1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường đại học nông nghiệp hà nội

124 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 349,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở liên kết đào tạo và việc phối hợp thực hiện...26 Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI CÁC CƠ SỞ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ N

Trang 1

đại học quốc gia hà nội

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN KHÁNH THỌ

BIỆN PHÁP QUẢN Lí ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI CÁC CƠ SỞ LIấN KẾT ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG NGHIỆP HÀ NỘI

Chuyờn ngành: QUẢN Lí GIÁO DỤC

Mó số: 601405

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN Lí GIÁO DỤC

HÀ NỘI 2009

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Trang

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối lượng nghiên cứu 3

4 Câu hỏi nghiên cứu 4

5 Giả thuyết khoa học 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 6

1.1 Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu 8

1.2.1 Quản lý 8

1.2.2 Quản lý giáo dục và Quản lý nhà trường 14

1.2.3 Quản lý nhà nước về giáo dục 18

1.2.4 Hệ đào tạo vừa làm vừa học 25

1.3 Đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết 25

1.3.1 Đặc điểm về đào tạo hệ vừa làm vừa học 25

1.3.2 Cơ sở liên kết đào tạo và việc phối hợp thực hiện 26

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI CÁC CƠ SỞ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 28

2.1 Giới thiệu chung về trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 28

2.1.1 Khái quát về trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 28

Trang 3

2.1.2 Đối tượng đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 29

Trang 4

2.1.3 Mục tiêu đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 29

2.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 30

2.1.5 Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên 31

2.1.6 Quy mô đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 34

2.1.7 Nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật 37 2.1.8 Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ đào tạo 38

2.2 Thực trạng đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 40

2.2.1 Công tác tuyển sinh hệ vừa làm vừa học của Nhà trường 44

2.2.2 Xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo hệ vừa làm vừa học 45

2.2.3 Hoạt động dạy học hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo 45

2.2.4 Đánh giá kết quả học tập, công nhận tốt nghiệp cho sinh viên 46

2.3 Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 47

2.3.1 Cơ sở pháp lý để quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học của Nhà trường 47

2.3.2 Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 48

Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI CÁC CƠ SỞ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 69

3.1 Định hướng đề xuất các biện pháp 69

3.1.1 Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 69

3.1.2 Định hướng phát triển của Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội 69

3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý đào tạo 69

3.2.1 Dựa trên nguyên tắc đồng bộ 69

3.2.2 Dựa trên nguyên tắc khả thi; lựa chọn ưu tiên 70

Trang 5

3.2.3 Dựa trên nguyên tắc thừa kế 70

3.3 Các biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 70

3.3.1 Xây dựng quy trình khép kín quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết 71

3.3.2 Tăng cường chỉ đạo xây dựng và thực hiện tốt nội dung, chương trình đào tạo 74

3.3.3 Tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát công tác đổi mới phương pháp giảng dạy 76

3.3.4 Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động học của sinh viên 78

3.3.5 Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giảng dạy học 81

3.4 Thăm dò tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 89

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Khuyến nghị 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Các chức năng quản lý cơ bản 13

Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản lý giáo dục 14

Sơ đồ 2.1 Bộ máy tổ chức quản lý của Nhà trường 30

Bảng 2.1 Thực trạng quy mô đào tạo đại học 5 năm (2004 - 2008) 35

Bảng 2.2 Thực trạng quy mô đào sau tạo đại học 5 năm (2004 - 2008) 35

Bảng 2.3 Số ngành và số học phần đào tạo đại học tại các khoa 36

Bảng 2.4 Nhu cầu diện tích nhà làm việc, ký túc xá, dịch vụ sinh viênđến năm 2015 và 2020 39

Bảng 2.5 Số ngành và địa phương liên kết đào tạo với Nhà trường 41

Bảng 2.6 Số lượng sinh viên đã tốt nghiệp và đang học tại các địa phương 42

Bảng 2.7 Đánh giá CBQL phòng đào tạo đại học về các biện pháp quản lý giờ lên lớp của giảng viên 57

Bảng 2.8 Đánh giá của Ban Giám hiệu, lãnh đạo các Khoa, Phòng về các biện pháp quản lý giờ lên lớp của giảng viên 59

Bảng 2.9 Đánh giá của cán bộ quản lý về các biện pháp quản lý hoạt động học của sinh viên 60

Bảng 3.1 Đánh giá tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp quản lý hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết của Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội 87

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Loài người đã bước vào thế kỉ XXI - thế kỉ của nền kinh tế tri thức,trong đó tri thức là nguồn lực quyết định sự phát triển và tăng trưởng nềnkinh tế Nước ta, trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phảiđồng thời thực hiện hai nhiệm vụ quan trọng là: Chuyển từ nền kinh tế nôngnghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và tận dụng cơ hội “đi tắt đón đầu” để đithẳng vào những ngành sử dụng công nghệ cao của nền kinh tế tri thức Cùngvới sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ và xu thế hội nhập,cạnh tranh gay gắt của thế giới ngày nay, hai nhiệm vụ đó đặt ra những đòihỏi mới và những thách thức to lớn đối với sự phát triển Giáo dục – Đào tạo,trước hết và đặc biệt là đối với giáo dục đại học

Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đặt ra nhiệm vụ chogiáo dục đại học phải đào tạo ra những con người có sức khoẻ, có đạo đức, cótri thức và trình độ chuyên sâu, có năng lực học tập thường xuyên và học tậpsuốt đời, năng động, sáng tạo để thực hiện tốt công cuộc xây dựng và bảo vệ

Tổ Quốc Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến vị trí và vai trò củagiáo dục và luôn coi đó là quốc sách hàng đầu Phát triển nguồn nhân lực luônđược coi là nhiệm vụ đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và lànhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo ở nước ta

Hiện nay với việc ngày càng có nhiều các Trường Đại học tư đượcthành lập bên cạnh hệ thống các trường đại học công lập đang hoạt độngthường xuyên thì số lượng sinh viên được đào tạo trình độ đại học ngày càngtăng dẫn đến một vấn đề tất yếu được quan tâm đó là chất lượng đào tạongày càng phải được nâng cao để đáp ứng được nhu cầu của xã hội và mụctiêu phát triển nền kinh tế

Nền giáo dục của nước ta hiện nay có rất nhiều loại hình đào tạo đạihọc như: đào tạo chính quy, đào tạo tại chức (vừa làm vừa học), đào tạo từ

Trang 8

xa Theo con số thống kê của Bộ Giáo và đào tạo thì cả nước có trên 1,5 triệusinh viên đang theo học các trường Đại học, Cao đẳng, trong đó có khoảng700.000 tức gần 50% sinh viên đang theo học hệ tại chức (vừa làm vừa học).Một con số khá ấn tượng bởi mục tiêu của đào tạo hệ vừa làm vừa học là hướngđến những người đang đi làm việc muốn nâng cao trình độ nghiệp vụ hoặcnhững người không có khả năng tài chính và điều kiện thời gian để theo đuổihọc hệ chính quy Tuy nhiên với một số lượng đông đảo người vừa làm vừa họcnhư vậy thì đòi hỏi các trường Đại học, Cao đẳng phải có biện pháp quản lý tốtviệc tổ chức đào tạo cũng như đảm bảo quyền lợi, chất lượng đào tạo cho ngườihọc, đồng thời giải quyết triệt để những bất cập đối với loại hình đào tạo này màrất nhiều phương tiện thông tin đại chúng đã và đang phản ánh.

Là một trong số các Trường Đại học trọng điểm quốc gia, trong nhữngnăm qua, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã và đang tiến hành đổi mới

để đáp ứng chủ trương của Đảng, Nhà nước, của các cấp quản lý giáo dụccũng như đáp ứng tốt yêu cầu của xã hội Nhà trường luôn phấn đấu để trởthành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học đa ngành, chất lượnghàng đầu trong cả nước, tiên tiến trong khu vực về nông nghịêp và phát triểnnông thôn Vì vậy mục tiêu của Nhà trường là: Không ngừng phấn đấu chochất lượng đỉnh cao trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học - côngnghệ và phục vụ xã hội, đóng góp thiết thực cho sự phát triển nông nghiệphiện đại, bền vững và nông thôn Việt Nam văn minh, giầu đẹp

Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây số người học đại học nóichung và học đại học Nông nghiệp nói riêng đang ngày một tăng, quy mô đàotạo đại học của Trường năm 2008 tăng gấp gần 1,6 lần so với năm 2003 Sốlượng sinh viên đang theo học tại trường năm 2008 là 20.677 sinh viên trong đó

có 8540 tức gần 50% sinh viên thuộc hệ vừa làm vừa học (tại chức) Số lượngsinh viên hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo trong những năm quakhông ngừng tăng lên Năm 2003, số lượng sinh viên hệ vừa làm vừa

Trang 9

học tại các cơ sở liên kết đào tạo là 4373 sinh viên, đến năm 2009 số lượngsinh viên của hệ đào tạo này đã tăng lên 6998 sinh viên Mặc dù Nhà trường

đã chú trọng tới việc nâng cao chất lượng đào tạo nhưng cũng như rất nhiềucác Trường Đại học khác, việc đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liênkết đào tạo của trường vẫn còn khá nhiều bất cập từ khâu quản lý đào tạo chođến chất lượng đào tạo (quá trình dạy và học; thi, kiểm tra, đánh giá ), cầnđược chấn chỉnh và giải quyết triệt để tránh gây dư luận không tốt, ảnhhưởng tới uy tín của Nhà trường

Xuất phát từ việc học tập, nghiên cứu lý luận về khoa học quản lý giáodục, từ thực tiễn công tác, tác giả nhận thấy sự cần thiết của việc nghiên cứuthực trạng công tác quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kếtđào tạo của trường Đaị học Nông nghiệp Hà Nội nhằm rút ra những kinhnghiệm để góp phần đề ra các biện pháp quản lý đào tạo một cách đồng bộ, cótính khả thi cao, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và đáp ứng đượcmục tiêu phát triển của Nhà trường

Lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm

- vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp HàNội”, tác giả mong muốn xây dựng được các biện pháp nhằm nâng cao hơn

nữa hiệu quả quản lý đào tạo cũng như chất lượng đào tạo của Nhà trường

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác quản lý đào tạo hệvừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp

Hà Nội, đưa ra một số biện pháp quản lý đào tạo thực hiện đúng quy chế của BộGiáo dục và Đào tạo nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo

3 Khách thể và đối lượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Hệ đào tạo vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Trang 10

- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ

sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

4 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Việc quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nảy sinh những vấn đề gì bất cập?

Câu hỏi 2: Làm thế nào để giải quyết những vấn đề đó nhằm nâng caohiệu quả quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo củaTrường Đại học Nông nghiệp Hà Nội?

5 Giả thuyết khoa học

Hiện nay công tác quản lý tổ chức đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các

cơ sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội chưa toàndiện và đồng bộ, điều này ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo và việc thực hiệncác mục tiêu phát triển của nhà trường Nếu đề xuất và áp dụng được nhữngbiện pháp quản lý phù hợp hơn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả cũng như chấtlượng đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Phạm vi không gian và thời gian: Quá trình đào tạo hệ vừa làm vừa học

tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội từ năm

2003 tới nay

6.2 Phạm vi nội dung: Các biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại

các cơ sở liên kết của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Phòng Đào tạođại học quản lý trực tiếp

7 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phối hợp các phương pháp:

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận: nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và

hệ thống các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng, các văn bản quy định của Nhà

Trang 11

nước; các tài liệu lý luận về quản lý, quản lý giáo dục và quản lý đào tạo hệvừa làm vừa học.

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

7.2.1 Sử dụng các phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn giảng

viên, sinh viên, cán bộ tại cơ sở liên kết đào tạo để thu thập thông tin về thựctrạng quản lý tổ chức đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đàotạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

7.2.2 Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát quá trình dạy và học của

giảng viên, sinh viên

7.3 Phương pháp bổ trợ

7.3.1 Phân tích xử lý số liệu: dùng phần mềm thống kê để xử lý những số liệu thu được từ khảo sát quản lý đào tạo.

7.3.2 Phương pháp chuyên gia: trao đổi, phỏng vấn, trưng cầu ý kiến cán bộ

quản lý của nhà trường và các cơ sở liên kết đào tạo

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, nộidung luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa họctại các cơ sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

- Chương 3: Biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ

sở liên kết đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Trang 12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ

VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1 Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học là một vấn đề đang được cả xãhội quan tâm, đặc biệt là đào tạo vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết củacác trường đại học nói chung Trong thời gian qua đã có rất nhiều cuộc hộithảo cấp quốc gia và cấp vùng miền cũng như tại các trường đại học, có cả sựtham gia của các tổ chức nước ngoài về thực trạng đào tạo hệ vừa làm vừahọc nói chung và hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết nói riêng để từ đótìm ra giải pháp nâng cao chất lượng của hệ đào tạo này

Đã có rất nhiều bài báo hoặc những bài viết của trực tiếp những ngườiđang công tác trong ngành giáo dục được đăng tải đề cập đến chất lượng củaviệc đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các trường đại học và tại các cơ sở liênkết

Bộ Giáo dục và đào tạo vẫn thường xuyên tổ chức tổng kết rút kinhnghiệm đào tạo tại chức (vừa làm vừa học) Đã có rất nhiều ý kiến xungquanh vấn đề này được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng.Nhiều ý kiến phản đối yêu cầu giảm thiểu đáng kể tiến tới loại bỏ hoàn toànloại hình đào tạo này Bên cạnh đó là đại đa số ý kiến ủng hộ chủ trương của

Bộ Giáo dục và đào tạo tiếp tục cho đào tạo và phát triển loại hình đào tạonày được đưa ra Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo Nguyến Thiện Nhân đãkết luận : chưa thể dừng hẳn loại hình đào tạo này vì như vậy sẽ đi ngược lạichủ trương của Đảng và Nhà nước và sẽ vô tình đập bể "nồi cơm" của cáctrường đại học Chúng ta cần thảo luận theo hướng tích cực để tìm ra giảipháp hữu hiệu quản lý chặt chẽ, nâng cao chất lượng đào tạo

Trên trang web www.tuanvietnam.net có đăng tải lá thư gửi Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và đào tạo của Giáo sư Nguyễn Đình Cống - Nguyên chủ nhiệmkhoa xây dựng - Trường Đại học Xây dựng Hà Nội đề cập đến chất lượng đào

Trang 13

tạo của hệ vừa làm vừa học với hàng tít: "Bức tranh đại học tại chức đã quáđen tối, tình hình đã quá mức phải báo động".

Giáo sư Phạm Phụ -Thành viên Hội đồng Giáo dục Quốc gia, trong bàitrả lời phỏng vấn của phóng viên đài RFA đã nói: "Tôi không nghĩ dừng lạiviệc đào tạo tại chức để củng cố đại học chính quy đã là tốt vì tôi nghĩ đây lànhu cầu rất chính đáng của xã hội, vì bên cạnh những người theo học cầnbằng cấp để lên chức thì cũng có một số khá đông có nhu cầu học tập thực sự,cho nên không nên đặt vấn đề là ngưng đào tạo tại chức nhưng phải có ngaymột loạt các chính sách để quản lý có hiệu quả"

Bên cạnh các ý kiến nêu trên thì Thanh tra Bộ Giáo dục và đào tạo saukhi tiến hành kiểm tra hàng loạt các cơ sở liên kết đào tạo hệ tại chức (vừalàm vừa học) ở địa phương thời gian qua đã kết luận: "Việc thực hiện liên kếtđào tạo giữa các trường đại học, cao đẳng với các địa phương trong thời gianvừa qua mang tính lợi nhuận là chính Các địa phương chỉ làm nhiệm vụtuyển sinh, còn các trường gần như chỉ nhằm kiếm việc làm cho cán bộgiảng viên để tăng thu nhập" Ông Phạm Văn Tại, Phó Chánh Thanh tra BộGiáo dục và đào tạo đã kết luận như vậy sau khi tiến hành thanh tra hàng loạtcác cơ sở liên kết đào tạo giữa các trường đại học, cao đẳng với các địaphương Bên cạnh việc tạo cơ hội rất lớn cho nhiều người không có điều kiệnhọc chính quy có thể có tấm bằng trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại họcthông qua liên kết đào tạo… thì vẫn có khá nhiều sai phạm, hạn chế tronghình thức liên kết đào tạo này Cụ thể, các lớp liên kết đào tạo liên tục “trămhoa đua nở”, trung tâm nào hay tổ chức nào thấy có điều kiện

liên kết là đều xin làm Kể cả doanh nghiệp tư nhân cũng xin mở lớp đào tạođại học, rồi các tổ chức, đoàn thể, công ty, tổ chức chính trị xã hội… liên kếtđào tạo như “nấm”

Theo Điều 46 của Luật Giáo dục quy định “cơ sở giáo dục đại học khi thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên lấy bằng cao đẳng, đại học chỉ

Trang 14

được liên kết với cơ sở GD địa phương là trường đại học, cao đẳng, trườngtrung cấp, trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh với điều kiện các cơ sởnày phải đảm bảo đủ điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị và đội ngũ cán bộ quản

lý về đào tạo đại học, cao đẳng” Nhưng thực tế các trường triển khai đào tạoliên kết với cả trung tâm giáo dục cấp huyện, thậm chí cả trung tâm xúc tiếnviệc làm cũng liên kết đào tạo đại học

Việc mở quá nhiều các lớp liên kết nhưng không quản lý, không kiểmsoát được dẫn đến hệ quả tất yếu là chất lượng đào tạo kém Mới đây, BộGiáo dục và đào tạo đã kiểm tra các trung tâm giáo dục thường xuyên và pháthiện một số trung tâm cấp tỉnh còn “sướng hơn” các trường đại học vì có thểtiến hành liên kết với chục trường đại học ở tất cả các ngành Trong khi đó,trường đại học muốn mở ngành phải làm đầy đủ thủ tục hồ sơ sau đó trình Bộxem xét phê duyệt Còn các trung tâm giáo dục thường xuyên muốn đào tạođại học chuyên ngành gì thì thực hiện liên kết với trường đại học cùngchuyên ngành đó chỉ cần qua một thủ tục nho nhỏ Như vậy, Bộ Giáo dục vàđào tạo cần phối hợp chặt chẽ với các cấp quản lý có thẩm quyền tại các địaphương để quản lý chặt chẽ các cơ sở xin đặt lớp, từ đó có những biện phápquản lý phù hợp, nên quy định rõ trách nhiệm của các cơ sở liên kết xin mởlớp đào tạo vừa làm vừa học với các trường đại học

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu

Trang 15

chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng hơn tầm quốc gia, quốc tế thì đềuphải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó.

C Mác đã viết: “Tất cả các lao động xã hội trực tiếp hay lao độngchung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sựchỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năngchung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vậnđộng của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mìnhđiều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc tì cần phải có nhạc trưởng”

Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên rất phổ biến và được sự quantâm đặc biệt, Khoa học quản lý được coi là chìa khoá vàng cho những thànhcông của cá nhân hay tổ chức

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động chủ thể quản lýtrong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối cácnguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nộilực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất vàquản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người –thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dựkiến.” [16,tr.15]

Theo Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình cómục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạtđược mục tiêu nhất định.” [23,tr.8]

Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởngcủa chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.”[1,tr.17]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “ Quản lý làhoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý)đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổchức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.” [5, tr.3]

Trang 16

Qua những định nghĩa trên ta thấy quản lý có những đặc trưng cơ bảnsau:

Quản lý bao gồm hai thành phần: chủ thể và khách thể quản lý

Chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương

hỗ nhau, chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì nảysinh các giá trị vật chất và tinh thần, có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhucầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý

Do đó: Quản lý là một hoạt động nhằm thực hiện những tác độnghướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm khai thác có hiệuquả những tiềm năng và cơ hội tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạtđược mục đích của tổ chức đặt ra Quá trình tác động này được vận hànhtrong một môi trường xác định

Quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua

sự nỗ lực của người khác Cũng có ý kiến cho rằng quản lý là quá trình lập kếhoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc các thành viên thuộc một hệthống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mụcđích đã định Tuy vậy, theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích củacon người Quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa:

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản

lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Dù được hiểu theo cách nào về quản lý cũng cần quan tâm một số điểm sau:

- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định

- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận của chủ thể quản lý và khách thể quản lý, là quan hệ không đồng cấp, có tính bắt buộc

- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan

- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin

Trang 17

Tóm lại: Con người là độc đáo và phức tạp, họ có thể hoặc là đóng gópcho sự tiến bộ của tổ chức hay là nguyên nhân làm cho tổ chức bị tiêu huỷ.

Do đó, quản lý vừa là một khoa học vừa có tính nghệ thuật, nó đóng một vaitrò vô cùng quan trọng trong mọi hoạt động của đời sống con người Quản lý

là sự chi phối và dẫn dắt mọi hoạt động của cá nhân, tổ chức đi đến một đíchnhất định trong từng giai đoạn, hay xuyên suốt thời gian – không gian và ở đótồn tại những đối tượng điều khiển được và cả những đối tượng không điềukhiển được

1.2.1.2 Chức năng quản lý

Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích củachủ thể quản lý lên khách thể quản lý Đó là tập hợp những nhiệm vụ khácnhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý Chức năngquản lý có chức năng cơ bản, chức năng cụ thể với nhiều cách tiếp cận khácnhau bao gồm:

(a), Lập kế hoạch (hoạch định chiến lược): Phán đoán trước toàn bộ

quá trình và các hiện tượng mà tương lai có thể xảy ra mang tính địnhhướng, chuẩn bị các giải pháp thực hiện hoạt động mong muốn này bằngcách xác định rõ:

- Hoạt động nào mà tổ chức muốn thực hiện

- Cách thực hiện các hoạt động này được thực hiện như thế nào, khi nào thì thực hiện

- Ai sẽ là người thực hiện, nguồn lực nào cần có để thực hiện cáchoạt động đó (tiền bạc, thiết bị, con người)

- Các hoạt động này được thực hiện ở đâu, khi nào kết thúc

Việc lập kế hoạch sẽ kết nối khoảng trống giữa vị trí hiện tại với mụctiêu mà tổ chức mong muốn đạt đến trong tương lai Chức năng này được coi

là chức năng cơ bản nhất của tất cả các chức năng quản lý Nhà quản lý lập kế

Trang 18

hoạch bao gồm cả việc tuyển chọn nhân viên, tổ chức các nguồn lực, kiểm tra

và phối hợp con người và các hoạt động để đảm bảo đạt được các mục tiêu

(b), Tổ chức: Tổ chức là đảm bảo tất các các hoạt động và các tiến trình

được sắp xếp, giúp cho một tổ chức có thể đạt được các mục tiêu đề ra Nộidung quan trọng nhất của tổ chức là tìm được đúng người, đúng việc, xácđịnh được trách nhiệm của họ, thiết kết một tổ chức và cơ cấu đảm bảo cácnhân viên đều hiểu rõ họ làm việc gì, ở đâu và với ai hay báo cáo cho ai, phải

rõ ràng quyền lực, trách nhiệm để tránh tình trạng hỗn loạn Đảm bảo mộtmôi trường làm việc lành mạnh, tích cực và khuyến khích làm việc hiệu quả

Tiến trình tổ chức gồm 5 bước:

- Xem xét các kế hoạch và mục tiêu

- Phân loại và nhóm các hoạt động

- Phân bổ công việc và các hoạt động

- Đánh giá kết quả để quyết định xem có cần những thay đổi hayđiều chỉnh nào không

(c), Lãnh đạo điều khiển (phối hợp): Các nhà quản lý phải là những

người lãnh đạo hiệu quả, họ phải học cách làm việc với người khác, cách chiphối và động viên người khác để đảm bảo công việc được thực hiện Cáccông nhân, nhân viên trong mỗi tổ chức đều có cách suy nghĩ riêng và cũng sẽlàm những việc họ muốn nếu họ không thích những mệnh lệnh hoặc các chỉdẫn của các nhà quản lý đưa ra

Chức năng quản lý điều khiển của cán bộ bao gồm:

(d), Kiểm tra: Trong tất cả các tổ chức phải có một mức độ kiểm tra

nhất định đối với con người, tài chính, thời gian và các hoạt động Thườngcác nhà quản lý hay nhầm lẫn phối hợp với kiểm tra Phối hợp hàm ý là một

Trang 19

cách tiếp cận mềm dẻo để kiểm tra và kiểm tra ngụ ý là các hoạt động được

giám sát để đảm bảo sự tuân thủ các luật và quy định

Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản lý Để cho chức năng

này có hiệu quả, nhà quản lý phải thiết lập được các tiêu chuẩn, quy trình

kiểm tra, đo lường và phân tích các kết quả các nhà quản lý xác định được là

tổ chức có đạt được các mục tiêu đề ra hay không, và có được liên kết chặt

chẽ với việc lập kế hoạch hay không, và nếu không đạt được thì phải cải thiện

việc thực hiện nhằm tăng cơ hội đạt được mục đích

Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý cơ bản

Đạt được các mục tiêu của tổ chức có hiệu quả

Nguồn lực con người

Qua việc nghiên cứu về các chức năng cơ bản của quản lý, sau khi tìm

hiểu và nắm bắt được nội dung cơ bản về các chức năng quản lý, chúng ta còn

thấy được mối quan hệ mật thiết giữa các chức năng cơ bản của quản lý giáo

Trang 20

dục Các chức năng này gắn bó mật thiết với nhau, đan xen lẫn nhau, khi thựchiện chức năng này thường cũng có mặt các chức năng khác ở các mức độkhác nhau Trong mọi hoạt động quản lý giáo dục, thông tin quản lý giáo dụcđóng vai trò vô cùng quan trọng, nó được coi như là “mạch máu” của hoạtđộng quản lý giáo dục, điều này được thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1 2: Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản lý giáo dục

Lập kế hoạch

Chỉ đạo

Môi trường bên ngoài

1.2.2 Quản lý giáo dục và Quản lý nhà trường

1.2.2.1 Khái niệm

Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của bộ máy quản lý giáo dụcđến hoạt động giáo dục nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt đến kết quả mongđợi Quan hệ căn bản của hoạt động quản lý giáo dục là quan hệ của ngườiquản lý với người dạy và người học trong hoạt động giáo dục Các mối quan

Trang 21

hệ khác biểu hiện trong mối quan hệ giữa các cấp bậc quản lý, giữa người vớingười (giảng viên - học sinh), giữa con người với cơ sở vật chất và điều kiệnphục vụ giáo dục Khoa học quản lý giáo dục là một chuyên ngành của khoahọc quản lý nói chung.

Quản lý giáo dục (QLGD) là sự vận dụng khoa học quản lý vào hoạtđộng giáo dục để thực hiện mục tiêu giáo dục như mong muốn Quan niệm vềQLGD cũng được hiểu theo nhiều hướng khác nhau:

- Theo Đặng Quốc Bảo: “ QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành,phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầuphát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục

thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọingười Cho nên, QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốcdân.” [1, tr.31]

- Theo Đỗ Hoàng Toàn: “QLGD là tập hợp những biện pháp tổ chức,phương pháp giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính … nhằm đảm bảo sự vận hànhbình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tụcphát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng.” [27,tr.29]

Có thể hiểu: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lựclượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và hình thành nhân cáchcho thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội

Trong hoạt động giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm, họ vừa làchủ thể vừa là khách thể quản lý Mọi tác động của quản lý giáo dục đềuhướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ Do đó, một lần nữaphải khẳng định rằng, con người là nhân tố quan trọng nhất trong quản lýgiáo dục

Quản lý trường học

Trang 22

Nhà trường với tư cách là một thể chế nhà nước – xã hội, là nơi trựctiếp đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ và giáo dục đào tạo lại cho nhiều đối tượng

có nhu cầu trong xã hội Tuỳ thuộc vào hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia

mà quy định cấp bậc học và phạm vi, quy mô cũng như các cách thức hoạtđộng của mỗi nhà trường

Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt đặc thù của xã hội, được hìnhthành từ nhu cầu mang tính tất yếu khách quan của xã hội nhằm thực hiệnchức năng truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội để đạt mục tiêu tồn tại vàphát triển của cá nhân, phát triển của cộng đồng

Quản lý xã hội lấy tiêu điểm là QLGD thì QLGD phải coi nhà trường

là nút bấm và quản lý nhà trường phải lấy quản lý việc dạy và học là khâu cơbản, việc dạy học xuất phát và hướng vào người học

Theo điều 48 của Luật giáo dục năm 2005: “Nhà trường trong hệ thốnggiáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình được thành lập theo quy hoạch, kếhoạch của Nhà nước nằm phát triển sự nghiệp giáo dục.” [7, tr.21]

- Quản lý nhà trường bao gồm hai loại:

Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường.Tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường

- Quản lý nhà trường cũng gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thực thểbên ngoài nhà trường nhưng có liên hệ trực tiếp đến nhà trường như cộngđồng được đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sựphát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phươnghướng phát triển đó

- Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm cáchoạt động: quản lý giảng viên; quản lý học sinh; quản lý quá trình dạy học –

giáo dục; quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị trường học; quản lý tài chính trường học; quản lý lớp học xem như nhiệm vụ của giảng viên quản lý

Trang 23

- Quản lý trường học là giữ ổn định và tìm cách đưa nhà trường từ trạng tháiđang có tiến lên trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và pháttriển mạnh mẽ các nguồn lực phục vụ cho việc tăng cường chất lượng vàhiệu quả giáo dục.

1.2.2.2 Mục tiêu quản lý trường học

Mục tiêu quản lý trường học là nhằm đạt được chỉ tiêu cho mọi hoạtđộng của nhà trường được dự kiến trước khi triển khai công việc đó Mụctiêu quản lý trường học thường được cụ thể hoá trong kế hoạch năm học củanhà trường

Trong quản lý cần xác định các mục tiêu, bộ phận chính xác để từ đó có cácbiện pháp quản lý tốt hơn và cũng là thực hiện phát huy tốt công tác kiểm trahoạt động chuyên môn ở nhà trường Mục tiêu bộ phận bao gồm:

(a), Quản lý đảm bảo hiệu lực pháp chế về GDĐT

Đảm bảo sao cho các quy định trong hệ thống pháp chế, các quy địnhpháp luật được thực hiện đầy đủ và đúng đắn trong dạy học, trước hết làtrong khâu thiết kế chương trình, soạn bài giảng, giảng bài và đánh giá kếtquả dạy học của giảng viên

(b), Phát huy và điều hành có hiệu quả bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học

Nâng cao được trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm của đội ngũgiảng viên, nhằm tạo cho họ có đủ điều kiện thích ứng với việc cải tiếnphương pháp dạy học Thiết lập được cơ cấu tổ chức của trường một cáchphù hợp và xây dựng được cơ chế vận hành hợp lý cho nhà trường, nhằm tạođiều kiện thuận lợi cho từng bộ phận, từng cá nhân dễ dàng liên hệ, phối hợp

và hỗ trợ sư phạm cho nhau khi chuẩn bị bài giảng, giảng bài và đánh giá kếtquả dạy học

(c), Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn tài lực và vật lực dạy học

Trang 24

Thực hiện chính sách xã hội hoá giáo dục nhằm huy động tối đa tài lực

và vật lực từ cộng đồng và toàn thể xã hội, các tổ chức nước ngoài, các nguồnvốn vay ưu đãi, các nguồn vốn tài trợ khác bổ trợ thêm cho nguồn và ngânsách Nhà nước cấp, nguồn học phí cho các nhà trường

Tận dụng khoa học, triệt để công suất, năng lực cơ sở vật chất và thiết

bị dạy học Sử dụng nguồn tài lực, vật lực đúng mục đích, hiệu quả và tiếtkiệm

(d), Nâng cao chất lượng thông tin và môi trường quản lý dạy học

Xây dựng hệ thống thông tin quản lý dạy học có chất lượng, đồng thời giảiquyết các mối quan hệ giữa nhà trường – xã hội, nhằm tạo môi trường dạyhọc thuận lợi nhất trong đó chú trọng tới việc tranh thủ các cơ hội thuận lợi từcộng đồng và xã hội Giải quyết sự cạnh tranh, thực hiện tự vệ hay phòngngừa những tác động bất lợi của thiên nhiên, xã hội và các yếu tố khác đối vớihoạt động dạy học trong nhà trường

1.2.3 Quản lý nhà nước về giáo dục

1.2.3.1 Khái niệm

Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng làhoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước trong lĩnh vực giáodục, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trêncác phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với giáo dục Theo cáchhiểu này, quản lý nhà nước về giáo dục được đặt trong cơ chế Đảng lãnh đạo,Nhà nước quản lý

1.2.3.2 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục

Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm:

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính

sách phát triển giáo dục;

Trang 25

- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáodục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của

- Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;

- Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục;

- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục;

- Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục;

- Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;

- Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục;

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyếtkhiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục

1.2.3.3 Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục Chính phủ trìnhQuốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền

Trang 26

và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, những chủ trương

về cải cách nội dung chương trình của một cấp học; hằng năm báo cáo Quốchội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục

- Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiệnquản lý nhà nước về giáo dục

- Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiệnquản lý nhà nước về giáo dục theo thẩm quyền

- Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo

sự phân cấp của Chính phủ và có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện về đội ngũnhà giáo, tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trường công lập thuộcphạm vi quản lý, đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệuquả giáo dục tại địa phương

1.2.3.4 Quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học

Giáo dục đại học là một trong các thành tố quản lý nhà nước về giáodục của Bộ giáo dục và đào tạo Nhìn lại 23 năm đổi mới và 9 năm thực hiệnChiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, Bộ GD - ĐT cho rằng, giáo dụcđại học nước ta đã từng bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng về loạihình trường và hình thức đào tạo, nguồn lực xã hội được huy động nhiềuhơn,v.v… Tuy nhiên, giáo dục đại học đang đứng trước thách thức to lớn:Phương thức quản lý nhà nước đối với trường đại học, cao đẳng chậm đượcthay đổi, không đảm bảo yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của toàn hệthống, chưa phát huy mạnh mẽ được sự sáng tạo của đội ngũ nhà giáo, cácnhà quản lý và sinh viên Chất lượng nguồn nhân lực đang là một khâu yếukém kéo dài của toàn bộ hệ thống kinh tế

Bộ Giáo dục và đào tạo nhìn nhận, có hai nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém trong hệ thống giáo dục đại học Cụ thể là: Cùng lúc bị chi phối bởi nhiều loại quy luật (quy luật sư phạm, quy luật quản lý hệ thống, quy

Trang 27

luật kinh tế và quy luật xã hội) Bên cạnh đó, các cán bộ quản lý giáo dục đại học, nhất là ở cấp quốc gia không được quy hoạch và đào tạo có hệ

thống để có thể nắm vững các loại quy luật trên, vận dụng sáng tạo trong công tác nên yếu kém kéo dài không khắc phục được

Cùng với đó, hệ thống quản lý giáo dục đại học còn nặng theo hướngchỉ đạo từ trên xuống, xin từ dưới lên, chưa có cơ chế buộc lãnh đạo cấp trênphải nghe cấp dưới ở mức cần thiết Ngoài ra, chưa có cơ chế sàng lọc cán

bộ, công chức không hoàn thành nhiệm vụ

Trong tổng số 376 trường ĐH, CĐ cả nước hiện nay, Bộ GD-ĐT quản

lý 54 trường (chiếm 14,4%); các bộ, ngành khác quản lý 116 trường (30,8%);UBND các tỉnh, TP là cơ quan chủ quản của 125 trường (33,2%); có 81trường dân lập, tư thục (21,5%)

Mặc dù, Bộ GD-ĐT là cơ quan duy nhất được ban hành các văn bảnquy phạm pháp luật về quản lý giáo dục cấp bộ, thì việc kiểm tra chấp hànhcác văn bản đó ở các trường ĐH, CĐ lại thuộc các bộ, ngành khác là cơ quanchủ quản Thậm chí có bộ còn ra văn bản chồng chéo lên chức năng quản lýnhà nước của Bộ GD-ĐT…

UBND các địa phương chưa được phân cấp quản lý các trường ĐH,

CĐ ngoài công lập trên địa bàn Mọi nội dung quản lý nhà nước về giáo dục

ĐH đối với các trường đại học này đều thuộc Bộ GD-ĐT, trong khi khả năngkiểm soát hoạt động của các trường trong cả nước của Bộ rất hạn chế

Báo cáo của Bộ Giáo dục và đào tạo khẳng định gần 30 năm, chúng tachưa thực sự quản lý được chất lượng giáo dục đại học vì chưa có chuẩn đầu

ra của các trường đại học, cao đẳng (chuẩn năng lực của người tốt nghiệp);chưa giữ được chuẩn của nhiều yếu tố đầu vào (giáo viên, chương trình, giáotrình, cơ sở vật chất); chưa có cơ quan chuyên trách quản lý chất lượng; hàngnăm chưa có đánh giá thực tế và báo cáo về chất lượng đạo tạo của cáctrường và cả hệ thống giáo dục đại học

Trang 28

Do đó, xét về tổng thể Bộ GD-ĐT chưa thể trả lời được 3 câu hỏi: Chấtlượng đào tạo của các trường thế nào? Các trường tuân thủ các quy địnhpháp luật liên quan đến đào tạo thế nào? Hiệu quả đầu tư từ ngân sách chocác trường ĐH, CĐ công lập thế nào?

Tóm lại, công tác quản lý nhà nước về giáo dục đại học hiện nay vẫn cònnhiều vấn đề tồn đọng cần giải quyết, từ cơ chế phân cấp quản lý đến cáchthức quản lý Nền giáo dục đại học có thực sự phát triển hay không còn phụthuộc rất nhiều vào công tác quản lý này

1.2.3.5 Các thành tố của giáo dục đào tạo đại học

a Mục tiêu đào tạo đại học

- Mục tiêu đào tạo đại học ở nước ta hiện nay là phát triển nguồn nhânlực có học vấn đại học, có khả năng lao động trình độ mới, phù hợp với nhu cầuứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại vào mọi lĩnh vực của xã hộinhằm thúc đẩy sự phát trển kinh tế xã hội trong điều kiện kinh tế thị

trường có sự quản lý của nhà nước

- Đào tạo đại học cần phải mở rộng chức năng đào tạo, bồi dưỡng,không chỉ phục vụ cho những người học để đạt được những văn bằng đại học màcòn phục vụ tất cả những ai đã có bằng tú tài hoặc tương đương mà có nguyệnvọng tiếp tục học để có kiến thức hoặc có một nghề mà không nhất thiết phải cầnđến văn bằng đại học

- Đào tạo đại học phải chú trọng vào đào tạo và bồi dưỡng tài năng trẻ,phải là cái nôi nuôi dưỡng nhân tài cho đất nước, một lực lượng tuy không lớn

về số lượng nhưng có chất lượng cao, có khả năng sáng tạo, tìm ra các hướng đimới có hiệu quả cao, mở ra những khả năng mới cho sự phát triển

- Đào tạo đại học phải là một lực lượng nghiên cứu, triển khai có tiềmlực mạnh, liên kết chặt chẽ với lực lượng nghiên cứu của cả nước, phục vụ

sự phát triển của xã hội và cộng đồng Nhà trường đại học phải trở thành một

Trang 29

trung tâm sáng tạo khoa học và công nghệ của đất nước, của từng ngành,từng vùng và từng địa phương Giáo dục đại học phải hết sức coi trọng nhiệm

vụ phát triển và bảo tồn văn hoá dân tộc trong công tác đào tạo bồi dưỡngcũng như trong công tác nghiên cứu, triển khai

b Nội dung đào tạo đại học

Nội dung đào tạo ở đại học phải phù hợp với mục tiêu đào tạo và nhiệm

vụ dạy học Nội dung đào tạo phản ánh đậm nét những tri thức khoa học cơbản , tri thức khoa học cơ sở và tri thức khoa học chuyên sâu về các lĩnh vựckhoa học chuyên ngành Ngày nay, chúng ta cần hiện đại hoá nội dung đàotạo đại học để phù hợp với thời đại bùng nổ và phát triển như vũ bão củakhoa học kỹ thuật, thông tin Thực tế đó tạo áp lực đến những nhà làm côngtác đào tạo, cần không ngừng cập nhật, phản ánh thông tin về những thànhtựu khoa học trong các lĩnh vực khoa học vào nội dung, chương trình dạy họcđại học Đây là một yêu cầu cấp thiết trong giáo dục đại học nhằm tiến tớiquốc tế hoá, từng bước làm cho giáo dục đại học nước ta ngang tầm với cácnước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Bên cạnh đó cần tăng cườngtính tư tưởng và tính nhân văn trong nội dung dạy học ở trường đại học vìcùng với việc trang bị nội dung học vấn, nội dung dạy học đại học cần phảimang tính giáo dục tư tưởng đạo đức và ý thức công dân, giáo dục lòng nhân

ái và ý thức trách nhiệm cộng đồng Tính nhân văn, tính tư tưởng phải đượclồng ghép, được phản ánh đậm nét trong nội dung từng bài giảng tuỳ theotính chất đặc trưng của từng môn học

Nội dung đào tạo đại học phải phản ánh được thực tiễn đời sống xã hộicủa đất nước nói chung, thực tiễn giáo dục - đào tạo nói riêng, đáp ứng tốtnhu cầu của xã hội Việc xác định nội dung giáo dục đào tạo nói chung, nộidung đào tạo đại học nói riêng phải xuất phát từ thực tiễn phong phú, đa dạngcủa cách mạng khoa học kỹ thuật, của nền kinh tế tri thức trong thời kỳ công

Trang 30

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thực tế đó cần được phản ánh đậm néttrong nội dung các môn học Điều đó thể hiện mối quan hệ tương tác giữamục đích, nội dung và môi trường trong quy trình đào tạo đại học.

c Phương pháp đào tạo đại học

Phương pháp đào tạo gắn liền với nghề nghiệp đào tạo ở trường đạihọc Đặc điểm này thể hiện tính mục đích đào tạo rõ nét của nhà trường đạihọc, nó đòi hỏi phương pháp dạy học các môn học cơ bản, cơ sở, chuyênngành đều phải hướng vào mục tiêu đào tạo của nhà trường, nó yêu cầungười giảng viên ngoài việc trang bị tri thức khoa học cần phải chú ý rènluyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cho sinh viên

Phương pháp đào tạo đại học gắn liền với thực tiễn xã hội, thực tiễncuộc sống và phát triển của khoa học, công nghệ Đặc điểm này phản ánh mốiliên kết có tính quy luật giữa giáo dục đào tạo với khoa học và sản xuất củacác trường đại học, đòi hỏi người giáo viên trong quá trình giảng dạy phảiluôn bám sát yêu cầu của thực tiễn và sự phát triển của khoa học kỹ thuật đểkịp thời đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằmgóp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo ở đại học

Phương pháp đào tạo ở đại học ngày càng tiếp cận với phương phápnghiên cứu khoa học Đặc điểm này phản ánh yêu cầu cao về mục đích, nộidung dạy học ở đại học, đòi hỏi người giảng viên trong quá trình giảng dạyphải chú ý đến trình bày các quan điểm khác nhau, các học thuyết khác nhau

về vấn đề nào đó, phải quan tâm, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoahọc cho sinh viên

Phương pháp đào tạo đại học có tác dụng phát huy cao độ tính tích cực,độc lập, sáng tạo của sinh viên Đặc điểm này một mặt phản ánh yêu cầu củamục đích, nội dung dạy học ở đại học, mặt khác phản ánh đặc điểm của đốitượng sinh viên ở lứa tuổi đang phồn vinh về trí tuệ Nó đòi hỏi người giảng

Trang 31

viên phải tôn trọng ý kiến của sinh viên, tổ chức, điều khiển sinh viên tích cựctham gia các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học.

Phương pháp đào tạo đại học ngày càng gắn liền với các thiết bị vàphương tiện dạy học hiện đại Đặc điểm này phản sánh mối quan hệ hữu cơgiữa phương pháp và phương tiện dạy học, nó đòi hỏi người giảng viên, cán

bộ quản lý cần quan tâm tới việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụcho dạy học, phải tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt làcác phương tiện hiện đại nhằm đạt hiệu quả tối ưu trong dạy học

Sau khi tìm hiểu các khái niệm và các chức năng của "quản lý", chúng tôinhận thấy, tại mỗi trường đại học bao giờ cũng tồn tại các thành tố của quá trìnhđào tạo như: Mục tiêu đào tạo; Nội dung, chương trình đào tạo; Phương phápdạy học; Thầy, trò; cơ sở vật chất Chúng ta cần phối hợp sử dụng các chứcnăng quản lý như: Kế - Tổ - Đạo - Kiểm, để tiến hành quản lý theo các thành tốcủa quá trình đào tạo hoặc theo các chức năng của quản lý hoặc phối kết hợp cảhai vấn đề trên để công tác quản lý đào tạo đạt hiệu quả cao nhất

1.2.4 Hệ đào tạo vừa làm vừa học

Trước đây hình thức "vừa làm vừa học" thường được gọi là " đào tạo tạichức" Sau này được chuyển thành "vừa học vừa làm" và gần đây nhất đượcchuyển thành tên gọi như hiện nay là hệ "vừa làm vừa học" Đây là khái niệmdùng cho những người đang đi làm việc muốn nâng cao trình độ văn hoá vàchuyên môn nghiệp vụ hoặc những người không có khả năng tài chính, thờigian, đặc biệt là vốn kiến thức để theo đuổi học hệ đại học chính quy

1.3 Đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết

1.3.1 Đặc điểm về đào tạo hệ vừa làm vừa học

Với đặc thù là loại hình đào tạo dành cho những người đang đi làm việcmuốn nâng cao trình độ văn hoá và chuyên môn nghiệp vụ hoặc những ngườikhông có khả năng tài chính, điều kiện thời gian, đặc biệt là vốn kiến thức đểtheo đuổi học hệ đại học chính quy, nên việc quản lý đào tạo hệ này cũng sẽ

Trang 32

có những khác biệt so với các hệ đào tạo chính quy, tập trung khác như: Quản

lý chất lượng ngay từ đầu vào đã khác thì chương trình đào tạo về cơ bảncũng giống như đào tạo chính quy nhưng được xây dựng mềm dẻo hơn; thờigian đào tạo kéo dài hơn, đầu ra cũng được quản lý mềm mỏng hơn

1.3.2 Cơ sở liên kết đào tạo và việc phối hợp thực hiện

Hiện nay, cả nước có trên 1,5 triệu sinh viên đang theo học các trườngđại học – cao đẳng, trong đó có khoảng 700.000 (gần 50%) học viên đangtheo học hệ vừa làm vừa học Tuy nhiên hiện nay dư luận xã hội chưa hàilòng về chất lượng đào tạo của hệ đào tạo này tại các trường đại học và caođẳng nói chung Học hệ vừa làm vừa học, người đi học như đi chơi, chỉ cần

có mặt là xong, sếp thì có người đi học thay, nhiều đường dây thi thuê đượcphát hiện Trong khi đó, theo quy hoạch ngày càng thành lập thêm nhiềutrường đại học và cao đẳng với mô hình hoạt động đào tạo đa lĩnh vực, đangành nghề, phân chia địa bàn vùng miền Chính vì vậy, hơn lúc nào hết đốivới loại hình đào tạo đại học vừa làm vừa học phải tìm ra giải pháp để nângcao chất lượng đào tạo trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt này Những đặcđiểm rất nhạy cảm về loại hình đào tạo vừa làm vừa học bao gồm: sàng lọcyếu, không đủ quỹ thời gian để chuyển tải nội dung, học viên lại thườngxuyên bận rộn công việc, không đầu tư cho việc học, tỷ lệ tốt nghiệp khánhưng xã hội và chính học viên chưa hài lòng Như vậy, các trường đangđối diện với một thách thức là hướng về chất lượng hay vẫn là tiếp tục đàotạo theo kiểu “phổ cập” như hiện nay Rất nhiều các cơ sở liên kết chưa thật

sự hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình là phối hợp cùng với các trường ĐH,

CĐ trong khâu tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá chất lượng đào tạo,hoạt động dạy và học Các cơ sở liên kết đó mới chỉ chú trọng tới việc thu lợinhuận mà quên mất trách nhiệm của mình

Yêu cầu trước mắt được đặt ra đối với các trường đại học và cao đẳngtrong việc đào tạo hệ vừa làm vừa học nói chung và các lớp đặt tại

Trang 33

các cơ sở liên kết đào tạo nói riêng là thực hiện đúng quy chế tuyển sinh của

Bộ Giáo dục và đào tạo, các cơ sở mở lớp liên kết phải thoả mãn các điềukiện do Bộ Giáo dục và đào tạo quy định, Quản lý thật chặt và nghiêm túc từkhâu xét duyệt hồ sơ dự thi, thi tuyển sinh, quá trình dạy và học, thi kiểm tra

và thi tốt nghiệp Cần có một quy trình giải quyết công việc một cách khépkín về việc liên kết giữa Nhà trường và các cơ sở liên kết để việc quản lý cáchoạt động đào tạo được thuận lợi

Bên cạnh đó việc tổ chức thực hiện hợp đồng đào tạo một cách có hiệuquả, đúng quy chế cũng đang là vấn đề cần được giải quyết triệt để Cần đẩymạnh hơn nữa công tác kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện hợp đồng để từ

đó nâng cao được chất lượng đào tạo cũng như hiệu quả của quá trình liênkết đào tạo

Trang 34

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI CÁC CƠ SỞ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO CỦA

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 2.1 Giới thiệu chung về trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

2.1.1 Khái quát về trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội là trường đại học có uy tín cao trongđào tạo cán bộ khoa học và kỹ thuật, chuyên gia về nông nghiệp và phát triểnnông thôn của Việt Nam, Nhà trường đã có lịch sử hơn 50 năm xây dựng vàphát triển Nhà trường toạ lạc trên diện tích đất đai rộng 190,195 ha; trong đó có9.246 m2 phòng học, 142.562 m2 cơ sở thí nghiệm thực hành, 9.620 m2 ký túc

xá, 3.741m2 thư viện, và có sở giáo dục thể chất rộng 21.814 m2

Là một trong số các trường đại học trọng điểm quốc gia, hiện nay Nhàtrường có 13 Khoa chuyên môn; 14 Phòng ban chức năng phục vụ đào tạo, 14trung tâm và viện nghiên cứu với tổng số 1196 cán bộ, viên chức, giảng viên Sốcán bộ giảng dạy là 642 (53.68%), trong đó có 4 Giáo sư (0.33%); 57 Phó Giáo

sư (4.77%); 129 Giảng viên chính (10.79%); 452 giảng viên (37.79%); số người

có trình độ sau đại học là 387 trong đó 157 Tiến sỹ và 230 Thạc sỹ Ngoài sốngười thuộc đơn vị bảo vệ, lao công phục vụ thì 100% số cán bộ thuộc cácphòng ban chức năng của Nhà trường có trình độ từ cao đẳng trở lên

Tính đến 31/12/2008, Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội đã đào tạo

44.000 kỹ sư (30.000 kỹ sư tốt nghiệp hệ chính quy, 14.000 kỹ sư tốt nghiêp

hệ vừa làm vừa học), 262 tiến sỹ và 915 thạc sỹ phục vụ có hiệu quả cho sự

nghiệp phát triển nông nghiệp và nông thôn của đất nước Các sinh viên tốtnghiệp làm việc trên khắp các tỉnh, thành trong cả nước Theo kết quả điềutra sinh viên tốt nghiệp năm 2006, sau 6 tháng sinh viên ra trường 84,2% cóviệc làm, trong đó 42,7% có công việc ổn định, hầu hết làm đúng nghề và72,0% làm tại các cơ quan quản lý nhà nước

Trang 35

2.1.2 Đối tượng đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Hiện nay Nhà trường đang đào tạo các hệ từ cao đẳng đến sau đại học Đối tượng đào tạo của từng hệ là tất cả các công dân Việt Nam và người nước ngoài có đầy đủ quyền công dân nằm trong quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có nhu cầu

và nguyện vọng theo học các ngành và chuyên ngành của Nhà trường.

2.1.3 Mục tiêu đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Đào tạo nguồn nhân lực hệ cao đẳng, đại học, sau đại học có phẩm chấtchính trị, đạo đức nghề nghiệp, có kiến thức và kỹ năng giỏi, đạt chất lượnghàng đầu trong cả nước, có một số ngành đạt trình độ tiên tiến trong khu vựcvào năm 2015, và có một số ngành đạt trình độ tiên tiến trên thế giới vào năm

2020, đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững và nôngthôn Việt Nam văn minh, giàu đẹp Để thực hiện được những mục tiêu đàotạo đó, Nhà trường đã tiến hành Điều tra xã hội về nhu cầu, cơ cấu ngànhnghề đào tạo, đánh giá chất lượng, nội dung và phương pháp đào tạo Xâydựng và không ngừng hoàn thiện chương trình đào tạo đại học, sau đại họctheo hướng đa ngành, linh hoạt, đáp ứng được nhu cầu đào tạo của xã hội;

Đa dạng hóa các phương thức đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của người họctheo những chuẩn mực thích hợp; Phát triển hệ thống học liệu (giáo trình, bàigiảng, sách tham khảo, chuyên khảo, thư viện sách và thư viện điện tử )theo hướng hiện đại, tiên tiến, phù hợp với yêu cầu của đào tạo ngày càng đổimới; Đổi mới phương pháp dạy và học, theo hướng phát triển năng lực tựhọc, tự nghiên cứu và làm việc tập thể của người học; Đổi mới đánh giá kếtquả học tập và rèn luỵện của sinh viên và đánh giá giảng viên, đánh giá cán

bộ quản lý một cách công bằng, công khai; Hoàn thiện hệ thống quy định về

dạy và học cho các hệ đào tạo (quy chế đào tạo tín chỉ, quy chế cố vấn học

tập, đánh giá chất lượng dạy và học ), nhằm nâng cao hiệu quả của công tác

đào tạo, phát huy sự tham gia của giảng viên và sinh viên vào sự nghiệp nâng

cao chất lượng đào tạo; Tổ chức đào tạo tín chỉ ở tất cả các ngành học, cácbậc học; Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo

Trang 36

2.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Nhà trường thực hiện cơ chế phân cấp quản lý, tạo quyền chủ động caocho các khoa, phòng ban chức năng và các đơn vị trực thuộc khác trên cơ sởcác văn bản quy định của Nhà nước, của Bộ Giáo dục và đào tạo, đăc biệt làcác văn bản cụ thể hoá, các bản nội quy, quy định tạm thời tạo ra sự thốngnhất đồng bộ, sự chỉ đạo xuyên suốt từ Hiệu trưởng tới các đơn vị và tới từngcán bộ giảng viên, công nhân viên trong trường để triển khai thực hiện đạthiệu quả cao nhất

Thường xuyên tổ chức các cuộc họp, hội thảo, hội nghị chuyên đề,giao ban các cấp để đánh giá, rút kinh nghiệm các hoạt động và triển khaiđịnh hướng chiến lược và cách thức thực hiện các nhiệm vụ và chỉ tiêu

Bộ máy tố chức quản lý của Nhà trường được thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức quản lý của Nhà trường

ĐẢNG UỶ, BAN GIÁM HIỆU

4 Khoa Cơ điện

5 Khoa Tài nguyên và MT

6 Khoa C.nghệ thực phẩm

7 Khoa Kinh tế và PTNT

8 Khoa Lý luận CT - XH

9 Khoa Kế toán và QTKD

10 Khoa Sau đại học

11 Khoa C.nghệ thông tin

6 TT Sinh thái nông nghiệp

Trang 37

2.1.5 Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên

2.1.5.1 Thực trạng đội ngũ giảng viên

Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội là một trong số các trường đạihọc trọng điểm Quốc gia, hiện nay Nhà trường có 13 Khoa chuyên môn; 14Phòng ban chức năng phục vụ đào tạo, 14 trung tâm và viện nghiên cứu vớitổng số 1196 cán bộ, viên chức, giảng viên Số cán bộ giảng dạy là 642(53.68%), trong đó có 4 Giáo sư (0.33%); 57 Phó Giáo sư (4.77%); 129giảng viên chính (10.79%); 452 giảng viên (37.79%); số người có trình độsau đại học là 387 trong đó 157 Tiến sỹ và 230 Thạc sỹ Ngoài số ngườithuộc đơn vị bảo vệ, lao công phục vụ thì 100% số cán bộ thuộc các phòngban chức năng của Nhà trường có trình độ từ cao đẳng trở lên

Trong những năm trở lại đây, mặc dù nhà trường liên tục tuyển chọn và

cử cán bộ giảng viên đi học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ trong và ngoàinước nhưng cho đến nay, đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy chưa đượcđồng đều về trình độ chuyên môn và cơ cấu giới tính Nhà trường đang trongthời kỳ chuyển giao thế hệ do những giảng viên có thâm niên và nhiều kinhnghiệm giảng dạy nay đã đến tuổi nghỉ hưu, rất nhiều người trong số đó đượcmời ở lại tiếp tục công tác để dìu dắt thế hệ trẻ lực lượng giảng viên trẻ chiếmhơn 40% tổng số giảng viên, là đội ngũ đông đảo và có khả năng thích nghinhanh với công việc, chịu khó học hỏi, nâng cao trình độ nhưng kinh nghiệmgiảng dạy chưa nhiều, làm việc trong môi trưòng chậm đổi mới nên chưa pháthuy hết khả năng và kiến thức Một số giảng viên trong số đó có xu thế tự bằnglòng với thực tại những gì mình đang có, mặc dù kiến thức chuyên môn chưasâu, thiếu kiến thức thực tế, kinh nghiệm giảng dậy chưa nhiều nhưng biểu hiện

có nhiều sức ỳ, không có ý thức vươn lên để tự khẳng định mình

Do điều kiện thu nhập của đại bộ phận cán bộ, giảng viên còn gặpnhiều khó khăn nên chưa thực sự yên tâm và dành tất cả tâm huyết, thời gianchăm lo đến sự nghiệp đào tạo Một số chỉ coi mình là nguời làm công ăn

Trang 38

lương nên thiếu tâm huyết với nghề, ít quan tâm theo dõi đến hoạt động học

và mức độ đạt được của sinh viên Chính vì vậy chất lượng đào tạo cònkhiêm tốn chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của sinh viên và sựphát triển của đội ngũ giảng viên

Công tác nghiên cứu khoa học phục vụ giảng dạy đã được triển khai ápdụng và thu được kết quả khả quan, không còn việc dạy chay, không chuẩn bị đềcương giáo án trước khi lên lớp, đề tài sáng kiến cải tiến tăng lên hàng năm cả

về số lượng lẫn chất lượng thông qua thực tế giảng dạy và thực tế sản xuất, biênsoạn khá đầy đủ tài liệu giáo trình phục vụ đạo tạo Tuy nhiên chất lượng củacác đề tài chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi, biên soạn tài liệu còn nhiều hạn chế,đặc biệt là các tài liệu chuẩn Đầu tư cho nghiên cứu khoa học và triển khai ứngdụng khoa học kỹ thuật có được quan tâm nhưng chưa có những kết quả thuyếtphục và xứng tầm của một trường Đại học trọng điểm Quốc gia Cho tới nayhoạt động nghiên cứu khoa học vẫn đang tiếp tục được Đảng uỷ, Ban giám hiệunhà trường quan tâm đặc biệt và tạo điều kiện thuận lợi

2.1.5.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý của Phòng Đào tạo Đại học.

Phòng Đào tạo đại học gồm 17 người: 01 Trưởng phòng, 02 Phó trưởngphòng, 14 chuyên viên được chia ra phụ trách hai mảng công việc chính là:Quản lý học tập và quản lý giảng dạy Phụ trách chính các công việc liên quanđến hệ vừa làm vừa tại các cơ sở liên kết đào tạo gồm có 4 chuyên viên

Trình độ chuyên môn của các cán bộ trong Phòng: 03 Tiến sỹ, 05 thạc

sỹ, số còn lại đều có trình độ đại học

Phân công chức trách, nhiệm vụ cụ thể của từng cá nhân:

- Trưởng phòng phụ trách chung:

Công tác tổ chức, chương trình giáo dục đại học, tuyển sinh, tài chính;

Tổ chức, xây dựng và triển khai thực hiện các nghiên cứu về công tác đào tạođại học; Quản lý phầm mềm Edusoft; Tham gia giảng dạy đại học và cao học

Trang 39

Đội ngũ cán bộ quản lý của phòng phần lớn là những người có nhiềukinh nghiệm, có thâm niên trong nghề Lực lượng cán bộ trẻ thuộc tầng lớp

kế cận đều có sức khoẻ tốt, yêu nghề, khả năng làm việc độc lập và chịu được

áp lực công việc, khả năng vận dụng kiến thức tin học vào công việc tốt nênhiệu quả công việc không ngừng được nâng cao Tuy nhiên, bên cạnh những

ưu điểm đó thì họ lại thiếu kinh nghiệm do thời gian công tác chưa nhiều nênnhiều lúc gặp khó khăn trong các khâu giải quyết công việc

2.1.5.3 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các Khoa, Phòng:

Mỗi cấp khoa, phòng đều có 01 trưởng đơn vị và ít nhất 02 phó trưởngđơn vị Thực trạng cán bộ của các đơn vị này cũng giống như phòng Đào tạođại học nên việc đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận cần được làm đồng bộ và có

kế hoạch tuyển lựa kỹ càng mới đáp ứng đựơc yêu cầu thực tế công việc

Cách thức quản lý còn mang nặng tính hình thức, chỉ quản lý về mặtthời gian, chưa thực sự đi sâu quản lý chất lượng theo kết quả công việc.Năng lực đội ngũ cán bộ quản lý còn hạn chế, phần lớn không được đào tạo

cơ bản mà trưởng thành qua quá trình công tác và quản lý theo phương thứctiếp thu kinh nghiệm qua các thế hệ, chưa nghiêm túc nghiên cứu, học tập tìm

ra các phương cách quản lý có hiệu quả

Trang 40

Việc lập kế hoạch và tổ chức công tác quản lý giảng dạy, quản lý nộidung chương trình đào tạo, kế hoạch, tiến độ còn chậm chưa kịp thời, dẫnđến việc theo dõi quản lý còn chậm, chồng chéo và kém hiệu quả Khả năngthích ứng nhanh với sự thay đổi khoa học công nghệ và sự phối hợp với cácđơn vị chưa thực sự được coi trọng Trình độ ngoại ngữ và tin học còn chậm

so với các cơ sở đào tạo trong nước, chưa dám so sánh với các nước trongkhu vực và trên thế giới

Tóm lại, đội ngũ giảng viên phần lớn đạt chuẩn về chuyên môn, trình

độ lý luận vững vàng, kiên định, luôn luôn được quan tâm Thường xuyênđược học tập bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, năng lực sư phạm, có phẩmchất đạo đức tốt, yên nghề Nhà trường đã tổ chức các hội nghị giảng viêndạy giỏi, khuyến khích các giảng viên tham gia các hội nghị giảng viên giỏi

và nhiều giảng viên đã đạt giải trong các đợt hội giảng

Tuy nhiên do nhà trường đào tạo đa ngành nên sự phân bố giảng viênchưa hợp lý Giảng viên cùng một lúc tham gia giảng dạy nhiều môn, bêncạnh đó do quy mô đào tạo tăng quá nhanh nên xảy ra tình trạng quá tải đốivới giảng viên, cơ sở vật chất nên ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của nhàtrường nói chung và hệ vừa làm vừa học nói riêng

2.1.6 Quy mô đào tạo của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Trong những năm gần đây, số người học đại học nói chung và học đạihọc Nông nghiệp nói riêng đang ngày một tăng, quy mô đào tạo đại học củaTrường năm 2008 tăng gấp gần 1,6 lần so với năm 2004 (Bảng 1) Hiện tạitrong 11 khoa quản lý sinh viên có tới 4 khoa có từ 1600 đến 2000 sinh viên,hai khoa có từ 1100 đến 1300 sinh viên

Từ năm 2004 đến năm 2008 có 8 khoa tham gia đào tạo sau đại học cho

14 ngành với quy mô học viên tăng từ 355 học viên năm 2004 đến 842 học viên (2008) tăng 2,37 lần (bảng 2)

Ngày đăng: 29/10/2020, 20:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w