Khi HS tham gia học tập hợp tác theo nhóm sẽ thúc đẩy quá trình học tập, tăng tính chủ động của tư duy, sự sáng tạo và khảnăng ghi nhớ phát triển năng lực xã hội, đồng thời tăng hứng thú
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI NGUYÊN THẢO
DẠY HỌC HỢP TÁCCHƯƠNG "HÀM SỐ BẬC NHẤT VÀ BẬC HAI"
LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI NGUYÊN THẢO
DẠY HỌC HỢP TÁCCHƯƠNG "HÀM SỐ BẬC NHẤT VÀ BẬC HAI"
LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN TOÁN)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Lê Minh
HÀ NỘI - 2015
Trang 3Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm ơnBan Giám hiệu cùng toàn thể các thầy cô giáo giảng dạy tại trường Đại họcGiáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, chỉ dẫn tác giả trong suốt quátrình học tập và nghiên cứu.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS TS.Hoàng Lê Minh người Thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trongsuốt quá trình thực hiện luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các em học sinh TrườngTHPT Mai Châu B đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả hoàn thành thực nghiệm sưphạm tại trường
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đãluôn động viên và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và thực hiện luận vănnày
Luận văn đã thu được những kết quả nghiên cứu bước đầu Mặc dù đã
có rất nhiều cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những mặt còn hạnchế Kính mong n h ậ n được sự góp ý của các nhà khoa học, các thầy giáo, côgiáo và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 11 năm 2014
Tác giả
Bùi Nguyên Thảo
Trang 5Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình, biểu đồ Error! Bookmark not defined MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Tổng quan về dạy học hợp tác 6
1.1.1 Quan niệm về phương pháp dạy học hợp tác 6
1.1.2 Tình huống dạy học hợp tác 10
1.1.3 Tổ chức dạy học hợp tác 13
1.2 Dạy học nội dung chương Hàm số bậc nhất và bậc hai trong chương trình lớp 10 Trung học phổ thông 21
1.2.1 Vị trí, yêu cầu của nội dung chương Hàm số bậc nhất và bậc hai lớp 10 Trung học phổ thông 21
1.2.2 Khó khăn và thuận lợi khi dạy học chương Hàm số bậc nhất và bậc hai lớp 10 THPT 25
1.3 Khảo sát nhu cầu và sự hiểu biết của GV và HS trường THPT Mai Châu và THPT Mai Châu B huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình về dạy học hợp tác 26
1.3.1 Nhu cầu và sự hiểu biết của GV trường THPT Mai Châu và THPT Mai Châu B huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình về dạy học hợp tác 27 1.3.2 Nhu cầu và sự hiểu biết của HS trường THPT Mai Châu và THPT
Trang 62.1 Thiết kế một số tình huống dạy học hợp tác chương Hàm số bậc nhất
và bậc hai lớp 10 Trung học phổ thông 33
2.1.1 Thiết kế tình huống dạy học hợp tác về các đặc điểm và tính chất của hàm số 33
2.1.2 Thiết kế tình huống dạy học hợp tác dạng bài toán luyện tập vẽ đồ thị hàm số 46
2.1.3 Thiết kế tình huống dạy học hợp tác dạng bài toán xác định hàm số 51
2.1.4 Thiết kế tình huống dạy học hợp tác dạng bài toán về các điểm đặc biệt của đồ thị hàm số 61
2.2 Thiết kế một số giáo án minh họa dạy học hợp tác trong chương "Hàm số bậc nhất và bậc hai" lớp 10 Trung học phổ thông 71
2.2.1 Giáo án 1 Bài Hàm số (tiết 2) 71
2.2.2 Giáo án 2 Bài tập Ôn tập Chương II (tiết 2) 77
Kết luận chương 2 84
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 85
3.1 Mục đích và nội dung thực nghiệm 85
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 85
3.1.2 Nội dung thực nghiệm 85
3.2 Tổ chức thực nghiệm 85
3.2.1 Kế hoạch, thời gian thực nghiệm 85
3.2.2 Phương pháp thực nghiệm 86
3.3 Kết quả thực nghiệm 87
3.3.1 Kết quả về kiến thức môn học 87
3.3.2 Kết quả về kỹ năng hợp tác 88
Kết luận chương 3 91
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 95
iv
Trang 7TT Tên bảng Trang
Bảng 1.1 Ý kiến của GV về các yếu tố của DHHT 27
Bảng 1.2 Ý kiến của GV về kỹ năng làm việc nhóm của HS 28
Bảng 1.3 Kết quả điều tra thái độ của GV đối với PP DHHT 29
Bảng 1.4 Kết quả khảo sát về thái độ của HS đối với DHHT 30
Bảng 1.5 Kết quả khảo sát về hiểu biết của HS về trách nhiệm cá nhân đối với nhóm 30
Bảng 1.6 Kết quả khảo sát về các kỹ năng giao tiếp của HS trong quá trình học hợp tác 30
Bảng 3.1 Kết quả phân loại điểm của HS trước thực nghiệm. 87
Bảng 3.2 Kết quả phân loại điểm của HS sau thực nghiệm. 88
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI do UNESCO xác định là: "Học đểbiết- Học để làm- Học để tự khẳng định mình- Học để cùng chung sống" Mụctiêu giáo dục của thế giới cho thấy giáo dục không chỉ cung cấp kiến thức màcòn phải hình thành cho người học những kỹ năng, thái độ để họ có thể sống vàlàm việc trong xã hội sau khi hoàn thành chương trình học phổ thông Dạy họckhông chỉ đơn thuần có nhiệm vụ cung cấp cho HS những tri thức khoa học,
mà còn phải giúp hình thành và phát triển ở họ những năng lực, kỹ năng làmviệc hợp tác, khả năng giao tiếp, nhận biết vấn đề Để làm được điều đó,ngoài nội dung học tập có vai trò quan trọng ra thì những PPDH tích cực màngười GV lựa chọn cũng vô cùng quan trọng Vì mỗi PPDH tích cực sẽ giúphình thành ở người học những năng lực, kỹ năng và
AP học tập và làm việc khác nhau Sự phát triển xã hội và đổi mới đất nướctrong thời kỳ hội nhập đang đòi hỏi cấp bách nâng cao chất lượng giáo dục vàđào tạo Mục tiêu giáo dục trong thời đại mới không chỉ dừng lại ở việc truyềnthụ những kiến thức, kỹ năng có sẵn cho HS mà điều đặc biệt quan trọng làphải bồi dưỡng cho HS năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Nghị
quyết Trung ương 2 khoá VIII đã khẳng định: "Phải đổi mới PP giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của HS Từng bước áp dụng các PP tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS " Tích cực triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 29-
NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ VIII, Ban chấp hành Trung ương
khóa IX về " Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo" Từ nhu cầu đổi mới PPDH, định hướng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay là: DH cần
hướng vào việc tổ chức cho HS học tập trong hoạt động và bằng hoạt động
1
Trang 9tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS PPDH tích cực hướng tới việc hoạtđộng hoá, tích cực hoá HS Các dấu hiệu đặc trưng cơ bản của PPDH tích cựcgồm: Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS; Dạy và học
chú trọng rèn luyện PP tự học; Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác; Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS HS không chỉ
được truyền thụ kiến thức mà cần phải tăng cường khả năng giao tiếp, năng lựchợp tác Do xã hội càng phát triển, xuất hiện nhiều công nghệ mới phức tạphơn thì một người không thể giải quyết hết tất cả các công việc được, mà cầnphải có cộng sự, cần có người hợp tác Và khi một việc làm có nhiều ngườitham gia thì để nhóm hoạt động một cách hiệu quả đòi hỏi phải có một khảnăng tổ chức hoạt động nhóm Theo PP DHHT, GV tổ chức cho HS hình thànhcác nhóm học tập nhỏ Mỗi thành viên trong nhóm học tập này vừa có tráchnhiệm tự học tập vừa có trách nhiệm giúp đỡ các thành viên trong nhóm đểcùng hoàn thành mục đích học tập chung của cả nhóm PP DHHT tạo môitrường thuận lợi giúp cho HS có cơ hội phát biểu, trao đổi và học tập lẫn nhau,cùng nhau tìm hiểu kiến thức mới Khi HS tham gia học tập hợp tác theo nhóm
sẽ thúc đẩy quá trình học tập, tăng tính chủ động của tư duy, sự sáng tạo và khảnăng ghi nhớ phát triển năng lực xã hội, đồng thời tăng hứng thú học tập vớingười học, giúp HS phát triển các kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, giúp HSphát triển tư duy hội thoại, nâng cao lòng tự trọng, ý thức trách nhiệm và sự tựtin của người học, giúp thúc đẩy những mối quan hệ cạnh tranh mang tính tíchcực trong học tập
DHHT là ý tưởng đã có từ rất lâu đời Ngay từ đầu thế kỷ thứ nhất,Marco Fabio Quintilian cho rằng người học sẽ có rất lợi nếu biết nói nhữngđiều mình hiểu cho người khác cùng hiểu Đến thế kỷ thứ XVII, Jan Amôt
Trang 10Những năm gần đây, với xu thế đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạtđộng của HS, cùng với trào lưu hội nhập quốc tế, các nhà nghiên cứu giáo dụcnước ta đã nhận thấy cần phải tổ chức cho HS học tập hợp tác Hiện nay đã cómột số đề tài nghiên cứu về DHHT như luận án Tiến sĩ của Hoàng Lê Minh
(2007) về đề tài "Tổ chức DHHT trong môn Toán ở trường THPT", Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Triệu Sơn (2007) về đề tài “Phát triển khả năng học hợp tác cho sinh viên sư phạm toán một số trường đại học miền núi nhằm nâng cao chất lượng của người được đào tạo”; luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Trung Dũng (2008) về đề tài "Xây dựng và tổ chức các tình huống DHHT ở trường THPT (trong Hình học lớp 11 Ban cơ bản)" Vì vậy, nghiên cứu tổ chức
DHHT trong môn Toán ở trường THPT có tính khả thi
Gần đây với xu hướng đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cựccủa người học, cùng với trào lưu phát triển của xã hội trên thế giới, người tanhận thấy rằng cần phải tổ chức dạy cho HS cách hợp tác Hầu hết các GV đềucho rằng: dạy học hợp tác không những phát huy được tính chủ động sáng tạocho HS mà còn rèn luyện cho các em nhiều kỹ năng sống rất cần thiết cho hiệntại cũng như tương lai, đó thực sự là một PPDH hiệu quả Nhưng làm thế nào
để phát huy được ưu điểm của PP này trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam thìcòn là một câu hỏi nan giải Các tác giả nghiên cứu về
AP này còn hạn chế và quan tâm đến nhiều vấn đề khác nhau Ta cần hiểu rằngvận dụng PP DHHT không chỉ đơn giản là áp dụng một cách máy móc việcghép nhóm HS với nhau để tiến hành quá trình dạy học, nó còn tuỳ thuộc vàomôn học, điều kiện học, đối tượng HS, tính chất bài học và năng lực sư phạmcủa từng GV Bởi vậy, việc nghiên cứu và vận dụng tổ chức cho HS học tậphợp tác trong quá trình dạy học môn Toán ở trường Phổ thông luôn là vấn đềmới mẻ và cần thiết Sự mong muốn của GV là vừa giúp HS học tập tốt vừanâng cao được năng lực xã hội Tuy nhiên không ít GV hiểu về PP DHHT chưathấu đáo, lúng túng trong việc vận dụng nên hiệu quả dạy học chưa cao
3
Trang 11một chương quan trọng, nền tảng Có những kiến thức về hàm số HS đã học từlớp 7 và lớp 9, được ôn tập lại, có những kiến thức mới được học và sẽ là nềntảng để HS tiếp tục học tập thêm về hàm số ở lớp 11 và 12 Khi dạy họcchương này, GV gặp những khó khăn nhất định trong việc tổ chức các hoạtđộng học tập cho HS, HS cũng gặp không ít khó khăn trong việc chiếm lĩnhkiến thức, rèn luyện kỹ năng.
Xuất phát từ những lí do trên cũng như mong muốn được tìm hiểu sâuhơn về nội dung Hàm số bậc nhất và bậc hai, mong muốn quá trình dạy và học
đạt kết quả tốt hơn nữa, nên đề tài được chọn là: Dạy học hợp tác chương
"Hàm số bậc nhất và bậc hai" lớp 10 Trung học phổ thông.
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm ra những cách thức vận dụng DHHT chương Hàm số bậc nhất vàbậc hai lớp 10 THPT nhằm mục đích vừa nâng cao hiệu quả dạy học vừa rènluyện các kỹ năng hợp tác và bồi dưỡng năng lực xã hội cho HS
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn DHHT
Thiết kế một số tình huống DHHT Xây dựng một số giáo án minh họaDHHT chương Hàm số bậc nhất và bậc hai lớp 10 THPT
TN sư phạm đánh giá tính khả thi, tính phù hợp và tính hiệu quả của các
đề xuất về việc sử dụng PP DHHT trong dạy học chương Hàm số bậc nhất vàbậc hai lớp 10 THPT
4 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung chương Hàm số bậc nhất và bậc hai lớp 10 THPT
5 Giả thuyết khoa học
Nếu GV vận dụng DHHT chương Hàm số bậc nhất và bậc hai một cách
Trang 126 Phạm vi nghiên cứu
DHHT chương Hàm số bậc nhất và bậc hai lớp 10 THPT
HS lớp 10 trường THPT Mai Châu B huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận: Minh họa cho lý luận về dạy học bằng PP DHHT
Ý nghĩa thực tiễn: Xây dựng một số giáo án DHHT có tính khả thi vàmang lại hiệu quả trong giảng dạy chương Hàm số bậc nhất và bậc hai lớp
10 THPT
8. Phương pháp nghiên cứu
AP nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu cơ sở lý luận DHHT cho HS THPT
PP điều tra quan sát: Dự giờ, quan sát việc dạy của GV và học của HSlớp 10 chương Hàm số bậc nhất và bậc hai lớp 10 THPT Lập phiếu điều tra khảo sát nhu cầu và sự hiểu biết của GV và HS về PP DHHT
AP thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm có lớp ĐC và lớp TN để kiểm tra hiệu quả và tính khả thi của đề tài
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chương 2: DẠY HỌC HỢP TÁC CHƯƠNG "HÀM SỐ BẬC NHẤT
VÀ BẬC HAI" LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
5
Trang 13CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Tổng quan về dạy học hợp tác
1.1.1 Quan niệm về phương pháp dạy học hợp tác
Theo Hoàng Lê Minh [22]: “PP DHHT là cách thức hoạt động và giao lưu hợp tác của thầy gây nên hoạt động và giao lưu hợp tác của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học về kiến thức và kỹ năng xã hội”.
GV có trách nhiệm hướng dẫn HS, tạo cho HS hứng thú, giúp HS nắmbắt và hiểu kiến thức để đưa họ tới đích GV cần có những hiểu biết về kiếnthức, kinh nghiệm, phẩm chất, phương pháp sư phạm để hướng dẫn HS chứkhông phải truyền thụ tri thức một chiều, giúp HS ghi nhớ máy móc
Việc dạy đòi hỏi GV phải chọn một hình thức dạy học và quản lý lớphọc trong quá trình dạy Một trong 4 trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI doUNESCO đề xướng là “học để sống cùng nhau” Trên tầm vĩ mô, thế giới ngàycàng thu hẹp khoảng cách không gian nhờ vào công nghệ thông tin; nhiều giátrị nhân bản phổ biến đã trở thành nét chung của nhiều dân tộc
Theo Nguyễn Hữu Châu [5] có hai kiểu dạy - học toán: "Kiểu dạy và học toán truyền thống và kiểu dạy- học toán giao tiếp, văn hóa, xã hội".
Kiểu dạy - học toán truyền thống: GV giảng giải, làm mẫu, đưa ví dụtrên bảng, phát phiếu học tập, chọn lựa các bài tập đơn giản; HS lẫn lộn, lúngtúng chỉ một số thực hiện được theo GV, nghe thụ động hoặc thờ ơ, không đưa
ra chiến lược và chính kiến cá nhân
Kiểu dạy - học toán giao tiếp, văn hóa, xã hội: GV trao nhiệm vụ nhậnthức cho mỗi cá nhân hoặc nhóm, theo dõi hoạt động của cá nhân hoặc nhóm;
Trang 14giữa các nhóm HS động viên HS hỗ trợ việc học của nhau Trong môi trườnghợp tác được thiết kế tốt, HS có điều kiện để nói và trao đổi những ý tưởngtoán với nhau, kiểm tra lại việc biết hiểu, trợ giúp nhau để tiếp tục giải quyếtbài toán Học tập mang tính hợp tác là một chiến lược giảng dạy trong đóngười dạy sẽ tổ chức cho người học thành những nhóm nhỏ để thực hiện cáchoạt động như thảo luận, đóng vai, giải quyết vấn đề… Mỗi thành viên khôngchỉ có trách nhiệm thực hiện các hoạt động của nhóm mà còn phải có tráchnhiệm hợp tác, giúp đỡ các thành viên trong nhóm hoàn thành các nhiệm vụđược giao Học tập hợp tác phức tạp hơn học cá nhân, các thành viên phải biếtđưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, giải quyết mâu thuẫn và khẳng định rèn
kỹ năng học cá nhân, học tranh đua, học tập hợp tác trở thành một mục tiêukép trong dạy học
Theo Hoàng Lê Minh [22]: "Quan điểm khi tổ chức DHHT ở trường THPT là kết hợp giữa DHHT, học tranh đua và tư duy độc lập của cá nhân Trong đó tư duy độc lập cá nhân là nền tảng cơ bản, bối cảnh hợp tác là môi trường dạy học và ý thức thi đua là động lực" Tác giả chỉ ra rằng người học
không chỉ nỗ lực một mình mà còn có điều kiện thể hiện ý kiến riêng trong quátrình học tập hợp tác Đề tài định hướng tổ chức DHHT trong dạy và học bộmôn Toán ở trường THPT, quy trình tổ chức giờ học hợp tác, các biện pháp sưphạm nhằm nâng cao hiệu quả của PP DHHT Tác giả đã nêu cách tổ chức,thiết kế giờ học hợp tác trong môn Toán ở trường THPT và có minh hoạ cụ thể.Đây là công trình nghiên cứu vận dụng PP DHHT vào dạy và học môn toán ởtrường THPT, với đầy đủ các dạng bài lên lớp toán học Kết quả nghiên cứu làtài liệu tham khảo bổ ích không chỉ cho GV dạy toán mà còn thiết thực chonhững ai quan tâm đến đổi mới PPDH, đặc biệt là PP DHHT
DHHT là hình thức tổ chức hoạt động học tập có sự phụ thuộc lẫn nhaucủa các thành viên trong nhóm để cùng làm việc hướng đến mục đích chung lànắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo Học hợp tác (cooperative learning) là
7
Trang 15giáo dục cao Học hợp tác là một định hướng giáo dục mà trong đó HS cùnglàm việc trong những nhóm nhỏ gồm nhiều HS khác nhau và được xây dựngmột cách cẩn trọng Quan điểm học tập này yêu cầu sự tham gia, đóng góp trựctiếp của HS vào quá trình học tập, đồng thời yêu cầu HS phải làm việc cùngnhau để đạt được kết quả học tập chung HS học bằng cách làm (learning bydoing) chứ không học chỉ bằng cách nghe GV giảng (learning by listening).Quan điểm học tập này tạo nên môi trường học tập giữa thầy-trò, trò- trò, HS
sẽ là trung tâm của quá trình DH và GV không độc chiếm diễn đàn Đồng thờiquan điểm học tập này thể hiện tính dân chủ và dựa trên nguyên tắc tương hỗbình đẳng kiểu học hợp tác đang được áp dụng có hiệu quả ở tất cả các bậc học
và xuất hiện trong trong các môn học ở nhiều nước trên thế giới Quan điểmhọc tập này yêu cầu sự tham gia, đóng góp trực tiếp của người học vào quátrình học tập, đồng thời yêu cầu người học phải làm việc cùng nhau để đạtđược kết quả học tập chung Học hợp tác là việc dùng các nhóm nhỏ HS trongdạy học, sao cho các thành viên trong nhóm cùng nhau làm việc, học tập để đạtđược các nội dung toán và các kỹ năng xã hội Các em HS cùng nhau làm việchướng đến mục đích chung HS cần phải học cách để điều hành có hiệu quảmôi trường học tập này
DHHT là một chiến lược dạy - học tích cực, trong đó các thành viêntham gia hoạt động và học tập cùng nhau trong các nhóm nhỏ (mỗi nhóm gồmcác thành viên có trình độ và khả năng khác nhau) nhằm mục đích phát triển sựhiểu biết và chiếm lĩnh một nội dung học tập nào đó; được xây dựng dựa trênnhững đặc điểm và nguyên tắc học tập hợp tác Trong DHHT điều đặc biệt làphải có sự hợp tác giữa người dạy và người học, giữa những người học vớinhau Trong DHHT, người học sẽ được chia thành những nhóm nhỏ để thực
Trang 16mục tiêu cá nhân, đồng thời góp phần tạo ra sự thành công của nhóm Mỗithành viên không chỉ có trách nhiệm thực hiện các hoạt động chung của nhóm
mà còn phải có trách nhiệm hợp tác, giúp đỡ các thành viên trong nhóm hoànthành các nhiệm vụ được phân công GV là người hướng dẫn, theo dõi, giámsát, giúp đỡ HS củng cố kiến thức cũ, tiếp thu kiến thức mới, phát triển kỹnăng học tập hợp tác và là người trọng tài khoa học
Theo Bùi Văn Nghị [23]: “PP DHHT dựa trên nguyên lý về mối liên hệphổ biến và quan hệ biện chứng giữa cá nhân và tập thể Mọi sự vật, hiệntượng đều tồn tại trong những mối liên hệ, tác động lẫn nhau không ngoại trừmột lĩnh vực nào Cá nhân tồn tại trong tập thể với tư cách là đơn vị cấu thànhcủa cái toàn thể, biểu hiện bản sắc của mình qua hoạt động tập thể, nhưngkhông hòa tan vào tập thể Cá nhân không tồn tại một cách đích thực nếukhông gắn với một tập thể nhất định Giữa cá nhân và tập thể cần kết hợp hàihòa giữa lợi ích, nhu cầu, sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau trên cơ sở nguyêntắc, ý thức, trách nhiệm về nghĩa vụ và hành vi của mỗi cá nhân trước tập thể”
Như vậy, nghiên cứu về DHHT có thể tiếp cận từ nhiều góc độ khácnhau Tuy nhiên, có một số nét chung mà tất cả các cách tiếp cận đều đề cập
tới: Người học đều được học tập trong nhóm; hợp tác cùng nhau giải quyết nhiệm vụ chung Trong một môi trường học mà HS ngồi cùng nhau theo các
nhóm nhỏ và giải các bài toán theo từng cá nhân, hoặc để một người làm toàn
bộ công việc thì không phải là hợp tác Sự hợp tác đích thực trong quá trìnhhọc tập đòi hỏi sự hướng dẫn của GV, giúp các em hiểu được sự vận hành củanhóm, phát triển những kỹ năng hợp tác mà các em cần, và học toán khi làmviệc theo nhóm Học hợp tác đích thực luôn khuyến khích sự thiết lập một mốiquan hệ sâu sắc giữa các thành viên của nhóm HS trong các nhóm làm việc cóhiệu quả luôn học cách để lắng nghe
ý tưởng của người khác, thảo luận, phản biện, đưa ra và chấp nhận những phê bình có tính xây dựng từ bạn bè
9
Trang 17của nhóm học tập hợp tác, chúng tôi quan niệm rằng: DHHT là một PPDH trong đó mỗi HS được học tập trong một hay nhiều nhóm có sự hợp tác giữa các thành viên, giữa các nhóm với sự tổ chức, thiết kế các giờ học hợp tác của
GV để tăng thêm hứng thú học tập, giúp phát triển về kiến thức và kỹ năng xã hội, thúc đẩy những mối quan hệ cạnh tranh mang tính tích cực trong học tập.
1.1.2 Tình huống dạy học hợp tác
1.1.2.1 Khái niệm tình huống dạy học hợp tác
Tình huống DHHT là tình huống dạy học xác định rõ mục tiêu học củatừng HS Thực chất, đó là một tình huống gợi vấn đề, tạo ra các hoạt động họctập hợp tác cho HS
Nội dung gợi mở nhiều hướng suy nghĩ khác nhau, khối lượng kiến thứclớn mà cần giải quyết trong thời gian ngắn có thể thiết kế tình huống DHHT.Một tình huống DHHT phải thỏa mãn ba điều kiện sau đây:
- Tình huống phải có tác dụng gợi ra vấn đề;
- HS nhận thấy nhu cầu hợp tác, trao đổi, sự hợp tác có thể sẽ mang lại kết quả tốt;
- Tạo môi trường học tập hợp tác, có mối quan hệ mật thiết giữa vai trò của cá nhân với vai trò tập thể
Có 3 kiểu tình huống trong DHHT trong môn Toán
- Tình huống hành động hợp tác: Thể hiện chức năng điều khiển hànhđộng để thực hiện những quyết định của cá nhân và tập thể Có tác động qualại của HS với môi trường bằng hành động mà lời lẽ nếu có không đóng vai tròquan trọng hàng đầu
Tình huống thảo luận bằng diễn đạt: Thể hiện chức năng tạo phương
Trang 18hành động, môi trường và bình diện thông tin, có phản hồi từ môi trường và người đang giao lưu.
- Tình huống thống nhất xác định kiến thức: Thể hiện chức năng tạophương tiện kiểm chứng để xác nhận hay bác bỏ kiến thức trong quá trình HSgiao lưu với nhau và tác động qua lại với môi trường HS vừa đề xuất vừa phảnbác để đi đến kết luận cuối cùng
Khi xây dựng tình huống DHHT, phải tạo ra cơ hội để HS suy nghĩ, sau
đó cùng thảo luận để khẳng định vấn đề, rèn luyện tư duy hội thoại có phêphán Cùng một nội dung, có thể thiết kế nhiều tình huống DHHT khác nhau;song phải vừa sức, có tác dụng gợi động cơ, thu hút được sự chú ý của HSnhằm tạo được hứng thú học tập, phát triển tư duy và một số kỹ năng cho HSkhi trình bày, diễn đạt một vấn đề
1.1.2.2 Quy trình thiết kế tình huống DHHT
Trong thiết kế tình huống DHHT cần thể hiện được ý định của GV trongviệc định hướng, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập của HS; chỉ rađược các hoạt động học tập cho HS, đề xuất các phương hướng giải quyết vấn
đề Có thể thiết kế các tình huống DHHT theo quy trình bốn bước [27]:
Bước 1: Xác định mục tiêu dạy học: đó là mục tiêu của việc chiếm lĩnhtri thức, rèn luyện cách học và cách giao tiếp cho HS
Bước 2: Chọn những nội dung có tác dụng hình thành nhu cầu học tậphợp tác cho HS, tạo tình huống tranh luận tập thể
Bước 3: Giao nhiệm vụ cụ thể cho từng HS Có thể thông qua các phiếuhọc tập, sử dụng máy chiếu để thiết kế tình huống dạy học Dự kiến các cáchsuy nghĩ khác nhau của HS và hướng giải quyết; Dự kiến những mâu thuẫntrong khi thảo luận nhóm, cách hướng dẫn HS thảo luận nhóm; Chuẩn bịnhững câu hỏi phụ gợi ý cho HS trong thảo luận; Dự kiến các cách đánh giákết quả học tập của HS
11
Trang 19kĩ năng hợp tác và kĩ năng tư duy hội thoại có phê phán để tìm ra kiến thức.Tổng hợp, kết luận vấn đề và phát triển vấn đề.
Nội dung DH phải được GV thiết kế thành các nhiệm vụ học tập hợp tác
cụ thể, đây là công việc rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới sự thành côngcủa quá trình dạy học Học tập hợp tác chỉ nảy sinh khi mà HS giải quyếtnhiệm vụ học tập gặp phải chướng ngại, khó khăn chưa giải quyết được Họ cónhu cầu hợp tác để được hỗ trợ, chia sẻ, giúp đỡ hay phối hợp để hoàn thành
Do vậy đòi hỏi GV phải có kiến thức, có kỹ năng thiết kế nhiệm vụ, có nghệ
thuật sư phạm trong việc “uỷ thác” các tri thức cần dạy vào nhiệm vụ học tập
của HS, tạo ra môi trường hợp tác, tạo ra những thách thức tư duy, nhu cầuham muốn giải quyết vấn đề của HS Trong quá trình thiết kế nhiệm vụ, GVphải thấu hiểu HS phải dự đoán trước được những khó khăn vướng mắc của
HS trong quá trình giải quyết nhiệm vụ; dự đoán được các kỹ năng hiện có của
HS để giao nhiệm vụ phù hợp và kích thích sự phát triển; xác định nhiệm vụ sẽđồng nhất hay khác nhau giữa các nhóm; dự kiến thời gian hoàn thành nhiệm
vụ và phương thức tổ chức hoạt động của HS để có thể hoàn thành nhiệm vụ
Đặc biệt, chú ý khi thiết kế nhiệm vụ hợp tác phải: Một, đạt được yêu cầu có mức độ khó đối với cá nhân có năng lực, nhưng vừa sức đối với sự hợp tác của nhóm và đòi hỏi phải phát huy cao độ tính tương trợ, phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên Hai, tăng dần độ khó các nhiệm vụ trong quá trình
DH nhằm đòi hỏi sự tương trợ, giúp đỡ, hợp tác giữa HS - HS trong quá trình
DH Việc giao và biểu đạt nhiệm vụ hợp tác cũng không kém phần quan trọng
GV cần có nghệ thuật sư phạm kết hợp với khả năng khai thác tính năng củacông nghệ thông tin và các phương tiện kỹ thuật để biến nhiệm vụ hợp tác
Trang 20Mấu chốt nhất của tình huống DHHT là việc thiết kế các “phiếu học tậphợp tác” cho HS Phiếu học tập hợp tác khác với phiếu bài tập, không phải làphiếu kiểm tra mà phải là phiếu giúp HS tự học nhưng không phải là tự học cánhân mà là tự học trong nhóm HS Phiếu học tập hợp tác phải kịch tính, có vấn
đề và có chỉ dẫn phong phú về nội dung và cấp độ
1.1.3 Tổ chức dạy học hợp tác
1.1.3.1 Các điều kiện dạy học hợp tác có hiệu quả
Để học tập hợp tác có hiệu quả cần đảm bảo các điều kiện: mục đích họctập được xác định rõ ràng, ý thức trách nhiệm cao của các thành viên tham gia;
sự phụ thuộc một cách tích cực giữa các thành viên; hình thành được động cơhợp tác, có sự phân công nhiệm vụ hợp lý giữa các nhóm và giữa các thànhviên trong nhóm; có sự phối hợp các nhiệm vụ, đánh giá trong các nhóm và kỹnăng giao tiếp trong nhóm nhỏ
Ngoài ra, khi tổ chức DHHT, GV cần lưu ý đến đến một số vấn đề
- Giao nhiệm vụ vừa sức: GV cần giao những nhiệm vụ khả thi cho HS
và chia những nhiệm vụ nhỏ để HS thường xuyên hoàn thành nhiệm vụ Nếu
HS không bao giờ thành công trong những nhiệm vụ được giao, HS sẽ chánnản và sớm bỏ cuộc Mỗi sự thành công trong những nhiệm vụ học tập trước sẽtạo động cơ cho HS trong việc thực hiện nhiệm vụ hiện tại Tuy nhiên để tănghiệu quả học tập, người GV cần tăng dần về mức độ khó trong mỗi lần giaonhiệm vụ, điều đó đồng nghĩa với công việc bớt nhàm chán, tạo hứng thú choHS
- Động viên, khen thưởng kịp thời: Người GV nên hết sức lưu ý đếnviệc khen thưởng bằng nhiều cách khác nhau Nhiều nghiên cứu cho thấy HSđòi hỏi được ban thưởng hoặc “củng cố” cho việc học, các em được thúc đẩybởi một hi vọng có một phần thưởng dưới dạng nào đó ( ví dụ như một lờikhen hoặc một lời tò mò được thỏa mãn), việc học sẽ không diễn ra nếu không
có nó Việc khen thưởng lại càng có ý nghĩa với một nhóm hợp tác vì một emtrong nhóm được khen thưởng có nghĩa là thành viên đó đã mang
13
Trang 21cho nhóm Việc khen thưởng hay củng cố cần diễn ra ngay sau khi hành viđược thực hiện và cần được đảm bảo chính xác, công bằng.
- Sử dụng hợp lý các phương tiện dạy học: Một số thiết bị chủ yếu như
là hình vẽ, bảng biểu, bảng phụ, phiếu học tập, máy tính, giấy khổ…giúp hỗtrợ, phục vụ cho ý đồ dạy học
- Căn cứ vào nội dung, mục tiêu, điều kiện DH từ đó GV lựa chọn PPphù hợp Không nên quá lạm dụng một PPDH nào, cần phải chú ý phối hợp PPDHHT và một số PPDH tích cực khác trong quá trình giảng dạy
- Trong một lớp có rất nhiều đối tượng HS khác nhau, khi tổ chức nhómhợp tác, người GV cần tìm hiểu về năng lực, tính cách và sở trường của từng
HS từ đó có sự lựa chọn thành viên cho mỗi nhóm phù hợp Đó cũng là mộtyếu tố giúp hoạt động nhóm hiệu quả, phù hợp với mục tiêu hợp tác dạy họclẫn nhau, cũng như đảm bảo được sự công bằng thi đua giữa các nhóm
Những lợi ích mà kỹ thuật chia nhóm làm việc hợp tác mang lại vượt xanhững tiêu cực Tuy nhiên, trong quá trình HS trao đổi có thể sẽ gây ồn àotrong lớp học do những tranh luận về những ý kiến trái chiều phát sinh Bêncạnh đó còn có thể phát sinh một số vấn đề như: tâm lý ỷ lại, lười suy nghĩ, sựthiếu tập trung, mất trật tự; HS tự ti, ít nói, không dám bày tỏ ý kiến ủng hộhay phản đối; trình độ và năng lực học tập không đồng đều Do đó vai trò củangười GV trong quá trình hợp tác rất quan trọng Người GV cũng nên đặt mìnhtrong các mối quan hệ hợp tác như: hợp tác với HS, với đồng nghiệp, phụhuynh HS… qua đó rèn luyện kỹ năng hợp tác cho mình
1.1.3.2 Lập kế hoạch cho bài dạy học hợp tác
* Xác định mục tiêu bài dạy
Khi tiến hành DHHT, GV cần xác định rõ hai loại mục tiêu:
Trang 22Để đạt được 2 mục tiêu trên, GV cần lập một kế hoạch, chuẩn bị cho bàidạy thật cẩn thận, chu đáo Kế hoạch này bao gồm những phần thảo luận cótrọng tâm, trước và sau bài giảng (theo chiều hướng đi lên), đó là những vấn
đề, những câu hỏi xung quanh bài giảng Những phiếu học tập để HS trao đổi,thảo luận, thực hành trong suốt quá trình học tập
* Chuẩn bị cho phần thảo luận
Căn cứ vào mục tiêu và nội dung tri thức cần truyền thụ, GV thiết kế cácnhiệm vụ học tập phù hợp
Những câu hỏi đưa ra cho HS thảo luận cần xoay quanh những vấn đềcần làm rõ trong mục tiêu dạy học GV cho HS đọc kỹ câu hỏi và thảo luậntheo nhóm, sau đó các nhóm trả lời và nhận xét nhau Mục đích của phần thảoluận này là phát hiện những ý tưởng của HS về vấn đề sẽ trình bày và thiết lậpnhững mong muốn hay kỳ vọng mà bài giảng sẽ đề cập tới
Chia bài học ra theo từng đơn vị kiến thức, chuẩn bị nhiệm vụ cho thảoluận ngắn cho từng nhóm HS sau mỗi phần của bài học
Nhiệm vụ là một câu hỏi để phản hồi nội dung lý thuyết, khái niệm,thông tin vừa trình bày hoặc một bài tập nhỏ, vận dụng kiến thức vừa học, liên
hệ với phần đã học để gắn kiến thức mới vào vốn kiến thức đã có Nhiệm vụcũng có thể là dự đoán về vấn đề sẽ được trình bày tiếp theo, giả định câu trảlời cho những vấn đề đặt ra nhằm tiếp cận kiến thức mới, tìm quy trình giải bàitập Tuy nhiên, nhiệm vụ phải ngắn ngọn, vừa sức để HS có thể hoàn thànhtrong thời gian nhất định với mục đích là HS đều tham gia tư duy một cách tíchcực một nhiệm vụ đó Mỗi nhiệm vụ thảo luận cần đảm bảo được các yêu cầu:trình bày câu trả lời cho những vấn đề được nêu, chia sẻ câu trả lời với nhữngngười bạn trong nhóm, lắng nghe câu trả lời của bạn và đưa ra câu trả lời mớihoàn chỉnh hơn câu trả lời ban đầu của từng thành viên thông qua quá trình kếthợp, xây dựng và tổng hợp dựa trên ý tưởng của cả nhóm Mỗi HS đều phảinắm kinh nghiệm trong thảo luận này để có thể thực hiện nhiệm vụ trong mộtthời gian ngắn
15
Trang 23bài học Phần thảo luận này giúp HS gắn kết những kiến thức vừa học vào vốnkiến thức đã có hoặc chỉ ra cho HS thấy nhiệm vụ ở nhà sẽ đề cập tới vấn đề
gì, có liên hệ gì với bài sau Sau đó kết thúc bài học
* Chuẩn bị khâu tổ chức lớp học hợp tác
- Tạo ra các nhóm HS
- Phân công cho mỗi nhóm thự hiện nhiệm vụ ban đầu
- Thực hiện phần hai của bài giảng là đưa ra nhiệm vụ thứ hai
- Lặp lại trình tự này cho tới khi hoàn thành bài học
- Kết thúc bài học là đưa ra nhiệm vụ cuối cùng
Dành 5 – 6 phút để tóm tắt và thảo luận về những vấn đề đã được đề cậptrong giờ học
Thực hiện trình tự này đều đặn để giúp HS nâng cao kỹ năng và đẩynhanh tốc độ hoàn thành những nhiệm vụ thảo luận ngắn Có thể đưa vào một
số câu hỏi như: “Em tham gia thảo luận như thế nào, có mang lại hiệu quả chobài học không?”, “Trong quá trình thảo luận em có thường tham gia đóng góp
ý kiến không?”, “Em thường lắng nghe ý kiến của bạn hay trình bày ý kiến củamình?”, “Em thấy mình cần chuẩn bị những gì để lần sau thảo luận tốt hơn?”…Điều đó sẽ thúc đẩy HS học tập tích cực hơn, bổ sung kiến thức mình còn hạnchế, đặc biệt còn giúp các em tự tin đưa ra ý kiến của mình phản hồi lại những
ý kiến của bạn và biết lắng nghe những ý kiến phản hồi từ các thành viên kháctrong nhóm
1.1.3.3 Tổ chức các nhóm học tập hợp tác
Tùy theo ý đồ sư phạm của mỗi trường hợp và điều kiện lớp học cụ thể
GV quyết định về:
Hình thức nhóm: Nhóm chính thức, nhóm không chính thức, nhóm cơ
Trang 24+ Nhóm không chính thức là nhóm học tập tồn tại trong thời gian ngắn
- Xác định quy mô nhóm, số lượng nhóm, thành viên trong mỗi nhóm
- Xác định vị trí làm việc nhóm, thời gian duy trì nhóm
Để thành lập được nhóm tốt, GV cần nắm vững đặc điểm, tính cách,năng lực học tập của từng HS Mỗi nhóm tự cử nhóm trưởng, thư ký để điềukhiển hoạt động nhóm sao cho đạt kết quả tốt nhất Các vai trò này nên thayđổi để HS được trải nghiệm các chức năng trong hợp tác, qua đó tự khẳng địnhmình
Nhóm học tập hợp tác không phải là HS ngồi cạnh nhau một cách cơhọc, cùng nhau trao đổi, thảo luận, giúp đỡ nhau, chia sẻ hiểu biết, kinhnghiệm mà còn ở mức độ cao hơn đảm bảo các yếu tố sau:
+ Phụ thuộc nhau một cách tích cực: Các thành viên của nhóm hợp tácphải gắn kết với nhau theo cách mỗi cá nhân cũng như toàn nhóm chỉ có thểthành công nếu cố gắng hết sức mình Trong học hợp tác HS có trách nhiệm:Thực hiện nhiệm vụ được giao; đảm bảo các thành viên trong nhóm cũng hoànthành nhiệm vụ được giao Điều đó có thể đạt được qua việc thiết lập mục tiêubài dạy chung cho mọi HS; giao nhiệm vụ phù hợp với từng đối tượng, vai tròđộc lập của từng HS và động viên, khích lệ chúng Để cho điều kiện học tập trởthành hợp tác học tập gắn bó, HS cần cảm nhận chúng hoàn toàn phụ thuộc vớicác thành viên trong hợp tác học tập
+ Tương tác “mặt đối mặt” trong nhóm HS Học hợp tác đòi hỏi sự traođổi qua lại tích cực giữa các HS Điều đó được thực hiện khi các thành viêntrong nhóm được nhìn thấy nhau trong quá trình trao đổi, hợp tác Tương tácgiữa các HS có một số tác động như tăng cường động cơ học tập; làm nảy
17
Trang 25nguồn lực và đáp án giải quyết vấn đề; tăng cường kỹ năng xã hội như thái độ,cách biểu đạt; tăng cường sự phản hồi của HS bằng các hình thức: lời nói, ánhmắt, cử chỉ; khích lệ mọi thành viên tham gia phát triển mối quan hệ gắn bó,quan tâm đến nhau.
+ Trách nhiệm cá nhân cao: nhóm hợp tác được tổ chức và cấu trúc saocho từng thành viên trong nhóm không trốn tránh công việc hoặc trách nhiệmhọc tập Mọi người đều phải học, phải đóng góp phần mình vào công việcchung và thành công của nhóm Mỗi HS trong học tập hợp tác được phân côngthực hiện một vai trò nhất định tức là được luân phiên trong trong các hoạtđộng học tập khác nhau và hiểu rằng không thể dựa dẫm người khác
+ Sử dụng kỹ năng giao tiếp và kỹ năng xã hội: HS phải thể hiện đượccác kỹ năng làm việc hợp tác, kỹ năng giao tiếp như không xen ngang khingười khác đang nói, biết chờ đến lượt mình, lắng nghe, tóm tắt thông tin; Các
kỹ năng xây dựng niềm tin như bày tỏ sự ủng hộ qua ánh mắt, nụ cười, yêu cầugiải thích, giúp đỡ và sẵn sàng giải thích giúp đỡ bạn; các kỹ năng giải quyếtcác vấn đề bất đồng như kiềm chế bực tức, thể hiện ý kiến bất đồng mà khôngxúc phạm, phản đối một cách nhẹ nhàng không chỉ trích
+ Rút kinh nghiệm trong tương tác: Sau mỗi hoạt động hợp tác, HS phảiđánh giá quá trình hoạt động của mỗi thành viên Những mặt tốt trong hoạtđộng chung và những đóng góp cá nhân nổi bật cần được phát huy; những mặtcần thay đổi, cải thiện để hoạt động hợp tác có hiệu quả hơn Điều này giúp HShọc được kỹ năng hợp tác với người khác một cách hiệu quả
DHHT có thể sử dụng ở nhiều thời điểm khác nhau của tiết học gồm một
số bước Tiến trình dạy học nhóm có thể được chia thành ba giai đoạn cơ bản
Giai đoạn 1 Nhập đề và giao nhiệm vụ
Trang 26thuyết trình, đàm thoại hay làm mẫu Đôi khi việc này cũng được giao cho HS trình bày với điều kiện có sự thống nhất và chuẩn bị từ trước cùng GV.
Xác định nhiệm vụ của các nhóm và giải thích nhiệm vụ cụ thể của cácnhóm, xác định rõ những mục tiêu cụ thể cần đạt được Thông thường, nhiệm
vụ của các nhóm là giống nhau, nhưng cũng có thể khác nhau
Thành lập các nhóm làm việc, tuỳ theo mục tiêu dạy học để quyết định cách thành lập nhóm
Giai đoạn 2 Làm việc nhóm
Chuẩn bị chỗ làm việc nhóm, cần sắp xếp bàn ghế phù hợp với công việc nhóm, sao cho các thành viên có thể đối diện nhau để thảo luận
Lập kế hoạch làm việc
- Chuẩn bị tài liệu học tập
- Đọc sơ qua tài liệu
- Làm rõ xem thành viên có hiểu các yêu cầu của nhiệm vụ không
- Phân công công việc trong nhóm
- Lập kế hoạch thời gian
Thoả thuận về quy tắc làm việc
- Mỗi thành viên đều có phần nhiệm vụ của mình
- Từng người ghi lại kết quả làm việc
- Mỗi người người lắng nghe những người khác
Tiến hành giải quyết nhiệm vụ
- Đọc kỹ tài liệu
- Cá nhân thực hiện công việc đã phân công
- Thảo luận trong nhóm về việc giải quyết nhiệm vụ
- Sắp xếp kết quả công việc
Chuẩn bị báo cáo kết quả trước lớp
- Xác định nội dung, cách trình bày kết quả
- Phân công các nhiệm vụ trình bày trong nhóm
- Quy định tiến trình bài trình bày của nhóm
19
Trang 27Đại diện các nhóm trình bày kết quả trước toàn lớp, thông thường trìnhbày miệng có thể báo cáo viết kèm theo Có thể trình bày có minh hoạ thôngqua biểu diễn hoặc trình bày mẫu kết quả làm việc nhóm.
Kết quả trình bày của các nhóm được đánh giá và rút ra những kết luận cho việc học tập tiếp theo
Trong các bước trên cần áp dụng linh hoạt, chẳng hạn ở giai đoạn đầuDHHT có thể cần thực hiện công phu việc chia nhóm và hướng dẫn làm việctrong nhóm Còn sau khi các nhóm đó được điều chỉnh và ổn định theo từngnội dung học tập thì sẽ rút ngắn việc tổ chức và hướng dẫn làm việc ở cácnhóm Khi trình bày kết quả, các nhóm có cùng kết quả giống nhau có thể gọimột nhóm đại diện trình bày, các nhóm còn lại bổ sung, làm rõ ý tưởng dẫn tớikết quả chung đó
Thông qua quá trình học tập hợp tác, HS được rèn luyện các kỹ nănglàm việc độc lập trên tinh thần hợp tác để tự hoàn thiện các kiến thức và kỹnăng của mình Việc thảo luận nhóm, trình bày các giải pháp trước tập thể-nhóm- lớp là cơ hội rèn luyện cách diễn đạt, cách giao tiếp, ứng xử và thể hiệnbản lĩnh cá nhân
Từ việc nghiên cứu các quan niệm của những nhà khoa học trong vàngoài nước về khái niệm hợp tác, chúng tôi rút ra những đặc điểm: hợp tác cómục đích chung trên cơ sở cùng có lợi; bình đẳng, tin tưởng lẫn nhau và tựnguyện cùng làm việc, cùng chung sức, giúp đỡ hỗ trợ và bổ sung cho nhau.Trong luận văn này, khái niệm hợp tác được hiểu là sự tự nguyện của các
cá nhân cùng nhau làm việc một cách bình đẳng trong một tập thể nhóm Cácthành viên trong nhóm tiến hành hoạt động nhằm cùng đạt một mục đích họctập Trong DHHT điều đặc biệt là luôn luôn phải có sự hợp tác giữa người dạy
Trang 28phải có trách nhiệm hợp tác, giúp đỡ cho các thành viên trong nhóm hoànthành các nhiệm vụ được phân công.
Theo chúng tôi, DHHT được hiểu là dạy học theo hướng học tập hợp tácgiữa các thành viên trong nhóm, trong đó GV tổ chức cho HS cùng học tập vớinhau; mục đích, nội dung học tập, mô hình tổ chức dạy học được tiến hành dựatrên đặc điểm nguyên tắc của HTHT DHHT vừa tạo ra môi trường thuận lợicho HS học tập tiếp thu kiến thức, phát huy tiềm năng trí tuệ, góp phần tạo ra
sự thành công của nhóm; đồng thời hướng dẫn họ biết cách rèn luyện, pháttriển kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập
Tuy nhiên DHHT nếu không có sự kiểm soát của GV có thể dẫn tới một
số HS ỷ lại, lười biếng, dồn việc cho một số cá nhân HS có năng lực DHHTcũng bị hạn chế bởi không gian và thời gian của tiết học Để tận dụng có hiệuquả DHHT, GV cần khéo léo trong việc chia nhóm, tinh tế khi giao nhiệm vụ
và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động của mỗi nhóm
21
Trang 29chương trình môn Toán ở trường phổ thông Điều đó cho ta thấy tầm quantrọng của nó trong chương trình Ở lớp 7 khái niệm hàm số được mô tả thôngqua tương quan phụ thuộc giữa hai đại lượng biến thiên và hai hàm số cụ thể
trị thuộc một tập số D Nếu mỗi giá trị của x có một và chỉ một giá trị tương
ứng của y thuộc tập số thực R thì ta có một hàm số Ta gọi x là biến số; y là
hàm số của x Chương trình lớp 9 xét tiếp các hàm số bậc nhất y ax b và hàm sốbậc hai dạng y ax2
Chương "Hàm số bậc nhất và bậc hai" lớp 10 THPT gồm có 11 tiết trongphân phối chương trình Cấu tạo chương gồm: Bài 1 Hàm số (2 tiết lý thuyết
và 1 tiết luyện tập); Bài 2 Hàm số y = ax + b (2 tiết lý thuyết và 1 tiết luyệntập); Bài 3 Hàm số bậc hai (2 tiết lý thuyết và 1 tiết luyện tập); Và 2 tiết Câuhỏi và Bài tập Ôn tập Chương II Trong các bài 1, 2 và 3 đều có cấu trúc ôn tậpkiến thức đã học; sau đó bổ sung kiến thức mới
Với một số nội dung bài học có thể thiết kế câu hỏi, bài tập ở nhữngmức độ khác nhau sao cho phù hợp với trình độ và năng lực của HS, tạo môitrường để người học hợp tác học tập trở thành chủ thể của hoạt động học, nghĩa
là người học chủ động lĩnh hội cách học, cách tự học để nâng cao kết quả họctập GV cũng cần thiết kế các nhiệm vụ học tập sao cho mỗi HS dù ở trình độnào cũng tự giải quyết được ít nhất là một phần nhiệm vụ đó Tùy theo từngtình huống, GV thiết kế các hệ thống câu hỏi trong phiếu học tập cho phù hợpkhả năng học tập của HS
Trang 30Trình bày một cách chính xác và đầy đủ các khái niệm: hàm số, tập xácđịnh và đồ thị hàm số; đồng thời đưa ra các khái niệm đồng biến, nghịch biến,
sự biến thiên của hàm số; hàm số chẵn, hàm số lẻ Nêu các ví dụ thực tế vềhàm số cho bằng bảng hoặc biểu đồ Các ví dụ này được lấy từ các phươngtiện thông tin đại chúng như báo chí, Tivi hoặc Internet
Khái niệm đồ thị của hàm số được trình bày dưới hình thức ôn tập cáckiến thức HS đã học ở lớp 7 và lớp 9
Khái niệm hàm số đồng biến, nghịch biến được trình bày một cách trựcquan từ nhận xét về sự biến thiên của hàm số y x2 qua các nhánh của đồ thịhàm số này Ở lớp 9 mới đưa ra khái niệm hàm số đồng biến, nghịch biến trêntập số thực R, chưa nói đến đồng biến, nghịch biến trên khoảng
Tính chẵn lẻ của hàm số và tính đối xứng của đồ thị hàm số cũng đượctrình bày một cách trực quan, thông qua ví dụ cụ thể
Mục tiêu là HS hiểu các khái niệm, biết tìm tập xác định, biết chứngminh tính đồng biến, nghịch biến của một hàm số trên một khoảng cho trước,biết xét tính chẵn lẻ của một hàm số, thành thạo việc xác định chiều biến thiên,lập bảng biến thiên, vẽ đồ thị hàm số bậc nhất y ax b , hàm y | x | , hàm hằng,hàm số bậc hai y ax2bx c, a 0 và giải quyết một số bài toán liên quan đến hàm
Một số kiến thức mới tuy đơn giản nhưng khó quan niệm với HS Đốivới hàm số bậc hai, từ đồ thị đã biết ở lớp 9 suy ra đồ thị hàm bậc hai đầy đủ,
từ đồ thị này suy ra bảng biến thiên, chiều biến thiên của nó, cách làm này
23
Trang 31trình độ HS lớp 10 bởi nếu khảo sát chiều biến thiên của hàm bậc hai tổng quátthì quá khó với HS đại trà; dù có hoàn thành được việc khảo sát chiều biếnthiên của hàm bậc hai thì vẫn chưa suy ra được hình dạng đồ thị của nó làparabol Việc chứng minh đồ thị hàm bậc hai tổng quát có được sau một phéptịnh tiến đồ thị hàm bậc hai có ở lớp 9 là khó đối với HS vì chưa học về phéptịnh tiến (điều này được thể hiện trong bài đọc thêm) SGK thừa nhận kết quả
vẽ đồ thị hàm bậc hai, GV không nên đi sâu phân tích, có thể sử dụng các phầnmềm động, cho HS quan sát, nhận xét sự dịch chuyển của đồ thị từ đồ thị đãbiết để HS suy ra cách vẽ trực tiếp đồ thị hàm số bậc hai bất kỳ
Nếu GV và HS chủ quan không chú trọng chương Hàm số bậc nhất vàbậc hai, cho rằng các kiến thức đã biết chỉ là ôn tập lại sẽ dẫn đến tình trạngcác em lơ là, không nắm vững kiến thức, không củng cố kiến thức cũ, khôngtích lũy, không nắm bắt được kiến thức mới và gặp nhiều khó khăn trong cácnội dung kiến thức về sau Kiến thức của chương không quá khó, không mớihoàn toàn rất dễ gây nhàm chán cho HS Vì vậy, nếu GV vận dụng DHHT, biếtcách tổ chức các hoạt động nhận thức, định hướng suy nghĩ cho HS thì việcdạy và học chương này trở nên hào hứng và đạt kết quả tối ưu Bởi vì, nội dungcủa chương có rất nhiều tình huống cần có sự hợp tác, chia sẻ giữa các HS,chẳng hạn: cần phải giúp đỡ nhau để tất cả cùng nắm được khái niệm hàm số
đã được học từ lớp dưới, hay thành thạo một kỹ năng vẽ đồ thị hàm bậc nhất,hàm bậc hai đã học lớp 9, kỹ năng tìm hàm số biết dữ kiện nào đó của bài toán,hay nhiều công việc tương tự nhau phù hợp với khả năng của các nhóm cầnhoàn thành trong một khoảng thời gian ngắn, công việc cần có sự bàn bạc tìmcách giải quyết, cần có sự thi đua giữa các nhóm Không yêu cầu HS trìnhbày bài làm theo một khuôn mẫu cứng nhắc miễn là đảm bảo tính chính xác
Trang 32họa khái niệm bằng các ví dụ đa dạng; dạy học khảo sát hàm số: tính toán phục
vụ khảo sát, vẽ đồ thị hàm số, đọc đồ thị hàm số Tổng số cả chương trongphân phối chương trình là 11 tiết, trong đó có nội dung ba bài học mỗi bài họcgồm 2 tiết lý thuyết và 1 tiết bài tập là các bài : Hàm số; Hàm số bậc nhất; Hàm
số bậc hai; Kết thúc chương là 2 tiết bài ôn tập chương
1.2.2 Khó khăn và thuận lợi khi dạy học chương Hàm số bậc nhất và bậc hai lớp 10 THPT
1.2.2.1 Những thuận lợi
Nội dung dạy học phần Hàm số bậc nhất và bậc hai ở lớp 10 THPT đãđược đưa vào chương trình với một hệ thống kiến thức phù hợp trình độ HS,đối với từng lớp học được kế thừa, nâng lên từ dễ đến khó, lượng kiến thức phùhợp được phân bố trong mỗi tiết học tương đương với nó là những nội dungđược trình bày cụ thể, logic, dễ hiểu, dễ vận dụng ở SGK
Trong chương Hàm số bậc nhất và bậc hai lớp 10 THPT, có ba bài đềuđược trình bày theo cấu trúc: Ôn tập kiến thức cũ, kiến thức mới Nếu trình bàymột cách truyền thống thì dễ cho người dạy nhưng nhàm chán cho HS khá giỏi,nặng nề, khó hiểu cho HS yếu kém
Về nội dung lý thuyết không khó khăn cho người dạy để "truyền thụ"một chiều cho HS, nhưng khó gây được hứng thú cho HS vì GV nghĩ rằng kiếnthức dễ, HS nghĩ rằng "toàn những cái đã học" thực tế là chương này "kế thừa"những kiến thức đã học ở lớp dưới và "thêm mới" để hoàn thiện những kiếnthức mà HS chưa được học Nếu chủ quan, lơ là HS sẽ không củng cố đượckiến thức cũ và hoàn thiện kiến thức mới cho mình để tiếp tục học tập sau này.Nếu khéo léo DHHT việc dạy và học chương này sẽ rất thú vị bởi có nhiều tìnhhuống HS có thể hợp tác để hoàn thành nội dung học tập
1.2.2.2 Những khó khăn
Do ảnh hưởng mặt trái của nền kinh tế thị trường, HS được tiếp xúc,trao đổi với xã hội xung quanh, điều đó cũng có nghĩa là không tránh khỏi tiêucực còn tồn tại trong xã hội điều đó dẫn đến HS vận dụng kiến thức rất
25
Trang 33lại, chưa có ý thức tự giác trong học tập.
Đối với GV một số GV còn thiếu sự trau dồi kiến thức về chuyên mônnên có PPDH chưa phù hợp với yêu cầu đổi mới của chương trình dạy học, vẫn
áp dụng PHDH cũ, thiếu sự đổi mới và trong lựa chọn PPDH còn tỏ ra lúngtúng, kém linh hoạt Do vậy, thầy chưa tổ chức được các hoạt động hoạt độnghọc tập phát huy được tính tự giác, tích cực, chủ động của trò Thường thì GVnghiêng về thuyết trình, vấn đáp, ít có tình huống gợi vấn đề, chưa chú trọngđến hình thức dạy học phân loại, nếu có thì mang tính hình thức, chưa đạt hiệuquả cao
Đối với HS khi học nội dung hàm số bậc nhất, bậc hai là nội dung kiếnthức không hoàn toàn mới, các em đã được học những khái niệm về hàm số ởlớp 7 và lớp 9 nhưng với đối tượng HS huyện Mai Châu một huyện miền núivùng cao của tỉnh Hòa Bình các em hổng kiến thức nhiều, nên hầu như cáckiến thức đã học các em rất lúng túng, điều này gây nhiều khó khăn cho GV và
HS khi học nội dung chương này Mặc dù chương Hàm số bậc nhất và bậc hainội dung kiến thức đơn giản nhưng là nền tảng kiến thức để các em tiếp tục học
về khảo sát, vẽ đồ thị ở lớp 12 và các bài toán liên quan Do đặc điểm của nộidung chương Hàm số bậc nhất và bậc hai nên GV chỉ quan tâm đến việc dạycho HS biết cách sử dụng các phép biến đổi một cách hình thức, HS chưa chủđộng chiếm lĩnh kiến thức, HS học một cách thụ động, không hứng thú và rấtmáy móc, hình thức
1.3 Khảo sát nhu cầu và sự hiểu biết của GV và HS trường THPT Mai Châu
và THPT Mai Châu B huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình về dạy học hợp tác
Mục đích khảo sát: Chúng tôi khảo sát hiểu biết của 80 GV trường THPT
Trang 34Đối tượng khảo sát: Chúng tôi tiến hành khảo sát trên 80 GV và 340 HS
(các lớp khối 10) trường THPT Mai Châu và Mai Châu B huyện Mai Châu,tỉnh Hòa Bình
AP khảo sát:
- Điều tra bằng phiếu: Sử dụng phiếu hỏi GV và HS ( phụ lục 1, 2)
- Xử lí kết quả khảo sát bằng PP thống kê toán học
1.3.1 Nhu cầu và sự hiểu biết của GV trường THPT Mai Châu và THPT Mai Châu B huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình về dạy học hợp tác
Qua thống kê phiếu điều tra 80 GV trường THPT Mai Châu và Mai Châu B chúng tôi thu được kết quả sau:
+ Có 20 GV (25% GV) được tập huấn về PP DHHT do Sở giáo dục HòaBình tổ chức; 60 GV ( 87,5 % GV) cho biết mình chưa được dự tập huấn về PPDHHT ( câu 1)
+Về các yếu tố của PP DHHT: Phần lớn các GV còn chưa biết rõ về cácyếu tố của PP DHHT, chỉ có 45 % GV cho rằng DHHT cần phải có cả năm yếu
tố như đã nêu trên (câu 2) Từ kết quả khảo sát chúng tôi có thể đưa ra kết luậnnhư sau: đa số GV chưa hiểu đầy đủ về các yếu tố của việc vận dụng DHHTtrong dạy học
Bảng 1.1 Ý kiến của GV về các yếu tố của DHHT
( Điều tra 80 GV)
Yếu tố
Các thành viên trong nhóm phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực
Các thành viên trong nhóm ngồi theo cách để nhìn thấy mặt nhau
Mỗi thành viên đều có trách nhiệm cá nhân
Mỗi thành viên có các kỹ năng hợp tác với người khác
Có sự nhận xét về hoạt động của mỗi thành viên nội bộ nhóm và
các nhóm trước lớp
Cả 5 yếu tố trên
Trang 36+ Kết quả về kỹ năng làm việc nhóm (câu 3 )
Bảng 1.2 Ý kiến của GV về kỹ năng làm việc nhóm của HS
Khẳng định
cho hoàn thành một bài tập riêng vừa sức
trò khác nhau qua mỗi nhiệm vụ học tập
kiến giữa các thành viên trong nhóm
3.5 Trong mỗi nhóm học hợp tác, chỉ HS khá giỏi
tự mình hoàn thành xong bài tập rồi giảng cho
các bạn yếu hơn
+ 3,75 % GV cho rằng HS của mình biết rõ ràng là trách nhiệm cá nhân;12,5% GV cho rằng HS của mình có biết trách nhiệm cá nhân; 6,25% GV chorằng HS của mình phân vân về trách nhiệm cá nhân; 76,25% GV cho rằng HScủa mình chưa biết về trách nhiệm cá nhân; 12,5% GV cho rằng HS của mìnhkhông biết về trách nhiệm cá nhân (Câu 7)
+ 87,5 % GV quan niệm rằng DHHT là hình thức dạy học trong đó HSlàm việc theo nhóm, 12,5 % chưa đưa quan niệm của mình về DHHT (Câu 9).+87,5% GV cho rằng không có sự khác nhau giữa DHHT và dạy họctheo nhóm (12,5% không đưa ra ý kiến về sự giống và khác nhau của DHHT
và dạy học theo nhóm) (Câu 10)
+ 50% cho rằng DHHT ngoài tác dụng truyền thụ kiến thức cho HS còn
có tác dụng rèn luyện cho HS kỹ năng hợp tác với nhiều người khác, 50% GVchưa đưa ra được ý kiến về tác dụng của PPDH này (Câu 11)
Trang 38+ Kết quả về thái độ của GV với DHHT tại các trường THPT
Bảng 1.3 Kết quả điều tra thái độ của GV đối với PP DHHT
(Điều tra 80 GV)
457
M4: Thường xuyên+ Phần lớn các GV (75 %) áp dụng không quá 1 lần PP DHHT trong 6tiết liên tiếp của tất cả các nội dung dạy học (Câu 6), thường chỉ áp dụng trongcác tiết dự giờ, thao giảng, thi GVG, các giờ bài tập, ôn tập
+ Đối với câu hỏi 8, có 87,5% GV cho rằng mình gặp khó khăn trongsoạn giáo án và tổ chức lên lớp theo PP DHHT, 12,5 % gặp khó khăn do HSkhông tích cực tham gia… Không có ý kiến cho rằng gặp khó khăn do chưađược nhà trường khuyến khích
Qua phần khảo sát chúng tôi thấy khả năng vận dụng DHHT của GV vàotrong giảng dạy là chưa nhiều và thực sự chưa hiểu được ưu điểm của việc vậndụng DHHT qua các bài giảng sẽ thu được kết quả rất cao cũng như hoàn thiệncho HS nhiều kĩ năng sau này ra cuộc sống Chúng tôi thấy khó khăn của GVtrong việc DHHT là xây dựng các tình huống DHHT, khả năng soạn các giáo
án DHHT Các quan niệm về DHHT của đa số GV là chưa rõ ràng, cho rằngDHHT chỉ là sự phân nhóm HS thành các nhóm nhỏ để học tập, đưa ra nhữngphiếu bài tập, câu hỏi để HS trả lời Do đó khả năng vận dụng DHHT của GVvào trong giảng dạy là chưa nhiều và chưa đạt hiệu quả
29
Trang 39Châu B huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình về dạy học hợp tác
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phiếu điều tra (phụ lục 1) đểkhảo sát về nhu cầu và hiểu biết của 430 HS lớp 10 về học hợp tác, về các kỹnăng hợp tác trong nhóm nhỏ, bao gồm: Thái độ HS với học hợp tác (Câu 1,câu 2), trách nhiệm của cá nhân đối với nhóm (Câu 3, 8), các kỹ năng giao tiếptrong quá trình học hợp tác (câu 4, 5, 6, 7, 9, câu 10 đến câu 15); và đã thuđược kết quả như sau
Bảng 1.4 Kết quả khảo sát về thái độ của HS đối với DHHT
Câu12Trong đó:
Đa số HS mong muốn được học các giờ học hợp tác, và các em hàohứng khi tham gia giờ học hợp tác Trong đó, chỉ 4,65 % HS muốn làm nhómtrưởng; 10% HS muốn làm thư kí, quan sát viên, báo cáo viên, đại đa số85,35% HS muốn làm thành viên của nhóm học hợp tác
Bảng 1.5 Kết quả khảo sát về hiểu biết của HS
về trách nhiệm cá nhân đối với nhóm
Câu38
Câu
Trang 40Từ kết quả trên cho thấy
- PP DHHT đã được đưa và trường THPT và có tác dụng đối với việchọc tập kiến thức và kỹ năng hợp tác của HS Tuy nhiên DHHT chưa được phổbiến rộng rãi trong các trường THPT, hiểu biết của đa số GV và GV đối vớiPPDH này còn mơ hồ, cảm tính Phần lớn các GV chưa hiểu đúng về PPDHHT, còn nhầm lẫn với hình thức tổ chức học tập theo nhóm
- Việc tổ chức các giờ học hợp tác ở các trường còn ít, hoặc phần lớncòn mang tính hình thức (thực chất là chia nhóm hình thức) Vì vậy chưa thuhút được HS học hợp tác (câu 1), chưa rèn luyện được các kỹ năng hợp tác choHS
- Đa số HS không có các kỹ năng hợp tác trong học tập, các giờ học chủyếu diễn ra theo kiểu học tập cá nhân, chưa có tinh thần hợp tác Do đó đa số
HS chưa coi trọng các kỹ năng hợp tác trong học tập
- Một bộ phận HS không bao giờ đưa ra các ý kiến đóng góp cho nhóm,không trao đổi ý kiến, không trình bày ý kiến nhưng vẫn thích học hợp tác vìđược lợi chung với cả nhóm Một bộ phận HS khá giỏi cũng nằm trong số này,
tự mình làm bài, không trao đổi; HS yếu rất ít khi được trình bày ý kiến, HSkhá giỏi tập trung vào hoàn thành nhiệm vụ, không giải thích, trao đổi vớinhóm
31