ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIKHOA SƯ PHẠM TRƯƠNG THỊ THU THỦY Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn ngoại ngữ cho sinh viên hệ chính quy tại Học Viện Hành chính Quốc gia -luËn v¨n th¹c S
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
TRƯƠNG THỊ THU THỦY
Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn ngoại ngữ cho sinh viên hệ chính quy tại Học Viện Hành chính Quốc gia
-luËn v¨n th¹c SĨ GIÁO DỤC HỌC
Hµ néi - 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
TRƯƠNG THỊ THU THỦY
Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn ngoại ngữ cho sinh viên hệ chính quy tại Học
Viện Hành chính Quốc gia
Mã số
luËn v¨n th¹c SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh
Hµ néi - 2008
Trang 3MỤC LỤC
TRANG
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Mục đích nghiên cứu……… 2
3 Khách thể nghiên cứu……… 2
4 Đối tượng nghiên cứu……… 2
5 Các nhiệm vụ nghiên cứu ……… 2
6 Giả thuyết khoa học … ……… 3
7 Phạm vi nghiên cứu……… 3
8 Phương pháp nghiên cứu……… 3
9 Cấu trúc luận văn 3
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy - học môn 4 ngoại ngữ 1.1 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu ……… 4
1.1.1 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường …… 4
1.1.2 Khái niệm hoạt động dạy - học ……… 8
1.1.3 Quản lý hoạt động dạy - học ………. 11
1.2 Quản lý hoạt động dạy học ở trường Đại học 12
1.2.1 Đặc điểm của hoạt động dạy - học ở trường Đại học ……… 13
1.2.2 Các nội dung quản lý hoạt động dạy- học ở trường Đại học 19 1.3 Yêu cầu về dạy học môn ngoại ngữ và quản lý hoạt động dạy học 22 môn ngoại ngữ ở trường Đại học……… …
1.3.1 Yêu cầu về dạy - học môn ngoại ngữ……… 22
1.3.2 Quản lý hoạt động dạy môn ngoại ngữ……… 23
1.3.3 Quản lý hoạt động học môn ngoại ngữ ……… 24
1.3.4 Những yêu cầu mới về dạy - học ngoại ngữ tại Học viện Hành 26 chính Quốc gia ……… ………
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy - học 29 môn ngoại ngữ cho sinh viên hệ chính quy tại học viện hành chính quốc gia
2.1 Khái quát về hoạt động đào tạo tại Học viện Hành chính Quốc gia 29
Trang 42.1.1 Khái quát về Học viện Hành chính Quốc gia 29
Trang 52.1.2 Đặc điểm đối tượng đào tạo của Học viện Hành chớnh Quốc gia… 30
2.1.3 Mục tiờu đào tạo của Học viện Hành chớnh Quốc gia……… 31
2.1.4 Tổ chức bộ mỏy quản lý của Học viện Hành chớnh Quốc gia 32
2.2 Thực trạng cụng tỏc quản lý hoạt động dạy - học mụn ngoại 33 ngữ cho sinh viờn hệ chớnh quy tại Học viện Hành chớnh Quốc gia 2.2.1 Vài nột về Bộ mụn ngoại ngữ ………. 33
2.2.2 Thực trạng dạy - học mụn ngoại ngữ cho sinh viờn hệ chớnh quy 36 tại Học viện Hành chớnh Quốc gia ……….
2.2.3 Đỏnh giỏ thực trạng quản lý hoạt động dạy - học mụn ngoại ngữ 64 cho sinh viờn hệ chớnh quy tại Học viện Hành chớnh Quốc gia…………
Ch-ơng 3: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy 71 - học môn ngoại ngữ cho sinh viên hệ chính quy tại học viện hành chính quốc gia
3.1 Định hướng và nguyờn tắc xõy dựng cỏc biện phỏp quản lý hoạt 71 động dạy học mụn ngoại ngữ ở Học viện Hành chớnh Quốc gia 3.1.1 Cỏc định hướng ……… 71
3.1.2 Cỏc nguyờn tắc ……… 71
3.2 Cỏc biện phỏp quản lý hoạt động dạy - học mụn ngoại ngữ cho sinh 72 viờn hệ chớnh quy tại Học viện Hành chớnh Quốc gia…………
3.2.1 Cỏc biện phỏp quản lý hoạt động dạy mụn ngoại ngữ cho 72 sinh viờn hệ chớnh quy cho đội ngũ giảng viờn … ……
3.2.2 Cỏc biện phỏp quản lý hoạt động học mụn ngoại ngữ cho 80 sinh viờn hệ chớnh quy
3.2.3 Cỏc biện phỏp quản lý cỏc hoạt động hỗ trợ cho dạy - học 85 mụn ngoại ngữ cho sinh viờn hệ chớnh quy
3.3 Thăm dũ tớnh cấp thiết, tớnh khả thi và tớnh hiệu quả của cỏc 90 biện phỏp
Kết luận và khuyến nghị……… 94
1 Kết luận……… 94
2 Khuyến nghị……… 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO………. 98
PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang cùng nhân loại bước vào nhữmg năm đầu của thế kỷXXI, thế kỷ của nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàn cầu, thế kỷ của sựbùng nổ thông tin và khoa học công nghệ Nền kinh tế tri thức đòi hỏi conngười phải có nhiều kiến thức, kỹ năng mới và một thái độ tích cực để làmchủ cuộc sống Xu thế hội nhập quốc tế ngày nay đòi hỏi phải có một nguồnnhân lực chất lượng cao làm việc được trong một môi trường đa ngôn ngữ, đavăn hóa Yêu cầu này làm cho việc dạy học ngoại ngữ nói chung và dạy họctiếng Anh nói riêng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết trong hệ thống giáodục quốc dân, đặc biệt là trong giáo dục đại học Trong bối cảnh đó, ngoạingữ đã thực sự trở thành một phương tiện giao tiếp, là chìa khoá mở cửa khotàng tri thức nhân loại, góp phần to lớn trong công cuộc công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, giúp chúng ta vững bước trên con đường hội nhậpquốc tế Ngoại ngữ là công cụ giao tiếp mới, giúp người học nâng cao và mởrộng tầm hiểu biết của mình qua việc tiếp xúc, tìm hiểu và chọn lọc đượcnhững tri thức văn hoá không những của riêng dân tộc có thứ tiếng đó màcòn của cả loài người Thực tế đặt ra cho ngành Giáo dục đối với việc dạy vàhọc ngoại ngữ là đào tạo ra nguồn nhân lực lao động có chất lượng cao, cókhả năng sử dụng được ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp trong công việchàng ngày
Quản lý hoạt động dạy - học môn ngoại ngữ có ý nghĩa vô cùng quantrọng đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường Quản lý tốthoạt động dạy - học môn ngoại ngữ sẽ giúp giảng viên và sinh viên có nhữngbước đi đúng đắn trong từng khâu của quá trình dạy học nhằm đạt được cácyêu cầu do mục tiêu giáo dục đề ra
Hiện nay, việc quản lý dạy và học ngoại ngữ còn nhiều bất cập, chậmđổi mới, một số giảng viên giảng dạy qua loa, nhiều sinh viên chỉ chú trọnghọc để đối phó với thi cử Việc dạy và học còn mang nặng tính hình thức,chạy theo thành tích Chất lượng dạy và học ngoại ngữ còn thấp, khả năng
Trang 7thực hành tiếng của sinh viên còn kém, không sử dụng được ngoại ngữ đãhọc để giao tiếp Việc đầu tư trang thiết bị hiện đại phục vụ cho việc dạy vàhọc còn hạn chế hoặc nếu được trang bị thì hiệu quả sử dụng còn thấp.
Học viện Hành chính Quốc gia là cơ quan có vai trò quan trọng trongđào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức, nghiên cứu về hànhchính và cải cách hành chính góp phần thúc đẩy cải cách hành chính nhànước nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế Học viện HCQG
có quan hệ hợp tác về lĩnh vực hành chính với nhiều quốc gia và tổ chứcquốc tế: Pháp, Canada, Đức, Italia, Anh, Nhật Bản Vì vậy, việc dạy vàhọc tốt môn ngoại ngữ với sinh viên hệ chính quy đóng vai trò quan trọngtrong việc nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện và có trình độ ngoại ngữtốt không chỉ giúp sinh viên tự học, tự nghiên cứu chuyên môn tốt mà còngiúp ích cho họ công tác tốt khi ra trường
Xuất phát từ những lý do nêu trên, là một giảng viên Tiếng Anh, tôi
chọn đề tài: “Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn ngoại ngữ cho sinh viên hệ chính quy tại Học viện Hành chính Quốc gia” với mong
muốn xây dựng được các biện pháp khả thi và hiệu quả trên cơ sở lý luậnkhoa học và thực tiễn nhằm quản lý tốt hoạt động dạy - học môn ngoại ngữ
để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn ngoại ngữ chosinh viên hệ chính quy tại Học viện HCQG nhằm nâng cao chất lượng dạy -học môn ngoại ngữ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện
3 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy - học môn ngoại ngữ ở Đại học
4 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy - học môn ngoại ngữ cho sinh viên hệ chínhquy ở Học viện HCQG
Trang 85 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được một hệ thống các biện pháp phù hợp và khả thi đểquản lý hoạt động dạy - học môn ngoại ngữ cho sinh viên hệ chính quy ởHọc viện HCQG thì chất lượng dạy học môn ngoại ngữ sẽ được nâng cao
6 Các nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý hoạt động dạy - học môn ngoại ngữ cho sinh viên hệ chính quy ở trường Đại học
- Khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy - học môn ngoại ngữ cho sinh viên hệ chính quy ở Học viện HCQG
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn ngoại ngữcho sinh viên hệ chính quy ở Học viện HCQG nhằm nâng cao chất lượng dạyhọc môn ngoại ngữ của Học viện
7 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn ngoại ngữcho sinh viên hệ chính quy tại Học viện Hành chính Quốc gia, Học việnChính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
8 Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lý luận: Bao gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống những vấn đề lý luận có liên quan tới đề tài nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp điềutra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn đối với sinh viên, giảng viên, cán bộ quản lý; hỏi ýkiến các chuyên gia; phương pháp quan sát, tổng kết kinh nghiệm giáo dục
- Phương pháp thống kê toán học để xử lý những số liệu thu được từkhảo sát thực tế
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn dược trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy - học môn ngoại ngữ
3
Trang 9Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy - học môn
ngoại ngữ cho sinh viên hệ chính quy tại Học viện HCQG
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn ngoại ngữ
cho sinh viên hệ chính quy tại Học viện HCQG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY
-HỌC MÔN NGOẠI NGỮ
1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.1.1.1 Khái niệm quản lý
Mọi hoạt động của đời sống xã hội trong suốt lịch sử phát triển của xãhội loài người đều cần tới quản lý Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuậttrong việc điều khiển hệ thống xã hội ở mọi cấp độ Ở đâu có tập thể, có tổchức là ở đó có quản lý Quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phốihợp những nỗ lực cá nhân hướng tới mục tiêu chung K Marx đã nói đến sựcần thiết của quản lý: “Bất kỳ lao động nào có tính xã hội và chung, trực tiếpđược thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhiều cần đến sự quản lý một người chơi vĩ cầm riêng rẽ thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dànnhạc thì cần có nhạc trưởng”.” [38, 480]
Hiện đang tồn tại rất nhiều định nghĩa về quản lý:
- Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằmlàm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [8, 6]
- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thểquản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng bịquản lý) về các mặt chính trị văn hoá xã hội, kinh tế bằng một hệ thống cácluật lệ, các chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thểnhằm tạo ta môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng [8, 29]
Trang 10Từ các định nghĩa trên chúng ta có thể thấy rõ mặc dù các tác giả cócác quan niệm, nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý nhưng họ đều thốngnhất về bản chất của hoạt động quản lý với một số đặc điểm sau:
- Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu
tố chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bịquản lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, câytrồng và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ
thể quản lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự camkết, thoả thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh cácmối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý
- Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điềukhiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một
tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt
được mục tiêu đề ra
Xã hội ngày càng phát triển, vai trò của quản lý càng được nhấn mạnh
và nội dung của hoạt động quản lý càng phức tạp Tác động quản lí thườngmang tính tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau Vì vậy, trong quản lýkhông thể tuân thủ theo những quy định cứng nhắc mà phải linh hoạt, mềmdẻo Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Là một khoa học vìcác hoạt động quản lý luôn là một hoạt động có tổ chức, có định hướng trênnhững quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể Quản lýđồng thời là một nghệ thuật vì hoạt động quản lý là một hoạt động thực hànhtrong thực tiễn vô cùng phong phú và đầy biến động Không có một nguyêntắc chung nào cho mọi tình huống Nhà quản lý phải làm sao để có thể xử lýsáng tạo, thành công mọi tình huống nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề
ra, điều đó phụ thuộc vào bí quyết sắp xếp các nguồn lực, nghệ thuật giaotiếp, ứng xử, khả năng thuyết phục, kỹ năng sử dụng biện pháp của từngngười
Trang 11Như vậy quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội Chủthể quản lý và khách thể quản lý luôn luôn có quan hệ tác động qua lại vàchịu tác động của môi trường Con người là yếu tố trung tâm của hoạt độngquản lý vì thế quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật Ngườiquản lý phải nhạy cảm, linh hoạt, sáng tạo và mềm dẻo Quản lý còn là mộtnghề Người ta có thể nói rằng sự thành công hay thất bại của một tổ chứcchính là sự thành công hay thất bại của chính người quản lý tổ chức đó.
1.1.1.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt của con người, nó có từ khiloài người được sinh ra Bởi vì trong quá trình lao động, con người có tíchluỹ kinh nghiệm và con người truyền lại cho thế hệ sau, ban đầu là tự phátsau dần trở thành tự giác, có ý thức, có mục đích và có chương trình Giáodục có vị trí, vai trò rất to lớn trong đời sống xã hội con người, vì vậy QLGD
là vấn đề mà các quốc gia trên thế giới đều quan tâm
QLGD là một khoa học quản lý chuyên ngành được nghiên cứu trênnền tảng của khoa học nói chung đồng thời cũng là bộ phận của khoa họcgiáo dục Cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm QLGD có nhiều cáchhiểu và được nhiều tác giả định nghĩa khác nhau
Có thể khái quát như sau: QLGD là hệ thống những tác động có mụcđích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên vàhọc sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường làm choquá trình này hoạt động để đạt những mục tiêu dự định, nhằm điều hành phốihợp các lực lượng xã hội thúc đẩy mạnh mẽ công tác giáo dục thế hệ trẻ, theoyêu cầu phát triển xã hội Trong QLGD, quan hệ cơ bản là quan hệ giữangười quản lý với người dạy và người học, ngoài ra còn các mối quan hệkhác như quan hệ giữa các cấp bậc khác, giữa giảng viên với sinh viên, giữanhân viên phục vụ với công việc liên quan đến hoạt động giảng dạy và họctập, giữa giảng viên - sinh viên và cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục
Trang 12Ngày nay, theo quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời,giáo dục không còn giới hạn cho thế hệ trẻ mà là giáo dục cho mọi người,cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm
thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Theo lý luận giáo dục hiện đại, QLGD được hiểu như “việc thực hiệnđầy đủ các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đối với toàn
bộ các hoạt động giáo dục “[9, 17] Quá trình của hệ quản lý này dựa trên cơ
sở của việc ra những quyết định đúng đắn, việc điều chỉnh linh hoạt và việc
xử lý thông tin về các hoạt động giáo dục một cách kịp thời
Trong cuốn Giáo dục học, Phạm Viết Vượng đã viết: “Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội” [35, 206].
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang khái niệm quản lý giáo dục là kháiniệm đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ thống giáo dục quốc gia, quản lý các
phân hệ của nó, đặc biệt là quản lý trường học) “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo
dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [30, 35]
Từ những định nghĩa trên ta thấy khái niệm: “Quản lý giáo dục” có nộihàm rất linh hoạt, nếu hiểu giáo dục là các hoạt động giáo dục diễn ra trongnhà trường hay ngoài xã hội thì QLGD là quản lý mọi hoạt động giáo dụctrong xã hội, lúc đó QLGD được hiểu theo nghĩa rộng nhất Còn chỉ nói đếnhoạt động trong ngành giáo dục đào tạo thì lúc đó QLGD sẽ được hiểu làquản lý một số cơ sở giáo dục - đào tạo (là quản lý nhà trường) và quản lýmột số cơ sở giáo dục - đào tạo ở một bộ phận hành chính nào đó (huyện,tỉnh, toàn quốc) ta gọi là quản lý một hệ thống giáo dục Nghĩa là khái niệm
Trang 13QLGD được hiểu theo nghĩa hẹp hơn Nhưng rõ ràng là, dù được hiểu theonghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì mục đích cuối cùng của QLGD vẫn là nâng caochất lượng giáo dục.
Nói chung, QLGD là một loại hình của quản lý xã hội, là quá trình vậndụng những nguyên lý, phương pháp, khái niệm của khoa học quản lý vàomột lĩnh vực hoạt động cụ thể, một ngành chuyên biệt, đó là ngành giáo dục
Quản lý nhà trường gồm:
- Quản lý chương trình dạy- học và giáo dục của nhà trường;
- Quản lý học sinh (quản lý các hoạt động của học sinh);
- Quản lý giáo viên, phát triển nghề nghiệp của người thày;
- Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, thư viện của nhà trường, đảmbảo cho nhà trường hoạt động để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra
1.1.2 Khái niệm hoạt động dạy - học
1.1.2.1 Hoạt động
Trang 14Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, bằng cách tác độngvào đối tượng để tạo ra một sản phẩm, nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân
và nhóm xã hội, hoạt động có những đặc điểm sau:
- Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng
- Con người là chủ thể của hoạt động
- Hoạt động được thực hiện trong điều kiện lịch sử - xã hội nhất định
- Hoạt động có sử dụng phượng tiện, công cụ để tác động vào đối tượng
1.1.2.2 Hoạt động dạy - học
“Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn bao gồm hoạt động dạy và hoạtđộng học Hai hoạt động này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau,sinh thành ra nhau Sự tương tác này giữa dạy và học mang tính chất cộngtác, trong đó hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo “ [33,52]
Quá trình dạy - học là một hệ thống toàn vẹn, bao gồm ba thành tố cơbản: Khái niệm khoa học, dạy và học Các thành tố của quá trình dạy họcluôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau,quy định lẫn nhau để tạo nên sự thống nhất biện chứng:
- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy; và
- Giữa lĩnh hội và với tự điều khiển trong học.
Hoạt động dạy: Dạy là điều khiển quá trình trò chiếm lĩnh khái niệm
khoa học, bằng cách đó phát triển, hình thành nhân cách trò Dạy có hai chứcnăng thường xuyên tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ranhau, đó là truyền đạt thông tin dạng học và điều khiển hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học giúp trò lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triểnnhân cách của trò Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy được biểu hiện với ýnghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt động học của trò, giúp trò nắm được kiếnthức, hình thành kĩ năng, thái độ Hoạt động dạy có chức năng kép là truyềnđạt và điều khiển Nội dung, chương trình dạy học theo một quy định bắtbuộc và được thống nhất trong mỗi cấp học Để đạt được mục đích, người
Trang 15dạy và người học đều phải phát huy các yếu tố chủ quan của cá nhân (phẩm
chất và năng lực của người dạy và người học) để xác định nội dung, lựa chọn
phương pháp, tìm kiếm các hình thức, các phương tiện dạy - học phù hợp
Hoạt động học: Học là quá trình trong đó dưới sự định hướng của
người dạy, người học tự giác, tích cực, độc lập, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm
từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tụê và chân tay nhằm hìnhthành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngàycàng hoàn thiện Cũng như hoạt động dạy, hoạt động học có hai chức năngkép là lĩnh hội và tự điều khiển Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ
hệ thống khái niệm của môn học, bằng phương pháp đặc trưng của môn học,của khoa học đó, với phương pháp nhận thức độc đáo, phương pháp chiếmlĩnh khoa học để biến tri thức của nhân loại thành học vấn của bản thân.Muốn vậy, người học phải xác định rõ mục đích, động cơ học tập có sự say
mê, tích cực, tiếp thu một cách tự giác, sáng tạo những thông tin và biết sửdụng những thông tin đó với kinh nghiệm riêng của bản thân
Nhưng để học đạt được hiệu quả và tránh được những sai lầm thì họccàng cần phải có sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của thầy Như vậy học cầnphải diễn ra trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với hoạt động dạy củathầy, mối quan hệ này có thể diễn ra trực tiếp hoặc gián tiếp tuỳ theo mức độ
tự lực của người học, để đạt được mục đích cuối cùng của người học, đó là:
- Nắm vững tri thức khoa học
- Phát triển tư duy và năng lực hoạt động
- Hình thành thái độ, đạo đức và nhân cách, lý tưởng sống
Mối quan hệ giữa hoạt động dạy - học
Hoạt động dạy - học mang tính chất hai chiều, gồm hoạt động dạy vàhoạt động học, đó là hai mặt của một quá trình luôn tác động qua lại và bổsung cho nhau, phối hợp chặt chẽ thống nhất với nhau giữa người dạy vàngười học HĐD-H diễn ra trong những điều kiện xác định, trong đó hoạtđộng dạy đóng vai trò chủ đạo, điều khiển, hướng dẫn, hoạt động học đóng
Trang 16vai trò chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo, nhằm đạt hiệu quả theo mụctiêu giáo dục đã xác định.
Trong quá trình dạy học, quan hệ giữa thầy và trò là vấn đề rất quantrọng và phức tạp Thầy giáo là người điều khiển quá trình dạy học nhưng trò
là chủ thể nhận thức cũng như điều khiển hoạt động nhận thức của mình Quátrình điều khiển của thầy có mang lại hiệu quả hay không lại phụ thuộc rấtnhiều vào sự tiếp nhận của trò Thầy giáo phải luôn hướng đến tư tưởng “dạyhọc lấy trò làm trung tâm” Như vậy, nguyên tắc “phát huy tính tự giác, tíchcực, độc lập của trò dưới sự chỉ đạo của thầy” đang là trung tâm chú ý củacác nhà giáo dục hiện nay
Bản chất của quá trình dạy học: là sự thống nhất biện chứng của dạy vàhọc, được thể hiện trong và bằng sự tương tác có tính chất cộng đồng và hợptác giữa dạy và học tuân theo logic khách quan của nội dung dạy học “Chỉtrong sự tác động qua lại giữa thầy và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trìnhdạy học Sự phá vỡ mối liên hệ tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất
đi sự toàn vẹn đó” [33, 23]
Theo Giáo sư Vũ Văn Tảo: “Sự học dù dưới dạng nào, tại trường lớphoặc ngoài trường lớp, có người thầy hướng dẫn hoặc không có thầy, có sự hỗtrợ của các phương tiện kỹ thuật, của công nghệ thông tin hoặc chưa, đều phải là
sự tự học Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làmphong phú mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xungquanh mình” Tự học là nội lực của người học, nhân tố quyết định sự phát triểnbản thân người học Có tự học mới phát triển được tư duy độc lập, từ chỗ có tưduy độc lập mới có tư duy phê phán, có khả năng phát hiện vấn đề và nhờ đómới có tư duy sáng tạo Tự học là quá trình tích cực, tự giác chiếm lĩnh tri thức,hình thành kỹ năng, kỹ xảo của chính bản thân người học Nhờ có tự học, ngườihọc mới thực sự nắm vững tri thức, làm chủ tri thức và vận dụng những tri thức
đó vào thực tiễn cuộc sống Trò học, cốt lõi là tự học, học cách học, cách tư duy.Thầy dạy cốt lõi là dạy cách học, cách tư duy
Trang 17Tác động dạy của thày là ngoại lực đối với sự phát triển của người học Theoquy luật phát triển của sự vật, ngoại lực dù quan trọng đến đâu, lợi hại đếnmấy cũng chỉ là nhân tố hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện Nội lực mới là nhân
tố quyết định phát triển bản thân sự vật Sự vật phát triển đó đạt trình độ caokhi nội lực và ngoại lực cộng hưởng được với nhau
Theo Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, hoạt động tự học của sinh viên dưới
sự điều khiển trực tiếp hoặc gián tiếp của thầy có thể được tiến hành ở “mọi nơi, mọi lúc, với mọi người, bằng mọi cách và qua mọi nội dung”.
1.1.3 Quản lý hoạt động dạy - học
Quản lý quá trình dạy học là một bộ phận cấu thành chủ yếu của toàn bộ
hệ thống quản lý quá trình dạy học trong nhà trường, là quản lý việc chấphành những quy định, quy chế về hoạt động giảng dạy của giảng viên và hoạtđộng học tập của sinh viên Quản lý quá trình dạy-học gồm:
- Quản lý hoạt động dạy-học trên lớp
- Quản lý hoạt động tự học ngoài giờ học trên lớp
Quản lý hoạt động dạy học là quản lý một quá trình với một hệ thốngbao gồm nhiều yếu tố như: mục đích, nhiệm vụ, nội dung, chương trình, cáchoạt động dạy của thầy với hoạt động học của trò, kiểm tra, đánh giá kết quảdạy và học v.v Hai quá trình này đã được ghi nhận trong mục tiêu, kếhoạch hoạt động giáo dục của mỗi cấp bậc học
Quản lý quá trình dạy- học cũng phải thực hiện bốn chức năng cơ bảncủa quản lý nói chung Quản lý quá trình dạy học do nhà trường hướng dẫn
tổ chức và chỉ đạo nhưng nó có quan hệ tương tác, liên thông với các tổ chứcgiáo dục khác, hoặc các cơ quan, tổ chức văn hoá, khoa học, TDTT, các tổchức đoàn thể quần chúng ngoài xã hội, nơi trò tham gia học tập, vui chơi,giải trí có tổ chức
Tất cả các nhân tố cấu trúc của quá trình dạy học tồn tại trong mốiquan hệ qua lại thống nhất với môi trường của nó, môi trường xã hội - chínhtrị và môi trường cách mạng khoa học - kỹ thuật
Trang 18Quá trình dạy học nói chung, quá trình dạy học ở đại học nói riêng tồn tạivới tư cách là một hệ thống Khi nghiên cứu quá trình dạy học đại học, cần xácđịnh vị trí, vai trò, chức năng của từng thành tố cấu trúc của quá trình này.
1.2 Quản lý hoạt động dạy học ở trường Đại học
Giáo dục đại học (GDĐH) hay đào tạo đại học là một phần của hệthống liên tục bắt đầu từ giáo dục mẫu giáo, tiểu học và giáo dục thườngxuyên suốt đời GDĐH đa dạng về chuyên môn, tính khoa học cao và có tính
tự chủ đặc thù Mục tiêu, nội dung và phương pháp được xác định trên cơ sởyêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội Sứ mạng cốt lõi của GDĐH là đào tạonhững người tốt nghiệp có chất lượng cao và những công dân có trách nhiệm
và cung cấp cơ hội cho học tập đại học và cho học tập suốt đời [20, 49]
Trong thời đại hiện nay, GDĐH ngày càng có tính phổ quát, vai tròcủa trường đại học trong xã hội hiện đại ngày càng cao GDĐH giúp sinhviên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, cókhả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyênngành được đào tạo GDĐH là sự nghiệp chung không chỉ được hiểu vớinghĩa là mọi người tích cực đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực cho sự nghiệpphát triển GDĐH mà còn được hiểu là mọi người được tạo cơ hội tiếp cậnvới học vấn đại học
1.2.1 Đặc điểm của hoạt động dạy - học ở trường Đại học
1.2.1.1 Mục tiêu dạy học ở trường Đại học
Mục tiêu nhân cách
Nhằm đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thứcphục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tươngxứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Đào tạo những con người có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năngnghề nghiệp, có tư duy khoa học và sáng tạo, có khả năng tự nghiên cứu,nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ
Mục tiêu hệ thống giáo dục đại học 13
Trang 19Xây dựng hệ thống giáo dục đại học có khả năng đáp ứng nhu cầunguồn nhân lực trình độ cao phù hợp với cơ cấu kinh tế - xã hội của thời kỳCNH, HĐH nâng cao năng lực cạnh tranh và hợp tác bình đẳng trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế Tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng GDDH,xây dựng một hệ thống liên thông phù hợp với cơ cấu trình độ, cơ cấu ngànhnghề, cơ cấu vùng miền của nhân lực và năng lực của các cơ sở đào tạo Tăngcường năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, năng lực tự tạo việc làmcho mình và cho người khác.
Đào tạo trình độ đại học giúp người học nắm vững kiến thức chuyênmôn và kỹ năng thực hành cơ bản về một ngành nghề, có khả năng phát hiện,giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo
Mục đích và nhiệm vụ dạy học ở đại học phản ánh tập trung nhấtnhững yêu cầu của xã hội với quá trình dạy học Mục đích và nhiệm vụ dạyhọc gắn liền với mục đích giáo dục nói chung và mục đích giáo dục của từngtrường đại học nói riêng, đặc biệt là với mục tiêu đào tạo cụ thể của mỗitrường Đồng thời đây cũng là cái đích mà quá trình dạy học phải đạt tới.Trên cơ sở đó, người ta xây dựng những nhiệm vụ dạy học cụ thể của cáctrường đại học Các nhiệm vụ này quy định những yêu cầu về hệ thống trithức, kỹ năng kỹ xảo gắn liền với nghề nghiệp tương lai của sinh viên, pháttriển ở họ năng lực về phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là tư duy nghề nghiệp
1.2.1.2 Nội dung dạy học
Nội dung GDĐH phải có tính hiện đại và phát triển, đảm bảo cơ cấuhợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản với kiến thức chuyên ngành và các bộmôn khoa học Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huytruyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc; tương ứng với trình độ chungcủa khu vực và thế giới Đào tạo trình độ đại học phải bảo đảm cho sinh viên
có những kiến thức khoa học cơ bản và chuyên ngành tương đối hoàn chỉnh;
có phương pháp làm việc khoa học; có năng lực vận dụng lý thuyết vào côngtác chuyên môn [25, 26]
Trang 20Nội dung, chương trình đào tạo đại học phải phù hợp với xu thế tiến bộcủa thời đại, sự phát triển của khoa học công nghệ, vừa phải gắn chặt với yêucầu phát triển đất nước, phù hợp với văn hóa truyền thống dân tộc Như vậynội dung đào tạo đại học phải đảm bảo các yêu cầu: cơ bản, hiện đại, sát vớithực tiễn Việt Nam, đảm bảo sự cân đối giữa truyền thống và hiện đại, giữadân tộc và nhân loại, giữa khu vực và toàn cầu, giữa phần cứng và phần mềm[25, 28].
Về bản chất, quá trình dạy học đại học là quá trình nhận thức độc đáo,
có tính chất nghiên cứu của sinh viên dưới sự tổ chức, điều khiển của giảngviên nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học Người học không tiếp thu chân lýmột cách máy móc mà tiếp nhận với óc phê phán ở trình độ cao Họ bắt đầu
có thói quen hồ nghi, lật lại vấn đề, nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ để cóthể hiểu được bản chất Hơn thế nữa, sinh viên đã bắt đầu tham gia tìm kiếmchân lý mới
Ngày nay, sinh viên có khả năng làm việc độc lập, hiểu biết về mọilĩnh vực được mở rộng Cơ hội học tập để làm giàu kiến thức và kỹ năng củasinh viên rộng mở hơn Họ linh hoạt hơn, thực tế hơn và nhạy cảm hơn.Trước sức ép từ xã hội và để có thể có được cơ hội việc làm và việc làm tốt,
để có thể tồn tại và khẳng định mình trong tương lai, sinh viên hiện nay có xuhướng vượt ra khỏi khuôn khổ cố định của chương trình, giáo trình trong họcđường; biết tận dụng tối đa cơ hội học tập để chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng.Như vậy, nhà trường đại học đang đứng trước những nhiệm vụ giáo dục tolớn khi có sự thay đổi về ý thức, thái độ, nền tảng kiến thức và kỹ năng củangười học Do vậy nền giáo dục đại học cần phải thay đổi cách tiếp cận đốivới đối tượng này và làm tốt hơn vai trò của mình thông qua việc xác định,thực hiện đúng đắn vai trò của người dạy, người học trong quá trình dạy học.Một cuộc cách mạng về phương pháp nhằm chuẩn bị cho sinh viên thích ứngvới đời sống xã hội thông qua sự tôn trọng mục đích, nhu cầu, khả năng,hứng thú và lợi ích học tập của người học
Trang 211.2.1.3 Phương pháp dạy học
Phương pháp GDDH phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tựnghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹnăng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm ứng dụng [25, 26] Tăngcường áp dụng các phương pháp sư phạm tích cực hướng vào việc đặt và giảiquyết vấn đề, áp dụng công nghệ dạy học: tận dụng tối đa những công cụ vàcông nghệ mới mà các thành tựu to lớn của khoa học đem lại [11, 29]
Phương pháp dạy học đại học phải được thiết kế phù hợp với đối tượng
để hướng tới mục đích cuối cùng là phát triển nguồn nhân lực cho đất nước
Về cơ bản, phương pháp dạy học ở đại học diễn ra theo hướng:
- Tích cực hóa người học (dạy học tích cực) dựa trên nguyên tắc pháthuy tính tích cực, tự giác và sáng tạo của người học Quá trình tích cực hóa ngườihọc có thể thông qua các hoạt động cụ thể như: tổ chức cho sinh viên tự nghiêncứu, làm việc theo nhóm, chuẩn bị báo cáo và thuyết trình trước lớp…
- Cá thể hóa: dạy học cá nhân hóa dựa trên nguyên tắc tôn trọng ngườihọc, lấy người học làm trung tâm của quá trình đào tạo Mỗi sinh viên là một cánhân với những cách tiếp cận vấn đề, sự ưu tiên, mối quan tâm, sở thích, cónhững đầu tư về thời gian khác nhau, trí tuệ, công sức cho những nội dung họctập khác nhau đều có cơ hội như nhau trong học tập
- Công nghệ hóa quá trình dạy học: Dựa trên nguyên tắc tiến hànhchuyển giao công nghệ dạy học đại học nhằm tiến đến một sự thống nhất, hiệuquả chung trong cả hệ thống giáo dục mà trước hết là trong từng trường và giữacác trường đại học với nhau [33, 19]
Nội dung, phương pháp giáo dục đại học phải được thể hiện thànhchương trình giáo dục Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương trình khunggồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gianđào tạo giữa các môn học cơ bản và chuyên ngành; giữa lý thuyết với thực
16
Trang 22hành, thực tập Căn cứ vào chương trình khung, trường đại học xác địnhchương trình giáo dục của trường mình [25, 29]
Mục tiêu quan trọng nhất của việc giảng dạy ở trường đại học là dạycách học cho sinh viên, trang bị cho họ những phương pháp và kỹ năng cơbản để tăng cường khả năng tự học, thói quen học suốt đời
Hoạt động học tập của sinh viên ở trường đại học phải được hiểu làhoạt động do bản thân sinh viên quyết định và thực hiện một cách tự giác,tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo để hoàn thành những nhiệm vụ họctập, làm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của bản thân và đạt được mục tiêu đãđịnh Hoạt động học tập của sinh viên phải hướng tới rèn luyện kỹ năng tựhọc để người học có thể học tập thường xuyên, suốt đời Việc rèn luyện kỹnăng tự học phải được nâng dần lên từng bước:
- Tự học diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của giảng viên
- Tự học diễn ra dưới sự điều khiển gián tiếp của giảng viên
- Tự học hoàn toàn thoát ly khỏi sự điều khiển của giảng viên
Hình thức tự học có sự hướng dẫn trực tiếp của thầy có vai trò địnhhướng cho sự hình thành các kỹ năng tự học khi họ còn ngồi trên ghế nhàtrường và có thể tự học khi họ đã tốt nghiệp ra trường Điều này có nghĩa làviệc hình thành, bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh gắn chặt với vai tròcủa người thày Người thày đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành vàbồi dưỡng khả năng tự học cho sinh viên thông qua thực hiện các phươngpháp dạy học tích cực, dạy học cá nhân hóa và công nghệ hóa quá trình dạyhọc như đã trình bày ở trên
1.2.1.4 Kiểm tra đánh giá
Đánh giá trong dạy học bao gồm việc thu thập thông tin về một lĩnhvực nào đó trong dạy học; nhận xét và phán xét đối tượng đó, trên cơ sở đốichiếu các thông tin thu nhận được với mục tiêu đã được xác định ban đầu
Việc đánh giá trong dạy học cần đáp ứng các yêu cầu về tính quychuẩn, tính khách quan, tính xác nhận và phát triển
Trang 23Nâng cao chất lượng học tập của sinh viên đang được coi là vấn đềtrọng tâm của công tác QLGD trong tất cả các trường đại học Vì vậy sự đánhgiá chính xác quá trình đào tạo là một việc cần thiết Kiểm tra là nhân tố cấutrúc cuối cùng của quá trình học Nó vừa có chức năng đánh giá, vừa có chứcnăng điều chỉnh mọi hoạt động (gồm cả hoạt động dạy và học) nhằm đánhgiá hiệu quả thực của những hoạt động đã hoạch định để điều chỉnh sao chođạt hiệu quả cao nhất Hoạt động kiểm tra, đánh giá rất quan trọng góp phầnthiết thực đến việc đảm bảo chất lượng của quá trình dạy học Hoạt độngkiểm tra đánh giá chi phối đến mọi hoạt động của quá trình dạy học Nộidung và phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh quyđịnh nội dung và phương pháp dạy của thầy, phương pháp học của trò.
Hoạt động kiểm tra đánh giá trong quá trình đào tạo luôn là công việccủa chính các giáo viên đứng lớp Chính giáo viên là người tự ra đề kiểm tratrong lớp học, tự chấm điểm và tự quản lý, sử dụng kết quả kiểm tra củamình để phản hồi cho người học và cải thiện quá trình giảng dạy Do đó, phảinâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ngoại ngữ tại các trường đại học mộtcách toàn diện, để họ có thể đưa ra những quyết định và áp dụng những cáchlàm có tác động tốt đến quá trình giảng dạy Điều này chỉ có thể làm đượcthông qua việc nâng cao vai trò chuyên môn của bộ môn ngoại ngữ tại cáctrường
1.2.1.5 Giảng viên đại học
Theo Đại từ điển tiếng Việt: Giảng viên đại học là “người giảng dạy
tại trường đại học hay lớp huấn luyện cán bộ” [36, 731]
Theo Luật Giáo dục sửa đổi 2005, Điều 70, Mục 3: ”Nhà giáo giảngdạy ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên” Điều 79 qui định: Nhà giáocủa trường cao đẳng, trường đại học được tuyển dụng theo phương thức ưutiên đối với sinh viên tốt nghiệp loại khá, loại giỏi, có phẩm chất tốt và nhữngngười có trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn,
Trang 24có nguyện vọng trở thành nhà giáo Trước khi được giao nhiệm vụ giảng dạy,giảng viên cao đẳng, đại học phải được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm.
Giáo dục đại học đang thực hiện những giải pháp đồng bộ về đổi mớimục tiêu đào tạo, đổi mới thi cử, xây dựng các chương trình khung và hệthống bảo đảm chất lượng làm cơ sở cho việc đổi mới nội dung, phương phápdạy và việc đánh giá kiểm định chất lượng đào tạo Đội ngũ giảng viên đạihọc có vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng; khẩn trương đàotạo, bổ sung và nâng cao trình độ đội ngũ, giảm tỷ lệ sinh viên / giảng viênhiện nay đang quá cao; lựa chọn những sinh viên giỏi bổ sung nguồn giảngviên, tăng tỷ lệ giảng viên có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ; ưu tiên gửi giảng viên điđào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước; khuyến khíchmời các chuyên gia giỏi, trong và ngoài nước, kể cả các chuyên gia Việt kiềuđến giảng ở các trường đại học Việt Nam; mở rộng diện tuyển giảng viêntheo hợp đồng dài hạn Một số trường đại học phải sớm đạt chất lượng ở trình
độ quốc tế
1.2.1.6 Sinh viên đại học
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “student”: có nghĩa
là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức
Theo X.L Rubinsen quan niệm: “ sinh viên” là đại biểu của một nhóm
xã hội đặc biệt được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng để chuẩn bịcho hoạt động lao động và sản xuất vật chất cho xã hội Nhóm sinh viên rất
cơ động được tổ chức theo một mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bịthực hiện vai trò xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong các lĩnh vực xãhội, sinh viên là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ tri thức được đào tạo thànhngười lao động có tay nghề cao tham gia hoạt động tích cực
Theo Đại từ điển tiếng Việt: Sinh viên đại học là “người đang học ở
bậc đại học ” [36, 1448] Quy chế công tác HSSV trong các trường đào tạocủa Bộ Giáo dục và đào tạo, “ sinh viên” là người đang học trong hệ đại học
và cao đẳng
Trang 25Từ đó ta có thể hiểu: sinh viên Việt nam là những người đang học tậptại các trường Đại học - Cao đẳng trong cả nước nhằm đáp ứng nguồn laođộng có tri thức, có tay nghề cao phục vụ cho công cuộc CNH, HĐH đất
nước
1.2.2 Các nội dung quản lý hoạt động dạy - học ở trường Đại học
Nội dung quản lý hoạt động dạy - học ở trường đại học: là quản lý việcxây dựng và thực hiện các mục tiêu, chương trình GD&ĐT, trong đó chútrọng việc giáo dục nhân cách và phát triển trí tuệ cho sinh viên (SV)
Quản lý hoạt động giảng dạy (HĐGD) và hoạt động học tập (HĐHT):
là quản lý HĐDH của giảng viên(GV) và HĐHT của SV; quản lý việc thựchiện nội dung chương trình, chất lượng giảng dạy của GV và quản lý việcthực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện của SV, việc chấp hành các nội quy,quy chế… Quản lý cơ sở vật chất (CSVC), trang thiết bị dạy học…
1.2.2.1 Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên
Quản lý HĐD-H, thực chất là quản lý nhiệm vụ giảng dạy của đội ngũ
GV và HĐD-H GV truyền đạt những kiến thức, kỹ năng và những giá trị về
tư tưởng, phẩm chất cần được trang bị cho SV Đồng thời, GV có nhiệm vụphải học tập, rèn luyện, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ,nâng cao chất lượng HĐD-H của mình Trong quá trình GD & ĐT, GV vừa
là đối tượng quản lý, vừa là chủ thể quản lý của HĐD-H Quản lý hoạt độnggiảng dạy của GV bao gồm:
- Quản lý việc lập kế hoạch công tác của GV
- Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy
- Quản lý nhiệm vụ soạn bài và chuẩn bị lên lớp của GV
- Quản lý nề nếp lên lớp giảng dạy lý thuyết và thực hành của GV
- Quản lý nhiệm vụ vận dụng và cải tiến phương pháp giảng dạy
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV
- Quản lý việc thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn
- Quản lý hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV
Trang 261.2.2.2 Quản lý hoạt động học tập của sinh viên
Quản lý HĐHT của SV là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập,nghiên cứu, rèn luyện của người học trong suốt quá trình học tập SV cónhững đặc điểm tâm lý, phong tục, tập quán khác nhau, trong quá trình rènluyện, học tập, cũng như kết quả đạt được cũng khác nhau Do đó, Nhàtrường cần tăng cường các biện pháp quản lý HĐHT của SV, nhằm nâng caochất lượng đào tạo, vì SV vừa là đối tượng quản lý, vừa là chủ thể quản lý
Trong quản lý HĐHT, cần lưu ý tính phức tạp và tính trừu tượng về sựchuyển biến trong nhân cách, do tác động đồng thời của nhiều yếu tố chủ thể
và khách thể, làm cho kết quả học tập của SV bị hạn chế
Quản lý HĐHT của SV có nội dung, yêu cầu cụ thể, vì vậy cần phảităng cường việc kiểm tra, đánh giá các HĐHT của SV và HĐGD của GV.Mặt khác, chất lượng đào tạo không chỉ phụ thuộc vào chất lượng giảng dạycủa GV mà còn phụ thuộc vào kết quả học tập của SV để đánh giá công tácquản lý của HĐDH
Quản lý hoạt động học tập của SV bao gồm:
- Quản lý việc học trên lớp
- Quản lý giờ tự học
- Quản lý các giờ ngoại khoá
Hoạt động tự học luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình học tập vàphát triển của mỗi người, đặc biệt với sinh viên trong quá trình đào tạo ở
trường đại học Tự học sẽ giúp sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo
và nghề nghiệp trong tương lai Việc tìm ra các biện pháp hữu hiệu để tổchức có hiệu quả hoạt động tự học cho người học hết sức cần thiết và mang ýnghĩa thiết thực trước mắt và lâu dài, nó không chỉ giúp sinh viên rèn luyện
và nâng cao khả năng độc lập, sáng tạo trong học tập, trong cuộc sống màcòn góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển của nền giáo dục nước nhà, làmcho nước ta rút ngắn khoảng cách, vươn lên ngang tầm với các nước tiên tiếntrong khu vực và trên thế giới
Trang 271.2.2.3 Quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy - học, nội dung chương trình đào tạo, kiểm tra đánh giá quá trình đào tạo và các điều kiện đảm bảo hoạt động dạy - học
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho giảng dạy là điều kiện tiên quyếttrong quá trình giảng dạy Cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, hiện đại và phù hợpvới hình thức tổ chức và phương pháp giảng dạy tạo điều kiện thuận lợi chogiảng viên truyền thụ kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ cho người học, tạo chongười học sự hứng thú trong học tập, góp phần tích cực nâng cao chất lượng đàotạo Vì vậy quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho dạy - học là nhiệm vụquan trọng, không thể thiếu được trong hoạt động quản lý đào tạo và quản lý nhàtrường Các yếu tố đảm bảo cơ sở vật chất - kỹ thuật: Có nhiệm vụ cung cấpđầy đủ các điều kiện cơ sở vật chất như: phòng học, phòng thí nghiệm, phòngthư viện, phòng làm việc, xưởng thực hành và các phương tiện kỹ thuật, trangthiết bị, vật tư , cần thiết phục vụ cho các hoạt động dạy - học
Ngoài ra, cần lưu ý đến một số điều kiện cần thiết khác hỗ trợ đắc lựccho hoạt động dạy - học:
- Các yếu tố đảm bảo về chính trị - tinh thần: làm cho mọi thành viêntrong nhà trường được quán triệt và chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, xây dựng khối đoànkết, động viên tinh thần hăng say, nhiệt tình của mọi người trên các vị trícông tác
- Các yếu tố đảm bảo về tổ chức: xây dựng bộ máy nhà trường vữngmạnh xây dựng nề nếp, kỷ cương trong mọi hoạt động của nhà trường, tạo sự
phát triển cân đối nhịp nhàng, có hiệu lực quản lý trong nhà trường
1.3 Yêu cầu về dạy học môn ngoại ngữ và quản lý hoạt động dạy học môn ngoại ngữ ở trường Đại học
1.3.1 Yêu cầu về dạy - học môn ngoại ngữ
Ngoại ngữ là một môn học trong chương trình giảng dạy ở trường đại học Việt Nam Sinh viên các trường đại học đều phải học một ngoại ngữ
Trang 28(không tính các trường chuyên ngữ) hiện tại hầu hết các trường đều dạy tiếngAnh Việc phát triển năng lực dạy - học ngoại ngữ, quản lý hoạt động dạy -học ngoại ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạocủa nhà trường.
Bất kỳ ngoại ngữ nào đều có chức năng là công cụ giao tiếp được thểhiện ở bốn dạng hoạt động cơ bản: nghe, nói, đọc, viết Do tính đa dạng kểtrên của công cụ giao tiếp nên các yêu cầu cụ thể của người học được xácđịnh tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh của họ Người học sau khi học xongchương trình đào tạo ngoại ngữ ở trường đại học sẽ sử dụng được ngoại ngữ
để đọc hiểu các sách báo khoa học thường thức phù hợp với trình độ học vấn.Trình độ văn hoá bao gồm trình độ học vấn bộ môn và năng lực tư duy
Yêu cầu của xu thế hội nhập quốc tế ngày nay đòi hỏi phải có mộtnguồn nhân lực chất lượng cao làm việc được trong một môi trường đa ngônngữ, đa văn hóa khiến cho việc dạy học ngoại ngữ nói chung và dạy họctiếng Anh nói riêng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết trong hệ thống giáodục quốc dân, đặc biệt là trong giáo dục đại học Nhận định về những hạnchế trong việc dạy và học ngoại ngữ hiện nay, dự thảo 5-7-2007 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo trình chính phủ Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2007 - 2015 có ghi: “ Hiệu quả sử dụng ngoại ngữ của học sinh, sinh viên tốt nghiệp còn thấp Phần lớn sinh viên cao đẳng,
đại học chưa có khả năng sử dụng ngoại ngữ để tham khảo, nghiên cứu tàiliệu nước ngoài hoặc theo học các chương trình đào tạo bằng tiếng nướcngoài Trong môi trường làm việc, đặc biệt trước yêu cầu hội nhập thì ngoạingữ là điểm yếu kém của lực lượng lao động Việt nam.”[7, 2]
Xuất phát từ những yếu kém nêu trên, cùng với chủ trương đổi mớigiáo dục đại học của chính phủ, Bộ giáo dục và Đào tạo đã có dự thảo ngày5-7-2007 trình chính phủ Đề án đổi mới dạy và học ngoại ngữ trong hệ thốnggiáo dục quốc dân với mục tiêu: “đến năm 2015 nâng cao rõ rệt trình độngoại ngữ của một số đối tượng ưu tiên, đồng thời triển khai chương trình
Trang 29dạy và học ngoại ngữ mới đối với các cấp học và trình độ đào tạo, tạo điềukiện để đến năm 2020 tăng đáng kể tỷ lệ thanh thiếu niên Việt nam có đủnăng lực sử dụng ngoại ngữ một cách độc lập và tự tin trong giao tiếp, họctập và làm việc trong môi trường đa ngôn ngữ, đa văn hóa phù hợp với xu thếhội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.”[7, 8]
Từ chủ trương lớn của chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáodục đại học Việt Nam, chủ trương của Bộ giáo dục và Đào tạo về việcchuyển từ quản lý đào tạo theo niên chế sang quản lý đào tạo theo tín chỉ vàchủ trương đổi mới dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dâncùng với điều kiện thực tế của các trường đại học, cao đẳng hiện nay đòi hỏitất yếu phải có những biện pháp quản lý những hoạt động dạy học ngoại ngữphù hợp với điều kiện đổi mới
1.3.2 Quản lý hoạt động dạy môn ngoại ngữ
Trong các trường đại học, việc quản lý hoạt động dạy ngoại ngữ củagiảng viên được thực hiện qua hai nội dung cơ bản đó là: quản lý hoạt độnggiảng dạy trên lớp và việc thực hiện quản lý hồ sơ chuyên môn của giảngviên
Hoạt động giảng dạy bao gồm một số nội dung quản lý cơ bản:
- Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy (nội dung, tiến trình)
- Quản lý giờ lên lớp và việc vận dụng phương pháp, sử dụng phươngtiện dạy học Hình thức dạy và học ngoại ngữ trên lớp đối với các trường đại họchiện nay vẫn được coi là một trong các hình thức cơ bản và chủ yếu của quá trìnhdạy học Vì vậy chất lượng của hoạt động dạy học phụ thuộc rất lớn vào chấtlượng của các giờ lên lớp của giảng viên
- Quản lý việc thực hiện quy chế kiểm tra, đánh giá chất lượng Kiểmtra đánh giá là khâu quan trọng và không thể thiếu trong hoạt động dạy học.Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên là quá trình thu thập và xử
lý thông tin về trình độ và khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập của sinh
Trang 30viên, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp phù hợp giúp sinh viên học tập tiếnbộ.
Quản lý hồ sơ chuyên môn của các giảng viên
- Quản lý hồ sơ chuyên môn của các giảng viên là phương tiện giúpngười quản lý nắm chắc được tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cácgiảng viên trong khoa, đồng thời hồ sơ chuyên môn của các giảng viên là mộttrong những cơ sở pháp lý đánh giá việc thực hiện nề nếp chuyên môn của họ.Những hồ sơ cơ bản cần phải có của mỗi giảng viên gồm:
- Chương trình những phân môn được phân công giảng dạy
- Kế hoạch năm học: kế hoạch hoạt động chuyên môn chung của GV
- Kế hoạch giảng dạy môn học
- Sổ theo dõi chuyên cần và điểm của sinh viên
- Hồ sơ nghiên cứu khoa học (bao gồm: Đăng ký đề tài, đề cương nghiên cứu, tư liệu và kết quả nghiên cứu)
- Hồ sơ tự học, tự bồi dưỡng (kế hoạch, nội dung và tài liệu học tập)
1.3.3 Quản lý hoạt động học môn ngoại ngữ
Hoạt động học tập của SV là hoạt động song song cùng tồn tại với hoạtđộng dạy của GV Quản lý hoạt động học tập của SV là quản lý việc thựchiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu và rèn luyện nghề nghiệp của SV.Quản lý hoạt động học tập của SV cần đạt được những yêu cầu chủ yếu sau:
- Phải làm cho SV có động cơ và thái độ đúng đắn trong học tập, rènluyện nghề nghiệp; có ý thức tự giác tìm tòi, nghiên cứu, chủ động lĩnh hội kiếnthức
- Tổ chức hướng dẫn SV học tập, tìm ra phương pháp học tập phù hợpvới môn ngoại ngữ, tìm ra hình thức rèn luyện kỹ năng thực hành tiếng có hiệuquả và vững chắc Phương pháp học tập có vai trò quan trọng trong việc nâng caochất lượng học tập và kĩ năng nghề nghiệp cho SV
Trang 31- Rèn luyện cho SV có nề nếp học tập tốt, có ý thức tự học, chấp hànhtốt các quy chế, nội quy trong học tập Nề nếp học tập là những quy định về
ý thức, thái độ và hành vi của người học phải thực hiện nhằm đảm bảo chohoạt động dạy học nói chung và hoạt động học tập nói riêng đạt được hiệu quả vàđảm bảo chất lượng đào tạo Quản lý nề nếp học tập là xây dựng và duy trì hệthống những quy định về nề nếp học tập nhằm đảm bảo xây dựng
ý thức học tập trong SV đồng thời xây dựng được kỉ cương trong hoạt động học tập
Quản lý việc phân tích và đánh giá kết quả học tập của SV là yêu cầucần thiết trong công tác quản lý hoạt động dạy học trong Bộ môn Để có cơ
sở cho việc đánh giá kết quả học tập của SV, Trưởng bộ môn cần chỉ đạo các
GV thực hiện nghiêm túc quy chế 04 của Bộ Giáo dục - Đào tạo về thực hiệnkiểm tra điều kiện và điểm thi các học phần Thông qua phân tích kết quả họctập của SV, Trưởng bộ môn có thêm các thông tin về chất lượng giảng dạycủa các GV, chất lượng học tập của SV để có biện pháp điều chỉnh quản lýHĐDH cho phù hợp
Động cơ là tiền đề, là điều kiện cho hoạt động học ngoại ngữ của SV.Việc xây dựng động cơ tích cực học cho SV là nội dung cơ bản, rất quantrọng của công tác quản lý hoạt động học ngoại ngữ của SV Cần đặc biệt chú
trọng đến việc tự học ngoại ngữ của SV vì tự học là hoạt động chính của bản thân SV, được tiến hành ngoài giờ lên lớp có hoặc không có sự hướng dẫn của thầy nhằm nắm vững, mở rộng tri thức, nó mang tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân Tuy kết quả tự học phụ thuộc vào yếu tố tự giác,
tích cực và phương pháp của SV, nhưng nó cũng chịu ảnh hưởng rất nhiềubởi những yếu tố bên ngoài
Theo quy định của Bộ Giáo dục - Đào tạo, SV các trường không chuyênngữ học 15 đơn vị học trình ngoại ngữ, tương đương 225 tiết học Với thờilượng như vậy đòi hỏi SV phải tự học rất nhiều để sử dụng ngoại ngữ đượchọc như một công cụ giao tiếp và để đọc được các tài liệu tham
Trang 32khảo chuyên môn bằng tiếng nước ngoài Muốn đạt được kết quả như trêncông tác quản lý quá trình tự học ngoại ngữ của SV phải được quan tâm vàthực hiện tốt Ngoài giờ học trên lớp, SV có thể tự học ngoại ngữ ở nhiều nơikhác như giảng đường, phòng tự học, thư viện, phòng ở tại khu ký túc xá (đốivới SV nội trú) hoặc ở nhà hay nhà trọ (đối với SV ngoại trú) Địa điểm tựhọc ngoại ngữ của SV đa dạng dẫn tới công tác quản lý hoạt động tự họcngoại ngữ của SV gặp nhiều khó khăn Để hạn chế những khó khăn này, cầntạo ra những cơ chế mới, thích hợp để khuyến khích SV tự học ngoại ngữ ví
dụ như đào tạo theo tín chỉ
1.3.4 Quản lý các điều kiện phục vụ cho dạy - học môn ngoại ngữ
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập có ảnhhưởng rất nhiều đến hiệu quả học tập của SV Để tăng cường hiệu quả hoạtđộng dạy - học thì phải đảm bảo điều kiện về cơ sở vật chất như các giảngđường với trang thiết bị đầy đủ cho việc học tiếng, tạo môi trường ngoại ngữ,phòng tự học, thư viện, tài liệu sách giáo khoa và các trang thiết bị cho SV tựhọc ngoại ngữ như đài các xét, đầu video, băng hình, đầu đĩa hình, cácchương trình dạy ngoại ngữ
Quản lý các điều kiện phục vụ, dịch vụ khác tuy không phải là nộidung trực tiếp của quản lý hoạt động dạy - học nhưng nó cũng có ảnh hưởngđến hoạt động dạy - học ngoại ngữ, điều này đòi hỏi cán bộ quản lý cần quantâm đến
1.3.5 Những yêu cầu mới về dạy - học ngoại ngữ tại Học viện hành chính Quốc gia
Hiện nay môn ngoại ngữ được dạy tại Học viện HCQG dành cho SV hệchính quy là tiếng Anh và tiếng Pháp, trong đó chủ yếu là tiếng Anh TiếngAnh là ngôn ngữ quốc tế Học tốt tiếng Anh, có trình độ tiếng Anh tốt khôngnhững sẽ giúp SV tự học, tự nghiên cứu chuyên môn tốt mà còn giúp cho họcông tác tốt khi ra trường nhất là trong thời kỳ hội nhập hiện nay Là bộ mônvăn hoá cơ bản, việc dạy và học ngoại ngữ ở nước ta có những điểm chung,
Trang 33giống các bộ môn văn hoá cơ bản khác Nó cũng có mục đích là góp phầnhình thành những phẩm chất đạo đức của con người mới XHCN, góp phầnnâng cao trình độ văn hoá chung cho người học Ngoài hai mục đích ấy ra,ngoại ngữ còn có mục đích nữa là trang bị cho người học một công cụ giaotiếp mới Đây chính là mục đích chủ yếu nhất, bao trùm nhất của quá trìnhdạy học ngoại ngữ vì về bản chất thì ngoại ngữ là công cụ giao tiếp Bộ mônngoại ngữ có mục đích nâng cao trình độ hiểu biết của người học, đồng thờigóp phần nâng cao năng lực tư duy của họ Bởi vì, để thực hiện tốt chức nănggiao tiếp, việc rèn luyện thói quen tư duy bằng chính ngoại ngữ đó là hết sứcquan trọng Làm tốt điều này sẽ giúp cho người học nói và viết ngoại ngữnhư người bản xứ Bộ môn ngoại ngữ góp phần làm hoàn chỉnh thêm nhữngthao tác tư duy cơ bản như phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, khái quáthoá, trìu tượng hoá và phát triển thêm một bước tư duy logic như diễn đạt tưtưởng một cách mạch lạc, sáng sủa, gãy gọn và có lý lẽ.
Về mặt phẩm chất đạo đức, bộ môn ngoại ngữ có nhiều điều kiện thựchiện mục đích giáo dục thế giới quan và nhân sinh quan Ngoại ngữ là hiệntượng xã hội, là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người và rất gắn
bó với việc phát triển tư duy và văn hoá Hướng theo mục đích trên đây, bộmôn ngoại ngữ cần đạt tới yêu cầu trên cả ở phương diện nhận thức tư tưởnglẫn trong hành động thực tiễn của người học Trước xu hướng phát triển củathời kỳ mới, nhất là sau khi Việt Nam ra nhập WTO thì vị trí vai trò của mônhọc ngoại ngữ càng được coi trọng hơn trong chương trình đào tạo đại học
Trong thời gian qua Ban lãnh đạo Học viện, Ban Đào tạo và Bộ mônngoại ngữ đã cùng thảo luận, đề xuất những giải pháp để nâng cao chất lượngdạy và học ngoại ngữ cho SV hệ chính quy trong bối cảnh phát triển mới củaHọc viện: vấn đề biên soạn giáo trình và tài liệu giảng dạy, vấn đề phươngpháp, kỹ năng và các vấn đề trong giảng dạy ngoại ngữ có liên quan tới họcchế tín chỉ và học qua mạng Phương thức đào tạo mới yêu cầu GV phải đầu
tư nhiều thời gian hơn cho việc biên soạn bài giảng và có phương pháp dạy
Trang 34phù hợp với từng loại đối tượng, SV phải nâng cao ý thức tự học, việc đánhgiá kết quả học tập phải chính xác, việc tổ chức quản lý học tập phải khoahọc, linh hoạt
Để đáp ứng được yêu cầu trên, lãnh đạo Bộ môn và các GV phải chú ý
đề xuất các biện pháp phát triển những phương pháp, kỹ năng giảng dạy vàhọc tập: việc dạy học theo nhóm; tăng cường áp dụng phương pháp đào tạotrực tuyến; sử dụng nguồn tư liệu thực tế trong học ngoại ngữ; mở rộng việcnghiên cứu và xử lý tài liệu trực tuyến phục vụ giảng dạy; sử dụng các phầnmềm học ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Pháp) với việc tự học của SV; khai tháccác yếu tố văn hóa để tăng hiệu quả học ngoại ngữ; sử dụng phương phápgiao tiếp để phát triển kỹ năng nghe nói, sử dụng các bài tập trong giảng dạyngoại ngữ để tăng cường năng lực tự học từ vựng, cấu trúc, ngữ pháp choSV , Ngoài ra, Bộ môn còn phải chú ý đến việc biên soạn giáo trình
chuyên ngành hành chính cũng như các tài liệu phù hợp cho chương trìnhchuyên ngành này
Trang 35Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY
- HỌC MÔN NGOẠI NGỮ CHO SINH VIÊN HỆ CHÍNH QUY TẠI HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
2.1 Khái quát về hoạt động đào tạo ở Học viện Hành chính Quốc gia
2.1.1 Khái quát về Học viện Hành chính Quốc gia
Tiền thân của Học viện Hành chính Quốc gia là Trường Hành chínhTrung ương được thành lập theo Nghị định số 214/NV ngày 29/5/1959 Ngày6/7/1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số253/HĐBT qui định Học viện HCQG là cơ quan thuộc Chính phủ có chứcnăng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, nghiên cứu về hành chính và cảicách hành chính; và góp ý kiến vào các dự thảo pháp luật, qui định của Nhànước về hành chính
Theo Quyết định số 123/2002/TTg ngày 19/9/2002, Học viện HCQGchuyển vào Bộ Nội vụ Thủ tướng Chớnh phủ đó ban hành Quyết định số234/2003/QĐ-TTg ngày 13/11/2003 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn và cơ cấu tổ chức của Học viện HCQG, theo đú, Học viện là tổ chức sựnghiệp của Bộ Nội vụ và chịu sự quản lý nhà nước của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.Học viện là Trung tõm Quốc gia, tự chủ và tự chịu trỏch nhiệm về tổ chức bộmỏy, biờn chế và tài chớnh theo quy định của phỏp luật
Từ 07/5/2007: Học viện HCQG thuộc Học viện Chính trị - Hành chínhQuốc gia Hồ Chí Minh
Học viện Hành chính Quốc gia có trụ sở tại Hà Nội, số 77, đườngNguyễn Chí Thanh; và đang tổ chức các phân viện:
• Phân viện tại Thành phố Hồ Chí Minh: Số 10, Đường 3/2, Quận 10
• Phân viện tại Thành phố Huế
• Các phân viện khu vực
Hơn 45 năm qua, Học viện HCQG đã từng bước trưởng thành Họcviện có vai trò quan trọng trong đào tạo đội ngũ công chức, viên chức gópphần thúc đẩy cải cách nền hành chính nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu hội
Trang 36nhập khu vực và quốc tế Cùng với việc tăng cường cơ sở vật chất, Học viện
đã không ngừng nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên và cán bộ nghiêncứu Khoa học Hành chính
Để đáp ứng những yêu cầu xây dựng nền hành chính chính quy, hiệnđại, trước mắt là công cuộc cải cách hành chính nhà nước, Học viện đang đadạng hoá các loại hình đào tạo, rà soát nội dung chương trình, tiến tới đào tạotheo nhu cầu, nâng cao năng lực nghiệp vụ, kỹ năng quản lý nhà nước chotừng đối tượng là lãnh đạo quản lý, các chuyên gia, đưa Học viện ngang tầmvới yêu cầu đào tạo và bồi dưỡng công chức trong giai đoạn mới
2.1.2 Đặc điểm đối tượng đào tạo của Học viện Hành chính Quốc gia
Học viện HCQG đã xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiếnthức Quản lý nhà nước cho đội ngũ cán bộ, công chức đang làm việc trong bộmáy nhà nước và các Tổ chức chính trị, xã hội Từ năm 2002 Học viện được
Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo tất cả các bậc học: Đại học, Cao học và Tiến sĩ Mỗi bậc bao gồm hình thức đào tạo tập trung và không tập
trung, hệ đào tạo chính qui và tại chức
a/ Đào tạo bồi dưỡng công chức
Đào tạo tiền công vụ: Là những người đã tốt nghiệp đại học muốn trở
thành công chức nhà nước hoặc mới trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức của
cơ quan nhà nước
Bồi dưỡng chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp:
Là cán bộ công chức đang làm việc ở ngạch chuyên viên
Bồi dưỡng các kỹ năng, nghiệp vụ hành chính:
Các công chức, viên chức và nhân viên chuyên môn
b/ Chương trình Đào tạo đại học Đại học Hành
chính hệ chính quy
Cử nhân hành chính (Cho người chưa có bằng ĐH) dành cho học sinh tốt nghiệp THPT hoặc bổ túc - Chính quy, tập trung
Trang 37 Cử nhân hành chính (Cho người đã có bằng ĐH) dành cho người đã có 1 bằng ĐH hệ chính quy, có ít nhất 1 năm công tác - Chính quy, tập trung
Đại học Hành chính hệ tại chức
Cử nhân Hành chính hệ tại chức (cho người chưa có bằng ĐH) dành choNgười đã tốt nghiệp THPT hoặc bổ túc, có ít nhất 1 năm công tác - Tại chức, tậptrung
Cử nhân hành chính hệ tại chức ( cho người đã có bằng ĐH) dành choNgười có bằng ĐH (Hệ chính quy hoặc tại chức), có ít nhất 1 năm công tác - Tạichức, tập trung
c/ Đào tạo sau đại học: Đào tạo cao học cấp bằng Thạc sỹ Quản lý Nhà
nước
Đối tượng đào tạo: các cán bộ, công chức đang làm công tác quản lý
trong các cơ quan, đoàn thể đã có kinh nghiệm công tác từ 2 năm trở lên và cómột bằng đại học chính quy, tại chức, chuyên tu (tất cả các chuyên ngành),
Đào tạo Tiến sĩ Quản lý Hành chính:
Đối tượng: Thạc sĩ Quản lý Nhà nước, Cử nhân Hành chính và Thạc sĩ
các chuyên ngành gần hoặc phù hợp với chuyên ngành Hành chính
d/ Các loại hình đào tạo ngắn hạn
Các lớp Bồi dưỡng Phương pháp giảng dạy hành chính cho đội ngũ giảngviên mới của Học viện và các trường Đại học, Cao đẳng, giáo viên các trườngChính trị tại các tỉnh
Các lớp bồi dưỡng về quản lý tài chính công; các lớp bồi dưỡng Hành chính Văn phòng,
Các lớp Hành chính Doanh nghiệp và Thư ký Giám đốc cho các cơ quan,doanh nghiệp, địa phương có nhu cầu; các lớp bồi dưỡng chuyên đề: Quản lýnguồn nhân lực
Đào tạo tin học cấp chứng chỉ quốc tế - International Computer Driving Licence
2.1.3 Mục tiêu đào tạo của Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 38Học viện có vai trò quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ công chức,viên chức góp phần thúc đẩy cải cách nền hành chính nhà nước nhằm đápứng yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế Mục tiêu đào tạo của Học viện làTrang bị cho cán bộ, công chức đang làm việc trong bộ máy Nhà nước ở cáccấp và tương đương trong các tổ chức của Đảng, Nhà nước và tổ chức chínhtrị - xã hội những kiến thức cơ bản về Nhà nước, pháp luật, về quản lý hànhchính, kỹ năng, công nghệ hành chính và về quản lý Nhà nước đối với cácngành, các lĩnh vực; vận dụng hiểu biết kiến thức và kỹ năng cơ bản đó vàothực hiện có hiệu quả nhiệm vụ tham mưu, giúp việc trong công vụ của độingũ chuyên viên.
Học viện luôn quán triệt mục tiêu của giáo dục đại học và sau đại họctheo Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005 là “ đào tạo người học có phẩm chấtchính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thựchành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêucầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc.” Hay nói cách khác là đào tạo ra những conngười phát triển toàn diện, những con người “vừa hồng, vừa chuyên” như Bác
Hồ đã dạy, đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Bên cạnh mục tiêu tổng quát, Học viện đã xây dựng mục tiêu cụ thể vềđạo tạo cử nhân hành chính hệ chính quy với các mục tiêu về kiến thức, kỹnăng thái độ cụ thể mà các sinh viên hành chính phải đạt được khi tốt nghiệp
2.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý của Học viện Hành chính Quốc gia
a) Lãnh đạo Học viện:
Giám đốc Học viện và các phó Giám đốc
b) Các tổ chức giúp Giám đốc quản lý Học viện:
Trang 39c) Các đơn vị đào tạo, bồi dưỡng
d) Các tổ chức sự nghiệp
2.2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy - học môn ngoại ngữ tại Học viện Hành chính Quốc gia
2.2.1 Vài nét về Bộ môn ngoại ngữ
Ban Hợp tác quốc tế bao gồm ba bộ phận: Bộ phận đối ngoại, Trungtâm NAPA - BC và Bộ môn ngoại ngữ với 36 cán bộ công chức trong đó có
14 người trong biên chế, 22 lao động hợp đồng
Theo Nghị định 253 – CP, Ban Hợp tác Quốc tế là đơn vị trực thuộcHọc viện Hành chính Quốc gia, có các chức năng tham mưu giúp Giám đốcHọc viện
- Phát triển quan hệ hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế Xâydựng và thực hiện các chương trình hợp tác ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn Liên
hệ với các Đại sứ quán và các tổ chức quốc tế tìm kiếm cơ
hội và khả năng hợp tác với các nước khác trong lĩnh vực đào tạo và NCKHquản lý hành chính Thực hiện công tác biên, phiên dịch các tài liệu nướcngoài, tổ chức các đoàn ra và đón tiếp các đoàn vào theo chương trình hợptác đã phê duyệt Tham gia điều phối các dự án do nước ngoài hỗ trợ đượctriển khai tại Học viện
- Giảng dạy ngoại ngữ : Xây dựng chương trình giảng dạy ngoại ngữtiếng Anh và tiếng Pháp, biên soạn giáo trình giảng dạy chuyên ngành hànhchính nhà nước; giảng dạy cho các khoá đào tạo dài hạn tổ chức tại Học viện
và một số địa phương trong cả nước
Trang 40trong hoạt động hợp tác Hiện nay, Ban có các hoạt động hợp tác đa phương
và song phương với các tổ chức: Hiệp hội quốc tế các trường và viện hànhchính (IASIA), Tổ chức hành chính Miền Đông thế giới (EROPA) Học viện
có quan hệ hợp tác chặt chẽ với các trường và học viện hành chính nhiềunước trên thế giới: Cộng hoà Pháp , Canada, Cộng hoà liên bang Đức, VươngQuốc Anh , Trung Quốc (Trường Hành chính); Ôxtrâylia, Cộng hoà dân chủnhân dân Lào, Thái Lan, Malaisia, Các cơ sở đào tạo hành chính thuộc cácnước ASEAN khác
Với sự hỗ trợ của Hội đồng Anh tại Việt Nam, Trung tâm ngoại ngữNAPA - BC được thành lập năm 2004 như là một đơn vị đào tạo của Họcviện Hành chính Quốc gia với mục tiêu: cung cấp các khoá đào tạo kỹ năngtiếng Anh có chất lượng cho đội ngũ công chức, thông qua các khoá họctiếng Anh quanh năm, với nhiều hình thức, trình độ khác nhau
Bộ môn Ngoại ngữ (BMNN)
Năm 1995, Giám đốc Học viện đã quyết định thành lập Bộ môn Ngoạingữ trong Ban Hợp tác Quốc tế để tổ chức thực hiện việc giảng dạy ngoạingữ Bộ môn do Trưởng Bộ môn phụ trách, hiện nay mỗi năm Bộ môn chịutrách nhiệm xây dựng chương trình, giáo trình và giảng dạy khoảng 12000tiết cho các khóa cử nhân chính quy, cử nhân tại chức, cao học và tiến sỹhành chính tổ chức tại Học viện và tại các địa phương trong cả nước
Các sách chuyên môn đã xuất bản:
- Giáo trình Tiếng Anh Hành chính (240 tiết dành cho đào tạo thạc sĩQLNN)
- Giáo trình Tiếng Anh Hành chính (60 tiết dành cho đào tạo cử nhân hành chính chính quy và tại chức)
- Giáo trình Tiếng Pháp Hành chính (60 tiết dành cho đào tạo cử nhân hành chính chính quy)