1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông thành phố yên bái trong giai đoạn hiện nay

207 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 207
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đề tài luận văn chúng tôi hy vọng góp một phần nhỏ bé vào việc xâydựng các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các nhàtrường trung học phổ thông, phù hợp với yêu cầ

Trang 1

NGUYỄN ĐỨC CƯỜNG

CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ YÊN

BÁI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝGIÁO DỤC

MÃ SỐ: 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NguyÔn TiÕn §¹t

Hà Néi- 2006

MỞ ĐẦU

Trang 2

3 346

668 9 12 12 12

13

18

18 20 20

21

23

25

Trang 3

1.2.3 CÁC THÀNH TỐ CỦA QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO

VIÊN

1.3 VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ GIÁO Ở TRƯỜNG TRUNG

HỌC PHỔ THÔNG TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN

1.3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.3.4 QUAN NIỆM CỦA UNESCO VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ

NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN TRONG THỜI ĐẠI KINH

TẾ TRI THỨC

1.4 TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC ĐƯA RA CÁC BIỆN PHÁP

QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN YÊN BÁI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN

NAY

1.5 MỘT SỐ MÔ HÌNH QUẢN LÍ NHÀ TRƯỜNG THEO

PHƯƠNG THỨC PHÂN CẤP, PHÂN QUYỀN Ở CÁC NƯỚC

Trang 4

VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TRÊN

25 32 36

36

36 39

52

57

57

60

Trang 5

DỤC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÍ NHÀ

NƯỚC VỀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở NƯỚC TA

2.1.1 HỆ THỐNG QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC PHỔ

THÔNG

2.1.2 QUAN HỆ GIỮA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ

GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

2.2 SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI,

GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ YÊN BÁI

2.2.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-TÌNH HÌNH KINH

TẾ-XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ YÊN BÁI

2.2.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO

TẠO THÀNH PHỐ YÊN BÁI GIAI ĐOẠN 2001-2005

2.3 THỰC TRẠNG VỀ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ YÊN

2.4 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÍ ĐỘI NGŨ GIÁO

VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ YÊN

BÁI

THỰCTRẠNGVỀCƠCẤUTỔCHỨCVÀ

Trang 6

PHÂN CẤP QUẢN LÍ Ở NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG

2.4.2.THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH,

QUI

66 66 68 71 73

73

73 74

76 76

76 77 79

80

80 83

85 89 92

Trang 7

2.4.3.THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC TUYỂN CHỌN, SỬ DỤNG

VÀ THUYÊN CHUYỂN GIÁO VIÊN

2.4.4.THỰC TRẠNG VỀ TẠO MÔI TRƯỜNG THUẬN LỢI ĐỂDUY TRÌ VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ

CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊABÀN THÀNH PHỐ YÊN BÁI

3.1 ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÍ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ YÊN BÁI

3.1.1 CĂN CỨ ĐỂ XÁC ĐỊNH ĐỊNH HƯỚNG, MỤCTIÊU

3.1.2 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN

LÝ PHÁT TRIỂN ĐNGV THPT TRÊN ĐỊA BÀN YÊN BÁI ĐẾNNĂM 2010

3.2 CĂN CỨ ĐỂ LỰA CHỌN CÁC BIỆN PHÁP CHỦ YẾU

Trang 8

3.3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÍ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ YÊN BÁI

3.3.1 HOÀN THIỆN CÁC CHÍNH SÁCH VỀ LƯƠNG VÀ CHẾ

3.3.4 ĐỔI MỚI CÔNG TÁC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ VÀ KHENTHƯỞNG ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN

3.3.5 TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÍ VÀ BỒI DƯỠNGCHUYÊN MÔN

3.4 MỘT SỐ KẾT QUẢ THĂM DÒ Ý KIẾN VỀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT QUẢN LÍ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ YÊN BÁI

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Trong thời đại ngày nay, sự phát triển nhanh như vũ bão của khoa học,

kỹ thuật và công nghệ cùng với xu thế toàn cầu hoá, phát triển kinh tế tri thức

đã và đang đặt ra yêu cầu mới trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo phải thay đổimục tiêu, từ mục tiêu trang bị tri thức khoa học là chính sang mục tiêu hìnhthành và phát triển các kỹ năng, năng lực cho người học là chính

Ở Việt Nam, trong hệ thống giáo dục quốc gia, giáo dục phổ thông giữ

một vai trò quan trọng trong việc tạo mặt bằng dân trí, đáp ứng những yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội trong sự nghiệp đổi mới Bước sang thế kỷ XXI,kiến thức của nhân loại, khoa học và công nghệ phát triển không ngừng Xuthế hội nhập khu vực và thế giới là xu thế tất yếu với bất cứ quốc gia nào.Giáo dục phổ thông đứng trước những đòi hỏi phải có những bước tiến mớimạnh mẽ và nhanh chóng để đáp ứng được yêu cầu của xã hội Giáo dụctrung học là một phần quan trọng của giáo dục phổ thông có nhiệm vụ hết sứcnặng nề trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa theotinh thần công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập toàn cầu

Khi khẳng định nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo, nghị quyết lần thứ 2của ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII đã chỉ rõ ” giáo dục và đào tạohiện nay phải có một bước chuyển nhanh chóng về chất lượng và hiệu quả đàotạo, về số lượng và qui mô đào tạo, nhất là chất lượng dạy học trong các nhàtrường, nhằm nhanh chóng đưa giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu mới của đấtnước Thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụcho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ” [16,37] Đến Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ X vừa qua Đảng ta lại tiếp tục khẳng định: “ Phải đổi mới tưduy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội

Đồng Duy Hiển 1

Trang 12

Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạođược chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cậnvới trình độ giáo dục của khu vực và thế giới ” [19,206]

Nâng cao chất lượng dạy học là nhiệm vụ cơ bản đầu tiên của các nhàtrường, đây chính là điều kiện để nhà trường tồn tại và phát triển Tuy nhiên,thực tiễn giáo dục cho thấy chất lượng dạy học trong các nhà trường phụthuộc vào nhiều yếu tố trong đó yếu tố quản lý giáo dục, quản lý chất lượngdạy học có vị trí then chốt Thực chất của công tác quản lí nhà trường là quản

lý hoạt động dạy và học, công việc này được tiến hành thường xuyên, liên tụcqua từng giờ dạy học, qua từng tuần, tháng, học kì, năm học, đây là điều kiệntất yếu để đưa nhà trường đáp ứng yêu cầu của mục tiêu đào tạo

Được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, của các tầng lớp xã hội,chất lượng giáo dục - đào tạo ở nước ta trong nhiều năm qua nói chung vàchất lượng dạy học nói riêng đã có nhiều tiến bộ được xã hội công nhận.Trong giáo dục đào tạo nhiều nơi đã xuất hiện những nhân tố mới, phong tràohọc tập sôi nổi, loại hình trường, lớp trong các cấp học đa dạng, dân trí từngbước được nâng cao Tuy nhiên, chất lượng đào tạo nói chung và chất lượngdạy học nói riêng còn nhiều bất cập về qui mô, nhất là chất lượng thực, hiệuquả thực Đội ngũ cán bộ giáo viên tuyệt đại đa số nhiệt tình, có tâm huyết với

sự nghiệp giáo dục, xong còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, có nơi, cólúc chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới kinh tế xã hội,xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong những lý do dẫn đến những tồn tại,hạn chế trên, trước tiên phải kể đến sự hạn chế và hiệu quả quản lý giáo dụcnói chung và quản lý chất lượng dạy học nói riêng của các nhà trường trong

đó có các nhà trường trung học phổ thông Trong những năm qua, ở tỉnh BắcGiang nói chung và ở trường Trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 nói riêng,

Trang 13

việc nâng cao chất lượng dạy học đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp đáp ứngđược sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương và đất nước Tuynhiên vấn đề chất lượng dạy học vẫn còn là vấn đề khó khăn, phức tạp và cónhiều bất cập Công tác quản lý dạy và học được đặt ra với những tư tưởng

và yêu cầu mới Người quản lý cần phải đúc rút kinh nghiệm, tổng kết đánhgiá nghiêm túc, tìm ra biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng dạy học,nhanh chóng đáp ứng yêu cầu mới của đất nước

Thực tiễn quản lý giáo dục trong các nhà trường trung học phổ thôngcủa tỉnh Bắc Giang đang đặt ra nhiều vấn đề cả về mặt lý luận và thực tiễn cầnsớm quan tâm giải quyết Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi đã mạnh

dạn chọn đề tài: “Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học

ở trường Trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2, tỉnh Bắc Giang”

Qua đề tài luận văn chúng tôi hy vọng góp một phần nhỏ bé vào việc xâydựng các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các nhàtrường trung học phổ thông, phù hợp với yêu cầu đổi mới, thực hiện tốtnhiệm vụ của nhà trường mà Đảng, nhà nước và nhân dân giao phó

2 Mục đích nghiên cứu.

Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ởtrường trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 tỉnh Bắc Giang

3 Nhiệm vụ nghiên cứu.

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng dạy ở trường trung học phổ thông

- Khảo sát và đánh giá thực trạng chất lượng dạy học và việc quản lýchất lượng dạy học ở trường trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 tỉnh BắcGiang

- Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học

ở trường trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 tỉnh Bắc Giang

Đồng Duy Hiển 3

Trang 14

Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

4 Khách thể và đối tượng

nghiên cứu 4.1 Khách thể

nghiên cứu.

Công tác quản lý ở trường trung học phổ thông

4.2 Đối tượng nghiên cứu.

Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường trunghọc phổ thông Hiệp Hoà số 2 tỉnh Bắc Giang

5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu.

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp quản lý nhằmnâng cao chất lượng dạy học ở trường trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2tỉnh Bắc Giang

6 Giả thuyết khoa học ( vấn đề nghiên cứu ).

Chất lượng dạy học ở trường trung học phổ thông Hiệp Hoà 2 tỉnh BắcGiang còn có nhiều hạn chế vì chưa có biện pháp quản lý đồng bộ và hiệuquả Nếu xây dựng được những biện pháp quản lý đảm bảo tính khoa học,tính hệ thống, tính hiệu quả và khả thi thì chẳng những góp phần nâng caochất lượng dạy học ở nhà trường mà còn có thể áp dụng cho các nhà trườngtrung học phổ khác có điều kiện tương tự

7 Phương pháp nghiên cứu.

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết.

Nghiên cứu và khái quát các văn bản, Nghị quyết của Đảng và Nhànước về giáo dục, quản lý Nhà nước về giáo dục và những tài liệu lý luậnkhác có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

+ Phương pháp quan sát việc dạy và học của giáo viên và học sinh

+ Phương pháp điều tra: Nghiên cứu chương trình, hồ sơ chuyên môn

Trang 16

Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

+ Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn: Lấy ý kiến của giáo viên, học sinh thông qua trao đổi trực tiếp

+ Phương pháp thống kê: Căn cứ vào số liệu thống kê hàng năm của nhà trường

+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm quản lý dạy học ở trường trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 tỉnh Bắc Giang

8 Cấu trúc nội dung luận văn.

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 3 chương

Chương 1: Những cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Thực trạng dạy học và quản lý chất lượng dạy học ở trường

trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2

Chương 3: Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở

trường trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2, tỉnh Bắc Giang

Trang 17

Chương 1

NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Một số khái niệm cơ bản.

Trước khi nghiên cứu sâu hơn một số khái niệm cơ bản, chúng tôi xinđưa ra một số khái niệm chung có liên quan đến nội dung của luận văn Theo

Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học ( Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2001):

- “Biện pháp” là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể

- “Giải pháp” là phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó

- “Giải quyết” là làm cho không còn thành vấn đề nữa

Phương pháp là cách thức nhận thức, nghiên cứu hiện tượng của tựnhiên và đời sống xã hội Hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạtđộng nào đó

- “Quản lý” là trông coi giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, tổ chức

và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định

- “Nâng” là đưa lên cao, làm cho cao hơn trước, lên mức độ cao hơn

- “Nâng” cấp là cải tạo, sửa chữa để nâng chất lượng lên một mức

- “Nâng cao” là làm tăng thêm, ví dụ làm tăng thêm chất lượng

- “Chất lượng” là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người,một sự vật, sự việc, dạy để nâng cao trình độ văn văn hoá và phẩm chất đạođức, theo chương trình nhất định

1.1.1 Quản lý, chức năng và nguyên tắc quản lý.

1.1.1.1 Quản lý.

Trang 18

Đồng Duy Hiển 6

Trang 19

Khái niệm về quản lý: Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ

thuật, tác động đến một hệ thống hoạt động xã hội từ tầm vĩ mô cho đến tầm

vi mô Có nhiều cách tiếp cận, do vậy rất có thể có nhiều cách quan niệmkhác nhau về quản lý Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị MỹLộc: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý( người quản lý ) đến khách thể quản lý ( người bị quản lý ) trong một tổchức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại định nghĩa “ Quản lý là tác động cómục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao độngnói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến ” [34,14]

Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm - Hoạt độngquản lý đã ra đời như một yếu tố khách quan, mang tính tất yếu trong quátrình vận động và phát triển của lao động và các hoạt động xã hội

Các quan điểm về quản lý: Có nhiều quan điểm khác nhau về quản

lý * Quan điểm của các tác giả nước ngoài

F.W Taylo ( 1856 - 1915 ), người đề xuất thuyết “Quản lý khoa học”cho rằng: Quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm, và sau đó thấyđược rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất

Theo V.G Afanaxev: Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh

ta, sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng được nhữngyêu cầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể lẫn cá nhân

Theo các nhà khoa học Harold Koontz - Cyril Odonnell và HeinzWeihrich trong cuốn: “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” cho rằng: Quản lýđược hoàn thành thông qua con người Với tư cách thực hành thì quản lý làmột nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học.TheoPaul Hersey và Ken Blanc Hard: Quản lý như một quá trình làm việc cùng và

Đồng Duy Hiển 7

Trang 20

Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thànhcác mục đích tổ chức

Theo Kax Mac: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao độngchung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn thì ít nhiều cùng đến một sựchỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năngchung phát sinh từ sự vận động những khí quan độc lập của nó Như vậy Max

đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạt động lao động, một hoạt động tấtyếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của loài người

Theo từ điển tiếng Việt năm 1992 - Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội

- Việt Nam: Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định

Tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng: Quản lý là sự tác động có mục đíchcủa cán bộ quản lý đối với tập thể những con người, nhằm làm cho hệ thốnghoạt động bình thường, giải quyết được nhiệm vụ đề ra

Tác giả Đỗ Hoàng Toàn lại quan niệm: Quản lý là sự tác động có tổchức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề

ra trong điều kiện biến động của môi trường

Theo giáo sư Đặng Vũ Hoạt và giáo sư Hà Thế Ngữ cho rằng: Quản lý

là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thốngnhằm đạt được những mục tiêu nhất định

Theo Giáo sư Nguyễn Văn Lê: Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoahọc và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng nhữngphương pháp thích hợp, nhằm đạt được những mục tiêu đề ra cho hệ và từngthành tố của hệ

Những quan niệm về quản lý của các tác giả tuy có khác nhau về cách tiếpcận nhưng đều toát nên một số quan điểm chung nhất về quản lý như sau:

Trang 21

- Là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản

lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích nhất định

- Là công cụ hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm

- Là phương thức hoạt động tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm, một tổ chức

Như vậy, có thể khái quát về khái niệm quản lý là một quá trình tácđộng gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạtđược mục tiêu chung

Bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động Bảnchất của hoạt động quản lý chính là sự tác động hợp qui luật của chủ thể quản

lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành có hiệu quả mong muốn

Xã hội càng phát triển, các loại hình lao động càng phong phú, phức tạp thìhoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng,hiệu suất lao động

Hoạt động quản lý có thể mô tả theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1 : Mô hình về quản lý

Trang 22

Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

- Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức

- Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý lênkhách thể Công cụ quản lý có thể là mệnh lệnh ( ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ), quyết định ( văn bản hoặc không văn bản ), các chính sách, chương trình, mục tiêu

- Phương pháp có thể hiểu là cách thức tác động của chủ thể lên kháchthể Trong quản lý hiện nay, phương pháp quản lý được đúc kết từ nhiều lĩnhvực khác nhau, phụ thuộc vào hình thức, lĩnh vực hoạt động và phong cáchquản lý trong tổ chức

1.1.1.2 Chức năng quản lý.

Chức năng quản lý là một hoạt động quản lý chuyên biệt, cơ bản màthông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiệnmục tiêu xác định Chức năng quản lý chiếm giữ một vị trí then chốt, nó gắnliền với nội dung của hoạt động điều hành ở mọi cấp Các công trình nghiêncứu khoa học quản lý tuy có nhiều ý kiến chưa thật đồng nhất trong thuật ngữ

để chỉ ra các chức năng quản lý, song về cơ bản đã thống nhất có 4 chức năng

cơ bản: Kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra

Kế hoạch : Là chức năng trung tâm, được hiểu khái quát là một chương

trình hành động cụ thể của chủ thể quản lý căn cứ vào hiện trạng ban đầu của tổchức trong từng thời ký, từng giai đoạn, được hoạch định, lập ra trước khi tiếnhành thực hiện một nội dung nào đó để đạt được mục tiêu đã đề ra

Trang 23

Chỉ đạo: Là phương thức hoạt động của chủ thể quản lý nhằm điều

hành bộ máy của tổ chức hoạt động thực hiện mục tiêu kế hoạch Về thựcchất, chỉ đạo là những hoạt động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp củangười lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, huy động mọi lực lượng vàoviệc thực hiện kế hoạch nhằm đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ratrong kỷ cương trật tự

Kiểm tra đánh giá: Là biện pháp tác động của chủ thể lên khách thể

nhằm xác lập trạng thái vận hành của tổ chức, đánh giá kết quả vận hành của

tổ chức, xem mục tiêu và toàn bộ kế hoạch đã đạt đến mức độ nào

Thông qua kiểm tra chủ thể quản lý thấy được những bất cập, những

ưu điểm trong quá trình hoạt động, tìm ra nguyên nhân, có biện pháp điềuchỉnh, xử lý uốn nắn, phát huy kịp thời Giúp chủ thể rút ra những bài họckinh nghiệm quản lý trong quá trình vận hành

Theo lý thuyết hệ thống: Kiểm tra, đánh giá giữ vai trò liên hệ nghịch,

là huyết mạch của hoạt động quản lý, kiểm tra không có đánh giá thì coi nhưkhông có kiểm tra, không kiểm tra coi như không có hoạt động quản lý

Trong hoạt động quản lý, các chức năng quản lý thực hiện hiệu quả haykhông phụ thuộc hoàn toàn vào thông tin Thông tin vừa là phương tiện, vừa

là công cụ tiến hành hiệu quả, liên kết chặt chẽ các chức năng quản lý tronghoạt động quản lý

Có thể biểu diễn sự liên kết các chức năng đó bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 2 : Chu trình quản lý.

Đồng Duy Hiển 11

Trang 24

Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

Kế hoạch hoá

Kiểm tra

Chỉ đạo

1.1.1.3 Các nguyên tắc quản lý

Quản lý các tổ chức ( Kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục ) thực chất

là quản lý con người hoạt động trong tổ chức đó - đối tượng đích của quản lý

Khi tiến hành quản lý, các nhà quản lý đều phải đưa ra những nguyêntắc quản lý nhất định, thường tập chung vào các nguyên tắc cơ bản sau:

Đảm bảo tính pháp lý: Đây là nguyên tắc quản lý được xây dựng trên

cơ sở những qui định, luật pháp và các chế tài của pháp luật Chẳng hạn: Quản

lý giáo dục, tính pháp lý dựa trên luật giáo dục, điều lệ nhà trường, các vănbản dưới luật, các chế tài có liên quan đến giáo dục, các chỉ thị, nghị định củachính phủ, của Bộ giáo dục về giáo dục, các văn bản chỉ đạo thực hiệnchương trình Đây là hành lang pháp lý để các nhà quản lý thực hiện cácchức năng quản lý, đảm bảo tính hiệu lực của cơ chế quản lý nhà nước, dựatrên các chủ trương, đường lối, chính sách của nhà nước, các văn bản chỉ đạocủa ngành để thực hiện vai trò quản lý của nhà quản lý trong quá trình quản

lý Hoạt động quản lý không dựa trên nguyên tắc pháp lý ví như “cưỡi ngựakhông cương”, dễ dẫn đến quyết định tuỳ tiện, thiếu cơ sở pháp lý, sai phạmchủ trương, pháp luật

Đảm bảo tính tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả

năng quản lý một cách khoa học, có sự kết hợp chặt chẽ quyền lực của chủ thể

Trang 25

quản lý với sức mạnh sáng tạo của mọi đối tượng quản lý trong việc thực hiệnmục tiêu quản lý.

Tập trung trong quản lý được hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệthống được tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụvạch đường lối, chủ trương, phương hướng, mục tiêu tổng quát, đề xuất cácgiải pháp cơ bản để thực hiện các chủ trương, đường lối đó Nguyên tắc tậptrung thể hiện bởi chế độ một thủ trưởng

Dân chủ trong quản lý được hiểu là phát huy quyền làm chủ của mọithành viên trong tổ chức, huy động trí lực của họ trong việc thực hiện hoànthành kế hoạch, mục tiêu đề ra Biểu hiện của dân chủ là các chỉ tiêu, kếhoạch hành động đều được tập thể tham gia bàn bạc, đóng góp xây dựng, kiếnnghị các biện pháp trước khi thực hiện

Sử dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong nhà trường là một vấn đềhết sức không đơn giản, nếu thiên về tập trung quá sẽ dẫn đến quan liêu, độcđoán của quyền, không phát huy được sự sáng tạo và sức mạnh của quầnchúng; ngược lại quá thiên về dân chủ dễ dẫn đến tự do quá trớn, lỏng lẻo kỷcương Trong thực tiễn quản lý cần phải kết hợp hài hoà giữa tập trung và dânchủ, sử dụng quyền tập trung và quyền dân chủ đúng lúc, đúng chỗ với tinhthần dám quyết, dám làm, dám chịu trách nhiệm

Đảm bảo tính khoa học và thực tiễn: Nguyên tắc này đồi hỏi người

quản lý phải nắm được qui luật phát triển của bộ máy, nắm vững được quiluật tâm lý của quá trình quản lý, hiểu rõ thực tế địa phương, thực tiễn củangành, đảm bảo kết hợp hài hoà giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân và cácyêu cầu đòi hỏi trước mắt và lâu dài của nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục và đàotạo đề ra, biết dựa trên các vấn đề thực tiễn để phân tích, tổng hợp các dữ kiệnmột cách khoa học, biện chứng, trên cơ sở đó đưa ra được những biện pháphữu hiệu trong hoạt động quản lý

Đồng Duy Hiển 13

Trang 26

Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

Đảm bảo tính Đảng: Ở Việt Nam, Đảng là biểu hiện sức mạnh, ý chí

của nhân dân và là Đảng cầm quyền duy nhất, vì thế trong quản lý hơn baogiờ hết phải luôn bám sát, thể hiện rõ và tuân thủ chủ trương, đường lối,chính sách của Đảng trong hoạt động quản lý

Từ những quan niệm trên có thể rút ra nhận xét sau:

- Mặc dù cách diễn đạt khác nhau nhưng những định nghĩa trên đều thểhiện được bản chất của hoạt động quản lý, đó là: hoạt động quản lý nhằm làmcho hệ thống vận động theo mục tiêu đã đặt ra, tiến đến trạng thái có chấtlượng mới

- Trong quản lý có hai bộ phận khăng khít với nhau, đó là chủ thể vàkhách thể quản lý Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm người

có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạttới mục tiêu Khách thể quản lý bao gồm những người thừa hành nhiệm vụ

trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mụctiêu chung Chủ thể quản lý nhằm làm nẩy sinh các tác động quản lý, cònkhách thể quản lý sản sinh ra vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếpđáp ứng nhu cầu của con người, đáp ứng mục đích của chủ thể quản lý

- Quản lý có bốn chức năng cơ bản quan hệ khăng khít, tác động qua lạilẫn nhau và tạo thành chu trình quản lý, đó là các chức năng: kế hoạch hoá, tổchức, chỉ đạo và kiểm tra cùng các yếu tố khác là thông tin và quyết định Mỗichức năng có vai trò, vị trí riêng trong chu trình quản lý - Thông tin là mạchmáu của quản lý

1.1.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường.

1.1.2.1 Quản lý giáo dục.

Trước tiên chúng tôi đề cập đến một số quan niệm về quản lý giáo dụccủa các tác giả trong và ngoài nước:

Trang 27

Quản lý giáo dục là một khái niệm quản lý chuyên ngành, người tanghiên cứu nó trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung Khái niệm quản

lý cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến kháiniệm quản lý giáo dục trong phạm vi quản lý một hệ thống giáo dục chung màhạt nhân là hệ thống các trường học

* Quan niệm của tác giả nước ngoài

Theo M.I Kônđacốp: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp kếhoạch hoá nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệthống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng và chấtlượng

Khuđônminsky trong cuốn: “Quản lý giáo dục quốc dân ở địa bàn quậnhuyện” có viết: Quản lý khoa học hệ thống giáo dục có thể xác định như làtác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản

lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống ( từ bộ đếntrường, đến các cơ sở giáo dục ) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục xã hộichủ nghĩa cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui luậtchung của chủ nghĩa xã hội cũng như vận dụng những qui luật chung của quátrình xã hội, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em, thiếu niên và thanhniên

* Quan niệm của tác giả trong nước

Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục thực chất là tácđộng đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáodục thể chất theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, Quán triệt đượcnhững tính chất nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tớimục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát làhoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác

Đồng Duy Hiển 15

Trang 28

Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Quản lý giáo dục là sựtác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạtđộng giáo dục đạt kết quả mong muốn

Theo giáo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là hệ thống tácđộng có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ thốnggiáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dụccủa Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa ViệtNam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệgiáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất

Các quan điểm trên tuy có những cách diễn đạt khác nhau, nhưng đềutoát lên bản chất của quản lý giáo dục: Đó là sự tác động có tổ chức, có địnhhướng, phù hợp với qui luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đốitượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục ở cơ sở và của toàn bộ hệ thốnggiáo dục đạt tới mục tiêu đã định

Trong nghị quyết Đại hội Đảng các khoá VI đến khoá IX, trong các vănbản hướng dẫn nhiệm vụ năm học của Sở giáo dục và đào tạo Bắc Giang vềmục tiêu phát triển giáo dục, về đổi mới công tác quản lý giáo dục trong cácnhà trường đều định hướng: Không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ, chấtlượng giáo dục; tăng cường đổi mới công tác quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục với tư cách là một bộ phận của quản lý xã hội, đãxuất hiện từ lâu Quản lý là một thuộc tính tất yếu, bất biến và nội tại của mọihoạt động trong quá trình lao động xã hội, nó có tầm quan trong đối với bất cứhoạt động nào của con người Quản lý giáo dục có thể được hiểu ở nhiều cấp

độ khác nhau, tuỳ ta xác định đối tượng quản lý Ở đây chúng ta chỉ đơn giản

là quản lý giáo dục là quản lý quá trình giáo dục đào tạo, trong đó có quá trìnhdạy học diễn ra ở các cơ sở khác nhau của giáo dục

Trang 29

Quản lý giáo dục còn được hiểu như là một tập hợp những biện pháp

về tổ chức, phương pháp, nội dung giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, , nhằmbảo vệ sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảođảm sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng và chất lượng Quản lýgiáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng

xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của

xã hội Một quan điểm nữa về quản lý giáo dục có thể đưa ra ở đây là: quản

lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mụcđích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệthống nhằm đảm bảo sự giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo

sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ Trên cơ sở nhận thức và sử dụng cácqui luật chung vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng như những qui luật kháchquan của quá trình giáo dục, của sự phát triển về thể chất và tâm lý của thế hệtrẻ Khi nói đến giáo dục phải nhận thức hệ thống giáo dục là một bộ phận đặcbiệt quan trọng trong hệ thống xã hội Các quá trình giáo dục thường đượctrải ra theo thời gian dài, những phẩm chất, nhân cách của học sinh mà giáodục đang đào tạo ngày nay phải đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại vàcủa ngày mai khi học sinh đi vào cuộc sống Các hiện tượng giáo dục bao giờcũng là các hiện tượng đặc biệt phức tạp, chính vì vậy quản lý giáo dục đòihỏi vừa phải có tính cụ thể, vừa phải có tính toàn vẹn sâu sắc

Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướngcải tiến nhằm mục đích tăng cường phân cấp quản lý bên trong nhà trườngvới những trách nhiệm và quyền hạn rộng rãi hơn để thực hiện nguyên tắc giảiquyết vấn đề tại chỗ

1.1.2.2 Quản lý nhà trường.

* Về khái niệm quản lý nhà trường.

Đồng Duy Hiển 17

Trang 30

Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

Nhà trường nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân và hệ thống xã hội

Vì vậy nó luôn luôn có mối quan hệ qua lại và tác động với môi trường xãhội Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của

xã hội, thực hiện chức năng tạo nguồn cho các yêu cầu của xã hội, đào tạo cáccông dân cho tương lai Với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mangtính giáo dục, vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, nó là tế bàochủ chốt của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ trung ương đến địa phương”.Tác giả còn cho rằng: “ Nhà trường của thế kỷ XXI là nhà trường của nềnkinh tế tri thức, của xã hội tri thức, vì vậy việc tổ chức và quản lý nhà trườngphải dựa trên một cơ sở “ động ” , biết học hỏi để phát triển [7,37]

Quản lý nhà trường chính là bộ phận của quản lý giáo dục Theo tác giảPhạm Minh Hạc: Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy

và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thía khác

dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục Ông cũng cho rằng: Quản lý nhà trường,

quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học Có tổ chức được hoạt độngdạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xãhội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáodục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu củanhân dân, của đất nước

Hoạt động quản lý của nhà quản lý là phải làm thế nào để các thành tốcon người, tinh thần, vật chất vận hành, liên kết chặt chẽ với nhau đạt đến kếtquả mong muốn Hiệu trưởng là người quản lý cao nhất của nhà trường

Quản lý nhà trường theo nghĩa hẹp có thể hiểu là quản lý tất cả cáchoạt động diễn ra trong nhà trường, đảm bảo đưa chất lượng giáo dục và đàotạo của nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác nhằm đạt được mụctiêu phát triển giáo dục đào tạo của cấp học trung học phổ thông đã định củanhà trường Theo điều 53 Luật giáo dục bao gồm:

Trang 31

- Quản lý công tác tuyển sinh

- Quản lý chương trình giáo dục và đào tạo do Bộ qui định

- Quản lý hoạt động dạy và học

- Quản lý con người tham gia hoạt động dạy và học

- Quản lý cơ sở vật chất, điều kiện thiết yếu phục vụ hoạt động dạy

học

- Quản lý chất lượng đầu ra

Chức năng quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trường là nhữngnhóm nhiệm vụ quản lý khác nhau của tập hợp các nhiệm vụ cụ thể về quản lýhoạt động dạy và học trong nhà trường

Chức năng quản lý hoạt động dạy và học bao gồm 4 nội dung:

- Xây dựng kế hoạch quản lý dạy học

- Chỉ đạo thực hiện

- Tổ chức thực hiện

- Kiểm tra đánh giá chất lượng dạy học

Trên cơ sở nhiệm vụ quản lý trường học, quản lý hoạt động dạy và họctrong trường trung học phổ thông tập trung chủ yếu vào các nội dung sau:

- Xây dựng kế hoạch và quản lý kế hoạch dạy học.

Kế hoạch dạy học là một bộ phận của kế hoạch năm học, trong đó baohàm các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu, nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ cụ thể,biện pháp tổ chức thực hiện, chương trình thực hiện, thời gian, tiến độ vàphân công thực hiện, được cụ thể hoá trong từng tháng, từng tuần Kế hoạchdạy học của nhà trường được triển khai thành kế hoạch của các tổ, nhómchuyên môn và cá nhân Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ, nhóm trưởng

Đồng Duy Hiển 19

Trang 32

Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

chuyên môn có trách nhiệm giám sát, đôn đốc chỉ đạo cấp mình phụ tráchthực hiện đúng kế hoạch

- Tổ chức kiểm tra đánh giá chất lượng hoạt động dạy và học.

Được tiến hành bằng các hình thức dự giờ thăm lớp, phiếu hỏi, kiểmtra khảo sát đầu năm, kiểm tra viết giữa kỳ, kiểm tra cuối kỳ và cuối năm Cácbiện pháp thường tiến hành là kiểm tra xác suất, kiểm tra định kỳ, kiểm trađột xuất, kiểm tra có báo trước và kiểm tra toàn diện Mục đích của các biệnpháp này nhằm phát hiện đúng, đánh giá sát nhất năng lực thực tế của giáoviên và chất lượng thực của hoạt động dạy, học ; đồng thời phát hiện nhữngđiểm yếu, những bất cập về chất lượng do quá trình chỉ đạo và thực hiện cósai lệch hoặc phát sinh từ thực tế biến động ngoài dự kiến

Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác giáodục thế hệ trẻ một cách toàn diện Nó là thành tố cấu thành hệ thống giáo dụccủa quốc gia Nói cách khác, trường học là thành tố khách thể cơ bản của tất

cả các cấp quản lý giáo dục lại vừa là một hệ thống độc lập tự quản của xãhội

Chất lượng giáo dục chủ yếu do các nhà trường tạo nên, bởi vậy khinói đến quản lý giáo dục phải nói đến quản lý nhà trường cùng với việc quản

lý chung hệ thống giáo dục Trong quản lý nhà trường nó có hai loại tác động

cơ bản: tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường

và tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường Quản lý nhàtrường phổ thông là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đếntập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác, nhằm tận dụng nguồn dự trữ

do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn

tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường và tiêu điểmhội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kếhoạch đào tạo đưa nhà trường tiến lên một trạng thái mới

Trang 33

1.1.3 Quản lý quá trình dạy học ở trường trung học phổ thông:

+Quản lý quá trình giáo dục - đào tạo lấy đối tượng là quá trình giáo đào tạo Trong trường phổ thông, quá trình giáo dục - đào tạo được phân hoálàm hai quá trình bộ phận: Quá trình dạy học theo chương trình, kế hoạch dạyhọc trên lớp và quá trình giáo dục theo đó là các hoạt động giáo dục ngoài giờlên lớp trong nhà trường và ngoài xã hội Vì vậy quản lý quá trình giáo dụcđào tạo là quản lý hai quá trình cơ bản: Quản lý dạy học và quản lý giáo dục

dục-Quản lý quá trình dạy học là một bộ phận cấu thành chủ yếu của toàn

bộ hệ thống quản lý quá trình giáo dục đào tạo trong trường học Quản lý quátrình dạy học thông qua việc chỉ đạo thực hiện chức năng tổng hợp: Phát triểnnhân cách, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đấtnước Quản lý quá trình dạy học phải định hướng chủ yếu vào sự phát triểnmọi năng lực tiềm ẩn của con người, hiểu biết các qui luật đời sống, phát triểncác kỹ năng lao động trí tuệ, thái độ và tính tích cực xã hội, phát triển tài năngcủa con người Đồng thời nó đặt nền tảng cho sự phát triển phẩm chất nhâncách, giá trị đạo đức bản thân, thẩm mĩ, các giá trị văn hoá tinh thần và thể lựccủa học sinh Chuẩn bị cho chúng tiếp tục học lên hoặc bước vào đời lập thân,lập danh, lập nghiệp

Quản lý quá trình dạy học mặc dù do nhà trường tổ chức, chỉ đạonhưng nó có quan hệ tương tác, liên thông với các tổ chức giáo dục đào tạokhác hoặc các cơ quan, tổ chức văn hoá, khoa học, công nghệ Mối quan hệcộng đồng hợp tác liên thông này là một trong những điều kiện để tối ưu hoáviệc quản lý quá trình dạy học

+ Quản lý quá trình dạy học là quản lý hệ thống toàn vẹn bao gồm các nhân tố

cơ bản của quá trình dạy học: Mục đích, nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học,thầy và hoạt động dạy, học sinh và hoạt động học, các phương pháp và

Đồng Duy Hiển 21

Trang 34

Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá kếtquả dạy học

Tất cả các nhân tố cấu trúc của quá trình dạy học tồn tại trong mối quan

hệ qua lại và thống nhất với các môi trường của nó: Môi trường xã hội chính trị, môi trường khoa học - kỹ thuật - công nghệ Tức là chủ thể quản lýphải tác động vào toàn bộ các thành tố của quá trình dạy học hoặc từng nhân

-tố của quá trình dạy học theo các qui luật tâm lý học, giáo dục học, lý luận vềquản lý để đưa hoạt động dạy học từ trạng thái này sang trạng thái cao hơn đểtiến tới mục tiêu giáo dục

Quá trình dạy học vận động càng phát triển là do các nhân tố cấu thànhcủa nó vận động và tương tác với nhau nhằm thực hiện tốt mục tiêu của quátrình, góp phần thực hiện mục đích giáo dục chung Vì vậy quản lý quá trìnhdạy học vừa phải làm sao cho mỗi nhân tố có được lực tác động đủ mạnh, lạivừa đảm bảo sự vận động nhịp nhàng, hài hoà và thống nhất của toàn bộ quátrình Không được để nhân tố nào vận động yếu làm ảnh hưởng đến sự pháttriển chung của quá trình, điều này đòi hỏi người quản lý phải có nghệ thuậtquản lý

+ Trong việc quản lý quá trình dạy học, hệ thống chương trình giáo dục tổng thể có tính ổn định lâu dài, được qui tụ ở các yếu tố đó là:

- Quán triệt mục tiêu, kế hoạch dạy học, nội dung chương trình,

phương pháp và hình thức tổ chức dạy học

- Xây dựng các điều kiện cần thiết, khả thi ; nhân lực tức là đội ngũ cán

bộ quản lý, giáo viên, nhân viên ; vật lực tức là trường, Sở, cơ sở vật chất, đồdùng thiết bị dạy học ; tài lực tức là khả năng tài chính ( tiền )

- Xây dựng và thực hiện nề nếp, kỷ cương dạy học trong nhà trường

- Tổ chức chỉ đạo hoạt động dạy và học của thầy và trò

- Tổ chức đánh giá kết quả và hiệu quả dạy học

Trang 35

Tất cả các yếu tố đó không tách rời nhau tạo thành một hệ thống tươngđối hoàn chỉnh và có hiệu lực hiện tại cũng như lâu dài trong quản lý dạy học,Chúng đặt cơ sở cho việc tìm ra các biện pháp quản lý quá trình dạy học trongnhà trường.

1.2 Quá trình dạy học và mối liên hệ giữa dạy học và phát triển.

1.2.1 Khái niệm về quá trình dạy học.

Quá trình dạy học là quá trình sư phạm bộ phận, một phương tiện đểtrau dồi học vấn, phát triển năng lực và giáo dục phẩm chất, nhân cách thôngqua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học, nhằm truyền thụ và lĩnhhội một cách có hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảonhận thức và thực hành Nói cách khác quá trình dạy học là tiến trình vậnđộng kết hợp giữa các hoạt động dạy và học để thực hiện các nhiệm vụ dạyhọc

Trong quá trình dạy học, vai trò của người thầy là định hướng, tổ chức,điều khiển, thực hiện việc truyền thụ tri thức, kỹ năng và kỹ xảo đến người họcmột cách khoa học, do đó luôn luôn có vai trò và tác dụng chủ đạo Người họctiếp thu một cách có ý thức tự giác, tích cực, tự lực và sáng tạo hệ thống kiếnthức, kỹ năng và kỹ xảo, hình thành năng lực hoạt động trí tuệ và thái độ đúngđắn Người học là chủ thể sáng tạo của việc học, của việc hình thành nhân cáchcủa bản thân Vai trò chủ đạo của giáo viên thể hiện qua việc định hướng, tổchức, điều khiển trực tiếp các hoạt động ở trên lớp, luôn luôn có ý nghĩa đặc biệtvới việc đảm bảo chất lượng của người học trong quá trình học tập Vai trò chủđộng, tích cực, năng động của học sinh trong quá trình học tập có ý nghĩa quyếtđịnh đối với việc phát triển trí tuệ, lĩnh hội kiến thức, hình thành và phát triểnnhân cách của bản thân với ý nghĩa chủ thể sáng tạo Việc giảng dạy và học tậpđược hiểu là hai mặt của một quá trình bổ xung cho nhau, chế ước lẫn nhau, tácđộng qua lại với nhau, là động lực kích thích bên

Đồng Duy Hiển 23

Trang 36

Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

trong của mỗi chủ thể phát triển, tạo ra hoạt động dạy học với tư cách là mộtquá trình toàn vẹn, tích hợp và thống nhất

Quá trình dạy học là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục tổngthể Cả hai quá trình sư phạm: Quá trình dạy học và quá trình giáo dục đềuhướng tới mục tiêu chung là phát triển nhân cách toàn vẹn cho người học.Chức năng chủ yếu của quá trình dạy học là hình thành niềm tin, lý tưởng,tình cảm, thái độ, cách ứng xử trong các mối quan hệ xã hội

Quá trình dạy học là một quá trình xã hội, quá trình sư phạm đặc thù, làmột hệ thống toàn vẹn gồm ba thành tố cơ bản: Tri thức khoa học, học và dạy.Tri thức khoa học là nội dung của bài học và là đối tượng của sự lĩnh hội bởihọc sinh Nó là yếu tố khách quan nhất, quyết định lôgic của bản thân quátrình dạy học Hoạt động dạy học là yếu tố khách quan thứ hai qui định lôgiccủa quá trình dạy học về mặt lý luận, nghĩa là trình độ trí dục và qui luật lĩnhhội của học sinh có ảnh hưởng quyết định đến việc tổ chức quá trình dạy học

Nó bao gồm hai chức năng thống nhất với nhau: lĩnh hội và tự điều khiển.Hoạt động dạy có chức năng kép: Truyền đạt và điều khiển luôn luôn tươngtác và thống nhất với nhau Dạy phải xuất phát từ tính khoa học của tri thức,của khái niệm và sự tự lĩnh hội của học sinh rồi tổ chức tốt hoạt động cộng tácgiữa giáo viên, học sinh đảm bảo cho học sinh tự giác, tích cực, tự lực và sángtạo trong việc tiếp thu tri thức, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, hìnhthành và phát triển nhân cách

Trang 37

Cấu trúc chức năng của quá trình dạy học được diễn tả bằng sơ đồ sau:

Khái niệm khoa học

DạyTruyền đạt

Điều khiển

Tóm lại dạy học là quá trình truyền đạt và điều khiển của thày, lĩnh hội

và tự điều khiển của trò thông qua các hoạt động cộng tác và là quá trình cóthể điều khiển được có sự tương tác với môi trường

1.2.2 Bản chất của quá trình dạy học.

+ Quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới sự tổchức chỉ đạo của giáo viên, là quá trình có tính hai mặt: Dạy và học Quá trìnhdạy học có hai nhân tố trung tâm: Hoạt động dạy và hoạt động học Hai hoạtđộng này thống nhất với nhau và phản ánh tính chất hai mặt của quá trình dạyhọc

Kết quả dạy học tập trung ở kết quả nhận thức của học sinh Do đó bảnchất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh, được

tổ chức một cách riêng biệt dưới sự tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn của giáoviên nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học cụ thể: nhiệm vụ trí dục, phát triển,giáo dục hay kiến thức, kỹ năng, phương pháp và thái độ

Đồng Duy Hiển 25

Trang 38

Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

Quá trình nhận thức của học sinh phải tuân theo qui luật từ trực quansinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là sựbiện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan Quá trìnhnhận thức của học sinh có thể diễn ra theo hai con đường ngược chiều nhau

Đó là con đường từ cụ thể đến trừu tượng, từ đơn giản đến khái quát và conđường từ trừu tượng đến cụ thể, từ khái quát đến đơn giản Trong quá trìnhdạy học người thầy giáo nên tận dụng cả hai con đường này một cách hợp lýnhất, nhằm giúp học sinh thu được kết quả tối ưu Quá trình nhận thức củahọc sinh là quá trình phản ánh thế giới vào đầu óc của các em Với tư cách làmột thực thể xã hội có ý thức, học sinh có khả năng thu được những phản ánhkhách quan về nội dung và chủ quan về hình thức Học sinh có khả năng phảnánh đúng bản chất về những qui luật của thế giới khách quan, về hình thức,mỗi học sinh có hình thức phản ánh riêng của mình, có cách xây dựng nênkhái niệm, những cấu trúc lôgic của riêng mình Điều này chứng tỏ rằng, dưới

sự tổ chức, điều khiển của người giáo viên, với năng lực của bản thân, họcsinh có khả năng nhận thức đúng đắn thế giới khách quan Quá trình nhậnthức của học sinh là quá trình độc đáo với nhận thức chung của loài người, đó

là sự tái tạo những tri thức của loài người trong bản thân học sinh Trong quátrình học tập ở nhà trường học sinh nắm vững một cách thuận lợi những cơ sởkhoa học của các môn học, không phải trải qua con đường nhận thức quanh

co, gập ghềnh Quá trình nhận thức của học sinh còn thể hiện độc đáo ở tínhgiáo dục của nó nghĩa là trong quá trình nhận thức, thông qua việc nắm trithức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, học sinh hìnhthành dần cơ sở thế giới quan khoa học và bồi dưỡng phẩm chất nhân văn củacon người Điều này thể hiện qui luật thống nhất biện chứng giữa dạy học vàgiáo dục

Trang 39

+Quá trình dạy học là một quá trình toàn vẹn, các nhân tố của nó tác động lẫnnhau theo qui luật riêng, xâm nhập vào nhau, qui định lẫn nhau tạo nên sựthống nhất biện chứng:

- Giữa dạy với học

- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy

- Giữa lĩnh hội và tự điều khiển trong học

+ Quá trình dạy học là hoạt động cộng đồng hợp tác giữa chủ thể thầy với cáthể học sinh, giữa học sinh với học sinh, giữa thầy với nhóm học sinh Sựtương tác theo kiểu cộng đồng, hợp tác giữa dạy và học là yếu tố duy trì vàphát triển sự thống nhất của quá trình dạy học nghĩa là chất lượng dạy học.Dạy tốt, học tốt chính là bảo đảm được: sự thống nhất của điều khiển, bị điềukhiển, tự điều khiển, có bảo đảm liên hệ ngược thường xuyên và bền vững

Vậy bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc dáo củahọc sinh dưới sự tổ chức, chỉ đạo của giáo viên, quá trình dạy học là một hệtoàn vẹn, quá trình dạy học là hoạt động cộng đồng hợp tác Muốn có quátrình dạy học tối ưu thì phải xuất phát từ logic của khái niệm khoa học vàlogic nhận thức của học sinh Việc thiết kế công nghệ dạy học hợp lý, tổ chứctối ưu hoạt động dạy học cộng tác, đảm bảo liên hệ hai chiều, để làm cho họcsinh tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh được các khái niệm khoa học, phát triểnnăng lực, hình thành thái độ là những nội dung hết sức quan trong đảm bảocho việc đề ra các biện pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng dạy học ởtrường trung học phổ thông

1.2.3 Hoạt động dạy học.

Theo thuyết hoạt động, dạy học gồm hai hoạt động: Hoạt động dạy củathầy và hoạt động học của học sinh Hai hoạt động này luôn luôn gắn bó mậtthiết với nhau, tồn tại trong quá trình tổng thể của nhà trường

Đồng Duy Hiển 27

Trang 40

Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

Hoạt động dạy: Là sự tổ chức điều khiển tối ưu quá trình học sinh lĩnh

hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách học sinh Vai trò chủ đạo củahoạt động dạy được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển sự học tậpcủa học sinh, giúp họ nắm kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ Hoạt độngdạy có chức năng kép là truyền đạt thông tin dạy và điều khiển hoạt động học.Nội dung dạy học được xắp xếp bố trí theo những chương trình qui định cụthể

Hoạt động học: Là quá trình học sinh tự điều khiển tối ưu sự chiếm

lĩnh tri thức khoa học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển

nhân cách Vai trò tự điều khiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tíchcực, tự lực và sáng tạo của học sinh dưới sự tổ chức, điều khiển của thầynhằm chiếm lĩnh tri thức khoa học Khi chiếm lĩnh được tri thức khoa họcbằng các hoạt động tự lực, sáng tạo học sinh đồng thời đạt được ba mục đíchthành phần đó là: phát triển trí tuệ, trước hết là nắm vững tri thức khoa học,phát triển tư duy và năng lực hoạt động trí tuệ, hình thành các phẩm chất đạođức, nhân cách Trong lý luận còn gọi là thực hiện các nhiệm vụ dạy học, thựchiện trí dục và góp phần giáo dục đạo đức nhân cách cho học sinh theo đúngmục tiêu của cấp học

Hoạt động học có hai chức năng: Lĩnh hội thông tin và điều khiển quátrình chiếm lĩnh tri thức, các khái niệm một cách tự giác, tích cực, tự lực Nộidung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học,phương pháp đặc trưng của môn học, của khoa học đó với phương pháp nhậnthức độc đáo, phương pháp chiếm lĩnh khoa học để biến kiến thức của nhânloại thành học vấn của bản thân, hình thành và phát triển các phẩm chất nănglực của con người theo đúng mục tiêu giáo dục của cấp học

Vậy hoạt động dạy học là một trong những hoạt động giao tiếp sư phạmmang ý nghĩa xã hội Chủ thể của hoạt động này tiến hành các hoạt động khác

Ngày đăng: 29/10/2020, 20:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w