1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến tại học viện công nghệ bưu chính viễn thông

123 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 773,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vàcũng đã thu được những kết quả nhất định, song vẫn còn có những khó khăn:thiết kế và sử dụng học liệu điện tử; tổ chức dạy học trực tuyến; kiểm tra đánhgiá kết quả học tập trực tuyến;

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐÀO QUANG CHIỂU

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TRỰC TUYẾN TẠI HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ

BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 05

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bước sang thế kỷ 21, loài người đã và đang bước vào giai đoạn kinh tếtri thức, cùng với công nghệ thông tin và truyền thông và xu thế toàn cầu hoá.Điều đó ảnh hưởng sâu sắc đến mọi hoạt động của đời sống xã hội ở tất cả cácquốc gia trên thế giới, đòi hỏi con người phải có nhiều kỹ năng đặc thù và thái

độ tích cực để tiếp nhận và làm chủ tri thức, làm chủ thông tin một cách sángtạo Vì vậy, việc tăng cường quy mô, nâng cao hiệu quả, đảm bảo chất lượnggiáo dục, đào tạo sẽ là nhân tố sống còn quyết định sự tồn tại và phát triển củamỗi quốc gia Số lượng người học ngày càng tăng nhanh trong khi đó cơ sở vậtchất, đội ngũ giáo viên của các cơ sở đào tạo chưa thể tăng kịp để đáp ứngđược nhu cầu của xã hội Nhu cầu tự học, tự nghiên cứu của người học ngàycàng đa dạng Dạy học trực tuyến (DHTT) chính là giải pháp hữu hiệu giảiquyết vấn đề này Ngày nay công nghệ DHTT đã góp phần đổi mới cả phươngthức dạy và học DHTT đã đáp ứng những tiêu chí giáo dục mới mà từ trước

tới nay chưa từng được áp dụng đó là: có thể học mọi nơi, học mọi lúc, học theo sở thích, học suốt đời,… DHTT không chỉ dùng cho đào tạo từ xa (ĐTTX)

qua mạng mà sẽ tồn tại cùng với hình thức dạy học truyền thống và bổ sung, bổtrợ cho hình thức dạy học truyền thống

DHTT đã trở thành một xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức và đã tạo

ra một cuộc cách mạng về dạy học DHTT mang lại hiệu quả kinh tế cao vàđang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nước trên thế giới Nhiềutrường đại học có danh tiếng trên thế giới đã chọn DHTT như một chiến lượcđịnh hướng phát triển Chỉ với một giáo viên hoặc một chuyên gia giỏi có thểgiảng dạy cho một số lượng lớn người học Với mỗi khóa DHTT có thể dễdàng mời giáo viên, chuyên gia nước ngoài giảng dạy từ xa nên giảm được chiphí đi lại, ăn ở,… Như vậy, DHTT góp phần mở rộng quy mô đào tạo, hỗ trợcác phương thức giáo dục đào tạo truyền thống, làm giảm bất bình đẳng về cơhội học tập giữa người giàu và người nghèo, giữa nông thôn và thành thị, giúpgiáo dục Việt Nam hội nhập với nền giáo dục thế giới

Ngày nay, DHTT thay đổi cách tiếp cận và lĩnh hội tri thức so với môhình học tập truyền thống Các hoạt động học tập, nghiên cứu, thảo luận, chia

sẻ kiến thức trên mạng mang lại cho người học sự hứng thú, sáng tạo và chủđộng

Ở nước ta, DHTT đã và đang được triển khai, thử nghiệm ở một số trườngĐại học như ở Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, Viện đại học mở

Trang 3

Hà Nội, Trường Đại học CNTT- ĐHQG TP.HCM, Trường ĐHSP Hà Nội, vàcũng đã thu được những kết quả nhất định, song vẫn còn có những khó khăn:thiết kế và sử dụng học liệu điện tử; tổ chức dạy học trực tuyến; kiểm tra đánhgiá kết quả học tập trực tuyến; công tác quản lý đào tạo, giáo vụ, v.v….

Ở Học viện Công nghệ BCVT, trong những năm gần đây đã từng bướcthực hiện các hoạt động ĐTTX, DHTT Trong đó có hoạt động dạy học trựctuyến và đã thu được những kết quả bước đầu Sinh viên ngoài các buổi tậptrung tại Học viện nghe hướng dẫn học đầu kỳ, cuối kỳ có thể truy cập vàocổng công tin điện tử; có thể đăng ký tham dự các buổi giảng qua hội nghịtruyền hình, dự các buổi học trực tuyến Như vậy, ngoài thời gian học tập trênlớp, sinh viên có thể tự học, tự nghiên cứu, trao đổi và chia sẻ thông tin học tậpthông qua cổng thông tin điện tử và các diễn đàn môn học trên Website Tuynhiên, công tác quản lý dạy học trực tuyến ở Học viện Công nghệ BCVT vẫncòn tồn tại một số vấn đề như:

Vấn đề nhận thức chung về DHTT trong Học viện còn chưa có sự đồngnhất; Học viện chưa có đầy đủ các quy định về tổ chức, quản lý hoạt độngDHTT; chưa xây dựng được kế hoạch hoạt động DHTT chung cho các hệ vàhình thức đào tạo; CSVC chưa đáp ứng đủ các yêu cầu của hoạt động dạy họctrực tuyến; đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên chưa được đào tạo bài bản vàthiếu kinh nghiệm về tổ chức dạy học trực tuyến,

Để góp phần giải quyết những tồn tại trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu

“Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông".

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn công tác dạy học trực tuyến; đề xuấtmột số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến; gópphần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo tại Học viện công nghệ Bưuchính Viễn thông

3 Phạm vi nghiên cứu

Vì thời gian nghiên cứu hạn chế, nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở

lý luận về quản lý dạy học trực tuyến; những vấn đề có liên quan tới thực trạngquản lý công tác dạy học trực tuyến và các biện pháp quản lý nhằm nâng caochất lượng hoạt động dạy học trực tuyến tại Học viện Công nghệ Bưu chínhViễn thông

Trang 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy học trực tuyến và quản lý nâng caochất lượng dạy học trực tuyến

4.2 Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượngdạy học trực tuyến tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông; phân tíchnhững ưu điểm, nhược điểm trong công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượngdạy học trực tuyến

4.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy họctrực tuyến tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

5.1 Khách thể nghiên cứu: Quản lý nâng cao chất lượng dạy học trực

tuyến tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông

5.2 Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất

lượng dạy học trực tuyến tại Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông

6 Giả thuyết khoa học

Nếu chọn lựa và đề xuất được một số biện pháp quản lý nhằm nâng caochất lượng dạy học trực tuyến phù hợp với yêu cầu và điều kiện tổ chức đàotạo thực tế của Học viện thì sẽ nâng cao được chất lượng dạy học trực tuyến

và góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo tại Học viện công nghệBưu chính Viễn thông

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

- Nghiên cứu Luật Giáo dục, các văn kiện của Đảng và Nhà nước về địnhhướng phát triển giáo dục, đào tạo và phát triển ứng dụng công nghệ thông tin

và truyền thông trong giáo dục, đào tạo

- Nghiên cứu các văn bản pháp quy của Bộ GD-ĐT; các quy định quản lýứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, quản lý hoạt động dạy học trựctuyến tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông

- Nghiên cứu các tài liệu quản lý, báo cáo khoa học có liên quan đến vấn

đề nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trang 5

- Phương pháp quan sát sư phạm

- Phương pháp chuyên gia để tham khảo ý kiến của các nhà quản lý, các chuyên gia giáo dục, các giảng viên và sinh viên

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi ý kiến và phỏng vấn, toạ đàm

- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm

7.3 Những phương pháp hỗ trợ khác

Sử dụng các công thức toán học để thống kê, xử lý và phân tích các số liệu khảo sát

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần: mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dungluận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học

trực tuyến

Chương 2: Thực trạng quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học trực

tuyến tại Học viện

Chương 3: Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học

trực tuyến tại Học viện

Trang 6

Đối với hình thức dạy học truyền thống, lớp học được cố định ở một chỗ

và người học phải có mặt trên lớp để học Do nhu cầu học tập ngày càng đadạng, người học có nhu cầu học tập ở mọi nơi, mọi lúc, kể cả trong khi đang đi

du lịch, đi công tác Người học không nhất thiết phải có mặt trên lớp họcnhưng vẫn chủ động lĩnh hội được tri thức Từ những yêu cầu mới này củangười học mà hình thức đào tạo từ xa (ĐTTX) đã bắt đầu ra đời Có thể nói, ýtưởng về ĐTTX đã được vạch ra bởi kỹ thuật in ấn Từ rất sớm, việc in ấn đãtrở thành phương thức thúc đẩy học tập, người học có thể tự học theo kế hoạchriêng của mình mà không có sự trợ giúp của người hướng dẫn Sự tự giúp đỡ

bản thân đơn giản này là một trong những ví dụ về ĐTTX [36].

Có thể nói mốc thời gian được ghi nhận đầu tiên về ĐTTX trên thế giới

đó là việc giảng dạy cho giáo sỹ nhà thờ bằng gửi thư từ những năm 50-60 saucông nguyên Trong lịch sử hiện đại mốc thời gian được ghi nhận bởi Isaac

Pitman dạy phương pháp ghi tốc ký bằng gửi thư ở Anh năm 1840 [40].

Qua những năm tháng phát triển, tên của lĩnh vực này đựợc thay đổi chophù hợp với mục đích của nó như: học tại nhà, học qua thư từ, học ngoại khóa,học độc lập (tự học) và học mở rộng Tất cả các hình thức này đều liên quanđến việc truyền giảng (các hình thức giảng dạy) và cách thức học (sự thích hợp

về thời gian và nơi học) Trải qua thời gian, diện mạo và cách thức ĐTTXđược hình thành với sự tham gia của các công nghệ như công nghệ in ấn (họcqua thư từ), cho tới công nghệ phát thanh, điện đài, và trải qua thời kỳ sản xuấtcông nghiệp, cuối cùng tới truyền thông đa phương tiện và liên lạc điện tử vàonhững năm 90, tiếp đó là mạng Internet và công nghệ Web Và tới ngày nay là

hệ thống học tập điện tử (E-learning System) và các công nghệ dạy học trựctuyến (Interractive, Online) được đề cập tới ở hầu hết các cấp học

Trong những năm gần đây, với sự phát triển của công nghệ E-Learning,khả năng tổ chức một lớp học ảo và một môi trường học tập ảo (VLE: Virtual

Trang 7

Learning Environment) đã dần phá vỡ tồn tại của những quan niệm cũ chưathực sự coi trọng ĐTTX khi chuyển từ mô hình giáo dục truyền thống sang E-Learning với sự trợ giúp đắc lực của máy tính và hệ thống công nghệ thông tin

và truyền thông

Theo tổ chức Thomson NETg [44], các làn sóng phát triển của

E-Learning được chia thành các giai đoạn như sau:

Kỷ nguyên dạy học có người hướng dẫn /Tài liệu in để tự học (trước 1983)

Hình 1.1: Các làn sóng của E-Learning

Trước năm 1983: Kỷ nguyên giảng viên làm trung tâm

Trước khi máy tính được sử dụng rộng rãi, phương pháp giáo dục “Lấy giảng viên làm trung tâm” là phương pháp phổ biến nhất trong các trường học.

Học viên chỉ có thể trao đổi tập trung quanh giảng viên và các bạn học Đặcđiểm của loại hình này là chi phí tổ chức đào tạo thấp

Giai đoạn 1984-1993: Kỷ nguyên đa phương tiện

Hệ điều hành Windows 3.1, Máy tính Macintosh, phần mềm trình diễnpowerpoint, v.v… đây là các công nghệ cơ bản trong kỷ nguyên đa phươngtiện Nó cho phép tạo ra các bài giảng tích hợp hình ảnh và âm thanh học trênmáy tính sử dụng công nghệ đào tạo nhờ máy tính (CBT: Computer BasedTraining) phân phối nội dung giảng dạy qua đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm Vàobất kỳ thời gian nào, ở đâu, người học cũng có thể mua và học Tuy nhiên, sựhướng dẫn của giảng viên là rất hạn chế

Trang 8

Khi công nghệ Web được phát minh, các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục,đào tạo bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiếp phương pháp giáo dục bằng côngnghệ này Sự kỳ vọng vào E-mail, Website, Trình duyệt, HTML, Media player,

6

Trang 9

-truyền Audio/Video tốc độ thấp và ngôn ngữ JAVA bắt đầu trở lên phổ dụng vàđơn giản hơn đã làm thay đổi bộ mặt của đào tạo bằng đa phương tiện Ngườithầy thông thái đã dần lộ rõ thông qua các phương tiện: E-mail, CBT quaIntranet với text và hình ảnh đơn giản, đào tạo bằng công nghệ Web với hìnhảnh chuyển động tốc độ thấp đã được triển khai trên diện rộng.

Giai đoạn sau năm 2000 Làn sóng E-learning thứ hai

Các công nghệ tiên tiến bao gồm JAVA và các ứng dụng mạng IP, côngnghệ truy nhập mạng di động 3G và băng thông Internet được nâng cao, cáccông nghệ thiết kế Web tiên tiến đã trở thành một cuộc cách mạng trong giáodục đào tạo để hình thành các hệ thống dạy học trực tuyến (DHTT) Ngày naythông qua DHTT giảng viên có thể hướng dẫn trực tuyến (hình ảnh, âm thanh,các công cụ trình diễn) tới mọi người học, nâng cao chất lượng giảng dạy.Ngày qua ngày, công nghệ DHTT đã chứng tỏ có khả năng mang lại hiệu quảcao trong giáo dục đào tạo, cho phép đa dạng hoá các môi trường học tập (traođổi thông tin, giảng dạy, học tập, kiểm tra đánh giá) Tất cả những điều đó tạo

ra một cuộc cách mạng trong giáo dục đào tạo với giá thành rẻ, chất lượng cao

và hiệu quả Đó chính là làn sóng thứ 2 của E-learning, và hiện nay chúng tađang ở trong giai đoạn của làn sóng này

1.1.2 Ở Việt Nam

”Giáo dục từ xa” ở bậc đại học được biết đến từ những năm đầu thập kỷ

60 của thế kỷ trước, đó là những khoá học hàm thụ theo hình thức gửi thư củaTrường Đại học Sư Phạm Hà Nội 1 Với hệ đào tạo này, đã bước đầu hìnhthành ở Việt Nam các thuật ngữ về phương pháp tự học, vừa học vừa thựchành, học tập suốt đời trong giáo dục, đào tạo Tuy nhiên về sau do khó khăn

về kinh tế, về chiến tranh, hình thức học hàm thụ, học bằng cách gửi thư khôngđược tiếp tục phát triển

Có thể nói tới trước thời kỳ đổi mới, thuật ngữ giáo dục từ xa còn đượcbiết đến một cách rất hạn chế, chủ yếu do Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 1thực hiện và cũng chỉ được thực hiện duy nhất ở bậc đại học Việc nghiên cứu

về giáo dục từ xa không được thực hiện một cách liên tục và toàn diện, do đónhận thức về giáo dục từ xa nói chung còn chưa rõ nét, cũng như việc nhìnnhận kết quả giáo dục từ xa còn chưa được xã hội coi trọng

“Đào tạo từ xa” được biết đến như là một hình thức giáo dục- đào tạo mới

xuất hiện trong công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước ta, màbắt đầu từ việc thành lập 2 trường Đại học Mở Hà Nội (3/11/1993) và Đại

Trang 10

Học Mở – Bán công TP Hồ Chí Minh (26/7/1993) Hai Trung tâm này đượccoi là hạt nhân của hệ thống đào tạo từ xa của Việt Nam Cho tới nay haitrường đại học này có quy mô đào tại khoảng 30-40.000 sinh viên/năm Sau 2Trường đại học trên, hiện có trên 12 trường Đại học đã được Bộ GD&ĐT cho

phép tổ chức đào tạo đại học từ xa có cấp văn bằng [24].

Ngoài các Trường đại học, từ năm 1993, Đài tiếng nói Việt Nam (VOV)

và Đài Truyền hình Việt Nam (VTV2) đã thực hiện hàng trăm chương trìnhhướng dẫn học tập bao gồm cả cấp và không cấp văn bằng, chứng chỉ trênsóng VOV và VTV Các chương trình này đã phục vụ hàng triệu người khắptoàn quốc hiện đang có nhu cầu bồi duỡng, cập nhật kiến thức những môn học

và những vấn đề mà họ quan tâm Năm 2003, Bộ GD&ĐT cùng phối hợp vớiVTV2 có đề án nghiên cứu việc thiết lập một kênh truyền hình riêng cho giáo

dục [21].

Nhiều công ty cũng đã bắt đầu nghiên cứu và tiến hành thử nghiệm kinhdoanh hoạt động ĐTTX; DHTT, như sản xuất các băng hình, băng Audio, CD-ROM, Năm 2002 được ghi nhận là năm đầu tiên hoạt động thương mạiDHTT dưới tư cách là một hình thức đào tạo độc lập trong lĩnh vực đào tạotrên mạng INTERNET trở thành hiện thực với việc ra đời Webiste:truongthi.com.vn

Tới năm 2009, đa số các cơ sở đào tạo đã xây dựng Website và cung cấp dịch

vụ ĐTTX, DHTT thông qua hội nghị truyền hình (Video Conferencing), qua mạngInternet để đào tạo cấp chứng chỉ, cấp văn bằng tốt nghiệp hoặc hỗ trợ đào tạotruyền thống Trong lĩnh vực DHTT, có hàng trăm công ty, doanh nghiệp, cơ sởđào tạo triển khai cung cấp dịch vụ dạy học trực tuyến, điển hình có nhiều ngườibiết đến như: www.truongtructuyen.com, www.elearningvn.org, el.edu.net.vn,www.hocmai.vn, www.dayhoctructuyen,

Trong lĩnh vực nghiên cứu liên quan tới ứng dụng công nghệ thông tintrong giáo dục và quản lý giáo dục, có thể kể đến một số đề tài gần đây như:năm 2005, học viên Nguyễn Thị Thu Thủy đã bảo vệ thành công luận văn thạc

sỹ QLGD với đề tài: “Đổi mới quản lý học viên hệ đào tạo từ xa bằng ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông tại Khoa Công nghệ Tin học, Viện Đại học Mở Hà nội”.

Năm 2007, học viên Nguyễn Đăng Châu đã bảo vệ thành công luận văn

thạc sỹ QLGD với đề tài: “Một số biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng trang Web học tập trong môi trường dạy học đa phương tiện nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội”.

Trang 11

Năm 2008, học viên Lê Khắc Quyền đã bảo vệ thành công luận văn thạc

sỹ QLGD với đề tài: “Biện pháp quản lý công tác đánh giá kết quả học tập của học viện trong đào tạo trực tuyến ở Trường đại học sư phạm Hà Nội”

Có thể nói ĐTTX, DHTT qua mạng thông tin (Internet), truyền thông đãdần không phải là điều còn mới lạ trong hệ thống giáo dục Việt Nam Tuynhiên, DHTT là hình thức đào tạo mới đƣợc đƣa vào và phát triển tại các cơ sởgiáo dục trong vài năm trở lại đây Đặc biệt, công tác quản lý hoạt động ĐTTXnói chung; DHTT nói riêng còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng trong các cơ sở giáodục Cho đến nay chƣa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về vấn đề quản lýnâng cao chất lƣợng DHTT

1.2 Một số khái niệm cơ bản

Có thể tiếp cận khái niệm quản lý, theo những cách sau:

Theo quan niệm truyền thống: “Quản lý là quá trình tác động có ý thức của chủ thể vào một bộ máy (đối tượng quản lý) bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu đã xác định” [18].

Theo tác giả Mai Quang Huy: “Thuật ngữ quản lý gồm hai quá trình tích hợp nhau: Quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” là sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế phát triển" [9].

“Quản lý phải làm cho hệ thống ở trạng thái cân bằng động, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tương tác giữa các nhân

tố bên trong và các nhân tố bên ngoài Như vậy, quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong tổ chức, làm cho tổ chức đó vận động và đạt được mục tiêu của tổ chức”.

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [12].

Trang 12

Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn: “Quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua các công cụ, phương tiện để đạt được mục tiêu quản lý”.

Theo F.Taylor “ Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất“ [5].

Theo Harold Koonzt “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nổ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất “ [37].

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Đó là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành

và đạt được mục đích của tổ chức [2].

Nói cách khác hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chứcbằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo(lãnh đạo) và kiểm tra Người quản lý (Manager) là nhân vật có trách nhiệmphân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phậnhay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích.Cũng theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản lý cóbốn chức năng chủ yếu, cơ bản: Kế hoạch hóa (Planning), Tổ chức(Organizing), Chỉ đạo - Lãnh đạo (Leading) và Kiểm tra (Controlling)

Kế hoạch hóa (Planning): Đó là xác định mục tiêu, mục đích cho những

hoạt động trong tương lai của tổ chức và xác định các biện pháp, cách thức đểđạt được mục đích đó

Tổ chức (Organizing): Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần

phải chuyển hóa những ý tưởng ấy thành những hoạt động hiện thực.Tổ chức

là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các

bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch

và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Người quản lý phải phối hợp, điềuphối tốt các nguồn nhân lực của tổ chức

Lãnh đạo (Chỉ đạo) - (Leading) : Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu

bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người đứng ralãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Đó là quá trình liên kết, liên hệ với người khác,

Trang 13

hướng dẫn và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt đượcmục tiêu của tổ chức Tất nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việclập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó xuyên suốt trong hoạt độngquản lý.

Kiểm tra (Controlling): Đây là hoạt động theo dõi, giám sát các thành

quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết

Ở mỗi cấp quản lý khác nhau, sự phân phối về thời gian và công sức cho các chức năng quản trị của các cấp được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 1.1 Phân phối thời gian và công sức cho các

chức năng quản trị của các cấp [8]

Tóm lại: Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có lựa chọn các

tác động phù hợp với đối tượng và môi trường nhằm hướng đối tượng trong thế vừa ổn định, vừa phát triển theo mục tiêu đề ra Quản lý được thực hiện thông qua các hoạt động: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm QLGD là khái niệm đa cấp(bao hàm cả quản lý hệ giáo dục quốc gia, quản lý các phân hệ của nó, đặc biệt

là quản lý trường học)

“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế

hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [12].

Trang 14

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [6]

QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lýnhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mongmuốn một cách hiệu quả nhất QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điềuhành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệtrẻ theo yêu cầu phát triển xã hội

Khái quát lại, nội hàm của khái niệm QLGD chứa đựng những nhân tố đặctrưng bản chất sau: Phải có chủ thể quản lý giáo dục, ở tầm vĩ mô là quản lý củanhà nước mà cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ, Sở, Phòng Giáo dục, ở tầm

vi mô là quản lý của hiệu trưởng nhà trường, quản lý của trưởng Khoa,

Theo quan điểm của lý luận dạy học hiện đại, nói quá trình dạy học tồn tạivới tư cách là một hệ thống gồm các thành tố cơ bản: mục đích dạy học, nộidung dạy học, phương pháp, hình thức tổ chức, phương tiện dạy học, kết quảdạy học, hoạt động của giáo viên, của học sinh sinh viên Các thành tố này cómối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau trong môi trường xã hội-chínhtrị và môi trường khoa học, kỹ thuật nhất định

Trong quá trình dạy học: Người thầy luôn giữ vai trò trong việc địnhhướng tổ chức, điều khiển và thực hiện các hoạt động truyền thụ tri thức, kỹnăng, kỹ xảo đến người học một cách khoa học Người học sẽ có ý thức tiếp

Trang 15

thu một cách tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo hệ thống kiến thức, kỹ năng kỹxảo, nhằm hình thành năng lực và nhân cách cho bản thân.

Qua đó có thể hiểu QTDH là một hệ toàn vẹn, nó bao gồm hoạt động dạy

và hoạt động học

Cấu trúc của QTDH được biểu diễn bằng sơ đồ sau:

KHÁI NIỆM KHOA HỌC

Hình 1.2: Cấu trúc chức năng của QTDH [12]

Dạy và học là quá trình tương tác, cộng tác giữa thầy và trò Chủ thể hoạtđộng dạy là thầy giáo, chủ thể hoạt động học là học sinh

Quá trình vận động tích cực, chủ động, sáng tạo của những chủ thể nàylàm phát triển và hoàn thiện năng lực không chỉ của học sinh và còn cả ở thầygiáo

Quá trình cộng tác hành động của thầy giáo và học sinh càng nhịp nhàng,

ăn ý, càng làm tăng kết quả của quá trình dạy học, càng làm trưởng thànhnhanh mỗi cá nhân trong quá trình đó

Quá trình dạy học là một quá trình xã hội gắn liền với hoạt động của conngười, hoạt động này phải nhằm mục đích nhất định, trên cơ sở hình thànhnhững nhiệm vụ nhất định: Thầy và Trò, những phương tiện và phương pháphoạt động nhất định và phải đạt được kết quả mong muốn

Trang 16

Quản lý quá trình dạy học

Quản lý QTDH là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý bằng cácgiải pháp phát huy tác dụng của các phương tiện quản lý như chế định giáodục đào tạo, bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học, thông tin và môi trường dạyhọc nhằm đạt được mục tiêu quản lý dạy học Quản lý QTDH là phải quản lýđồng bộ và thống nhất các mặt hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu dạy học.Mục tiêu quản lý trường học là quản lý chất lượng sản phẩm giáo dục.Muốn có sản phẩm giáo dục đạt chất lượng, đáp ứng yêu cầu của sự phát triểnkinh tế - xã hội thì trước hết nhà trường phải tổ chức, điều khiển và kiểm soáttốt quá trình tổ chức hoạt động dạy và học, vì hoạt động dạy và học là hoạtđộng trung tâm của nhà trường nhằm hình thành và phát triển nhân cách củahọc sinh - sản phẩm giáo dục của nhà trường

Hoạt động dạy học là hoạt động đặc trưng cho bất kỳ loại hình hoạt độngcủa nhà trường nào, vì vậy nó là con đường giáo dục tiêu biểu nhất Với nộidung và tính chất của nó dạy học là con đường tốt nhất giúp cho người học với

tư cách là chủ thể nhận thức có thể lĩnh hội mọi hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ

xảo chuyển thành phẩm chất và năng lực của bản thân “Các tổ chức xã hội cần đảm bảo cho mọi người học nhận thức sự nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe, sự

hỗ trợ chung cho thể chất và tình cảm mà người học cần có để tham gia một cách tích cực vào quá trình giáo dục và tận hưởng được lợi ích của giáo dục”[10].

Quản lý QTDH là quản lý quá trình truyền thụ kiến thức của đội ngũ giáoviên và quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh và quản lýcác điều kiện vật chất, kỹ thuật, phương tiện phục vụ hoạt động dạy học Quản

lý QTDH là quản lý việc thực hiện chương trình, nội dung dạy học, quản lýhoạt động kiểm tra đánh giá quá trình lĩnh hội kiến thức của học sinh

1.2.4 Chất lượng, chất lượng dạy học

Trang 18

-14-Theo tác giả Nguyễn Gia Quí “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại của một sự vật, phân biệt nó với sự vật khác ” [14].

Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng trong đời sống xã hội, nhất là trong

giáo dục Chất lượng có hàng loạt định nghĩa khác nhau Ví dụ: Chất lượng là

sự xuất sắc bẩm sinh, tự nó là cái tốt nhất; Chất lượng là sự phù hợp với tiêu chuẩn; Chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích của trường đại học….

Chất lượng giáo dục

Chất lượng là một khái niệm trừu tượng và khó định nghĩa, thậm chí khónắm bắt Trong một nghiên cứu khá nổi tiếng của Harvey và Green (1993) [38]nhằm tổng kết những quan niệm chung của các nhà giáo dục, chất lượng đượcđịnh nghĩa như tập hợp các thuộc tính khác nhau như: chất lượng là sự xuấtsắc; chất lượng là sự hoàn hảo; chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu,

Chất lượng giáo dục là chất lượng thực hiện các mục tiêu giáo dục Chấtlượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng

về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghềcủa người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo cácngành nghề cụ thể

Các nhà giáo dục Việt Nam cũng đưa ra một số định nghĩa khác nhau,nhưng các định nghĩa này thường trùng với các định nghĩa của nước ngoài.Tác giả Nguyễn Đức Chính [3, 4], có đưa ra định nghĩa về chất lượng của giáo

dục Việt Nam như sau: “Chất lượng giáo dục được đánh giá qua mức độ trùng khớp với mục tiêu định sẵn” Định nghĩa này tương đồng với quan niệm về chất lượng của hầu hết các nhà giáo dục khác và các tổ chức đảm bảo chất

lượng trên thế giới

Chất lượng dạy học

“Chất lượng dạy học chính là chất lượng của người học hay tri thức phổ thông mà người học lĩnh hội được Vốn học vấn phổ thông, toàn diện và vững chắc ở mỗi người là chất lượng đích thực của dạy học” [15].

Chất lượng dạy học là chất lượng của việc dạy và việc học Sự phát huy tối

đa nội lực dạy của thầy và năng lực học của học sinh, để sau khi ra trường thì họcsinh có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng được yêu cầu của xã hội, của thực tế cuộcsống Chất lượng dạy bao gồm các công việc của người thầy đó là:

Trang 19

chuẩn bị giáo án, thực hiện giáo án, đánh giá kết quả và điều chỉnh phươngpháp dạy Chất lượng học là kết quả học tập của học sinh trong nhà trường:chuẩn bị bài ở nhà, tiếp thu kiến thức ở trên lớp, tự đánh giá kết quả và tự điềuchỉnh phương pháp học Chất lượng dạy học ở trường đào tạo (THCN, CĐ,ĐH) được đánh giá chủ yếu về hai mặt là kiến thức người học lĩnh hội được

và kỹ năng nghề nghiệp người học đạt được Chất lượng dạy học liên quanchặt chẽ đến yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Sản phẩm củadạy học được xem là có chất lượng cao nếu nó đáp ứng tốt nhất mục tiêu giáodục mà yêu cầu kinh tế - xã hội đặt ra đối với giáo dục đào tạo Chất lượng dạyhọc là một bộ phận quan trọng hợp thành của chất lượng giáo dục và đượcquan tâm như là kết quả giảng dạy và học tập

1.3 Ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục

1.3.1 Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục

Chúng ta bước vào thế kỷ 21 với sự phát triển nhanh chóng của các côngnghệ cao: công nghệ sinh học (công nghệ gen, tế bào, vi sinh…), công nghệ vậtliệu (công nghệ vật liệu Composit, vật liệu siêu dẫn…), công nghệ năng lượng(năng lượng mặt trời, năng lượng nguyên tử… ) và công nghệ thông tin [1].Trong các công nghệ trên thì công nghệ thông tin (CNTT) có tốc độ phát triểnnhanh nhất và giữ vai trò là công cụ phổ biến để làm việc, để thu thập, lưu trữ,truyền và xử lý thông tin; để nghiên cứu triển khai các thành tựu của các côngnghệ khác vào sản xuất và đời sống Tới nay, sự hội tụ của CNTT và các côngnghệ truyền thông (TT) đã hình thành lên thuật ngữ CNTT&TT

Những thành tựu mới của khoa học công nghệ nửa cuối thế kỷ 20 đanglàm thay đổi hình thức và nội dung các hoạt động kinh tế, văn hoá và xã hộicủa loài người Một số quốc gia phát triển đã bắt đầu chuyển từ văn minh côngnghiệp sang văn minh thông tin Các quốc gia đang phát triển tích cực áp dụngnhững tiến bộ mới của khoa học công nghệ, đặc biệt là CNTT&TT để pháttriển và hội nhập CNTT&TT là một trong các động lực quan trọng nhất của sựphát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâusắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại

CNTT&TT đã trở thành một yếu tố then chốt làm thay đổi các hoạt độngkinh tế và xã hội của con người, trong đó có giáo dục Nhờ có việc ứng dụng

1 Công nghệ thông tin (CNTT): là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số (theo điều 4, Luật CNTT của nước CHXHCN Việt Nam năm 2006).

Trang 20

công nghệ thông tin, đa phương tiện và học tập điện tử (E-Learning) đang ngàycàng được ứng dụng rộng rãi trong quá trình dạy học ở nhiều nước trên thếgiới Ứng dụng và phát triển CNTT&TT trong giáo dục và đào tạo sẽ tạo ramột bước chuyển cơ bản trong quá trình cập nhật kịp thời và thường xuyên cáctiến bộ khoa học và công nghệ trong nội dung chương trình đào tạo, đổi mớiphương pháp giảng dạy để nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo củahọc sinh để nâng cao chất lượng dạy học.

Vai trò của CNTT&TT đối với giáo dục và đào tạo là rất to lớn Ngày nay,

do những ưu việt của nó, CNTT&TT được sử dụng rộng rãi đến mức khó cóthể thiếu được trong việc thu thập, xử lý, trao đổi, lưu trữ, tra cứu và sử dụngthông tin quản lý Với những ưu việt của việc ứng dụng CNTT&TT trong quản

lý, ngày nay đã có một ngành khoa học được gọi là MIS (ManagementInformation System), được nghiên cứu về khoa học thu thập, phân tích và xử lý

hệ thống thông tin quản lý cho các ngành kinh tế-xã hội, trong đó có giáo dục.Ngày nay, xã hội đã, đang và sẽ phải đối diện với cái gọi là “văn hoáInternet, văn hóa mạng, văn hóa Blog”, điều đó cho thấy nếu giáo dục và đàotạo không bắt kịp với sự những ứng dụng của CNTT&TT sẽ khó có thể đápứng được yêu cầu của xã hội về vai trò giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồnnhân lực cho xã hội Hạ tầng CNTT&TT phải đi trước và đủ mạnh đáp ứngviệc ứng dụng và phát triển CNTT&TT trong giáo dục và đào tạo

1.3.2 Ứng dụng CNTT&TT trong dạy học

Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, các thiết bị dạy học ngàycàng đa dạng như:

- Phim đèn chiếu

- Bản trong dùng cho máy chiếu qua đầu

- Băng, đĩa ghi âm

- Mô hình dạy học điện tử

- Thư viện điện tử, thư viện ảo

Trang 21

Các loại hình thiết bị dạy học trên đều có đặc điểm chung và khác biệt làmuốn khai thác lượng thông tin chứa đựng trong từng thiết bị phải có thêm cácmáy móc chuyên dùng tương ứng Tất cả các hệ thống đó người ta quen gọi là

hệ thống dạy học đa phương tiện

So với các thiết bị dạy học truyền thống thì các hệ thống dạy học đaphương tiện có một số đặc điểm khác [17], đó là:

1. Mỗi hệ thống dạy học đa phương tiện bao gồm 2 khối: Khối mang thông tin và Khối chuyển tải thông tin tương ứng

Khối mang thông tin

Phim Slide, phim chiếu bóng > Máy chiếu Slide, máy chiếu phimBản trong

Băng, đĩa ghi âm

Băng, đĩa ghi hình

Phần mềm dạy học

Giáo án điện tử/Giáo án

kỹ thuật số, Bài giảng điện tử,

Trang Web học tập > Máy tính, Máy chiếu đa

năng, Màn chiếu, Bảng kỹ thuật số

2. Phải có điện lưới quốc gia

3. Đắt gấp nhiều lần các thiết bị dạy học truyền thống

4. Phải có trình độ sử dụng và bảo quản tốt

5. Phải có phòng ốc chuyên biệt để lắp đặt, sử dụng và bảo quản

Cơ sở của việc cải tiến phương pháp dạy học là sự lựa chọn phương phápdạy học thích hợp cho từng bài học Sau đó là việc nghiên cứu áp dụng nhữngphương pháp và phương tiện thích hợp để dạy và học

Sử dụng hệ thống đa phương tiện trong dạy học mang lại cho chúng tanguồn thông tin phong phú và sinh động, bài giảng trở nên trực quan hơn, giảmbớt tính trừu tượng, bài giảng sống động hơn, thu hút sự tập trung, niềm say

mê hứng thú của người học, làm cho người học dễ hiểu và nhớ lâu

Trang 22

Việc sử dụng hệ thống đa phương tiện vào dạy học góp phần chống dạychay và học chay trong điều kiện cơ sở vật chất, và thiết bị phòng thí nghiệm,phòng thực hành còn thiếu thốn và lạc hậu như hiện nay.

Ngày nay, ứng dụng CNTT&TT trong môi trường dạy học đa phươngtiện đã trở thành một yếu tố quan trọng, là một công cụ hữu hiệu để góp phầnđổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học Nó làm tăngtính tích cực, chủ động của người học trong quá trình lĩnh hội tri thức mới

1.3.3 Ứng dụng CNTT&TT trong Dạy học trực tuyến

Nền giáo dục đại học đang gặp phải thách thức đó là phải đáp ứng được

sự đa dạng hóa của nhu cầu học tập và sự tăng nhanh về số lượng học viên.Các nhà giáo dục đang tìm kiếm một mô hình dạy học bao gồm việc sử dụngcông nghệ và các phương thức dạy học khác để hỗ trợ mô hình giáo dục truyềnthống Các mô hình ĐTTX đã lần lượt ra đời sau đó đã đáp ứng được nhu cầuđào tạo ĐTTX chỉ thực sự có chất lượng khi áp dụng tối đa những thành tựucủa CNTT&TT và khi đó mô hình DHTT dần được hình thành và phát triển,

mà cốt lõi là kho tư liệu số hóa, và các bài giảng điện tử [11]

Một mô hình DHTT dựa trên nền tảng của công nghệ Web được ứngdụng phổ biến trong kỷ nguyên trước đã góp phần tác động quan trọng đến quátrình dạy và học trong môi trường đào tạo qua mạng Internet [39]

Ngày nay, cùng với sự phát triển và ứng dụng của CNTT&TT vào giáodục và đào tạo, học tập điện tử (E-Learning) đã trở nên quen thuộc và thuậntiện với nhiều đối tượng người học Tuy vậy, E-Learning không thể thay thếhoàn toàn phương thức học tập truyền thống Chúng ta phải biết kết hợp cả haiphương thức học tập: E-Learning và giáo dục truyền thống để có thể đem lạihiệu quả cao nhất

1.4 Đào tạo từ xa

1.4.1 Công nghệ giáo dục, công nghệ dạy học

Khái niệm công nghệ giáo dục theo nghĩa hẹp [1], thường đồng nhất vớiviệc sử dụng trong giáo dục các phát minh, các sản phẩm công nghệ hiện đại vàcác phương tiện kỹ thuật dạy học

Khái niệm công nghệ giáo dục theo nghĩa rộng, thường được hiểu làkhoa học về giáo dục và có phạm vi rất rộng Ví dụ, theo tổ chức UNESCO, tại

hội thảo ở Giơnevơ từ 10-16/5/1970 đã đưa ra định nghĩa như sau: ”Công nghệ

Trang 23

giáo dục là khoa học về giáo dục, nó xác lập xác nguyên tắc hợp lý của công tác dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình đào tạo cũng như xác lập các phương pháp và phương tiện có kết quả nhất để đạt mục đích đào tạo đề ra, đồng thời tiết kiệm được sức lực của thầy và trò”.

Một ví dụ khác, theo Janskieviz (Balan, 1971): “ Công nghệ dạy học là hệ thống các chỉ dẫn sử dụng các phương pháp, phương tiện hoạt động, mà kết quả là phải đào tạo được những người tốt nghiệp theo mong muốn trong thời gian ngắn nhất có thể được, với sự chi phí phương tiện một cách tối ưu” [1].

Theo nhiều học giả trên thế giới thì “Giáo dục từ xa là một quá trình giáo dục - đào tạo mà trong đó phần lớn hoặc toàn bộ quá trình giáo dục - đào tạo

có sự tách biệt giữa người dạy và người học về mặt không gian hoặc/và thời gian” [20].

Nhìn chung, để giáo dục từ xa thực sự có hiệu quả đòi hỏi người học phải

ở một mức độ tự nhận thức nhất định Chính vì vậy, thuật ngữ đào tạo từ xa

thường được sử dụng hơn khi nói về các hoạt động giáo dục, đào tạo liên quan

Đào tạo từ xa (ĐTTX)

Không có một định nghĩa chính xác về ĐTTX Tuy nhiên một cách tổng

quát, ĐTTX là hoạt động dạy học diễn ra một cách gián tiếp theo phương pháp dạy học từ xa ĐTTX được hiểu bao hàm các yếu tố dưới đây:

1. Giảng viên và học viên ở một khoảng cách xa (tức là có sự ngăn

cách về mặt không gian: khoảng cách này là tương đối, có thể làcùng trường học nhưng khác phòng học hoặc khác nhau về vị tríđịa lý, có thể vài kilomet hoặc hàng ngàn kilomet)

2. Nội dung dạy học trong quá trình dạy học được truyền thụ, phân phối tới cho học viên chủ yếu thông qua các hình thức thể hiện gián tiếp như văn bản in, âm thanh, hình ảnh hoặc số liệu máy tính.

Trang 24

3. Sự liên hệ, tương tác giữa giảng viên và học viên (nếu có) trong

quá trình dạy học có thể được thực hiện tức thời hoặc trễ sau một

khoảng thời gian nào đó (có sự ngăn cách về mặt thời gian).

Tuỳ theo phương thức phân phối các nội dung dạy học và sự liên hệ,tương tác giữa giảng viên và học viên mà có các hình thức tổ chức, thực hiệnĐTTX khác nhau Về cơ bản người ta phân loại đào tạo từ xa dựa trên cơ sởmối quan hệ giữa giảng viên và học viên trong quá trình dạy học, đó là Đào tạo

từ xa không tương tác [40] và Đào tạo từ xa tương tác (nay được gọi một cáchphổ dụng là đào tạo từ xa trực tuyến)

1.4.3 Đào tạo từ xa không tương tác

ĐTTX không tương tác (Non-Interactive/Asynchronous), có nghĩa làkhông có sự tương tác theo thời gian thực, trực tiếp giữa giảng viên và họcviên trong quá trình dạy học Trong ĐTTX không tương tác, có các phươngthức được sử dụng điển hình như:

- Tài liệu, bài giảng in (Print): Đây là công nghệ cổ điển, truyền thống

nhất, dễ thực hiện nhất và đặc biệt là rẻ tiền nhất Loại hình tài liệu, bài giảng

in sẽ tồn tại lâu dài dù cho trong tương lai có các công nghệ ĐTTX tiên tiếnnào khác sẽ được sử dụng

- Băng/đĩa hình, băng/đĩa tiếng (Audio/Video Tape, Disk): Đây cũng là

một công nghệ ĐTTX được sử dụng phổ biến trong những thập niên trước,trong tương lai công nghệ này sẽ không phát triển nhiều, hoặc nếu có chỉ được

sử dụng là một hình thức bổ trợ cho các công nghệ khác

- Các chương trình máy tính, các công cụ mô phỏng (đĩa mềm, CD-ROM,

Multimedia ): Công nghệ này dựa vào các ứng dụng mô phỏng của kỹ thuật máy tính để triển khai các bài giảng hoặc các tài liệu huấn luyện

- Phương tiện phát thanh, truyền hình quảng bá (Broadcasting): Công

nghệ này sử dụng các đài phát thanh, truyền hình để thực hiện ĐTTX Ưu điểmcủa công nghệ này là cùng lúc có thể giảng dạy cho số lượng rất lớn học viên.Khả năng tiếp cận của người học cũng rất phong phú, tiện lợi

- Mạng Intranet, Internet (Web, Mail, E-learning ): Đây được coi là

công nghệ đào tạo từ xa của thế kỷ 21 Sự kết hợp của công nghệ này với cáccông nghệ đào tạo tương tác dưới đây sẽ hình thành nên các hệ thống học tậpđiện tử (E-learning) đang được nói phổ biến hiện nay

Trang 25

1.4.4 Đào tạo từ xa tương tác, đào tạo từ xa trực tuyến

ĐTTX tương tác (Interactive/Synchronous) có nghĩa là có sự tương táctheo thời gian thực, trực tiếp giữa giảng viên và học viên trong quá trình dạyhọc Trong đào tạo từ xa trực tuyến (ĐTTT), có một số phương thức tổ chứcđào tạo sử dụng các công nghệ điển hình như ở dưới đây:

- Radio hai chiều; điện thoại hội nghị : Công nghệ này được dùng nhiều

cho các chương trình giáo dục phổ cập hơn là đào tạo cho người trưởng thành

Nó cũng được dùng nhiều như là hình thức bổ trợ cho các công nghệ đào tạokhác, ưu điểm nổi bật là giá thành rẻ

- Cầu truyền hình: Sử dụng các bộ mã hóa và giải mã truyền hình (Tivi

Codec) hoạt động ở tốc độ cao (hàng Mbit/s), như các cầu truyền hình màchúng ta vấn thường xem trong các dịp lễ tết trong những năm qua, giá thànhcủa công nghệ này là đắt, thường chỉ sử dụng cho nghiên cứu, cho các hoạtđộng truyền hình cần có chất lượng âm thanh và hình ảnh rất cao

- Hội nghị truyền hình (Video Conferencing): Sử dụng kết hợp công nghệ

máy tính, viễn thông và truyền hình Vấn đề trọng tâm của hội nghị truyền hình

là các bộ mã hoá âm thanh và hình ảnh với hệ số nén rất cao Giá thành củacông nghệ này phụ thuộc vào yêu cầu chất lượng hình ảnh, âm thanh Nhưngnhìn chung là phù hợp với các doanh nghiệp, hoặc cá nhân có khả năng tàichính nhất định

- Mạng Intranet, Internet (Chat, Webcam, ): ĐTTX tương tác sử dụng

mạng Intranet, Internet thường phù hợp với hình thức tổ chức đào tạo cho cánhân hoặc nhóm nhỏ Công nghệ này rất rẻ và đang phổ biến trong lĩnh vựcĐTTX hiện nay

Trên cơ sở các phương thức ĐTTX vừa nêu, có thể diễn giải một cách

tổng quát về ĐTTT như sau: “ Đào tạo trực tuyến là một phương thức giáo dục - đào tạo dựa trên cơ sở của kỹ thuật nghe nhìn, CNTT&TT; quá trình tương tác giữa giảng viên và người học được thực hiện theo thời gian thực thông qua các phương tiện CNTT&TT”.

Trang 26

khác có lưu giữ sẵn giáo trình và phần mềm cần thiết để có thể hỏi/yêu cầu/ra

đề cho học viên học trực tuyến từ xa Hoặc giáo viên có thể truyền tải hình ảnh

và âm thanh qua đường truyền cáp quang; băng thông rộng (ADSL) hoặc kết nối không dây (WiFi, WiMAX), mạng nội bộ (LAN) v.v…Mở rộng ra, các cá nhân hay các tổ chức đều có thể tự lập ra một trường học trực tuyến (E- School), mà nơi đó vẫn nhận đào tạo học viên, đóng học phí và có các bài kiểm tra như các trường học khác” [41].

Dưới đây sẽ trích ra một số định nghĩa về E-Learning tiêu biểu [42]:

- Theo William Horton, E-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập

- Theo Compare Infobase Inc, E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tảviệc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông

- Theo MASIE Center, E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo đượcchuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệthông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ haytoàn cục

- Theo Sun Microsystems Inc, E-Learning là việc học tập được truyền tảihoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử, việc truyền tải qua nhiều kĩ thuậtkhác nhau như Internet, Tivi, Video Tape, các hệ thống giảng dạy thôngminh và việc đào tạo dựa trên máy tính

- Theo http://www.e-learningsite.com, E-Learning là việc truyền tải cáchoạt động, quá trình, sự kiện đào tạo và học tập thông qua các phươngtiện điện tử như Internet, Intranet, Extranet, CD-ROM, Video Tape,DVD, Tivi và các thiết bị cá nhân

- Theo định nghĩa của Lance Dublin, hướng tới E-Learning trong doanhnghiệp, "E-Learning chính là việc sử dụng công nghệ để tạo ra, đưa các

dữ liệu có giá trị, thông tin, học tập và kiến thức với mục đích nâng caohoạt động của tổ chức và phát triển khả năng cá nhân”

Hình vẽ dưới đây mô tả kiến trúc của một hệ thống E-Learning:

Trang 27

Quiz Survey

Kết nối điện tử

HỆ THỐNG QUẢN LÝ HỌC TẬP

-Hoạt động quản lý

-Kế hoạch bài giảng

-Kiểm duyệt

Hình 1.4: Kiến trúc hệ thống E- Learnin g

Từ kiến trúc hệ thống E-Learnin

g cho chúng tathấy:

- Học tập sẽ dựa trên mạng Interne

t là chủ yếu, thông qua

Trang 28

+ Modu

le khảo sát lấy

ý kiếncủa mọi người

về một vấn đềnào đó+ Modu

le kiểm tra và đánh giá+ Module Cha

t trựctuyến:

giáoviêngiản

g giải một

gìđóch

o cá

c họ

c viênthôn

g qu

a Chat.-24-

Trang 29

+ Module Video và Audio trực truyến: giáo viên giảng giải một vấn

đề gì đó cho các học viên dựa trên các phần mềm hỗ trợ chuyển tảihình ảnh và âm thanh

+ Module Flash: lưu trữ các bài giảng, đoạn phim dưới dạng hình ảnh động theo diễn tiến của quá trình dạy học

+ Video Conferencing: giáo viên giảng giải một vấn đề gì đó cho các học viên dựa trên các phần mềm hỗ trợ truyền hình hội nghị

Ngày nay, khi bàn tới E-learning, người ta thường lưu ý tới một số kháiniệm và thuật ngữ thường được sử dụng như sau:

Hệ thống quản lý học tập (LMS: Learning Management System): Là

một phân hệ thuộc hệ thống học tập điện tử (E-Learning) có chức năng quản lýhọc liệu và người học khi sử dụng mạng máy tính để giảng dạy và học tập

Hệ thống quản lý nội dung học tập (LCMS: Learning Content

Management System): Là hệ thống dùng để tạo, lưu trữ, tổng hợp và phân phốinội dung E-Learning dưới dạng các đối tượng học tập

Hệ thống hội nghị truyền hình tương tác: Là hình thức trao đổi trực

tuyến 2 chiều hoặc đa chiều bằng hình ảnh (Video) và âm thanh (Voice) thôngqua mạng tin học-viễn thông (như Webcam, Video Conferencing)

Lớp (phòng) học ảo (Virtual Classroom): Là môi trường mô phỏng lớp

học mặt-giáp-mặt nhờ ứng dụng tiến bộ của kỹ thuật CNTT&TT Nơi cung cấptài nguyên mạng, giúp ta có nhiều lựa chọn và phương pháp trao đổi thông tin

Học liệu in: là học liệu được thể hiện dưới dạng ấn phẩm in trên giấy

hoặc trên một số vật liệu in chuyên dụng khác

Học liệu điện tử: là học liệu được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử

(Data), sử dụng trên cơ sở ứng dụng CNTT&TT trên thiết bị máy tính hoặc cácthiết bị di động cần tay

Sách điện tử (E-Book): Là các định dạng điện tử có thể đọc trên màn

hình máy tính (có thể là các định dạng doc, html, pdf, ) của học liệu in

Trang trình chiếu: Là nội dung trình chiếu ở các định dạng điện tử, để

phục vụ quá trình trình diễn, giảng dạy, diễn giảng của giáo viên Trang trìnhchiếu có thể được xây dựng trên cơ sở công cụ trình bày PowerPoint trong bộphần mềm văn phòng của Microsoft hoặc các công cụ biên soạn trình chiếu caocấp khác như Acrobat, Macromedia Authorware, Flash,

Trang 30

Bài giảng điện tử:

Là tổ hợp tổ hợp các trang trình chiếu và lời giảng của giáo viên, đượcthực hiện theo một trật tự nhất định (giáo án, hay kịch bản màn hình: nó mô tảcác nội dung, cách thức, thời gian xuất hiện của nội dung diễn giảng trên mộttrang màn hình trình chiếu), thể hiện được mối quan hệ sư phạm giữa giáoviên và học sinh trong quá trình dạy học, đặc biệt là và một số nội dung kiếnthức, kỹ năng quan trọng cần hình thành cho học sinh trong quá trình dạy họclại quá trìu tượng đối với người học mà các loại hình thiết bị dạy học truyềnthống (tranh ảnh giáo khoa, bản đồ, biểu đồ, mô hình, mẫu vật, thí nghiệmthật ) không thể hiện được thì sẽ được số hoá (ứng dụng CNTT&TT) và trởthành các thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, mô hình mô phỏng hay cácđoạn Video Clip để trình chiếu trong một thời gian rất ngắn, đảm bảo phù hợpvới nhu cầu nhận thức của học sinh, giúp cho học sinh tự mình lĩnh hội cáckiến thức và kỹ năng mới thông qua các phương tiện CNTT&TT [7]

Theo ý kiến nhiều nhà nghiên cứu, cần lưu ý rằng E-learning luôn được

hiểu gắn với quá trình Học hơn là với quá trình dạy học Lý do thật đơn giản đó

là theo thời gian người ta đã thay đổi từng bước cách nhìn trong mối quan hệ

giữa Dạy và Học: Lấy người Thầy làm trung tâm (Dạy) → Tạo sự bình đẳng

giữa Thày và Trò (Dạy - Học) → Lấy học Trò làm trung tâm (Học)

Tóm lại E-learning có thể hiểu một cách tổng quát nhất là Quá trình học tập của học sinh được hỗ trợ bởi các phương tiện CNTT &TT.

1.5 Quản lý nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến

1.5.1 Dạy học trực tuyến (DHTT)

Như trên đã trình bày, dạy học có thể hiểu theo nghĩa hẹp là hoạt độngdạy học, là quá trình tương tác, cộng tác giữa thầy và trò trong quá trình lênlớp, và ở một nghĩa rộng hơn là quá trình dạy học là toàn bộ một hệ thống gồmcác thành tố cơ bản: mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp, hìnhthức tổ chức, phương tiện dạy học, kết quả dạy học, hoạt động của thầy giáo,của người học

Dạy học trực tuyến hiểu theo nghĩa hẹp là một hình thức tổ chức các buổi

giảng dạy qua các phương tiện CNTT&TT, mà ở đó có sự tương tác theo thờigian thực giữa thầy và trò Ví dụ như :

- Các buổi giảng dạy qua âm thanh 2 chiều (Radio, điện thoại)

- Các buổi giảng dạy qua hội nghị truyền hình, qua webcam

Trang 31

- Các buổi giảng dạy qua hệ thống Online Chatting hoặc kết hợp giữa Online Chatting với Webcam trên mạng Internet công cộng.

- Các buổi giảng dạy qua hệ thống phần mềm lớp học ảo chuyên dụng(Virtual Classroom)

Dạy học trực tuyến hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ quá trình dạy học

được tổ chức thực hiện kết hợp một phần hoặc toàn bộ qua hệ thống cácphương tiện CNTT&TT, mà ở đó sự trao đổi, tương tác giữa cơ sở đào tạo vàngười học có thể theo thời gian thực (Realtime, Online) hoặc không theo thờigian thực (Offline) Như vậy, theo nghĩa này, DHTT là quá trình cơ sở đào tạo

tổ chức thực hiện các hoạt động dưới đây trong môi trường điện tử, thông quacác phương tiện truyền thông điện tử, mạng Internet:

- Quá trình tạo lập nội dung dạy học, quản lý đào tạo được thể hiện dướidạng truyền thông điện tử, đa phương tiện, qua mạng Internet Ví dụ: Lịch học,lịch thi được tạo lập trên một hệ phần mềm quản lý, một đoạn bài giảng về quytrình lập dự án đầu tư viết bằng phần mềm trình diễn Flash, một File tài liệuhướng dẫn sử dụng máy photocopy được tạo lập bằng phần mềm Adobe pdf,một bài giảng dựa trên công nghệ Web viết bằng phần mềm công cụ Toolbook,Html,

- Quá trình phân phối (dạy học theo nghĩa hẹp) nội dung dạy học, quản lýđào tạo được thực hiện qua các phương tiện truyền thông điện tử, qua mạngInternet, Việc phân phối các nội dung đào tạo được thực hiện thông qua cácphương tiện điện tử Ví dụ: lịch học, lịch thi thông báo trên Webiste, đượcchuyển cho học viên qua điện thoại di động, một số buổi giảng được thực hiệnqua mạng Internet, tài liệu được gửi cho học viên bằng E-mail, học viên họctrên Website, học qua đĩa CD-ROM Multimedia,…

- Quá trình quản lý: quá trình quản lý học tập, đào tạo được thực hiện nhờphương tiện truyền thông điện tử, qua mạng Internet Ví dụ như việc đăng kýhọc qua mạng, đăng ký học phần bằng bản tin nhắn SMS, việc theo dõi tiến độhọc tập (điểm danh), hoạt động kiểm tra đánh giá có thể được thực hiện quamạng Internet,

- Quá trình trao đổi, thảo luận, giải đáp thắc mắc: sự hợp tác, trao đổi của

cơ sở giáo dục, của giảng viên và người học trong quá trình học tập cũng đượcthông qua phương tiện truyền thông điện tử Ví dụ như việc trao đổi thảo luậnthông qua E-mail, Chatting, Forum trên mạng,…

Trang 32

Như vậy, ở đây có thể có sự khác biệt khá lớn khi phân biệt khái niệmDHTT, hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình tương tác giữa thày và trò trong quátrình dạy học thông qua các phương tiện CNTT&TT và ở nghĩa rộng hơn làmột phần hay toàn bộ quá trình tổ chức dạy học, đào tạo của nhà trường đượcthực hiện thông qua các phương tiện CNTT&TT.

1.5.2 Chất lượng dạy học trực tuyến

Như ở phần trên đã trình bày, chất lượng dạy học là chất lượng của việcdạy và việc học DHTT là quá trình tổ chức việc dạy và việc học thông qua mộtphần hay toàn bộ các phương tiện CNTT&TT

Như vậy, từ các quan niệm về chất lượng dạy học và DHTT nêu trên, cóthể thấy chất lượng DHTT về bản chất không có gì khác biệt nhiều so với chấtlượng dạy học, vì mục đích của việc dạy học là không thay đổi theo các môitrường hoặc phương tiện dạy học

Hiểu theo nghĩa hẹp của hoạt động DHTT, chất lượng DHTT bao hàm:chất lượng tổ chức các buổi giảng trực tuyến; chất lượng kỹ thuật của các buổigiảng trực tuyến (âm thanh, hình ảnh, đảm bảo chất lượng kỹ thuật); sựchuẩn bị và thực hiện bài giảng của giáo viên đạt kết quả; sự tham dự tích cực

và tiếp thu kiến thức, kỹ năng của học viên trong buổi giảng đáp ứng được yêucầu của bài giảng, môn học

Một cách tổng quát hơn, chất lượng DHTT là chất lượng của các quátrình: tạo lập, phân phối, quản lý và trao đổi nội dung dạy học, quản lý học tậpcủa nhà trường thông qua một phần hoặc toàn bộ các ứng dụng CNTT&TT,phù hợp với mục tiêu đẩy mạnh ứng dụng CNTT&TT vào mọi mặt hoạt độngcủa nhà trường với chi phí về phương tiện CNTT&TT một cách tối ưu

1.5.3 Nội dung quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến

Ở nước ta, quản lý công tác DHTT của nhà trường là một nội dung quản

lý còn khá mới mẻ trong quản lý nhà trường nói chung và ở các cơ sở có triểnkhai DHTT nói riêng Nhiều cơ sở đào tạo, doanh nghiệp mặc dù đã triển khaiDHTT nhưng thực chất là ứng dụng CNTT&TT để hỗ trợ hình thức ĐTTXhoặc các hình thức đào tạo khác trong một phần của quá trình đào tạo Hơnnữa, hiện chưa có một quy chế, quy định hay hướng dẫn của cơ quan quản lýnhà nước về DHTT để tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho các cơ sở đào tạotrong nước thực hiện về DHTT

Trang 33

Theo tác giả, trước hết quản lý DHTT cũng như các hoạt động quản lýkhác trong nhà trường bao gồm các nội dung: Lập kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo;

và Kiểm tra, giám sát Như vậy, để tổ chức DHTT thành công trong nhàtrường, nhà quản lý (hiệu trưởng nhà trường) phải phân bố nhân lực và cácnguồn lực khác, tổ chức, chỉ dẫn và giám sát sự vận hành của hệ thống để hoạtđộng DHTT có hiệu quả và đạt được mục tiêu đề ra

Do trong thực tế, quản lý DHTT còn mới mẻ, nên sự khác biệt của các nộidung của quản lý nhằm nâng cao chất lượng DHTT và quản lý DHTT có thểchưa được phân định rõ Tuy nhiên, tác giả cho rằng các nội dung về quản lýnhằm nâng cao chất lượng DHTT bao gồm một số nội dung chính sau:

về đào tạo từ xa qua mạng [20], nhưng đến nay, quy định này cũng chưa đượcban hành Do vậy xét về mặt chính sách ở cấp vĩ mô, các hoạt động DHTT vẫnchỉ mang tính tự phát và chưa được thừa nhận, điều chỉnh bởi các chính sách ởcấp độ của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục

Ở cấp vi mô, cấp nhà trường: các chính sách về DHTT bao gồm một loạtcác quy định có liên quan về: cung cấp thông tin đào tạo trên mạng, biên soạnbài giảng, học liệu điện tử, tổ chức giảng dạy, trao đổi, giải đáp trên mạng,kiểm tra đánh giá và chi phí cho việc DHTT qua mạng Có thể chính sách ở cấp

vĩ mô chưa được ban hành, song theo yêu cầu phát triển của DHTT hiện naytrong các nhà trường, thì theo tác giả việc ban hành các cơ chế, chính sách ởcấp nhà trường là hết sức cần thiết

Một ví dụ cho việc cần thiết phải xây dựng chính sách ở cấp nhà trường là:một giảng viên lên lớp 1 tiết học để hướng dẫn sinh viên ôn tập sẽ được tính giờchuẩn, trả thù lao rất rành mạch với đầy đủ các quy định để quản lý, tham chiếu,.Nhưng một giảng viên dành 1 giờ sử dụng máy tính, mạng Internet để

Trang 34

trả lời, hướng dẫn sinh viên học tập qua E-mail, qua diễn đàn, qua Chatting thìkhông biết căn cứ vào quy định nào để quản lý công việc và thanh toán chi phí.

1.5.3.2 Kế hoạch hóa công tác DHTT

Xác định mục tiêu, mục đích của DHTT: việc xác định mục tiêu, mục đích

để tổ chức công tác DHTT có ý nghĩa quyết định cho vì nó chỉ đạo hành động,cung cấp cho nhà trường những điều để nhà trường hướng nỗ lực vào đó, và

nó có thể được sử dụng như một tiêu chuẩn đánh giá để đo lường mức độthành công của việc DHTT

Có 2 cấp độ mà mục tiêu của DHTT cần hướng tới: ở cấp độ tổng thể:mục tiêu của DHTT là việc ứng dụng CNTT&TT trong quá trình giáo dụcnhằm mở rộng phạm vi, quy mô đào tạo và nâng cao hiệu quả của các phươngthức, cơ sở giáo dục truyền thống; ở cấp độ cụ thể, mục tiêu cụ thể là việc đẩymạnh một cách hợp lý việc triển khai ứng dụng CNTT&TT trong đổi mớiphương pháp dạy và học [23]

Xác định quy trình, nội dung triển khai DHTT: quy trình, nội dung triển

khai cần được xây dựng phù hợp với mục tiêu và điều kiện thực tế của nhàtrường trong việc triển khai DHTT

Xác định và đảm bảo các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu DHTT: các

nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu DHTT bao gồm đội ngũ cán bộ quản lý,giảng viên, kỹ thuật viên, cơ sở vật chất kỹ thuật của mạng CNTT&TT, nguồnkinh phí, các cơ chế chính sách liên quan tới DHTT trong nhà trường

1.5.3.3 Tổ chức, chỉ đạo triển khai công tác DHTT

Sau khi lập kế hoạch công tác DHTT của nhà trường, các kế hoạch nàycần phải được triển khai, chỉ đạo để thực hiện Tổ chức là quá trình hình thànhcác quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một nhà trường nhằmlàm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu đã đề ra.Người quản lý phải phối hợp, điều phối tốt các nguồn nhân lực của nhàtrường Trong quá trình tổ chức, chỉ đạo triển khai công tác DHTT, người quản

lý cần quan tâm đến các nội dung sau:

- Đầu tư nâng cấp cho hạ tầng DHTT: Hệ thống phần cứng, hệ thống

phần mềm Việc đầu tư xây dựng cho hạ tầng DHTT cũng có nhiều phương ánlựa chọn để phù hợp với các pha của quá trình triển khai DHTT

Trang 35

- Xây dựng các chính sách quản lý DHTT trong nhà trường: quy định

quản lý và cung cấp thông tin trên mạng Internet, các chế độ quản lý, thanhtoán chi phí trong DHTT,

- Bồi dưỡng nguồn nhân lực cho DHTT: đội ngũ giảng viên, cán bộ quản

lý, các kỹ thuật viên và đội ngũ cộng tác viên

- Xây dựng công cụ đánh giá chất lượng DHTT: các tiêu chí đánh giá,

biên soạn học liệu điện tử, quản lý giảng dạy và học tập trực tuyến

- Thiết lập mạng lưới giữa cơ sở đào tạo và các trung tâm vệ tinh (cơ sở

liên kết đào tạo) đối với các hình thức DHTT qua mạng hội nghị truyền hình

- Phổ biến và hướng dẫn học sinh, sinh viên sử dụng hệ thống học tập trực

tuyến để học tập, tiếp nhận và trao đổi thông tin và thực hiện các hoạt độngnghiên cứu, tự nghiên cứu trên cơ sở ứng dụng CNTT&TT

1.5.3.4 Kiểm tra đánh giá công tác DHTT

Đây là hoạt động theo dõi, giám sát các thành quả DHTT và tiến hànhnhững hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Đó cũng chính là quá trình tựđiều chỉnh diễn ra theo chu kỳ:

- Đặt ra các chuẩn mực thành công của DHTT

- Đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành công so với chuẩn mực

- Tiến hành điều chỉnh những sai lệch

- Hiệu chỉnh sửa chữa lại những chuẩn mực nếu cần

Cần quản lý, giám sát công tác DHTT, các biện pháp quản lý DHTT cóvai trò then chốt trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng DHTT Thông quaviệc thực hiện các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra hoạtđộng DHTT, từ đó đề ra các mục tiêu, tiêu chí, xây dựng quy trình DHTT làmchuẩn cho hoạt động này Các biện pháp quản lý công tác DHTT được coi làkim chỉ nam, là xương sống của hoạt động DHTT Nếu đề xuất được các biệnpháp quản lý thích hợp với các điều kiện cụ thể của nhà trường và theo từnggiai đoạn sẽ nâng cao được chất lượng công tác DHTT của nhà trường

Tiểu kết chương 1

Qua tổng quan về vấn đề nghiên cứu, một số khái niệm: quản lý, quản lýgiáo dục, chất lượng dạy học, ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục, dạy họctrực tuyến,… và tình hình nghiên cứu, triển khai đào tạo từ xa, dạy học trực

Trang 36

tuyến ở trong và ngoài nước, về quản lý nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến, từ đó tác giả đã rút ra một số kết luận như sau:

1. Dạy học trực tuyến đã trở thành một xu thế tất yếu trong nền kinh tế trithức và đã tạo ra một cuộc cách mạng về dạy học nhờ việc ứng dụng cácphương tiện CNTT&TT DHTT thay đổi cách tiếp cận và lĩnh hội tri thức sovới mô hình học tập truyền thống, hỗ trợ và bổ sung mô hình học tập truyềnthống trong việc đáp ứng nhu cầu học tập ngày một to lớn và đa đạng trong thế

kỷ 21

2. Dạy học trực tuyến hiểu theo nghĩa hẹp là một hình thức tổ chức cácbuổi giảng dạy qua các phương tiện CNTT&TT, mà ở đó có sự tương tác theothời gian thực giữa thầy và trò Dạy học trực tuyến hiểu theo nghĩa rộng là toàn

bộ quá trình dạy học được tổ chức thực hiện kết hợp một phần hoặc toàn bộqua hệ thống các phương tiện CNTT&TT, mà ở đó sự trao đổi, tương tác giữa

cơ sở đào tạo và người học, giữa thầy giáo và học trò có thể theo thời gian thựchoặc không theo thời gian thực thông qua các phương tiện CNTT&TT

Để triển khai tốt việc ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục, cần hiểuDHTT theo nghĩa rộng

3 Việc triển khai công tác dạy học trực tuyến có thể được thực hiện vớinhiều hình thức và mức độ khác nhau: phát triển học liệu, cung cấp thông tinđào tạo, tổ chức giảng dạy, kiểm tra đánh giá, thông qua các ứng dụngCNTT&TT

4 Nội dung công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học trựctuyến bao gồm: xây dựng chính sách, lập kế hoạch, tổ chức triển khai và kiểmtra đánh giá kết quả công tác dạy học trực tuyến

5 Để phát huy tối đa những ưu điểm, lợi thế của dạy học trực tuyến trongthời đại bùng nổ ứng dụng CNTT&TT và hội nhập giáo dục quốc tế hiện naythì các biện pháp quản lý việc dạy học trực tuyến trong nhà trường có vai tròhết sức quan trọng và có ý nghĩa quyết định

Trang 37

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝNHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TRỰC TUYẾN TẠI HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH

VIỄN THÔNG

2.1 Đặc điểm về dạy học trực tuyến tại Học viện Công nghệ BCVT

2.1.1 Sơ lược về Học viện Công nghệ BCVT

2.1.1.1 Thông tin chung về Học viện Công nghệ BCVT

Học viện Công nghệ BCVT được thành lập theo quyết định số TTg, ngày 11/7/1997 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sắp xếp lại 4 đơn vịtrực thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam, đó là: Viện Khoa học Kỹthuật Bưu điện, Viện Kinh tế Bưu điện, Trung tâm Đào tạo Bưu chính Viễnthông I, II nhằm triển khai mô hình 3 gắn kết : Nghiên cứu khoa học (NCKH) -Đào tạo - Sản xuất kinh doanh (SXKD)

516/QĐ-Các thông tin chung về Học viện Công nghệ BCVT [26, 27] như sau:

- Tên trường: Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông Tên viết tắt: Học viện Công nghệ BCVT (hoặc Học viện)

- Tên tiếng Anh: PTIT (Post & Telecommunications Institute ofTechnology)

- Cơ quan chủ quản: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)

- Địa chỉ: 122, Ðường Hoàng Quốc Việt, Quận Cầu Giấy, Hà Nội

- Loại hình trường: Công lập

- Năm thành lập: 1997 (thực tế, Học viện có lịch sử phát triển từ Trường đại học Bưu điện – Vô tuyến điện từ năm 1953)

- Thời gian bắt đầu đào tạo khóa I: năm 1998

- Thời gian cấp bằng tốt nghiệp cho khoá I: 2002

- Website: http://www.ptit.edu.vn; www.ptithcm.edu.vn

Trang 38

2.1.1.2 Mô hình tổ chức, ngành nghề, quy mô đào tạo (năm học 2009-2010)

Là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc doanh nghiệp, do vậy tổ chức củaHọc viện được chi phối bởi các quy định của Nhà nước đối với các tổ chứcđào tạo công lập và tổ chức của đơn vị sự nghiệp có thu nằm trong doanhnghiệp Nhà nước Cơ cấu tổ chức hiện nay của Học viện bao gồm:

- Khối Quản lý (Cơ quan Học viện): gồm Ban Giám đốc Học viện và Bộ

máy giúp việc (phòng, ban chức năng ) vừa làm chức năng điều hành quản lýtoàn bộ mọi mặt hoạt động của Học viện theo yêu cầu bộ máy quản lý của mộtđơn vị sự nghiệp có thu nằm trong doanh nghiệp Nhà nước, vừa tổ chức điềuhành các hoạt động đào tạo theo yêu cầu bộ máy quản lý của một trường Đạihọc

- Khối Giáo dục và Đào tạo gồm 02 cơ sở đào tạo dài hạn tại Hà Nội (Cơ

sở đào tạo Hà Đông) và Cơ sở HV tại tp Hồ Chí Minh; 02 Trung tâm đào tạobồi dưỡng ngắn hạn là Trung tâm Đào tạo BCVT I ( tại Hà nội ) và Trung tâmĐào tạo BCVT II ( tại Thành phố Hồ Chí Minh ), trong đó:

Cơ sở đào tạo Hà đông: 06 khoa đào tạo với 18 bộ môn, 03 Trung tâmcung ứng dịch vụ đào tạo phi chính quy là Trung tâm đào tạo tại chức và Trungtâm đào tạo từ xa, Trung tâm Đào tạo quốc tế, 02 Trung tâm và 01 Trạm y tếcung ứng các dịch vụ phục vụ, hỗ trợ là Trung tâm Cơ sở vật chất & Dịch vụ vàTrung tâm Internet Plaza Hai Trung tâm đào tạo phi chính quy, Trung tâm Cơ

sở vật chất & Dịch vụ và Khoa Quốc tế và Đào tạo sau đại học là các đơn vịhạch toán riêng

Cơ sở Học viện tại TP Hồ Chí Minh : có 05 khoa đào tạo với 16 bộ môn,

08 phòng, tổ trực thuộc giúp việc, là cơ sở đào tạo của Học viện, có con dấuriêng, có tài khoản riêng, có Phó Giám đốc Học viện phụ trách Cơ sở vớinhiệm vụ tổ chức quản lý và đào tạo các hệ dài hạn thuộc các chuyên ngànhĐTVT, CNTT, QTKD với chỉ tiêu kế hoạch do Giám đốc Học viện giao

Hai cơ sở đào tạo dài hạn của Học viện tại Hà đông và thành phố Hồ ChíMinh là hai đơn vị thực hiện cung ứng dịch vụ giáo dục đại học tại Học viện.Trung tâm đào tạo BCVT I và Trung tâm đào tạo BCVT II là hai đơn vị sựnghiệp có thu (có con dấu, tài khoản, kế hoạch hoạt động), thực hiện nhiệm vụcung ứng dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn

- Khối Khoa học và Công nghệ: gồm 03 đơn vị nghiên cứu trực thuộc là

Viện Khoa học kỹ thuật Bưu điện, Viện Kinh tế Bưu điện và Trung tâm Côngnghệ thông tin; là các đơn vị sự nghiệp có thu (có con dấu, tài khoản, kế hoạch

Trang 39

hoạt động riêng) thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học theo đặt hàng củaVNPT; tham gia giảng dạy và thực hiện các hợp đồng chuyển giao khoa họccông nghệ trên mạng lưới Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin.

Mô hình tổ chức của Học viện cho ở hình 2.1 dưới đây

CÁC TỔ CHỨC

CTXH & ĐOÀN THỂ

HỘI ĐỒNG K.HỌC & Đ.TẠO CÁC HỘI ĐỒNG

5 Phòng Kinh tế Tài chính

Trang 40

6 Phòng Thanh Tra

7 Ban Quản lý các Dự án

Hình 2.1 Sơ đồ mô hình tổ chức của Học viện Công nghệ BCVT

Ngày đăng: 29/10/2020, 20:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w