1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chế độ thi cử thời lê thánh tông và những bài học cho việc quản lý, tổ chức thi cử ở việt nam hiện nay

116 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 344,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cử ở Việt Nam vẫn chưa có những định hướng mang tính chiến lược, sự thiếuhụt này đang tự gây ra nhiều phức tạp cho giáo dục Việt Nam.Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thi cử trong và ngoài

Trang 1

ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

SƠ ĐỒ - BẢNG BIỂU

4 Sơ đồ 4: Quan hệ giữa đánh giá GD và thi cử 22

5 Sơ đồ 5: Biểu đồ số lượng tiến sỹ thời Lê Sơ 78

6 Sơ đồ 6: Hệ thống giáo dục, thi cử hiện nay 84

Bảng biểu

7 Bảng 1: Các hoạt động thi cử thời Lê Thánh Tông 48

8 Bảng 2: Số lượng người đỗ qua các khoa thi Tiến sỹ thời Lê sơ 76

9 Bảng 3: So sánh đặc điểm GD và thi cử thời Lê Thánh Tông và 91hiện nay

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục tiêu nghiên cứu 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của đề tài 7

7 Cấu trúc của luận văn 7

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THI CỬ 8

1.1 Các khái niệm cơ bản 8

1.1.1 Quản lý giáo dục 8

1.1.2 Đánh giá và quản lý thi cử thi cử trong giáo dục 17

1.1.2.1 Đánh giá trong giáo dục và đào tạo 18

1.1.2.2 Quản lý thi cử trong giáo dục 20

1.1.2.3 Quan hệ giữa đánh giá và thi cử trong giáo dục 23

1.2 Tìm hiểu sơ lược thi cử của giáo dục thời phong kiến ở Trung Quốc 23

1.3 Tìm hiểu sơ lược thi cử của giáo dục thời phong kiến ở Việt Nam 29

1.4 Xu hướng phát triển giáo dục trên thế giới và ảnh hưởng đến đổi mới thi cử 35

1.4.1 Sự chuyển đổi quyền lực của giáo dục từ khu vực nhà nước Trung ương sang nhà nước địa phương và sang khu vực tư nhân 35

1.4.2 Giáo dục mang tính thị trường 37

1.4.3 Hội nhập giáo dục 37

Chương 2 HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THI CỬ THỜI LÊ THÁNH TÔNG 38 2.1 Cơ sở hình thành chế độ thi cử thời Lê Thánh Tông 38

2.1.1 Bối cảnh kinh tế- chính trị- xã hội thời Lê Thánh Tông 38

2.1.2 Hoạt động giáo dục thời Lê Thánh Tông 44

2.2 Hoạt động thi cử thời Lê Thánh Tông 48

2.2.1 Các hoạt động thi cử thời Lê Thánh Tông 48

2.2.2 Mô hình tổ chức hệ thống thi cử thời Lê Thánh Tông 60

2.2.3 Tác động của hoạt động thi cử thời Lê Thánh Tông đối với giáo dục và đối với xã hội 73

Trang 4

2.2.3.1 Tác động đối với giáo dục 73

2.2.3.2 Tác động đối với xã hội 74

2.3 Những thành công và hạn chế của hoạt động thi cử thời Lê Thánh Tông 75

2.3.1 Những thành tựu của hệ thống thi cử thời Lê Thánh Tông 75

2.3.2 Những hạn chế của hệ thống thi cử thời Lê Thánh Tông 79

Chương 3 NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ, TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THI CỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 81

3.1 Thực trạng thi cử ở Việt Nam hiện nay 81

3.1.1 Đặc điểm và xu hướng phát triển GD Việt Nam hiện nay 81

3.1.2 Đặc điểm thi cử ở Việt Nam hiện nay 85

3.1.2.1 Mục tiêu thi cử 85

3.1.2.2 Nội dung thi cử 85

3.1.2.3 Các loại hình thi cử 86

3.1.2.4 Quản lý tổ chức thi cử 86

3.1.2.5 Sử dụng kết quả thi cử 86

3.1.2.6 Đổi mới thi cử ở Việt Nam 87

3.2 Những bài học kinh nghiệm về thi cử của thời Lê Thánh Tông cho việc quản lý, tổ chưc ở Việt Nam thi cử hiện nay 87

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 99

Trang 5

cử ở Việt Nam vẫn chưa có những định hướng mang tính chiến lược, sự thiếuhụt này đang tự gây ra nhiều phức tạp cho giáo dục Việt Nam.

Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thi cử trong và ngoài nước là mộtcông việc cấp thiết nhằm rút ra những bài học có thể áp dụng vào việc đổimới công tác thi cử của hệ thống giáo dục Việt Nam, theo kịp những biến đổicủa thời đại

Giáo dục Việt Nam đã có một lịch sử lâu dài và nhiều thành tựu rực rỡvới nhiều di sản còn nhiều giá trị Giáo dục Việt Nam ngày nay chịu nhiềuảnh hưởng của giáo dục thời kỳ phong kiến trước đây, ảnh hưởng tốt cũngnhư ảnh hưởng xấu

Trong kho tàng văn hoá và giáo dục của Việt Nam, quản lý thi cử thời

Lê Thánh Tông là một di sản quý báu cần được nghiên cứu nhằm học tậpnhững kinh nghiệm có thể áp dụng cho công tác quản lý thi cử nói riêng vàquản lý giáo dục nói chung của giáo dục Việt Nam hiện nay

Với các ý nghĩa đó tôi mạnh dạn chọn đề tài : “ Chế độ thi cử thời Lê Thánh Tông và những bài học cho việc quản lý, tổ chức thi cử ở Việt Nam hiện nay” để làm Luận văn tốt nghiệp, hy vọng đóng góp một tư liệu khoa

Trang 6

học về lịch sử phát triển giáo dục Việt Nam trong hoạt động thi cử - một hoạt động trung tâm của giáo dục thời phong kiến.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích, đánh giá một cách toàn diện chế độ thi cử thời Lê ThánhTông, chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm của nó; đặc biệt là để tham chiếuđối với vấn đề tổ chức, quản lý thi cử trong giáo dục ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Giáo dục thời Lê Thánh Tông

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về chế độ thi cử cổ truyền của ngườiViêt, đề tài chỉ tập trung vào thời phát triển nhất của nó là thời Lê Thánh Tông,trong đó tập trung vào thi văn chứ không nghiên cứu hoạt động thi võ và thi lạiviên Chế độ thi cử trong các triều đại khác cũng sẽ được đề cập dưới góc độ cơ sởhoặc so sánh

- Đề tài cũng không đi sâu đánh giá về tình hình tổ chức và quản lý thi cửhiện nay mà chỉ nêu ra những bài học quá khứ để tham khảo trong khi tìm cách cảitiến hiện trạng

4 Nội dung nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu nêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau :

1) Sưu tập các tư liệu lịch sử về thi cử, giáo dục thời Lê Thánh Tông

2) Trình bày cơ sở lý luận về thi cử và đánh giá giáo dục

3) Trình bày khái quát hoạt động thi cử thời Lê Thánh Tông

4) Phân tích, so sánh và rút ra những bài học kinh nghiệm về quản lý thi

cử thời Lê Thánh Tông

5) Một số đề xuất đổi mới hoạt động quản lý thi cử của hệ thống giáo dục hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 7

- Phương pháp lịch sử: Sưu tập tư liệu và phân tích các tài liệu lịch sử xã hội

và lịch sử giáo dục thời Lê Thánh Tông

- Phương pháp nghiên cứu kinh nghiệm: Phân tích, rút ra các bài học kinh nghiệm về quản lý thi cử

- Các phương pháp lý thuyết: Phân tích, tìm hiểu, xây dựng khung lý thuyết

về đánh giá, thi cử và quản lý thi cử

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương :

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THI CỬ

Chương 2 HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THI CỬ THỜI LÊ THÁNH TÔNG.

Chương 3 NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ, TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THI CỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

Trang 8

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THI CỬ 1.1 Các khái niệm cơ bản về quản lý thi cử và đánh giá giáo dục.

Các quan điểm, học thuyết về quản lý đầu tiên ra đời đã gần một thế kỷnay nhưng ý nghĩa lý luận cũng như giá trị thực tiễn của chúng vẫn còn mangtính thời sự, bởi vì các quan điểm, học thuyết ấy ra đời trong bối cảnh nền vănminh công nghiệp đã khá phát triển và đến nay, nền văn minh ấy vẫn tồn tại

và không ngừng phát triển

Về vấn đề quản lý, Các Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trựctiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiềucũng cần phải có một sự chỉ đạo, điều hoà những hoạt động cá nhân nhằmthực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thểsản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một ngườiđộc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải cónhạc trưởng” [4, tr 480]

Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý từ nhiều cách tiếp cận khácnhau

F.W Taylor (1856 - 1915) người đựơc coi là cha đẻ của “thuyết quản

lý khoa học” đưa ra quan niệm cho rằng : “quản lý là biết được chính xác điều

Trang 9

tiếp cận của ông là xác định xem một công việc được thực hiện như thế nàochứ không phải dựa vào kinh nghiệm [20, tr 21]

Xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý, Henry Fayol (1841 1925), một kỹ sư mỏ người Pháp, một nhà quản lý thành công và về sau giảngdạy về quản lý, với cách tiếp cận khoa học về quản lý cho rằng: “Quản lý làquá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động(chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” Ôngkhẳng định : “Khi con người lao động hiệp tác thì điều tối quan trọng là họcần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành, và những nhiệm vụcủa mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức”.[6, tr 46]

-Còn theo H.Koontz (người Mỹ) thì cho rằng: “ Quản lý là một hoạtđộng thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạtđược mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành môitrường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm vớithời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [25, tr 68]

Mary Parker Follett (1868 - 1933), người có những đóng góp quantrọng vào thuyết quan hệ con người trong quản lý nêu quan điểm cho rằng,quản lý là một quá trình động và liên tục Hai điểm nổi bật trong đóng gópcủa bà là: lôi cuốn thuộc cấp tham gia giải quyết vấn đề và tính động của hoạtđộng quản lý thay vì những nguyên tắc tĩnh [20, tr 24]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt độngquản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngườiquản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằmlàm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [6, tr 1]

Về khái niệm quản lý, tác giả Lê Du Phong (Trường ĐH Kinh tế quốc dân):

đã khái quát từ quan niệm của một số học giả như sau “Quản lý là hoạt động

có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người haymột cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất.[25, tr 68, 69]

Trang 10

Từ các quan điểm chung của các thuật ngữ nêu trên có thể đưa ra nhậnxét về hoạt động quản lý (management) như sau:

Tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất quan

điểm: Quản lý là một quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất.

Trong hoạt động quản lý có hai hệ thống quan hệ mật thiết với nhau,

đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý Chủ thể quản lý có thể là một cá

nhân hay một nhóm người có chức năng quản lý, điều khiển tổ chức, làm cho

tổ chức vận hành Khách thể quản lý bao gồm những người thừa hành nhiệm

vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mụctiêu chung

Quản lý gồm bốn chức năng chủ yếu là : kế hoạch hoá; tổ chức; chỉ đạo

và đào tạo

Quản lý giáo dục có hai cấp độ là : cấp vĩ mô và cấp vi mô.

 Quản lý giáo dục cấp vĩ mô: Quản lý nhà nước về giáo dục

Các tác giả Mai Hữu Khuê và Bùi Văn Nhơn đã định nghĩa quản lý nhànước: “Quản lý là một chức năng quan trọng nhất của nhà nước” [25, tr 69].Tác giả Lê Du Phong cho rằng : “Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là sự tổchức và quản lý sự vụ hữu quan của mọi tổ chức và toàn thể xã hội, theonghĩa hẹp là quản lý hành chính do chính phủ đại diện cho nhà nước thực thi

và đảm bảo bằng sức cưỡng chế của nhà nước” [25, tr 69]

Như vậy, có thể hiểu quản lý nhà nước về giáo dục là việc quản lý theo

Trang 11

thực hiện Đó là việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế vàchính sách phát triển GD - ĐT nhằm không ngừng nâng cao trình độ dân trí,đào tạo đội ngũ nhân lực có trình độ cao, phù hợp với sự phát triển kinh tế –

xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng vùng lãnh thổ hay từng địa phương Cấptrung ương là Bộ GD và ĐT, cấp tỉnh là các Sở, và cấp quận/huyện là cácPhòng GD - ĐT quận (huyện)

Quản lý nhà nước về GD gồm:

+ Chủ thể quản lý: Bộ máy quản lý GD các cấp

+ Khách thể quản lý: Hệ thống GD quốc dân (các trường học, trung tâm GD - ĐT, các cơ sở đào tạo và phục vụ đào tạo…)

 Quản lý giáo dục cấp vi mô: cấp cơ sở giáo dục, cấp trường, cấp khoa

Quản lý giáo dục cấp vi mô là việc quản lý các hoạt động trong các cơ

sở GD như: trường học, trung tâm GD, các đơn vị phục vụ ĐT… , trong đó:+ Chủ thể quản lý: Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa

+ Khách thể quản lý: đội ngũ cán bộ, giáo viên; học sinh, sinh viên; tàichính, cơ sở vật chất…

Mục tiêu của quản lý GD chủ yếu là tạo ra môi trường pháp lý và vănhoá, đồng thời duy trì các quy chế nghiêm ngặt nhằm phát huy năng lực sángtạo của tất cả các thành viên trong hệ thống giáo dục vĩ mô cấp nhà nước hay

vi mô cấp trường, cấp khoa

Mục tiêu của quản lý giáo dục là bảo đảm cho hệ thống giáo dục pháttriển đúng quy luật và thúc đẩy phát triển giáo dục về quy mô, chất lượng vàhiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân

 Đối tượng quản lý giáo dục: Giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất, tài chính

 Chủ thể quản lý giáo dục: Cấp vĩ mô là nhà nước, cấp vi mô là nhà trường

Trang 12

 Mục tiêu quản lý giáo dục: Tuỳ thuộc vào mục tiêu của giáo dục nhằmđào tạo ra những người phục tùng hay sáng tạo, khi đó quản lý giáo dục sẽ xâydựng mục tiêu phù hợp với mục tiêu của hệ thống giáo dục.

 Nội dung quản lý giáo dục: Quản lý nhân lực, quản lý tài lực, quản lýđào tạo, quản lý nghiên cứu khoa học giáo dục, quản lý dịch vụ xã hội và sinhviên, quản lý các rủi ro trong giáo dục, quản lý đánh giá và thi cử, quản lý chấtlượng

 Công cụ quản lý giáo dục: Chính sách, kế hoạch, quy chế, hệ thống thông tin, môi trường pháp lý

 Phương pháp quản lý giáo dục: Có các phương pháp quản lý cơ bản

như: Phương pháp chỉ huy như mô hình của Việt Nam và các nước Xãhội Chủ nghĩa trước đây, phương pháp quản lý theo kết quả như môhình của Mỹ, tự chủ cho các cơ sở giáo dục tự chịu trách nhiệm với xãhội thông qua thị trường giáo dục

 Môi trường quản lý giáo dục: Môi trường văn hoá giáo dục, môi trườngvăn hoá tư tưởng trong giáo dục Môi trường này hình thành thông qua các quan hệthầy trò, nhà trường xã hội

Về chức năng của quản lý nói chung, H Fayol đưa ra năm chức năng của hành vi quản lý như sau :

 Lập kế hoạch, nghĩa là xem xét tương lai và sắp xếp trước các thao tác

 Tổ chức, nghĩa là xây dựng các cấu trúc cả vật chất và con người cho công việc

 Chỉ huy, nghĩa là làm cho nhân viên thực hiện công việc của họ

 Phối hợp, nghĩa là thống nhất và xác lập mối tương quan giữa tất cả cáchoạt động

 Kiểm tra, nghĩa là thấy được mọi việc đều được làm phù hợp với các quy tắc đã đặt ra và với các hướng dẫn đã ban bố

Trang 13

Sau khi tham khảo nhiều ý kiên khác nhau về chức năng của quản lý giáo dục, chúng tôi lựa chọn 5 chức năng cơ bản của quản lý giáo dục là :

 Chức năng lập kế hoạch giáo dục đào tạo

 Chức năng tổ chức hệ thống giáo dục đào tạo

 Chức năng điều hành hoạt động giáo dục đào tạo

 Chức năng quản lý thi cử và đánh giá giáo dục đào tạo

 Chức năng quản lý những rủi ro phát sinh trong hoạt động giáo dục, đặcbiệt là trong hoạt động thi cử

 Cấp vĩ mô: Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về GD được quyđịnh trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (điều

36) : “Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống GD quốc dân về mục tiêu, chương

trình, nội dung, kế hoạch GD, tiêu chuẩn nhà giáo,

quy chế thi cử và hệ thống văn bằng”.

Quản lý giáo dục thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong giáo dục

và đào tạo gồm các nội dung chủ yếu được quy định trong Luật Giáo dục(2005, điều 99) như sau:

Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm:

1) Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục;

2) Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáodục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của

Trang 14

5) Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục;

6) Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;

7) Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục;

8) Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục;

9) Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục;

10) Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;

11) Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục;

12) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục

 Cấp vi mô: Quản lý giáo dục trong các cơ sở giáo dục đào tạo, cáctrường đại học và khoa chuyên ngành bao gồm các nội dung chủ yếu như sau:

- Xây dựng tổ chức bộ máy nhà trường theo các quy định hiện hành;

- Lập kế hoạch chiến lược phát triển dài hạn và trung hạn;

- Lập kế hoạch đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội hàng năm bao gồm các tiêu chí đầu vào, quy trình và đầu ra;

- Tổ chức hoạt động đào tạo theo chế độ niên chế và tín chỉ;

- Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học;

- Tổ chức các hoạt động phục vụ xã hội;

- Quản lý nhân sự trong nhà trường;

- Quản lý cơ sở vật chất trong nhà trường;

- Quản lý học sinh, sinh viên;

Trang 15

- Xây dựng và thực hiện các mối liên kết trong ngành và trong xã hội;

- Liên kết đào tạo trong nước;

- Hợp tác quốc tế về đào tạo

 Lập kế hoạch phát triển giáo dục (bao gồm tất cả các yếu tố giáo dục)

 Tổ chức hệ thống và mạng lưới giáo dục

 Điều khiển hoạt động giáo dục (lãnh đạo, ra quyết định )

 Kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục (tổ chức kiểm tra, đấnh giá, thi cử

và công nhận kết quả, quản lý bằng cấp)

 Thay đổi chính sách và hỗ trợ hoạt động giáo dục (điều chỉnh các thể chế và đổi mới các chính sách )

 Quản lý những rủi ro trong giáo dục (thực hiện việc dự phòng và giải quyết các rủi ro trong thi cử )

Trang 16

Sơ đồ 1 Vòng tròn quy trình quản lý giáo dục:

§¸nh gi¸

gi¸o dôc vµqu¶n lý thicö

 Bảo đảm giáo dục phát triển ổn định và đúng quy luật

 Bảo đảm không có các tiêu cực trong giáo dục đào tạo

 Huy động được nguồn lực đầu tư cho giáo dục phát triển với quy mô,

chất lượng, hiệu quả cao nhất

Trang 17

 Tạo ra môi trường văn hoá giáo dục có tính nhân văn cao, phát huyđược tính sáng tạo của các chủ thể tham gia giáo dục (người dạy, người học)

 Hệ thống luật pháp,

 Chính sách giáo dục,

 Văn hoá xã hội,

 Các nguồn lực quản lý (Hệ thống thông tin, cơ sở vật chất, nhân lực quản lý, tài chính cho quản lý )

Quản lý giáo dục là một ngành quản lý đặc biệt có một lịch sử lâu dàivới nhiều thay đổi tuỳ theo các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội Nghiên cứunhững phương thức hay mô hình quản lý giáo dục sẽ cho chúng ta những kinhnghiệm quý báu:

 Về quyền lực quản lý:

Chủ thể quản lý giáo dục thay đổi trong lịch sử giáo dục Khi giáo dụcphát triển thành hệ thống xã hội thì hình thành các yếu tố của quản lý giáo dụcnhư : chủ thể quản lý, khách thể và đối tượng quản lý, nội dung quản lý Trong lịch sử giáo dục, chủ thể quản lý giáo dục đầu tiên là các tổ chức tôngiáo, sau đó là nhà nước và hiện nay quyền lực giáo dục đang thuộc về xã hội

 Về đối tượng và nội dung quản lý:

Đối tượng và nội dung quản lý thay đổi theo lịch sử Theo mô hìnhquản lý chỉ huy tất cả các yếu tố giáo dục đều được quản lý Theo mô hình thịtrường chỉ quản lý chất lượng nhằm bảo đảm lợi ích cho người học và lợi íchcho nhà đầu tư

 Về công cụ quản lý

Công cụ quản lý thay đổi theo mô hình giáo dục và trình độ khoa học

kỹ thuật của thời đại

1.1.2 Đánh giá và quản lý thi cử trong giáo dục

Trang 18

Quản lý thi cử và đánh giá chất lượng giáo dục là một trong những hoạtđộng trọng tâm của giáo dục, hoạt động này có ý nghĩa rất lớn trong việc điềuchỉnh nội dung, mục tiêu và phương pháp giáo dục.

Trang 19

1.1.2.1 Đánh giá trong giáo dục và đào tạo

Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập các chứng cứ nhằm xác định các kết quả của giáo dục và đào tạo

 Để xét cấp chứng chỉ, cấp bằng

 Để phát hiện những lỗi đào tạo

 Xác định kết quả đào tạo

 Để báo cáo tiến trình đào tạo

 Xác định chất lượng đào tạo

 Chức năng điều chỉnh : Điều chỉnh hoạt động giáo dục đúng mục tiêu, đúng quy luật

 Chức năng giá trị: Thực hiện giá trị của giáo dục, cấp bằng cho các đối tượng đào tạo

 Chức năng quản lý: Thực hiện các mệnh lệnh quản lý, điều chỉnh chương trình, nội dung đào tạo

 Chức năng khoa học: Thực hiện chức năng đo lường năng lực nhận thức, năng lực truyền thụ, giảng dạy

 Lập báo cáo đánh giá

 Đánh giá hoạt động đánh giá

Trang 20

Sơđồ2: Quy trình đánh giá trong giáo dục

`

Nội dung của đánh giá trong giáo dục Đánh giá trong giáo dục có các nội dung cơ bản sau:

 Đánh giá học sinh : Đánh giá về kiến thức, đánh giá về kỹ năng, đánh giá

về thái độ

 Đánh giá giảng viên: Đánh giá về kiến thức, đánh giá về kỹ năng, đánh giá về thái độ

 Đánh giá chất lượng tổng thể hệ thống giáo dục

 Đánh giá chất lượng một cơ sở giáo dục

 Đánh giá hiệu quả quản lý giáo dục

 Đánh giá môi trường văn hoá giáo dục

 Đánh giá chính sách giáo dục

Đánh giá trong giáo dục phải đảm bảo các yêu cầu sau:

 Không ảnh hưởng đến quá trình đào tạo

Các ký thuật đánh giá Thông thường có các kỹ thuật đánh giá sau:

 Thu thập tư liệu : Số liệu, hình ảnh, các hoạt động, chứng cứ về kết quả

Trang 21

 Báo cáo nghiên cứu thực địa

Đánh giá trong giáo dục có các phương pháp chủ yếu như sau:

 Đánh giá từ bên trong

 Đánh giá từ bên ngoài

 Đánh giá tổng hợp

Là quá trình thẩm định quá trình đánh giá có bảo đảm các yêu cầu củađánh giá không, ví dụ như: Hiệu quả đánh giá có quá tốn kém không, có quá

ầm ĩ ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của giáo dục không, đánh giá cókhách quan không, có tiêu cực không

Đánh giá trong giáo dục là hoạt động phức tạp, liên quan đến nhiều đốitượng có lợi ích khác nhau, nhiều nội dung khác nhau, trong những điều kiện

và không thời gian khác nhau nên gặp rất nhiều rủi ro

Việc quản lý các rủi ro trong đánh giá giáo dục tập trung vào việc dựđoán các tình huống rủi ro xảy ra trong quá trình đánh giá và dự phòng cácphương án xử lý nhằm bảo đảm hoạt động đánh giá đáp ứng yêu cầu đặt ra

1.1.2.2 Quản lý thi cử trong giáo dục

Thi cử là hoạt động đánh giá giáo dục quan trọng, là loại hình đánh giágiáo dục lâu đời và có tính phổ biến trong lịch sử giáo dục

Mục tiêu của thi cử trong giáo dục

 Mục tiêu chung: xác định chất lượng giáo dục và đào tạo

 Mục tiêu cụ thể Có nhiều mục tiêu cụ thể của thi cử:

- Tuyển sinh đầu vào : tuyển chọn người học cho các bậc học tiếp theo

- Thi tốt nghiệp : đánh giá kết quả của một quá trình đào tạo, một bậc học hay một cấp học

Trang 22

- Thi hết môn, thi học kỳ : đánh giá thường xuyên, định kỳ năng lực

và kết quả học tâp cảu người học

- Thi lựa chọn học sinh giỏi

 Chức năng lựa chọn : lựa chọn học sinh giỏi cho các bậc học tiếp theo

 Chức năng đánh giá, xếp hạng : đánh giá, xếp hạng người học sau một bậc học, cấp học

Sơ đồ 3 Quy trình quản lý thi cử trong giáo dục

 Thi kiến thức lý thuyết

 Thi kỹ năng thực hành

 Thi năng lực sáng tạo giải quyết tình huống phức tạp

 Thi viết theo mô hình tự luận hoặc trắc nghiệm

Trang 23

22

Trang 24

Đánh giá hoạt động thi cử giáo dục: thẩm định hoạt động thi cử theo các tiêu chí

 Về đề thi: lộ đề thi đề thi sai, đề thi không phù hợp

 Về thí sinh : quên giấy báo danh, sức khoẻ, tai nạn trong thi

 Về cán bộ coi thi: tiêu cực vi phạm quy chế, sức khoẻ

 Về thời tiết: thời tiết xấu ảnh hưởng đến thi cử như lụt bão

 Về địa điểm thi: có sự cố về giao thông, môi trường ngập nước

 Về an ninh trong thi cử: lộn xộn, ném đề vào phòng thi, hành hung

giám thị

1.1.2.3 Quan hệ giữa đánh giá và thi cử trong giáo dục:

Đánh giá là hoạt động quan trọng của quản lý giáo dục thi cử là loạihình quan trọng của đánh giá giáo dục Thi cử không đồng nhất với đánh giágiáo dục mà là quan hệ phụ thuộc đánh giá giáo dục Thi cử là điểm nhấnquan trọng của hoạt động đánh giá giáo dục, thi cử có thể được thay thế bằngloại hình đánh giá khác

Thi cử là loại hình đánh giá truyền thống của giáo dục khi các hình thứcđánh giá khác chưa phát triển

Sơ đồ 4 Quan hệ giữa đánh giá chất lượng GD và thi cử

Đánh giá giáo dục

Thi cử trong giáo dục

Trang 25

Thi cử là việc làm bình thường trong GD, chúng ta không nên tầmthường hóa thi cử nhưng cũng không nên quá đề cao thi cử như ở nước ta hiệnnay.

Chúng tôi đưa ra một số tiêu chí đánh giá chất lượng và hiệu quả thi cửnhư sau:

- Kỳ thi phải được tổ chức an toàn, không gây xáo trộn trong hoạt động GD

- Kỳ thi phải được tổ chức ít tốn kém về thời gian và tiền bạc của cả nhân dân và nhà nước

- Thi cử yêu cầu phải khách quan, không có yếu tố chủ quan trong thi cử, trong ra đề thi, chấm bài

- Thi cử phải đo lường được chính xác năng lực toàn diện của học sinh

- Thi cử phải đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần giáo dục khác nhau, không phân biệt loại hình đào tạo, thời gian đào tạo, nơi đào tạo

- Thi cử là hoạt động không vụ lợi, cần được nhà nước trợ cấp về lệ phí thi

để bảo đảm lợi ích cho người nghèo

1.2 Tìm hiểu sơ lược hoạt động thi cử của giáo dục thời phong kiến ở Trung Quốc.

Khoa cử Việt Nam thời phong kiến chủ yếu mô phỏng Trung Hoa Vìvậy, để tìm hiểu các loại hình thi cử trong lịch sử phong kiến Việt Nam, trướchết, chúng ta cần tìm hiểu các hình thức thi cử ở Trung Quốc thời phong kiến.Nghiên cứu khoa cử của Trung Quốc thời phong kiến là cơ sở khoa học đểnghiên cứu khoa cử Việt Nam thời phong kiến nói chung và thời Lê ThánhTông nói riêng

Khoa cử về ngữ nghĩa bao gồm nghĩa của hai từ khoa và cử: khoa nghĩa

là phân chia ra nhiều loại khoa khác nhau, cử là tuyển cử Như vậy khoa cử

nghĩa là phân khoa tuyển chọn sỹ (nhân tài) làm quan bằng cách thi - khảo thí

và như vậy gọi là đầy đủ là khoa cử - khảo thí Toàn bộ thể chế của khoa cử

Trang 26

như hệ thống khoa thi, cách tổ chức thi, hệ thống bài thi, xếp hạng người đỗ, học vị đều là chế độ khoa cử - khảo thí.

Ở Trung Quốc, trước khi có khoa cử còn có nhiều hình thức đánh giákhác:

 Chế độ tiến cử, là chế độ chọn người làm quan, do quan “tiến” lên vua.Loại tuyển chọn tiến cử ấy dựa trên cơ sở phạm vi gia tộc, tông pháp Sỹ làgiai tầng thấp nhất của giai cấp thống trị, chỉ có qua tiến cử tuyển chọn, sỹmới mong vượt ra khỏi mạng lưới quan hệ huyết thống, thế tập để nâng cao vịtrí xã hội của mình

Chế độ này đã được nhắc đến trong Kinh thư Đó là tài liệu xưa nhất vềchế độ tuyển quan Theo ghi chép trong bộ kinh này, ở thiên Nghiêu điển thìchế độ này có từ thời cổ đại Trung Quốc

 Chế độ sát cử

Là chế độ quan lại địa phương xét chọn nhân tài gửi lên trung ương để

sử dụng, nó ra đời và hoàn thiện vào thời Hán Thời Hán các khoa sát cử đềuthông qua triều đình thực hiện khảo thí Phương pháp khảo thí là đối sách và

xạ sách, nội dung cơ bản đều là chú sớ và chương cú của kinh điển Nho gia

Nhưng khảo thí sát cử thời Hán thật khác với khảo thí trong khoa cửthời sau Sát cử lấy tiến cử làm chủ, khảo thí là phụ

 Chế độ khoa cử thời Đường

Chế độ khoa cử được xác lập vào thời Đường Khoa cử thời Đườnggồm nhiều loại khoa, nhưng có thể chia làm hai hệ thống: thường khoa và chếkhoa

Thường khoa mỗi năm cử hành một lần, người dự thi là sinh đồ vàhương cống Sinh đồ là học sinh các trường quốc lập, ở trung ượng (Quốc TửGiám, Hoàng Văn Quán, Sùng Văn Quán) và các học sinh của các châu học,

Trang 27

học đủ điều kiện để vào sự thi do Thượng thư sảnh tổ chức là Sảnh thí Sảnhthí đời Đường là do Thượng thư sảnh chủ trì, sau chuyển cho bộ Lễ chủ trìnên gọi là Lễ bộ thí (thi Hội sau này), nhưng vẫn giữ tên gọi Sảnh thí từ trước.

Hương cống là những người không học tại các trường quốc học, họ làhọc sinh tại các trường tư thục, thậm chí có người tự học, tất nhiên họ cũngqua một kỳ khảo hạch để ghi vào danh sách đưa lên trung ương tham gia kỳthi ở Thượng Thư sảnh cùng với Sinh đồ Danh sách thí sinh tự nguyện ghivào để dự thi gọi là “cầu giải”, “thủ giải” hay “đầu diệp tự cử” được gửi lênkinh cùng với cống vật của địa phương như lương thực, cả đặc sản để cốngtriều đình, gọi là “giải cống”, “phát giải” hay “nhập cống” Người qua sáthạch đưa lên thi sảnh gọi là hương cống

Các thường khoa ở thời Đường cũng gồm nhiều loại như: Đồng tử, Tútài, Tuấn sỹ, Tiến sỹ, Minh kinh, Minh pháp, Minh tự, Minh toán, Nhất sử,Tam sử, Khai nguyên lễ, Đạo cử

Như vậy, khoa thi Tiến sỹ vào thời Đường là một khoa thi lớn trong rấtnhiều khoa thi

Chế khoa thời Đường là do Hoàng đế hạ chiếu để cử hành (từ chế đồng nghĩa với chiếu), khảo thí không theo thường lệ Chế khoa thời Đường có trên

80 loại khoa Những chế khoa nổi tiếng là:

 Hiền lương phương chính năng trực ngôn cực gián (nghĩa là khoa chọn người tài giỏi chính trực, có thể can gián vua)

 Bác thông văn điển, đạt vu giáo hoá (nghĩa là hiểu rộng văn chương, điển phạm đạt tới mức giáo dục)

 Quân mưu hành viễn, kham nhậm tướng soái (nghĩa là mưu lược quân

sự giỏi, có thể làm tướng)

 Tường minh chính thuật, khả dĩ lý nhân (nghĩa là hiểu rõ thuật làm chính sự, có thể trị dân)

Trang 28

Người dự thi chế khoa có thể là người đang giữ chức quan, người đã đỗthường khoa hoặc có thể là thứ dân Chế khoa do Hoàng đế chủ trì Kỳ thi nàycũng tổ chức tại sân điện (Điện đình) Hoàng đế đích thân giám sát, người nàovăn sách đạt bậc cao được đặc phong là mỹ quan, còn lại là xuất thân.

 Chế độ khoa cử hoàn chỉnh ở thời Tống

Chế độ khoa cử thời Tống tiếp tục phát triển trên chế độ khoa cử thờiĐường, nhưng do sự phát triển của kinh tế, sự suy yếu của tầng lớp đại quýtộc, khoa cử khảo thí đã mở rộng tới thứ tộc và địa chủ nhỏ, người dự thi chỉcần văn chương, thơ phú hợp thức là được chọn đỗ, người học có điều kiện thithố tài năng

Thời Tống vẫn theo thời Đường chia khoa cử làm hai loại thi: Thườngkhoa và Chế khoa nhưng các loại khoa thi, nội dung thi, phương pháp thinhiều lần biến đổi, các quy chế thi ngày một nghiêm ngặt

Thường khoa đầu thời Tống có các khoa: Tiến sỹ, Cửu kinh, Ngũ kinh,Tam sử, Tam truyện, Minh kinh, Minh pháp cấp thi địa phương gọi là thủgiải thí, thi vào mùa thu Mùa xuân năm sau thi tại kinh, do Bộ Lễ chủ trì gọi

là Lễ bộ thí, cũng gọi là Sảnh thí theo cách gọi có từ thời Đường

Sảnh thí thời Tống thi “tam trường” (ba trường) gồm các bài thi sách,thi luận, thi phú, không thi thiếp kinh, mặc nghĩa nữa

“Biến pháp” của Vương An Trạch vào thời Tống Thần Tông, Hy Ninh(1068 - 1077), trong đó có những cải cách khoa cử quan trọng; bãi bỏ thi thơphú, thiếp kinh, mặc nghĩa Thi “tứ trường” gồm: luận kinh văn đại nghĩa,chọn một trong các kinh: Dịch, Thi, Thư, Chu lễ, Lễ ký và Luận ngữ

Đến Tống Thiết Tông, Tư Mã Quang chấp chính, khoa cử lại một lầnbiến đổi Khoa thi Tiến sỹ chia thành Tiến sỹ kinh nghĩa và Tiến sỹ thơ phú,chọn một kinh đề thi nhưng quyết định đỗ ở thơ phú Tiến sỹ Minh kinh cũngthi tứ trường

Đến Thiệu Nguyên năm đầu - 1094 (Triết Tông), thi tiến sỹ bỏ thơ phú

Trang 29

Khoa cử thời Tống sơ, chỉ có hai cấp thi, một cấp châu quận cử hành:Thủ giải thí Một cấp do Bộ Lễ cử hành: Sảnh thí.

Đến năm Khai Bảo thứ sáu thời Tống, Tri cống cử Hàn Lâm viện học

sỹ Lý Phưởng lấy Tiến sỹ Vũ Tế Xuyên người đồng hương với ông, học lựckém, đối đáp không thông, bị Hoàng đế truất bỏ và nghi ngờ việc chọn đỗnày Một số sỹ tử bị đánh hỏng lại dâng sớ tố cáo Lý Phưởng “dùng tình đểlấy bỏ”, đề nghị hoàng đế tổ chức phúc thí tại cung điện nhà vua Tiếp nhậnkiến nghị này, Hoàng đế tổ chức phúc thí tại điện Giảng Võ, vua thân ra đề thi

và trực tiếp chủ trì đề thi này Kết quả kỳ phúc thí đỗ tiến sỹ 26 người, cáckhoa khác 101 người đều ban “cập đệ” (đỗ) Vì thế mà Lý Phưởng bị giángchức, cũng từ đó Điện thí trở thành kỳ thi cao cấp nhất của khoa cử

Điện thí và Sảnh thí dần trở thành hai bảng khác nhau, Sảnh thí có Sảnhnguyên và Điện thí có Trạng nguyên Mục tiêu của Điện thí xuất phát từ tệchống tệ thiên vị và xác định vai trò quyết định của Hoàng đế trong khoa cử.Chế độ khoa cử Minh -Thanh, theo 3 cấp thi:

Cấp thứ nhất là Viện thí, cấp thứ hai là Hương thí, cấp thứ ba lại baogồm 3 loại thi: Hội thí, Phúc thí và Điện thí ngoài ra còn có Triều khảo

Viện thí (thi viện) ở thời Minh - Thanh, người đi học ứng thí, Sinh viênhoặc Tú tài gọi là Đồng sinh hoặc Nho sinh Đồng sinh (Nho sinh) trước khitham gia Viện thí, phải trải qua kỳ thi ở các phủ hoặc huyện Thi ở huyện doTri huyện chủ trì, qua thi huyện mới tham gia thi phủ; thi ở phủ do Tri phủchủ trì, đỗ Thi phủ mới tham gia Thi viện Thi viện do Quan học chính chủ trì,qua thi viện, các Đồng sinh (Nho sinh) gọi là Sinh viên chia ra: Phụ sinh,Tăng sinh, Lẫm sinh Cống sinh (Tú tài) nếu lên kinh sư vào Quốc tử giámhọc, gọi là Cống sinh Cống sinh gồm nhiều loại: Tuyển cống, Tuế cống, Âncống, Nạp cống

Sinh viên vào Quốc Từ Giám học gọi là Tọa giám, Tọa giám mãn họcgọi là Giám sinh Giám sinh đã có đủ tư cách thi Hương hoặc được giao quanchức

Trang 30

Hương thí: (thi hương) mở đầu từ năm Hùng Vũ thứ 3 (1370), từ đó vềsau cứ ba năm 1 kỳ thi vào các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu, năm năm hai lần gọi

là chính khoa, ngoài ra gặp lễ vạn thọ, đăng quang, hoặc các ngày lễ khác cóthể mở thêm các ân khoa Hương thí tại Nam Kinh, Bắc Kinh và các địaphương khác Tham gia Hương thí là sinh viên Đỗ thi Hương gọi là Cử nhân,

đỗ đầu bảng là Giải nguyên, đỗ thứ hai là Á nguyên, đỗ thứ ba là Kinh khôi,ngoài ra còn được gọi là Văn khôi

Hội thí (thi Hội) : các cử nhân (đỗ thi Hương) vào các năm: Sửu, Thìn,Mùi, Tuất Thi hội do Bộ Lễ chủ trì, người đỗ thi Hội là Cống sỹ, người đỗđầu là Hội Nguyên

Cử nhân tham gia thi Hội không đỗ tiến sỹ cũng đủ tư cách làm quan,cũng có thời các cử nhân đó phải qua một hình thức thi Đại đào để chọnnhững chức Tri huyện, Giáo thụ

Đầu thời Minh - Thanh, các Cống sỹ đỗ thi Hội không phải phúc thí

Từ năm Khang Hy thứ 51 (1712), khoa Nhâm thìn, thiết lập chế độ phúc thítrước khi thi Hội

Điện thí: (thi Điện) thời Minh từ năm Hùng Vũ thứ 4 (1371), vua Thái

Tổ đã tổ chức thi điên tại Phụng Thiên ra sách vấn, các Tiến sỹ đỗ được phânloại như sau: Nhất giáp gồm ba người, Đệ nhất danh làm Trạng nguyên hayĐiện nguyên, Đệ nhị danh làm Bảng nhãn, Đệ tam danh và Thám hoa, Nhịgiáp tiến sỹ xuất thân và Tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân

Thi điện xong, sau truyền lô xướng danh 3 ngày thực hiện triều khảo,cũng phân loại: nhất, nhị, tam Lần thi này không có quan hệ gì đến công danh

mà tuyển Thứ Cát sỹ, căn cứ vào kết quả ba kỳ thi: Phúc thí, Điện thí và Triềukhảo Trạng nguyên đương nhiên vào Viện Hàn Lâm với chức Hàn Lâm viện

tu soạn; Bảng nhãn, Thám hoa với chức Hàn Lâm viện biên tu Dưới các loạitrên các vị tân khoa có thể được bổ làm chủ sự ở Lục bộ, Trung thư nội cácQuốc tử giám bác sỹ, thấp nhất cũng có thể làm tri huyện

Trang 31

Từ các chế độ tuyển người làm quan bằng tiến cử, sát cử, chuyển sangkhoa cử, đó là bước tiến của việc tuyển chọn nhân tài trong lịch sử TrungQuốc.

Chế độ khoa cử có những đặc điểm:

- Người tham gia khoa cử được ghi tên ứng thí, không cần kể đến địa

vị, tài sản của họ như thế nào, họ hoàn toàn bình đẳng không cần qua sự tiến cửcủa quan lại

- Khảo thí được cử hành định kỳ không cần nhà vua hay quan cấp nào

ra chiếu lệnh

- Khảo thí nghiêm ngặt, chọn đỗ đánh hỏng hoàn toàn do kết quả của văn bài quy định

Những đặc điểm nêu trên đồng thời cũng là ưu việt của chế độ khoa cử

Về khoa thi Tiến sỹ

Từ Tiến sỹ với ý nghĩa tuyển chọn kẻ sỹ ưu tú cho Nhà nước đã xuất

hiện trong sách Lễ ký Khoa thi Tiến sỹ (Tiến sỹ khoa) được ghi trong sáchCựu Đường Thư - Dượng quân tăng truyện và Đại Đường tân ngữ của LưuTrú Trọng, chỉ có điều cả hai sách đều đẩy thời gian ra đời của khoa thi Tiến

sỹ sớm hơn vào thời Tùy

Các nhà ghi chép, khảo cứu khoa cử Trung Quốc và Việt Nam căn cứvào hai sách này cho rằng khoa thi Tiến sỹ và khoa cử nói chung đã ra đời ởthời Tùy Đến Kim Tĩnh, tác giả của cuốn “Khoa cử chế độ dữ Trung Quốcvăn hoá” (Chế độ khoa cử và văn hoá Trung Quốc) đã căn cứ vào Tuỳ thư vàthực trạng văn hoá thời Tuỳ mà xác định ở thời kỳ này vẫn áp dụng chế độ sát

cử, chưa có khoa thi Tiến sỹ

Đến thời Đường, khoa Tiến sỹ cùng tồn tại đẳng lập với nhiều khoa thikhác như Tú tài, Tuấn sỹ, Minh kinh Nhưng khoa thi Tiến sỹ đã thể hiện đặctrưng trọng văn của nó, ngoài kỳ thi thơ phú là thể loại văn học, Thời vụ sách(văn sách thời đó) cũng cần phải giàu sắc thái văn chương (văn thái) Vì vậy

mà khoa thi Tiến sỹ thường gọi là Từ khoa (khoa thi văn chương)

Trang 32

Sang thời Tống, ở thời kỳ đầu khoa thi Tiến sỹ vẫn là một trong nhiềukhoa và có nhiều biến đổi, khi thì bỏ thơ phú mà nâng chất văn trong vănsách, khi thì chia ra hai loại khoa: Tiến sỹ thơ phú và Tiến sỹ kinh nghĩa, rồilại bỏ thơ phú chuyển về minh kinh Chỉ đến khi Điện thí - thi điện cấp cao doHoàng đế chủ trì - ra đời (năm Khai Bảo thứ 6 đời Tống) thì khoa thi Tiến sỹvới ba cấp thi (Hương, Hội, Đình) thi tứ trường, cách 3 năm tổ chức mộtkhoa, danh ngạch rõ ràng, thì lúc đó khoa thi Tiến sỹ mới thực sự ổn định.

Sang thời Minh, khoa thi Tiến sỹ vẫn gồm ba cấp thi, nhưng ở địaphương trước khi thi Hương có thi Viện (Viện thí) Ngoài thi Hội và thi Đìnhcòn có kỳ thực hiện Phúc thí trước khi thi Hội và Triều khảo sau khi thì Đình

để xếp hạng thứ tự các Cát sỹ

1.3 Tìm hiểu sơ lược thi cử thời phong kiến Việt Nam.

Khoa cử Việt Nam thời Lý chỉ có chế khoa, thời Trần, Hồ tổ chức khoaThái học sinh, về thể lệ khoa thi Thái học đã gần thể lệ khoa thi Tiến sỹ với bacấp thi theo thể thức Hương, Hội, Đình Văn bài tứ trường, xếp hạng Thái họcsinh theo giáp đệ, có chọn Tam khôi Nhưng khoa thi Thái học chưa đủ đặctrưng của khoa thi Tiến sỹ - là khoa thi lấy nội dung Nho học kết hợp với vănhọc như đã nói ở trên

Trang 33

Thời Lê sơ có những điều kiện về văn hóa và tư tưởng để tổ chức khoathi Tiến sỹ với định chế đã hoàn thiện, qua lịch sử lâu dài, đó là lúc Nho giáochiếm địa vị thống trị, giáo dục đã phát triển với đội ngũ Nho sỹ đông đảo.

Thi cử thời phong kiến bao gồm 3 loại hình cơ bản: thi văn, thi võ, thilại viên Thi võ để tuyển chọn tướng lĩnh, chỉ huy quân sự Thi văn để tuyểnchọn quan cai trị và giáo dục, truyền bá nền tảng tư tưởng của chế độ là đạoKhổng Thi lại viên là để chọn Lại điển các loại

Thi võ bao gồm thi Sở cử và thi Bác cử

Thi lại viên còn gọi là thi Thư toán (viết chữ, làm tính) Hai loại thi nàytương đối đơn giản, phức tạp nhất là thi văn

Thi văn có hai hình thức chính quy (thường khoa) và không chính quy(chế khoa) Chính quy như các khoa thi tiến sỹ (gồm 3 cấp: thi Hương, thiHội, thi Đình) Không chính quy như các khoa thi: Minh kinh, Hoành từ, SĩVọng

Dưới đây, chúng tôi xin bàn về lịch sử thi cử của các loại hình cơ bảncủa thi văn

Ở thời Lý, chưa có thường khoa, người ta vẫn liên tục tổ chức các khoathi bất thường Do cục diện tư tưởng thời đại này là Tam giáo đồng nguyên,

đạo Phật nắm ưu thế, nên bên cạnh những khoa thi về kinh điển Nho giáo còn

có các khoa thi về Tam giáo Các khoa thi thời Lý có thể kể đến là:

- Khoa thi Minh kinh bác học là một loại chế khoa, có tính chuyên sâu, chọnngười giỏi kinh để dạy học trò Kỳ thi này chỉ thi tam trường, tức chỉ có 3 loại bàithi, thường bỏ trường thứ tư thi văn sách Loại thi tứ trường chỉ thực hiện trongkhoa Thái học sinh và Tiến sỹ sau này

- Chế khoa văn học: nhằm chọn những người có văn học trong nước để đưa vào Viện Hàn Lâm

- Thi Điện: Về khoa thi này, Đại việt sử ký toàn thư ghi là: Điện thí - Thi

điện Hai ông Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú ghi là: Đình thí - Thi Đình Theochúng tôi ghi là Điện thí và Đình thí, ở đây chỉ là ghi địa điểm của

Trang 34

kỳ thi chế khoa (Chế khoa cũng do Hoàng đế chủ trì) chứ không phải làcấp thi cuối cùng của kỳ thi Tiến sỹ để nhằm xếp hạng như Điện thí saunày.

- “Thí thiên hạ sỹ nhân” là thi sỹ nhân trong nước

- Khoa thi tam giáo: thi chọn người giỏi Nho Giáo, Phật giáo, Đạo giáo Loại khoa thi này còn được tiếp tục ở thời Trần

Đến thời Trần, đã tổ chức một kỳ thi có tính chất một thường khoamang tên: Thái học sinh Khoa thi này gần giống khoa thi Tiến sỹ Theo Kiếnvăn tiểu lục, các khoa thi Thái học sinh đã xếp người đỗ thành nhất giáp, nhịgiáp và tam giáp Phan Huy Chú cũng trích lời của Ngô Sỹ Liên trong sáchcủa mình “Phép thi nước ta chia ra giáp đệ bắt đầu từ đây, nhưng niên hạnchưa định rõ vì bắt đầu xây dựng thì phải thế”

Khoa thi Thái học sinh, khoa này tổ chức vào tháng 2 năm Đinh Mùi

-1247 đời vua Trần Thái Tông niên hiệu Thiên ứng Chính Bình thứ 16 là khoathi đầu tiên lấy tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa

Khoa thi Thái học sinh tổ chức vào tháng 3 năm Giáp Thìn - 1304 đờivua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ 12, ngoài danh hiệu Tam khôi

có danh hiệu Hoàng Giáp cho các Thái học sinh nhị giáp Theo Lê Quý Đôndanh hiệu Hoàng Giáp có từ đây

Khoa thi Thái học sinh này cũng phân làm tứ trường Nội dung nhưsau:

 Trường 1: thi Kinh nghi (những chỗ còn nghi ngờ trong kinh), Kinh nghĩa (nghĩa của kinh)

 Trường 2: thi thơ và phú

 Trường 3: thi 3 bài chế, chiếu, biểu

 Trường 4: một đạo văn sách

Trước khi vào trường mỗi thí sinh còn viết ám tả hai Thiên Y quốc và Mục Thiên Tử truyện trong sách cổ của Trung Quốc để loại bớt người kém

Trang 35

Rõ ràng đến khoa thi này, thể thức của một kỳ thi đại khoa đã hoànchỉnh, sau này các triều có thêm bớt sửa đổi nhưng không ngoài thể thức cơbản này.

Năm Bính Tý - 1396 đời vua Trần Thuận Tông niên hiệu Quang Thái, địnhphép thi cho kỳ thi Thái học sinh: Bỏ môn ám tả cổ văn trước khi bước vào tứtrường Ai đỗ thi Hội vào thi Đình đối Cả 4 trường đều ghi rõ ràng về văn

bài:

 Trường thứ nhất: thi một bài Kinh nghĩa, có những đoạn phá tiếpngữ, điều giảng, nguyên đề, đại giảng, kết thúc, bài làm hạn 500 chữ trở lên

 Trường thứ nhì: ngoài bài thơ Đường luật, bài phú dùng Cổ Thể,

Ly Tao hoặc thể Văn Tuyển cũng hạn 500 chữ trở lên

 Trường thứ ba: thi một bài chiếu dùng thể thời Hán: chế, biểu mỗi thứ một bài dùng thể tứ lục (4 - 6) đời Đường

 Trường thứ tư: văn sách ra đề về kinh sử, thời vụ 1000 chữ trở lên

Phép thi đến nay đủ cả bốn trường, đến thời Lê sơ vẫn không thay đổi Các nhà nghiên cứu đều cho rằng: khoa thi Thái học sinh này tươngđương với khoa Tiến sỹ Nguyễn Ứng Long (tức Nguyễn Phi Khanh) đã đỗkhoa thi Thái học sinh năm Giáp Dần niên hiệu Long Khánh thứ 2 đời vuaTrần Duệ Tôn - 1374 cũng tự nhận mình là vị Tiến sỹ của khoa này - LongKhánh nhị niên tân Tiến sỹ (Vị Tiến sỹ mới của khoa thi năm Long Khánhthứ 2) [33, tr 114]

Về mặt tổ chức, khoa thi Thái học sinh thời Trần cũng dần được địnhchế hoàn thiện như khoa thi Tiến sỹ: thi tứ trường, phân tam giáp và xếp Tamkhôi Nhưng tại sao triều Trần không gọi là khoa Tiến sỹ, mặc dầu khoa Tiến

sỹ và học vị Tiến sỹ đã có từ lâu Còn học vị Thái học sinh lại chưa từng cótrong lịch sử khoa cử Trung Quốc?

Trang 36

Thái học trong Thái học viện là một tên gọi khác của Quốc Tử Giám vàThái học sinh là tên khác của Giám sinh Theo chúng tôi triều Trần đặt KhoaThái học sinh là hàm ý lúc đó triều đình chỉ chọn những người học cao nhấtlúc bấy giờ chứ chưa có thể đặt khoa Tiến sỹ, lấy đõ Tiến sỹ, ban học vị Tiến

sỹ Vì khoa thi Tiến sỹ về mặt nội dung đó là sự kết hợp giữa Nho học và vănhọc, về mặt tư tưởng nó là sản phẩm của thời Nho học ở vào vị thế độc tôn,

mà ở Việt Nam mãi đến thời Lê sơ Nho giáo mới có được vị thế này NhàTrần chưa có bình diện tư tưởng ấy, triều đình chưa thể đặt khoa và công nhậnhọc vị Tiến sỹ được Từ khoa Tam giáo đến khoa Thái học sinh là bước tiến

về học thuật Nho học

Triều Hồ mở rộng việc học tập, khoa cử, bỏ khoa thi Tam giáo, chỉ thiThái học sinh Phép thi được đổi lại: Không theo phép thi ba kỳ của nhàNguyên, chia làm bốn kỳ lại thêm một kỳ viết chữ và làm tính, tổng cộng là 5

kỳ thi Cứ ba năm mở một khoa thi, năm nay thi Hương, người nào trúngtuyển thì được miễn lao dịch Năm sau thi ở bộ Lễ, người nào trúng tuyểnđược bổ dụng Hai năm sau nữa thi Hội, người nào trúng tuyển thì được xungvào “Thái học sinh”

Ở các triều trước và sau triều Hồ cũng có tổ chức kỳ thi làm toán vàviết chữ để tuyển lại viên Riêng triều Hồ yêu cầu các sỹ tử dự tuyển kỳ thi

đại khoa có thi cả toán và viết chữ, là một nét đặc sắc của khoa cử Việt Nam,

vì nó đem đến cho khoa cử một lĩnh vực tri thức mới

Đến thời Lê, khoa thi Tiến sỹ đầu tiên được tổ chức vào năm 1442 Bêncạnh đó vẫn có các chế khoa Lê Thái Tổ mở chế khoa Minh kinh năm 1429.Các vua kế nghiệp Lê Thái Tổ là Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông tiếp tục mởcác chế khoa Đến năm Nhâm Tuất - 1442, triều vua Lê Thái Tông, niên hiệuĐại Bảo thứ ba mở khoa thi Tiến sỹ đầu tiên Từ khoa thi Tiến sỹ này đã thựchiện khá đầy đủ trình tự và quy mô của kỳ đại khoa; thi gồm 3 cấp: thiHương, thi Hội, thi Đình Sau thi Đình xếp hạng Tiến sỹ theo tam giáp (nhất

Trang 37

giáp, nhị giáp và tam giáp), đặt tam khôi Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoacho các Tiến sỹ đệ nhất giáp.

Sau 4 Chế khoa, triều Lê sơ đã có kinh nghiệm và thành tựu về khoa

cử Năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3, vua Lê Thái Tông giao choNguyễn Trãi làm chủ khảo khoa thi Tiến sỹ đầu tiên Nguyễn Trãi và triềuđình đã tổ chức khoa thi Tiến sỹ này theo định lệ hoàn chỉnh của khoa thiTiến sỹ và trở thành mẫu mực cho các kỳ thi Tiến sỹ sau này

Định chế khoa thi Tiến sỹ

Quá trình thi của kỳ thi Tiến sỹ gồm ba cấp thi Mùa thu năm 1441 thiHương tại các địa phương, kết quả kỳ thi Hương xếp theo hai hạng Sinh đồ(như Tú tài thời Nguyễn) và Hương cống (như Cử nhân thời Nguyễn) Giữamùa xuân năm 1442, các Hương cống vào dự kỳ thi Hội, thi Hội do bộ Lễ chủtrì tại kinh đô

Thi Hội xong các Cống sỹ (tên gọi các Tiến sỹ đỗ kỳ thi Hội) vào dự thiĐình Thi đình do Hoàng đế chủ trì, địa điểm thi tại sân điện Hoàng đế

Bài thi của kỳ thi Hương và thi Hội đều gồm bốn "kỳ" hay bốn

"trường" - "tứ trường", mỗi kỳ hay trường gồm một số bài thi

 Trường nhất (Đệ nhất trường) thi Kinh nghĩa và Thư nghĩa làm theo thể văn bát cổ (văn tám vế, đối ngẫu)

 Trường nhì (Đệ nhị trường) thi tản văn (hành chính): chế, chiếu, biểu

 Trường ba (Đệ tam trường) thi thơ và phú

 Trường bốn (Đệ tứ trường) thi văn sách

Kỳ thi Đình chỉ thi văn sách và gọi là đối sách (sách trả lời) vì nhà vua

ra sách vấn để hỏi Sách vấn giao cho quan chủ khảo ra, nhà vua làm nhiệm

vụ phê duyệt chấm bài, các quan Độc quyển đọc bài cho vua, vua phê duyệt,bài xếp thứ tự cao thấp theo "giáp" cũng gọi là "bảng" và "đệ" là thứ tự người

đỗ trong từng bảng

Trang 38

Bảng một: Đệ nhất giáp gồm 3 người tức Tam danh là Trạng nguyên,Bảng nhãn, Thám hoa.

Bảng nhì: Đệ nhị giáp, bảng này số người không hạn định, các Tiến sỹthuộc bảng này còn được gọi là Hoàng giáp

Bảng ba: Đệ tam giáp số người không hạn định

Đến năm Giáp Dần đời Hồng Đức thứ 15 - năm 1484, khi vua LêThánh Tông thực hiện lập bia đề danh Tiến sỹ, có truy lập khoa thi đầu tiênnày mới theo đề nghị của Lễ bộ thượng thư Quách Đình Bảo xếp hạng cácTiến sỹ theo cách xếp hạng của nhà Minh đang dùng

Từ khoa thi đầu tiên Lê Thánh Tông, ngược lên khoa thi thời Lê TháiTông được xếp hạng và gọi tên các thứ tự học vị như sau:

 Bảng một: Đệ nhất giáp Tiến sỹ cập đệ, trong bảng này có ba vị:

- Đệ nhất giáp Tiến sỹ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên)

- Đệ nhất giáp Tiến sỹ cập đệ đệ nhị danh (Bảng nhãn)

- Đệ nhất giáp Tiến sỹ cạp đệ đệ tam danh (Thám hoa)

 Bảng hai: Đệ tam giáp Tiến sỹ đồng xuất thân Số người đỗ bảng

này không hạn định

Bảng nhất và Bảng nhì thường gọi là chính bảng, bảng ba là phụ bảng Các khoa thi Tiến sỹ dưới triều Lê Thánh Tông được tổ chức đều đặntheo truyền thống đại tỷ ba năm một kỳ Triều đình còn ra thêm các ân điểnmới, ban cờ có thêu danh tính cho tam khôi về vinh quy, lập bia đá lưu danhtiến sỹ Từ đó đến năm 1919, khoa thi Tiến sỹ trở thành một đại khoa được tổchức thường xuyên

1.4 Xu hướng phát triển giáo dục trên thế giới và ảnh hưởng đến đổi mới thi cử.

1.4.1 Sự chuyển giao quyền lực của giáo dục từ khu vực nhà nước Trung

Trang 39

Lịch sử giáo dục thế giới đã thực hiện một cuộc chuyển giao lớn vềquyền lực từ khu vực tôn giáo sang khu vực nhà nước ở phương Tây, từ nhàthờ chuyển quyền quản lý giáo dục cho nhà nước và chuyển dần các trườnghọc của mình cho nhà nước và cho cộng đồng địa phương ở phương Đông,quá trình này chủ yếu chuyển dần giáo dục từ các nhà chùa của đạo Phật sangnhà nước được thực hiện bởi các cuộc cách mạng và quyền lực của giáo dụcchủ yếu do nhà nước nắm giữ và giáo dục được hiểu là hệ thống giáo dục củanhà nước.

Hiện nay, nhân loại lại chứng kiến quá trình chuyển giao quyền lực từkhu vực nhà nước trung ương sang nhà nước địa phương, thực hiện phi tậptrung hoá sang khu vực phi chính phủ và tư nhân

Trước hết là ở quy mô giáo dục vi mô: Các trường học đang đượcchuyển dần cho khu vực phi chính phủ quản lý nhằm tăng cường sức cạnhtranh Khu vực quản lý vĩ mô, nhà nước vẫn cần nắm giữ nhằm tạo cơ chếhoạt động bình đẳng trong giáo dục trong quá trình cạnh tranh

Mặc dù hiện nay, một số nước vẫn duy trì hệ thống giáo dục phúc lợi

do nhà nước bao cấp, nhưng thực chất hệ thống giáo dục này là hệ thống giáo dục tinh hoa, hạn chế giáo dục đại học thông qua hệ hệ thống sàng lọc chứa đựng nhiều sự bất bình đẳng về cơ hội học tập cho mọi người, hệ thống này trong cơ chế thị trường toàn cầu đang làm cho các nước này thiếu hụt nhân lực trình độ cao và thị trường công nghệ cao cũng không phát triển bằng các nước thực hiện mô hình giáo dục mở ở trình độ cao cho mọi người Việc chuyển giao này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như:

 Nhà nước không đủ nguồn tài chính để cung cấp cho hệ thống giáo dục khổng lồ ngày càng khổng lồ hơn

 Khu vực giáo dục phi chính phủ năng động hơn, linh hoạt hơn, phù hợpvới nhu cầu học tập đa dạng của con người trong cơ chế thị trường toàn cầu

Trang 40

 Giáo dục bậc cao được xác định là lĩnh vực đầu tư phát triển do vậy vận hành theo cơ chế thị trường sẽ có động lực phát triển mạnh hơn.

 Nhiều tập đoàn kinh tế mạnh chủ động đầu tư vào giáo dục để chủđộng có được nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển của mình

 Các tổ chức phi chính phủ, cá nhân đóng vai trò ngày càng lớn trongquá trình phát triển giáo dục (xây dựng, tham gia đầu tư xây dựng

trường dân lập, tư thục)

Giáo dục khu vực ngoài công lập đang đóng vai trò lớn và đang là độnglực phát triển của hệ thống giáo dục hiện nay

Ngày đăng: 29/10/2020, 20:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w