1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biên soạn và sử dụng bài tập lịch sử ở lớp 8 trung học cơ sở

143 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 307,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo ông: “ Bài tập hợp lý nếu nó buộc họcsinh phải xem xét lại những sự kiện đã học, đặt trong mối quan hệ khác, đòihỏi phải phát hiện thêm ở khía cạnh khác của vấn đề hoặc làm cho kiến

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC -

-TRẦN THỊ THU

BIÊN SOẠN VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP LỊCH

SỬ Ở LỚP 8 TRUNG HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Hữu Chí

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

: Học sinh: Phương pháp dạy học: Sách giáo khoa

: Trung học cơ sở: Trung học phổ thông: Trắc nghiệm khách quan

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 01

1 Lý do chọn đề tài 6 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 12 7

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 13 8

5 Cở sở phương pháp luận 13 8

6 Phương pháp nghiên cứu 14 9

7 Giả thuyết khoa học 15 10

8 Đóng góp của luận văn 15 10

9 Cấu trúc của luận văn 15 10

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN

ĐỀ NGHIÊN CỨU 16 11

1.1 Cơ sở lý luận 16 111.1.1 Cơ sở của việc biên soạn và sử dụng bài tập lịch sử 16 111.1.2 Một số vấn đề lý luận về bài tập trong dạy học lịch sử ở trường phổthông 23 181.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử 40 351.2 Cơ sở thực tiễn để biên soạn và sử dụng bài tập lịch sử trong dạy học lịch

sử ở trường trung học cơ sở 45 401.2.1 Đối với giáo viên 45 401.2.2 Đối với học sinh 48 43

Chương 2 : BIÊN SOẠN VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP LỊCH SỬ Ở LỚP 8

Trang 4

2.1.2 Bài tập đảm bảo tính vừa sức đồng thời phát huy được trí thông minhsáng tạo của học sinh 52 472.1.3 Đảm bảo tính hệ thống trong việc xác định nội dung để biên soạn bàitập lịch sử 53 482.1.4 Đảm bảo tính đa dạng, toàn diện trong biên soạn bài tập lịch sử 54 492.1.5 Bài tập lịch sử cần chính xác về nội dung và chuẩn mực về hình thức

55

50

2.2 Quy trình biên soạn bài tập lịch sử 55 502.3 Biên soạn bài tập trong dạy học lịch sử ở lớp 8 trung học cơ sở (ví dụPhần lịch sử thế giới) 57 522.3.1 Cấu trúc và nội dung cơ bản của chương trình lịch sử thế giới lớp 8

57

52

2.3.2 Biên soạn bài tập lịch sử trong dạy học phần lịch sử thế giới lớp 8 60552.4 Sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử Lớp 8 phần lịch sử thế giới 92 872.4.1 Sử dụng bài tập trên lớp 92 872.4.2 Hướng dẫn làm bài tập lịch sử ở nhà 98 932.5 Thực nghiệm sư phạm 99 942.5.1 Mục đích thực nghiệm 99 942.5.2 Đối tượng và địa bàn thực hiện 100 952.5.3 Nội dung thực nghiệm 100 952.5.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 100 952.5.5 Kết quả thực nghiệm 101 96

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, chúng ta đang sống trong thế kỉ 21- thế kỉ của khoa học côngnghệ, kho tàng kiến thức nhân loại tăng theo cấp số nhân Để theo kịp sự pháttriển của thời đại, hòa nhập với nền kinh tế thế giới, đòi hỏi sự nghiệp giáodục của Việt Nam phải đổi mới mạnh mẽ toàn diện và đồng bộ, nhằm đào tạo

ra những con người mới có trình độ văn hóa cao, có năng lực tư duy, năng lựcsáng tạo và có kĩ năng thực hành giỏi Ở Việt Nam vấn đề này đang rất được

coi trọng Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định: “ Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu ”, do đó “ phải đổi mới phương pháp dạy học

ở tất cả các cấp học, bậc học, khuyến khích tự học, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bỗi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực tự giải quyết vấn đề ” Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành trung

ương Đảng lần thứ hai khóa VIII tháng 12 năm 1996 đã khẳng định vai tròcủa môn Lịch sử cùng các môn học khác thuộc khoa học xã hội trong việchình thành nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ

Các công trình nghiên cứu về thực trạng giáo dục của nước ta đã chothấy chất lượng học tập của học sinh nước ta đã có một số chuyển biến trongnhững năm qua Song đối chiếu với nhu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ

sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước vẫn còn thấp, còn nhiềuyếu kém, bất cập Đa số học sinh vẫn còn thiên về cách học tích lũy tri thứctrong sách giáo khoa, coi trọng ghi nhớ sự kiện, công thức, quy trình, quenlàm theo mẫu đã cho, học theo lối học thuộc lòng

Trên thực tế hiện nay vai trò của bộ môn Lịch sử chưa được quan niệmđúng nên làm giảm sút chất lượng giáo dục của bộ môn, học sinh có ít hoặckhông hứng thú học tập với môn Lịch sử Để phát huy ưu thế của bộ môn,khắc phục những thiếu sót, cần đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử cho

Trang 6

2.1 Tài liệu nước ngoài

Trong các tài liệu về Tâm lý học, Lý luận dạy học đại cương, Lý luậndạy học các bộ môn của các tác giả trong và ngoài nước ở những mức khácnhau đều đề cập đến vấn đề bài tập,trước hết liên quan đến năng lực nhậnthức của học sinh đặc biệt là tính tích cực

Ở các nước phương Tây, việc phát huy tính tích cực học tập của họcsinh được rất chú trọng Dạy học giải quyết vấn đề là một phương pháp hiệnnay đang được sử dụng trong quá trình dạy học ở nhà trường phổ thông.Trong quyển “ Những cơ sở dạy học nêu vấn đề” của tác giả V.Ôkôn; “Dạyhọc nêu vấn đề” của I.Ia Lence và của những tác giả khác đều cho rằng trongdạy học hiện đại coi học sinh là trung tâm của quá trình dạy học, giáo viên sẽ

là người hướng dẫn, điều khiển học sinh Vì vậy để nâng cao các năng lực họctập cho học sinh đặc biệt là tính độc lập, tích cực, sáng tạo các tác giả đềunhấn mạnh việc thiết lập hệ thống câu hỏi và bài tập nêu vấn đề, đây chính làphương tiện để giáo viên tạo ra ở học sinh các tình huống có vấn đề

Tác giả N.V Savin trong cuốn “ Giáo dục học” (tập 1) và “Lý luận dạyhọc” của Babanxky đã khẳng định việc ra bài tập về nhà có ảnh hưởng tíchcực đến qua trình giáo dục học sinh, việc ra bài tập và hướng dẫn học sinh làmbài tập sẽ tạo ra hứng thú, kích thích học sinh tích cực học tập Tác giả cònnhấn mạnh điều quan trọng là phải xây dựng được các bài tập về nhà

Với tác giả I.F.Khalamốp trong cuốn “ Phát huy tính tích cực học tậpcủa học sinh như thế nào” đã nhất trí với ý kiến của Rubinxtên, mỗi con ngườiđều tự khám phá thế giới cho mình bằng cách này hay cách khác “ Khi nóirằng con người với tư cách một cá thể không khám phá mà chỉ lĩnh hội nhữngkiến thức do nhân loại đã giành được, thì dĩ nhiên điều đó có nghĩa là anh takhông khám phá những kiến thức đó cho nhân loại thôi, nhưng dẫu sao anh tacũng phải khám phá cho bản thân mình,dù chỉ là “khám phá lại” Con ngườichỉ thực sự nắm vững cái mà chính bản thân mình giành được

Trang 7

bằng lao động của mình” Sự khám phá này không phải việc học thuộc lòng

mà phải thông qua sử dụng các loại bài tập Như vậy, trước những bài tập dẫnđến tri thức mới đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ, nỗ lực tư duy thực sự, phảisáng tạo, tập trung quan sát, chú ý… Điều kiện quyết định để phát huy tínhđộc lập, tư duy là việc nắm tri thức mới bằng con đường giả quyết các vấn đề

Tiến sĩ N.G.Đairi trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?”

đã chú ý đến hoạt động tự lập của học sinh trong việc tiếp thu kiến thức, ông

đã khẳng định rằng: bài tập là một trong những biện pháp quan trọng nhất đểhình thành tư duy độc lập và có tính tích cực tự giác trong học tập của họcsinh đồng thời ông cũng khẳng định: “ Bài tập mở ra khả năng rộng lớn nhấttrong lĩnh vực phát triển học sinh và vạch ra bản chất của hiện tượng Vì mỗibài tập có những tính chất đặc biệt tác động logic và tác động tâm lý đối vớihọc sinh, có ảnh hưởng đặc biệt đối với việc lĩnh hội kiến thức và phát triểnnăng lực ở các em” [13,tr.85] Theo ông: “ Bài tập hợp lý nếu nó buộc họcsinh phải xem xét lại những sự kiện đã học, đặt trong mối quan hệ khác, đòihỏi phải phát hiện thêm ở khía cạnh khác của vấn đề hoặc làm cho kiến thức

đã biết thêm sâu sắc, đòi hỏi học sinh phải kết hợp tài liệu sách giáo khoa vớiphần trình bày của giáo viên, phải lập ra các sơ đồ công việc này học sinh làm

ở nhà tiện hơn làm ở trên lớp…Cần phải kiểm tra các bài tập nêu vấn đề chohọc sinh về nhà làm, trường hợp bất đắc dĩ cũng phải kiểm tra số lớn các bàitập đó” [13,tr.104] Ông còn đưa ra một loạt các yêu cầu đối với bài tập nêuvấn đề như mức độ khó vừa phải, tính vừa sức của bài tập đối với học sinh,việc chọn đúng thời gian ra bài tập

2.2 Tài liệu trong nước

Ở Việt Nam, những năm gần đây một số công trình nghiên cứu lý luậndạy học cũng đề cập đến vấn đề bài tập trong dạy học các bộ môn như cuốn: “

Lý luận dạy học đại cương của Nguyễn Ngọc Quang”, “ Giáo dục học” doTrần Thị Tuyết Oanh chủ biên, “ Giáo dục học” của Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ

Trang 8

Hoạt, “Giáo dục học” của Phạm Viết Vượng, “Tâm lý học dạy học” của HồNgọc Đại….Các tác giả đều khẳng định vai trò của bài tập đối với việc hìnhthành, củng cố tri thức, rèn luyện kỹ năng học tập, giáo dục nhân cách chohọc sinh Giáo sư Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt nhấn mạnh con đường nhậnthức của học sinh và cho rằng bài tập là điểm tựa trong nhận thức của họcsinh, từ đó sẽ phát triển óc tư duy, sáng tạo, độc lập của học sinh Tác giả cũngnhấn mạnh hình thức tự học ở nhà vì nó giúp học sinh “ Mở rộng, đào sâu, hệthống hóa, khái quát hóa những kiến thức đã học trên lớp và làm cho vốn hiểubiết đuợc hoàn thiện, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng tri thức của mìnhvào các tình huống” Đồng thời học sinh có thể : “Tự bồi dưỡng tinh thần,trách nhiệm, tính tự giác độc lập, tính kỷ luật, tính tổ chức,tính kế hoạch tronghọc tập [38,tr.294] Hay tác giả Phạm Viết Vượng nhấn mạnh việc tự học cóvai trò cực kỳ quan trọng, thực tế cho thấy chất lượng học tập được quyết địnhbởi ý thức và phương pháp tự học của từng học sinh Học sinh học tập ở nhàtốt sẽ giúp cho các giờ học tiếp theo được thuận lợi và cứ như thế chất lượnghọc tập toàn khóa sẽ được đảm bảo [57,tr 221].

Trong cuốn “ Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” của tácgiả Thái Duy Tuyên đã khẳng định: “Bài tập là một yếu tố rất quan trọng củaquá trình dạy học Trong thực tế một bài giảng, một giờ lên lớp có hiệu quả,

có thỏa mãn nhu cầu nâng cao tính tích cực, sáng tạo của học sinh không đềuphụ thuộc rất lớn vào hệ thống bài tập có lý thú, có biên soạn tốt không” [55,tr.223] Tác giả trình bày chi tiết vai trò vị trí của bài tập,trong quá trình dạyhọc, phân loại bài tập, sử dụng hệ thống bài tập…

Trong giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” tập II, của giáo sưPhan Ngọc Liên và Trần Văn Trị đã chỉ rõ sự cần thiết phải thực hiện bài tậptrong dạy học lịch sử ở trường phổ thông mà còn trình bày một số hình thứcbiện pháp khi sử dụng bài tập lịch sử Trong giáo trình “Phương pháp dạy họclịch sử” GS Nguyễn Thị Côi cũng khẳng định: “Có thể đưa ra nhiều dạng bài

Trang 9

tập lịch sử phát triển nhận thưc độc lập cho học sinh, nhằm nâng cao hiệu quảbài tập lịch sử [30,tr 180] Cuốn “ Các con đường biện pháp nâng cao hiệuquả dạy học ở trường phổ thông” GS Nguyễn Thị Côi khẳng định : Bài tập cótác dụng khơi dậy tư duy, trí tuệ của học sinh ở vùng phát triển gần nhất, tácgiả phân biệt câu hỏi và bài tập, các dạng bài bập…

Giáo sư Phan Ngọc Liên và PGS Trịnh Đình Tùng trong cuốn “ Pháthuy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THCS” đềukhẳng định về lý luận, thực tiễn tầm quan trọng đặc biệt của môn Lịch sửtrong việc giáo dục thế hệ trẻ vì vậy việc học tập lịch sử không chỉ dừng lại ởhọc mà đòi hỏi có trình độ tư duy để tìm hiểu lịch sử Bài tập là một trongnhững phương tiện để phát triển tư duy một cách có hiệu quả Cùng đề cậpđến dạy học lịch sử ở trường THCS tác giả Hoàng Thanh Hải đã thiết kế một

số loại bài tập mang tính chất khái quát một số nội dung, chương trình lớpsáu, lớp bảy, lớp tám

Ngoài ra trong một số tập chí chuyên ngành: Tạp chí giáo dục, Nghiêncứu Lịch sử….vấn đề bài tập được đề cập chủ yếu tới ưu thế câu hỏi, bài tập

và sử dụng chúng trong quá trình dạy học Ví dụ “ Xây dựng hệ thống câu hỏi,bài tập trong dạy học lịch sử ở trung học cơ sở” ( Nguyễn Văn Đằng, Tạp chíDạy và học ngày nay, số 7-2004), “ Bài tập lịch sử trong việc tích cực hóahoạt động nhận thức của học sinh (Trần Quốc Tuấn, Tạp chí Nghiên cứu giáodục, số 2-1998)…Đặc biệt là “ Hướng dẫn học sinh làm bài tập lịch sử”,củatác giả Nguyễn Thị Côi – Phạm Thị Kim Anh trong tạp chí nghiên cứu giáodục số 6 – 1994 đã khẳng định: Bài tập lịch sử có vai trò quan trọng đối vớiviệc học tập của học sinh, nó không chỉ giúp học sinh nắm vững, hiểu sâu vàhoàn thiện những kiens thưc cơ bản của bài mà còn nâng cao hiểu biết của các

em, rèn luyện kỹ năng cần thiết….Tác giả còn nêu lên các dạng bài tập vànhững ví dụ cụ thể, dễ hiểu

Trang 10

Trong những năm gần đây một số luận án, luận văn đã đề cập đến vấn

đề này trong đó phải kể đến luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Trần QuốcTuấn bảo vệ năm 2002 (PGS Trịnh Đình Tùng và Phan Ngọc Liên hướngdẫn), Luận văn “ Bài tập lịch sử trong dạy học lịch sử lớp 8 trung học cơ sởcủa Linh Thị Vinh, “ Thiết kế và sử dụng bài tập về nhà trong dạy học lịch sử

ở trường THPT” của Trần Thị Phương Lan, “ Sử dụng bài tập trong dạy họclịch sử lớp 11 ở trường trường THPT chuyên” của Nguyễn Thị Hồng Thanh.Các công trình trên đều đề cập và chú ý đến vấn đề quan trọng như: Phân loạicâu hỏi, các phương pháp sử dụng câu hỏi và bài tập trong các khâu của quátrình dạy học, yêu cầu của việc thiết kế bài tập, xây dựng nội dung bài tậpthuộc chương trình THCS và THPT

Qua tài liệu nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có thể rút ramột số kết luận sau: Hầu hết các công trình nghiên cứu đều nhấn mạnh khẳngđịnh vai trò của bài tập nói chung và bài tập lịch sử nói riêng trong qúa trìnhdạy học phổ thông Các dạng bài tập khác nhau có ý nghĩa góp phần hìnhthành cho học sinh khả năng nhận thức bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử,hình thành khái niệm rút ra các quy luật lịch sử, phát triển giáo dục toàn diệncho học sinh

Các công trình nghiên cứu trên đã đặt cơ sở lý luận cho việc giải quyết

đề tài Trong luận văn này chúng tôi đã tiếp thu những lý luận cơ bản, vậndụng cụ thể vào dạy học Lịch sử thế giới lớp 8 nhằm nâng cao hơn nữa chấtlượng dạy học môn Lịch sử

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Là qúa trình biên soạn và sử dụng bài tập lịch sử ở lớp 8 trung học cơ sở

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu vấn đề chung về bài tập trong môn Lịch sử, biênsoạn hệ thống bài tập lịch sử trong nội dung phần lịch sử thế giới lớp 8, đềxuất các biện pháp sư phạm để sử dụng các bài tập đó

Trang 11

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Để đạt mục đích trên đề tài nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu về mặt lý thuyết về bài tập trong dạy học lịch sử kháiniệm, vai trò, ý nghĩa, nguyên tắc, các quy trình biên soạn và biện pháp sử dụng bài tập lịch sử trong dạy học lịch sử

- Tiến hành điều tra thực tế giáo viên và học sinh ở trường THCS

Cầu Giấy để nắm rõ quan niệm và sự thực hiện đối với vấn đề bài tập trongdạy học lịch sử Từ đó khẳng định có thể sử dụng tốt bài tập trong dạy họclịch sử, đồng thời nêu những đề xuất cần thiết để đưa công trình nghiên cứuvào thực tiễn

- Nghiên cứu chương trình lịch sử thế giới lớp 8 và các nguồn tài

liệu liên quan để biên soạn hệ thống bài tập phù hợp với đặc điểm, trình độcủa học sinh trung học cơ sở, phù hợp với tình hình dạy và học, sử dụng cácbài tập lịch sử trên lớp và về nhà

- Tiến hành thực nghiệm, so sánh kết quả thu được ở các trường

trung học cơ sở để rút ra những tác dụng của bài tập trong dạy học lịch sử, nhằm khẳng định hơn nữa tính đúng đắn và tầm quan trọng của nó

5 Cở sở phương pháp luận

Là lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về

nhận thức, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, quan điểm, đường lối củaĐảng cộng sản Việt Nam, của nhà nước ta về giáo dục phổ thông nói chung,

Trang 12

13

Trang 13

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước về lí luận dạy học có liênquan đến đề tài

6.2 Phương pháp chuyên gia:

Gặp gỡ trao đổi với những chuyên gia giỏi về lĩnh vực đang nghiên cứu,lắng nghe sự tư vấn của các chuyên gia để giúp định hướng triển khai đề tàinghiên cứu

6.3 Phương pháp điều tra:

Điều tra tập trung vào các vấn đề sau:

- Thực trạng hiểu biết và vận dụng các phương pháp dạy học tích cực của giáo viên THCS hiện nay

- Thực trạng sử dụng các bài tập lịch sử trong dạy học lịch sử ở nhà trường phổ thông

- Thái độ học tập đối với bộ môn lịch sử của học sinh THCS

6.4 Phương pháp thu thập tư liệu:

Sưu tầm, thiết kế, phân loại các bài tập lịch sử

6.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở 2 trường THCS của Hà Nội, trong

đó mỗi trường sẽ chọn 2 lớp 8 (1 lớp đối chứng – 1 lớp thực nghiệm)

- Lớp thực nghiệm và lớp đối chứng có sĩ số gần bằng nhau, trình độ vàchất lượng học tập ngang nhau

- Lớp thực nghiệm: Sử dụng giáo án được thiết kế theo phương pháp có

Trang 14

6.6 Phương pháp thống kê toán học để phân tích định tính và định lượng kết quả nghiên cứu.

Sử dụng một số công cụ toán học để xử lý các kết quả điều tra và kết quả thực nghiệm sư phạm Các thông số sử dụng để xử lý: Phần trăm (%), Trung bình cộng

7 Giả thuyết khoa học

Việc biên soạn và sử dụng tốt hệ thống bài tập theo nguyên tắc,

quy trình, hình thức, biện pháp đã đề xuất sẽ góp phần nâng cao chất lượngdạy học bộ môn, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trìnhhọc tập, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục, đồng thời hộinhập cùng với xu thế giáo dục của thế giới

8 Đóng góp của luận văn

Trình bày các quan niệm đúng đắn, khoa học về vấn đề bài tập trong mônlịch sử ở trường phổ thông như bản chất khái niệm bài tập lịch sử, vị trí, ý nghĩacủa bài tập lịch sử, những vấn đề lý luận và thực tiễn của bài tập lịch sử

Đánh giá đúng thực trạng sử dụng bài tập ở trường trung học cơ sở hiện nay Xác định yêu cầu có tính nguyên tắc và quy trình xây dựng nội dungbài tập phục vụ cho việc dạy học lịch sử lớp 8 ở trường trung học cơ sở

Biên soạn hệ thống bài tập trong dạy học lịch sử dưới nhiều dạng khác nhau cho phần lịch sử thế giới lớp 8 trường trung học cơ sở

Xác định yêu cầu sư phạm, đề ra các hình thức, biện pháp sử dụng bài tập lịch sử trong quá trình dạy học ở trường trung học cơ sở

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được cấu tạo thành 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Chương 2 Biên soạn và sử dụng bài tập lịch sử ở lớp 8 trung học cơ sở

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA

VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Cơ sở của việc biên soạn và sử dụng bài tập lịch sử

1.1.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học – xu hướng chung của thế giới

Vấn đề đổi mới, hoàn thiện PPDH trên thế giới đã được đặt ra từ khálâu Hiện nay, do quá trình toàn cầu hóa, đặc biệt là sự phát triển như vũ bãocủa các ngành khoa học kĩ thuật, việc đổi mới PPDH là một yêu cầu cấp thiếtđặt ra cho ngành giáo dục của bất kì quốc gia nào Tại Nhật Bản, Hội đồngquốc gia cải cách Giáo dục đã đề ra 3 yêu cầu thiết yếu của cải cách Giáo dụclà:

1 Thực hiện việc chuyển sang hệ thống giáo dục suốt đời

2 Chú trọng hơn nữa vai trò quan trọng của tính cách mỗi con người

3 Làm cho giáo dục phù hợp hơn với những thay đổi của thời đại.Mục tiêu cơ bản của chương trình học tập được xác định là nhấn mạnhnhững tri thức kĩ năng cơ sở và cơ bản cần cho mọi công dân

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa vớimục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trởthành một nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyếtđịnh thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc

tế là con người, là nguồn lực người Việt Nam đươc phát triển về số lượng vàchất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao, phẩm chất và năng lựcđược hình thành trên một nền tảng kiến thức, kĩ năng đủ và chắc chắn Xã hộiđòi hỏi người có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ cáctri thức dưới dạng có sẵn, đã lĩnh hội ở nhà trường mà còn phải có năng lựcchiếm lĩnh tri thức mới một cách độc lập; khả năng đánh giá các sự kiện, hiệntượng mới, các tư tưởng một cách thông minh, sáng suốt trong cuộc sống,

Trang 16

trong lao động và trong quan hệ với mọi người Vì vậy một trong những yêucầu cấp bách hiện nay phải có sự đổi mới về giáo dục, trong đó sự đổi mới cănbản về phương pháp dạy học.

Luật giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành

ngày 14/7/2005 đã nghi rõ ở điều 28.2 “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX một lần nữa khẳng định “Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay, đổi mới và hoàn thiện nghiêm minh chế độ thi cử ”.

Mới đây là chỉ thị số 40 –CT/TW của Ban Bí Thư Trung ương Đảng(15/6/2004) về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán

bộ quản lí giáo dục Một trong 7 nhiệm vụ được đề ra là “Đẩy mạnh việc đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam Tiếp tục điều chỉnh và giảm hợp lý nội dung, chương trình cho phù hợp với tâm lý, sinh lý của học sinh, nhất là cấp tiểu học và trung học cơ sở Đặc biệt là đổi mới mạnh mẽ và cơ bản phương pháp giáo dục nhằm khắc phục kiểu truyền thụ một chiều, nặng lý thuyết, ít khuyến khích tư duy sáng tạo; bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề, phát triển năng lực thực hành sáng tạo cho người học, đặc biệt cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng Tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động dạy và học Đổi mới chương trình, giáo trình, phương pháp dạy và học trong các trường, khoa sư phạm và các trường cán bộ quản lý

Trang 17

giáo dục nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu đổi mới của giáo dục phổ thông và công tác quản lý nhà nước về giáo dục”.

Các phương pháp nặng về hoạt động thuyết giảng, áp đặt của thầy, coinhẹ hoạt động tích cực của trò đã và đang được thay thế bằng phương phápgiáo dục tích cực, dựa trên quan điểm phát huy tính tích cực của người học,

đề cao vai trò tự học của trò, kết hợp với sự hướng dẫn của thầy trong đó trò

là chủ thể, thầy là tác nhân của quá trình dạy học

TS Nguyễn Trọng Thọ có so sánh một số đặc điểm trong dạy học mangtính giảng huấn truyền thống với dạy học kiến tạo

Bảng 1.1 So sánh dạy học giảng huấn truyền thống với dạy học kiến tạo

Trang 18

Cách tiếp cận theo thuyết kiến tạo trong dạy học đặt yêu cầu chủ độngcao hơn cho người học và tăng cường hoạt động của mỗi học sinh cũng nhưcủa cả tập thể.

Đổi mới các phương pháp dạy học đã thực sự trao quyền chủ động họctập cho học sinh và cũng làm thay đổi vai trò của người thầy trong giáo dục

Từ vai trò là nhân tố quan trọng, quyết định trong kiểu dạy tập trung vào thầy

cô, thì nay các thầy cô phải chuyển sang giữ vai trò nhà điều phối theo kiểudạy học hướng tập trung vào người học Kiểu dạy học hướng tập trung vàohọc sinh và hoạt động hóa người học có thể được thực hiện một cách tốt hơnvới sự trợ giúp của máy tính và mạng Internet

Các kết quả nghiên cứu tâm lí về khả năng lưu giữ thông tin của họcsinh của cho thấy bằng cách đọc chỉ đạt 5%, bằng nghe chỉ đạt 10%, bằng cácphương tiện nghe nhìn đạt 20%, bằng thảo luận đạt 50% Thu nhận bằng kinhnghiệm thực hành đạt được 75%, khi dạy lại cho người khác có thể đạt 90%

((Nghiên cứu do National Training Laboratories tiến hành ở Bethel, bang Maine, Hoa Kỳ).

Trên cơ sở các nghiên cứu, định hướng đổi mới phương pháp dạy họcngày nay là hướng tới người học, phát huy tính tích cực, chủ động của ngườihọc, hình thành và phát triển ở người học một phong cách học tập khoa học

Bảng 1.2: So sánh mô hình dạy học thụ động với mô hình

Trang 19

3 Thầy giảng giải, trò ghi nhớ,

học thuộc lòng

4 Thầy độc quyền đánh giá

5 Thầy là thầy dạy: dạy chữ,

dạy nghề, dạy người

- Học không chỉ để nắm kiến thức mà cần nắm cả phương pháp giành lấy kiến thức Học cách học và cách tự đánh giá

- Bồi dưỡng năng lực tự học

- Học lấy việc áp dụng kiến thức và bồi dưỡng thái độ làm trung tâm

- Học hướng về những mục tiêu và những yêu cầu có thể thực hiện được

- Học để phát huy bản thân và để tham gia vào sự phát triển xã hội

- Học có phân hóa với cường độ cao

- Sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại

Để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước trong thời kì

hội nhập quốc tế, chúng ta cần nhanh chóng chuyển từ mô hình dạy học thụ động sang mô hình dạy học tích cực, chuyển từ chủ yếu đạo tạo kiến thức và

kĩ năng sang chủ yếu đào tạo năng lực làm cho từng người chúng ta không chỉ học khi còn đi học mà còn học cả khi đã đi làm và lúc đã nghỉ hưu – học

tập suốt đời và tạo dựng nên một xã hội học tập.

Xây dựng cơ sở lý thuyết có tính phương pháp luận để tìm hiểu bảnchất phương pháp dạy học và định hướng hoàn thiện phương pháp dạy học,chú ý phương pháp luận về phương pháp dạy học

Trang 20

- Tăng cường tính tích cực, tìm tòi sáng tạo ở người học, tiềm năng trí tuệ và nhân cách, thích ứng năng động với thực tiễn luôn đổi mới.

- Tăng cường năng lực vận dụng tri thức đã học vào cuộc sống, sảnxuất Chuyển dần trọng tâm của phương pháp dạy học từ tính chất thông báo,tái hiện đại trà chung cho cả lớp sang tính chất phân hóa, cá thể hóa cao độtiến lên theo nhịp độ cá nhân

- Chuyển dần trọng tâm đầu tư công sức vào việc giảng giải kiến thức sang dạy phương pháp tự học cho học sinh

* Vận dụng sáng tạo các phương pháp DH bằng các cách sau đây:

- Liên kết nhiều phương pháp dạy học riêng lẻ thành tổ hợp phương pháp phức hợp

- Liên kết phương pháp dạy học với các phương tiện kĩ thuật hiện đại(phương tiện nghe nhìn, máy vi tính, mạng máy tính…) tạo ra các tổ hợpphương pháp dạy học có sử dụng phương tiện kĩ thuật hiện đại dạy học

- Chuyển hóa phương pháp nghiên cứu khoa học thành phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn

- Đa dạng hóa các phương pháp dạy học cho phù hợp với các cấp học, bậc học, các loại hình trường và các môn học

Như vậy khi đổi mới phương pháp dạy học, ta cần quán triệt tư tưởng chủ đạo là:

- Sử dụng các yếu tố tích cực đã có ở các phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề, đàm thoại, trực quan…

- Tiếp thu có chọn lọc một số quan điểm, phương pháp dạy học dạy họctích cực trong khoa học giáo dục hiện đại của một số nước phát triển như dạyhọc kiến tạo, hợp tác theo nhóm, dạy học tích cực, dạy học tương tác

- Lựa chọn các phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh đảmbảo sự phù hợp với mục tiêu bài học, đối tượng học sinh cụ thể, điều kiện củatừng địa phương…

Trang 21

- Phối hợp một cách hợp lí một số phương pháp khác nhau để phát huy cao độ hiệu quả của giờ học theo hướng dạy học tích cực.

Bài tập lịch sử xây dựng gắn với xu hướng đổi mới phương pháp dạyhọc : tích cực hóa nhận thức của người học Bài tập lịch sử xây dựng làm sao

để HS đóng vai trò như một nhà sử học, tiếp cận nguồn sử liệu từ đó nghiêncứu, nhận thức lịch sử bằng khả năng và hứng thú của mình

1.1.1.2 Xuất phát từ đặc trưng của việc dạy học lịch sử

Qúa trình dạy học ở trường phổ thông thực chất là qúa trình nhận thứccủa học sinh dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên nhằm cung cấp kiếnthức, hình thành thế giới quan khoa học giáo dục phẩm chất đạo đức, chính trị

và phát triển các năng lực của học sinh Điều này giúp các em hiểu được sựphát triển quy luật tự nhiên của xã hội, vận dụng sáng tạo vào cuộc sống Vớitri thức đó các em là lớp người đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiệnđại hóa của đất nước Tuy nhiên do đặc thù của môn học nên quá trình dạyhọc lịch sử có một số điểm cần phải chú ý

Một là, từ khi con người xuất hiện cùng với những hoạt động của mình

họ đã tạo nên lịch sử Không ai sáng tạo nên lịch sử vì vậy lịch sử là những gì

đã và đang diễn ra, nó tồn tại khách quan, ngoài ý muốn chủ quan của conngười Dạy học lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về quátrình phát triển của xã hội loài người từ khi xuất hiện tới nay, lịch sử các quốcgia và lịch sử dân tộc Những kiến thức lịch sử là những kiến thức đã đượcbàn luận, công chúng thừa nhận vì vậy phù hợp với tâm lý, trình độ nhận thứccủa học sinh

Hai là, lịch sử là cái đã xảy ra, chúng ta không thể tái hiện lại quá khứlịch sử trong phòng thí nghiệm như các môn khoa học tự nhiên Lịch sử chính

là bản thân cuộc sống, kết quả hoạt động của con người, trong qúa trình họctập học sinh vừa là chủ thể, vừa là khách thể Nhận thức lịch sử bao giờ cũngkhó khăn và phức tạp so với khoa học khác Học sinh nắm bắt quá khứ dựa

Trang 22

trên cơ sở tri giác sử liệu (nghe giảng, quan sát tranh ảnh, bản đồ, tư liệu,phim ảnh ) để khôi phục hình ảnh lịch sử từ đó lịch sử sẽ được tái hiện Mức

độ chính xác sự kiện lịch sử sẽ phụ thuộc vào vai trò của người thầy, độ chânthực nguồn tư liệu

Ba là, kiến thức lịch sử không chỉ là các biến cố, hiện tượng lịch sử, cácniên đại, địa danh, nhân vật, lịch sử mà còn bao gồm các quy luật lịch sử,nguyên lý, bài học kinh nghiệm, phương pháp học tập và vận dụng kiến thứclịch sử cho nên việc cung cấp kiến thức lịch sử cơ bản để tạo biểu tượng lịch

sử, hình thành khái niệm, nêu quy luật, rút ra bài học là nhiệm vụ trung tâmcủa quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Với những đặc trưng như vậy, chúng ta không thể tiến hành việc dạyhọc theo phương thức “thầy đọc trò chép” mà phải đảm bảo tính chính xác,hình ảnh cụ thể nội dung lịch sử, nhiều hình thức học tập khác nhau làm chohọc sinh nhận thức, tích cực tư duy Nhận thức lịch sử giống nhận thức nóichung là quá trình gồm hai bước cảm tính và lý tính Để nhận thức lịch sử mộtcách chính xác, đầy đủ ngoài sự nỗ lực của chính bản thân học sinh cần có tácđộng tích cực bên ngoài, điều kiện sư phạm thuận lợi Trong đó hệ thống bàitập được sử dụng hợp lý sẽ góp phần đạt được mục tiêu trên và nâng cao chấtlượng quá trình dạy học lịch sử

1.1.2 Một số vấn đề lý luận về bài tập trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

1.1.2.1 Quan niệm về bài tập trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Có rất nhiều công trình của các nhà khoa học giáo dục trong và ngoàinước đề cập đến vấn đề bài tập nói chung và bài tập lịch sử nói riêng quanghiên cứu, phân tích chúng tôi nhận thức một số vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, chúng ta cần làm rõ khái niệm bài tập, theo nghĩa chung nhấtdùng để chỉ một hoạt động nhằm rèn luyện thể chất, tinh thần: bài tập thể dục,bài tập xướng âm Khi dùng trong lĩnh vực giáo dục (dạy học) theo từ điển

Trang 23

Tiếng Việt bài tập có nghĩa là: Bài ra cho học sinh làm để vận dụng nhữngkiến thức đã học ví dụ: Bài tập đại số, ra bài tập, làm bài tập [59,tr 42].Những định nghĩa trên mới chỉ giải thích một cách sơ lược, chưa làm rõ bảnchất của khái niệm bài tập Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang bài tập là một

hệ thống tập tin xác định bao gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ với nhau, tácđộng qua lại đó là:

- Những điều kiện, tức tập hợp những dữ liệu xuất phát diễn tảtrạng thái ban đầu của bài tập, từ đó tìm ra phép giải; theo ngôn ngữ thông dụng thì đó là “cái cho”

- Những yêu cầu là trạng thái mong muốn đạt tới của đối tượng;

đó là cái đích mà chủ thể phải hướng tới để thỏa mãn nhu cầu của mình; theongôn ngữ thông dung thì đấy là “cái phải tìm”

Còn người giải với tư cách là chủ thể của bài tập, cần có hai thành tốcách giải hay còn gọi là phép giải và phương tiện giải hay còn gọi là các thaotác trí tuệ

Như vậy bài tập và người giải là một hệ thống toàn vẹn, thống nhất,liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau

Khái niệm bài tập còn được nhiều tác giả đề câp tới, theo tiến sĩ N.GĐai-ri bài tập nhận thức còn được gọi là bài tập tư duy, bài tập nêu vấn đề.Tuy tên gọi khác nhau nhưng theo ông các thuật ngữ này đều chỉ một hiệntượng sư phạm đồng nhất Theo ông: “Chúng tôi cho là các thuật ngữ bài tậpnêu vấn đề, hoặc là bài tập logic là thích hợp nhất Hơn tất cả các thuật ngữkhác, hai thuật ngữ này nhấn mạnh đến điều chủ yếu tức là học sinh chế biếnlại các tài liệu cảm thụ một cách tự lập chuyển từ nhận thức cảm tính sangnhận thức logic trong quá trình giải quyết vấn đề” Theo I.Ia Léc-ne: “ Bài tậpthường được dùng theo nghĩa một nhiệm vụ cần được thực hiện hoặc một mụcđích cần phải đạt tới” Theo ông bài tập có thể đặt ra theo nhiều cách khácnhau trong đó có bài tập huấn luyện, rèn luyện Ở hai loại này, giáo viên

Trang 24

chỉ ra phương thức giải quyết bài tập và học sinh dựa vào đấy để tìm câu trảlời cho bài tập khác.

Theo tiến sĩ Trần Quốc Tuấn trong luận án về “ Bài tập trong dạy họclịch sử ở trường phổ thông” đã cho rằng: “ Bài tập lịch sử là một khái niệmchỉ một hệ thống thông tin xác định về tổ chức quá trình dạy học lịch sử ởtrường phổ thông khi kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinhtrên các lĩnh vực nhận thức ( khoa học, tư tưởng), cảm xúc, tình cảm, kỹ năng,

kỹ xảo [46,tr.38] Theo ông, bài tập lịch sử có những đặc điểm cơ bản sau:+ Bài tập lịch sử được xem là một hệ thống thông tin, quy định nhiệm

vụ học sinh phải thực hiện, hay mục đích học sinh, GV cần hoàn thành trongquá trình dạy học lịch sử

+ Bài tập lịch sử được tiến hành ở tất cả các khâu trong quá trình dạyhọc: nghiên cứu tài liệu mới, ôn tập, củng cố, hệ thống hóa, vận dụng kiểm trađánh giá kiến thức, cảm xúc, kỹ năng, kỹ xảo

+ Bài tập lịch sử là phương tiện thúc đẩy nỗ lực tự học của học sinh, giúp các em dần tiếp cận với phương pháp tự học, tự nghiên cứu

Thứ hai, qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng: bài tập là vấn đề cầnphải giải quyết được trình bày dưới dạng một câu hỏi, như vậy bài tập có thể

là một câu hỏi nhưng không phải bất kỳ câu hỏi nào cũng là bài tập “ khôngphải câu hỏi nào cũng xứng đáng là câu hỏi nhận thức [24,tr 99] Hai kháiniệm này khác nhau ở chỗ: câu hỏi chỉ nêu yêu cầu mà học sinh cần phải trảlời Còn bài tập vừa có dữ liệu (điều kiện), vừa có yêu cầu (hoặc câu hỏi) đểgiải quyết bài tập học sinh phải căn cứ vào dữ liệu đã cho để tìm câu trả lờichính xác Như vậy nếu câu hỏi mà việc trả lời nó không chỉ là tái hiện kiếnthức, không chỉ đòi hỏi sự nhớ lại đơn thuần mà nhằm hình thành kiến thứcvới chất lượng mới bằng các thao tác tư duy phức tạp thì nó trở thành bài tậpnhận thức Bài tập nhận thức có yêu cầu cao hơn, nội dung có tính chất kháiquát, đòi hỏi phải có nhận thức sâu sắc mới giải quyết được qua đó giúp

Trang 25

người học nâng cao trình độ lên một bước Bài tập thường là những câu hỏixoay quanh nguyên nhân, bản chất của sự vật, hiện tượng lịch sử, thường làmới đối với học sinh chứ không phải là những câu hỏi đơn giản có sẵn trongsách giáo khoa Bài tập cần nêu được bản chất thể hiện được mối liên hệ logiccác sự kiện lịch sử và phải được coi như một nguồn nhận thức quan trọngtrong quá trình học tập của học sinh.

Thứ ba, bài tập lịch sử là loại hình quan trọng, chủ yếu hoạt động tự lậpcủa học sinh trong quá trình khám phá, vận động kiến thức, góp phần làm chogiai đoạn nhận thức cảm tính và lý tính được phát triển vững chắc Vậy có thểtiến hành bài tập lịch sử đối với những lớp nào? Qua nghiên cứu dạy học lịch

sử thực tế chúng ta thấy rằng bài tập lịch sử phù hợp với tất cả đối tượng họcsinh từ tiểu học đến trung học nhưng tính chất mức độ bài tập ở các cấp, cáclớp có khác nhau Ỏ bậc tiểu học thì bài tập lịch sử chỉ cần các em nhớ đượcmột số nhân vật, sự kiện tiêu biểu…Đến cấp trung học cơ sở đặc biệt cấp phổthông yêu cầu bài tập ngày càng được nâng cao rõ rệt Ngoài việc phải ghinhớ các sự kiện hiện tượng lịch sử đòi hỏi các em phải so sánh, vạch ra bảnchất của chúng Việc xây dựng bài tập ở mức độ nào (sơ lược hay phức tạp)đều phải đạt đến kết quả là các em hiểu được khái niệm một cách tích cực, tựlực, sáng tạo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động trên cơ sử đóhình thế gới quan, lý tưởng, đạo đức cách mạng cho các em

Thứ tư, về điều kiện xây dựng bài tập phải xuất phát từ những nguồn tưliệu xác thực được khoa học thừa nhận Đặc biệt đối với các môn khoa học xãhội, thường xuất phát từ sự kiện, hiện tượng mà khái quát thành lý luận, nếubài tập giáo viên ra cho học sinh là những vấn đề chưa được khoa học thừanhận thì việc giải quyết bài tập với các em sẽ gặp nhiều khó khăn: “ sự chânthực của những kết luận rút ra ở tư duy phụ thuộc: thứ nhất tính chân thực củanhững dữ liệu mà từ đó chúng ta rút ra kết luận logic và thứ hai vào tính chânthực của bản chất kết luận Cho dù kết luận của chúng ta đúng đắn về mặt

Trang 26

logic nhưng nếu những dữ liệu chúng ta tri giác được từ thế giứi bên ngoài làsai lầm thì chính ngay kết luận cũng sai lầm” [14,tr.54].

Từ những nghiên cứu và phân tích trên chúng ta thấy bộ môn lịch sửcũng như nhiều bộ môn học khác ở trường trung học cơ sở có khả năng xâydựng nhiều bài tập nhằm kích thích tư duy lịch sử của học sinh, trên thực tếnhiều giáo viên giàu kinh nghiệm, tâm huyết với nghề nghiệp đã thiết kế đượcnhững bài tập lịch sử có tác dụng tốt trong giảng dạy nhưng chưa thành hệthống và chỉ mang tính chất các nhân Vậy bài tập lịch sử có thể tập hợp thànhnhững dạng nào? Nguyên tắc xây dựng hệ thống là gì? Đó là những vấn đềchúng tôi sẽ trình bày tiếp ở phần sau

1.1.2.2 Phân loại bài tập lịch sử

Các tài liệu lý luận dạy học đại cương, dạy học bộ môn ở trường phổthông đã phân loại bài tập dựa trên cơ sở của từng môn học Có nhiều cáchphân loại bài tập nói chung và bài tập lịch sử nói riêng, có người căn cứ vàođặc trưng của kiến thức lịch sử để phân loại đó là bài tập tìm hiểu nguyênnhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa của sự kiện Ví dụ Cách mạng tư sản Phápdiễn ra trong hoàn cảnh nào? Diễn biến và ý nghĩa cuộc cách mạng này Cóngười căn cứ vào khả năng nhận thức của học sinh để phân loại bài tập ví dụ :

So sánh đặc điểm của cách mạng tư sản kiểu cũ với cách mạng dân chủ tư sảnkiểu mới Cách phân loại có thể dựa trên chính bản thân bài tập hay bản thânngười giải, dựa trên chức năng tổ chức quá trình lĩnh hội và vận dụng tri thức,

kỹ năng kỹ xảo của học sinh Chúng tôi căn cứ vào các dạng kiểm tra, đánhgiá để đưa ra bài tập

Nhóm bài tập trắc nghiệm khách quan

Đây là nhóm bài tập cho học sinh lựa chọn phương án đúng trong nhiềuphương án cho trước hoặc đòi hỏi điền thêm hoàn chỉnh thông tin Bài tập nàyđược xây dựng chủ yếu dưới hình thức trắc nghiệm Dạng bài này yêu cầu họcsinh chỉ đơn thuần nhớ lại, trình bày lại sự kiện, niên đại,

Trang 27

địa danh, nhân vật lịch sử….mà học sinh đã học Hiện nay nhiều giáo viênlựa chọn hình thức này trong các khâu quá trình dạy học Loại bài tập này gồm dạng cơ bản sau:

+ Bài tập xác định đúng – sai: Loại câu hỏi này có thể là một câu trần

thuật hoặc câu hỏi trực tiếp được trả lời “đúng” hay “sai”, “có” hay “không”trước các sự kiện, niên đại, định nghĩa Thường với loại bài này cho phépđánh giá mức độ phản ứng nhanh, phán đoán, năng lực vận dụng kiến thức vàcác kỹ năng kỹ xảo của học sinh Nhưng cần chú ý những vấn đề nêu trongbài tập này cần rõ ràng, dứt khoát, nhận định ngắn ngọn tránh trình trạng đúnghoặc sai không rõ ràng Tuy nhiên loại bài tập này thường sử dụng trên lớpkiểm tra nhanh học sinh hoặc trắc nghiệm lại kiến thức của học sinh Loại bàitập này thường ở mức độ dễ nên theo tôi trong các bài kiểm tra không nên sửdụng loại bài tập này

Ví dụ: Hãy điền chữ Đ vào trước câu đúng hoặc chữ S vào trước câu sai:

……Cách mạng tư sản Pháp diễn ra vào năm 1789

……Quốc khánh của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là ngày 14-7

……Bảng tuần hoàn hóa học là phát minh của nhà bác học Menledeep

……Chủ nghĩa đế quốc Pháp là đế quốc chuyên cho vay nặng lãi

……Chủ nghĩa đế quốc Đức là đế quốc quân phiệt hiếu chiến

+ Bài tập nhiều lựa chọn: Là loại bài tập được sử dụng rộng rãi nhất.

Đó là việc đặt một câu hỏi, một vấn đề, một câu trần thuật đây là phần gốc,thường là yếu tố dẫn dắt, đơn giản, có ý nghĩa Phần lựa chọn là nhiều câu trảlời, học sinh phải lựa chọn một đáp án đúng

Ví dụ: Hãy khoanh tròn vào chữ in hoa trước ý trả lời đúng

Ví dụ 1: Cách mạng tư sản Anh diễn ra dưới hình thức nào

A Nội chiến C Đấu tranh giải phóng dân tộc

B Vận động thống nhất đất nước D Chiến trah bảo vệ đất nước

Đáp án: A

28

Trang 28

- Nội dung ở phần gốc cần đơn giản, ngắn gọn, rõ ràng, tránh chi tiếtphức tạp, vượt quá nhận thức của học sinh Còn phần lựa chọn tránh nêu vấn

đề quá sức hoặc quá dễ, không đòi hỏi học sinh phải quy nghĩ nhiều.Tránhtình trạng phần lựa chọn có nhiều hơn một phương án đúng hoặc không cóphương án đúng gây khó khăn cho học sinh khi làm bài

- Khi soạn bài tập không nên lộ rõ ý chính của câu trả lời học sinh dễdàng đoán được ngay Nên tránh đưa ra phương án trả lời đúng là “ Tất cả cáccâu trên đều đúng”, “Tất cả các câu trên đều sai” Nên đưa ra một phương ánđúng, các phần còn lại nên cấu tạo đa đạng, phong phú gây phương án nhiễucho học sinh

+ Bài tập xác định mối quan hệ giữa các yếu tố của sự kiện, hiện tƣợng hay quá trình lịch sử: Đối với bài tập này học sinh dựa vào những

kiến thức đã học, bằng kỹ năng, kỹ xảo của mình để tìm mối liên hệ giữa các

sự kiện lịch sử, các nhân vật, không gian lịch sử sao cho phù hợp với nhau

Ví dụ: Học xong về các cuộc cách mạng tư sản giáo viên có thể đưa ra câu hỏisau:

Ví dụ 1: Những sự kiện lịch sử nào có liên quan đến các nhân vật lịch sử sau đây:

Ô li vơ Crôm – oen và…

Sác lơ 1 và…

Trang 29

3.Chỉ huy quân đội của Quốc hội trong

cuộc nội chiến ở Anh

4 Người bị xử tử trong nội chiến Anh vào

ngày 30-1-1649

5 Lãnh tụ phái Gia cô banh

6 Năm 1784 ông phát minh ra máy hơi

nước

Loại bài tập này gọi là trắc nghiệm chiếu đôi Cấu tạo gồm có phần chỉdẫn trả lời (là những câu xác định bỏ lửng), phần lựa chọn gồm những câungắn, danh từ riêng hay con số Song khi soạn thảo không nên đặt số câu lựachọn, phù hợp ở các cột bằng nhau hoặc phần gốc học phần lựa chọn quá dài,một ý ở phần gốc ghép được với hai hay nhiều ý ở phần lựa chọn

Loại câu hỏi này không chỉ yêu cầu học sinh phải nhớ, biết sự kiện mộtcách vững chắc mà còn phải suy nghĩ, lựa chọn, lắp ráp như thế nào cho phù

Trang 30

hợp với nội dung đề ra Bài tập kiểm tra loại này vừa cung cấp kiến thức, vừakiểm tra kiến thức và trong một thời gian ngắn học sinh có thể hoàn thành mộtkhối lượng lớn câu hỏi chứ không phải chỉ có một vài vấn đề như ở loại câuhỏi tự luận Do đó, khi làm bài, kiến thức của học sinh cũng phải phong phúhơn.

Thực hiện loại câu hỏi này, học sinh khó có thể sử dụng một cách dễdàng các loại tài liệu mang theo nếu không hiểu, không nắm chắc vấn đề đượcđặt ra mà còn gây lúng túng, vì mất thì giờ khi sử dụng tài liệu

Tuy nhiên việc biên soạn loại bài tập trắc nghiệm này đòi hỏi giáo viênphải mất nhiều thời gian, công sức, phải có trình đọ hiểu biết sâu rộng, chính xác

về các vấn đề được đặt ra, cũng như có nghề nghiệp vụ sư phạm khi ra bài tập

+ Bài tập xác định mối liên hệ giữa sự kiện lịch sử với nhân vật lịch sử

Ví dụ 1: Hãy chọn các nhân vật lịch sử ở bên phải cho phù hợp với sự kiện bên trái:

3.Chỉ huy quân đội của Quốc hội trong cuộc

nội chiến ở Anh

4 Người bị xử tử trong nội chiến Anh vào

ngày 30-1-1649

6 Năm 1784 ông phát minh ra máy hơi nước

Trang 31

Để tăng thêm độ khó của bài tập thuộc loại này, chúng ta có thể đưathêm dữ liệu vào bài tập Ví như “ bài tập xác định mối quan hệ giữa sự kiện,nhân vật và niên đại lịch sử” Cụ thể qua ví dụ có 3 cột ghi sự kiện, nhân vật,địa danh theo thứ tự A,B,C Hãy sắp xếp các sự kiên, nhân vật, địa danh ấytheo từng nhóm có liên lạc với nhau.

+ Loại bài tập lựa chọn kết hợp với việc giải thích ngắn gọn mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức đƣợc lựa chọn.

Loại bài bày tương đối khó vì nó vừa có sự kết hợp giữa loại bài tập lựachọn và bài tập xác định mối quan hệ, vừa yêu cầu học sinh phải trình bày, lýgiải vấn đề được đặt ra, nó đòi hỏi học sinh phải nhớ chính xác sự kiện, địadanh, nhân vật… rồi từ đó rút ra kết luận về mối quan hệ giữa các kiến tứcnêu trên Đây là dạng bài tập vừa mang nội dung nhận biết, vừa mang nộidung nhận thức Về loại bài tập này có những dạng sau:

Bài tập gồm nhiều kiến thức cùng loại hay khác loại, được sắp xếp xen

kẽ nhau (sự kiện, nhân vật, niên đại, địa danh) hoặc (sự kiện, nhân vật, tổchức, niên đại)…học sinh phải lựa chọn, ghép lại và trình bày

Ví dụ 2: Hãy điền những mốc thời gian phù hợp với các sự kiện lịch sử trong bảng sau:

Thời gian

Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyề được thông quaTuyên ngôn của Đảng cộng sản

Quốc tế cộng sản được thành lậpCông xã Pari

Quốc tế thứ hai được thành lậpĐảng công nhân xã hội dân chủ Nga

Ví dụ 3: Hãy điền những sự kiện lịch sử phù hợp với các mốc thời gian sau:

Trang 32

+ Sự kiện lịch sử với không gian

Ví dụ khi hoàn thành học tập phần lịch sử thế giới cận đại (Từ giữa thế kỷXVI -năm 1917), giáo viên đưa bài tập: Đánh dấu X vào cột thời gian để xácđịnh các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử được nêu sau thuộc giai đoạn nào

Cũng thuộc loại bài tập này còn có những bài tập đòi hỏi học sinh sắpxếp các sự kiện lịch sử theo đúng thứ tự thời gian đã diễn ra, ví dụ: “ Bằngcách đánh số thứ tự hãy sắp xếp thứ tự các sự kiện lịch sử sau đây theo đúngthứ tự thời gian” khi dạy học phần lịch sử thế giới cận đại (Từ giữa thế kỷXVI - năm 1917)

STT

Công xã PariĐảng công nhân xã hội dân chủ NgaTuyên ngôn của Đảng cộng sảnQuốc tế cộng sản được thành lậpCách mạng Tân Hợi – Trung QuốcQuốc tế thứ hai được thành lậpDuy tân Minh Trị - Nhật Bản

Loại bài tập này tuy không đòi hỏi học sinh phải ghi cụ thể thời điểm xảy ra sự kiện, song nên ghi kèm thì càng tốt Ngoài ra, còn có loại câu hỏi

Trang 33

bài tập yêu cầu học sinh điền vào chỗ trống Khi làm việc với một số câu hỏi hoặc văn bản có chỗ trống, học sinh cần điền các dữ kiện phù hợp Ví dụ:

- Cơ quan cao nhất của nhà nước Công xã Pari là………

- Lãnh đạo cách mạng Tân Hợi là………

- Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra từ năm………

- Tháng 3-1921 Đảng Bôn sê vích Nga thực hiện chính sách…………

- Phát xít Đức đầu hàng Đồng minh không điều kiện vào ngày………Loại bài tập này đòi hỏi học sinh không chỉ nhớ mà còn hiểu để lý giải mộtcách logic nội dung vấn đề được đặt ra Phần điền vào chỗ trống phải ngắngọn, tương ứng với phần nêu ra, song phải đủ ý, rõ ràng

số điểm cơ bản sau:

- Các bài tập được lựa chọn đúng nội dung cơ bản của việc học tập

- Các bài tập phải phù hợp với trình độ phát huy tư duy độc lập sáng tạocủa học sinh

Bài tâp dưới dạng câu hỏi tự luận nhiều hình thức như câu hỏi đặt ra để lýgiải một vấn đề đã được xác định, hoặc bình luận chứng minh câu nói nổitiếng của một nhân vật lịch sử bằng những quan điểm, bằng các sự kiện cụthể; câu hỏi đòi hỏi học sinh sử dụng bình luận các sử liệu, câu hỏi kèm theoyêu cầu sử dụng các đồ dùng trực quan… Nhưng chủ yếu là các dạng sau:

Trang 34

+ Bài tập đòi hỏi khả năng phân tích của học sinh

Đòi hỏi học sinh khả năng phân tích các sự kiện hiện tượng hay một vấn đềthành nhiều sự kiện, hiện tượng nhỏ để làm nổi bật chủ đề nào đó

Ví dụ: Phân tích nguyên nhân thất bại, ý nghĩa lịch sử, tính chất của Cáchmạng Tân Hợi (1911)

+ Bài tập mang tính tổng hợp

Từ các sự kiện, hiện tượng nhỏ học sinh cần khái quát tập hợp theo chủ đề.Với loại bài tập này có tác dụng rèn luyện cho học sinh có nhìn xuyên suốt vềmột vấn đề, một giai đoạn lịch sử, nắm bắt hệ thống lịch sử

+ Bài tập so sánh: Rút ra điểm giống nhau, khác nhau, của các

sự

kiện lịch sử, thời kỳ lịch sử

Ví dụ: So sánh tính chất cách mạng tư sản kiểu cũ và cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới

+ Bài tập chứng minh để làm sáng tỏ một vấn đề, một sự kiện

Ví dụ: Mục tiêu của cách mạng Tân Hợi là: “đánh đổ Mãn Thanh, khôi phụcTrung Hoa, thành lập dân quốc, thực hiện bình đẳng về ruông đất” nhưng vìsao cách mạng Tân Hợi là một cuộc cách mạng tư sản Em hãy làm rõ nhậnđịnh trên

+ Bài tập bình luận một câu nói nổi tiếng của nhân vật lịch sử có

tác dụng nâng cao trình độ nhận thức lịch sử của học sinh

Ví dụ: Bằng các sự kiện lịch sử Cách mạng tháng Mười Nga hãy bình luận tên cuốn sách của Giôn Rít là “ Mười ngày rung chuyển thế giới’

+ Bài tập rèn luyện khả năng vận dụng những kiến thức đã học để

hiểu kiến thức mới, trên cơ sở so sánh đối chiếu với các kiến thức đã học.Loại bài tập dưới dạng tự luận có rất nhiều ưu điểm; phát huy khả năng tưduy, nâng cao tình độ nhận thức, rèn luện tư duy logic, diễn đạt, đòi hỏi sựsáng tạo Tuy nhiên đây là loại bài tập khó, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ

Trang 35

35

Trang 36

Nhóm bài tập thực hành lịch sử

Với loại bài tập này làm cho học sinh có biểu tượng chân thực, giàu hìnhảnh, biết vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống Bài tập thực hànhgiúp học sinh rèn luyện thêm kỹ năng, kỹ xảo thực hành bộ môn Trong dạyhọc lịch sử nhiều giáo viên chỉ sử dụng đồ dùng trực quan trên lớp với sốlượng thời gian ngắn nên nhiều học sinh học thuộc lòng các địa danh xảy racác sự kiện lịch sử nhưng không xác định trên bản đồ Các sự kiện lịch sử rấtnhiều nên để học sinh nhớ ngay trên lớp qua bài giảng của giáo viên là việckhông dễ….Bài tập thực hành lịch sử có thể khắc phục trình trạng dạy và họclịch sử trên đây Nhóm bài tập này gồm nhiều dạng sau đây:

+ Bài tập xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan, lƣợc đồ

Bao gồm vẽ, xác định địa danh, ghi ký hiệu có thể kết hợp với trình bày, giải thích nhận xét Bài tập này giúp các em hiểu sâu sắc kiến thức, củng cố, ghi nhớ kiến thức lịch sử, địa điểm diễn ra các sự kiện đó Ví dụ: Vẽ lược đồ diễn biến cách mạng Tân Hợi 1911

+ Bài tập vẽ sơ đồ

Nhằm cụ thể hóa nội dung sự kiện bằng những mô hình học đơn giản, diễn tả

tổ chức một cơ cấu xã hội, chế độ chính trị, mối quan hệ giữa các sự kiện lịchsử

Ví dụ: Vẽ sơ đồ “ bộ máy nhà nước Mỹ theo hiến Pháp 1787”

+ Bài tập làm việc với bản đồ và sơ đồ câm

Giúp học sinh khắc sâu hơn sự kiện, kiến thức đã học, xác định vị trí, địa điểmxảy ra sự kiện, hình thành và phát triển khả năng tư duy lịch sử cho các em

Ví dụ 1: Giáo viên in sẵn bản đồ trống và yêu cầu học sinh điền địa danh, thờigian vào bản đồ diễn biến Cách mạng Tân hợi Trung Quốc 1911

Ví dụ 2: Giáo viên in sẵn Sơ đồ trống bộ máy Hội đồng Công xã của Công xãPari và yêu cầu học sinh điền tên các ủy ban, cơ quan còn thiếu

Trang 37

+ Bài tập vẽ đường trục thời gian

Nhằm giúp học sinh có cái nhìn tổng thể về tiến trình lịch sử, ý niệm về thờigian (thời gian, địa điểm), mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử trước và sau

nó Học sinh dễ dàng ghi nhớ các sự kiện

Ví dụ 1: Vẽ trục thời gian các sự kiện trong Cách mạng tư sản Anh 1640 –1688

Ví dụ 2: Vẽ sơ đồ trục thời gian biểu diễn quá trình đi lên của các mạng tư sảnPháp năm 1789 do quần chúng nhân dân làm động lực cách mạng

+ Bài tập vẽ biểu đồ

Có thể từ những số liệu trong sách giáo khoa hay từ tài liêu tham khảođáng tin cậy giáo viên cung cấp cho học sinh đồng thời yêu cầu các em vẽbiểu đồ hình tròn hay hình trụ, nhưng phải tính chính xác về mặt tỷ lệ so sánh.Dạng bài tập này có tác dung nhằm cụ thể hóa nội dung lịch sử, so sánh sựphát triển với sự phát triển một sự kiện lịch sử

đồ thị) và thường được dùng khi dạy các vấn đề kinh tế - xã hội

+ Bài tập lập bảng niên biểu

Loại bài tập này nhằm kiểm tra sự nhận thức của học sinh ở trình độ caohơn về nhận thức thời gian xảy ra các sự kiện quan trọng Đánh dấu nhữngmốc của quá trình phát triển của lịch sử, đồng thời nêu lên mối liên hệ giữacác sự kiện cơ bản của một nước hay nhiều nước trong một thời kỳ Tùy theonội dung cụ thể từng phần, từng bài giáo viên yêu cầu học sinh lập bảng niênbiểu theo chuyên đề, niên biểu tổng hợp hay niên biểu so sánh

Trang 38

Ví dụ 1: Lập bảng niên biểu các chiến thắng của Hồng quân Liên Xô trongchiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) Thông qua đó học sinh sẽ chứngminh và hiểu rõ vai trò của Hồng quân Liên Xô và Đồng minh trong việc tiêudiệt chủ nghĩa phát xít.

Ví dụ 2: Lập bảng niên biểu các sự kiện quan trọng trong thời kỳ thứ nhất củalịch sử thế giới cận đại (1640- 1870)

+ Bài tập thực hành sưu tập hiện vật, tranh ảnh, tài liệu nhất là tài

liệu lịch sử địa phương, thu thập tư liệu, nhân chứng lưu trữ thành các hồ sơlịch sử, xây dựng phòng truyền thống, phòng thông tin tuyên truyền lịch sử ởnhà, hình thành cho học sinh phương pháp nghiên cứu khoa học Giáo viêngợi ý cho học sinh đi sâu tìm hiểu những sự kiện lịch sử diễn ra trên quêhương mình

+ Bài tập yêu cầu học sinh làm việc với tài liệu học tập

Loại bài tập này yêu cầu học sinh làm việc với các tài liệu như sách giáokhoa, các đoạn trích (có thể do giáo viên in, phát cho học sinh; từ các vănkiện; tài liệu lịch sử; tài liệu trên Internet) hoặc có thể là bài tập học sinh tựtìm hiểu, rút ra kết luận trên cơ sở quan sát đồ dùng trực quan, từ những tàiliệu do giáo viên đưa ra học sinh phải quan sát, tri giác, suy nghĩ một cách độclập để tìm ra câu trả lời

+ Bài tập hoàn thành các Graph.

Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, Graph được xem xét dướigóc độ là một phương pháp dạy học Thuật ngữ Graph trong tiếng Anh cónghĩa là đồ thị, biểu đồ Lý thuyết Graph (Graph theory) là một trong nhữngphân môn quan trọng của Toán học Việc vận dụng lý thuyết Graph vào dạyhọc đã tạo ra một phương pháp dạy học mới – phương pháp Graph Vì thế,phương pháp Graph chỉ ra cách thiết kế và sử dụng những sơ đồ (hay Graphđịnh hướng) vào dạy học nhằm tái hiện, tổng kết và khái quát hóa kiến thức

Khác với tri thức của nhiều bộ môn khoa học khác, tri thức lịch sử có

Trang 39

những đặc điểm rất nổi bật, đó là tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể

và tính hệ thống Vì vậy, việc vận dụng phương pháp Graph có ý nghĩa rấtquan trọng trong dạy học lịch sử Nó không chỉ giúp học sinh dễ dàng trongviệc ghi nhớ, tái hiện sự kiện lịch sử mà còn thông qua đó còn rèn luyện chocác em tư duy logic và khái quát

Quy trình thiết kế Graph.

Về cơ bản, cấu trúc của Graph bao gồm các đỉnh được mô hình hóabằng những vòng tròn hoặc hình vuông, hình chữ nhật để thể hiện những kiếnthức cơ bản và cung là những định hướng như mũi tên thẳng, cong hoặc gấpkhúc để thể hiện mối quan hệ logic giữa các đỉnh (diễn tả kiến thức cơ bản)

Các bước thiết kế Graph được tiến hành theo ba bước cơ bản là: xácđịnh kiến thức cơ bản, tóm tắt theo các hình quy ước và xếp đỉnh, lập cung

Có thể chia ra nhiều loại Graph theo những tiêu chí khác nhau Dựa vàocấu trúc Graph, có thể thiết kế các loại như: Graph đường trục thời gian,Graph chuỗi, Graph mạng, Graph hình cây…

Lý luận dạy học lịch sử ở trường phổ thông cũng đã khẳng địnhphương pháp Graph có vị trí quan trọng trong hệ thống các phương pháp dạyhọc Tuy nhiên, tầm quan trọng và ưu thế của phương pháp Graph chỉ đượckhẳng định khi giáo viên, học sinh biết khai thác, sử dụng một cách hợp lý,hiệu quả trong quá trình dạy học Về cơ bản, việc vận dụng phương phápGraph trong dạy học lịch sử có những ưu điểm sau:

Thứ nhất, trình bày hoặc khái quát hóa nội dung kiến thức lịch sử mộtcách rất logic

Thứ hai, trực quan hóa nội dung các khái niệm, các nội dung kiến thứcmang tính khái quát hoặc trừu tượng

Thứ ba, sơ đồ hóa kiến thức giúp học sinh ôn tập kiến thức lịch sử mộtcách hiệu quả Học sinh không chỉ nhớ mà còn nhận biết được mối liên hệbản chất giữa các sự kiện lịch sử với nhau, từ đó rèn luyện tư duy logic và

Trang 40

khái quát cho các em.

Thứ tư, tích cực hóa hoạt động học tập bằng việc lôi cuốn học sinhtham gia thiết kết và hoàn thiện các sơ đồ kiến thức trong bài học

Thứ năm, làm cho việc sử dụng sách giáo khoa trở nên hiệu quả hơn

Để có thể thiết kế được Graph, giáo viên và học sinh đều phải nghiên cứu kỹnội dung bài học trong sách giáo khoa

+ Bài tập hoàn thành và xây dựng các bản đồ tƣ duy.

Bản đồ tư duy (Mind Maps) là một công cụ tổ chức hoạt động và pháttriển năng lực tư duy Có thể miêu tả như một kỹ thuật hình họa, với sự kếthợp giữa từ ngữ, hình ảnh đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấutrúc, hoạt động và chức năng của bộ não Sơ đồ này giúp khai thác tiềm năng

vô hạn của bộ não

Lợi ích của bản đồ tƣ duy:

Khi thông tin được được gợi ra, lược đồ tư duy giúp tổ chức thông tintheo một hình thức mà dễ dàng được xuất hiện và ghi nhớ Được sử dụng đểghi chú tất cả các loại như sách vở, bài giảng, học tập, hội họp, phỏng vấn vàđàm thoại

Bản đồ tư duy được sử dụng có hiệu quả khi dạy về diễn biến, tổng kếtmột chương, một vấn đề Dùng những hình ảnh xuyên suốt Chúng ta dùngcác hình ảnh xuyên suốt Bản đồ tư duy vì chúng giống như hình ảnh trungtâm, mỗi hình ảnh cũng có giá trị của một ngàn từ Vì vậy, nếu chúng ta chỉ cómười hình ảnh trong Bản đồ Tư duy của mình thì nó ngang bằng với mườinghìn từ của những lời chú thích

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử

Bài tập có vai trò rất quan trọng trong dạy học lịch sử Việc biên soạn

và sử dụng bài tập trong giảng dạy là một biện pháp giúp học sinh giúp họcsinh nhận thức độc lập, nắm vững kiến thức một cách tích cực, tự lực sángtạo, phát huy các năng lực nhận thức, hành động, tự giác giải quyết vấn đề

Ngày đăng: 29/10/2020, 20:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w