ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIKHOA SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ KHÁNH HOÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT TỈNH YÊN BÁI LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ KHÁNH HOÀ
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG
CẤP VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ : 60.14.05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Văn Quân
HÀ NỘI - 2007
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
1.2 Một số khái niệm công cụ 5
1.2.1 Biện pháp quản lý 5
1.2.1.1 Quản lý 5
1.2.1.2 Biện pháp quản lý 7
1.2.2 Đội ngũ giáo viên văn hoá nghệ thuật 7
1.2.2.1 Giáo viên văn hoá nghệ thuật 7
1.2.2.2 Đội ngũ giáo viên văn hoá nghệ thuật 10
1.2.3 Chất lượng đội ngũ giáo viên 10
1.2.3.1 Chất lượng 10
1.2.3.2 Chất lượng đội ngũ 12
1.2.3.3 Chất lượng đội ngũ giáo viên 12
1.3 Những vấn đề lý luận cơ bản về đội ngũ giáo viên trong các trường Văn hoá nghệ thuật 13
1.3.1 Trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật trong hệ thống giáo dục quốc dân 13
1.3.2 Đặc thù loại hình trường đào tạo văn hoá nghệ thuật 15
Trang 31.3.3 Đặc thù đội ngũ giáo viên văn hoá nghệ thuật 16
1.3.4 Các yếu tố tạo thành chất lượng đội ngũ giáo viên trường văn hoá nghệ thuật 17
1.4 Cơ sở lý luận quản lý đội ngũ giáo viên trong nhà trường 19
1.4.1 Tuyển chọn 19
1.4.2 Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên 21
1.4.3 Quản lý hoạt động của đội ngũ giáo viên 23
1.4.4 Tạo môi trường hoạt động thuận lợi cho đội ngũ giáo viên 24
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT TỈNH YÊN BÁI 26
2.1 Khái quát về tỉnh Yên Bái, tình hình giáo dục đào tạo và hoạt động văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái 26
2.1.1 Khái quát chung tỉnh Yên Bái 26
2.1.2 Tình hình giáo dục và đào tạo tỉnh Yên Bái 27
2.1.3 Hoạt động văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái 29
2.2 Khái quát về trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái 30
2.2.1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển của trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái 30
2.2.2 Cơ cấu tổ chức của trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái 32
2.2.3 Cơ sở vật chất của trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái 35
2.3 Thực trạng công tác đào tạo ở trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái 37
2.3.1 Sự phát triển của các chuyên ngành đào tạo 37
2.3.2 Hoạt động giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh 43
2.3.3 Kết quả đào tạo 45
2.4 Thực trạng đội ngũ giáo viên và quản lý đội ngũ giáo viên
Trang 4trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái 46
Trang 52.4.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên 46
2.4.1.1 Số lượng đội ngũ giáo viên 46
2.4.1.2 Chất lượng đội ngũ giáo viên 48
2.4.1.3 Cơ cấu đội ngũ giáo viên 52
2.4.2 Quản lý đội ngũ giáo viên 53
2.4.2.1 Quản lý về số lượng và cơ cấu đội ngũ 53
2.4.2.2 Quản lý về chất lượng đội ngũ 54
2.4.2.3 Các biện pháp quản lý các điều kiện để nâng cao chất lượng đội ngũ 56
2.5 Đánh giá thực trạng 56
2.5.1 Ưu điểm 56
2.5.2 Nhược điểm 57
Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT TỈNH YÊN BÁI 59
3.1 Các định hướng để đề xuất biện pháp 59
3.2 Các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái 61
3.2.1 Nhóm biện pháp tăng cường số lượng và cơ cấu đội ngũ giáo viên 61 3.2.1.1 Quy hoạch đội ngũ giáo viên 61
3.2.1.2 Công tác tuyển chọn, sử dụng 63
3.2.1.3 Hoàn thiện về cơ cấu, loại hình, đảm bảo về số lượng đội ngũ 65
3.2.2 Nhóm biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên 66
3.2.2.1 Đào tạo đội ngũ giáo viên 66
3.2.2.2 Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên 66
3.2.2.3 Quản lý việc thực hiện bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên 74 3.2.3 Nhóm biện pháp quản lý các điều kiện đảm bảo cho sự phát triển
Trang 63.2.3.1 Đầu tư tài chính thích hợp và cần thiết để nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên 78
3.2.3.2 Cải thiện đời sống 78
3.2.3.3 Biện pháp thực hiện chế độ chính sách đối với giáo viên 79
3.3 Thăm dò ý kiến các biện pháp 79
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Khuyến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1 Các yếu tố tạo thành chất lượng đội ngũ giáo viên 18
Sơ đồ 1.2 Quy trình tuyển chọn giáo viên 20
Sơ đồ 2.1 Bộ máy tổ chức trường Trung cấp văn hoá nghệ thuật Yên Bái .33
Bảng 2.1 Thống kê quy mô đào tạo từ năm 1997 38
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp số lượng cán bộ giáo viên 47
Bảng 2.3 Cường độ giảng dạy của giáo viên 48
Bảng 2.4 Tình hình đội ngũ giáo viên 48
Bảng 2.5 Kết quả điều tra về phẩm chất năng lực chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên 50
Bảng 2.6 Đội ngũ giáo viên chia theo ngành nghề 51
Bảng 3.1 Cơ cấu tổ chức đội ngũ giáo viên trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái đến năm 2012 66
Sơ đồ 3.1 Nội dung bồi dưỡng giáo viên 70
Sơ đồ 3.2 Hình thức bồi dưỡng giáo viên 74
Sơ đồ 3.3 Quản lý việc thực hiện bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên 77
Bảng 3.2 Tổng hợp điều tra tính khả thi của các biện pháp 80
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đốivới sự phát triển của đất nước Chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vàochất lượng giáo dục- đào tạo Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp côngnghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, Đảng và nhà nước ta đã thực sự quantâm đầu tư cho giáo dục Đảng ta đã khẳng định: Cùng với khoa học côngnghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, mục tiêu của giáo dục lànâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài
Giáo dục Trung cấp chuyên nghiệp có vai trò quan trọng trong hệthống giáo dục quốc dân Việt Nam Đội ngũ giáo viên giữ vai trò quyếtđịnh chất lượng đào tạo của các trường Trung cấp chuyên nghiệp Chủ Tịch
Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Nếu không có thầy giáo thì không có giáodục” Nghị quyết Hội nghị lần thư hai Ban chấp hành Trung ương Đảngkhóa VIII đã khẳng định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng củagiáo dục và được xã hội tôn vinh”
Trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái nằm trong mạnglưới các trường trung cấp chuyên nghiệp, Cao đẳng và dạy nghề của ngànhGiáo dục & Đào tạo tỉnh Yên Bái có đủ tư cách pháp nhân, đủ điều kiện đểđào tạo các chuyên ngành Văn hoá thông tin, các loại hình nghệ thuật, cácnhóm sư phạm âm nhạc- mỹ thuật ở các bậc học Trung cấp, Cao đẳng và liênkết đào tạo Đại học, Cao đẳng cho tỉnh Yên Bái và các tỉnh phụ cận Đồngthời làm nhiệm vụ bồi dưỡng cán bộ nghiệp vụ Văn hoá xã hội, nghiệp vụ sưphạm nhạc- hoạ cho sự nghiệp văn hoá, sự nghiệp giáo dục trong tỉnh
Trong những năm qua, nhà trường đã có những chiến lược và giảipháp nâng cao chất lượng đào tạo, chuẩn hoá và nâng cao chất lượng độingũ nhà giáo nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo theo nhu cầu xã hội Bên
1
Trang 9cạnh những thành quả đã đạt được, đội ngũ giáo viên của trường còn nhiều bất cập:
- Đội ngũ giáo viên còn thiếu so với yêu cầu, đặc biệt là giáo viênchuyên ngành Nhạc – Hoạ, cơ cấu đội ngũ chưa đồng bộ nên khó
khăn trong công tác đào tạo, trong việc bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ
- Chất lượng đội ngũ còn hạn chế, trình độ chưa đồng đều giữa các
bộ môn, còn một bộ phận giáo viên hạn chế về năng lực chuyên môn
- Tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ, năng lực sư phạm củađội ngũ giáo viên chưa được tổ chức một cách có hệ thống
Xuất phát từ những bất cập nêu trên, tôi chọn đề tài “Biện pháp
quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái ” làm đề tài nghiên cứu luận văn.
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trungcấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái đáp ứng yêu cầu phát triển của nhàtrường
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài
- Phân tích thực trạng đội ngũ giáo viên trường Trung cấp Văn hoánghệ thuật tỉnh Yên Bái
- Đề xuất một số biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên, đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ giáo viên và công tác quản lý đội ngũ giáo viên của trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái
Trang 104.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung cấp Văn hoánghệ thuật tỉnh Yên Bái
5 Giả thuyết khoa học
Nếu tìm ra biện pháp khoa học và thích hợp trong việc quản lý và bồidưỡng giáo viên Văn hoá- nghệ thuật, thì sẽ giúp nâng cao chất lượng độingũ giáo viên trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái, góp phầncải thiện chất lượng giáo dục
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các Nghị quyết, văn kiện, tài liệu có liên quan đến đề tài
- Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá để xây dựng các khái niệm công cụ và khung lý thuyết cho đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bảng hỏi
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp chuyên gia
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên trường
Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái
- Chương 3: Các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ
giáo viên trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái
3
Trang 11đó để nâng cao chất lượng giáo dục, Đảng đã hết sức coi trọng việc bồidưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục.
Trong chiến lược phát triển giáo dục 2000- 2010 Chính phủ đã chỉrõ: phải “đổi mới quản lý giáo dục” coi việc “đào tạo và bồi dưỡng thườngxuyên cán bộ quản lý giáo dục các cấp về kiến thức, kỹ năng quản lý” làkhâu then chốt để thực hiện mục tiêu giáo dục
Các học giả nghiên cứu về lý luận quản lý cũng như các nhà quản lýhiện đại trên thế giới đều cho rằng chất xám là nguồn lực quan trọng nhấtquyết định sự thành bại của các tổ chức trong việc thực hiện các mục tiêuchung
Gần đây, có một số luận văn nghiên cứu vấn đề đội ngũ giáo viên và
đề xuất một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên,nhưng mới chỉ đề cập một cách chung chung, chưa đi sâu nghiên cứu vềđội ngũ giáo viên văn hoá nghệ thuật Ở tỉnh Yên Bái, vấn đề quản lý nângcao chất lượng đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giáo viên văn hoánghệ thuật nói riêng được Hiệu trưởng các trường quan tâm, song nó chỉtồn tại như những kinh nghiệm rải rác trên các sáng kiến kinh nghiệm hoặcbáo cáo tổng kết của các nhà trường, chưa có công trình nào đề cập mộtcách đầy đủ và hệ thống
Trang 12Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi muốn đi sâu hơn để xácđịnh cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và trên cơ sở đó đề xuất một số biệnpháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường Trung cấp Vănhoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái cho phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục.
1.2 Một số khái niệm công cụ
1.2.1 Biện pháp quản lý
1.2.1.1 Quản lý
Hoạt động quản lý xuất hiện từ rất sớm, khi con người biết hợp sứclại với nhau nhằm thực hiện những mục tiêu chung Xã hội ngày càng pháttriển, quản lý ngày càng có vai trò quan trọng trong việc điều khiển cáchoạt động của xã hội
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ quản lý được địnhnghĩa là: “Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhấtđịnh” [ 10, tr 396]
Quản lý là một hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủthể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêuxác định của công tác quản lý Trong mỗi chu trình quản lý chủ thể tiếnhành những hoạt động theo các chức năng quản lý như xác định mục tiêu,các chủ trương, chính sách; hoạch định kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo thựchiện, điều hoà, phối hợp, kiểm tra và huy động, sử dụng các nguồn lực cơbản như tài lực, vật lực, nhân lực…để thực hiện các mục tiêu, mục đíchmong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định
Trong tác phẩm “Lý luận quản lý nhà nước” của Mai Hữu Khuê,xuất bản năm 2003 có định nghĩa về quản lý như sau: Quản lý là một phạmtrù có liên quan mật thiết với hiệp tác và phân công lao động, nó là mộtthuộc tính tự nhiên của mọi lao động hiệp tác Từ khi xuất hiện những hoạtđộng quần thể của loài người thì đã xuất hiện sự quản lý Sự quản lý đã cótrong cả xã hội nguyên thuỷ, ở đó con người phải tập hợp với nhau để đấu
5
Trang 13tranh với thế giới tự nhiên, muốn sinh tồn con người phải tổ chức sản xuất,
tổ chức phân phối Khái niệm quản lý có ngoại diên rất rộng, từ việc ănuống đến sinh bệnh lão tử, từ cá nhân đến gia đình, từ quốc gia đến thếgiới, từ vật chất đến tinh thần, nơi nào có sự hiện diện của con người thìđều cần đến quản lý C.Mác đã coi việc xuất hiện quản lý như là kết quả tấtnhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạt, độc lập vớinhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại C.Mac đã viết: “Tất cảmọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy môtương đối lớn, thì ít nhiều đều cần đến một sự chỉ đạo điều hành những hoạtđộng cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vậnđộng của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của các khí quan độc lập với
nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạcthì cần phải có nhạc trưởng” [ 2, tr 23]
Về khái niệm quản lý còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau:
- F W Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốnngười khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốtnhất và rẻ nhất”
- Còn H Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiếtyếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động các nhân nhằm đạt được cácmục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môitrường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thờigian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”
- Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ lộc, kháiniệm về quản lý được định nghĩa như sau: “Quản lý là tác động có định hướng,
có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bịquản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mụcđích của tổ chức” [ 13, tr 62]
- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại định nghĩa: “Quản lý là hoạt động
có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao
Trang 14động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu
dự kiến” [ 22, tr 25]
Từ những quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta có thể rút ranhận xét sau: Tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng những định nghĩa trênđều thể hiện được bản chất của hoạt động quản lý đó là hoạt động quản lýnhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đã đặt ra, tiến đến trạngthái có chất lượng mới
Trong quản lý có hai bộ phận khăng khít, đó là chủ thể quản lý vàkhách thể quản lý Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay một nhóm người
có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức , làm cho tổ chức vận hành vàđạt tới mục tiêu Khách thể quản lý bao gồm những người thừa hành nhiệm
vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạtmục tiêu chung Chủ thể quản lý làm nảy sinh các tác động quản lý, cònkhách thể quản lý sản sinh ra vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trựctiếp đáp ứng nhu cầu con người, đáp ứng mục đích của chủ thể quản lý
Tóm lại, chúng ta có thể khái quát: Quản lý là hoạt động có ý thứccủa con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay mộtcộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất
1.2.1.2 Biện pháp quản lý
Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành, cách giải quyết một vấn
đề cụ thể Theo đó, biện pháp quản lý là cách thức chủ thể quản lý sử dụngcác công cụ quản lý tác động vào việc thực hiện từng khâu của chức năngquản lý trong mỗi quá trình quản lý nhằm tạo nên sức mạnh, tạo ra năng lựcthực hiện mục tiêu quản lý
1.2.2 Đội ngũ giáo viên văn hoá nghệ thuật
1.2.2.1 Giáo viên và giáo viên văn hoá nghệ thuật
7
Trang 15a) Nhà giáo và nhiệm vụ của nhà giáo
Luật Giáo dục đã ghi: “ Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy,giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác” nhằm thực hiệnmục tiêu của giáo dục là truyền thụ tri thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo vàxây dựng nhân cách cho người học
Giáo viên: là nhà giáo thực hiện hoạt động dạy học và giáo dục ở các
cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục nghề nghiệp
Tiêu chuẩn chung của nhà giáo trong luật giáo dục đã ghi:
“Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
a- Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt
b- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ
c- Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp
4- Có đủ sức khoẻ để giảng dạy.’’ [6, tr 26]
Về nhiệm vụ lại được quy định
“Giáo viên trường Trung cấp chuyên nghiệp có những nhiệm vụ sauđây:
Trang 161- Giảng dạy môn học được phân công theo kế hoạch giảng dạy,chương trình và mục tiêu đào tạo của trường Nhận xét, đánh giá kết quảhọc tập, rèn luyện của học sinh.
2- Tham gia thực nghiệm, nghiên cứu khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ,
áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào việc cải tiến nội dung bài giảng vàphương pháp giảng dạy, giáo dục học sinh
3- Thực hiện các quy định của pháp luật, điều lệ trường, quy chế vềđào tạo; tôn trọng, giúp đỡ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của học sinh
4- Rèn luyện đạo đức, học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyênmôn, năng lực sư phạm, giữ gìn phẩm chất, uy tín và danh dự của giáoviên
5- Tham gia các hoạt động văn hoá - xã hội, thực hiện nghĩa vụ côngdân và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.” [ 6, tr 27]
b) Giáo viên văn hoá nghệ thuật
Giáo viên văn hoá nghệ thuật cũng có những điểm giống giáo viênkhác, nhưng do tính chất nghề nghiệp nên có một số đặc điểm khác như sau:
- Nắm vững đường lối Văn hoá của Đảng được thể hiện ở Nghị quyếthội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt namkhoá VIII phải làm sao: “Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp củatoàn dân, do Đảng lãnh đạo, trong đó có đội ngũ tri thức đóng vai trò quantrọng” [ 8, tr 29]
- Có sự hiểu biết một loại hình nghệ thuật cụ thể, phải thành thạo cảhai khâu của môn học đó là lý thuyết và thực hành, có tố chất và năng khiếuchuyên biệt
- Có năng khiếu nghệ thuật và được đào tạo chuyên ngành giảng dạy
9
Trang 17- Nắm vững nghiệp vụ văn hoá, tổ chức hoạt động văn hoá cơ sở vớitấm lòng yêu nghệ thuật, biết rèn luyện mình theo hướng vươn tới cái đẹp vàkhắc phục cái xấu trong mỗi người.
- Đối với giáo viên âm nhạc cần có độ thính về âm thanh, nhịp điệu của giai điệu và phức điệu
- Đối với giáo viên mỹ thuật cần có óc sáng tạo và tưởng tượng phong phú, am hiểu về màu sắc và đường nét hình khối
- Đối với giáo viên sân khấu phải dùng chính hành động con người để
diễn tả cuộc sống con người, phải hiểu diễn viên vì đó là con người bằng xương bằng thịt để người giáo viên làm nên tính chất kỳ diệu của nghệ
thuật 1.2.2.2 Đội ngũ giáo viên và đội ngũ giáo viên văn hoá nghệ thuật a) Khái niệm đội ngũ
Từ điển Tiếng Việt có ghi: “Đội ngũ là khối đông người cùng chứcnăng nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng” [ 10]
Khái niệm đội ngũ dùng cho các tổ chức trong xã hội như đội ngũ trithức, đội ngũ công chức viên chức …
Khái niệm đội ngũ tuy có khác nhau nhưng thực chất đó là một nhómngười được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một haynhiều chức năng, có thể có cùng nghề nghiệp hoặc không cùng nghề nghiệp
nhưng có lý tưởng, có mục đích chung hoạt động trong một tổ chức b) Đội ngũ giáo viên
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về đội ngũ giáo viên Theo VirgilRowland cho rằng: Đội ngũ giáo viên là những chuyên gia trong lĩnh vựcgiáo dục, họ nắm vững tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như thếnào và có khả năng cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực của họ cho giáodục
Trang 18Đội ngũ giáo viên là một tập hợp những giáo viên được tổ chứcthành một lực lượng, cùng chung nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáodục đã đặt ra cho tổ chức đó.
c) Đội ngũ giáo viên văn hoá nghệ thuật
Được cụ thể hoá từ khái niệm trên, đội ngũ giáo viên văn hoá nghệthuật là một tập thể giáo viên cùng thực hiện nhiệm vụ giảng dạy chuyênngành văn hoá nghệ thuật nhằm mục đích đào tạo ra những văn nghệ sỹ,những cán bộ văn hoá
1.2.3 Chất lượng đội ngũ giáo viên
1.2.3.1 Khái niệm về chất lượng
Theo quan điểm triết học “Chất lượng là phạm trù triết học biểu thịnhững thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tươngđối của sự vật Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính, nó làcái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như mộttổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật Sự vật trongkhi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó, sự thay đổichất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản Chất lượng của sựvật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và khôngthể tồn tại ngoài tính quy định ấy, mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhấtcủa chất lượng và số lượng” [ 9, tr 137]
Theo Sallis chất lượng có thể hiểu theo hai nghĩa đó là nghĩa tuyệtđối và nghĩa tương đối
- Theo nghĩa tuyệt đối hay còn gọi là chất lượng tuyệt hảo hàm chứanhững chuẩn mực cao nhất với nghĩa chất lượng cao Chất lượng tuyệt đối
ít có ý nghĩa thực tiễn
11
Trang 19- Theo nghĩa tương đối thì một sản phẩm hay một dịch vụ được coi
là có chất lượng khi chúng đạt được những tiêu chuẩn đã được xác định từ
trước và đáp ứng nhu cầu những nhóm người nhất định
Chất lượng tương đối có hai khía cạnh: khía cạnh thứ nhất là đạtđược mục đích (phù hợp với tiêu chuẩn); khía cạnh thứ hai chất lượng đượcxem là sự thoả mãn tốt nhất những nhu cầu của người tiêu dùng, ở khíacạnh này chất lượng được xem là “điều được chấp nhận của người tiêudùng” Hai khía cạnh này của chất lượng phải dung hoà lẫn nhau, songkhía cạnh thứ hai luôn đóng vai trò chủ đạo bởi lẽ đó chính là lý do phấnđấu của các nhà sản xuất để cung cấp dịch vụ ngày càng tốt hơn
Từ những quan điểm trên, để hiểu một cách đầy đủ, chất lượng là đặctính khách quan của sự vật, được thể hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính.Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của của một khối đông ngườicùng chức năng nghề nghiệp
Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về sốlượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Mỗi sự vật baogiờ cũng là sự thống nhất của chất lượng và số lượng, có thể coi đây là chấtlượng nói chung Trong cuốn “quản lý chất lượng theo ISO 9000” thì “chấtlượng là đặc trưng của thực thể mà nó đáp ứng được nhu cầu của người tiêudùng”
Chất lượng giáo dục khác với chất lượng sản phẩm Chất lượng sảnphẩm chỉ được tiến hành kiểm tra công dụng có đáp ứng được nhu cầu củakhách hàng về sản phẩm đó hay không Chất lượng giáo dục chính là đặctính mà nhà trường và xã hội đánh giá là có giá trị và phải đạt tới
Chất lượng giáo dục là trình độ và khả năng thực hiện mục tiêu giáodục đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người học và sự phát triển toàndiện của xã hội Chất lượng giáo dục phải chăng chính là mức độ chuyểntải những tri thức kỹ năng so với những gì mà nhà sư phạm đã thực hiện
Trang 201.2.3.2 Chất lượng đội ngũ
Chất lượng đội ngũ là những phẩm chất, giá trị của một nhóm ngườiđược tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiềuchức năng, có thể có cùng nghề nghiệp hoặc không cùng nghề nghiệpnhưng có lý tưởng, có mục đích chung hoạt động trong một tổ chức Chấtlượng còn là sự kết hợp hài hoà các yếu tố về quy mô, cơ cấu và sự đồngthuận của đội ngũ
1.2.3.3 Chất lượng đội ngũ giáo viên
Chất lượng đội ngũ giáo viên là những phẩm chất, giá trị của nhữngchuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, thực hiện các mục tiêu giáo dục nhằmthoả mãn nhu cầu xã hội, hay nói khác đi đó là sản phẩm của giáo dục phảiđáp ứng được yêu cầu của xã hội, của thị trường lao động
Chất lượng đội ngũ giáo viên quyết định chất lượng đào tạo, đượcbiểu hiện tập trung nhất ở nhân cách của học sinh- những người được giáodục đào tạo Đó là trình độ hiện thực hoá hay trình độ đạt được mục tiêuđào tạo, thể hiện ở mức độ phát triển nhân cách của học sinh, sinh viên saukhi kết thúc quá trình đào tạo
1.3 Những vấn đề lý luận cơ bản về đội ngũ giáo viên trong các trường Trung cấp văn hoá nghệ thuật
1.3.1 Trường Trung cấp văn hoá nghệ thuật trong hệ thống giáo dục quốc dân
Theo Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số11/1998/ QH 10 Ngày 2/ 12/ 1998, tại điều 38 có quy định Trường Trungcấp chuyên nghiệp là cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục của nhà nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trường Trung cấp chuyên nghiệp đào tạo trình độ trung cấp giúp họcsinh có kiến thức chuyên môn và kỹ thuật thực hành cơ bản về ngành nghề,
13
Trang 21có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường phù hợp với chuyênngành đào tạo Trường Trung cấp phải tập trung đào tạo năng lực hànhnghề, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện kỹ năngtheo yêu cầu đào tạo của từng nghề, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầuđào tạo giáo dục phải phù hợp giữa kỹ năng thực hành với lý thuyết giúpngười học có khả năng hành nghề “Học sinh học hết chương trình trungcấp chuyên nghiệp, có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáodục & Đào tạo thì được dự thi và nếu đạt yêu cầu thì được Hiệu trưởng nhàtrường cấp bằng Trung cấp chuyên nghiệp” [ 7 ]
Trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật có vai trò quan trọng trongmắt xích hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam với chức năng, nhiệm vụ là:Đào tạo cán bộ quản lý nghiệp vụ văn hoá thông tin cơ sở, hướng dẫn viên
du lịch, giáo viên sư phạm Nhạc – hoạ, đào tạo cán bộ khoa học xã nhân văn theo nhu cầu khu vực Sản phẩm đào tạo giỏi về chuyên môn;trong sáng, trung thực về tư cách đạo đức; có tác phong làm việc; có nghịlực phấn đấu khổ luyện thành danh; có sức khoẻ và khả năng thao tác côngnghệ thông tin… phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của đấtnước
hội-Nhiệm vụ và quyền hạn của trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuậtđược thực hiện theo điều lệ trường Trung cấp chuyên nghiệp
- Tổ chức quá trình đào tạo và các hoạt động giáo dục khác theo mụctiêu, chương trình đào tạo các ngành, nghề được cơ quan nhà nước có thẩmquyền cho phép
- Xây dựng chương trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy trên cơ sởchương trình khung do Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành
- Tổ chức biên soạn và duyệt giáo trình của ngành nghề được phépđào tạo trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định do Hiệu trưởng thànhlập
Trang 22- Thực hiện các hoạt động thực nghiệm, nghiên cứu khoa học, ứngdụng và phát triển công nghệ, tham gia giải quyết những vấn đề phát triển kinhtế- xã hội của địa phương và đất nước.
- Thực hiện các dịch vụ khoa học, công nghệ sản xuất kinh doanhphù hợp với ngành nghề đào tạo và các nhiệm vụ khác theo quy định của phápluật
- Quản lý giáo viên, cán bộ và nhân viên
- Tuyển sinh và quản lý học sinh
- Phối hợp với gia đình học sinh, các tổ chức, cá nhân trong hoạtđộng giáo dục - đào tạo
- Tổ chức cho giáo viên, cán bộ, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội
- Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật
- Liên kết với các tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội, các cơ sở đào tạonhằm phát triển công tác đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo vớiviệc làm , phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, bổ sung nguồn tài chính chotrường
- Sử dụng nguồn thu từ ngân sách nhà nước cấp, từ hoạt động kinh tế
để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của trường, mở rộng sản xuất, kinh doanhtheo ngành, nghề và chi cho các hoạt động giáo dục, đào tạo theo quy định củapháp luật
- Hợp tác về đào tạo, nghiên cứu khoa học với nước ngoài theo quyđịnh của chính phủ
- Được nhà nước giao đất, được thuê đất, được miễm giảm thuế và vay tín dụng theo quy định của pháp luật
- Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
15
Trang 231.3.2 Đặc thù của loại hình trường đào tạo văn hoá nghệ thuật
Trường Văn hoá nghệ thuật chính là nơi ươm mầm và nuôi trồngnhững tài năng nghệ thuật, nơi phát hiện bồi dưỡng thế hệ trẻ (với một sốlượng không lớn) để trở thành những nhân tài về lĩnh vực nghệ thuật ( nhạc
sỹ, ca sỹ, nhạc công, hoạ sỹ, nhà điêu khắc, diễn viên múa, nhà biên soạn,nhà đạo diễn, diễn viên sân khấu, nhà quản lý văn hoá cơ sở…) Do vậy,trường văn hoá nghệ thuật có những nét riêng mang tính đặc thù mà ở cácloại hình trường phổ thông, trường chuyên nghiệp không có Đó là:
- Tổ chức đào tạo gồm ba loại hình: năng khiếu, chính quy, tại chức.Khác biệt nhất là đào tạo học sinh năng khiếu gồm các chuyên ngành: Âm nhạc,
mỹ thuật, múa Các em bắt đầu dự tuyển từ 14 tuổi, thời gian học là 4 năm hoặc
7 năm Học sinh vẫn học văn hoá ở trường phổ thông, song song với học nghệthuật ở trường văn hoá nghệ thuật
- Sự lựa chọn năng khiếu đầu vào hết sức nghiêm ngặt Năng khiếu
là yếu tố số 1 trong tuyển sinh ( phải có tố chất chuyên biệt)
- Số lượng đào tạo không thể quá đông, nếu không muốn nói rằng sốlượng học sinh tham gia học tập mỗi khoá mỗi năm rất hạn chế
- Hình thức giảng dạy, học tập hoàn toàn khác với các hình thứcgiảng dạy, học tập thông thường khác Có khi có bộ môn mỗi giáo viên chỉdạy 1- 2 học sinh
- Phương pháp giảng dạy mang tính chuyên biệt, số giờ thực hành lớn hơn rất nhiều so với số giờ lý thuyết
- Sự đầu tư về trang thiết bị rất lớn và phải đến từng học sinh
- Việc tổ chức thi tốt nghiệp cũng khá khác biệt, một số bộ môn họcsinh phải báo cáo tốt nghiệp bằng những tác phẩm, những vai diễn, những nhạcphẩm của mình
- Chất lượng và kiểm tra chất lượng trong từng lớp, từng cấp luôn có
hiện tượng chênh lệch với khoảng cách rộng Việc xác định chuẩn rất khó, ở
Trang 24đây có cả vấn đề học vượt cấp, vượt năm đối với những em có năng khiếunổi trội.
Bên cạnh việc đào tạo các chuyên ngành nghệ thuật đặc thù là năngkhiếu, nhà trường còn đào tạo các chuyên ngành như: Nghiệp vụ văn hoá,hướng dẫn viên du lịch, thư viện (thi tuyển môn văn, sử, nghiệp vụ), giáoviên sư phạm Nhạc- hoạ (thi tuyển môn văn, sử, năng khiếu)
Trong một trường văn hoá nghệ thuật tổng hợp nhiều loại hình nghệthuật thì lao động nghệ thuật của mỗi ngành lại có những đặc điểm riêng.Xuất phát từ những vấn đề cơ bản mang tính đặc thù nghệ thuật trên, đòihỏi người quản lý phải am hiểu về chuyên môn, nắm vững khoa học giáodục và trong thực tế cần có một sự vận dụng khéo léo, tinh tế để nâng caochất lượng đội ngũ giáo viên của trường văn hoá nghệ thuật
1.3.3 Đặc thù đội ngũ giáo viên văn hoá nghệ thuật
Cũng như các loại hình giáo viên khác, giáo viên văn hoá nghệ thuậtphải có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn và nghiệp vụ vữngvàng Ngoài ra giáo viên văn hoá nghệ thuật có những đặc thù riêng sauđây:
- Trình độ nghệ thuật và nghiệp vụ sư phạm của giáo viên phải cao
để có khả năng phát hiện và vun trồng năng khiếu nghệ thuật ở từng họcsinh
- Sự hình thành các nhóm trong đội ngũ cũng thể hiện khá rõ, mỗinhóm mang những đặc thù riêng theo phong cách nghề nghiệp, tạo thành tính đadạng của đội ngũ giáo viên trường văn hoá nghệ thuật
- Có sự kết hợp hài hoà và tinh tế giữa lao động sư phạm với laođộng nghệ thuật thì mới tạo được chất lượng trong lao động của giáo viên văn hoá nghệ thuật
17
Trang 25- Tính sáng tạo của giáo viên trong nghệ thuật cũng như trong đàotạo là một đặc trưng nổi bật và quan trọng của đội ngũ giáo viên một trườngnghệ thuật.
Chất lượng đội ngũ giáo viên có tính quyết định sự thành bại của nhàtrường, muốn phát triển giáo dục - đào tạo trong một nhà trường, trước hếtphải có đội ngũ thầy giáo giỏi Người giáo viên văn hoá nghệ thuật phải cónăng lực thực hiện những nhiệm vụ của nhà trường trên lĩnh vực chuyênmôn của mình
Một đặc điểm nổi bật khác nữa của người giáo viên văn hoá nghệthuật là phải góp phần phát triển và bảo tồn văn hoá dân tộc Trong giảngdạy, người giáo viên phải làm cho học sinh thấy được giá trị đích thực vềbản sắc văn hoá của dân tộc mình để từ đó các em biết trân trọng, giữ gìn
và phát huy tinh hoa văn hoá của dân tộc
1.3.4 Các yếu tố tạo thành chất lượng đội ngũ giáo viên trường văn hoá nghệ thuật
Tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ đổi mới đã được nêu trong Nghịquyết Trung ương ba khoá VIII của Đảng như sau:
“- Một là: Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân,kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện
có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước
- Hai là: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Không tham nhũng vàkiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có ý thức tổ chức kỷ luật Trungthực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm
- Ba là: Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm đườnglối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước; có trình độ văn hoá, chuyênmôn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả, đáp ứng
được yêu cầu nhiệm vụ được giao.” [ 5, tr 79]
Trang 26Như vậy, các tiêu chuẩn của nhà giáo và các tiêu chuẩn của cán bộ trong thời kỳ mới đều bao gồm hai thành tố cơ bản là phẩm chất và năng lực Hai thành
tố này tạo nên chất lượng của cán bộ nói chung và giáo viên nói riêng.
Chất lượng đội ngũ được tạo nên từ sự tổng hợp các chất lượng của mỗithành viên Chất lượng đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giáo viêntrường văn hoá nghệ thuật nói riêng có thể được tạo nên bởi các yếu tố sau:
- Số lượng giáo viên
- Chất lượng giáo viên
- Cơ cấu đội ngũ giáo viên
Các yếu tố đó có quan hệ với nhau để tạo thành chất lượng đội ngũ giáo viên được thể hiện bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Các yếu tố tạo thành chất lƣợng đội ngũ giáo viên
Chất
lượng GV
Số lượng GV
Chất lƣợng
đội ngũ
Cơ cấu đội ngũ
Về chất lượng giáo viên bao gồm:
- Phẩm chất chính trị, đạo đức
- Trình độ chuyên môn
19
Trang 27Có thể gộp thành hai yếu tố: phẩm chất và năng lực Phẩm chất baogồm phẩm chất chính trị và đạo đức Năng lực bao gồm năng lực chuyênmôn và nghiệp vụ sư phạm.
Như vậy, đội ngũ giáo viên được đánh giá là đảm bảo chất lượng khi:từng giáo viên có chất lượng, đội ngũ đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu
1.4 Cơ sở lý luận quản lý đội ngũ giáo viên trong nhà trường
Quản lý đội ngũ giáo viên chính là quản lý nguồn nhân lực sư phạmtrong nhà trường Mục tiêu của việc quản lý nguồn nhân lực này là huyđộng khả năng làm việc tốt nhất của mỗi giáo viên và làm cho họ hài lòng,yên tâm công tác
Mục tiêu của mọi nhà quản lý giáo dục là nhằm hoàn thành một mụctiêu mà trong đó con người có thể phát huy được khả năng của mình để đạtđược mục tiêu của đơn vị với chi phí ít nhất
Để nâng cao hiệu quả của việc quản lý đội ngũ giáo viên trong nhàtrường, người quản lý cần xây dựng mục tiêu phát triển toàn diện đội ngũgiáo viên đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường Cụ thể là đội ngũ giáoviên phải đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đảm bảo nâng cao hiệu quảhoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học của giáo viên, đáp ứng mục tiêuđào tạo của nhà trường và của hệ thống, trên cơ sở nâng cao trình độ nănglực của giáo viên, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển đội ngũ giáoviên
Quản lý và phát triển đội ngũ giáo viên là một quá trình Quá trìnhnày bao gồm hàng loạt các hoạt động từ khâu tuyển chọn đến đào tạo, bồidưỡng, sử dụng… Khi tiến hành các hoạt động trên, người quản lý cần đề
ra những điều cơ bản để quá trình phát triển đúng hướng và giúp nhà quản
lý chủ động hơn
1.4.1 Tuyển chọn
Trang 28Trên cơ sở thu thập thông tin thực tế, từ điều tra thực trạng tình hìnhđội ngũ giáo viên, lập kế hoạch dự báo về việc tuyển chọn giáo viên saocho đồng bộ về cơ cấu, đủ loại hình giáo viên, đảm bảo số lượng và chấtlượng đội ngũ, cân đối về trình độ, thuận lợi về đi lại, có sự bố trí sắp xếphợp lý khoa học và kinh tế.
Sau khi có kế hoạch tuyển dụng, tiến hành lựa chọn giáo viên phùhợp với nhu cầu của nhà trường, phù hợp với nguyện vọng cá nhân, vớimôi trường bên trong và môi trường bên ngoài
Tuyển chọn là quá trình sử dụng các phương pháp nhằm xem xét,đánh giá lựa chọn, quyết định trong số những người được tuyển dụng ai làngười đủ tiêu chuẩn làm việc trong tổ chức Tuyển chọn thực chất là sự lựachọn những người cụ thể theo tiêu chuẩn cụ thể rõ ràng do tổ chức đặt ra.Quá trình tuyển chọn được tiến hành theo các bước sau:
Sơ đồ 1.2 Quy trình tuyển chọn giáo viên
Tiế p nhận hồ sơ
Phỏng vấn sơ khảo
Khai lý lịch theo mẫu
Trắc nghiệmPhỏng vấn sâuĐiều tra về tiểu sử
Sơ tuyển
Khám sức khoẻ21
Quyết định chọn
Trang 29Việc tuyển chọn giáo viên như phần trên đã trình bày cần có quyđịnh những tiêu chuẩn cụ thể để đảm bảo cơ cấu hợp lý, đồng bộ về loạihình, đủ về số lượng và chất lượng đội ngũ.
1.4.2 Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
- Đào tạo đội ngũ giáo viên:
Theo Mạc Văn Trang: “Đào tạo là đưa từ một trình độ hiện có lênmột chất lượng mới, cấp bậc mới theo những tiêu chuẩn nhất định bằng mộtquá trình giảng dạy, huấn luyện có hệ thống (được cấp bằng)”
Đào tạo được coi là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo,thái độ nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức cho đối tượng, đáp ứng được đòihỏi , nhiệm vụ giáo dục thông qua các hình thức chính quy Đào tạo là quátrình biến đổi một con người từ chỗ chưa có nghề thành một người có mộttrình độ nghề nghiệp ban đầu, làm cơ sở cho họ phát triển thành người laođộng có kỹ thuật Như vậy, đào tạo cần có một lượng thời gian và kinh phínhất định cho nên phải có kế hoạch và tiêu chuẩn cụ thể
Hiện nay đào tạo giáo viên mới thường do các trường Sư phạm đảmtrách Vì thế các nhà quản lý địa phương cần có sự liên kết với các trường
để “đặt hàng” phù hợp yêu cầu thực tế
Mặt khác, trong quá trình phát triển của xã hội, nhà trường khôngngừng biến đổi để đáp ứng sự phát triển ấy Quá trình biến đổi này đòi hỏiđội ngũ giáo viên phải ngày càng hoàn thiện và trong trường hợp cần thiếtphải thay đổi cả ngành nghề được đào tạo ban đầu hoặc phải nâng cao trình
độ Đó chính là quá trình đào tạo lại
- Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên:
Trang 30Bồi dưỡng là một thuật ngữ hiện nay trong giáo dục được sử dụng rấtnhiều: Bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuyên đề, bồi dưỡng nâng cao,bồi dưỡng học sinh giỏi…
Có nơi, có lúc chúng ta còn dùng thuật ngữ bồi dưỡng dưới tên gọi táiđào tạo Từ điển Tiếng Việt cho rằng: Bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lựchoặc phẩm chất Còn tác giả Nguyễn Minh Đường quan niệm: “ Bồi dưỡng cóthể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậutrong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ.”
Unesco định nghĩa: “Bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao trình độ nghềnghiệp Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nângcao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đápứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”
Tóm lại, bồi dưỡng là làm tăng thêm trình độ hiện có của đội ngũgiáo viên (cả phẩm chất, năng lực, sức khoẻ) với nhiều hình thức, mức độkhác nhau Bồi dưỡng không đòi hỏi chặt chẽ, chính quy như đào tạo vàđược thực hiện trong thời gian ngắn Như vậy, chủ thể bồi dưỡng là ngườilao động đã được đào tạo và đã có một trình độ chuyên môn nhất định Bồidưỡng là quá trình bổ sung kiến thức, kỹ năng (những nội dung có liênquan đến nghề nghiệp) giúp chủ thể bồi dưỡng có cơ hội củng cố, mở manghoặc nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, chuyên môn nghiệp vụ cósẵn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc đang làm
Nội dung bồi dưỡng rất phong phú Có thể là những chương trình đổimới, bổ sung tri thức, cũng có thể là bồi dưỡng nghiệp vụ bao gồm các trithức về phương pháp giảng dạy, phương pháp và công cụ đánh giá, thiết kếchương trình, đường lối chính sách đào tạo, tâm lý học, xã hội học… Ngoài
ra còn có cả chương trình bồi dưỡng về công cụ, phương tiện cho hoạt độngchuyên môn, nghiên cứu khoa học, hoạt động xã hội, chương trình
23
Trang 31bồi dưỡng tin học, bồi dưỡng ngoại ngữ, phương pháp nghiên cứu khoahọc…
Hình thức bồi dưỡng bao gồm:
+ Bồi dưỡng thường xuyên:
Đây là hình thức đang được áp dụng rộng rãi và phổ biến nhất vì nóphù hợp với đặc điểm công việc của giáo viên và điều kiện của các trường
cơ sở Nhất là việc bố trí thời gian để giáo viên tự bồi dưỡng, tự nghiên cứucác nội dung học tập và liên hệ thực tế vào bài học cụ thể Việc học tập bồidưỡng thông qua các hội nghị khoa học, chuyên đề, hội thảo, xêmina khoahọc, các đợt tập huấn
+ Bồi dưỡng định kỳ:
Giúp cho người dạy vượt qua sự lạc hậu về tri thức do không đượccập nhật tri thức thường xuyên
+ Bồi dưỡng nâng cao:
Đây là hình thức bồi dưỡng áp dụng cho các đối tượng nòng cốttrong tổ chức nhằm phát huy tiềm năng lao động và làm hạt nhân cho sựphát triển của đơn vị
1.4.3 Quản lý hoạt động của đội ngũ giáo viên
Hoạt động dạy và học là hoạt động cơ bản của nhà trường Quản lýhoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh là công việc hếtsức quan trọng của nhà quản lý
Giáo viên vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể quản lý của quátrình đào tạo Quản lý hoạt động của giáo viên thực chất là kiểm tra việcthực hiện các nhiệm vụ của đội ngũ Theo dõi, đánh giá kết quả thực hiệncác nhiệm vụ giảng dạy- giáo dục của từng giáo viên Chỉ đạo, đánh giá kếtquả thực hiện việc học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên, cho từng giáo viên để nắm được
Trang 32những những điểm mạnh, điểm yếu về chuyên môn cũng như phẩm chất đạo đức, chính trị của giáo viên.
Quản lý hoạt động của giáo viên được thực hiện theo các biện pháp:
- Giao nhiệm vụ giảng dạy ngay từ đầu năm học, dùng các biện pháp hành chính, tổ chức để quản lý Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện của giáo viên.
- Tổ chức kiểm điểm, nhận xét, đánh giá cuối năm Kết hợp sử dụngcác biện pháp hành chính với các biện pháp khuyến khích “dạy tốt học tốt” Nhàquản lý tổ chức hướng dẫn học sinh góp ý thêm về quá trình giảng dạy của giáoviên bằng hình thức phát phiếu điều tra hay nhiều hình thức khác
Sử dụng đội ngũ giáo viên là một hoạt động quyết định sự thànhcông trong việc quản lý đội ngũ giáo viên Sử dụng tốt, đúng người đúngviệc, phát huy năng lực vốn có của giáo viên là tiền đề cho việc nâng caochất lượng giảng dạy Đồng thời người quản lý cũng cần chú ý đến nănglực từng cá nhân và khai thác tốt tiềm năng của mỗi cá nhân, thực hiện tốtchức năng quản lý bằng kế hoạch của Hiệu trưởng
Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn của đội ngũ giáo viên cũng
có vai trò hết sức quan trọng với mục đích là nâng cao năng lực, phẩm chấtchuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên Trong hoàn cảnh hiện nay,ngành Giáo dục & Đào tạo đang đứng trước yêu cầu phát triển, giải pháp thenchốt vẫn là: “Nâng cao năng lực đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”[ 8 ] Trong đó đội ngũ giáo viên phải được tăng cường bồi dưỡng thườngxuyên tại các nhà trường là khâu then chốt để nâng cao chất lượng giáo dục,đúng như quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
1.4.4 Tạo môi trường hoạt động thuận lợi cho đội ngũ giáo viên
Với những nội dung quản lý hoạt động của đội ngũ giáo viên như đãnêu ở trên, nhà quản lý phải luôn bám sát yêu cầu của công cuộc đổi mớitrong giáo dục để tạo môi trường hoạt động thuận lợi cho đội ngũ giáo
25
Trang 33viên Cụ thể là xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn chung bao gồm
cả bồi dưỡng về chuyên môn, về phương pháp dạy học bộ môn và phươngpháp tự bồi dưỡng Đồng thời hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch tựbồi dưỡng chuyên môn và có biện pháp hữu hiệu để quản lý hoạt động tựhọc, tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên, bởi vì cốt lõi của hoạt độngbồi dưỡng là tự bồi dưỡng
Để tạo môi trường cho hoạt động bồi dưỡng chuyên môn thì nhàquản lý cần thường xuyên tổ chức đa dạng các hình thức hoạt động nhằmthu hút tối đa sự tham gia của giáo viên Tổ chức đăng ký giáo viên giỏi cáccấp nhằm định hướng việc xây dựng lực lượng giáo viên nòng cốt cho tổ,nhóm chuyên môn Tổ chức các hoạt động kiến tập, thực tập, hội giảng, xâydựng các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, tổ chức cho giáo viêntham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, giúp đỡ giáo viên mới ratrường, giáo viên yếu kém vươn lên về chuyên môn Tạo mọi đều kiện đểcác giáo viên có thể thường xuyên tham khảo sách báo, các trang thiết bịcập nhật thông tin về khoa học giáo dục, được tham gia các hoạt động giaolưu học hỏi, đúc rút kinh nghiệm
Các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn vừa dựa trên cơ sở kế hoạchbồi dưỡng thường xuyên của cấp trên, vừa gắn với thực tế của đơn vị vàphải được tổ chức thường xuyên vì sự phát triển của đội ngũ
Trang 35CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT TỈNH YÊN BÁI 2.1 Khái quát chung về tỉnh Yên Bái
2.1.1 Khái quát chung về tỉnh Yên Bái
Yên Bái là một tỉnh miền núi, cửa ngõ phía Tây Bắc tổ quốc với tổngdiện tự nhiên 6.882,92 km2, phía đông giáp với tỉnh Tuyên Quang; phía tâygiáp với tỉnh Sơn La; phía nam giáp với tỉnh Phú Thọ; phía bắc giáp vớitỉnh Lào Cai và Lai Châu Dân số tính đến năm 2004 là 723.480 người, dựbáo năm 2010 là 770.000 người gồm 30 dân tộc anh em chung sống YênBái có 01 thành phố, 01 thị xã và 07 huyện Tỉnh Yên Bái là đầu mối củatuyến giao thông giữa Đông bắc- Tây bắc, từ Hà Nội lên cửa khẩu Lào Caisang Trung Quốc, đặc biệt là tuyến giao thông đường sắt, đường bộ vàđường sông nối từ Hải Phòng, Hà Nội, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai – CônMinh (Trung Quốc) sẽ là điều kiện thuận lợi để phát triển giao lưu kinh tếvăn hoá với các tỉnh trong vùng, thành phố Hà Nội, thành phố Hải phòng
và tỉnh Vân Nam- Trung Quốc
Khí hậu nhiệt đới gió mùa phù hợp phát triển kinh tế nông nghiệp vàmôi trường sinh thái Cơ cấu kinh tế hiện nay của tỉnh Yên Bái là kinh tếnông, lâm nghiệp và dịch vụ du lịch
Nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái nhiều thế hệ đã xây dựng nên mộtnền văn hoá đa dân tộc đặc sắc, truyền thống, hiếu học, đoàn kết gắn bócộng đồng các dân tộc anh em Lịch sử và văn hoá này đã làm nên một địaphương miền núi đậm tính nhân văn và truyền thống đấu tranh giữ nước,đấu tranh xây dựng cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Bên cạnh đó, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã xây dựng được mộtmối quan hệ hợp tác gắn bó trên mọi phương diện với các tỉnh bạn Tây bắc,
Trang 36các tỉnh bạn dọc sông Hồng và các tỉnh bạn Vân Nam- Trung Quốc YênBái là một tỉnh có nguồn lực về Văn hoá du lịch như:
- Vùng du lịch sinh thái Thác Bà nằm trên tuyến sông Chảy thuộc haihuyện Lục Yên và Yên Bình
- Vùng kinh tế du lịch Mường Lò phía tây tỉnh Yên Bái thuộc địabàn huyện Văn Chấn; thị xã Nghĩa Lộ có cánh đồng Mường Lò, cánh đồng Tú
lệ, chè tuyết Suối giàng, dải núi Khau phạ dài 20 km
- Di tích lịch sử nổi tiếng tham gia vào các hoạt động văn hoá dulịch: Lăng mộ Nguyễn Thái Học, di tích Chiến khu vần, căng đồn Nghĩa lộ
- 30 thành phần dân tộc phân bố ở khắp các huyện, thị, thành phố, Trong
đó 2 huyện Mù Cang Chải và Trạm Tấu có 98% dân số là dân tộc H’mông.Các dân tộc thiểu số vẫn giữ nguyên bản và đậm màu sắc dân tộc mình.Các dịp lễ hội lớn hàng năm của các dân tộc là dịp để khách thập phươngđến với Yên Bái tìm hiểu thưởng thức giá trị văn hoá đậm đà vùng cao
- Nguồn nhân lực: Dân số 723.480 người Nam 50,2% - Nữ 49,8%
Nông thôn 580.978 – Thành thị 142.502Trình độ lao động nhìn chung là thấp Tỉnh Yên Bái đã có chủ trương
“Chính sách phát triển nguồn nhân lực” trong đó chú trọng đầu tư đào tạonghề, đào tạo cán bộ đại học, cao đẳng và sau đại học đáp ứng nhu cầunhân lực
Kinh tế: tỉnh Yên Bái hiện đang đứng thứ 7 về tốc độ tăng trưởngkinh tế, đứng thứ 7 về thu nhập bình quân đầu người so với 10 tỉnh trongvùng
2.1.2 Tình hình giáo dục và đào tạo tỉnh Yên Bái
29
Trang 37Ngành Giáo dục - Đào tạo hiện nay đã phát triển thành một hệ thống.Tỉnh Yên Bái tương đối hoàn chỉnh với các cấp học, bậc học từ mầm non,phổ thông, các cơ sở dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng.
Trong 10 năm từ 1996 đến 2006 quy mô giáo dục và Đào tạo pháttriển ở tất cả các ngành học, bậc học Năm 1997 tỉnh Yên Bái được côngnhận đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học – xoá mù chữ Số liệu đếntháng 9 năm 2006 có tổng số:
- 556 trường (gồm mầm non, phổ thông, chuyên nghiệp)
- 7.697 lớp – 247.189 học sinh – sinh viên
- 9.654 giáo viên trong biên chế
- 1.065 cán bộ quản lý hành chính
- 22 đơn vị trường giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề
- 15.165 học sinh, sinh viên
- 1 trường cao đẳng sư phạm
- 5 trường trung cấp chuyên nghiệp với 3.845 học sinh, sinh viên
Bình quân 3,1 người dân có 1 người đi học Một vạn dân có 2.348học sinh phổ thông, 1 vạn dân có 207 học sinh Trung học chuyên nghiệp, 1vạn dân có 57 học sinh, sinh viên Cao đẳng và có 48 sinh viên Đại học
Ngân sách đầu tư cho đào tạo ở các cấp học của tỉnh Yên Bái gầnđây có sự ổn định Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đảm bảo nhiệm vụngành, sẵn sàng đón nhận những cải cách về nội dung và phương pháp dạyhọc trong bối cảnh mới Phương hướng phát triển về giáo dục đào tạo củatỉnh Yên Bái năm 2007: Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng giáo dụcđào tạo toàn diện Duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáodục tiểu học – chống mù chữ, đẩy mạnh giáo dục phổ cập tiểu học đúng độtuổi, tiếp tục thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, tiếp tục phổcập giáo dục trung học cơ sở, phấn đấu hoàn thành chương trình,
Trang 38giáo trình theo kế hoạch Tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình giáo dục,sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy ở các cấp học, bậc học Triểnkhai thực hiện chủ trương của Chính phủ quy định chế độ tự chủ về tàichính áp dụng với các trường công lập có khả năng tự hạch toán chi phí,trước hết là chi phí thường xuyên, gắn với chế độ Tự chủ, tự chịu tráchnhiệm về sản phẩm đào tạo, tạo điều kiện cho các trường phát triển cả vềquy mô và chất lượng Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho sự pháttriển các trường dân lập, tư thục, chuyển một số trường công lập có đủ điềukiện sang trường tư thục nhằm thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá, để hệthống trường này cùng với các trường công lập đáp ứng nhu cầu học tậpcủa xã hội.
2.1.3 Hoạt động văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái
Trước năm 1991 khi còn là tỉnh Hoàng Liên Sơn có 3 đoàn nghệthuật chuyên nghiệp: Đoàn kịch nói, Đoàn Nghệ thuật chèo, Đoàn ca múanhạc Từ năm 1992 đến năm 2002 Yên Bái còn 02 Đoàn nghệ thuật: Đoànnghệ thuật chèo và Đoàn ca múa nhạc dân tộc Từ tháng 2 năm 2002 đếnnay 2 đoàn sát nhập với tên gọi là Đoàn nghệ thuật Yên Bái Diễn viênĐoàn nghệ thuật Yên Bái ở nhiều độ tuổi khác nhau, nhiều diễn viên có quátrình biểu diễn và thành đạt Song, do rất nhiều năm không “thoát” ra được
cơ chế quan liêu bao cấp, nên hầu hết diễn viên (ca, múa, nhạc, chèo)không được đào tạo cơ bản, chẳng hạn như diễn viên ca và nhạc nhưng lạichưa được học qua xướng âm, nhạc lý, luyện thanh… làm hạn chế đến sựphát triển của một đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, sự đổi mới của đất nướcđưa đến việc thay đổi nhận thức, tư duy, phương pháp hoạt động của cán bộlàm công tác văn hoá nghệ thuật Những năm gần đây cán bộ văn hoá làmcông tác phong trào văn nghệ trên địa bàn tỉnh ngày một sôi nổi, nhưngphương thức hoạt động thì hầu hết chưa được đáp ứng Theo điều tra củangành Văn hoá Yên Bái, đến nay trên 80% cán bộ văn hoá – nghệ thuật
31
Trang 39trong ngành chưa được bồi dưỡng về phương thức hoạt động Tỷ lệ diễn viêntrẻ rất sôi nổi, hăng say trong lĩnh vực hoạt động nghệ thuật nhưng chưa tiếpcận được với phong cách biểu diễn mới (kể cả nghệ thuật hiện đại và nghệthuật truyền thống) Hoạt động văn hoá nghệ thuật những năm qua đã cónhững bước ngoặt đáng kể, ngành thường xuyên tổ chức hội diễn, lưu diễn vàđặc biệt ngành văn hoá đã tổ chức cho đội ngũ diễn viên được đi biểu diễngiao lưu với các nước như Trung Quốc, Pháp và các tỉnh lân cận Hoạt độngvăn hoá nghệ thuật ở các địa phương cũng từng bước được chú ý Nhằm thựchiện xây dựng đời sống văn hoá Đài truyền thanh, truyền hình Yên Bái kếthợp với Sở Văn hoá thông tin thường xuyên tổ chức cuộc thi “Giọng hát haytrên sóng phát thanh truyền hình Yên Bái” Năm 2006 tỉnh Yên Bái đề raphương hướng tăng cường quản lý Nhà nước đối với các dịch vụ văn hoá, vănnghệ thông tin, báo chí… thực hiện tốt phong trào Văn hoá – Văn nghệ thôngtin vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Nâng cao chất lượng,thời lượng các chương trình phát thanh, truyền hình Đa dạng hoá các hìnhthức cung cấp thông tin với từng loại đối tượng sử dụng thông tin Tổ chứcnhiều hoạt động văn hoá văn nghệ trên địa bàn toàn tỉnh Đẩy mạnh công tácbảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hoá cácdân tộc Xây dựng nếp sống văn hoá là nhiệm vụ của mọi người trong từng giađình, đơn vị và toàn xã hội Các tổ chức đoàn thể chính trị, các cơ quan, đơn
vị phải làm tốt công tác giáo dục mọi thành viên của mình, trước hết là cán bộĐảng viên gương mẫu đi đầu xây dựng nếp sống văn hoá, phải tạo nếp sốnglàm việc theo Hiến pháp và pháp luật một cách tự giác để tạo nền tảng cho sựhình thành các nét đẹp văn hoá khác
2.2 Khái quát về trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái
2.2.1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển của trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật tỉnh Yên Bái
Trang 40Năm 1968 Ty Văn hoá – thông tin tỉnh Nghĩa Lộ (cũ) thành lậpTrường Bồi dưỡng nghiệp vụ văn hoá thông tin Nghĩa Lộ.
Năm 1976 tỉnh Nghĩa Lộ sát nhập với các tỉnh Yên Bái, Lao Cai thànhlập tỉnh Hoàng Liên Sơn Trường Bồi dưỡng nghiệp vụ văn hoá thông tin trởthành một bộ phận trực thuộc Phòng Nghiệp vụ Ty Văn hoá thông tin
Ngày 17 tháng 7 năm 1985 Uỷ ban Nhân dân tỉnh Hoàng Liên Sơn raQuyết định số 158/QĐ - UB khôi phục lại sự hoạt động của Trường Vănhoá nghệ thuật Yên Bái
Tháng 7 năm 1985 được xem là mốc tái lập trường, là khởi đầu củanhà trường xây dựng và phát triển lâu dài
Ngày 2 tháng 8 năm 1996 Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái ra Quyếtđịnh số 111QĐ-UB nâng cấp thành Trường Trung học Văn hoá nghệ thuậtYên Bái
Hơn hai mươi năm thành lập, Trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuậtYên Bái luôn nỗ lực phấn đấu, duy trì sự ổn định, từng bước đi lên, đượcTỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh và Bộ Văn hoá thôngtin đánh giá là một trường Trung cấp chuyên nghiệp văn hoá nghệ thuậtphát triển bền vững và sáng tạo, với những đặc điểm cơ bản sau:
- Đặc trưng về các chuyên ngành đào tạo: đào tạo các hệ Trung cấp,Cao đẳng gồm các chuyên ngành Nhạc cụ phương tây, Thanh nhạc, Nhạc cụ dântộc, Sư phạm Nhạc- hoạ, Quản lý văn hoá, Nghệ thuật Múa
- Đối tượng đào tạo (còn gọi là học sinh): học sinh của trường nghệthuật hầu hết có năng khiếu về âm nhạc, về hội hoạ Tất cả các em đềuđược tuyển một cách rất kỹ lưỡng, các em phải qua nhiều bước tuyển sinh:
sơ tuyển, trúng tuyển
- Giáo viên: là những người được trang bị về kiến thức âm nhạc, hộihoạ, quản lý văn hoá… kỹ năng sư phạm, kỹ năng thực hành, kỹ năng biểu
33