1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các biện pháp quản lý chương trình giáo dục thể chất trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp i trong giai đoạn hiện nay

108 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 291,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Kế hoạch: là chức năng trung tâm, được hiểu khái quát là một chương trình hành động cụ thể của chủ thể quản lý căn cứ vào hiện trạng ban đầu của tổchức trong từng thời kỳ, từng giai đo

Trang 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO

1.3.1 Một số vấn đề chung về quản lý chương trình đào tạo. 19

Trang 2

1.3.3 Khỏi niệm cơ bản của Giỏo dục thể chất 22

1.5 Quản lý đội ngũ giảng viờn núi chung và giảng viờn thể dục thể thao

1.5.1 Đặc điểm lao động của đội ngũ giảng viờn. 28

1.5.2 Lao động của người giảng viờn mang tớnh chất đặc biệt: 29

1.6 Vị trớ, nhiệm vụ chương trỡnh giỏo dục thể chất và phõn phối chương

1.6.1 Vị trớ, nhiệm vụ của GDTC trong trường đại học và Cao đẳng ở nước

1.6.2 Yếu tố đảm bảo cho GDTC trong cỏc trường Đại học và Cao đẳng. 32

1.6.3 Tầm quan trọng của việc quản lý nhằm nõng cao chất lượng giỏo dục

1.6.3.1 Tớnh cấp thiết của việc nõng cao chất lượng GDTC. 33

1.6.3.2 Tầm quan trọng của việc quản lý nhằm nõng cao chất lượng giỏo dục

1.6.3.3 Quan niệm về chất lượng trong lĩnh vực giỏo dục thể chất ở trường

Chương 2: Thực trạng quản lý ch-ơng trình giáo dục thể

chất tr-ờng Cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp I. 38

2.1 Sơ lược lịch sử về trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật cụng nghiệp I 38

Trang 3

2.1.3 Về tổ chức bộ máy: 40

2.2 Thực trạng việc quản lý chương trình giáo dục thể chất trường Cao

2.2.1 Thực trạng chương trình GDTC của trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật

2.2.2 Thực trạng nhu cầu tập luyện TDTT của sinh viên. 45

2.2.3 Đánh giá chương trình giáo dục thể chất đang thực thi tại trường Cao

2.2.3.4 Chương trình khung môn GDTC của Bộ GD&ĐT. 54

2.2.4 Thực trạng công tác quản lý cán bộ trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật

2.2.4.3 Quản lý thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học 59

2.3 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất giáo dục thể chất. 60

Chương 3: C¸c biÖn ph¸p qu¶n lý ch-¬ng tr×nh gi¸o dôc

3.2 Các biện pháp quản lý chương trình giáo dục thể chất cho sinh viên. 64

3.2.1 Biện pháp 1: Quản lý của Hiệu trưởng, Bộ môn giáo dục thể chất

Trang 4

3.2.1.2 Vai trò của Bộ môn GDTC. 65

3.2.1.3 Quản lý và xây dựng chương trình phù hợp với mục tiêu đào tạo của

3.2.2 Biện pháp 2: Cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý và công tác bồi dưỡng

3.2.3 Biện pháp 3: Cải tiến phương pháp giảng dạy GDTC cho phù hợp với

3.2.3.1 Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp giảng dạy. 68

3.2.4 Biện pháp 4: Tăng số giờ học nội khoá cho sinh viên. 73

3.2.5 Biện pháp 5: Tổ chức đẩy mạnh các hoạt động ngoại khoá cho sinh

3 Với trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp I. 79

Trang 5

4 Với bộ môn GDTC. 80

Trang 6

BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT

công nghiệp I

Trang 7

đó đòi hỏi con người Việt Nam “phát

triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức, phong phú về tinh thần” [50,04].

Một trong những nhiệm vụ quan trọng phải được quan tâm là “đào tạo thế hệ trẻ nước ta trở thành những con người có đủ bản lĩnh, phẩm chất và năng lực đảm đương sứ mạnh lịch sử của mình ” [115] Để có được nguồn

nhân lực hùng hậu trong tương lai, điều tất yếu là phải quan tâm chăm lo sự

nghiệp giáo dục, vì “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai” [4] và

“muốn tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển giáo dục, đào tạo, phát huy nguồn nhân lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững …” [114].

Nghị quyết Trung Ương II khoá VIII của Đảng về Giáo dục -Đào tạo

và khoa học công nghệ cũng đã được khẳng định: “Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức, lối sống mà còn phải là con người cường tráng về thể chất Chăm

lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả các cấp, các ngành, các đoàn thể trong đó có Giáo dục -Đào tạo, Y tế và Thể dục thể thao” [116].

Giáo dục thể chất và thể thao học đường thực sự có vị trí quan trọngtrong việc thực hiện mục tiêu nói trên nhằm góp phần đào tạo thế hệ trẻ phát

Trang 8

để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ vững vàtăng cường an ninh quốc phòng.

Ngày nay, trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự bùng nổ củathông tin, việc học tập của sinh viên đại học và chuyên nghiệp ngày càng trởnên căng thẳng và nặng nhọc hơn Cùng với việc chăm lo đời sống vật chất vàtinh thần, TDTT là phương tiện bổ ích để hợp lý hoá chế độ hoạt động vànghỉ ngơi, giữ gìn và nâng cao sức khoẻ, năng lực hoạt động trong tất cả cácthời kỳ học tập Việc giáo dục thể chất còn có tác dụng quan trọng trong quátrình rèn luyện đạo đức, ý chí và thẩm mĩ Vì vậy giáo dục thể chất đóng gópđáng kể vào việc đào tạo những chuyên gia có kiến thức rộng được phát triểntoàn diện về thể chất và tinh thần

Thực hiện đường lối của Đảng trong nhiều năm qua, nhiều cán bộ, giáoviên thể dục thể thao đã tận tuỵ phấn đấu cho mục tiêu cao quý của giáo dụcthể chất trong nhà trường Họ đã có những đóng góp tích cực và hiệu quảtrong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng phong trào thể dục thể thaotrong thanh thiếu niên, đặc biệt trong sinh viên Tuy nhiên, việc tổ chức giảngdạy môn giáo dục thể chất nội khoá cũng như các hoạt động ngoại khoá trongcác trường gặp nhiều khó khăn Sự thành công của công tác giáo dục thể chấtcho sinh viên không chỉ phụ thuộc vào chủ trương, đường lối, chính sách,mục tiêu, nội dung, phương pháp và điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật mà cònphụ thuộc vào chất lượng đội ngũ giáo viên TDTT và việc quản lý chươngtrình giáo dục thể chất của các nhà trường

Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I là một trong nhữngtrường thuộc Bộ Công nghiệp trong thời gian qua cũng đã có nhiều đổi mới

về nội dung, chương trình đào tạo các chuyên ngành nên đã từng bước nângcao dần chất lượng giáo dục và đào tạo Riêng về

Trang 9

hoạt động giáo dục thể chất bên cạnh những ưu điểm đã đạt được cũng còn những tồn tại đáng quan tâm, đó là:

- Chất lượng giáo dục còn thấp, sinh viên ra trường chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội

- Hiệu quả hoạt động môn học giáo dục thể chất chưa cao, tỷ lệ

sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thể lực còn thấp

- Đội ngũ giáo viên giảng dạy môn giáo dục thể chất còn thiếu về sốlượng và chất lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu vừa tăng nhanh về quy mô,vừa đảm bảo chất lượng, hiệu quả giáo dục

- Công tác quản lý bộ môn giáo dục thể chất còn kém hiệu quả, chậm đổi mới tư duy và phương thức quản lý

Căn cứ mục tiêu yêu cầu và thực tiễn đào tạo nguồn nhân lực và thựchiện chương trình giáo dục thể chất trong trường Chúng tôi tiến hành nghiêncứu đề tài:

“ Các biện pháp quản lý chương trình giáo dục thể chất trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I”

2 Mục đích nghiên cứu.

Đề xuất các biện pháp quản lý chương trình giáo dục thể chất trườngCao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I nhằm nâng cao chất lượng dạy vàhọc môn giáo dục thể chất, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diệncủa nhà trường

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu.

Trang 10

Nếu xây dựng được các biện pháp quản lý chương trình giáo dục thểchất trong trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I có hiệu quả, sẽ

là cơ sở có thể áp dụng cho các trường Cao đẳng thuộc Bộ Công nghiệp đểcải tiến và nâng cao chất lượng giáo dục thể chất

5 Nhiệm vụ nghiên cứu.

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý chương trình giáo dục thể

chất

- Đánh giá thực trạng về công tác quản lý giáo dục thể chất trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I

- Đưa ra các biện pháp quản lý chương trình giáo dục thể chất và

đề xuất bổ sung hoàn thiện

6 Phạm vi nghiên cứu.

- Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý chương trình giáo dụcthể chất, thực trạng quản lý và xây dựng biện pháp quản lý của trường Cao đẳngkinh tế kỹ thuật công nghiệp I

- Tiến hành áp dụng và so sánh, đối chiếu tại một số trường Cao

đẳng thuộc Bộ Công nghiệp

7 Phương pháp nghiên cứu.

Quá trình thực hiện đề tài kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu:

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp thu thập,

phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, hệ thống hoá

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát,

phương pháp điều tra, phương pháp phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm, thống

kê, so sánh

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO DỤC THỂ CHẤT.

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý.

1.1.1 Khái niệm về quản lý:

Khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện các mục tiêu

mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì quản lýxuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân, hướngtới một mục tiêu chung

Các Mác đã nói: “ Tất cả lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một

sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”

[19,54]

Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm - Hoạt động quản

lý đã ra đời như một yếu tố khách quan, mang tính tất yếu trong quá trình vậnđộng và phát triển của lao động và các hoạt động xã hội

Có nhiều quan niệm khác nhau về “quản lý”, dựa theo những cách tiếpcận khác nhau, do đó dẫn đến sự phong phú trong các quan niệm về “quảnlý” Sau đây là một số quan niệm của các học giả trong và ngoài nước:

*Quan điểm của các tác giả nước ngoài:

- Theo F.W.Taylo (1856- 1915) - người đề xuất thuyết "Quản lý khoahọc" cho rằng: quản lý là biết được điều bạn muốn người khác

Trang 12

làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất

và rẻ nhất

- Theo V.G.Afanaxev: “Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh

ta sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng được những yêucầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể

- Theo Paul Hersey và Ken Blanc Hard: “Quản lý như một quá trình làmviệc cùng và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác đểhình thành các mục đích tổ chức”

- Theo Kax Mark: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao

động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cùng đếnmột sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chứcnăng chung phát sinh từ sự vận động những khí quan độc lập của nó Nhưvậy, Mark đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạt động lao động, mộthoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của loàingười

* Quan điểm của các tác giả trong nước.

Quản lý vừa là một khoa học,

một hệ thống hoạt động xã hội từ

cách tiếp cận, do vậy rất có thể có

quản lý

vừa làtầm vĩnhiều

một nghệ thuật tác động đến

mô đến tầm vi mô Có nhiềucách quan niệm khác nhau về

Trang 13

- Theo từ điển Tiếng Việt năm 1992 - Trung tâm từ điển ngôn ngữ HàNội- Việt Nam: “Quản lý là một tổ chức và điều khiển các hoạt động theonhững yêu cầu nhất định”.

- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại định nghĩa: "Quản lý là tác động cómục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nóichung là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu dự

kiến" [34,14]

- Tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng: “Quản lý là sự tác động có mục đíchcủa cán bộ quản lý đối với tập thể những con người, nhằm làm cho hệ thốnghoạt động bình thường, giải quyết được nhiệm vụ đề ra”

- Tác giả Đỗ Hoàng Toàn lại quan niệm: “Quản lý là sự tác động có tổchức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ratrong điều kiện biến động của môi trường”

- Tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý làmột quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ

thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”

- Tác giả Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học

và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những phương phápthích hợp, nhằm đạt được những mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố của hệ”

- Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tácđộng có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến kháchthể quản lý (người bị quản lý ) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vậnhành và đạt được mục đích của tổ chức”

Những quan niệm về quản lý của các tác giả tuy có khác nhau về

cách tiếp cận nhưng đều toát lên một số quan điểm chung nhất về quản lý nhưsau:

Trang 14

- Là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản

lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích nhất định

- Là công cụ hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm

- Là phương thức hoạt động tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm, một tổ chức

Như vậy, có thể khái quát về khái niệm quản lý là một quá trình tác

động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt đượcmục tiêu chung

1.1.2 Bản chất của quản lý:

Bản chất của hoạt động quản lý chính là sự tác động hợp quy luật củachủ thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành có hiệuquả mong muốn Xã hội càng phát triển, các loại hình lao động càng phongphú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng trong việcnâng cao chất lượng, hiệu suất lao động

Hoạt động quản lý có thể mô tả theo sơ đồ sau:

Công cụ

Phương pháp

Sơ đồ 1: Mô hình về quản lý

Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu: chủ thể, khách thể, mục tiêu, phương pháp, công cụ quản lý

Trang 15

- Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức

- Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý lên kháchthể Công cụ quản lý có thể là mệnh lệnh (ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ), quyếtđịnh (văn bản hoặc không văn bản), các chính sách, chương trình, mục tiêu

- Phương pháp có thể hiểu là cách thức tác động của chủ thể lên kháchthể Trong quản lý hiện nay, phương pháp quản lý được đúc kết từ nhiều lĩnhvực khác nhau, phụ thuộc vào hình thức, lĩnh vực hoạt

động và phong cách quản lý trong tổ chức

1.1.3 Chức năng quản lý: là một hoạt động quản lý chuyên biệt, cơ bản mà

thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiệnmục tiêu xác định Chức năng quản lý chiếm giữ một vị trí then chốt, nó gắnliền với nội dung của hoạt động điều hành ở mọi cấp Các công trình nghiêncứu khoa học quản lý tuy có nhiều ý kiến chưa thật đồng nhất trong thuật ngữ

để chỉ ra các chức năng quản lý, song về cơ bản đã thống nhất có 4 chức năng

cơ bản: Kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra

- Kế hoạch: là chức năng trung tâm, được hiểu khái quát là một chương

trình hành động cụ thể của chủ thể quản lý căn cứ vào hiện trạng ban đầu của tổchức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn, được hoạch định, lập ra trước khi tiếnhành thực hiện một nội dung nào đó để đạt được mục tiêu đề ra,

- Tổ chức: là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những

con người, những dạng hoạt động thành một hệ toàn vẹn, biến tập hợp các thành

tố rời rạc thành một thể toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tương tác với nhaumột cách tối ưu

Trang 16

V.I.Lênin nói: “Tổ chức là một nhân tố sinh thành ra hệ toàn vẹn, biếntập hợp các thành tố rời rạc thành một thể thống nhất, người ta gọi là hiệu ứng

tổ chức”

- Chỉ đạo: là phương thức hoạt động của chủ thể quản lý nhằm điều

hành bộ máy của tổ chức hoạt động thực hiện mục tiêu kế hoạch Về thực chất,chỉ đạo là những hoạt động xác lập quyền chỉ huy và sự

can thiệp của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, huy động mọilực lượng vào việc thực hiện kế hoạch nhằm đảm bảo các hoạt động của tổchức diễn ra trong kỷ cương trật tự

- Kiểm tra đánh giá: là biện pháp tác động của chủ thể lên khách thể

nhằm xác lập trạng thái vận hành của tổ chức, đánh giá kết quả vận hành của

tổ chức, xem mục tiêu và toàn bộ kế hoạch đã đạt đến mức độ nào

Thông qua kiểm tra, chủ thể quản lý thấy được những bất cập, nhưng ưuđiểm trong quá trình hoạt động, tìm ra nguyên nhân, có biện pháp điều chỉnh

xử lý, uốn nắn, phát huy kịp thời Giúp chủ thể rút ra những bài học kinhnghiệm quản lý trong quá trình vận hành

Theo lý thuyết hệ thống: Kiểm tra, đánh giá giữ vai trò liên hệ nghịch, làhuyết mạch của hoạt động quản lý, kiểm tra không có đánh giá thì coi nhưkhông có kiểm tra, không kiểm tra coi như không có hoạt động quản lý

Trong hoạt động quản lý, các chức năng quản lý thực hiện có hiệu quảhay không phụ thuộc hoàn toàn vào thông tin Thông tin vừa là phương tiện,vừa là công cụ tiến hành hiệu quả, liên kết chặt chẽ các chức năng quản lýtrong hoạt động quản lý.Thông tin là mạch máu của quản lý

Quản lý có 4 chức năng cơ bản quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫnnhau và tạo thành chu trình quản lý, đó là các chức năng: kế hoạch hoá, tổchức, chỉ đạo và kiểm tra cùng các yếu tố khác là thông tin và quyết định Mỗichức năng có vai trò, vị trí riêng trong chu trình quản lý

Trang 17

Có thể biểu diễn sự liên kết các chức năng đó bằng sơ đồ sau:

Kế hoạch hoá

Chỉ đạo

Sơ đồ 2: Chu trình quản lý

1.1.4 Các nguyên tắc quản lý: Quản lý các tổ chức (kinh tế, chính trị, văn

hoá, giáo dục) thực chất là quản lý con người hoạt động trong tổ chức đó - đốitượng đích của quản lý

Khi tiến hành quản lý, các nhà quản lý đều phải đưa ra những nguyên tắcquản lý nhất định, thường tập trung vào các nguyên tắc cơ bản sau:

- Đảm bảo tính pháp lý: Đây là nguyên tắc quản lý được xây dựng trên

cơ sở những quy định, luật pháp và các chế tài của pháp luật Chẳng hạn, cácvăn bản dưới luật, các chế tài có liên quan đến giáo dục, các chỉ thị, nghị địnhcủa Chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục, các văn bản chỉ đạoviệc thực hiện chương trình Đây là hành lang pháp lý để các nhà quản lý thựchiện các chức năng quản lý,

đảm bảo tính hiệu lực của cơ chế quản lý nhà nước, dựa trên các chủ trương,đường lối, chính sách của nhà nước, các văn bản chỉ đạo của ngành để thựchiện vai trò quản lý của nhà quản lý trong quá trình quản lý

Trang 18

- Đảm bảo tính tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc quan trọng tạo

khả năng quản lý một cách khoa học, có sự kết hợp chặt chẽ quyền lực của chủthể quản lý với sức mạnh sáng tạo của mọi đối tượng quản lý trong việc thựchiện mục tiêu quản lý

Tập trung trong quản lý được hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệ

thống được tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụvạch đường lối, chủ trương, phương hướng, mục tiêu tổng quát, đề xuất cácgiải pháp cơ bản để thực hiện các chủ trương, đường lối đó Nguyên tắc tậptrung thể hiện bởi chế độ một thủ trưởng

Dân chủ trong quản lý được hiểu là phát huy quyền làm chủ của mọithành viên trong tổ chức, huy động trí lực của họ trong việc thực hiện hoànthành kế hoạch, mục tiêu đề ra Biểu hiện của dân chủ là các chỉ tiêu, kếhoạch hành động đều được tập thể tham gia bàn bạc, đóng góp xây dựng, kiếnnghị các biện pháp trước khi thực hiện

Sử dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý nhà trường là mộtvấn đề hết sức đơn giản, nếu thiên về tập trung quá sẽ dẫn đến quan liêu, độcđoán, cửa quyền, không phát huy được sự sáng tạo và sức mạnh của quầnchúng; ngược lại quá thiên về dân chủ dễ dẫn đến tự do quá trớn, lỏng lẻo kỷcương Trong thực tiễn quản lý cần phải kết hợp hài hoà giữa tập trung và dânchủ, sử dụng quyền tập trung và quyền dân chủ đúng lúc, đúng chỗ với tinhthần dám quyết, dám làm, dám chịu trách nhiệm

- Đảm bảo tính khoa học và thực tiễn: Nguyên tắc này đòi hỏi người

quản lý phải nắm được quy luật phát triển của bộ máy, nắm vững

được quy luật tâm lý của quá trình quản lý, hiểu rõ thực tế địa phương, thựctiễn của ngành, đảm bảo tính kết hợp hài hoà giữa lợi ích tập thể và lợi ích cánhân và các yêu cầu đòi hỏi trước mắt và lâu dài của nhiệm vụ, mục tiêu giáodục và đào tạo đề ra, biết dựa trên các vấn đề

Trang 19

thực tiễn để phân tích, tổng hợp các dữ kiện một cách khoa học, biện chứng,trên cơ sở đó đưa ra những biện pháp hữu hiệu trong hoạt động quản lý.

- Đảm bảo tính Đảng: Ở Việt Nam, Đảng là biểu hiện sức mạnh, ý chí

của nhân dân và là Đảng cầm quyền duy nhất, vì thế trong quản lý, hơn bao giờhết phải luôn bám sát, thể hiện rõ và tuân thủ chủ trương,

đường lối, chính sách của Đảng trong hoạt động quản lý

1.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường

1.2.1 Quản lý giáo dục: là một khái niệm quản lý chuyên ngành, người ta

nghiên cứu nó trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung Khái niệm quản

lý cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến kháiniệm quản lý giáo dục trong phạm vi quản lý một hệ thống giáo dục chung màhạt nhân là hệ thống các trường học

Trước tiên chúng tôi đề cập đến một số quan niệm về quản lý giáo dụccủa các tác giả trong và ngoài nước:

*Quan niệm của các tác giả nước ngoài

- Theo M.I.Kônđacôp: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp kếhoạch hoá nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thốnggiáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về

bộ đến trường, đến các cơ sở giáo dục) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục

xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quyluật chung của chủ nghĩa xã hội cũng như vận

Trang 20

dụng những quy luật chung của quá trình xã hội, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em, thiếu niên và thanh niên”.

*Quan niệm của các tác giả trong nước

- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục thực chất là tác

động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học theođường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất nhàtrường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiếnlên trạng thái chất lượng mới

- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là

hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc

đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Quản lýgiáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lýnhằm đưa hoạt động giáo dục đạt kết quả mong muốn

- Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là hệ thống tác

động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thốnggiáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dụccủa Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa ViệtNam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệgiáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất [32]

Các quan điểm trên tuy có những cách diễn đạt khác nhau, nhưng đều

toát lên bản chất của quản lý giáo dục: đó là sự tác động có tổ chức, có tính định hướng, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục

ở cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định.

Quản lý giáo dục với tư cách là một bộ phận của quản lý xã hội, đã xuấthiện từ lâu Quản lý là một thuộc tính tất yếu, bất biến và nội tại của mọi hoạtđộng trong quá trình lao động xã hội, nó có tầm quan

Trang 21

trọng đối với bất cứ hoạt động nào của con người Quản lý giáo dục có thểđược hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau, tuỳ ta xác định đối tượng quản lý Ở đâychúng ta chỉ là quản lý giáo dục là quản lý quá trình giáo dục đào tạo, trong

đó có quá trình dạy học diễn ra ở các cơ sở khác nhau của giáo dục

Quản lý giáo dục còn được hiểu như là một tập hợp những biện pháp về

tổ chức, phương pháp, nội dung giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, nhằm bảo

vệ sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảođảm sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng và chất lượng

Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợpcác lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầuphát triển của xã hội Một quan điểm nữa về quản lý giáo dục có thể đưa ra ởđây là: quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ýthức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cảcác khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế

hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà cho họ Trên cơ sở nhậnthức và sử dụng các quy luật chung vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng nhưnhững quy luật khách quan của quá trình giáo dục, của sự phát triển về thểchất và tâm lý của thế hệ trẻ Khi nói đến giáo dục phải nhận thức hệ thốnggiáo dục là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống xã hội Các quátrình giáo dục thường được trải ra theo thời gian dài, những phẩm chất, nhữngnhân cách của học sinh mà giáo dục đang đào tạo ngày nay phải đáp ứngđược những yêu cầu của hiện tại và của ngày mai khi học sinh

đi vào cuộc sống Các hiện tượng giáo dục bao giờ cũng là các hiện tượng đặcbiệt phức tạp, chính vì vậy quản lý giáo dục đòi hỏi vừa có tính cụ thể vừa

Trang 22

Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướng cảitiến nhằm mục đích tăng cường phân cấp quản lý bên trong nhà trường vớinhững trách nhiệm và quyền hạn rộng rãi hơn để thực hiện nguyên tắc giảiquyết vấn đề tại chỗ.

+ Quản lý giáo dục (nghĩa rộng) là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vựcgiáo dục Ngày nay lĩnh vực giáo dục mở rộng hơn nhiều so với trước do chỗ

mở rộng đối tượng giáo dục từ thế hệ trẻ sang người lớn và toàn xã hội Tuynhiên giáo dục thế hệ trẻ vẫn là bộ phận nòng cốt của lĩnh vực giáo dục cho toàn

xã hội

+ Quản lý giáo dục (nghĩa hẹp) chủ yếu là quản lý giáo dục thế hệ

trẻ ở các nhà trường, giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân

Quản lý giáo dục bao gồm 2 mặt lớn là quản lý nhà nước về giáo dục vàquản lí nhà trường và các cơ sở giáo dục khác Quản lý giáo dục là việc thựchiện và giám sát những chính sách giáo dục, đào tạo trên cấp độ quốc gia,vùng, địa phương và cơ sở

Quản lý giáo dục còn là một ngành, một bộ môn khoa học có tính liênngành nhằm vận dụng những khoa học quản lí sao cho phù hợp với nhu cầu

và đặc điểm của các hệ thống giáo dục

1.2.2 Quản lý nhà trường:

Nhà trường nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân và hệ thống xã hội

Vì vậy nó luôn luôn có mối quan hệ qua lại và tác động với môi trường xãhội

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: "Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của

xã hội, thực hiện chức năng tạo nguồn cho các yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân cho tương lai Với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, nó là

tế bào chủ chốt của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ trung ương đến địa phương" Tác giả còn cho rằng: "Nhà trường của

Trang 23

thế kỷ XXI là nhà trường của nền kinh tế tri thức, của xã hội tri thức, vì vậyviệc tổ chức và quản lý nhà trường phải dựa trên một cơ sở "động", biết họchỏi để phát triển" [7,37]

Quản lý nhà trường chính là bộ phận của quản lý giáo dục Theo tác giảPhạm Minh Hạc: Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy

và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khácdần dần tiến tới mục tiêu giáo dục Ông cũng cho rằng: Quản lý nhà trường,quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học Có tổ chức được hoạt độngdạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xãhội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dụccủa Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhândân, của đất nước

Hoạt động quản lý của nhà quản lý là phải làm thế nào để các thành tốcon người, tinh thần, vật chất vận hành, liên kết chặt chẽ với nhau đạt đến kếtquả mong muốn Hiệu trưởng là người quản lý cao nhất của nhà trường

Quản lý nhà trường theo nghĩa hẹp có thể hiểu là quản lý tất cả các hoạtđộng diễn ra trong nhà trường, đảm bảo đưa chất lượng giáo dục và đào tạocủa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác nhằm đạt được mục tiêuphát triển giáo dục đào tạo của cấp học trung học phổ thông đã định của nhàtrường Theo điều 58 Luật giáo dục (Tr.21) bao gồm:

- Quản lý công tác tuyển sinh

- Quản lý chương trình giáo dục và đào tạo do Bộ quy định

- Quản lý hoạt động dạy và học

- Quản lý con người tham gia hoạt động dạy và học

- Quản lý cơ sở vật chất, điều kiện thiết yếu phục vụ hoạt động dạy

học

- Quản lý chất lượng đầu ra

Trang 24

+ Chức năng quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trường là nhữngnhóm nhiệm vụ quản lý khác nhau của tập hợp các nhiệm vụ cụ

thể về quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trường

Chức năng quản lý hoạt động dạy và học bao gồm 4 nội dung:

- Xây dựng kế hoạch quản lý dạy học

- Chỉ đạo thực hiện

- Tổ chức thực hiện

- Kiểm tra đánh giá chất lượng dạy học

+ Nội dung cơ bản quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trường Trên

cơ sở nhiệm vụ quản lý trường học, quản lý hoạt động dạy và

học trong trường trung học phổ thông tập trung chủ yếu vào các nội dung:

- Xây dựng kế hoạch và quản lý kế hoạch dạy học

Kế hoạch dạy học là một bộ phận của kế hoạch năm học, trong đó baohàm các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu, nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ cụ thể,biện pháp tổ chức thực hiện, chương trình thực hiện, thời gian, tiến độ vàphân công thực hiện, được cụ thể hoá trong từng tháng, từng tuần Kế hoạchdạy học của nhà trường được triển khai thành kế hoạch của các tổ, nhómchuyên môn và cá nhân Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ, nhóm trưởngchuyên môn có trách nhiệm giám sát, đôn đốc chỉ đạo cấp mình phụ tráchthực hiện đúng kế hoạch

- Tổ chức kiểm tra đánh giá chất lượng hoạt động dạy và học.

Được tiến hành bằng các hình thức dự giờ, thăm lớp, phiếu hỏi,

kiểm tra khảo sát đầu năm, kiểm tra viết giữa kỳ, kiểm tra cuối kỳ và cuốinăm Các biện pháp thường tiến hành là kiểm tra xác suất, kiểm tra định kỳ,kiểm tra đột xuất, kiểm tra có báo trước và kiểm tra toàn diện

Mục đích của các biện pháp này nhằm phát hiện đúng, đánh giá sát nhấtnăng lực thực tế của giáo viên và chất lượng thực của hoạt động

Trang 25

dạy, học; đồng thời phát hiện những điểm yếu, những bất cập về chất lượng

do quá trình chỉ đạo và thực hiện có sai lệch hoặc phát sinh từ thực tế biếnđộng ngoài dự kiến

Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác giáodục thế hệ trẻ một cách toàn diện Nó là thành tố cấu thành hệ thống giáo dụccủa quốc gia Nói cách khác, trường học là thành tố khách thể cơ bản của tất

cả các cấp quản lý giáo dục lại vừa là một hệ thống độc lập tự quản của xãhội

Chất lượng giáo dục chủ yếu do các trường tạo nên, bởi vậy khi nói đếnquản lý giáo dục phải nói đến quản lý nhà trường cùng với việc quản lý chung

hệ thống giáo dục

Trong quản lý nhà trường nó có hai loại tác động cơ bản: tác động củanhững chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường và tác động củanhững chủ thể quản lý bên trong nhà trường

Quản lý nhà trường phổ thông là tập hợp những tác động tối ưu của chủthể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác, nhằm tận dụngnguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao độngxây dựng vốn tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường

và tiêu điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượngmục tiêu và kế hoạch đào tạo đưa nhà trường tiên lên một trạng thái mới

1.3 Cơ sở lý luận của khoa học quản lý GDTC.

- Quản lý TDTT góp phần đắc lực vào việc thực hiện mục tiêu xã hộicủa Đảng và Nhà nước, xúc tiến quá trình xã hội qua đó xác định những mụctiêu thực tế có nhu cầu cho TDTT phối hợp với các cơ quan nhà nước đảm bảocác điều kiện cần thiết như: Công tác tư tưởng, cán bộ, vật chất, kỹ thuật để giảiquyết các nhiệm vụ, mục tiêu của TDTT

Trang 26

công tác cách mạng Quản lý TDTT nhằm thoả mãn nhu cầu văn hóa thể thaocủa nhân dân và góp phần nâng cao, thoả mãn nhu cầu văn hoá tinh thần củamọi người Khi ý thức rèn luyện TDTT tốt thì đây là cơ sở để tạo niềm tin vàgóp phần đắc lực để đào tạo nhân tài thể thao cho đất nước” [4].

- Tính mục đích của quản lý TDTT được hình thành trên cơ sở nhu cầucủa xã hội về TDTT Những tác động lãnh đạo tốt TDTT chỉ đạt hiệu quả nếu

có ý thức tốt về sự phát triển TDTT, tác động các phương pháp quản lý còn làmhình thành ý thức tổ chức kỷ luật cho tập thể giáo viên, học sinh, VĐV, huấnluyện viên

- Việc thực hiện mục tiêu của xã hội hoá và thể dục thể thao phải được thểhiện qua việc quy định các quỹ thời gian, biện pháp và chỉ tác động có

ý thức, có kế hoạch thì mới tạo nên tính mục đích rõ ràng Mỗi chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước đều có mục đích rõ ràng cần thiết

- Quản lý GDTC phải đảm bảo tiến hành một cách khoa học kết hợpchặt chẽ giữa TDTT chính khoá và TDTT ngoại khóa trong đó chức năng quản

lý và giáo dục trong giờ học TDTT thể hiện: “Giờ học TDTT là một phương tiện có hiệu quả để phát triển hài hoà và cân đối những khả năng về thể lực con người, có ảnh hưởng tích cực đến những phẩm chất chính trị tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ của nhân cách con người Khoa học quản lý TDTT đã chỉ rằng, công tác GDTC trong nhà trường hay là TDTT cho thế hệ trẻ có mục đích và nhiệm

vụ chính là: Góp phần vào việc hoàn thiện khả năng nhằm đạt thành tích về thể chất –

thể thao cho các em” [3].

Trong đó mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể thao trong trường học là:

- Xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong thể thao của sinh viên

Trang 27

- Phát triển được các tố chất thể lực và trạng thái chức năng của

- Giáo dục đạo đức TDTT xã hội chủ nghĩa

Do đó, nhiệm vụ của công tác quản lý GDTC trong nhà trường phảiđưa một chương trình giảng dạy TDTT thống nhất có tính kế thừa từ lứa tuổimẫu giáo đến bậc Đại học Đồng thời, việc xác định mục tiêu công tác TDTTtrong thế hệ trẻ không nên chỉ xác định mục tiêu kiến thức mà còn phải đảmbảo tính thống nhất giữa các mặt: Kiến thức, thể lực, kỹ thuật động tác trongchương trình Cần phải đưa chương trình GDTC thành pháp lệnh Cần có kếhoạch chế độ thích hợp để động viên việc tổ chức hướng dẫn hoạt động ngoạikhoá cho sinh viên Trong công tác GDTC phải đảm bảo thực hiện tốt việctập luyện, huấn luyện, giảng dạy, thi đấu thể thao trong sinh viên Tổ chức cáccâu lạc bộ thể thao, các lớp tự huấn luyện, các đội tuyển thể thao có như vậycông tác quản lý giảng dạy và học tập GDTC trong các trường mới đạt kếtquả như mong muốn

1.3.1 Một số vấn đề chung về quản lý chương trình đào tạo.

Cải cách cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân là nhằm mục đích nâng caosức sống và sức cạnh tranh của nền giáo dục nước ta khi hội nhập kinh tếquốc tế Nhiệm vụ này tất yếu dẫn đến việc phải đổi mới toàn bộ nội dung,phương pháp dạy học, cách thức kiểm tra, đánh giá nhằm giáo dục và đào tạo

ra những con người mới hiện đại và đủ trình độ, năng lực sống và

Trang 28

làm việc trong môi trường quốc tế hứa hẹn sự hợp tác chặt chẽ giữa các thànhviên cũng như chứa đựng sự cạnh tranh khốc liệt hết sức gay gắt.

Chương trình giáo dục - đào tạo phải được đổi mới theo hướng chuẩnhoá, hiện đại hoá và liên thông giữa các bậc học để một mặt góp phần đào tạocho đất nước những thế hệ trẻ trung thực năng động và sáng tạo, phải biết hợptác và cạnh tranh lành mạnh, có hoài bão, có ý chí vươn lên tự lập thân, lậpnghiệp và góp phần đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu Mặtkhác đáp ứng được nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân, và yêu cầunâng cao khả năng hợp tác và cạnh tranh của đất nước trước thách thức củaviệc hội nhập kinh tế quốc tế, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ, người lao động cóthể chủ động học tập theo phương châm học suốt đời và có thể học lên đạihọc mà không nhất thiết phải bắt đầu ngay sau khi tốt nghiệp trung học phổthông

Quá trình đổi mới chương trình giáo dục - đào tạo cũng chính là quátrình xây dựng và hoàn thiện hệ thống chuẩn quốc gia nhằm tiếp cận với trình

độ tiên tiến của khu vực và thế giới, đồng thời cũng là quá trình tiếp nhận cóchọn lọc những chương trình, giáo trình tiên tiến đảm bảo phù hợp với mụctiêu yêu cầu và thực tiễn giáo dục nước ta để xây dựng một hệ thống chươngtrình đa dạng, mềm dẻo, linh hoạt, tiên tiến và hiện đại, liên thông giữa cáctrình độ đào tạo, có khả năng chuyển đổi các cơ sở giáo dục nước ngoài

1.3.2 Chương trình đào tạo GDTC.

Chương trình đào tạo GDTC là văn bản chính thức quy định mục đích,mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kĩ năng, cấu trúc tổng thể các bộmôn, giữa lí thuyết và thực hành, quy định phương thức, phương pháp,phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáodục và đào tạo

Trang 29

Chương trình đào tạo là căn cứ để xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ,xây dựng giáo trình, tài liệu khoa học, lập dự trù kinh phí, xây dựng cơ sở vậtchất Đồng thời cũng là căn cứ đển giám sát, kiểm soát và thanh tra đánh giákết quả đào tạo và phê duyệt các văn bằng tốt nghiệp.

- Chương trình bộ môn: Văn bản nhà nước quy định đổi mới từng môn

học về mục tiêu, yêu cầu, nội dung, khối lượng kiến thức và kỹ

năng, kế hoạch phân bổ, thời lượng cần thiết, phương pháp thích hợp, phươngtiện tương ứng theo từng cấp học, bậc học

Chương trình bộ môn của mỗi lớp (năm) học được trình bày theo trình tựchương, mục, chủ đề, vấn đề song song với bảng thời lượng tương ứng Nộidung kiến thức và kĩ năng kiến thức được sắp xếp liền kề nhau và chia làmphần cứng có tính chất bắt buộc đối với toàn thể học sinh và phần mềm cótính chất không bắt buộc mà chỉ dành cho những học sinh khá và giỏi tựnguyện lựa chọn thêm cho riêng mình

+ Giáo dục nội khoá: hình thức tổ chức hoạt động giáo dục chủ yếu trongnhà trường thông qua các giờ lên lớp theo từng thời khoá biểu các môn họcquy định trong chương trình Người dạy có nhiệm vụ thực hiện nghiêm túc vàđầy đủ mục đích, yêu cầu, nội dung Phương pháp của bộ môn về giáo dụcnội khoá nhằm đạt chất lượng và hiệu quả theo những chuẩn mực đã banhành

Giáo dục nội khóa cần biết kết hợp với giáo dục ngoại khoá để thực hiệnmục tiêu giáo dục và đào tạo con người mới có nhân cách phát triển toàn diện

+ Giáo dục ngoại khóa: hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờlên lớp nhằm hỗ trợ cho giáo dục nội khóa, góp phần phát triển và hoàn thiệnnhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và tài năng sáng tạo của học sinh, sinh viên

Trang 30

Nói chung giáo dục ngoại khoá rất phong phú và đa dạng thể hiện quacác công tác xã hội, văn nghệ, TDTT,…nhờ đó các kiến thức tiếp thu được ởtrên lớp có cơ hội được áp dụng củng cố, mở rộng thêm trên thực tế, đồngthời có tác dụng nâng cao hứng thú học tập nội khoá.

Giáo dục thể chất quan hệ với các bộ môn khác, với các mặt giáo dụckhác nên cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ để tất cả cùng hướng tới sựphát triển hài hoà giữa thể chất và tình thần của nhân cách học sinh

Hình thức tổ chức và phương pháp GDTC rất phong phú và đa dạng Bêncạnh những giờ học, giờ tập có hệ thống theo từng chương trình của bộ mônthể dục thì các hoạt động vui chơi, thể dục thể thao, tham gia du lịch, tham gialao động sản xuất và lao động công ích…đều có tác dụng GDTC tích cực Thểchất tốt là cơ sở tâm sinh lý đầu tiên và thuận lợi cho sự phát triển các mặtgiáo dục khác của nhân cách

1.3.3 Khái niệm cơ bản của Giáo dục thể chất

Các nhà Triết học Xôcrát (Socrate) và Arixtốt (Aristote), diễn giảDémosthène, nhà văn Lukian và các vĩ nhân khác đã đánh giá cao ý nghĩa lớnlao của giáo dục thể chất và khâm phục sự biểu hiện sức mạnh, lòng dũngcảm và hào hiệp Quan điểm của người cổ Hy Lạp về ý nghĩa các bài tập

TDTT được biểu thị qua lời nói của Arixtốt: “Không có cái

gì làm tiêu hao và phá huỷ con người hơn là sự ngưng trệ vận động” Về vị

trí của sức khoẻ và thể dục thể thao đối với xã hội và con

người Việt Nam, ngay từ tháng 3/1941 trong chương trình cứu nước của Việt

Minh, Đảng ta đã xác định: “Cần phải khuyến khích và giúp đỡ nền

thể thao quốc dân, làm cho nòi giống ngày thêm khoẻ

định ra một chương trình cứu nước toàn diện trong đó

khích và giúp đỡ nền TDTT vì sức khoẻ nhân dân và cải

mạnh” Đảng ta đã

nêu rõ cần khuyếntạo nòi giống

Trang 31

1.3.3.1 Khái niệm Giáo dục thể chất: là quá trình sư phạm nhằm giáo dục và

đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làmviệc và kéo dài tuổi thọ của con người

Trong quá trình giáo dục thể chất, hình thái và chức năng các cơ quantrong cơ thể được từng bước hoàn thiện, hình thành và phát triển các tố chấtthể lực, kỹ năng, kỹ xảo vận động và hệ thống tri thức chuyên môn Giáo dụcthể chất có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thành năng lực vậnđộng của con người

- Giáo dục thể chất là một phạm trù biện chứng của triết học Đông –Tây Nó tồn tại từ khi xuất hiện xã hội loài người và tồn tại tự nhiên như mộtnhu cầu hết sức cấp bách (bức xúc) trong những điều kiện của nền sản xuất xãhội và đời sống con người

- Giáo dục thể chất là bộ phận hợp thành quan trọng của nội dung giáodục toàn diện nhằm giúp thế hệ trẻ có những kiến thức cơ bản về

thể chất con người, giúp hình thành các kỹ năng và thói quen rèn luyện vàcủng cố sức khoẻ để làm cho cơ thể phát triển cân đối, khoẻ mạnh, ít ốm đaubệnh tật GDTC là một loại hình giáo dục chuyên biệt với đặc chưng cơ bảnchủ yếu là dạy học động tác và phát triển các tố chất thể lực của con người;tiếp thu có hệ thống những cách thức điều khiển hợp lý động tác, qua đó hìnhthành những kĩ năng, kĩ xảo vận động cơ bản và những hiểu biết có liên quan.Giáo dục các tố chất thể lực là một quá trình tác động có chủ đích nhằm nângcao năng lực vận động của con người [77]

- Giáo dục thể chất chính là một trong những hình thức hoạt động cơ bản

có định hướng sư phạm của TDTT trong xã hội, một quá trình tổ

chức truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục chung

Trang 32

Hệ thống giáo dục thể chất là sự tổng hợp các cơ sở khoa học về quan

điểm và phương pháp luận của giáo dục thể chất, cùng với các cơ quan tổchức thực hiện và kiểm tra công tác giáo dục thể chất quốc dân

Hệ thống giáo dục thể chất nhằm mục đích phát triển hài hoà thể chất

và tinh thần con người, đáp ứng hoạt động trong lĩnh vực phát triển kinh tế và

xã hội Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội luôn tồn tại những hệ thống giáodục chung trong đó có giáo dục thể chất

Những yếu tố đặc trưng hình thành hệ thống giáo dục thể chất:

- Quan điểm, mục tiêu hệ thống tri thức

- Cấu trúc, nội dung và hình thức

- Tổ chức về phương pháp luận và phương pháp giáo dục thểchất

- Tổ chức và quản lý

1.3.3.2 Văn hoá thể chất: là một bộ phận của nền văn hoá chung, là một loại

hình hoạt động đặc biệt nhằm hình thành các tố chất thể lực, năng khiếu, tăngcường sức khoẻ và khả năng làm việc Các yếu tố cơ bản của hoạt động này làcác bài tập phát triển thể lực có liên quan chặt chẽ với quá trình hình thành,phát triển nền văn hoá, giáo dục chung của loài người Giáo dục thể chất là bộphận cấu trúc nền văn hoá thể chất

Văn hoá thể chất là một bộ phận hữu cơ của nền văn hoá xã hội có nộidung cấu trúc đặc biệt qua việc sử dụng hợp lý sự vận động, như một phươngtiện hiệu quả chuẩn bị thể lực nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế cuộc sống Điềuhoà và phát triển tình trạng sức khoẻ của con người bao gồm: Các hình thứcvận động có mục đích, sự tổng hợp các thành tựu khoa học xã hội, tự nhiêntrong việc hình thành hệ thống những phương tiện, phương pháp và điều kiệnnhằm phát triển khả năng, hoạt động của các hệ thống trong xã hội nhân đạochân chính Văn hoá thể

Trang 33

chất là một trong những phương tiện hiệu quả phát triển toàn diện và hài hoànhân cách, là yếu tố xã hội nhằm tiến tới hoàn thiện thể chất con người Sovới giáo dục thể chất, khái niệm về văn hoá thể chất rộng và tổng hợp hơn.

Thể thao là dạng hoạt động của văn hoá thể chất mang tính đặc biệt; làhoạt động văn hoá xã hội; là phương tiện và phương pháp hiệu quả củng cốsức khoẻ và hoàn thiện thể chất, chuẩn bị cho con người trong lao động vàhoạt động xã hội, phát triển phẩm chất, ý chí, đạo đức và giáo dục thẩm mỹ,

mở rộng quan hệ quốc tế, củng cố hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc, cácquốc gia

Đặc điểm của thể thao là loại hình hoạt động thi đấu là sử dụng cácphương tiện hiệu quả góp phần hình thành và hoàn thiện những năng lực thểchất, tinh thần nhất định của con người

Trong xã hội, thể thao được coi như là một yếu tố có ý nghĩa giáo dụclớn lao Thể thao được phân ra: Thể thao thành tích cao và thể thao quầnchúng Thể thao thành tích cao và thể thao quần chúng Thể thao thành tíchcao là việc sắp xếp một cách hệ thống các bài tập, chu kỳ huấn luyện, phươngtiện hướng dẫn, và các cuộc thi đấu với mục tiêu nhằm giải quyết nhiệm vụnâng cao tối đa thành tích thể thao Thể thao quần chúng là các bài tập về một

số môn thể thao theo hướng tích cực về mở rộng phạm vi số lượng người tập,gồm những bào tập thể chất dưới các hình thức đa dạng (thể dục thể hình,điền kinh nhẹ, bơi, du lịch, các bài tập theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể…)với mục đích nghỉ ngơi tích cực, loại trừ sự căng thẳng thần kinh, củng cố sứckhoẻ, nâng cao khả năng làm việc và đạt được sự hoàn thiện thể chất trên cơ

sở tiêu chuẩn rèn luyện thân thể (RLTT) và đẳng cấp vận động viên

1.3.3.3 Phong trào thể thao: là một hình thức đặc biệt của các loại hoạt động

Trang 34

và phát triển thể thao trong nhân dân Phong trào thể thao là hoạt động có tínhmục đích của các tổ chức Nhà nước, xã hội, nhằm phát triển thể dục thể thao.Phong trào thể thao là một bộ phận hoạt động văn hoá, giáo dục, có vị trí vàchức năng quan trọng trong giáo dục hài hoà về nhân cách và thể chất conngười.

1.3.3.4 Phát triển thể chất: là quá trình hình thành, biến đổi tuần tự theo quy

luật về các mặt hình thái chức năng và cả những tố chất thể lực và năng lựcvận động Chúng được hình thành “ trên” và “trong” cá nhân tạo thành( điềukiện bên trong, bên ngoài) và sự biến đổi của nó theo một số quy luật về tính

di chuyền và khả biến, sự phát triển theo lứa tuổi, giới tính, sự thống nhất hữu

cơ giữa cơ thể và môi trường…Để thực sự có phát triển thể chất phải có thêmnhiều tác động của nhiều yếu tố khác, trong đó có GDTC Như vậy có thể nóiphát triển thể chất là hệ quả của GDTC

Các chỉ số đánh giá trình độ phát triển thể chất là: chiều cao, cân nặng,lồng ngực, dung tích phổi… và đồng thời là mức độ phát triển các tố chất thểlực, năng lực và khả năng chức phận cơ thể con người

1.3.3.5 Chuẩn bị thể lực: là một nội dung của một quá trình giáo dục thể chất

đây là hoạt động chuyên môn hoá nhằm chuẩn bị cho con người học tập, laođộng và bảo vệ tổ quốc Thí dụ có thể phân ra: chuẩn bị thể lực cho vận động

viên, phi công, phi công vũ trụ, học sinh trường học nghề… 1.3.3.6 Trình độ thể lực: là kết quả của quá trình chuẩn bị thể lực, kỹ năng vận động, nâng cao

khả năng làm việc của cơ thể để tiếp thu hoặc thực hiện một loại hình hoạtđộng của con người Mức độ phù hợp của trình độ thể lực để thực hiện mộthoạt động nào đó gọi là sự sẵn sàng thể lực

1.3.3.7 Hoàn thiện thể chất: là mức độ quy định có tính chu kỳ tiết học và

thời gian về sức khoẻ, phát triển toàn diện năng lực thể chất, để phù hợp vớinhững yêu cầu hoạt động của con người trong những điều kiện

Trang 35

cụ thể của lao động sản xuất, quốc phòng, đời sống, xã hội nhằm đảm bảonăng suất lao động cao, và kéo dài tuổi thọ.

Các chỉ tiêu đặc trưng của quá trình hoàn thiện thể chất được xác địnhbởi những nhu cầu và điều kiện sống xã hội trong mỗi giai đoạn phát triểnlịch sử khác nhau Vì vậy có sự biến đổi thường xuyên phù hợp với mức độphát triển kinh tế, văn hoá, xã hội đương thời

1.3.3.8 Học vấn thể chất: là xác định bởi tri thức chung, các hệ thống kỹ

năng, kỹ xảo phong phú để điều khiển mọi hoạt động cơ thể trong không gian

và thời gian, biết sử dụng các kỹ năng, kỹ xảo vận động trong những điềukiện sống và hoạt động khác nhau của con người

1.4 Khái niệm giảng viên, dạy – học.

1.4.1 Khái niệm giảng viên.

Giảng viên là viên chức của ngành giáo dục, là nhà giáo Theo điều Luật giáo dục: [5]

16-1 Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục ở các nhà trườnghoặc ở cơ sở khác

2 Nhà giáo phải có đủ các tiêu chuẩn sau đây:

a Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt

b Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ

c Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp

d Lý lịch bản thân rõ ràng

3 Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở mầm non, giáo dục phổ thông, giáodục chuyên nghiệp gọi là giáo viên, ở các cơ sở giáo dục đại học và sau đại họcgọi là giảng viên [5]

1.4.2 Khái niệm dạy – học.

Để tồn tại và phát triển, cá nhân cần có khả năng thích ứng với sự thayđổi môi trường sống Muốn vậy cá nhân đó phải chuyển hoá được những kinh

Trang 36

Học là quá trình tương tác giữa cá thể với môi trường, kết quả là dẫn đến

sự bền vững về nhận thức, thái độ hay hành vi của cá thể đó [14]

Mỗi cá nhân muốn tồn tại và phát triển thì phải học Mặt khác , để tồntại và phát triển xã hội cũng cần phải truyền lại cho thế hệ sau những kinhnghiệm đã được thế hệ trước sáng tạo và tích luỹ tức là phải dạy Cùng vớisản xuất việc dạy thế hệ sau là hai phương thức cơ bản để xã hội tồn tại vàphát triển.(14)

Dạy là sự truyền lại của thế hệ trước cho thế hệ sau những kinh nghiệm

mà xã hội đã sáng tạo và tích luỹ được qua các thế hệ [14]

Học là quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cáchchọn nhập và xử lý thông tin lấy từ môi trường xung quanh

Dạy là việc giúp cho người học tự mình chiếm lĩnh những kiến thức kỹnăng và hình thành hoặc làm biến đổi những tình cảm, thái độ [14]

1.5 Quản lý đội ngũ giảng viên nói chung và giảng viên thể dục thể

thao nói riêng.

1.5.1 Đặc điểm lao động của đội ngũ giảng viên.

Trong dạy – học và giáo dục, người giảng viên phải dùng nhân cách tácđộng vào sinh viên Đó là phẩm chất chính trị, là sự giác ngộ về lý tưởngXHCN, là lòng yêu ngành, yêu nghề, là trình độ học vấn, là sự thành thạo vềnghiệp vụ, là lối sống cách cư xử, kỹ năng giao tiếp của người giảng viên

Lao động của người giảng viên được thể hiện ở tính đặc thù của cácthành tố của nó

- Do đối tượng lao động của giảng viên là con người mà chủ yếu lànhững thanh, thiếu niên đang lớn lên cùng với sự hoàn thiện về nhân cách; họrất nhạy cảm dưới tác động của các yếu tố: cách mạng xã hội, cách mạng khoahọc kỹ thuật công nghệ, sự phát triển như vũ bão của

Trang 37

cách mạng thông tin, của cuộc sống cá nhân trong quá trình đào tạo, đốitượng đó vừa là khách thể, vừa là chủ thể và sự tác động của người giảng viênlên đối tượng không phải lúc nào cũng đạt được kết quả như nhau Do đó, laođộng của người giảng viên không thể rập khuôn máy móc như các lao độngkhác mà người giảng viên phải biết lựa chọn, gia công lại những tác động xãhội, lựa chon các tri thức và bằng hoạt động sư phạm lựa chọn các phươngpháp dạy- học để tác động lên đối tượng (cá nhân, tập thể) sao cho quá trìnhđào tạo đạt được kết quả cao nhất Công cụ lao động của người giảng viên là:

+ Kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ: Đây là công cụ có vai trò quantrọng nhất vừa là lực lượng sản xuất vừa là công cụ lao động của người giảngviên Do đó, người giảng viên phải có trình độ học vấn nhất định để truyền thụtri thức cho sinh viên

+ Năng lực sư phạm: Phương pháp dạy – học mang tính sáng tạo,nhằm tác động đến người học có hiệu quả Giảng viên vừa phải hiểu người họcvừa phải biết nghề dạy – học để tác động đúng tới cách thức học của người học.+ Sản phẩm lao động của người giảng viên là một dạng đặc biệt,

đó là nhân cách con người Sản phẩm đó góp phần tái sản xuất sức lao động

và bổ sung vào lực lượng sản xuất của xã hội

Rõ ràng lao động của người giảng viên mang những đặc điểm riêng biệt

1.5.2 Lao động của người giảng viên mang tính chất đặc biệt.

Thật vậy, để tồn tại và phát triển xã hội loài người phải sản xuất và táisản xuất ra của cải vật chất, của cải tinh thần bằng chính sức lao động thể lực

và trí óc của mình Sức lao động là toàn bộ sức mạnh vật chất, tinh thần ởtrong mỗi con người, là nhân cách cần thiết của con người để có thể tạo rađược những sản phẩm vật chất tinh thần có ích

Trang 38

cho xã hội Để có được điều ấy thì giáo dục trong đó có giáo dục thể chất cómột vị trí rất quan trọng Lao động của người giảng viên đòi hỏi tính nghệthuật và tính sáng tạo cao.

Một nhà sư phạm Đức đã nói: “ Người thầy tồi là người mang đến chosinh viên những chân lý có sẵn, còn người thầy giỏi là người biết dạy cho sinhviên đi tìm chân lý” Thực vậy, người giảng viên không chỉ là người cung cấptri thức khoa học cho sinh viên mà còn phải là người hướng dẫn cho sinh viênphương pháp học, phương pháp tư duy để phát triển trí tuệ, người giảng viênphải là người vạch ra các con đường, các cách thức để sinh viên tìm ra chân

lý Thành quả lao động của người giảng viên không chỉ dựa vào tri thức khoahọc chuyên môn mà còn phải dựa vào tri thức khoa học giáo dục cùng với các

kỹ năng sư phạm và kinh nghiệm của bản thân đã tích luỹ được để vận dụngvào các tình huống sư phạm cụ thể một cách linh hoạt và sáng tạo Rõ ràng,dạy – học là một khoa học vừa mang tính sáng tạo, vừa mang tính nghệ thuật.Lao động của người giảng viên là nghề lao động trí óc chuyên nghiệp

Nghề lao động chân tay được ấn định trong một khoảng thời gian nhấtđịnh và có thể tạo ngay được sản phẩm lao động Còn nghề lao động trí óccủa người giảng viên không hẳn rập khuôn, đóng khung trong một giờ giảnghay trong một lớp học, một nhà trường mà là một loại lao động căng thẳng,tinh tế, đòi hỏi có tính sáng tạo Người giảng viên có thể phải trăn trở hàngtháng mỗi khi gặp phải một vấn đề khoa học hay phải giải quyết hoặc quyếtđịnh một tình huống sư phạm

Tóm lại: Thông qua những đặc điểm lao động của người giảng viên,

chúng ta thấy giảng viên cần phải có những phẩm chất và năng lực nhất địnhcủa một nhà giáo dục Do đó, người quyết định phải có kế hoạch đào tạo, bồidưỡng cũng như sử dụng và quản lý đội ngũ giảng

Trang 39

viên để họ có thể phát huy được hết tài năng, phục vụ cho sự nghiệp Giáo dục

và có sự thực hiện cam kết giữa bộ trưởng bộ GD - ĐT và bộ trưởng, chủnhiệm Uỷ ban thể dục thể thao chính thức ngày 20/6/2000 Hai ngành đã phốihợp chỉ đạo và tổ chức các hoạt động nhằm đẩy mạnh, nâng cao chất lượngGiáo dục thể chất trong trường học

Công tác Giáo dục thể chất trong các trường đại học và Cao đẳng có vịtrí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ tri thức mới,những cán bộ khoa học, có đầy đủ sức khỏe, tri thức, có phẩm chất đạo đức

và có thể hoạt động một cách độc lập sáng tạo trong chuyên ngành của mình.Thông qua các hoạt động TDTT sinh viên phát triển một cách hài hoà, cânđối, tăng cường sức khoẻ, nâng cao năng lực làm việc, nhanh chóng thíchnghi với điều kiện học tập, sinh hoạt mới

Bằng những hoạt động phong phú của mình, Giáo dục thể chất còn gópphần quan trọng trong việc rèn luyện, hình thành và phát triển cho sinh viênnhững phẩm chất ý chí, lòng dũng cảm, tính quyết đoán, kiên trì, ý thức tổ

Trang 40

dân tộc, tinh thần đoàn kết tập thể, tính trung thực thẳng thắn và cao thượng.Tạo lên nếp sống lành mạnh vui tươi đẩy lùi, xoá bỏ những hành vi xấu và tệnạn xã hội Như vậy mục tiêu của hệ thống Giáo dục thể chất trong các trườngđại học là đào tạo các cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hoá xãhội có trình độ cao, hoàn thiện về thể chất, phát triển hài hoà về mọi mặt, có

tư tưởng tác phong đạo đức xã hội chủ nghĩa, đáp ứng được yêu cầu của quátrình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Để thực hiện tốt các mục tiêu đó công tác Giáo dục thể chất trong cáctrường Đại học và Cao đẳng phải giải quyết đồng thời các nhiệm vụ cơ bản:

1 Giáo dục đạo đức XHCN, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức

kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực lành mạnh Giáo dục tinh thần tựgiác học tập và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo

vệ Tổ quốc

2 Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung

và phương pháp luyện tập TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một sốmôn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả

năng sử dụng các phương tiện để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động TDTT ở cơ sở

3 Góp phần duy trì và củng cố sức khỏe của sinh viên, phát triển cơthể một cách hài hoà, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thóixấu, tệ nạn trong cuộc sống Nhằm tận dụng thời gian và công việc có ích đạtkết quả cao trong quá trình học tập, đạt được những chỉ tiêu thể lực quy địnhcho từng đối tượng trên cơ sở tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi

4 Giáo dục óc thẩm mỹ, tạo điều kiện nâng cao trình độ thể thao, các tố chất thể lực cho sinh viên [36]

Ngày đăng: 29/10/2020, 20:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w