuẩn bị phiếu hỏi, điều tra với các cá nhân, đơn vị có liên quan:

(1) Các giáo viên tham gia giảng dạy trong trường dạy nghề;

(2) Các cán bộ quản lý nhà trường;

6.3 Phương pháp chuyên gia

Trực tiếp trao đổi, hỏi ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực dạy nghề, quản lý dạy nghề

7 Dự kiến các luận cứ Luận cứ lý thuyết

- Các khái niệm, phạm trù về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, nghề xanh và các khái niệm liên quan

- Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2050

- Chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011-2020

- Thực trạng về quản lý trường dạy nghề cho đào tạo nghề xanh

8 Cấu trúc luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà trường đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề xanhChương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà trường đáp ứng yêu cầu đào tạo nghềxanh

Chương 3: Biện pháp quản lý nhà trường nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề xanh

Trang 14

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ TRƯỜNG ĐÁP ỨNG

ĐÀO TẠO NGHỀ XANH1.1 Tổng quan nghiên cứu

Một số nghiên cứu của nước ngoài:

Năm 2010, Trung tâm Phát triển Dạy nghề châu Âu (Cedefop) đã tiến

hành nghiên cứu: “Kỹ năng xanh và nhận thức về môi trường ở hệ thống giáo dục dạy nghề” – “Green skills and environmental awareness in VET” về nhằm

xác định kỹ năng hiện tại - tương lai và nhu cầu đào tạo cho người lao độngtrong chín ngành nghề mũi nhọn chịu tác động do sự chuyển đổi nền kinh tế

“xanh” và sử dụng tài nguyên hiệu quả Nghiên cứu này được thực hiện tại támnước châu Âu: Phần Lan, Đức, Hy Lạp, Hungary, Ý, Hà Lan, Slovakia vàAnh Mục tiêu của nghiên cứu là xác định những thách thức và ưu tiên cho các

kỹ năng “xanh” để đảm bảo rằng giáo dục và hệ thống đào tạo nghề có thể đápứng nhu cầu của các doanh nghiệp và lợi ích từ việc chuyển đổi để đạt tăngtrưởng bền vững và toàn diện Nghiên cứu tiến hành các cuộc phỏng vấn vớicác chuyên gia từ các tổ chức sử dụng lao động và các nhà cung cấp đào tạo…phân tích các dữ liệu thứ cấp viết báo cáo cho mỗi quốc gia và một báo cáotổng hợp của châu Âu

Năm 2012-2013 Viện Nghiên cứu Giáo dục Hồng Kông triển khai

nghiên cứu “Giáo dục và Kỹ năng cho Tăng trưởng toàn diện và Việc làm xanh” (theo yêu cầu của ADB) với mục tiêu nâng cao tri thức và năng lực

nhằm giúp quá trình giáo dục và đào tạo kỹ năng nghề phù hợp với việc làmxanh của 4 nước (gồm Ấn Độ, Sri Lanka, Inđônêxia và Việt Nam) Nội dungnghiên cứu: Nghiên cứu phương thức mà 4 nước áp dụng để ban hành cácchính sách, chiến lược phát triển kỹ năng kịp thời và hiệu quả nhất, khảo sáttìm hiểu thực trạng và nhu cầu về kỹ năng xanh trong một số ngành côngnghiệp: Xây dựng, Giao thông vận tải, Khách sạn, nhà hàng, du lịch, Xử lý rácthải và Năng lượng tái tạo; Đánh giá sự đáp ứng của các cơ sở đào tạo đối vớinhu cầu của ngành và sự tăng trưởng xanh; Đề xuất giải pháp hướng tới

Trang 15

việc thúc đẩy đào tạo kỹ năng nghề xanh trong các ngành nghề đáp ứng nhucầu việc làm xanh của nền kinh tế.

Nghiên cứu “Đào tạo nghề cho nền kinh tế xanh”- “TVET for a green

economy” do tổ chức GIZ thực hiện, trong đó GIZ tại Việt Nam có tham giavới tiêu phát triển kỹ năng xanh phục vụ chuyển đổi sang tăng trường xanh vớicác nội dung: Lồng ghép “kỹ năng xanh” trong các nghề hiện tại, Nâng cấp cácnghề hiện hành phù hợp các công nghệ mới, đẩy mạnh nhận thức về môitrường nói chung

Dự án nghiên cứu “Sự chuyển dịch toàn diện sang các nền kinh tế xanh thông qua đào tạo nghề từ năm 2015”–“Inclusive Transitions to Green Economies through TVET in Post – 2015” do UNESCO/UNEVOC thực hiện.

Năm 2014 UNESCO đã đặt vị trí của giáo dục dạy nghề trong chương trìnhnghị sự kể từ năm 2015 để tìm các cách thúc đẩy hệ thống giáo dục và đào tạo,nâng cao năng lực cho người học có khả năng giải quyết những thách thứctrong tương lai và trở nên có trách nhiệm tham gia thành viên của xã hội Dự

án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo kỹ năng có được trong quátrình học tập không chỉ đáp ứng yêu cầu công việc mà còn thúc đẩy sự pháttriển nghề nghiệp và cá nhân suốt đời

Dự án nghiên cứu “Kỹ năng nghề xanh cho thanh niên nông thôn khu vực Đông Nam Á” – “Green skills for rural youth in South East Asia” do tổ

chức PLAN thực hiện năm 2014 tại 4 nước là Indonexia, Myanma, Thái Lan

và Việt Nam đã đưa ra các thông điệp chính về sự thiếu hụt trong nhận thức vàđào tạo kiến thức bảo vệ môi trường và các kỹ năng xanh Đồng thời nghiêncứu xác định tiềm năng phát triển và nêu lên tầm quan trọng trong việc trang bị

kỹ năng nghề xanh cho thanh niên tạo lập “sinh kế” việc làm bền vững cũngnhư tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu

Trong ấn phẩm “Chiến lược quản lý nguồn nhân lực” - “Strategic Human Resource Management” (2002), Jeffrey A Mello và cộng sự đã phân

Trang 16

tích những vấn đề về chiến lược phát triển dạy nghề; mối quan hệ giữa đào tạoviệc làm, việc sử dụng lao động trình độ cao.

Tác giả Young Hyun Lee (2011), trong “Phương pháp giáo dục và đào tạo nghề tại Việt Nam – Bài học kinh nghiệm từ Hàn Quốc” - “Methodology for Technical and Vocational Education and Training in Viet Nam- Lessons from Korean Experences” đã phân tích và so sánh hệ thống Giáo dục- Đào tạo

ở Việt Nam và Hàn Quốc, trong đó có những đề xuất về chính sách phát triểndạy nghề cho Việt nam

Một số nghiên cứu trong nước

Giáo dục nghề nghiệp, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững tuy khôngphải là những khái niệm hoặc chủ đề hoàn toàn mới đối với Việt Nam, tuynhiên hiện nay mới chỉ có rất ít những nghiên cứu được thực hiện có nội dungliên quan đến các nội dung này, đặc biệt là lại đặt trong mối quan hệ giữa giáodục nghề nghiệp với tăng trưởng xanh và phát triển Liên quan đến nội dungnghiên cứu có một số đề tài đã được thực hiện gồm có:

Đề tài cấp Bộ do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện năm

2013-2014: “Các giải pháp thúc đẩy việc làm xanh ở Việt Nam” Đề tài đã

nghiên cứu tổng quan về kinh tế xanh, việc làm xanh và các nhân tố tác độngđến việc phát triển việc làm xanh Dựa trên thực trạng đã phân tích, đề tài đưa

ra những đánh giá chung về thực trạng việc làm xanh của Việt Nam: nhữnghạn chế, rào cản để thúc đẩy phát triển việc làm xanh từ đó đề xuất các giảipháp, các chính sách phát triển ngành và xanh hóa; thúc đẩy kinh tế xanh,khuyến khích doanh nghiệp sử dụng các công nghệ hiện đại, tiết kiệm nănglượng và thân thiện với môi trường Bên cạnh đó từ kinh nghiệm quốc tếtrong nghiên cứu phát triển việc làm xanh để rút ra bài học để đề xuất các giảipháp ở Việt Nam.Tuy vậy, thực trạng việc làm xanh trong đề tài này chỉ dựatrên số liệu về việc làm xanh trong ngành bảo vệ môi trường và hoạt động bảo

vệ môi trường trong ngành công nghiệp và dịch vụ bởi chưa có bất kỳ cuộcđiều tra, khảo sát nào về việc làm xanh.Vì thế các số liệu thống kê này chưa

Trang 17

mang tính bao quát, đại diện để đánh giá đầy đủ số lượng, cơ cấu, chất lượngviệc làm xanh trong cả nền kinh tế Một số đề tài khác do các Viện thuộc Viện

Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện như: “Mô hình tăng trưởng xanh: khuôn khổ cho tái cấu trúc các ngành sản xuất của Việt Nam Viện Kinh tế Việt Nam” (Viện Kinh tế Việt Nam), “Khung chính sách thúc đẩy tăng trưởng xanh ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020” (Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển

Đề tài: “Đổi mới quản lý nhà trường giáo dục nghề nghiệp trong quá trình hội nhập quốc tế” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thực hiện năm

2011-2012 với nội dung nghiên cứu đổi mới quản lý nhà trường trong hệ thốnggiáo dục nghề nghiệp theo định hướng quản lý chất lượng, tiếp cận với các môhình và các giải pháp quản lý chất lượng nhà trường hiện đại phù hợp với điềukiện thực tế Việt Nam, đảm bảo hội nhập quốc tế Cụ thể là tiếp cận với môhình quản lý chất lượng tổng thể để đề xuất một số giải pháp quản lý chấtlượng nhà trường của hệ thống giáo dục nghề nghiệp

Đề tài: “Dự báo xu hướng phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn

2011 – 2020” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thực hiện năm 2011-2012

với các nội dung: Xây dựng hệ thống lý luận cơ bản về dự báo phát triển giáodục nghề nghiệp; Xác định những xu hướng phát triển Giáo dục nghề

Trang 18

nghiệp từ 2011-2020; Xác dịnh những giải pháp và điều kiện đảm bảo thựchiện được những xu hướng phát triển Giáo dục nghề nghiệp từ 2011-2020.

Đề tài: “Cơ sở khoa học của việc điều chỉnh cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp trong quá trình hội nhập quốc tế” thuộc chương trình nghiên cứu

khoa học cấp Bộ – Bộ Giáo dục- Đào tạo giai đoạn 2006-2008 “Phát triển giáodục và đào tạo Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”, nội dung nghiêncứu: Những vấn đề lí luận về cơ cấu hệ thống GDNN; Kinh nghiệm một sốnước về cơ cấu hệ thống GDNN;- Một số dự báo về cơ cấu nhân lực kĩ thuật

và yêu cầu điều chỉnh cơ cấu hệ thống GD nghề nghiệp

ở Việt Nam và Định hướng điều chỉnh cơ cấu hệ thống GDNN ở Việt Nam (trình độ, loại hình, ) trong quá trình hội nhập quốc tế

1.2 Những khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý, biện pháp quản lý và chức năng quản lý

Quản lýQuản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm Con người trong quá trìnhhoạt động của mình, để đạt được mục tiêu cá nhân phải dự kiến kế hoạch, sắp xếptrình tự tiến hành và tác động đến đối tượng bằng cách nào đó theo khả năng củamình Trong quá trình lao động tập thể càng không thể thiếu được kế hoạch, sự phâncông và điều hành chung, sự hợp tác và quản lý lao động Như vậy quản lý tất yếunảy sinh và nó chính là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhucầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong mọi thời đại Có nhiều quan điểmkhác nhau về quản lý:

Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, quản lý là phương thức tác động cóchủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc, các ràng buộc vềhành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lýcủa cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt tới mục tiêu

Theo quan điểm của điều khiển học, quản lý là chức năng của những hệ có tổchức, với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật ) nó bảo toàn cấu trúc các

hệ, duy trì chế độ hoạt động Quản lý là một tác động hợp quy luật khách quan, làmcho hệ vận hành và phát triển

Frederik Winslon Taylo (1856 - 1915), người Mỹ, được coi là “Cha đẻ của

Trang 19

thuyết quảnlý khoa học”, là một trong những người mở ra “Kỷ nguyên vàng"trongquản lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là mỗi loại công việc dùnhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và đều phải quản lý chặt chẽ Ông cho rằng quản

lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằngphương pháp tốt nhất, rẻ nhất

Theo Mác: Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào tiến hành trênqui mô tương đối lớn thì ít nhiều cùng đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạtđộng cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động nhữngtổng quan độc lập của nó Như vậy Mác đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạtđộng lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triểncủa loài người Xã hội càng phát triển, các loại hình lao động phong phú, phức tạp thìhoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng

Đề cập đến vấn đề quản lý, tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thế Ngữ cho

rằng:"Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”

Tác giả Nguyễn Văn Lê, Học viện Chính trị Quốc gia thì cho rằng: “Quản lý

là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những phương pháp thích hợp, nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố của hệ”.

Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”.

Theo Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “ Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý( người quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra”.

Những quan niệm về quản lý trên đây tuy có cách tiếp cận khác nhau nhưngchúng tôi nhận thấy chúng đều bao hàm một ý nghĩa chung, đó là:

- Quản lý là các hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân,đảm bảo hoàn thành các công việc và là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của tậpthể

- Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lýlên đối tượng quản lý thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả cao

Trang 20

nhất các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, pháttriển, đạt được những mục tiêu đã định.

Theo chúng tôi, quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thểquản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung

Như vậy có thể khái quát: Quản lý là tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đề

ra Sự tác động của quản lý bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn tự giác, phấn khởi đem hết năng lực trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho

cả xã hội.

Biện pháp Quản lý.

Để tồn tại con người phải lao động, khi xã hội ngày càng phát triển thì xuhướng lệ thuộc lẫn nhau trong cuộc sống và lao động cũng phát triển theo Vì vậy,con người có nhu cầu lao động tập thể, hình thành nên cộng đồng và xã hội Trongquá trình hoạt động của mình, để đạt được mục tiêu, cá nhân phải có biện pháp như là

dự kiến kế hoạch, sắp xếp tiến trình, tiến hành và tác động lên đối tượng bằng cáchnào đó theo khả năng của mình

Nói cách khác, đây chính là biện pháp Quản lý giúp con người đi đến mụctiêu Trong quá trình lao động tập thể lại càng không thể thiếu được các biện phápQuản lý như: Xây dựng kế hoạch hoạt động, sự phân công điều hành chung, sự hiệptác và tổ chức công việc, các tư liệu lao động

Có nhiều định nghĩa khác nhau về biện pháp Quản lý Theo F.W Taylor:

“Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu đượcrằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất”

“Quản lý là nắm chủ trương và đồng thời tạo điều kiện cho những người kháccùng mình để thực hiện những chủ trương đó”

“ Biện pháp Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội vàhành vi hoạt động của con người để chúng phát triển hợp với quy luật, đạt mục đích

đã đề ra và đúng ý trí của người Quản lý”

Tìm hiểu biện pháp Quản lý cũng cần xem xét khái niệm phương pháp Quản

lý Phương pháp Quản lý là tổng thể các cách thức tác động có thể có và có chủ địnhcủa chủ thể Quản lý lên đối tượng Quản lý và khách thể Quản lý nhằm đạt được mụctiêu đề ra Như vậy phương pháp Quản lý là khái niệm rộng lớn hơn biện

Trang 21

pháp Quản lý Phương pháp Quản lý có vai trò quan trọng trong hệ thống Quản lý ,biện pháp Quản lý là cần thiết trong quá trình Quản lý Quá trình Quản lý là quá trìnhthực hiện các chức năng Quản lý theo đúng các nguyên tắc đã được xác định - cácnguyên tắc đó lại được vận dụng và được thực hiện thông qua các phương pháp Quản

lý nhất định và các biện pháp Quản lý phù hợp Vìvậy, vận dụng các phương phápQuản lý cũng như áp dụng các biện pháp Quản lý là nội dung cơ bản của Quản lý

Tóm lại: Có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau về Quản lý, trong phạm

vi của đề tài, chúng tôi xác định Biện pháp Quản lý là cách làm, cách giải quyết những công việc cụ thể trong từng điều kiện cụ thể của công tác Quản lý nhằm đạt được mục tiêu Quản lý.

Các chức năng quản lýChức năng quản lý là một hoạt động cơ bản mà thông qua đó chủ thể quản lýtác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu xác định.Quản lý lànhững tác động hướng đích với các chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo, chỉđạo, điều khiển, kiểm tra Bản chất của Quản lý là sự phối hợp các nỗ lực của conngười thông qua các chức năng Quản lý đó

- Kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa là một chức năng quản lý Kế hoạch hóa có

nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường,biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu đó

Chức năng của kế hoạch hóa bao gồm 3 nội dung chính:

+ Xác định hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức

+ Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có cam kết) về các nguồn lực của tổ chức

để đạt được mục tiêu này

+ Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó

Như vậy: Kế hoạch hóa là việc đưa toàn bộ hoạt động quản lý vào công tác kế hoạch,trong đó chỉ rõ mục tiêu, bước đi, biện pháp thực hiện và đảm bảo các nguồn lực đểđảm bảo đạt tới các mục tiêu của tổ chức

Vai trò của việc xây dựng kế hoạch cụ thể như sau:

+ Khẳng định sự phát triển của tổ chức, của nhà trường trong tương lai;

Trang 22

+ Có cơ sở hợp lý cho việc bố trí, huy động và phân bổ các nguồn lực cho việc tổ chứccác hoạt động của tổ chức để đảm bảo cho các hoạt động bình thường và đạt tới mục tiêu có chấtlượng cao;

+ Kế hoạch không chỉ là căn cứ để triển khai các hoạt động mà nó còn có vai trò làm căn cứ để kiểm tra, đành giá thành tích của đơn vị, tổ chức hay cá nhân

Do có tác dụng thiết thực của hoạt động kiểm tra nên kế hoạch được xem như là mộtcông cụ quan trọng của quản lý Kế hoạch tạo điều kiện cho người quản lý giám sát,kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh việc thực hiện các hoạt động của cá nhân và các đơn

vị trong tổ chức

- Tổ chức: Là cấu trúc của những người tập hợp lại thành nhóm hoạt động theo

lý tưởng, mục tiêu xác định có tính chất bền vững lâu dài mà từng thành viên khi hoạt động đơn

lẻ không thể thực hiện được ý tưởng mục tiêu đó

Thuật ngữ tổ chức có thể xác định theo những phương diện cụ thể nào đó, nhưng nó đều đồng thời thể hiện 3 phương diện:

Tập hợp những người có cùng mục đích, nhiệm vụ

Có sự phối hợp, hợp tác với nhau trong quá trình hoạt động

Có trật tự kỷ cương nền nếp

- Lãnh đạo: Bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên, hướng

dẫn chỉ đạo họ hoàn thành nhiệm vụ để đạt được mục tiêu của tổ chức

Lãnh đạo là quá trình tác động và ảnh hưởng đến những hoạt động có liên quan đếncông việc – nhiệm vụ của một nhóm thành viên Lãnh đạo có thể hiểu là khả nănggây ảnh hưởng, động viên và chỉ dẫn, chỉ thị người khác nhằm đạt được mục tiêumong muốn

- Kiểm tra:Là một chức năng quản lý thông qua đó một cá nhân hoặc một tổ

chức theo dõi giám sát các hoạt động và tiến hành hoạt động sửa chữa nếu cần thiết.Theo thuyết

hệ thống (Cyberneticque): Kiểm tra giữ vai trò liên hệ nghịch, là trái tim, mạch máu của hoạtđộng Quản lý Có kiểm tra mà không đánh giá coi như không có kiểm tra, không có kiểm tra coinhư không có hoạt động Quản lý

Như vậy các chức năng Quản lý gắn bó chặt chẽ với nhau, đan xen lẫn nhau,tương hỗ lẫn nhau, khi thực hiện chức năng này thường cũng có mặt các chức năngkhác ở mức độ khác nhau, mối quan hệ chặt chẽ tác động ảnh hưởng lẫn nhau có thể

mô tả qua sơ đồ sau

Trang 23

L p k ho chập kế hoạch ế hoạch ạch T ch cổ chức ức

Môitrườngbên

ngoài

Môi trường bên trong

Hình 1 Sơ đồ các chức năng Quản lý

1.2.2 Nhà trường và trường dạy nghề

Nhà trường

Nhà trường là một dạng tổ chức chuyên biệt đặc thù của xã hội, được hình

thành từ nhu cầu mang tính tất yếu khách quan của xã hội, nhằm truyền thụ kinh

nghiệm xã hội cần thiết cho từng nhóm dân cư nhất định trong cộng đồng xã hội

Nhà trường được tổ chức và hoạt động sao cho việc truyền thụ và lĩnh hội đó

đạt được mục tiêu tồn tại và phát triển của cá nhân, phát triển cộng đồng và xã hội

Việc tổ chức các hoạt động nói trên được thông qua quá trình sư phạm (Quá trình

giáo dục được tổ chức một cách khoa học), nhằm xây dựng và hoàn thiện nhân cách

người học, mà những nhân cách đó là những tiêu chuẩn về đạo đức và năng lực của

người học đáp ứng được những yêu cầu phát triển của xã hội mà không một dạng tổ

chức nào trong xã hội khác với tổ chức nhà trường có thể thay thế được nó

Trường dạy nghề

Trên thế giới, thuật ngữ trường dạy nghề (Vocational School) được hiểu theo

nhiều cách khác nhau bởi vì hệ thống giáo dục, đào tạo nghề của các nước cónhững

đặc thù khác nhau Theo Tổ chức lao động quốc tế ILO: “Trường dạy nghề là nhà

trường mang đặc điểm cung cấp các khóa đào tạo nhằm chuẩn bịđội ngũ những người

lao động nghề nghiệp ở cấp trung học hoặc các cấp giáo dục cao hơn Các

Trang 24

chức năng và mục tiêu của các trường dạy nghề có xu hướng chồng chéo; các thuật ngữ này thường được sử dụng đồng nghĩa trong các hệ thống giáo dục quốc dân”.

Ở Australia, trường dạy nghềđược gọi là trường cao đẳng kỹ thuật, đã từng cóhơn 20 trường đặc thù trong giáo dục đào tạo nghề nghiệp Tuy nhiên hiện tại chỉ có 4 trườngcòn tồn tại vàđãđược đổi thành trường cao đẳng thương mại

Còn tại Canada, trường dạy nghềđôi khi được gọi là trường cao đẳng Tuynhiên, trường cao đẳngthườngđược nhắc tới nhiều hơn là một cơ sởđào tạo cung cấpcác hợp phần cấu thành của bằng đại học, hoặc là các tín chỉ có thểđược chuyển đổisang trường đại học

Theo Luật dạy nghềđược ban hành năm 2006 của Việt Nam, dạy nghề là hoạtđộng dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiếtcho người học nghềđể có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoànthành khóa học Trường dạy nghềởđây là cơ sởđào tạo hay nhà trường cung cấp cáchoạt động dạy nghề Tuy nhiên, khi phân tích chi tiết hơn, thì cách định nghĩa này cầnphải xem xét lại, bởi vì cho rằng mục đích của dạy nghề là giúp cho người học nghề

có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm, đây không phải là mục đích đúng đắncủa dạy nghề bởi vì mục đích dạy nghề là cung cấp cho người học những nền tảngkiến thức, cũng như rèn luyện cho họ có kỹ năng, thái độ cần thiết để giúp họ có thểthực hiện được nhiệm vụ của một nghề nghiệp cụ thể

Vậy tóm lại, trường dạy nghề là các cơ sởđào tạo cung cấp các hoạt động dạy

và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngườihọc nghề thực hiện được nhiệm vụ của một nghề nghiệp cụ thể và phù hợp Trườngdạy nghềlà đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoảnriêng thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thành lập và hoạt động theo qui định củapháp luật

Trường dạy nghề có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, kỹ thuậtviên, nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ, đáp ứng nhu cầu về lao động qua đào tạo của cácngành kinh tế-xã hội

1.2.3 Quản lý nhà trường

Có nhiều tác giả quan niệm về quản lý nhà trường khác nhau: Theo tác giả

Trần Kiểm "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo

Trang 25

dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế

hệ trẻ và với từng học sinh”.

Trong cuốn “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục" tác giả M.I.Kôn

- Đa- Cốp đã viết:“Chúng ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là một

hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt kinh tế- xã hội, tổ chức sư phạm của quá trình dạy - học và giáo dục thế hệ đang lớn lên”.

Là một thiết chế đặc biệt của xã hội nên nhà trường cùng với công tácquảnlýtrường học là vô cùng quan trọng, bao gồm sự quản lý các tác động qua lạigiữa trường học và xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường Người ta có thể phântích quá trình giáo dục của nhà trường như một hệ thống gồm các thành tố và đượcbiểu diễn bằng sơ đồ sau:

ĐK: Điều kiệnQL: Quản lý

Hình2.Sơ đồ Quản lý các thành tố của quá trình dạy học

Vai trò của người quản lý là phải làm sao cho hệ thống các thành tố vận hành liên kết chặt chẽ với nhau đưa đến kết quả mong muốn

Như vậy, quản lý nhà trường là tác động có định hướng, có kế hoạch của chủthể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theonguyên lý giáo dục và tiến tới mục tiêu giáo dục, mà trọng tâm của nó là đưa hoạtđộng dạy và học tiến lên trạng thái mới về chất Do vậy, công tác quản lý giáo dụcnói chung, quản lý nhà trường nói riêng, gồm có quản lý các hoạt động trong nhàtrường và các quan hệ giữa trường học với xã hội

Trang 26

1.2.4 Đào tạo nghề

Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độcần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc nhómnghề Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạoliên quan đến công việc chuyên môn hóa Nó có thể không cần thiết phải bao gồmcác môn học chung

1.2.5 Đào tạo nghề xanh

Trên thế giới cũng như Việt Nam, khái niệm Đào tạo nghề xanh (ĐTNX) vẫnchưa được định nghĩa một cách thống nhất Tuy nhiên, ta có thể hiểu: Đào tạo nghềxanh là quá trình đào tạo nghề gắn liền với bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng,giảm phát thải khí nhà kính Đào tạo nghề xanh có thể đạt được thông qua quá trìnhXanh hóa đào tạo nghề - quá trình chuyển đổi công tác đào tạo nghề hiện tại thànhcông tác đào tạo nghề được kết hợp, gắn với bảo vệ môi trường, tiết kiệm nănglượng

1.2.6 Kinh tế xanh

Kinh tế xanh là nền kinh tế có mức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên

và hướng tới công bằng xã hội

Kinh tế xanh có các đặc điểm sau:

- Ghi nhận giá trị và vai trò của đầu tư vốn tự nhiên;

- Tạo ra việc làm và công bằng xã hội;

- Sử dụng năng lượng tái tạo, công nghệ thay thế nhiên liệu hóa thạch;

- Hướng tới lối sống đô thị bền vững

có ý nghĩa trong mỗi công việc hay lĩnh vực và năng lực cho các hoạt động nghềnghiệp bền vững là một thành phần không thể thiếu trong tổng thể các kỹ năng nghềnghiệp của mỗi cá nhân

Trang 27

1.3 Tầm quan trọng của đào tạo nghề xanh đáp ứng nhu cầu nhân lực nền kinh tếxanh

Đối mặt với những thách thức của biến đổi khí hậu do chính con người gây ra

đã hướng tới một sự quan tâm mới là việc đòi hỏi phải phát triển một cách bền vững,

và nó được ví như một phương tiện để thúc đẩy sự phát triển của con người Tăngtrưởng – khi theo đúng hướng - vẫn là cách hiệu quả để giúp người dân thoát nghèo.Nếu con đường tăng trưởng đi theo định hướng sai lầm thì sẽ tự giết chính mình, nhưviệc suy thoái môi trường làm giảm năng suất và phúc lợi Tổ chức hợp tác và phát

triển kinh tế (OECD) đã lưu ý rằng "Tăng trưởng xanh đang được hỗ trợ như là một phương thức để theo đuổi tăng trưởng kinh tế và phát triển, trong khi ngăn chặn sự suy thoái môi trường, mất đa dạng sinh học và sử dụng tài nguyên thiên nhiên không bền vững "(OECD, 2010) Với sự quan tâm đặc biệt về hậu quả của biến đổi khí hậu

do con người gây ra Báo cáo Phát triển Thế giới 2010 của Ngân hàng Thế giới đã lập

luận rằng, "Nếu chỉ tăng trưởng kinh tế thì khó có thể chống lại các mối đe dọa từ biến đổi khí hậu một cách nhanh chóng hay phù hợp, đặc biệt nếu nó vẫn làm gia tăng lượng các-bon và tăng tốc độ nóng lên toàn cầu Vì vậy, chính sách khí hậu không thể được đưa ra như một sự lựa chọn giữa tăng trưởng và biến đổi khí hậu Trong thực tế, các chính sách khí hậu thông minh là việc thúc đẩy phát triển, giảm thiểu rủi ro, và hỗ trợ tài chính cho việc chuyển đổi sang con đường tăng trưởng các- bon thấp"(Ngân hàng Thế giới, 2009) Stern (2010) cho rằng "Cuộc cách mạng công nghiệp mới và việc chuyển sang sự tăng trưởng các-bon thấp tạo ra một lối đi vô cùng hấp dẫn Nó có khả năng đưa đến hai hoặc ba thập kỷ tăng trưởng thị trường cải tiến, sáng tạo, to lớn và đầy hứa hẹn cho những người tiên phong Nếu đạt được

sự tăng trưởng các-bon thấp sẽ có thêm nhiều dạng năng lượng sạch hơn, an toàn hơn và đa dạng sinh học hơn so với người tiền nhiệm của nó "

Đào tạo nghề xanh có thể quy về bốn loại bao gồm:

- Xanh hóa quá trình đào tạo nghề hiện tại;

- Đào tạo nghề trong các ngành chế tạo thiết bị, dụng cụ bảo vệ môi trường;

Trang 28

- Phát triển những ngành nghề mới xanh hóa (năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng địa nhiệt, năng lượng thủy triều, nông nghiệp sinh thái, bảo vệ rừng…);

- Quá trình đào tạo nghề giảm thiểu và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí

hậu.

Yêu cầu đối với đào tạo nghề xanh trong các mô hình phát triển bền vững làphải tiến tới việc làm bền vững - đó là các cơ hội đạt được việc làm phù hợp và năngsuất cho cả nữ và nam trong điều kiện tự do, bình đẳng, an sinh và tôn trọng nhânphẩm Đặc trưng của việc làm bền vững là: Thu nhập thỏa đáng và có cơ hội pháttriển; Đảm bảo quyền và tiếng nói của người lao động; Thực hiện cơ chế đối thoại xãhội; Đảm bảo an sinh xã hội

Để thực hiện được những mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo và bảo vệ môitrường thì sự gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo nghề xanh và việc làm bền vững là mộtđòi hỏi tất yếu Trên thực tế, có hoàn thành mục tiêu giảm nghèo - mà nòng cốt làviệc làm bền vững, thì mới có điều kiện để bảo vệ tốt môi trường và ngược lại, có bảo

vệ được môi trường thì giảm nghèo mới có chiều sâu và đảm bảo bền vững và quantrọng nhất là tạo ra một nguồn lực lượng lao động dồi dào đáp ứng được nhu cầu pháttriển của nền kinh tế xanh Chính vì vậy, không ai có thể phủ nhận được vai trò quantrọng của đào tạo nghề xanh đối với việc phát triển nền kinh tế xanh của mỗi quốcgia

1.4 Nội dung quản lý nhà trường của người hiệu trưởng

Là người quản lý nhà trường, người Hiệu trưởng phải xác định từ mục tiêu

giáo dục: "Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ, nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”.

Hoạt động quản lý nhà trường là một quá trình bao gồm nhiều nội dung, nhiềubước từ việc quán triệt mục tiêu, chương trình, kế hoạch đến khâu cuối cùng là kiểmtra đánh giá kết quả Nhiệm vụ của giáo viên là giảng dạy, truyền thụ kiến thức chohọc sinh cùng với việc giáo dục đạo đức cho các em Nhiệm vụ của hiệu trưởng làquản lý đội ngũ giáo viên để giúp giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học

Trang 29

1.4.1.Trách nhiệm của người hiệu trưởng

Hiệu trưởng là lãnh đạo của nhà trường trường, đại diện cho nhà trường vềmặt pháp lý, có thẩm quyền cao nhất về hành chính và chuyên môn trong trường,chịu trách nhiệm, tổ chức và quản lý toàn bộ hoạt động của nhà trường

Như vậy vai trò của hiệu trưởng trong nhà trường vô cùng quan trọng; chínhhiệu trưởng là người vừa có trách nhiệm vừa phát huy cao độ tính tích cực của ngườigiáo viên, của cán bộ, công nhân viên Xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ, côngnhân viên thành một khối đoàn kết nhất trí trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy học.Hiệu trưởng quyết định đến thành công hay thất bại của nhà trường, cho nên phải chỉđạo thực hiện các hoạt động của nhà trường theo đúng quan điểm của Đảng, chấphành các chỉ thị, các nghị quyết và chịu trách nhiệm trước nhà nước về công tác quản

lý nhà trường và chất lượng giáo dục học sinh Một hiệu trưởng có trình độ chuyênmôn tốt nếu kết hợp với khả năng tổ chức, chỉ huy và có uy tín phẩm chất tốt, côngviệc thực hiện sẽ đạt được kết quả cao hơn người có ít hoặc không có các yếu tố trên

1.4.2 Nhiệm vụ của người hiệu trưởng nhà trường

Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý và điều hành các hoạt động củanhà trường như sau:

1 Tổ chức thực hiện các quyết nghị của hội đồng trường đối với trường cônglập

2 Quản lý cơ sở vật chất, tài sản, tài chính của trường và tổ chức khai thác, sửdụng có hiệu quả các nguồn lực huy động được để phục vụ cho hoạt động dạy nghề theo quyđịnh của pháp luật

3 Thường xuyên chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, giảng dạy và học tập chocán bộ, giáo viên và người học

4 Tổ chức và chỉ đạo xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh; đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong nhà trường

5 Thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường; thực hiện các chính sách, chế

độ của Nhà nước đối với cán bộ, giáo viên và người học trong trường

6 Tổ chức các hoạt động tự thanh tra, kiểm tra, kiểm định chất lượng dạy nghềtheo quy định Chấp hành các kiến nghị, quyết định về thanh tra, kiểm tra, kiểm định chất lượngdạy nghề của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Trang 30

7 Thực hiện đầy đủ và kịp thời chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định của pháp luật.

Trên cơ sở các chức năng được giao trên, người hiệu trưởng là người chịutrách nhiệm chung cho tất cả các hoạt động của nhà trường gắn liền với quá trình dạy

và học và các hoạt động liên quan Nhiệm vụ cụ thể của người hiệu trưởng nhàtrường là chịu trách nhiệm quản lý quá trình dạy và học, chỉ đạo xây dựng các kếhoạch chiến lược, phân công thực hiện các hoạt động diễn ra bên trong nhà trườngcùng các hoạt động liên quan, đồng thời cũng là người tổ chức triển khai công táckiểm tra đánh giá trong trường, tất cả nhằm đến việc hoàn thành sứ mạng của nhàtrường, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước

1.4.3 Nội dung quản lý đào tạo nghề xanh của hiệu trưởng

Trong quá trình đào tạo nghề xanh, người hiệu trưởng đóng một vai trò rấtquan trọng, bởi vì mọi hoạt động trong quá trình dạy và học cũng nhưng các hoạtđộng liên quan của nhà trường đều nằm trong sự quản lý của hiệu trưởng Vì vậy, taxem nghiên cứu và xem xét nội dung quản lý đào tạo nghề xanh của người hiệutrường trong trường dạy nghề

- Kế hoạch hóa: Kế hoạch luôn là khâu quan trọng tiên quyết Trong khâu này,

người hiệu trưởng phải xác định được mục tiêu cũng như chiến lược phát triển của đào tạo nghềxanh, từ đó đưa ra các hành động, các công việc để thực hiện ngay khi bắt đầu năm học mới Tạiđây, người hiệu trưởng phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề xanh, đưa

ra các tiêu chí nhằm thực hiện và sau đó có thể tổng kết và đánh giá, rút ra những bài học kinhnghiệm để khắc phục sửa chữa những sai sót và đẩy mạnh tăng cường những yếu tố thành công

Những tiêu chí được đưa ra ở đây có thể là:

- Đạt được những tiêu chuẩn trở thành trường xanh với những tiêu chí cụ thể

- Đạt được tỉ lệ cụ thể về xanh hóa chương trình giáo trình

- Tổ chức các hoạt động xanh trong và ngoài trường

- Tổ chức bồi dưỡng giáo viên về ý thức, kiến thức, kỹ năng xanh

- Tổ chức:Trong khâu này, người hiệu trưởng sau khi xác định các mục tiêu

cũng như chiến lược đào tạo nghề xanh, sẽ phân công trách nhiệm cũng như công việc cho từng

bộ phận, cá nhân để thực hiện Cần phải xác định chính xác để đảm bảo được tiến độ cũng nhưchất lượng Như phân công các khoa chuyên ngành thực

Trang 31

hiện việc tích hợp xanh hóa vào chương trình đào tạo, các phòng chuyên môn lập kếhoạch cũng như thực hiện các hành động liên quan đến hoạt động xanh trong vàngoài trường, cũng như giao cho Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên các đề tài nghiêncứu, tổ chức các câu lạc bộ, nhóm hoạt động xanh, Dự trù các nguồn kinh phí đểthực hiện cũng là một trong những việc trọng yếu.

- Lãnh đạo:Người hiệu trưởng dựa vào chức năng, quyền hạn cũng như trách

nhiệm của mình phân công đôn đốc các bộ phận, cá nhân thực hiện các nhiệm vụ được giao quanhiều cách khác nhau với nhiều nguồn lực khác nhau Có thể thông qua các hình thức khenthưởng, hay kỷ luật để xử lý.Triển khai các bước thực hiện

- Kiểm tra:Ngay từ khi bắt đầu triển khai, người hiệu trưởng phải tự mình đồng

thời giao trách nhiệm cho bộ phận chuyên trách kiểm tra đôn đốc các hoạt động liên quan đếnđào tạo nghề xanh nhằm đạt được các tiêu chí đề ra

1.5.Kinh nghiệm quốc tế

1.5.1 Kinh nghiệm từ Đức

Bối cảnh chính sách

Những thách thức và ưu tiên chủ đạo cho một nền kinh tế xanh

Những ưu tiên của Đức đối với bảo vệ khí hậu, trong phần mở rộng các biệnpháp bảo vệ môi trường trước đó đã tồn tại hơn mời năm qua, với một mục tiêu chính

là việc giảm lượng khí thải nhà kính Các cam kết về môi trường của các cơ quancông quyền của Đức được thành lập bởi các "Chương trình tích hợp năng lượng vàkhí hậu" do Chính phủ Liên bang công bố vào năm 2007

Chính phủ Đức đã khẳng định các nguyên tắc của chương trình này được dùngnhư những mục tiêu đầy tham vọng bao gồm:

- Hạn chế 40% lượng phát thải nhà kính vào năm 2020 so với đường cơ sở năm 1990;

- Tăng trưởng 3 % hiệu suất năng lượng hàng năm;

- Mở rộng năng lượng tái tạo đạt đến 18 % tổng thể cung ứng năng lượng tổng thể vào năm 2020, và 50% vào năm 2050;

- Tăng cường sản xuất kết hợp năng lượng và nhiệt lên 25% vào năm 2020

Trang 32

Thách thức của việc cắt giảm khối lượng lớn khí thải nhà kính tiến hành tậptrung vào việc sử dụng năng lượng hiệu quả và sản xuất năng lượng sạch Nó cũng cónghĩa việc chuyển dịch cơ cấu công nghiệp là cần thiết và vấn đề môi trường đangngày càng ảnh hưởng đến cả những đổi mới của công nghệ và lối sống mỗi ngườidân Các khoản đầu tư hỗ trợ tăng trưởng việc làm và thúc đẩy việc gia tăng 500.000việc làm liên quan đến bảo vệ môi trường vào năm 2020 và 800.000 vào năm 2030.Tuy nhiên, một thách thức quan trọng là Đức chịu ảnh hưởng sự thay đổi nhân khẩuhọc, qua đó gây ảnh hưởng tiêu cực số lượng thanh niên đăng ký tham gia đào tạonghề.

Các chiến lược phản ứng môi trường và vai trò của phát triển kỹ năng

Chiến lược môi trường chung

Với tầm quan trọng ngày càng tăng, việc bảo vệ khí hậu đã trở thành yếu tốtrọng tâm trong khuôn khổ chính sách môi trường tổng thể của Đức Một số biệnpháp và các công cụ đã được thực hiện trong vài năm qua, trong đó có nhiều biệnpháp nằm trong Chương trình Bảo vệ Khí hậu Quốc gia năm 2000 và 2005 Tiếp tới

là các biện pháp ảnh hưởng đến giao thông vận chuyển và các hộ gia đình Chínhsách bảo vệ khí hậu của Đức cũng bị ảnh hưởng bởi các chiến lược quốc gia về pháttriển bền vững năm 2001 Mặc dù có sự đồng thuận rộng rãi ở Đức về các mục tiêu

và nhu cầu bảo vệ môi trường và giảm lượng khí thải, cuộc tranh luận vẫn còn đangtiếp diễn cách thức tốt nhất để thực hiện

Trong nhiều thập kỷ, bảo vệ môi trường đã là trung tâm của sự phát triểnchính sách công

Sự liên kết giữa pháp luật và việc gia tăng nhận thức có ảnh hưởng đến việctái cơ cấu các ngành kinh tế của Đức và năng lực nghề nghiệp Ngay từ đầu, chínhsách về bảo vệ môi trường của Đức đã không chỉ được coi là một bước tiến cho việcđáp ứng điều kiện sống tốt hơn, mà cũng là một cơ chế để phát triển các cơ hội tiếpcận thị trường cho các nhà cung cấp các công nghệ và dịch vụ môi trường trongnước Việc tung ra các chính sách môi trường đã được sử dụng để tạo ra việc làm mới

và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Khu vực dịch vụ và công nghệ môi trường hiện nay làmột trong những khu vực kinh tế mũi nhọn của Đức, sử dụng 1,8 triệu người vào năm

2006 (4,5 % lực lượng lao động) Kết quả là, các công ty công nghệ môi trường củaĐức được thành lập và thường là những đơn vị dẫn đầu

Trang 33

Các chương trình chính sách dài hạn về xanh hóa nền kinh tế vì thế đã gắn kếtvới các tác động quan trọng trên cơ cấu nghề nghiệp và đào tạo nghề chính thức.

Việc đào tạo lại xuyên suốt nền kinh tế trong hồi đáp tới xanh hóa tái xâydựng được tập trung chủ yếu vào hệ thống giáo dục và đào tạo, trong đó các khóa đàotạo trình độ chuyên môn kỹ thuật được gắn kết và các khóa đào tạo thêm và dào tạocao hơn trong các dự án liên quan đến môi trường đã được phát triển Phạm vi cáckhóa đào tạo nghề nối tiếp liên quan đến bảo vệ môi trường là khá đáng kể Đây chủyếu do sự thay đổi, làm mới liên tục của các khóa học đào tạo nghề, làm cho việc tíchhợp các vấn đề bảo vệ môi trường là một nhiệm vụ ưu tiên quan trọng

Hồi đáp xanh cho cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay

Chính phủ liên bang đã đưa ra hai gói kích thích kinh tế, trong tháng 11 năm

2008 và tháng 1 năm 2009 với tổng giá trị khoảng 100 tỷ Euro Tỷ lệ của các gói kíchthích đầu tư xanh hóa đạt khoảng 13 % - cao hơn so với các nước thành viên liênminh châu Âu (EU) khác, mặc dù không nhất thiết tập trung vào các vấn đề xanh

Trong gói đầu tiên, 3 triệu Euro được sử dụng để thúc đẩy việc xây dựng nănglượng hiệu quả và tái xây dựng các công trình từ năm 2009 đến 2011 Tổ chức chovay tái xây dựng để đầu tư thêm 2,5 tỷ Euro cho việc vốn vay trong chương tình vềcải tiến các tòa nhà năng lượng hiệu quả Gói kích thích khác với 3 tỷ Euro được sửdụng cho việc hỗ trợ vốn vay với lãi suất thấp để đầu tư trong lĩnh vực cải tiến liênquan đến công nghệ năng lượng hiệu quả

Gói thứ hai, trị giá 6,5 tỷ Euro dùng thúc đẩy giáo dục, đặc biệt là về nghiêncứu năng lượng hiệu quả và tái xây dựng trong các trường học Việc sử dụng nănglượng hiệu quả cũng được thúc đẩy thông qua ưu đãi thuế (khấu trừ thuế cao hơn)cho các dịch vụ nghề duy trì và hiện đại hóa các tòa nhà

Cả hai gói kích thích kinh tế cũng tập trung vào việc thúc đẩy nền kinh bon thấp với việc miễn thuế mở rộng cho xe ô tô đáp ứng tiêu chuẩn Euro 5 hoặcEuro 6 Hơn nữa, 0,5 tỷ Euro đã được phân bổ cho các phát triển các loại phương tiệndùng điện

tếcác-Chiến lược phát triển các kỹ năng để đáp ứng với xanh hóa

Nhu cầu kỹ năng trong các lĩnh vực môi trường chủ yếu được đáp ứng bằngcách tổ chức các khóa học đào tạo chính quy trong hệ thống đào tạo kép và đào tạo

Trang 34

đại học của Đức Điều này sau một truyền thống lâu đời của ngành công nghiệp Đứckhi tổ chức đào tạo kép thay vì đào tạo liên tục tại các doanh nghiệp Việc xanh hóanghề hiện có ở Đức đã ảnh hưởng đến phạm vi rất rộng các ngành nghề Rõ ràng, tuynhiên, mức độ mà các vấn đề môi trường được tích hợp khác nhau theo bề ngang dựatrên các loại công việc khác nhau.

Mặc dù động cơ chính để thúc đẩy, khuyến khích quản lý và bảo vệ môitrường là việc tích hợp đào tạo các vấn đề môi trường vào giáo dục chính quy, một sốcác chương trình triển khai chính sách hỗ trợ học nghề lĩnh vực môi trường, các dự ánthứ nghiệm đào tạo dạy nghề môi trường, nghiên cứu trong lĩnh vực môi trường Tuynhiên, lại xảy ra hiện tượng cô lập và không được tích hợp vào chiến lược tổng thểcho việc phát triển kỹ năng đáp ứng xanh hóa

Kỹ năng trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh

Thay đổi cấu trúc xanh và nhu cầu đào tạo lại

Tái cấu trúc xanh và tác động của nó trên thị trường lao động

Chìa khóa để cải thiện năng lượng hiệu quả xuyên suốt nền kinh tế, kết hợpvới việc tăng trưởng trong các mục tiêu tập trung năng lượng tái tạo và hạn chế phátthải khí nhà kính đang ảnh hưởng lớn đến hành vi của cả nhà sản xuất và người tiêudùng Các nhà cung cấp các sản phẩm công nghiệp và tiêu dùng đang mạnh mẽ theođuổi mục tiêu cắt giảm khí thải nhà kính bằng cách tối ưu hóa quá trình sản xuất vàcác biện pháp sử dụng năng lượng hiệu quả Minh chứng cho xu hướng này là cácloại xe tiết kiệm nhiên liệu, các tòa nhà các-bon thấp, và năng lượng tái tạo được sửdụng trong nhiều cách hơn so với tưởng tượng Ngành nông nghiệp cũng bắt đầu sửdụng các phương pháp sản xuất bền vững với môi trường hơn, giảm thiểu lượng chấtthải và mức tiêu thụ nước

Tất cả các khu vực này tạo ra cơ hội kinh tế và ảnh hưởng đến yêu cầu mức độnghề nghiệp và các kết quả đào tạo Các công ty công nghệ môi trường Đức nói riêngcũng đã tận dụng các thị trường này, cả trong nước và nhanh chóng mở rộng ra thịtrường toàn cầu Khó có thể tìm thấy bất kỳ tỷ lệ nghề nghiệp hoặc hồ sơ nghề nghiệphoàn toàn biến mất trong quá trình “xanh hóa” nền kinh tế Đây là kết quả chính của

hệ thống đào tạo, nơi đào tạo người học và sinh viên với việc làm linh hoạt trong thịtrường lao động – với hệ thống đào tạo nghề kép tập trung vào việc chuyển giao cáckiến thức cơ bản chứ không phải là năng lực

Trang 35

Hồi đáp kỹ năng

Quá trình xanh hóa kỹ năng là một mục tiêu lớn cho hệ thống giáo dục và đàotạo Có ba kênh chính – đào tạo nghề ban đầu, đào tạo nghề thường xuyên và đào tạobậc đại học – được tổ chức một cách hệ thống và các doanh nghiệp cũng tham giavào từng mức độ đào tạo

Việc đào tạo lại xuyên suốt nền kinh tế trong việc hồi đáp tới xanh hóa tái cấutrúc cũng như giữ vị trí chủ đạo trong hệ thống giáo dục và đào tạo Mặt khác, vớiquy mô hạn chế của nó, sáng kiến của các doanh nghiệp lại được coi là đường ranhgiới Chương trình khuyến khích giáo dục đào tạo được triển khai, đào tạo trình độchuyên môn kỹ thuật được cung cấp và các khóa đào tạo mới và đạo tạo nâng cao vớicác chủ đề liên quan đến môi trường cũng được phát triển Ví dụ, phạm vi của cáckhóa đào tạo nghề thường xuyên liên quan đến bảo vệ môi trường hiện nay ra rấtđang kể Ngoài các loại mới về đào tạo, rất nhiều các khóa đào tạo đã có đang trở nênthực chất hơn do sự kết hợp của các yếu tố môi trường đào tạo Hơn nữa, các doanhnghiệp có thể giúp người học bằng cách cho phép họ tham gia vào phương thức đàotạo “giáo dục tích hợp”, tức là thực hiện đào tạo nghề ban đầu cùng lúc với thực hiệnkhóa đào tạo đại học

Các nghề thay thế và nổi bật, nhu cầu kỹ năng liên quan

Các nghề thay thế và nổi bật

Cuốn danh mục nghề quốc gia BERUFENET đã phân biệt 36 mô tả công việcbao gồm "nghề nghiệp trong việc bảo vệ môi trường và thiên nhiên" qua các loại hìnhđào tạo Phần lớn nội dung trong đó không mới do việc nó có sẵn hệ thống đào tạo đãđược tạo lập Các danh mục chính có thể được phân loại mới hay nổi bật là lĩnh vựcnghề nghiệp bao gồm "các kỹ thuật trong lĩnh vực năng lượng tái tạo" với sáu hồ sơnghề nghiệp mới được tạo lập chỉ trong những năm gần đây với quy mô lớn Cácngành nghề khác có thể được phân loại là mới ngay cả khi nó chưa được liệt kê trongdanh mục nghề quốc gia Nhiều nghề trong số đó được đào tạo ở cấp độ đại học Mộtloạt các đào tạo cấp độ đại học được cung cấp bởi các trường đại học nói chung vàcác trường đại học khoa học ứng dụng nói riêng

Các bộ kỹ năng cần thiết cho các ngành nghề khác nhau tùy theo loại côngnghệ tái tạo:

Trang 36

- Năng lượng mặt trời: Nghiên cứu và phát triển (R&D), sản xuất, tư vấn và kinh doanh, lắp đặt;

- Địa nhiệt: Hệ thống thủy phân nhiệt, hệ thống địa nhiệt;

- Năng lượng gió: sản xuất tua bin gió, các dịch vụ kỹ thuật;

- Nhiên liệu sinh học: nhà máy biogas, sản xuất dầu diesel sinh học;

- Kết hợp nhiệt và điện năng: lắp đặt nhà máy kết hợp nhiệt và điện năng

Kỹ năng cho những ngành nghề này được cung cấp thông qua hệ thống giáodục chính quy, học nghề và chương trình đào tạo của công ty (xem nghiên cứu trườnghợp)

Do trong những năm gần đây trong các lĩnh vực toán học, kỹ thuật và khoahọc tự nhiên tỷ lệ tốt nghiệp thấp đã tạo ra sự thiếu hụt khoảng 165.000 kỹ sư và kỹthuật viên có trình độ cao trong năm 2006 Theo các doanh nghiệp, tình trạng thiếu

kỹ năng đã làm hạn chế sự tăng trưởng trong lĩnh vực môi trường Tuy nhiên, suythoái kinh tế đã làm giảm tỷ lệ thiếu lao động và người ta cho rằng hiện nay ngànhcông nghiệp môi trường có thể được lấp đầy chỗ trống công việc một cách dễ dànghơn Vấn đề lớn nhất đối với các lĩnh vực môi trường vẫn là sự thiếu hụt lượng kỹ sư,những năm gần đây tỷ lệ tốt nghiệp cũng thấp và trong viễn cảnh ngắn hạn cũng chothấy khó có sự thay đổi

Xanh hóa nghề hiện có

Ở cấp độ đào tạo nghề kép, bảo vệ môi trường đã được tích hợp trong tất cả cácquy định đào tạo nghề ban đầu, và qua đó việc xanh hóa toàn bộ đào tạo nghề kép có thể quan sátthấy được Đối với các ngành nghề ngoài lĩnh vực môi trường, đào tạo môi trường tập trung vàokiến thức cơ bản trong việc tái chế rác thải và bảo tồn năng lượng Các doanh nghiệp vẫn cungcấp kiến thức về môi trường cho người học nghề theo nhu cầu của họ một cách miễn phí Trongmột vài năm qua, quá trình xanh hóa đã đạt đến một mức độ lớn hơn, được xác định qua việc sửađổi các chương trình đào tạo nghề Các ví dụ bao gồm:

- Kỹ thuật môi trường (sửa đổi năm 2002);

- Nhà máy cơ khí cho vệ sinh, sưởi ấm và điều hòa không khí (sửa đổi năm2003);

- Kỹ thuật viên điện tử về năng lượng và kỹ sư dịch vụ xây (sửa đổi năm2003);

Trang 37

- Thợ xây lò sưởi và hệ thống sưởi ấm không khí (sửa đổi năm 2006).

Xanh hóa các ngành nghề hiện có trong một khuôn khổ đào tạo thường xuyênbao gồm các kỹ năng bổ sung có thể điều chỉnh được Chúng bao gồm đào tạo cơ bảntrong đó phổ biến các khía cạnh bảo vệ môi trường như xử lý và tái chế chất thải, bảotồn năng lượng và pháp luật về môi trường cũng như đào tạo chuyên môn cho côngviệc chuyên sâu như chuyên gia môi trường, tư vấn viên năng lượng hoặc kỹ sư môitrường Nhu cầu đào tạo chuyên sâu ảnh hưởng phần lớn bởi các quy định luật mớihoặc các công nghệ mới và nhu cầu tương ứng để thích ứng kỹ năng

Khi nhu cầu đào tạo nghề chuyên ngành môi trường thấp và người học nghề

có nguy cơ bị đào tạo bó hẹp, điều đó có nghĩa việc tích hợp xanh hóa và duy trì trình

độ đào tạo cơ bản trong định dạng hiện có là hiệu quả nhất Vì vậy, lĩnh vực bảo vệmôi trường có khả năng được bao gồm như một khía cạnh liên ngành chủ yếu trongtương lai, trong chuyên môn hóa phụ thuộc vào trình độ khác Xanh hóa chuyên sâucác ngành nghề có thể xảy ra trong các lĩnh vực sau đây:

- Các ngành nghề nông nghiệp liên quan đến nông nghiệp hữu cơ;

- Các ngành nghề liên quan giao thông hỗ trợ phương tiện di chuyển thân thiện với môi trường;

- Các ngành nghề liên quan năng lượng tập trung vào năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng;

- Các ngành nghề sản xuất từ vật liệu tái chế;

- Các ngành nghề hóa học sử dụng các chất phân hủy sinh học;

- Các ngành nghề liên quan xe cơ giới liên quan đến công nghệ động cơ đẩy thay thế

Hồi đáp kỹ năng

Xuyên suốt nền kinh tế, trong những năm gần đây tất cả các ngành nghề đều

đã được tích hợp với bảo vệ môi trường đến một mức độ nhất định Lĩnh vực bảo vệmôi trường luôn luôn được tích hợp với các chuyên môn kỹ thuật được thêm vàotrong đào tạo hiện có Tại Đức, trình độ chuyên môn kỹ thuật để thực hiện một nghềnghiệp được tạo ra bởi ba kênh chính:

- Hoàn thành một khóa đào tạo nghề ban đầu;

Trang 38

- Hoàn thành chương trình đại học.

Do đào tạo nghề thường xuyên trình có thể đạt được trình độ chuyên môn hóahoặc một trình độ chuyên gia Các kỹ năng cũng có thể được mở rộng thông qua quátrình đào tạo phi chính thức tại nơi làm việc Người học được đào tạo kiến thức cơbản về kỹ thuật, kinh tế và khoa học như một điều kiện tiêu chuẩn Quá trình xanhcủa nền kinh tế và hệ thống giáo dục trong định hướng chung cho nhu cầu cao hơn vềlao động có tay nghề có mức độ tăng lên do sự gia tăng các yêu cầu kỹ thuật

Việc khuyến khích giáo dục và đào tạo, hỗ trợ xanh hóa nền kinh tế được ưutiên Ngoài các phương thức mới về đào tạo, nhiều khóa đào tạo hiện có đang trở nênxanh hơn do sự tích hợp các khía cạnh bảo vệ môi trường Tuy nhiên, vẫn còn phạm

vi cần được cải thiện Nếu các dự báo tương lai cho tốc độ tăng trưởng của công nghệmôi trường được chứng minh là chính xác, thì cần phải có sự duy trì việc đào tạonguồn lao động có tay nghề Chính sách giáo dục của Đức được cho là đã "bỏ lỡ cơhội" để gia tăng đầy đủ năng lực vì việc đã đánh giá thấp sự tăng trưởng cao của khuvực Như trong trường hợp trước đó của quá trình chuyển đổi nhanh chóng, hệ thốnggiáo dục và đào tạo đã phản ứng chậm với sự thiếu hụt kỹ năng, và sẽ cần phải đượcgiải quyết trong tương lai

Theo Luật Dạy nghề, một kỹ năng cụ thể cần được xác định trong nền kinh tếđược hiện đại hóa hoặc việc tạo lập ra một quy chế mới để thực hiện Trong năm

2006, Bộ Môi trường Liên bang bắt đầu một sáng kiến giáo dục mang tên "Môitrường tạo ra quan điểm", trong mối liên kết với các doanh nghiệp đến từ khu vựccông nghệ môi trường/ năng lượng tái tạo Kết quả là, 6.000 người học nghề đượcđào tạo bổ sung vào năm 2009 Sáng kiến này nhằm mục đích xác định các ngànhnghề, kỹ năng và năng lực cần thiết của người học nghề cho lĩnh vực môi trường

Dự báo và giám sát các nhu cầu kỹ năng

Chức năng dự đoán nhu cầu kỹ năng nghề là trách nhiệm của các đơn vị cungcấp đào tạo kỹ thuật được liệt kê ở trên trong ba khu vực:

- Đào tạo nghề ban đầu: việc tạo ra một quy định đào tạo ban đầu mới hoặc

hiện đại hóa quy định ban đầu sẵn có và các chương trình đào tạo tương ứng được thực hiệnthông qua một quá trình đa cấp độ bao gồm người lao động, công đoàn, chính phủ liên bang vàcác nhà sử dụng lao động Theo luật, một kỹ năng cụ thể cần

Trang 39

phải được xác định trong nền kinh tế được hiện đại hóa hoặc thành lập một quy chếđào tạo mới để thực hiện Trong trường hợp các chủ đề môi trường mà có thể đượcphát triển bởi các Bộ liên bang về bảo vệ môi trường, Bảo tồn thiên nhiên và An toànhạt nhân, các mô-đun đào tạo môi trường đặc biệt được xác định bởi sự đồng thuậngiữa người sử dụng lao động và hiệp hội người lao động và Bộ Liên bang về Giáodục và Nghiên cứu Điều này sẽ tạo cơ sở cho sự phát triển của quy chế đào tạo củaCục liên bang về Dạy nghề và Hội nghị Thường vụ Bộ trưởng Giáo dục và Văn hoá.

- Đào tạo nghề thường xuyên: quá trìnhxanh hóa chuyên môn hiện có thường

xảy ra trong hệ thống đào tạo nghề thường xuyên Người ta ước tính rằng 28.000 đến 35.000 nhàcung cấp tiếp tục đào tạo nghề trong năm 2002 Không có luật nào thực hiện việc điều hòa thịtrường này và đánh giá về chất lượng hiếm khi được thực hiện Việc thành lập các khóa học đàotạo thường xuyên mới hay hiện đại hóa các khóa đào tạo đã có chủ yếu được xác định và tổ chứcbởi nhu cầu của doanh nghiệp Đối với các nhà cung cấp tư nhân, các chương trình đào tạo là cácsản phẩm "phải được bán ra" và do đó việc cung cấp bị ảnh hưởng bởi nhu cầu đối với các sảnphẩm Việc thay đổi công nghệ và quy định pháp luật mới là động lực chính cho việc đào tạonghề thường xuyên Hơn nữa, đào tạo thường xuyên thường được cung cấp bởi các nhà sản xuấtthiết bị Ví dụ, hãng Siemens đã xây dựng trung tâm đào tạo các tua bin gió của mình ngoài việcđào tạo nhân viên cho hãng mà còn cung cấp các khóa đào tạo sản xuất và an toàn cho chínhnhững người lao động của khách hàng, là những người làm việc trong các tua-bin gió hoặc trongcác trang trại tua-bin gió

- Đào tạo cấp độ Đại học: nhu cầu cho các khóa đào tạo cấp độ đại học mới

hoặc để đáp ứng với nhu cầu hiện hữu trong nền kinh tế hay việc hợp tác giữa các trường đại học

và các doanh nghiệp có nhu cầu cho học viên được đào tạo đặc biệt Các trường đại học có quyềnquyết định thành lập các khóa đào tạo bởi vì họ nhận thức được nhu cầu tiềm năng, nhưng chưa

có phân tích về điều này Nội dung của các khóa học đại học được quyết định bởi các trường đạihọc Chất lượng được đánh giá thường xuyên bằng cách xếp hạng các khóa đào tạo và các trườngđại học

Kết luận

Trang 40

Một phát hiện quan trọng là thay vì tạo mới các ngành nghề xanh cụ thể, nhiềungành nghề và chương trình đào tạo đã được điều chỉnh và tinh lọc nhằm xác định rõnhững nhu cầu kỹ năng về việc tăng cường các khía cạnh xanh của ngành côngnghiệp và kinh doanh chủ đạo cũng như các ngành công nghiệp sinh thái Ở khíacạnh đó, các hồi đáp kỹ năng được hướng theo một cách tiếp cận tích hợp Trọng tâmcủa cách tiếp cận tích hợp đảm bảo việc sử dụng linh hoạt các lao động có kỹ năng vàtạo ra các cơ hội việc làm tốt hơn so với một nghề chuyên môn hóa.

Để tăng cường việc cung cấp các kỹ năng xanh, cần phải được hướng đếnviệc tích hợp sâu hơn đối với các nghề phi môi trường và cần có chuyên môn nghềnghiệp cao hơn cho các lĩnh vực môi trường Các đối tác xã hội đóng một vai tròquan trọng trong sự hình thành của các khóa học đào tạo, cả trong đào tạo kép và đàotạo đại học Chúng hoạt động mạnh trong việc hình thành các nội dung của chươngtrình đào tạo mới

Sự hợp tác giữa Bộ Bảo vệ môi trường, Bảo tồn thiên nhiên và An toàn hạtnhân (BMU), Bộ Liên bang Giáo dục và Nghiên cứu (BMBF) và Viện Liên BangDạy nghề (BIBB) có thể được cải thiện Các BMBF và BIBB chịu trách nhiệm chủyếu về hệ thống giáo dục và đào tạo BMU chỉ có thể cung cấp tài liệu học tập vàgiảng dạy, trong đó bao gồm rất nhiều kiến thức chuyên môn Việc sử dụng các tàiliệu này phải được đảm bảo với sự hợp tác tốt hơn

1.5.2 Kinh nghiệm từ Hàn Quốc

Bối cảnh chính sách

Những thách thức và ưu tiên chủ đạo cho một nền kinh tế xanh

Hàn Quốc đã trải qua một tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng chưa từng

có và đang là nền kinh tế lớn thứ 15 trên thế giới Lượng phát thải khí CO2 của HànQuốc đang có xu hướng tăng lên cho dù tốc độ tăng đã giảm bớt kể từ sau cuộckhủng hoảng tài chính năm 1997, khi nền kinh tế Hàn Quốc phải trải qua quá trình táithiết nền kinh tế Tuy nhiên, trong số các nước OECD, Hàn Quốc xếp thứ sáu về khốilượng phát thải khí CO2và cũng xếp hạng cao về tỷ lệ tăng lượng phát thải khíCO2hàng năm ở mức 2.4ppm / năm (1997-2006) so với mức tăng trung bình toàn cầu1.9ppm / năm

Lượng phát thải khí CO2 của Hàn Quốc cao do cơ cấu kinh tế và xã hội củađất nước phụ thuộc rất nhiều vào các lĩnh vực tiêu thụ nhiều năng lượng như sản

Ngày đăng: 29/10/2020, 20:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alex Bowen, Policy Research Working Paper 5990: Green’ Growth, ‘Green’ Jobs and Labor Markets, The World BankSustainable Development Network, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Policy Research Working Paper 5990: Green’ Growth, ‘Green’ Jobs and Labor Markets
Tác giả: Alex Bowen
Nhà XB: The World Bank Sustainable Development Network
Năm: 2012
2. BIBB, VET in Euro – Country Report Germany, 9th Edition, Germany 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: VET in Euro – Country Report Germany, 9th Edition
3.Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 -2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 -2020
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
4.CEDEFOP (ILO), Green Skills and environmental awareness in vocational training education. Synthesis report, Luxembourg, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Green Skills and environmental awareness in vocational training education. Synthesis report
Tác giả: CEDEFOP (ILO)
Nhà XB: Luxembourg
Năm: 2012
5. CEDEFOP (ILO), Skill for Green Jobs. A Global View, Geneva, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Skill for Green Jobs. A Global View
Tác giả: CEDEFOP, ILO
Nhà XB: Geneva
Năm: 2011
6. CEDEFOP (ILO), Skill for Green Jobs. Briefing note. Thessaloniki, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Skill for Green Jobs. Briefing note
7.Đặng Bá Lãm, Quản lý nhà nước về giáo dục Lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về giáo dục Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đặng Bá Lãm
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2005
8.Đặng Quốc Bảo, Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục, NXB giáo dục, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2010
9.Đặng Quốc Bảo, Những khái niệm cơ bản về Quản lí giáo dục, Trường Cán bộ quản lý giáo dục trung ương 1, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về Quản lí giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Trường Cán bộ quản lý giáo dục trung ương 1
Năm: 2007
10.GIZ, Green skill development – essential for the transititon to green growth, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Green skill development – essential for the transititon to green growth
Tác giả: GIZ
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w