ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC VŨ VĂN NGÔN BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP - HƯỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG TRONG GI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ VĂN NGÔN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC NGHỀ
PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC
KỸ THUẬT TỔNG HỢP - HƯỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 21.3.1 Đặc điểm của Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp- Hướng nghiệp 161.3.2 Sự phát triển của hệ thống Trung tâm KTTH - HN 19
1.4.2 Dạy-học nghề phổ thông theo từng giai đoạn phát triển 261.4.3 Đặc trưng cơ bản của hoạt động dạy-học nghề phổ thông 28
1.5.1 Các đặc trưng hoạt động dạy-học NPT và quản lý hoạt động 32dạy-học NPT
1.5.2 Đặc điểm của quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông 341.5.3 Yêu cầu của quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông trong 35giai đoạn hiện nay
DẠY HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC
KỸ THUẬT TỔNG HỢP - HƯỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG
2.1 Khái quát về sự phát triển kinh tế, giáo dục của Hải Phòng 372.1.1 Khái quát về vị trí địa lý, tình hình kinh tế- chính trị, văn hoá- 37
Trang 3xã hội của Hải Phòng
2.2 Tiến trình phát triển của Trung tâm giáo dục KTTH – Hướng 42nghiệp Hải Phòng
2.2.1 Vài nét về Trung tâm giáo dục KTTH-HN Hải Phòng 42
2.3 Thực trạng hoạt động dạy-học nghề phổ thông tại Trung tâm giáo 44dục KTTH - HN Hải Phòng
2.3.2 Thực trạng về nhận thức của các chủ thể và đối tượng trong 48hoạt động dạy-học nghề phổ thông
2.3.3 Thực trạng về năng lực chuyên môn và việc áp dụng các 51phương pháp dạy-học của đội ngũ giáo viên dạy nghề phổ thông tại
NGHỀ PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ
THUẬT TỔNG HỢP - HƯỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại 79trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng
3.2.1 Chỉ đạo có hệ thống việc tìm hiểu đối tượng, thăm dò nhu cầu 79học nghề phổ thông của học sinh, bố trí một cách hợp lý, khoa học
các lớp nghề phổ thông
3.2.2 Xây dựng quy trình quản lý hoạt động dạy- học nghề phổ thông 85
Trang 4phù hợp với tình hình thực tế của Trung tâm
3.2.3 Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy-học nghề phổ thông của giáo 98viên, kích thích giáo viên có động lực cải tiến phương pháp rèn luyện
tay nghề cho học sinh
3.2.4 Quan tâm chỉ đạo chặt chẽ việc đổi mới hoạt động kiểm tra, 106đánh giá kết quả dạy-học nghề phổ thông
3.2.5 Hoàn thiện cơ sở vật chất theo hướng hiện đại hóa, phát huy 116hiệu quả sử dụng phương tiện, thiết bị dạy -học
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề ra 120
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm của các biện pháp quản lý hoạt động dạy 121học nghề phổ thông
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định:
“Con người và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo.
Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà kinh doanh, nhà quản lý Chính sách sử dụng lao động và nhân tài phải tận dụng mọi năng lực, phát huy mọi tiềm năng của tập thể và cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ đất nước” [2, tr 9].
Mục tiêu của Giáo dục Việt Nam được ghi rõ trong Điều 2 - Luật Giáodục 2005:
“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện
có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [23, tr 3].
Tính chất, nguyên lý giáo dục - “Triết lý của giáo dục Việt Nam” đượckhẳng định trong Điều 3 - Luật Giáo dục 2005:
“1 Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng.
2 Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [23, tr.3].
Trang 6Quan điểm giáo dục của Đảng từ Nghị quyết đã được cụ thể hóa trongLuật Giáo dục Việt Nam qua mục tiêu và triết lý giáo dục Để thực hiện đượcmục tiêu theo triết lý đó, trong những năm đầu và những năm tiếp theo củathế kỷ XXI, chúng ta cần phát triển giáo dục và đào tạo, tạo ra nguồn nhân lực
có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa vì
đây là động lực thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững “Kinh nghiệm của một số nước phát triển và đang phát triển cho thấy, phát triển giáo dục là bí quyết thành công, là con đường ngắn nhất đi tắt, đón đầu trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa Mục đích của giáo dục hiện đại là đào tạo ra những con người phát triển toàn diện, là những người có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học và công nghệ, có
đủ sức cạnh tranh trong quá trình phân công lao động quốc tế” “Ngày nay, đứng trước những đòi hỏi bức bách của sự phát triển khoa học công nghiệp,
sự thay đổi nhanh chóng của xã hội đã đòi hỏi giáo dục cần có sự điều chỉnh
và thay đổi sâu sắc, toàn diện” [3, tr.10].
“Trong bối cảnh của quốc tế và trong nước hiện nay, với những đổi thay to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội, hơn bao giờ hết chất lượng giáo dục và đào tạo trở thành vấn đề sống còn quyết định sự thành bại của cả một quốc gia trong điều kiện hội nhập với kinh tế thế giới” [10, tr.11] Chỉ có một
nền giáo dục toàn diện, hiện đại mới có thể đào tạo được những con ngườiphát triển toàn diện, “vừa hồng vừa chuyên”, đáp ứng các yêu cầu về nguồnlực cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện theođúng quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng đã đề ra
Giáo dục cần đào tạo con người đáp ứng được những đòi hỏi của thịtrường lao động và nghề nghiệp cũng như cuộc sống, có khả năng hòa nhập
và cạnh tranh quốc tế, đặc biệt là: năng lực nhận thức; năng lực hành động;tính sáng tạo, năng động; tính tự lực và trách nhiệm; năng lực cộng tác làmviệc; năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp và khả năng học tập suốt đời
Từ những yêu cầu mang tầm vĩ mô ở trên đối với giáo dục đào tạo nóichung, mỗi đơn vị, cơ sở giáo dục cụ thể nói riêng cũng không thể đứng ngoàinhững đòi hỏi đó Mỗi một cơ sở giáo dục phải đặt ra cho mình những yêu
2
Trang 7cầu hết sức cụ thể, những mục tiêu rõ ràng cần đạt đến, những biện pháp phùhợp, linh hoạt để đạt được hiệu quả cao nhất trong mọi hoạt động của đơn vịmình, đặc biệt là nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đáp ứng nhu cầu cấpbách của phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.
Để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, phải tiến hành đồng bộ nhiềuhoạt động trong công tác chuyên môn đặc biệt là hoạt động quản lý chuyênmôn Trong quản lý chuyên môn, quản lý hoạt động dạy - học trong các cơ sởgiáo dục giữ vai trò then chốt, quyết định chất lượng giáo dục đào tạo Đểnâng cao chất lượng dạy học nói riêng, giáo dục đào tạo nói chung, việc xâydựng các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học một cách hợp lý, khoa học đãtrở thành một yêu cầu bắt buộc với những người làm công tác quản lý trongcác cơ sở giáo dục
Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp (KTTH - HN) là một cơ
sở giáo dục phổ thông (Điều 30 - Luật Giáo dục), nhiệm vụ chính trị (chứcnăng cơ bản nhất) của nó là: Dạy nghề phổ thông cho học sinh trung học, địnhhướng nghề nghiệp, góp phần phân luông đào tạo sau trung học cho học sinhphổ thông
Việc dạy nghề phổ thông và định hướng nghề nghiệp cho học sinhtrung học tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng được thực hiện từnhiều năm nay, đã có những đóng góp nhất định cho ngành giáo dục - đào tạocủa Thành phố Hải Phòng trong công tác hướng nghiệp và đào tạo nguồnnhân lực song trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập, yếu kém Nguyên nhânkhông nhỏ trong đó là do hoạt động quản lý của các nhà quản lý Trung tâmchưa thực sự hiệu quả nhất là quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông
Do vậy, xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nghề phổthông để góp phần nâng cao chất lượng hoạt động dạy học nghề phổ thông tạiTrung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng đã trở thành một nhu cầu cấp bách
Chính vì vậy, chúng tôi đã chọn hướng nghiên cứu với tên đề tài:
“Biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay”.
Trang 82 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất biện pháp quản lýnhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâmGiáo dục KTTH - HN Hải Phòng
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3 1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý chuyên môn tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng
3 2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý hoạt động dạy
- học nghề phổ thông thì chất lượng hoạt động này tại Trung tâm Giáo dụcKTTH - HN Hải Phòng sẽ được nâng cao, đáp ứng được nhu cầu đổi mới và pháttriển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tạiTrung tâm Giáo dục KTTH - HN
- Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN thành phố Hải Phòng trong giai đoạn vừa qua
- Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạtđộng dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN trong giaiđoạn hiện nay
6 Phạm vi nghiên cứu
Trọng tâm của luận văn là nghiên cứu các biện pháp quản lý nhằm nângcao chất lượng hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dụcKTTH - HN Hải Phòng giai đoạn 2008 - 2013
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích tổng hợp, hệthống hóa, khái quát hóa các tài liệu để xây dựng khung lý thuyết và các kháiniệm công cụ làm luận cứ lý luận cho vấn đề nghiên cứu
4
Trang 97.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: nhằm tổng kết các kinh nghiệm quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: nhằm thu thập thông tin từ độingũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên của Trung tâm Giáo dục KTTH - HN vềthực trạng các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông Phươngpháp này cũng được sử dụng để đánh giá các giải pháp được đề xuất
- Phương pháp quan sát: nhằm thu thập thông tin về thực trạng quản lýhoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN HảiPhòng trong giai đoạn vừa qua
7 3 Nhóm phương pháp xử lý thông tin
- Phương pháp chuyên gia: trong quá trình tiến hành luận văn chúng tôithường xuyên xin ý kiến chuyên gia về các lĩnh vực liên quan đến vấn đề nghiêncứu của đề tài Qua ý kiến chuyên gia, tác giả có thể điều chỉnh các nhận định, đềxuất
Các phương pháp này được sử dụng trong quá trình xử lý các thông tin,
xử lý các kết quả điều tra, kết quả khảo nghiệm
- Phương pháp khảo nghiệm: khảo nghiệm để minh chứng tính khả thi của các giải pháp được đưa ra trong luận văn
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu ( tr 6 – tr 36).
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ
thông tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng ( tr 37 – tr 78).
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại
Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng ( tr 79 – tr 123).
Trang 10Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chúng ta biết rằng, trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục trunghọc phổ thông là giai đoạn học tập chính quy cuối cùng của đa phần thanhthiếu niên học sinh Giáo dục THPT không chỉ có mục tiêu chuẩn bị nguồncho giáo dục đại học mà chủ yếu là chuẩn bị cho học sinh - những con ngườitrưởng thành - bước vào cuộc sống lao động xã hội Xuất phát từ thực tế đó,thanh thiếu niên học sinh phổ thông dù học lên đại học hay sớm đi vào cuộcsống lao động nghề nghiệp, họ đều phải được trang bị những tri thức khoahọc, kỹ năng lao động kỹ thuật, kỹ năng lao động nghề nghiệp, năng lực sángtạo, phát minh nhằm thiết thực góp phần đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước
Trên thực tế, khi khoa học - kỹ thuật phát triển, quy trình công nghệthay đổi, người lao động thường không có khả năng để thích hợp kịp thời.Trong khi đó, đa số học sinh phổ thông rời ghế nhà trường với vốn “văn hóachay” không có cơ sở để hội nhập vào cuộc sống lao động - xã hội
Ở nước ngoài, các nhà khoa học sư phạm của Cộng hòa dân chủ Đức
trước đây đã đề cập đến các vấn đề cơ sở khoa học sư phạm của tổ chức hoạt độngdạy học lao động nghề nghiệp cho học sinh Họ đã đưa ra các phương thức: Phốihợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp và các trườngphổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho học sinh phổ thông
Các tác giả Liên xô cũ đã trình bày những phương pháp thực hành laođộng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông tại các cơ sở học tập - lao động liêntrường
Nhiều nhà giáo dục học thuộc tổ chức nghiên cứu về lao động, kỹ thuật
và kinh tế trong hoạt động dạy học của Cộng hòa Liên bang Đức đã làm sáng
tỏ về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức lao động nghề nghiệp Họkhẳng định rằng, hoạt động dạy học lao động - kỹ thuật - kinh tế không chỉmang tính quan trọng đối với những môn học khác, mà còn là bộ phận cấuthành cơ bản của giáo dục trung học phổ thông
Tác giả Magumi Nishino ở Viện nghiên cứu giáo dục Nhật Bản đãnghiên cứu vấn đề bồi dưỡng tri thức và những kỹ năng cơ bản của những
6
Trang 11ngành nghề cần thiết cho học sinh phổ thông Theo tác giả, học sinh trung họcphải được: Bồi dưỡng tri thức và kỹ năng cơ bản của những ngành nghề cầnthiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và có khả năng lựachọn ngành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân.
Jacques Delors, Chủ tịch Ủy ban quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỷ
21 của UNESCO khi phân tích “Những cột trụ của giáo dục” đã viết : “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại, đó là bốn trụ cột mà ủy ban đã trình bày và minh họa như những nền tảng của giáo dục”
[41, tr.6] Theo tác giả vấn đề học nghề của học sinh phổ thông là một căn bản
không thể thiếu được trong giáo dục: “Học làm việc là cột trụ thứ hai” [41,
tr.8] Tác giả đã nhấn mạnh việc học sinh có cơ hội phát triển năng lực củamình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học
Nhìn chung những công trình nghiên cứu về hoạt động dạy học laođộng chuẩn bị nghề nghiệp ở nước ngoài đều chú ý việc cải cách mục tiêu, nộidung, phương pháp, cơ sở vật chất - kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả dạy họclao động chuẩn bị nghề nghiệp cho học sinh phổ thông Như vậy, về thực chấtcác công trình nghiên cứu đều đề cập tới hoạt động dạy học lao động nghềnghiệp cho học sinh phổ thông Tuy nhiên các công trình này chưa đề cập đếncác biện pháp quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông, đặc biệt là
ở các trung tâm KTTH-HN
Ở nước ta, trước hết phải kể đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài:
“Nhiệm vụ của cô giáo, thầy giáo là rất quan trọng và rất vẻ vang”, Người đã sớmchỉ ra:
… “ Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà
trường: - Học đi với lao động
- Lý luận đi với thực hành
- Cần cù đi với tiết kiệm” [26, tr.55].
Trong bài báo “Học hay, cày giỏi”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập
đến một yếu tố mới của giáo dục, đó là “Việc cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về kỹ thuật sản xuất công nghiệp và nông nghiệp” [26, tr80],
“Những ngành sản xuất chủ yếu” [25, tr.212] trong xã hội Đó cũng chính là
những nội dung của giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp trong hoàn cảnh nước talúc bấy giờ
Trang 12Trong những năm sau này, các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hộihọc, kinh tế học, chính trị học đã tiếp cận nhiều đến vấn đề dạy học nghề phổthông cho học sinh ở các khía cạnh khác nhau.
Tác giả Phạm Tất Dong đã xác định cần: “Chú trọng việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự tìm ra việc làm” [11, tr.19], đồng thời: “Tiếp sau quá trình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh… Đây sẽ là một nguyên tắc rất cơ bản” [11, tr.40].
Các công trình nghiên cứu của các tác giả Hoàng Đức Nhuận, NguyễnDuy Minh, Tô Bá Trọng, Phạm Huy Thụ, Đoàn Chi, Cù Nguyên Hanh, LêĐức Phúc, Hà Thế Truyền, Phạm Văn Sơn, đã cho chúng ta những kháiniệm, số liệu, những kinh nghiệm giáo dục kỹ thuật và dạy nghề cho học sinhphổ thông Những công trình của các tác giả đề cập đến nhiều khía cạnh khácnhau của vấn đề dạy nghề như: tổ chức lao động sản xuất cho học sinh phổthông, tư vấn nghề nghiệp cho học sinh, các phương thức giáo dục kỹ thuậttổng hợp và hướng nghiệp trong trường phổ t hông và trung tâm KTTH-HN-DN
Công trình khoa học của tác giả Nguyễn Văn Hộ đề cập vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” [20] Trong
đó tác giả xây dựng luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp trong điều kiệnphát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đề xuất những hình thức phối hợp giữanhà trường, các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong hướng nghiệp-dạynghề cho học sinh phổ thông
Trong những năm gần đây, một số đề tài nghiên cứu trong các luận vănThạc sỹ Quản lý giáo dục của các tác giả Trần Văn Bẩy, Nguyễn Gia Thịnh,Nguyễn Quang Dũng, Đào Công Minh, cũng đề cập đến các vấn đề liênquan tới hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông, nhưng chưa có tác giả nào đềcập đến các biện pháp quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông tại trungtâm kỹ thuật tổng hợp-hướng nghiệp, đặc biệt là tại Trung tâm giáo dụcKTTH-HN Hải Phòng, một trung tâm có bề dày truyền thống, có số lượng họcsinh của nhiều trường trong thành phố đến học nghề phổ thông rất đông, đã cónhững đóng góp đáng kể trong công tác hướng nghiệp và dạy nghề phổ thôngcho học sinh của thành phố Hải Phòng Vì vậy, chúng tôi muốn đóng góp mộtphần nhỏ bé bằng nghiên cứu của mình vào giải quyết một số bất cập
8
Trang 13trong quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông tại trung tâm nhằm làm chohoạt động này ngày một hoàn thiện hơn, đưa chất lượng giáo dục, dạy học củatrung tâm lên cao hơn, xứng với tầm vóc của một trung tâm đầu đàn củangành Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng Đó cũng là lý do để chúng
tôi chọn đề tài cho luận văn “Biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay”.
1.2 Các khái niệm và quan điểm cơ bản của đề tài
1.2.1 Dạy - học
“Dạy-học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là một trong những con đường để thực hiện mục đích giáo dục Quá trình dạy-học được tổ chức trong nhà trường bằng phương pháp sư phạm đặc biệt, nhằm trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn” [40, tr.52].
“Phân tích khái niệm dạy-học, ngay cả khi xét về mặt hình thức, ta dễ
dàng nhận thấy Dạy-học là hoạt động phối hợp của hai chủ thể, đó là giáo
viên và học sinh Dạy và học được thực hiện đồng thời cùng với một nội dung
và hướng tới cùng một mục đích” [40, tr.53] Mối quan hệ chặt chẽ giữa hai hoạt động dạy và học như là mối quan hệ bản chất Mối quan hệ biện chứng này vừa là quy luật cơ bản vừa là nguyên tắc quan trọng, chính nó tạo nên
chất lượng thực sự của quá trình dạy-học
Dựa trên khái niệm này có thể hình thành quan điểm sau:
Chủ thể của hoạt động dạy là giáo viên, người tổ chức mọi hoạt độnghọc tập của học sinh, người quyết định chất lượng giáo dục
Đối tượng hoạt động dạy của giáo viên là hệ thống kiến thức và sự pháttriển trí tuệ và nhân cách của học sinh Trước khi lên lớp, giáo viên nghiên
Trang 14cứu các tài liệu giáo khoa, nắm vững và gia công tài liệu đó theo chiến thuật
sư phạm, bằng phương pháp giảng dạy để chuyển tải nội dung, tác động đếnquy luật tâm lý nhận thức của học sinh, làm cho học sinh phát triển theo mụcđích giáo dục
Mục đích của hoạt động dạy là làm cho học sinh nắm vững kiến thức vàhình thành kỹ năng hoạt động, từ đó mà phát triển trí tuệ và nhân cách, nghĩa
là làm cho học sinh trở thành người lao động thông minh, người công dân có
ý thức
Nội dung của hoạt động dạy là tổ chức cho học sinh nhận thức, truyềnđạt kiến thức, hướng dẫn luyện tập hình thành kỹ năng, kiểm tra uốn nắn vàgiáo dục thái độ học tập cho học sinh
Phương pháp của hoạt động dạy (phương pháp giảng dạy) bao gồmphương pháp tổ chức nhận thức, phương pháp điều khiển các hoạt động trí tuệ
và thực hành, phương pháp giáo dục ý thức học tập cho học sinh
1.2.1.2 Hoạt động học
Là quá trình tự điều khiển tối ưu chiếm lĩnh khái niệm khoa học, bằngcách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách Vai trò tự điềukhiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích cực, tự lực và sáng tạo củangười học dưới sự tổ chức của thầy nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học
Mục đích của hoạt động học là tiếp thu nền văn hóa nhân loại đểchuyển hóa thành trí tuệ và nhân cách bản thân để trở thành người lao độngthông minh, năng động và sáng tạo
Khi chiếm lĩnh được khái niệm khoa học bằng hoạt động tự lực, sángtạo, người học đồng thời đạt được 3 mục đích bộ phận:
- Trí dục: Nắm vững tri thức khoa học (hiểu, nhớ và vận dụng tốt tri thức)
- Phát triển: Tư duy và năng lực hoạt động trí tuệ
- Giáo dục: Thái độ, đạo đức, thế giới quan khoa học, quan điểm, niềm tin
Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm củamôn học, phương pháp đặc trưng của môn học, của khoa học đó với phươngpháp nhận thức độc đáo, phương pháp chiếm lĩnh khoa học để biến kiến thứccủa nhân loại thành học vấn của bản thân
Mọi hoạt động đều phải có ý thức Việc học tập càng phải có ý thức.Người học phải xác định được mục đích học tập, có động cơ và thái độ học
10
Trang 15tập đúng, có kế hoạch học tập chủ động và luôn tích cực thực hiện tốt kếhoạch đó Tính tích cực học tập thể hiện ở cả hai mặt: chuyên cần và tính sâusắc trong các hoạt động trí tuệ Cách học tích cực thể hiện trong việc tìmkiếm, xử lý thông tin và vận dụng chúng vào giải quyết các nhiệm vụ học tập
và thực tiễn cuộc sống, thể hiện trong sự tìm tòi khám phá vấn đề mới bằngphương pháp mới, cái mới tạo ra không phải là sao chép mà là sự sáng tạo củamỗi cá nhân
Chủ thể của hoạt động học là học sinh Chủ thể có ý thức, chủ động,tích cực và sáng tạo trong nhận thức, rèn luyện và tu dưỡng bản thân, rènluyện nhân cách Tuy nhiên học sinh còn là đối tượng giảng dạy và giáo dụccủa thầy giáo, người học vừa phải chủ động và sáng tạo trong học tập, vừaphải tiếp thu sự chỉ dẫn, dạy bảo từ phía thầy giáo Người học quyết định chấtlượng học tập của mình
Đối tượng của hoạt động học là hệ thống tri thức và hệ thống kỹ năngtương ứng Người học phải chiếm lĩnh được hệ thống kiến thức trong chươngtrình học tập để sử dụng chúng trong những tình huống học tập và thực tiễncuộc sống
Hoạt động học là quá trình nhận thức, tìm tòi, thấu hiểu, nắm vững, ghinhớ và vận dụng kiến thức vào cuộc sống
Phương pháp học tập là phương pháp nhận thức kiến thức, trí tuệ vàphương pháp rèn luyện để hình thành hệ thống kỹ năng vận dụng, thực hành
Trang 16trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung,… Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [7, tr.34].
Như vậy, Các Mác đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động lao động
để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu và quan trọng trong quá trìnhphát triển của xã hội loài người Quản lý trở thành một hoạt động phổ biếnmọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người Đó
là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sựphân công và hợp tác để làm một công việc nhằm một mục tiêu chung
Khái niệm quản lý được lý giải từ nhiều góc độ Theo tác giả Nguyễn
Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [27, tr.35].
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản
lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho
tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” Một cách định nghĩa khác: “quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [8, tr.1].
Tác giả Trần Kiểm lại cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu
là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [22, tr.15] Còn tác giả Trần Quốc Thành lại định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan” [34, tr.1].
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý Song tựu chung lại các địnhnghĩa trên đều thể hiện:
12
Trang 17- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động
xã hội Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồntại, vận hành và phát triển
- Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý
- Quản lý là một hoạt động được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội
- Quản lý vừa là môn khoa học, vừa là một nghệ thuật Vì vậy, tronghoạt động quản lý, người quản lý phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo để chỉđạo hoạt động của tổ chức đi tới đích Bằng cách nào đó để người bị quản lý luônsẵn sàng tận tâm, đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân,cho tổ chức và cho cả xã hội
Như vậy, quản lý phải bảo gồm các yếu tố sau: phải có mục tiêu đặt racho cả đối tượng và chủ thể làm căn cứ định hướng cho mọi hoạt động của tổchức, phải có nội dung, phương pháp, phương tiện, kế hoạch hành động vàmột môi trường nhất định Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đíchcủa chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đặt ra trong điềukiện biến động của môi trường
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm có chức năngquản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt tới mục tiêu.Đối tượng chủ yếu của quản lý là những con người xã hội, vì con người sửdụng các tài nguyên, các trang thiết bị kỹ thuật (cũng là đối tượng quản lý)đồng thời là chủ thể của xã hội loài người Khách thể quản lý này bao gồmnhững người thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo củachủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu Chủ thể quản lý làm nảy sinh các tác độngquản lý, còn khách thể quản lý sản sinh ra các sản phẩm vật chất và tinh thần
có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, đáp ứng mục đíchcủa chủ thể quản lý
1.2.2.2 Chức năng quản lý
QL là một quá trình, một khoa học, một nghệ thuật và có những chứcnăng riêng của nó Chức năng QL biểu thị hình thức tác động có chủ đích củachủ thể QL lên đối tượng QL, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủthể QL phải tiến hành trong quá trình QL Có nhiều cách khác nhau phân loại
Trang 18các chức năng QL Căn cứ vào các giai đoạn thực hành thì Quản lý có bốnchức năng cơ bản: kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra.
Theo hình thức quá trình quản lý được diễn ra tuần tự từ chức năng kếhoạch đến chức năng tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Song trong thực tế, cácchức năng này đan xen, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện Chất xúctác và liên kết giữa các chức năng cơ bản này là thông tin quản lý và cácquyết định quản lý
Các chức năng quản lý tạo thành quá trình quản lý được mô tả theo sơ
- Chức năng kế hoạch: là một chức năng, một khâu quan trọng trong
hoạt động quản lý Lập kế hoạch là hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêu cần thiếtcho sự phấn đấu của một tổ chức, chỉ ra các hoạt động, những biện pháp cơ bản vàcác điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó Kế hoạch là nền tảng của quản
lý, là sự quyết định lựa chọn đường lối hành động của một tổ chức và các bộ phậncủa nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức
- Chức năng tổ chức: là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, quyền
hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể thực hiện đượccác mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả Ứng với những mục tiêu khác nhau đòihỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau Nhờ tổ chức hợp
14
Trang 19lý mà người quản lý có thể phối hợp và điều phối tốt hơn nguồn nhân lực vàcác nguồn lực khác Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy đượcnăng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hóa kế hoạchthành hiện thực.
- Chức năng lãnh đạo: là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng của
mình tác động đến con người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lựcphấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức Vai trò của người lãnh đạo là phảichuyển được ý tưởng của mình vào nhận thức của người khác, hướng mọi ngườitrong tổ chức về mục tiêu chung của đơn vị
- Chức năng kiểm tra: kiểm tra là một chức năng quan trọng trong hoạt
động quản lý, quản lý mà không kiểm tra thì coi như không có quản lý Nhờ cóhoạt động kiểm tra mà người quản lý đánh giá được kết quả công việc, uốn nắn,điều chỉnh kịp thời những hạn chế, từ đó có biện pháp phù hợp điều chỉnh kếhoạch, tổ chức, lãnh đạo
- Thông tin: Thông tin không phải là một chức năng quản lý nhưng nó
đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động quản lý Thông tin là tin tứcđược chuyển giao, lưu trữ trong các bộ máy quản lý nhằm giúp nhà quản lý điềuhành bộ máy Thiếu tin tức (thông tin) nhà quản lý không thể thực hiện được cáchoạt động quản lý Thông tin là cơ sở để các nhà quản lý đề ra các quyết định quản
lý Thông tin là mạch máu của hoạt động quản lý và nó quan hệ hai chiều với cácchức năng quản lý
1.2.3 Quản lý hoạt động dạy-học
Quản lý hoạt động dạy-học là quản lý một quá trình với tư cách là một
hệ toàn vẹn bao gồm các thành tố cơ bản: Mục đích, nhiệm vụ, nội dung học, thày với hoạt động dạy, trò với hoạt động học, các phương pháp vàphương tiện dạy-học, các hình thức tổ chức dạy-học, kiểm tra đánh giá kếtquả dạy-học Tất cả các thành tố này tồn tại trong mối quan hệ qua lại vàthống nhất với môi trường của nó: Môi trường xã hội - chính trị và môi trườngkhoa học - kinh tế - công nghệ Điều đó có ý nghĩa là chủ thể quản lý phải tácđộng vào toàn bộ các thành tố của hoạt động dạy-học theo quy luật tâm lý,giáo dục học, lý luận về quản lý để đưa hoạt động dạy-học từ trạng thái nàysang trạng thái khác cao hơn, tiến dần tới mục tiêu giáo dục
Trang 20dạy-Hoạt động dạy-học vận động và phát triển là do các nhân tố cấu thànhcủa nó vận động và tương tác với nhau nhằm thực hiện mục tiêu của quátrình, góp phần thực hiện mục đích giáo dục nói chung.
Vì vậy, quản lý hoạt động dạy-học vừa phải làm sao cho mỗi nhân tố
có được lực tác động đủ mạnh, lại vừa đảm bảo sự vận động nhịp nhàng, hàihòa và thống nhất của toàn bộ quá trình, không được để nhân tố nào vận độngyếu làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của quá trình Điều này đòi hỏingười quản lý phải có nghệ thuật, vận dụng linh hoạt các biện pháp quản lýmới đạt được mục tiêu đề ra
Quản lý hoạt động dạy-học là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cơbản sau đây:
- Quản lý việc thực hiện mục tiêu, chương trình dạy-học Cụ thể hóamục tiêu dạy-học qua các nhiệm vụ dạy-học nhằm nâng cao tri thức, rèn luyện kỹnăng, bồi dưỡng thái độ, hình thành và phát triển những năng lực, phẩm chất tốtđẹp cho người học
- Quản lý việc xây dựng và thực hiện nội dung học Nội dung học phải bảo đảm bao gồm hệ thống những tri thức, kỹ năng mà người học cầnphải nắm vững trong quá trình dạy-học
dạy Quản lý hoạt động dạy của giáo viên (chuẩn bị giáo án, đồ dùng dạy học, lên lớp, kiểm tra học sinh học tập…)
- Quản lý hoạt động học của học sinh (nề nếp, thái độ, kết quả học tập)
- Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính phục vụ dạy-học
- Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học…
1.3 Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp
1.3.1 Đặc điểm của Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp- Hướng nghiệp
1.3.1.1 Vị trí, nhiệm vụ của Trung tâm KTTH-HN.
* Vị trí của Trung tâm KTTH - HN:
Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp là một trong những cơ sởgiáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân
* Nhiệm vụ của Trung tâm KTTH - HN:
(1) Dạy công nghệ, kỹ thuật, dạy nghề phổ thông và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh học chương trình giáo dục phổ thông
16
Trang 21(2) Bồi dưỡng giáo viên các trường trung học cơ sở (THCS), trung họcphổ thông (THPT) về giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp.
(3) Tổ chức lao động sản xuất và dịch vụ kỹ thuật phục vụ giáo dụcđào tạo, góp phần phân luồng học sinh sau THCS và THPT
(4) Nghiên cứu ứng dụng các đề tài khoa học về giáo dục kỹ thuật tổnghợp, hướng nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông, thử nghiệm ứng dụng
và chuyển giao công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địaphương
(5) Mở lớp dạy nghề, liên kết với các cơ sở giáo dục trong hệ thốnggiáo dục để đào tạo và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh, thanh thiếu niên vàđối tượng khác khi có nhu cầu
(6) Trung tâm KTTH - HN được phép liên kết với Trung tâm giáo dụcthường xuyên, Trung tâm dạy nghề trên địa bàn và các cơ sở giáo dục khác đểthực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp và dạy nghề theoquy định
1.3.1.2 Cấp quản lý trực tiếp của Trung tâm KTTH-HN.
Sở Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý, chỉ đạo Trung tâm KTTH - HN
1.3.1.3 Điều kiện thành lập Trung tâm KTTH - HN.
- Việc thành lập Trung tâm phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xãhội của địa phương, phù hợp với mạng lưới cơ sở giáo dục, có tính khả thi và hiệuquả, đáp ứng nhu cầu học tập của cộng đồng
- Có đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
- Có địa điểm để xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị theo quy định
- Chủ tịch UBND cấp tỉnh là người ký quyết định thành lập trung tâm
1.3.1.4 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm KTTH-HN.
- Trung tâm KTTH-HN có 1 giám đốc, 1 hoặc 2 phó giám đốc
- Cơ cấu tổ chức của Trung tâm KTTH-HN gồm các tổ: tổ hành tổng hợp, tổ văn phòng-giáo vụ,tổ chuyên môn, tổ hướng nghiệp-dạy nghề, tổ laođộng sản xuất-dịch vụ và các tổ chuyên môn khác; mỗi tổ có một tổ trưởng, một tổphó do giám đốc trung tâm bổ nhiệm Giám đốc trung tâm quyết định thành lậpcác tổ và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ
chính-Giám đốc Trung tâm KTTH - HN
Trang 22Giám đốc Trung tâm KTTH - HN là người trực tiếp quản lý, điều hành
và chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên về hoạt động của Trungtâm Giám đốc Trung tâm KTTH - HN là người có phẩm chất chính trị và đạođức tốt, có năng lực quản lý, tốt nghiệp Đại học và đã công tác trong ngànhgiáo dục ít nhất 5 năm Giám đốc Trung tâm KTTH - HN được bổ nhiệm và
bổ nhiệm lại theo nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ là 5 năm Chủ tịch Ủy ban nhândân cấp tỉnh bổ nhiệm Giám đốc Trung tâm KTTH - HN hoặc uỷ quyền Giámđốc Sở Giáo dục&Đào tạo bổ nhiệm Giám đốc Trung tâm KTTH - HN
Phó Giám đốc Trung tâm KTTH - HN
Phó Giám đốc Trung tâm KTTH - HN là người giúp việc cho Giámđốc, có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có năng lực quản lý, tốt nghiệp đạihọc, đã công tác trong ngành giáo dục ít nhất 5 năm Phó Giám đốc Trung tâmKTTH - HN được bổ nhiệm và bổ nhiệm lại theo nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ là 5năm Giám đốc Sở Giáo dục&Đào tạo bổ nhiệm Phó Giám đốc Trung tâmKTTH - HN
1.3.1.5 Kế hoạch giáo dục của Trung tâm KTTH-HN.
1 Trung tâm KTTH - HN thực hiện chương trình giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
2 Căn cứ vào chương trình giáo dục và kế hoạch năm học, Trung tâm xây dựng kế hoạch và thời khóa biểu để điều hành hoạt động dạy học
1.3.1.6 Công tác kiểm tra, đánh giá, xếp loại kết quả học tập.
1 Trung tâm KTTH - HN tổ chức kiểm ra, đánh giá, xếp loại kết quả học tập và hạnh kiểm đối với học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục&Đào tạo
2 Kết quả học tập của học sinh THCS, THPT học tại Trung tâm KTTH
- HN được chuyển về trường phổ thông để làm cơ sở đánh giá học sinh
1.3.1.7 Giáo viên của Trung tâm KTTH - HN
Giáo viên của Trung tâm KTTH - HN (sau đây gọi là giáo viên) làngười là nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục tại Trung tâm KTTH - HN, tham giagiảng dạy các chương trình quy định chức năng, nhiệm vụ của trung tâm
Giáo viên của Trung tâm KTTH - HN tham gia giảng dạy các chươngtrình kỹ thuật tổng hợp để lấy văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục
18
Trang 23quốc dân phải có trình độ đạt chuẩn như quy định đối với giáo viên dạy cùngcấp học của giáo dục phổ thông.
1.3.1.8 Học sinh Trung tâm KTTH - HN
Học sinh Trung tâm KTTH - HN là người học đang theo học một hoặcnhiều chương trình của Trung tâm KTTH - HN
1.3.1.9 Cơ sở vật chất, nguồn tài chính của Trung tâm KTTH - HN
Trung tâm KTTH - HN phải có đủ các phòng học, phòng thí nghiệm,phòng học bộ môn, thư viện, phòng thực hành lao động sản xuất đáp ứng vớiyêu cầu giảng dạy, học tập
Trung tâm KTTH - HN phải có các thiết bị dạy học, sách, tạp chí theoyêu cầu của việc thực hiện các chương trình dạy học tại Trung tâm, đượcquản lý, sử dụng có hiệu quả theo quy định
Nguồn tài chính của Trung tâm KTTH - HN bao gồm:
- Nguồn ngân sách nhà nước cấp
- Học phí, các khoản thu từ các hợp đồng đào tạo, nghiên cứu khoa học,chuyển giao công nghệ, lao động sản xuất và các hoạt động khác
- Các nguồn thu tài chính hợp pháp khác
Trên đây là một số nội dung cơ bản về tổ chức và hoạt động của Trung
tâm KTTH – HN được lược trích dựa theo Luật Giáo dục 2005 và Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm KTTH - HN, qua đó xác định được vị trí,
chức năng, nhiệm vụ, cấp quản lý, chương trình thực hiện, cơ sở vật chất, độingũ cũng như nguồn tài chính để Trung tâm KTTH - HN có thể tồn tại, hoạtđộng và phát triển phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địaphương, phù hợp với mạng lưới cơ sở giáo dục đáp ứng nhu cầu học tập củacộng đồng
1.3.2 Sự phát triển của hệ thống Trung tâm KTTH - HN
Xuất phát từ nhu cầu tổ chức thực hiện giáo dục lao động kỹ thuật tổnghợp, hướng nghiệp nhằm trang bị kiến thức, hình thành kỹ năng lao độngnghề nghiệp cho học sinh phổ thông, tạo điều kiện cho một bộ phận khôngnhỏ học sinh tốt nghiệp ra trường tham gia vào cuộc sống lao động nhữngnăm 80 của thế kỷ trước; trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta lúc bấy giờchưa thể đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động lao động - hướngnghiệp đến từng trường phổ thông, theo kế hoạch của Bộ Giáo dục và Quỹ nhi
Trang 24đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tại Hà Nội, Trung tâm giáo dục Kỹ thuật tổnghợp ra đời Năm học 1980 - 1981, UNICEF giúp ta trang bị cho 20 Trung tâmKTTH - HN Từ đó đến nay, mô hình Trung tâm KTTH - HN đã phát triểnkhông ngừng về số lượng cũng như nội dung hết sức đa dạng Qua bảng thống
kê dưới đây, chúng ta sẽ thấy rõ sự phát triển đó
Bảng 1.1: Sự phát triển của hệ thống Trung tâm KTTH-HN (thời kỳ
Tên gọi các Trung tâm cũng phản ánh nội dung hoạt động của nó vàđược thay đổi qua các thời kỳ Thời kỳ đầu, Bộ Giáo dục gọi là Trung tâmgiáo dục kỹ thuật tổng hợp (Quyết định số 1889 ngày 30/12/1981 của Bộtrưởng Bộ Giáo dục) sau đó Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) đã đổi tên là Trungtâm Giáo dục KTTH - HN (Thông tư số 48/TT ngày 27/4/1982 của HĐBT).Tháng 8 năm 1991, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế về tổ chức
và hoạt động của Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp - Dạy nghề(theo Quyết định số 1827/TCCB ngày 7/8/1991 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo), xác định tên gọi, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức củaTrung tâm
Ngày 11/7/2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế về tổ chức
và hoạt động của Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp (theo Quyếtđịnh số 25/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/7/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo) tên của trung tâm có sự thay đổi (trở lại như năm 1982) và đượcgiữ cho đến nay
Ngày 30/7/2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế về tổ chức
và hoạt động của Trung tâm KTTH - HN (theo Quyết định số BGD&ĐT ngày 30/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), Quy chế
44/2008/QĐ-20
Trang 25này thay thế Quy chế 25 ((theo Quyết định số 25/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày11/7/2000…), có một số thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, nội dung hoạt độngcủa Trung tâm cho phù hợp với yêu cầu của tình hình hiện nay.
20 Trung tâm KTTH do UNICEF giúp đỡ lúc đầu chỉ bó hẹp trong 6nghề (cắt gọt kim loại, biến dạng kim loại, nguội, mộc tay, mộc máy, thêuđan) chủ yếu để thực hành kỹ thuật công nghiệp cho vài ba trăm học sinh cấp
3 (THPT) vùng thành phố Nhiều Trung tâm đã tự mình mở tới 15 - 20 nghềnằm trong 6 nhóm nghề chính: Nông lâm ngư nghiệp, Tiểu thủ công dịch vụ,Mộc, Xây dựng cơ bản, Cơ khí, Điện và Điện tử Có nơi mở tới 16 nghề nhưTrung tâm Huế, Trung tâm Hải Phòng có lúc mở tới 14 nghề Đối tượng họcsinh vào Trung tâm học tập ngày càng được mở rộng, đúng hướng Trungbình mỗi năm trung tâm cấp tỉnh có từ 1500 - 2000 học sinh cuối cấp THCS
và THPT vào học nghề phổ thông, có năm có Trung tâm đã thu hút tới 5000học sinh như Trung tâm Lê Thị Hồng Gấm ở thành phố Hồ Chí Minh, 4000 -
4500 học sinh như Trung tâm Hải Phòng
Tất cả những điều nêu trên chứng tỏ Trung tâm KTTH - HN có sự hấpdẫn nhất định và có sức sống mạnh mẽ vì nó có tác dụng to lớn trong việcthực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục của Đảng, nó có chức năng, nhiệm vụ
rõ ràng, có quy mô, tổ chức và bước đi thích hợp với hoàn cảnh nước ta
1.4 Đặc trƣng của hoạt động dạy-học nghề phổ thông
1.4.1 Dạy-học nghề phổ thông
1.4.1.1 Khái niệm
Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Minh Hạc khi đề
cập vấn đề dạy nghề và xu thế phát triển nhà trường phổ thông đã ghi: “Việc đào tạo người lao động mà trường phổ thông có nhiệm vụ thực hiện, được kết thúc bằng việc huấn luyện cho học sinh một nghề cụ thể” [18, tr.11].
Theo tác giả Trần Hồng Quân: “Dạy nghề cho học sinh phổ thông với
tư cách là dạy tri thức, kỹ năng lao động, hướng nghiệp là chính” [28, tr.44].
Về vấn đề dạy nghề cho học sinh phổ thông, tác giả Phạm Huy Thụ và
Đoàn Chi đã thể hiện quan niệm của mình: “Là một hoạt động dạy và học, dạy nghề phổ thông trong nhà trường phổ thông thực hiện một cách có hiệu quả nguyên lý giáo dục” Đồng thời các tác giả khẳng định: “Những nghề dạy cho học sinh phổ thông gọi tắt là nghề phổ thông” [35, tr.19].
Trang 26Tóm lại, dạy-học nghề phổ thông là một hoạt động giáo dục phổ thông,được thực hiện dưới hình thức như một môn học nằm trong kế hoạch dạy-học,
có chương trình dạy nghề và danh mục nghề (do Bộ Giáo dục và Đào tạo quyđịnh) cho học sinh phổ thông bậc trung học Nghề phổ thông là những nghề
có tính phổ biến cao, điều kiện dạy nghề không quá khó khăn và thời gian đòihỏi không nhiều Lý thuyết nghề và công cụ sản xuất còn ở mức độ đơn giản,mang tính phổ thông Nguyên vật liệu để dạy nghề, trang thiết bị không thậttốn kém, đào tạo thầy không đòi hỏi thời gian lâu dài Kỹ năng thực hànhnghề yêu cầu ở mức độ phổ thông, chưa đòi hỏi tương đương với các bậc thợcủa dạy nghề đào tạo thợ (thực tế với thời lượng 105 tiết chỉ tương đương vớitrình độ 1/7, chưa đạt trình độ sơ cấp nghề) Thông qua tổ chức hoạt độngdạy-học nghề phổ thông nhằm không chỉ cung cấp cho học sinh những trithức kỹ năng lao động nghề nghiệp cần thiết và tư duy kỹ thuật mà còn giáodục học sinh có thái độ, có tác phong lao động nghề nghiệp, thích ứng nhữngyêu cầu của nền kinh tế - xã hội, đồng thời tạo điều kiện để dịch chuyển laođộng nghề nghiệp phù hợp những thay đổi nhanh chóng về việc làm
1.4.1.2 Một số tính chất của dạy-học nghề phổ thông.
* Tính chất phổ thông của dạyhọc nghề phổ thông
Dạy-học nghề phổ thông chưa phải là dạy nghề hoàn chỉnh như trongcác trường dạy nghề, ở đó đòi hỏi dạy lý thuyết và thực hành nghề một cáchhoàn chỉnh của một nghề, tương ứng với các bậc thợ theo quy định Sau khóađào tạo nghề ở trường nghề, người học được cấp văn bằng chứng chỉ có tínhpháp lí để ra hành nghề trong xã hội Nghề phổ thông được đào tạo theo mộtchương trình nghề nhất định tại các trường phổ thông hoặc các Trung tâm Kỹthuật tổng hợp - Hướng nghiệp, hoàn thành chương trình nghề phổ thôngngười học cũng được cấp chứng chỉ Tuy nhiên, chứng chỉ này chỉ có tínhpháp lý về học vấn phổ thông, không có tính pháp lý để hành nghề trong xãhội (không có cơ sở nào tuyển lao động với chứng chỉ nghề phổ thông) Giátrị lớn nhất của dạy nghề phổ thông là giúp học sinh có kiến thức và kỹ năngban đầu về một nghề để các em có thể sẵn sàng tham giao lao động giản đơnhoặc học tiếp để nhận được văn bằng nghề một cách nhanh chóng và phù hợp.Đồng thời giúp học sinh có cơ sở lựa chọn đúng đắn cho mình một nghề đểhọc (hướng nghiệp) trong tương lai
22
Trang 27* Tính ứng dụng/hành dụng của dạy-học nghề phổ thông
Hầu hết các nghề phổ thông được dạy đều có cơ sở lý thuyết nghề đãđược học từ các môn học phổ thông, chủ yếu là các môn Công nghệ, Tin học
và một số môn học khác như Sinh học, Hóa học, Vật lí, Toán học Như vậy,
có thể coi nghề phổ thông là “môn học” về vận dụng các kiến thức đã học ởcác môn học phổ thông vào một lĩnh vực nghề cụ thể và rèn luyện những kỹnăng, kỹ xảo nghề cần thiết
* Tính chất dạy nghề của dạy-học nghề phổ thông
Đặc điểm này quy định dạy-học nghề phổ thông phải khác với dạy-họccác môn văn hoá phổ thông là nhấn mạnh dạy thực hành nghề, là giáo dụcphẩm chất người thợ và làm công tác tư vấn nghề cho học sinh Nghề phổthông có quan hệ gắn bó với các môn học phổ thông ở chỗ các môn học phổthông cung cấp các cơ sở lý thuyết nghề cho dạy nghề phổ thông Do đó, khidạy nghề phổ thông không cần phải dạy lại toàn bộ lý thuyết liên quan đếnnghề đã học ở các môn học phổ thông mà cần ôn tập để vận dụng, dành nhiềuthời gian cho thực hành nghề và tư vấn nghề Chính vì vậy, trong chươngtrình giáo dục phổ thông quy định dạy-học nghề phổ thông là “hoạt động” chứkhông gọi là “môn học” [21]
Dạy-học nghề phổ thông là một chương trình dạy-học thuộc học vấnphổ thông, vừa mang tính ứng dụng/hành dụng của các kiến thức phổ thônglại có cả tính chất dạy nghề Do vậy, việc tổ chức hoạt động dạy-học nghề phổthông cho học sinh phổ thông bậc trung học tại các Trung tâm KTTH - HNcần phải dựa vào các đặc điểm tâm lý cơ bản - các đặc điểm của tư duy kỹthuật, cấu trúc tâm lý của hoạt động lao động nghề nghiệp, những đặc tínhtâm lý của các nghề
1.4.1.3 Các đặc điểm của tư duy kỹ thuật
Về nguồn gốc và cơ sở, tư duy kỹ thuật cũng là sự nhận thức gián tiếp
và khái quát hiện thực khách quan, giống như bất kỳ loại hoạt động tư duynào, và nó cũng được thực hiện thông qua việc giải các bài toán (các vấn đề).Song khi giải các bài toán kỹ thuật, một số mặt của tư duy (như là khuynhhướng của nó, các đặc điểm cấu trúc, các phẩm chất trí tuệ) lại phát triểnmạnh hơn trong khi đó một số mặt khác được biểu hiện ở mức độ thấp hơn
Có tình trạng đó là do tri thức kỹ thuật và công nghệ có đặc điểm riêng, khác
Trang 28với các bài toán nhận thức - học tập được sử dụng rộng rãi khi dạy các mônvăn hóa phổ thông Khi giải bài toán kỹ thuật, trường hoạt động của conngười được mở ra rất rộng, các phạm trù cảm giác vận động và trí tuệ của cánhân được huy động triệt để.
Điểm quan trọng nhất của tư duy kỹ thuật là sự thống nhất chặt chẽgiữa các thành phần lý thuyết và thành phần thực hành của hoạt động, trong
sự tác động qua lại và kết hợp không ngừng giữa các hành động trí óc (suynghĩ) với hành động thực hành Các thành phần lý thuyết của hoạt động suynghĩ khi giải các bài toán kỹ thuật có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thứckhác nhau Những hành động vận dụng các tri thức kỹ thuật đã có, nhữnghành động nhằm hình thành khái niệm kỹ thuật mới kết hợp với những kháiniệm đã lĩnh hội từ trước, trên cơ sở này tạo ra hệ thống tri thức, những hànhđộng được dùng làm cơ sở cho việc kế hoạch hóa hoạt động, làm cơ sở choviệc thực nghiệm trí tuệ, hoàn thành các thao tác nhằm biến đổi những tìnhhuống đã xuất hiện Tất cả các hành động lý thuyết này làm điểm tựa choviệc thực hành những hành động đối tượng (hành động tiếp xúc với sự vật)
Chức năng của các hành động thực hành không phải là như nhau.Người ta phân các hành động này ra thành các dạng sau: hành động thực hiện,hành động thể tìm tòi, hành động kiểm tra, hành động kiểm tra - điều chỉnh.Tính chất lý thuyết thực hành của tư duy kỹ thuật là một trong những đặcđiểm cơ bản nhất của loại tư duy này
Một đặc điểm quan trọng khác của tư duy kỹ thuật được biểu hiện bằngtác động qua lại và mối liên hệ lẫn nhau rất chặt chẽ giữa các thành phần hìnhảnh và khái niệm của hoạt động Tư duy “làm việc” bằng khái niệm Ở đâythành phần hình ảnh (hình tượng) chính là biểu tượng không gian, sự tưởngtượng không gian có ý nghĩa nhất định trong việc lĩnh hội một số tri thức lýthuyết (theo nghĩa rộng đó là những khái niệm) Thành phần hình ảnh đóngvai trò là điểm tựa khi lĩnh hội các tri thức lý thuyết tạo điều kiện dễ dàng choquá trình nắm vững và cụ thể hóa khái niệm Nếu không có sự tác động qualại của biểu tượng và khái niệm thì không thể nào giải được nhiều bài toán kỹthuật Vì thế, người ta khẳng định rằng bản vẽ là ngôn ngữ của kỹ thuật
Trong hoạt động sản xuất của con người, trong quá trình học nghề, cácthành phần của hoạt động suy nghĩ chỉ là những thành phần độc lập tương đối
24
Trang 29với nhau Về mặt cấu trúc tâm lý bên trong thì tư duy kỹ thuật gồm ba thànhphần: khái niệm - hình ảnh - thực hành Những thành phần lý thuyết (kháiniệm), hình ảnh (trực quan) và thực hành (hành động) của tư duy kỹ thuậtkhông chỉ có mối liên hệ lẫn nhau mà còn có sự tác động qua lại Đồng thờimỗi một thành phần trong cấu trúc thống nhất này lại có vai trò như nhau, do
đó chúng không thể tồn tại tách rời nhau được Tư duy kỹ thuật là tư duy bathành phần: lý luận - hình tượng - thực hành
Do đặc tính của các dạng hoạt động kỹ thuật cũng như các bài toán kỹthuật quy định, tư duy kỹ thuật có đặc điểm sau: có sự thống nhất biện chứnggiữa tính lý luận và tính thực hành, yếu tố khái niệm và hình tượng kỹ thuậtluôn luôn có quan hệ biện chứng với nhau, có tính linh hoạt và cơ động trongkhi tìm lời giải cho các bài toán kỹ thuật
Tư duy kỹ thuật là yếu tố tâm lý có vai trò quan trọng, quy định hiệuquả việc nắm vững kỹ thuật một cách nhanh chóng và chính xác, việc vậnhành kỹ thuật cũng như việc hoàn thiện các đối tượng kỹ thuật đã có và tạo rađối tượng kỹ thuật mới
Tư duy kỹ thuật là yếu tố tâm lý giữ vai trò chủ đạo trong việc lập kếhoạch lao động, điều khiển, điều chỉnh quá trình sản xuất, giải bài toán kỹthuật - sản xuất nảy sinh trong thực tiễn sản xuất Thiếu sự chỉ đạo của tư duy
kỹ thuật hoặc tư duy kỹ thuật kém phát triển, người lao động không thể chuẩnđoán sự làm việc của máy móc, công cụ kỹ thuật, không giải quyết được trụctrặc kỹ thuật và các bài toán kỹ thuật khác nảy sinh trong sản xuất Do đónăng suất, chất lượng và hiệu quả công việc giảm Hiệu quả của hoạt độngdạy-học nghề phổ thông phụ thuộc rất nhiều vào việc vận dụng muôn hình,muôn vẻ các tri thức và hoàn cảnh thực tế để hình thành và phát triển tư duy
kỹ thuật cho học sinh [36]
1.4.1.4 Cấu trúc tâm lý của hoạt động lao động nghề nghiệp
Hoạt động của con người được phân thành ba dạng cơ bản: hoạt độngchơi, hoạt động học tập và hoạt động lao động Tại các Trung tâm KTTH -
HN cần rèn cho học sinh cả ba dạng trên và chú trọng hoạt động lao độngnghề nghiệp
Điểm đặc thù của bất kỳ hoạt động nào của con người là tính ý thức.Tính ý thức biểu hiện trước hết ở tính mục đích và tính có chủ định Nhu cầu
Trang 30nếu được con người ý thức sẽ trở thành động lực hành vi của con người Tất
cả những gì thúc đẩy con người hoạt động được gọi là động cơ hoạt động.Động cơ ảnh hưởng quyết định tới tính chất của hoạt động Vì vậy, nghiêncứu động cơ hoạt động lao động của học sinh có ý nghĩa cực kỳ quan trọng
Khi phân tích hoạt động lao động nghề nghiệp, người ta tách nó thànhnhững quá trình lao động cơ bản cấu thành hoạt động ấy, rồi sau đó thànhnhững hành động, những thao tác riêng Tùy theo mức độ nắm vững kỹ năng,những hành động có mục đích riêng sẽ trở thành các phương pháp hoặc cácphương tiện quen thuộc để thực hiện các hành động phức tạp hơn nhằm đạtmục đích đề ra Như vậy là, hành động sẽ trở thành thao tác Trong tâm lýhọc, người ta hiểu hành động là đơn vị cơ bản của hoạt động có mục đích nhấtđịnh của nó Thao tác cấu tạo nên hành động và là phương tiện thực hiện hànhđộng
Theo quan điểm dạy lao động nghề nghiệp, điều có ý nghĩa quyết định
là việc nắm vững các kỹ năng vận động và các kỹ năng cảm giác (thị giác,thính giác, xúc giác), thích ứng với sự biến đổi bằng cách lập kế hoạch và tổchức lao động, kiểm tra sự diễn biến của quá trình lao động, khắc phục cáctình trạng chậm trục trặc có thể xảy ra trong quá trình lao động [36]
1.4.2 Dạy-học nghề phổ thông theo từng giai đoạn phát triển
1.4.2.1 Các giai đoạn phát triển
Hoạt động dạy-học nghề phổ thông tại các Trung tâm KTTH-HN đượctiến hành theo chương trình quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Mới đầuchương trình một nghề phổ thông được quy định là 280 tiết (thời kỳ nhữngnăm 80) Sau đó khi Bộ Giáo dục triển khai chương trình phân ban THPT lầnthứ nhất, nghề phổ thông trở thành một môn học bắt buộc đối với học sinhphân ban B (Tự nhiên - Kỹ thuật) chương trình được rút xuống còn 165 tiết vàtên gọi là môn học Kỹ thuật ứng dụng (thời kỳ những năm 90)
Sau khi bãi bỏ chương trình phân ban THPT lần thứ nhất, nghề phổthông trở thành môn học tự nguyện với chương trình 180 tiết, được học 2 năm(lớp 10 và lớp 11), mỗi năm là 90 tiết Học hết chương trình 180 tiết, nếu đạt
từ trung bình trở lên, học sinh được tham gia kỳ thi nghề phổ thông do SởGiáo dục&Đào tạo tổ chức Tốt nghiệp nghề phổ thông, học sinh được cấp
26
Trang 31một chứng nhận tốt nghiệp và được cộng điểm khuyến khích vào điểm thi tốtnghiệp THPT (loại giỏi: 2 điểm, loại khá: 1,5 điểm, loại TB: 1 điểm).
Học sinh THCS (lớp 9 hoặc lớp 8) học chương trình quy định cho bậcTHCS là 90 tiết cho một nghề Sau khi học xong chương trình 90 tiết đạt từtrung bình trở lên, học sinh được tham gia kỳ thi nghề phổ thông tương tự nhưTHPT Khi còn thi tốt nghiệp THCS thì cũng cộng điểm khuyến khích tương
tự như tốt nghiệp THPT Sau khi bãi bỏ kỳ thi tốt nghiệp THCS, học sinh cóGiấy chứng nhận Nghề phổ thông được cộng khuyến khích vào điểm xét tốtnghiệp THCS như cũ (loại giỏi: 2 điểm, loại khá: 1,5 điểm, loại TB: 1 điểm)
và được cộng điểm khuyến khích khi xét tuyển vào lớp 10 THPT với mức loạigiỏi: 1,5 điểm; loại khá: 1 điểm; loại TB: 0,5 điểm) áp dụng từ năm học 2006
- 2007 (theo Quy chế tuyển sinh THCS và tuyển sinh THPT, ban hành kèm theo Quyết định số 12/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05/4/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
1.4.2.2 Dạy học nghề phổ thông trong giai đoạn hiện nay
Hiện nay, nghề phổ thông trở thành một hoạt động giáo dục trong Chương trình giáo dục phổ thông
Theo chương trình giáo dục phổ thông cấp THPT (được ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), nghề phổ thông là một hoạt động giáo dục được gọi là:
Hoạt động giáo dục Nghề phổ thông, chỉ học ở lớp 11 (từ năm học 2007
-2008) với thời lượng 105 tiết, 3 tiết/tuần (lớp 10 và lớp 12 không học)
Nội dung giáo dục nghề phổ thông gồm các lĩnh vực công nghiệp, nôngnghiệp, thủ công, dịch vụ và tin học Những nghề phổ thông được lựa chọn lànhững nghề phổ biến, xã hội có nhu cầu phát triển, phù hợp với học sinhTHPT Như vậy sẽ có nhiều chương trình nghề phổ thông được áp dụng chohọc sinh trên toàn quốc và phù hợp với đặc thù các vùng miền khác nhau
Chương trình mỗi nghề phổ thông bao gồm các nội dung về nguyên vậtliệu, công cụ, kỹ thuật, quy trình công nghệ và phần tìm hiểu nghề Để đảmbảo mục tiêu hình thành kỹ năng, trong mỗi chương trình phần lý thuyếtkhông được quá 1/3 thời gian
Các địa phương được phép lựa chọn những nghề phổ thông phù hợpvới nhu cầu học tập của học sinh, điều kiện phát triển kinh tế, giáo viên, cơ sở
Trang 32vật chất để tổ chức thực hiện Nhưng số nội dung (chương trình) nghề phảiphù hợp với sự đa dạng của thực tiễn phát triển kinh tế ở địa phương vànguyện vọng cũng như năng lực của học sinh để đảm bảo cho mỗi học sinhđược phát triển và phục vụ cho việc định hướng nghề.
Do sự đa dạng của các nghề, hiện nay Bộ Giáo dục - Đào tạo đã tổ chứcxây dựng được 11 chương trình nghề đại diện các lĩnh vực nghề phổ biến, BộGiáo dục&Đào tạo sẽ còn tổ chức xây dựng tiếp chương trình những nghề phổbiến khác và hướng dẫn địa phương áp dụng chương trình những nghề có đặcthù riêng của địa phương (với điều kiện có tài liệu biên soạn được Sở Giáodục&Đào tạo duyệt và Bộ thẩm định cho phép thực hiện)
Đối với cấp THCS, nghề phổ thông là môn học tự chọn, học 2
tiết/tuần, cả năm học 70 tiết Để có đủ điều kiện thi nghề (hết chương trình 90tiết) học sinh phải học thêm 20 tiết Học sinh được đăng ký lựa chọn các nghềtheo danh mục đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
1.4.3 Đặc trưng cơ bản của hoạt động dạy-học nghề phổ thông
Ở đây chúng ta cũng coi hoạt động dạy-học nghề phổ thông là một hệthống và chúng ta sẽ nêu lên các đặc điểm của từng nhân tố của hệ thống và đặcđiểm trong các mối quan hệ qua lại hay tương tác giữa các nhân tố đó Chínhnhững điều này toát lên đặc trưng cơ bản của hoạt động dạy-học nghề phổ thông
Sau đây chúng ta lần lượt khảo sát từng nhân tố của hệ thống
mức độ nhất định hoặc nếu có học tiếp một nghề thì thời gian học nghề sẽ rấtnhanh Nói tóm lại, học sinh phải có được những kỹ năng lao động nghềnghiệp nhất định
1.4.3.2 Nội dung dạy-học nghề phổ thông:
Đó là nội dung của sự chuyển biến nhân cách của học sinh trong laođộng nghề nghiệp trên các mặt chính trị - tư tưởng, văn hóa - kỹ thuật, lao
28
Trang 33động - nghề nghiệp, sức khỏe nói chung là những chuyển biến về phẩmchất và năng lực của học sinh Những nội dung này thể hiện trong các chươngtrình môn nghề do Bộ Giáo dục&Đào tạo ban hành.
Xét riêng trong việc dạyhọc nghề phổ thông thì các Trung tâm KTTH
-HN phải đảm bảo những mặt tri thức, kỹ năng lao động nghề nghiệp và nó là
sự cụ thể hóa chương trình thành những chuẩn tri thức kỹ thuật và chuẩn kỹ
năng lao động nghề nghiệp và những “chuẩn mực” này phải được giáo viên
và học sinh quán triệt
1.4.3.3 Phương pháp dạy-học nghề phổ thông
Phương pháp dạy-học nghề phổ thông là cách thức và phương thức làmviệc của giáo viên và học sinh nhờ đó mà học sinh có thể lĩnh hội được mộtcách chắc chắn tri thức, kỹ năng cần thiết để lao động theo nghề nghiệp củamình, là hình thành và phát triển năng lực tự học và năng lực vận dụng trithức một cách sáng tạo
Sử dụng các phương pháp dạy-học trong hoạt động dạy-học nghề phổthông là một quá trình phức tạp đòi hỏi phải vận dụng phối hợp nhiều phươngpháp khác nhau, đòi hỏi biến đổi các phương pháp ấy tùy theo nội dung dạy
học, đòi hỏi vận dụng các phương pháp để “tích cực hóa hoạt động” của học
sinh
Để tiến hành hoạt động dạy-học nghề phổ thông cho học sinh phổthông bậc trung học tại các Trung tâm KTTH - HN, giáo viên cần sử dụng cácphương pháp chủ yếu sau đây:
- Các phương pháp thuyết trình (giảng thuật, kể chuyện, giải thích),đàm thoại, trao đổi Các phương pháp này được sử dụng nhằm truyền đạt cho họcsinh phổ thông những tri thức mới, kể chuyện về những ngành nghề nhất định hoặcquá trình lao động nghề nghiệp, giải thích các nguyên tắc hoạt động và cấu tạo củacác dụng cụ lao động nghề nghiệp, thực chất khoa học của những quy trình côngnghệ trong những nghề nhất định
- Các phương pháp trình bày trực quan: là phương pháp sử dụng cácphương tiện trực quan trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới Phương pháp nàycòn được sử dụng trong quá trình ôn tập, củng cố và thậm chí cả khi kiểm tra trithức, kỹ năng lao động nghề nghiệp Trong thực tiễn, các trung tâm KTTH - HN
đã sử dụng các mẫu vật liệu, các vật tượng trưng, các vật tạo
Trang 34hình Các vật thật như vật liệu, dụng cụ lao động, bộ phận của các máy móc,các cơ cấu tổng thể của máy móc, thiết bị giúp cho học sinh gần gũi vớithực tế lao động nghề nghiệp, dễ gây ấn tượng và hứng thú học nghề phổthông cho học sinh Các vật tượng trưng như sơ đồ máy móc, sơ đồ quy trìnhcông nghệ sản xuất một sản phẩm cụ thể, sơ đồ dây chuyền sản xuất của một
cơ sở sản xuất giúp cho học sinh thấy được một cách trực quan các sự vật,hiện tượng dưới dạng khái quát và đơn giản Các vật tạo hình như tranh ảnh,
mô hình, hình vẽ, mô phỏng, thí nghiệm ảo - thay thế cho sự vật và hiệntượng không thể trực tiếp nhìn thấy (như quá trình nạp - nén - nổ - xả củađộng cơ đốt trong, quá trình truyền lệnh và xử lý thông tin trong máy tính )
- Các phương pháp luyện tập là phương pháp vận dụng của dạy-họcnghề phổ thông Luyện tập có tính đa dạng, các phương pháp luyện tập nhằm thựchiện các thao tác lao động, các công đoạn và các công việc tổng hợp trong laođộng nghề nghiệp Luyện tập phải nhằm mục đích, yêu cầu nhất định Nắm vững
lý thuyết rồi mới luyện tập và luyện tập theo nhiều dạng khác nhau nhằm rèn luyệnnăng lực vận dụng tri thức vào điều kiện lao động nghề nghiệp cụ thể
1.4.3.4 Giáo viên dạy nghề phổ thông:
Đối với việc dạy-học nghề phổ thông thì đội ngũ giáo viên phải vừagiỏi lý thuyết, vừa giỏi tay nghề Trên thực tế thì ít nơi được như vậy vì trongđội ngũ giáo viên có cả những công nhân với tay nghề cao nhưng hạn chế vềnăng lực sư phạm, ngược lại có nhiều giáo viên được đào tạo bài bản về mặt
sư phạm nhưng lại yếu về tay nghề thực hành và có cả những giáo viên dạytheo “hợp đồng” Như vậy, đội ngũ giáo viên đa dạng hơn so với trường phổthông và “môi trường tâm lý” không thuần nhất đối với người cán bộ quản lý
1.4.3.5 Học sinh học nghề phổ thông:
Học sinh ở các Trung tâm KTTH - HN thì chủ yếu là học sinh đến từcác trường phổ thông (THCS, THPT) Song ta không nên nhìn các em vẫn ynguyên như khi các em học ở trường phổ thông, vì các em đến Trung tâm là
để học nghề phổ thông nên tâm tư, nguyện vọng, các yếu tố tâm lý trong việchọc nghề phổ thông có khác so với việc học văn hóa Người cán bộ quản lýmuốn làm tốt công tác quản lý của mình thì phải đi sâu tìm hiểu học sinh mộtcách đầy đủ, cặn kẽ về nguyện vọng, sở trường và các đặc điểm tâm sinh lý
30
Trang 351.4.3.6 Cơ sở vật chất và thiết bị dạy-học nghề phổ thông
Đó là những điều kiện vật chất - kỹ thuật không thể thiếu được đối vớiTrung tâm KTTH - HN dạy-học nghề phổ thông Các điều kiện vật chất, kỹthuật này bao gồm từ đất đai, nhà, xưởng, máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu,các thiết bị dạy-học cần thiết cho giảng dạy, học tập, thực tập, cho đếnphương tiện bảo hiểm lao động, các phương tiện phòng cháy chữa cháy, cácdụng cụ thuốc men, y tế cho việc cấp cứu, xử lý những tai nạn không may xảy
ra trong quá trình thực hành, lao động sản xuất
Do đặc điểm khác biệt về mục đích, nội dung, phương pháp dạy-họcnghề phổ thông với dạy-học các môn văn hóa phổ thông nên các điều kiện vậtchất - kỹ thuật của các Trung tâm KTTH - HN đòi hỏi một sự đầu tư lớn hơnnhiều so với trường phổ thông, đặc biệt là về các thiết bị dạy-học
1.4.3.7 Tổ chức hoạt động dạy-học nghề phổ thông
Cùng với phương pháp thì hình thức tổ chức sự kết hợp các hoạt độngcủa giáo viên và học sinh cần phải linh hoạt, sinh động cho phù hợp với nộidung và điều kiện của Trung tâm KTTH - HN Thường có các hình thức sauđây: lên lớp, thực hành nghề và thực hành sản xuất Thực hành sản xuất khácthực hành nghề ở chỗ sản phẩm làm ra có thể trở thành hàng hóa, còn thựchành nghề nhằm mục đích chính là rèn luyện kỹ năng nghề Thực hành sảnxuất chưa hẳn đã giúp hoạt động rèn luyện đầy đủ mọi kỹ năng song nó lại cónhiều ý nghĩa quan trọng: gây hứng thú cho việc dạy và học nhiều hơn, tiếtkiệm hơn, tạo thu nhập cho Trung tâm KTTH - HN
Tất cả 6 nhóm nhân tố của hệ thống hoạt động dạy-học nghề phổ thông
sẽ quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau xoay quanh hoạt động trung tâm làdạy và học của giáo viên và học sinh
Hoạt động dạy-học trong các Trung tâm KTTH - HN là quá trình thốngnhất về nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp dạy-học
Từ những điều phân tích trên, chúng ta có thể rút ra những kết luận:
- Trong hoạt động dạy-học nghề phổ thông nói chung đều áp dụngnhững phương pháp như trong dạy văn hóa phổ thông (trần thuật, đàm thoại, luyệntập ), nhưng chức năng và hình thức kết hợp giữa chúng thì phải phù hợp với đặctrưng cơ bản của dạy-học nghề phổ thông
Trang 36- Đặc điểm cấu trúc nội dung dạy-học nghề phổ thông có ảnh hưởngmạnh mẽ hơn đến việc lựa chọn các phương pháp dạy-học và đến việc kết hợpgiữa chúng so với việc ảnh hưởng của đặc điểm nội dung trong dạy các môn vănhóa khác cho học sinh phổ thông.
Đặc trưng cơ bản của hoạt động dạy-học nghề phổ thông trong Trungtâm KTTH - HN là mối tương quan nằm trong thể thống nhất hữu cơ giữa dạyhọc lý thuyết và thực hành nghề phổ thông Song song với dạy lý thuyết, phầnlớn (2/3) thời gian để học sinh thực hành nghề phổ thông Do vậy, đòi hỏigiáo viên phải truyền đạt cho học sinh những tri thức có tính chất ứng dụng,mặt khác khi dạy thực hành nghề phổ thông cũng có ảnh hưởng trở lại vớiviệc tiếp thu những tri thức trong các giờ học lý thuyết Khi truyền đạt trithức, giáo viên cần phải chú ý tới kinh nghiệm thực hành nghề phổ thông củahọc sinh, tới mối liên hệ giữa tri thức đã học với thực tiễn trong mỗi thời điểmhọc nghề phổ thông Ở đây cần chú ý đến mối liên hệ giữa mục đích - nộidung - phương pháp trong hoạt động dạy-học nghề phổ thông
Trong hoạt động dạy-học nghề phổ thông, ta không chỉ xem xét việcdạy là việc truyền thụ kiến thức hiểu biết và năng lực mà còn phải xem xéthoạt động tích cực, tự giác của học sinh học nghề phổ thông trong quan hệqua lại giữa sự chỉ đạo và sự tự lực, giáo viên phải thường xuyên suy nghĩxem bằng biện pháp nào và bằng những phương tiện, phương pháp nào đểkích thích học sinh học nghề phổ thông hoạt động tự lực, tổ chức quá trình laođộng một cách độc lập, sáng tạo [36]
1.5 Quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông
1.5.1 Các đặc trưng hoạt động dạy-học NPT và quản lý hoạt động dạy-học NPT Tất cả các nhân tố cấu trúc của hệ thống hoạt động dạy-học NPT tồn tại
trong mối quan hệ qua lại thống nhất với nhau Mặt khác, toàn bộ hệ thốnghoạt động dạy-học NPT lại có mối quan hệ qua lại và thống nhất với các môitrường của nó: môi trường kinh tế - xã hội và môi trường khoa học công nghệ
Ở đây có điều đáng chú ý là môi trường kinh tế - xã hội và môi trường khoahọc - công nghệ một mặt đòi hỏi phải hoàn thiện hoạt động dạy-học NPT, đòi hỏihoạt động dạy-học NPT phải phục vụ đắc lực cho chúng, đồng thời cũng tạo điềukiện cho việc hoàn thiện hoạt động dạy-học NPT Do đó, hoạt động dạy-học NPTphải và có thể phát huy tác dụng đối với môi trường của nó, kết
32
Trang 37hợp hữu cơ hoạt động dạy-học với hoạt động kinh tế - xã hội, phục vụ khoahọc - công nghệ theo khả năng cao nhất của mình và điều cơ bản là nó gópphần đào tạo cho cuộc sống những con người lao động nghề nghiệp.
Ở phần trên chúng ta đã phân tích đặc điểm của mỗi nhân tố trong hệthống hoạt động dạy-học nghề phổ thông, bây giờ chúng ta xem xét các mối quan hệ
và tương tác giữa các nhân tố đó và vai trò của quản lý Đối với việc quản lý hoạtđộng này một khi các nhân tố mục đích, nội dung và phần nào các hình thức tổ chức
đã được xác định từ các cơ quan cấp trên và trong một điều kiện vật chất, kỹ thuật đãđịnh hình thì việc thực hiện mục tiêu quản lý (trong đó số lượng và chất lượng dạyhọc nghề phổ thông) sẽ phụ thuộc chủ yếu vào các hoạt động của giáo viên, học sinh
Sơ đồ 1.2: Các đặc trưng hoạt động dạy-học nghề phổ thông và quản
lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông
Môi trường KT - XH, môi trường KH - CN
Những nhân tố đầu vào:
- Các học sinh phổ thông vào học nghề (lớp 8,9 - THCS và lớp 11 -
THPT)
- Các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực)
Trang 38- Thông tin.
Những nhân tố đầu ra:
- Các học sinh phổ thông tốt nghiệp (THCS - lớp 9, THPT - lớp 12)
- Các sản phẩm do Trung tâm KTTH - HN tạo ra (các sản phẩm do tổ chức hoạt động dạy học nghề phổ thông mà có).
Ta nhận thấy vai trò của các tác động quản lý vào “hoạt động dạy-họcnghề phổ thông” là một quá trình nhân tạo, một quá trình xã hội Các tác độngquản lý là tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm thực hiệnmột mục đích đã định Nếu ta sắp xếp các tác động quản lý này thành từngnhóm, mỗi nhóm tương ứng với một giai đoạn nào đó trong quá trình quản lý
và tương ứng với một nội dung công việc xác định thì chúng ta đã hình thànhcác chức năng quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông
1.5.2 Đặc điểm của quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông
Quản lý phải phù hợp với đối tượng quản lý Vậy các đặc điểm củaquản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông sẽ nảy sinh từ đặc điểm hệ thốnghoạt động dạy-học nghề phổ thông ta vừa phân tích ở trên
Ngoài ra, trong quản lý người ta còn nhấn mạnh một vấn đề chung hơn
đó là việc tạo một môi trường bên trong thuận lợi Các nhà quản lý ở mọi cấp
độ và trong mọi cơ sở đều có nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môitrường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm, có thểhoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định Các nhà quản lý cũngkhông thể quên rằng: họ còn phải hoạt động cả ở môi trường bên ngoài Đốivới những quan hệ qua lại với môi trường bên ngoài, các nhà quản lý phải cóđược sự am hiểu và nhạy bén với nhiều yếu tố của môi trường này như cácyếu tố về kinh tế, kỹ thuật - công nghệ, xã hội, chính trị và đạo lý ảnh hưởngtới các lĩnh vực hoạt động của họ
Một nét đặc thù của hoạt động dạy-học nghề phổ thông là nhân tố họcsinh chỉ là “mượn” của các trường phổ thông, do vậy việc quan hệ với cáctrường giữ một vai trò quan trọng trong công tác tuyển sinh đầu vào Số lượnghọc sinh đến học tại trung tâm nhiều hay ít phụ thuộc chủ yếu vào mối quan
hệ này Vì vậy, sự phối kết hợp giữa trung tâm KTTH-HN với các trường phổthông cũng là một đặc điểm quan trọng trong quản lý hoạt động dạy-học nghề
34
Trang 39phổ thông, quyết định kết quả về mặt số lượng cũng như chất lượng của hoạtđộng này.
Một đặc điểm nữa cũng hết sức quan trọng trong quản lý hoạt độngdạy-học nghề phổ thông là sự phối kết hợp giữa trung tâm KTTH-HN với nhucầu học nghề của cộng đồng địa phương Đặc điểm này quyết định sự phongphú của các loại hình nghề tại trung tâm, đòi hỏi sự quản lý phải đa dạng hơn
1.5.3 Yêu cầu của quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông trong giai đoạn hiện nay
Việc không ngừng nâng cao chất lượng dạy-học nghề phổ thông là yêucầu bức thiết và cũng là điều kiện vô cùng quan trọng quyết định đến sự tồntại và phát triển của trung tâm KTTH-HN trong giai đoạn hiện nay Để nângcao chất lượng dạy-học nghề phổ thông, việc quản lý hoạt động này phải thựchiện được các yêu cầu - nhiệm vụ sau:
* Tổ chức, chỉ đạo một cách có hệ thống việc tìm hiểu, thăm dò nguyệnvọng, nhu cầu của các đối tượng người học, tư vấn cho học sinh hình thành ý thức
về nghề nghiệp trong tương lai, sắp xếp, bố trí các lớp học nghề một cách khoahọc, hợp lý, đáp ứng một cách tương đối nhu cầu học tập trên cơ sở phù hợp cácđặc điểm tâm sinh lý người học và điều kiện về năng lực con người cũng như cơ sởvật chất của đơn vị
* Chương trình nghề phổ thông giai đoạn hiện nay đã có nhiều thay đổi
so với giai đoạn trước cả về nội dung và thời lượng thực hiện chương trình Vì vậy,trước hết phải tổ chức cho giáo viên tìm hiểu, nắm vững mục đích, nội dungchương trình nghề phổ thông mới, đặc biệt là các môn nghề trực tiếp giảng dạy.Trên cơ sở đó, xây dựng quy trình quản lý hoạt động dạy-học NPT một cách khoahọc, hợp lý cho từng nghề cụ thể mà trung tâm có khả năng thực hiện trong giaiđoạn hiện nay Từ quy trình này, người giáo viên có căn cứ, cơ sở để xây dựng các
kế hoạch thực hiện cho từng bài học cụ thể, đảm bảo cho việc thực hiện chươngtrình đạt được các mục tiêu dạy-học đã được đặt ra
* Chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy-học NPT của giáo viên, kíchthích giáo viên có động lực cải tiến phương pháp rèn tay nghề cho học sinh theoquy trình sao cho đạt được mục tiêu dạy-học đã được đặt ra trong giai đoạn hiệnnay
Trang 40* Quan tâm chỉ đạo chặt chẽ việc đổi mới hình thức kiểm tra đánh giákết quả dạy-học nghề phổ thông, đáp ứng yêu cầu mục tiêu của chương trình giáodục nghề phổ thông trong giai đoạn hiện nay.
* Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy-học đáp ứng các điều kiện tốt nhất cho hoạt động dạy-học nghề phổ thông trong giai đoạn hiện nay
Tiểu kết chương 1
Chương 1 xây dựng một số cơ sở lý luận về vấn đề quản lý hoạt độngdạy-học nghề phổ thông tại trung tâm KTTH-HN Nội dung của chương đã đềcập đến những khái niệm, quan điểm cơ bản liên quan đến hoạt động dạy-học,quản lý, quản lý hoạt động dạy-học, trung tâm kỹ thuật tổng hợp-hướngnghiệp; dạy-học nghề phổ thông, quản lý hoạt động dạy-học nghề phổ thông
Việc nghiên cứu lý luận đầy đủ và hệ thống đã giúp cho tác giả có cơ sởkhoa học để nghiên cứu thực trạng hoạt động dạy-học nghề phổ thông cũngnhư thực trạng quản lý hoạt động này tại Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướngnghiệp Hải Phòng, qua đó thấy được những thành công cũng như bất cập.Trên cơ sở đó xác định được nguyên nhân của những thành tích, ưu điểm cầnphát huy, cũng như thấy được nguyên nhân của những bất cập, yếu kém cầnkhắc phục
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất các biện pháp quản lý phát huycác ưu điểm, khắc phục các nhược điểm nhằm nâng cao chất lượng dạy vàhọc nghề phổ thông tại Trung tâm trong giai đoạn hiện nay, góp phần pháttriển giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chấtlượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương
và cả nước
36