Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy cho học sinh THPT môn Địa lí, nâng cao chất lượng dạy học tích hợp gắn với môn Địa lí.+ Góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên dạy môn Địa lí trong trường THPT.+ Giúp cho việc giảng dạy và học tập bộ môn Địa lí có tính thiết thực, gắn với thực tiễn cuộc sống, kích thích sự hứng thú học tập của học sinh. Học sinh có thể hiểu, nắm bắt và giải thích được nguyên nhân của các hiện tượng địa lí tự nhiên cũng như của các hiện tượng địa lí kinh tế xã hội, từ đó có thể rút ra cho bản thân bài học, tinh thần trách nhiệm với cộng đồng… + Nâng cao khả năng làm việc nhóm, khả năng hợp tác giữa các học sinh, giữa giáo viên và học sinh nhằm mang lại kết quả dạy và học hiệu quả hơn
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẮC NINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN
-oOo -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CẤP NGÀNH
TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÝ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Người thực hiện: Dương Thị Thanh Nga
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Năm học 2019 - 2020
Trang 2Độc lập – Tự do – Hạnh phúcTHUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: “Tích hợp nội dung biến đổi khí hậu trong giảng dạy Địa lí
ở trường THPT”
2 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: tháng 10/2017
3 Các thông tin cần bảo mật (nếu có): không
4 Mô tả các giải pháp cũ thường làm:
- Với các phương pháp và cách thức tổ chức dạy trước đây trong giảng dạy môn Địa lí ở trường THPT, các giáo viên thường thực hiện với mục tiêu của việc dạy học đơn môn, tức chỉ phục vụ cho mục tiêu của môn Địa lí Do đó, mục tiêu dạy học hạn chế hơn, chỉ gói gọn trong kiến thức và kĩ năng của môn học
Việc tổ chức dạy học thường xuất phát từ tình huống liên quan tới nội dung của môn Địa lí Giáo viên hầu như không tiến hành các hoạt động dạy học xuất phát từ vấn đề mở cần giải quyết hay một dự án cần thực hiện; cũng như không xuất phát từ những tình huống liên quan đến lợi ích và sự quan tâm của học sinh hay của cộng đồng
Giáo viên có quan tâm đến việc phát triển các kĩ năng, thái độ của người học, nhưng đặc biệt nhằm tới việc làm chủ mục tiêu kiến thức, kĩ năng ngắn hạn Với phương pháp dạy học đơn môn giáo viên không nhấn mạnh đặc biệt đến sự phát triển năng lực của học sinh cũng như việc làm chủ các mục tiêu lâu dài của người học (phương pháp, kĩ năng và thái độ)
Từ các phương pháp dạy học cũ (chỉ tập trung dạy học đơn môn) dẫn đến việc học sinh chỉ tiếp nhận kiến thức và kĩ năng mang đặc thù môn Địa lí, không
có được nhiều sự liên hệ thực tiễn, và những trải nghiệm kiến thức thực tế liên quan đến bộ môn.
5 Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến:
Hiện nay, biến đổi khí hậu thực sự là một thách thức to lớn với toàn nhân loại Tuy nhiên, trong chương trình Trung học phổ thông của Việt Nam, không
có môn Giáo dục biến đổi khí hậu Vì vậy, nội dung giáo dục biến đổi khí hậu cần được tiến hành trong quá trình dạy học các môn học Trong đó, Địa lí là bộ môn có nhiều lợi thế trong việc tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu
Trang 3Để hình thành và phát huy được năng lực của học sinh trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng hiện nay, vai trò của người giáo viên trong việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh (như năng lực tự học; năng lực nhận thức về các chủ đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, nghèo đói,
…; năng lực giải quyết vấn đề, năng lực ngôn ngữ và giao tiếp, năng lực sáng tạo, năng lực về kĩ năng sống,…) là vô cùng quan trọng
- Dạy học tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong giảng dạy môn Địa lí ở nhà trường THPT cũng chính là việc thực hiện dạy học theo tiếp cận năng lực.
6 Mục đích của giải pháp sáng kiến:
- Nhằm đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học, phát huy năng lực học sinh
- Giáo viên có cơ sở để rèn luyện các kĩ năng cơ bản từ việc lựa chọn chủ đề tích hợp, thiết kế các hoạt động dạy học đến việc xây dựng cách thức kiểm tra, đánh giá.
- Sử dụng một số nội dung làm giáo án và cung cấp tài liệu tham khảo để giúp giáo viên có thể vận dụng chủ động, tự tin và sáng tạo trong thiết kế các bài dạy tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong giảng dạy môn Địa lí hàng năm.
7 Nội dung
7.1 Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến
- Hướng đến sự phát triển năng lực của học sinh, phù hợp với học sinh THPT
- Tổ chức hoạt động dạy học thường xuất phát từ tình huống kết nối với lợi ích và sự quan tâm của học sinh, của cộng đồng, liên quan đến nội dung môn Địa lí.
- Hoạt động học thường xuất phát từ vấn đề mở cần giải quyết hoặc 1 dự
án cần được thực hiện Việc giải quyết vấn đề cần căn cứ vào các kiến thức, kĩ năng thuộc bộ môn Địa lí và có thể phối hợp kiến thức của cả một số môn học khác.
- Trung tâm của việc dạy học tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong giảng dạy môn Địa lí nhấn mạnh đặc biệt đến sự phát triển năng lực và làm chủ mục tiêu lâu dài như các phương pháp, kĩ năng và thái độ của người học
* Kết quả của sáng kiến:
3
Trang 4Học sinh các lớp thuộc các khối 10,11,12 của trường THPT Chuyên Bắc Ninh chủ động, hứng thú hơn trong việc học, nắm chắc hơn các kiến thức bộ môn Địa lí và đặc biệt học sinh rất hứng thú tiếp cận các chủ đề tích hợp liên quan đến biến đổi khí hậu; thích thú tìm tòi tư liệu, hợp tác cùng nhau biên tập các bài tập thành các sản phẩm rất sáng tạo, sinh động, gần gũi mà dễ hiểu; sáng tạo trong việc đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu cũng như nâng cao tinh thần trách nhiệm của từng cá nhân trong việc bảo vệ ngôi nhà chung của thế giới
7.2 Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến
- Sáng kiến có thể sử dụng trong công tác giảng dạy cho học sinh các lớp 10,11,12 tại các trường THPT chuyên hoặc không chuyên.
7.3 Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến
- Sáng kiến giúp cho các đồng nghiệp có cơ hội cùng học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn cũng như trau dồi kinh nghiệm trong giảng dạy, góp phần xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa các đồng nghiệp.
- Học sinh có cơ hội chủ động tìm hiểu, cập nhật kiến thức thực tiễn, các phương pháp học tập chủ động, khoa học, tạo hứng thú hơn với môn học, nâng cao kết quả học tập.
* Cam kết: Tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không sao chép hoặc vi phạm bản quyền.
Trang 5CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Cấp cơ sở đơn vị: Ngành.
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến cấp ngành/ tỉnh.
1 Tên sáng kiến: TÍCH HỢP NỘI DUNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG GIẢNG
DẠY ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG THPT.
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy môn Địa lí trong trường THPT.
3 Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Dương Thị Thanh Nga
4 Đồng tác giả sáng kiến (nếu có): Không.
5 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tác giả là chủ đầu tư.
6 Các tài liệu kèm theo
Bắc Ninh, ngày 8 tháng 02 năm 2020
Tác giả sáng kiến
Dương Thị Thanh Nga
5
Trang 6PHIẾU ĐĂNG KÝ SÁNG KIẾN ĐỀ NGHỊ HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
- Tên cơ quan đang công tác: Trường THPT Chuyên Bắc Ninh
2 Tên SK đăng ký: “TÍCH HỢP NỘI DUNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG GIẢNG DẠY ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG THPT”.
3 Mục tiêu của SK: nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh Hình thành
và phát huy được năng lực của học sinh (như năng lực tự học; năng lực nhận thức về các chủ đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, nghèo đói, …; năng lực giải quyết vấn đề, năng lực ngôn ngữ và giao tiếp, năng lực sáng tạo, năng lực về kĩ năng sống,…).
4 Tính mới của SK:
- Hướng đến sự phát triển năng lực của học sinh, phù hợp với học sinh THPT
- Tổ chức hoạt động dạy học xuất phát từ tình huống kết nối với lợi ích và
sự quan tâm của học sinh, của cộng đồng, liên quan đến nội dung môn Địa lí.
- Trung tâm của việc dạy học tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong giảng dạy môn Địa lí nhấn mạnh đặc biệt đến sự phát triển năng lực và làm chủ mục tiêu lâu dài như các phương pháp, kĩ năng và thái độ của người học
5 Đóng góp của SK cho đơn vị, ngành: Giúp học sinh yêu thích môn Địa lí và
hình thành được các kĩ năng cần thiết trong học tập và đời sống.
6 Hiệu quả của SK khi được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử Phạm vi ảnh
hưởng của SK: SK được áp dụng lần đầu, học sinh 3 khối (10,11,12) năm bắt nhanh, vận dụng linh hoạt trong khâu giải quyết vấn đề
Trang 77 Thời gian xây dựng và hoàn thành SK từ năm 2017 đến tháng 12 năm 2020.
Bắc Ninh, ngày … tháng 02 năm 2020
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ TÁC GIẢ SÁNG KIẾN
(Ký tên và đóng dấu)
7
Trang 8I MỤC ĐÍCH CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
- Xác định rõ phương pháp dạy học tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong giảng dạy môn địa lí dành cho của giáo viên
- Xác định được phương hướng tiếp cận cho học sinh, tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình học các bài học tích hợp
- Giúp cho bản thân người dạy cũng như đồng nghiệp bổ sung vào phương pháp dạy học bộ môn của mình cũng như có bài học thực tiễn.
- Góp phần đẩy mạnh phong trào tự học, tự nghiên cứu của giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Địa lí, tiếp cận với những thực tiễn về biến đổi khí hậu để cập nhật cho học sinh thông qua các bài giảng.
- Tạo đà phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Địa lí trong năm 2019 - 2020 và các năm tiếp theo.
- Giúp học sinh nhận ra các vấn đề toàn cầu, trong đó có vấn đề biến đổi khí hậu và trách nhiệm của tất cả mọi người nhằm hạn chế tối đa những tác động xấu đến biến đổi khí hậu toàn cầu, và bằng hành động thiết thực của bản thân góp phần bảo vệ môi trường…
- Tăng cường trao đổi học tập kinh nghiệm từ đồng nghiệp cùng đơn vị Cũng như mong muốn sự đóng góp kinh nghiệm, ý kiến từ đồng nghiệp nhằm nâng cao năng lực chuyên môn và khả năng tự học, tự đào tạo của bản thân, thực hiện phương châm học thường xuyên, học suốt đời.
Trang 9II TÍNH MỚI VÀ NHỮNG ƯU ĐIỂM NỔI BẬT VỀ CÁC GIẢI PHÁP CỦA SÁNG KIẾN
- Đưa ra được những phương pháp dạy và học tích cực, cụ thể nhằm giúp học sinh tiếp cận được với kiến thức về bộ môn Địa lí và kiến thức về biến đổi khí hậu (nguyên nhân, hậu quả, giải pháp), dần hình thành cho học sinh tư duy địa lí gắn với thực tiễn một cách dễ dàng hơn.
- Hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu các vấn đề liên quan giữa bộ môn Địa lí với kiến thức thực tiễn về biến đổi khí hậu
- Hướng dẫn học sinh một số dạng bài tiếp cận được với yêu cầu học tích hợp, đòi hỏi về kiến thức, kỹ năng ở phần kiến thức tích hợp giáo dục về biến đổi khí hậu trong bài học Địa lí.
- Đổi mới phương pháp dạy học môn Địa lí theo 4 hướng:
+ Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động và tư duy sáng tạo của học sinh.
+ Bồi dưỡng phương pháp tự học.
+ Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
+ Tác động đến tình cảm, đem lại niềm tin và hứng thú học tập cho học sinh.
- Rèn luyện cho học sinh các phương pháp học tập như:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tổng hợp từ các nguồn tài liệu : tạp chí, báo cáo khoa học và các công trình nghiên cứu có liên quan
+ Phương pháp tổng hợp đánh giá: Trên cơ sở phân tích các thông tin, số liệu thu thập được, tiến hành tổng hợp, đánh giá.
Việt Nam đang chịu ảnh hưởng từ nhiều mặt của BĐKH, thiên tai, bão lụt, hạn hán diễn ra dồn dập hơn trước Trước tình hình này, các lĩnh vực, ngành, địa phương đã triển khai các hoạt động nghiên cứu, đánh giá tình hình, diễn biến và tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên, môi trường, sự phát triển kinh tế -
xã hội, đề xuất và bước đầu thực hiện các giải pháp ứng phó, và về lâu dài tích hợp mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu vào trong các hoạt động thường xuyên của mình
Là một giáo viên giảng dạy địa lý ở trường THPT, có nhiệm vụ đào tạo ra những công dân hữu dụng, có ích cho đất nước, vì vậy việc lồng ghép, tích hợp nội dung biến đổi khí hậu vào chương trình giảng dạy ở bộ môn Địa lý ở trường
9
Trang 10THPT là hoàn toàn phù hợp và cần thiết nhằm trang bị cho các em những kiến thức tốt nhất về biến đổi khí hậu, đồng thời các em cũng chính là các cầu nối thông tin để tuyên truyền rộng rãi đến cộng đồng
III ĐÓNG GÓP CỦA SÁNG KIẾN TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY
+ Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy cho học sinh THPT môn Địa lí, nâng cao chất lượng dạy học tích hợp gắn với môn Địa lí.
+ Góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên dạy môn Địa lí trong trường THPT.
+ Giúp cho việc giảng dạy và học tập bộ môn Địa lí có tính thiết thực, gắn với thực tiễn cuộc sống, kích thích sự hứng thú học tập của học sinh Học sinh
có thể hiểu, nắm bắt và giải thích được nguyên nhân của các hiện tượng địa lí tự nhiên cũng như của các hiện tượng địa lí kinh tế xã hội, từ đó có thể rút ra cho bản thân bài học, tinh thần trách nhiệm với cộng đồng…
+ Nâng cao khả năng làm việc nhóm, khả năng hợp tác giữa các học sinh, giữa giáo viên và học sinh nhằm mang lại kết quả dạy và học hiệu quả hơn.
Trang 11Như vậy tích hợp có hai thuộc tính cơ bản, đó là tính liên kết và tính toàn vẹn;chúng liên hệ mật thiết với nhau và quy định lẫn nhau.
1.2 Dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp là hành động liên kết một cách hữa cơ, có hệ thống các đốitượng nghiên cứu, học tập của một vài lĩnh vực môn học khác nhau thành nội dungthống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong cácmôn học đó nhằm hình thành ở học sinh các năng lực cần thiết
Trong dạy học tích hợp, HS dưới chỉ đạo của GV thực hiện việc chuyển đổi liêntiếp các thông tin từ ngôn ngữ của môn học này sang ngôn ngữ của môn học khác; HShọc cách sử dụng phối hợp những kiến thức, kĩ năng và thao tác để giải quyết một tìnhhuống phức hợp - thường là gắn với thực tiễn Chính nhờ quá trình đó, HS nắm vữngkiến thức, hình thành khái niệm, phát triển năng lực và các phẩm chất cá nhân
Như vậy, dạy học tích hợp là một phương thức dạy học theo định hướng pháttriển năng lực người học; ở đó người học cần huy động (mọi) nguồn lực để giải quyếtmột tình huống phức hợp - có vấn đề nhằm phát triển các năng lực và phẩm chất cánhân
2 Những lợi ích và thách thức khi dạy học tích hợp
2.1 Những lợi ích khi dạy học tích hợp
a Dạy học tích hợp giúp phát triển năng lực người học
Các tình huống trong dạy học tích hợp thường gắn với thực tiễn cuộc sống, gầngũi và hấp dẫn với người học Người học cần phải giải thích, phân tích, lập luận hoặctiến hành các thí nghiệm, xây dựng các mô hình… để giải quyết vấn đề Chính qua đó,tạo điều kiện phát triển các phương pháp và kĩ năng cơ bản ở người học như lập kếhoạch, phân tích tổng hợp, tổng hợp thông tin, đề xuất các giải pháp một cách sáng
11
Trang 12tạo,… tạo cơ hội kích thích động cơ, lợi ích và sự tham gia vào các hoạt động học,thậm chí với cả những học sinh trung bình về năng lực học.
Dạy học tích hợp các chủ đề trong môn học không chỉ đánh giá kiến thức đãlĩnh hội được, mà còn đánh giá được việc học sinh có khả năng huy động có hiệu quảkiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách hữu ích một vd xuất hiện , hay
có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp hay không
b Tận dụng được vốn kinh nghiệm của người học
Dạy học tích hợp tìm cách hòa nhập các hoạt động của nhà trường và thực tiễncuộc sống Khi việc học được đặt trong bối cảnh gần gũi với thực tiễn, với cuộc sống
sẽ cho phép tạo ra niềm tin ở người học, giúp họ tích cực huy động và tận dụng tối đavốn kinh nghiệm của mình Chính điều đó, sẽ tạo điều kiện để học sinh đưa ra nhữnglập luận lí lẽ, có căn cứ, đó cũng chính là quá trình giúp người học phát triển năng lựcnhận thức
c Thiết lập mối quan hệ giữa các kiến thức, kĩ năng và phương pháp của cácmôn học
Trong dạy học tích hợp, khi người giáo viên khéo léo thiết kế các hoạt động dạyhọc thì quá trình học sẽ diễn ra một cách thống nhất, tự nhiên, học sinh sẽ nhìn thấytiến trình phát triển logic của việc học trong mối quan hệ giữa các môn học Bởi vì,các hiện tượng tự nhiên không bị chia cắt thành từng phần riêng biệt mà có mối quan
hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, các vấn đề của xã hội luôn mang tính toàn cầu.Học sinh sẽ học bằng cách giải thích vvafduwj đoán các hiện tượng tự nhiên và xã hộiqua mối liên hệ giữa các phần khác nhau của kiến thức thuộc các môn học khác nhau
d Tinh giản kiến thức, tránh sự lặp lại các nội dung ở các môn học
Thiết kế các chủ đề tích hợp cho phép người giáo viên thiết kế các nội dung học
để tránh sự lặp lại cùng một kiến thức ở các môn học khác nhau Do đó, tiết kiệm thờigian khi tổ chức hoạt động học nhưng vẫn đảm bảo học tích cực và học sâu
Tạo điều kiện tổ chức các hoạt động đa dạng, tận dựng các nguồn tài nguyêncũng như huy động các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình giáo dục
Trang 13- Việc tổ chức dạy học xung quanh các chủ đề tích hợp vẫn cần có sự hệ thốnghóa kiến thức, giúp người học vừa thấy được kiến thức theo chiều dọc của sự pháttriển logic môn học, vừa thấy được kiến thức theo chiều ngang trong mối quan hệ vớicác kiến thức thuộc các lĩnh vực khác.
II Biến đổi khí hậu
1 Khái niệm về biến đổi khí hậu
Theo Bộ Tài nguyên và
Môi trường Việt Nam: “Biến đổi
khí hậu là sự thay đổi của hệ
thống khí hậu gồm khí quyển,
thuỷ quyển, sinh quyển, thạch
quyển hiện tại và trong tương lai
bởi các nguyên nhân tự nhiên và
nhân tạo”
Theo quan điểm của Tổ chức khí tượng thế giới (WMO), biến đổi khí hậu là sựvận động bên trong hệ thống khí hậu, do những thay đổi kết cấu hệ thống hoặc trongmối quan hệ tương tác giữa các thành phần dưới tác động của ngoại lực hoặc do hoạtđộng của con người
Sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậuduy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập niên hoặc dài hơn Biến đổikhí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc
do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác
sử dụng đất
Sự thay đổi về khí hậu do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động củacon người cùng với biến đổi khí hậu do tự nhiên sẽ làm thay đổi cấu thành của khíquyển
2 Nguyên nhân hình thành biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là do nồng độ của khí hiệu ứng nhà kính tăng lên trong khíquyển ở mức độ cao, làm cho Trái Đất ấm lên, nhiệt độ bề mặt Trái Đất nóng lên.Nhiệt độ trái đất nóng lên tạo ra các biến đổi đối với các vấn đề thời tiết hiện nay.Theo báo cáo mới nhất của Liên Hiệp Quốc, nguyên nhân của hiện tượng biến đổi khíhậu 90% do con người gây ra, 10% là do tự nhiên
2.2.1 Hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người làm tăng lượng khí thải
13
Trang 14Biến đổi khí hậu có nhiều nguyên nhân, trong đó đáng quan tâm và cần hạnchế là nguyên nhân do hoạt động của con người gây ra Đó là sự tăng nồng độ các khínhà kính trong khí quyển dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính Đặc biệt quan trọng là khíđiôxit cacbon (CO2) được tạo thành do sử dụng năng lượng từ nguyên liệu hóa thạch(dầu mỏ, than đá, khí tự nhiên ), phá rừng và chuyển đổi sử dụng chất thải vào khíquyển.
Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của Uỷ Ban Liên Chính phủ về biến đổi khíhậu (IPCC, 2007), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển năm 2005 đã vượt xa mức tựnhiên trong khoảng 650.000 năm qua (180 – 280ppm) và đạt 379ppm (tăng gần 35%).Lượng phát thải khí CO2 từ sử dụng nhiên liệu hóa thạch đã tăng trung bình từ 6,4 tỉtấn cacbon mỗi năm (trong những năm 1990) đến 7,2 tỉ tấn cacbon mỗi năm (trongthời kỳ 2000-2005) Trong việc đánh giá hiệu ứng của khí nhà kính, có hai vấn đề rấtđáng lưu ý là hàm lượng khí mêtan (CH4) trong khí quyển đã tăng từ 715ppb (trongthời kỳ tiền công nghiệp) lên 1.732ppb trong những năm đầu thập kỷ 90 và đạt1.774ppb năm 2005 (tăng gần 148%) Hàm lượng khí ôxit nitơ (N2O) trong khí quyển
đã tăng từ 270ppb (trong thời kỳ tiền công nghiệp) lên 319ppb vào năm 2005 (tăngkhoảng 18%) Các khí mêtan và ôxit nitơ tăng chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, đốtnguyên liệu hóa thạch, chôn lấp rác thải
Hình 1 và 2: Khí thải do hoạt động sản xuất công nghiệp
Việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch phát thải 70-90% lượng CO2 vào khí quyển;năng lượng hóa thạch được sử dụng trong giao thông vận tải, chế tạo các thiết bị điệnnhư: tủ lạnh, hệ thống điều hòa nóng lạnh và các ứng dụng khác; lượng phát thải CO2
tăng cao do hoạt động trong công nghiệp và khai thác rừng (kể cả cháy rừng), khaihoang và sản xuất nông nghiệp
Trang 15Hình 3 và 4: Cháy rừng ở Australia (tháng 12/2019)Các vụ cháy rừng tại Australia (kể từ tháng 9 năm 2019 đến đầu tháng 1 năm2020) đã tạo ra một lượng lớn khí nhà kính CO2 và CO vào khí quyển, khiến nhiệt độTrái Đất tiếp tục nóng lên Được biết, chỉ trong quý IV năm 2019, những vụ cháy rừng
đã giải phóng ít nhất 350 triệu tấn CO2, gây ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường
Tóm lại, tiêu thụ năng lượng do đốt các nguyên liệu hóa thạch đóng góp khoảnggần một nửa (46%) vào tiềm năng nóng lên toàn cầu Phá rừng nhiệt đới và cháy rừngđóng góp khoảng 18% và hoạt động nông nghiệp tạo ra khoảng 9% tổng số các khíthải, gây ra lượng bức xạ cưỡng bức làm nóng lên toàn cầu Đây là những nguyênnhân dẫn đến biến đổi khí hậu do hoạt động của con người gây nên
2.2.2 Sự biến đổi của tự nhiên
Nhiều quá trình trong và ngoài khí quyển được cho là có khả năng là nhữngnguyên nhân của những thay đổi khí hậu Trong quá khứ, khí hậu Trái Đất đã nhiềulần biến đổi do tự nhiên Những thời kỳ băng hà xen lẫn những thời kỳ ấm lên của TráiĐất đã từng xảy ra cách đây vài triệu năm Thời kỳ băng hà cuối cùng xảy ra khoảng18.000 năm trước Công nguyên Trong thời kỳ này, băng bao phủ phần lớn Bắc Mỹ,Bắc Âu và Bắc Á Mực nước biển trung bình thấp hơn hiện nay tới 120m Thời kỳbăng hà này kết thúc khoảng 10.000-15.000 năm trước Công nguyên Thời kỳ tiểubăng hà gần đây nhất , xảy ra ở châu Âu vào giữa thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ thứ 19
Biến đổi khí hậu hiện nay tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu bắt đầu xảy ra từgiữa thế kỷ 19 Trong khoảng hơn 100 năm qua (1906-2005) nhiệt độ trung bình toàncầu đã tăng lên 0,70C
Hình 5: Nhiệt độ toàn cầu năm 1884
15
Trang 16Hình 6: Nhiệt độ toàn cầu năm 1926
Hình 7: Nhiệt độ Trái Đất năm 2004
Sự thay đổi nhiệt độ được minh hoạ bằng màu da cam, đậm hơn và lan ra rộng hơn quatừng thời kì (Nguồn: NASA)
Thập kỷ 2000 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ qua Trong 11 năm(1995-2006) là những năm nóng nhất từ khi có số liệu đo bằng công cụ hiện đại Donóng lên toàn cầu, băng, tuyết của các vùng cực của Trái Đất và trên núi cao tan ra,nước của các đại dương ấm lên và giãn nở ra, làm mực nước biển trung bình toàn cầudâng lên trung bình 0,17m trong thế kỷ XX Các thiên tai như mưa lớn, bão, lũ lụt, lũquét, nắng nóng, hạn hán, lốc xảy ra nhiều hơn, mạnh hơn, dị thường hơn Số ngàylạnh, đêm lạnh, băng giá ít hơn Hiện tượng El Nino xảy ra nhiều hơn, kéo dài vàmạnh hơn Ngập lụt, xói lở bờ biển, xâm nhập mặn, sạt lở đất xảy ra nhiều và mạnh
mẽ hơn trước Đây là những ảnh hưởng do biến đổi khí hậu gây ra, những ảnh hưởngnày tác động rất lớn đến mọi mặt đời sống xã hội vì vậy các địa phương, các cấp, cácngành cần phải tập trung ứng phó và tìm giải pháp hạn chế thiệt hại do biến đổi khíhậu gây ra
3 Tác động của biến đổi khí hậu
Việt Nam là nước dễ bị tổn thương trước tác động của BĐKH Theo đánh giáhàng năm về những nước chịu ảnh hưởng nặng nhất bởi các hiện tượng thời tiết cựcđoạn giai đoạn 1997-2016, Việt Nam đứng thứ 5 về Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm
2018 và thứ 8 về Chỉ số rủi ro khí hậu dài hạn (CRI)
Diễn biến của BĐKH tại Việt Nam bao gồm các hiện tượng thời tiết cực đoanđang ngày càng gia tăng về tần suất và thường khó dự đoán Lượng mưa tháng caonhất tăng từ 270 mm trong giai đoạn 1901-1930 lên 281 mm trong giai đoạn 1991-
2015, trong khi nhiệt độ tháng cao nhất tăng từ 27,1°C (1901-1930) lên 27,5°C 2015)
(1991-Những kỷ lục mới vẫn được thiết lập mỗi năm Các cụm từ “mưa lớn kỷ lục”,
“nắng nóng kỷ lục”, “kỷ lục về lũ lụt” đã và đang xuất hiện ngày càng phổ biến trên
Trang 17Tác động của biên đôi khi h u â
Đên môi trường
tự nhiên Đên hoạt động kinh tê kinh tê
- Môi trường đất
- Môi trường nước Lượng mưa, Dòng chảy sông ngòi, Nguồn nước mặt, nước ngầm, Lượng bốc hơi , lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, triều cường.
- Môi trường không khí - Môi trường biển Hệ sinh thái và đa dạng sinh
- Chất lượng cuộc sống, y tế, sức khoẻ cộng đồng
- Bảo tồn di tích văn hoá, lịch sử
- Bảo tồn các phong tục tâp quán
các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam trong những năm gần đây Năm 2017được coi là năm kỷ lục về thảm họa thiên tai tại Việt Nam, với hơn 16 cơn bão, lũ lịch
sử trái quy luật Nhiệt độ trung bình tại miền Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện tạicao hơn từ 0,5 -1,0°C so với nhiệt độ trung bình của các năm trước theo tính toán dựatrên dữ liệu cập nhật của 30 năm trở lại đây Sự thay đổi trong tần suất xuất hiện cáccơn bão và áp thấp nhiệt đới ngày càng rõ rệt Ví dụ, có năm xảy ra tới 18 – 19 cơn lốc
và áp thấp nhiệt đới trên biển Đông, nhưng cũng có năm chỉ xảy ra từ 4-6 cơn lốc và
áp thấp nhiệt đới Số cơn bão với sức gió đạt từ cấp 12 trở lên đã tăng nhẹ kể từ năm
1990 đến 2015 Những biến đổi trong nguồn nước (lượng mưa, mực nước sông) trongnăm 2018 cũng tăng đáng kể so với mức trung bình của năm 2017 Năm 2018 đồngthời ghi nhận những con số kỉ lục về nhiệt độ trong vòng 46 năm qua tại Hà Nội, vớinhiệt độ cao nhất có lúc đạt tới 42°C
Theo kết quả đánh giá cho toàn cầu của Uỷ ban Liên chính phủ về biến đổi khíhậu (IPCC, 2007) và những nghiên cứu sơ bộ ban đầu của các nhà khoa học Việt Nam,tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đối với nước ta là nghiêm trọng và cần đượcnghiên cứu sâu thêm Sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai, cả
về tần số và cường độ do biến đổi khí hậu là mối đe doạ thường xuyên, trước mắt vàlâu dài đối với tất cả các lĩnh vực, các vùng và các cộng đồng Bão, lũ lụt, hạn hán,mưa lớn, nắng nóng, tố lốc là thiên tai xảy ra hàng năm ở nhiều vùng trong cả nước,gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống Trong đó, những lĩnh vực chịu tác động mạnh
mẽ của biến đổi khí hậu có thể được tổng hợp qua sơ đồ sau:
17
Trang 18Là quốc gia có đường bờ biển dài 3.260 km, nước biển dâng gây ra ảnh hưởngnghiêm trọng đối với Việt Nam Theo khuyến cáo của Ủy ban Liên chính phủ về biếnđổi khí hậu (IPCC), khi mực nước biển dâng lên 100 cm, diện tích đất bị mất đi củaViệt Nam sẽ lên tới 40.000 km2, chiếm 12,1 % tổng diện tích đất hiện có, kéo theo hệquả 17,1 triệu người sẽ mất đi nơi sinh sống, chiếm 23,1 % dân số tại thời điểm báocáo.
Nước biển dâng cũng sẽ khiến cho Đồng bằng sông Mekong, hay Đồng bằngsông Cửu Long – một trong những vựa lúa lớn nhất của khu vực và cả nước – bị thiệthại hoàn toàn Điều này đe dọa an ninh lương thực không chỉ với Việt Nam mà cả vớicộng đồng quốc tế, vì Việt Nam là một trong năm quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất trênthế giới
Biến đổi khí hậu tác động tới tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, đời sống và y tế
và sức khỏe cộng đồng Ví dụ trong lĩnh vực nông nghiệp, biến đổi khí hậu ảnh hưởngtới sản lượng và gây ra những thay đổi về thời tiết, trực tiếp tác động tới vụ mùa Biến
Trang 19đổi khí hậu cũng được cho là nguyên nhân phát sinh các virus mới và những virus độtbiến gây bệnh truyền nhiễm, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cộng đồng.
Theo Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2018,17 tỷ lệ tử vong do các hiệntượng thời tiết cực đoan ở Việt Nam năm 2016 là 161, đứng thứ 11 trên thế giới Giátrị thiệt hại lên tới 4.037.704 triệu USD (tính theo sức mua tương đương -PPP18) đứngthứ 5; thiệt hại bình quân GDP theo % là 0,6782, đứng thứ 10 trên thế giới
Biến đổi khí hậu sẽ làm cho các thiên tai trở nên ác liệt hơn và có thể trở thànhthảm hoạ, gây rủi ro lớn cho phát triển kinh tế, xã hội hoặc xoá đi những thành quảnhiều năm của sự phát triển, trong đó có những thành quả thực hiện các mục tiêu thiênniên kỷ Những khu vực được dự tính chịu tác động lớn nhất của các hiện tượng khíhậu cực đoan nói trên là dải ven biển Trung Bộ, vùng núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ,vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
3.1 Tác động của biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực
Biến đổi khí hậu có tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụgieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng Biến đổi khí hậu ảnhhưởng đến sinh sản, sinh trưởng của gia súc, gia cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh,truyền dịch của gia súc, gia cầm
Với sự nóng lên trên phạm vi toàn lãnh thổ, thời gian thích nghi của cây trồngnhiệt đới mở rộng và của cây trồng á nhiệt đới thì thu hẹp lại Ranh giới của cây trồngnhiệt đới dịch chuyển về phía vùng núi cao hơn và các vĩ độ cao ở phía Bắc, phạm vithích nghi của cây trồng á nhiệt đới bị thu hẹp thêm Biến đổi khí hậu có khả năng làmtăng tần số, cường độ, tính biến động và tính cực đoan của các hiện tượng thời tiếtnguy hiểm Giông tố, lốc, bão và các thiên tai liên quan đến nhiệt độ và mưa như thờitiết khô nóng, lũ lụt, ngập úng hay hạn hán, rét hại, xâm nhập mặn, sâu bệnh, làm giảmnăng suất và sản lượng của cây trồng và vật nuôi
Biến đổi khí hậu gây nguy cơ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, một phần đáng
kể diện tích đất nông nghiệp ở vùng đất thấp đồng bằng ven biển, Đồng bằng sôngHồng, Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập mặn do nước biển dâng, nếu không có cácbiện pháp ứng phó thích hợp Biến đổi khí hậu và nông nghiệp là hai qui trình tác độnglẫn nhau ở mức toàn cầu Đối với nhà nông, thời tiết đóng vai trò quyết định cho thànhcông hay thất bại, được mùa hay mất mùa Ngược lại, nông nghiệp cũng ảnh hưởnglên khí hậu, vì thải ra các khí làm tăng hiệu ứng nhà kính như hơi nước, khí cacbon,
mê tan và ôxít nitơ Sự phát quang, phá rừng để trồng trọt và hiện tượng hoang hoáhay sa mạc hoá đất đai vì thâm canh cũng làm thay đổi mặt vỏ Trái Đất, và làm mấtquân bình cán cân bức xạ nhiệt
19
Trang 20Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến toàn bộ ngành nông nghiệp và phát triển nôngthôn Tại cuộc họp về biến đổi khí hậu do Liên hiệp quốc UNDP gần đây, ông NguyễnKhắc Hiếu, Phó ban chỉ đạo thực hiện công ước khí hậu và nghị định thư Kyoto của
Việt Nam cũng cho rằng: "Sinh kế của hàng chục triệu người Việt Nam đang bị đe dọa
với những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Vấn đề này và những hệ quả của nó đang khiến cho cuộc sống người nghèo và những người cận nghèo Việt Nam ở vùng núi, vùng biển, vùng đồng bằng bị đe dọa"
Biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nông nghiệp gồm thủylợi, trồng trọt và chăn nuôi Biến đổi khí hậu có tác động đến sinh trưởng, năng suấtcây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng, hai vựalúa lớn nhất là Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long là những vùng đất thấp trongtương lai sẽ chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu khi mực nước biển dâng cao vàchu trình thủy văn thay đổi Khô hạn và sự thiếu hụt nguồn nước sẽ làm năng suấtnông nghiệp giảm sút Nhiều loại dịch bệnh cây trồng của vùng khí hậu nóng Tây Nam
Bộ sẽ có khả năng xâm lấn vào đồng ruộng (rầy trắng, vàng lùn-lùn xoắn lá…); cácgiống cây trồng ưa nước sẽ không cho năng suất và bị các loài ưa khô hạn thay thế,dẫn đến khủng hoảng các hệ sinh thái nông nghiệp bản địa Xu thế này tất yếu dẫn đếnviệc nông dân lạm dụng phân bón hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật, làm cho đất bịsuy thoái và chất lượng nông sản không cao
3.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến cuộc sống dân cư và vấn đề tái định
cư
Nhiệt độ tăng làm tăng tác động tiêu cực đối với sức khoẻ con người, dẫn đếngia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh.Tình trạng nóng lên làm thay đổi cấu trúc mùa nhiệt hàng năm Ở miền Bắc, mùa đông
sẽ ấm lên, dẫn tới thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con người Biến đổi khíhậu làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới: sốt rét, sốt xuất huyết, làm tăngtốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn trùng, vật chủ mang bệnh,làm tăng số lượng người bị bệnh nhiễm khuẩn dễ lây lan,…Thiên tai như bão, tố, nướcdâng, ngập lụt, hạn hán, mưa lớn và sạt lở đất v.v… gia tăng về cường độ và tần sốlàm tăng số người bị thiệt mạng và ảnh hưởng gián tiếp đến sức khoẻ thông qua ônhiễm môi trường, suy dinh dưỡng, bệnh tật hoặc do những đổ vỡ của kế hoạch dân
số, kinh tế - xã hội, cơ hội việc làm và thu nhập Những đối tượng dễ bị tổn thươngnhất là những nông dân nghèo, các dân tộc thiểu số ở miền núi, người già, trẻ em vàphụ nữ
Biến đổi khí hậu là nguy cơ gây suy thoái môi trường và suy giảm đa dạng sinhhọc và sự nhiễu loạn hệ sinh thái sẽ là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh mới cho con
Trang 21người Biến đổi khí hậu làm suy thoái tài nguyên nước ảnh hưởng trực tiếp đến sinhhoạt của nhân dân và hoạt động sản xuất của các ngành kinh tế Biến đổi khí hậu còn
là nguyên nhân gây nên các biến động về di dân do mất nơi ở, mất đất canh tác hoặc
do bệnh tật và nghèo đói Trong mấy năm gần đây biểu hiện của biến đổi khí hậu đốivới Việt Nam đã rất rõ nét như mưa lũ thất thường, hạn hán ngày càng khắc nghiệt Bắc Trung Bộ có nguy cơ gia tăng bão lũ, trong khi vùng ven biển Nam Trung Bộđang gia tăng độ khô hạn và có nguy cơ hạn hán Hậu quả của bão lũ, hạn hán trực tiếpgây chết người, dịch bệnh sau lũ, mùa màng mất mùa, làm tăng tỷ lệ suy dinh dưỡng,giảm khả năng kháng bệnh
Đồng thời, khi nhiệt độ toàn cầu ấm lên sẽ tạo điều kiện cho dịch bệnh cũ vàdịch bệnh mới phát triển mà con người khó có thể kiểm soát được Trong báo cáo gầnđây của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPPC) đã khẳng định: Dưới tácđộng của nhiệt các căn bệnh đã gia tăng như: sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não (truyềnqua muỗi); các bệnh đường ruột (qua môi trường nước), các bệnh suy dinh dưỡng,bệnh phổi Những bệnh này đặc biệt ảnh hưởng lớn đến các vùng kinh tế kém pháttriển, đông dân và có tỷ lệ đói nghèo cao
Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm biến đổi khí hậu
sẽ làm khoảng 150.000 người chết và 5 triệu người bệnh Trong bối cảnh đó, biến đổikhí hậu sẽ làm cho hàng triệu người Việt Nam mất nhà cửa, đói nghèo dịch bệnh giatăng Hiện tượng tị nạn môi trường sẽ xảy ra và kéo dài trên diện rộng Với đất đai đã
có chủ sử dụng, đã quy hoạch, giao thông và thông tin thuận lợi, các dòng dân di cư sẽkhác xa so với trước đây Dòng người tị nạn xâm nhập dần vào các đô thị ít chịu ảnhhưởng của biến đổi khí hậu, tạo ra các khu dân cư kiểu “xóm liều, ổ chuột”, gia tănglực lượng lao động giản đơn, bán hàng rong, tạo thành các nhóm dân lang thang trong
đô thị, góp phần nông thôn hoá đô thị và làm cho quy hoạch các khu vực đô thị trởthành không thể kiểm soát được Phụ nữ hoá quản trị hộ gia đình tại các vùng chịu ảnhhưởng của biến đổi khí hậu do đàn ông phải rời nhà đi kiếm sống trong thời gian dài,tạo ra những hệ luỵ khó khắc phục về mặt giáo dục trẻ em, trật tự xã hội và kiểm soátcác bệnh xã hội Những thành công trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo có thể bị biếnđổi khí hậu làm sút giảm, thậm chí có thể xóa sạch Hơn thế nữa, việc di dân tái định
cư cho các hộ gia đình là thách thức lớn không chỉ vì quỹ đất lúc đó đã trở nên hạnhẹp, kinh phí lớn mà còn làm xáo trộn sinh kế của dân cư đang cư trú ở vùng bờ,không ít trong số đó lại tái nghèo Do vậy, biến đổi khí hậu có tác động mạnh vàonhững người nghèo đặc biệt là những người nông dân
3.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước, tài nguyên biển
21
Trang 22Việt Nam có bờ biển dài 3.260km và trên 3.000 hòn đảo gần bờ và hai quần đảo
xa bờ, nhiều vùng đất thấp ven biển Những vùng này hàng năm phải chịu ngập lụtnặng nề trong mùa mưa và hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa khô Biến đổi khí hậu
và nước biển dâng sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng nói trên, làm tăng diện tích ngậplụt, gây khó khăn cho thoát nước , tăng xói lở bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước ảnhhưởng đến sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt, gây rủi ro lớn đối với các côngtrình xây dựng ven biển như đê biển, đường giao thông, bến cảng, các nhà máy, các đôthị và khu dân cư ven biển Mực nước biển dâng và nhiệt độ nước biển tăng ảnh hưởngđến hệ sinh thái biển và ven biển, gây nguy cơ đối với các rạn san hô và rừng ngậpmặn, ảnh hưởng xấu đến nền tảng sinh học cho các hoạt động khai thác và nuôi trồngthuỷ sản ven biển Tất cả những điều trên đây đòi hỏi phải có đầu tư rất lớn để xâydựng và củng cố hệ thống đê biển, nhằm ứng phó với mực nước biển dâng, phát triển
hạ tầng kỹ thuật, di dời và xây dựng các khu dân cư và đô thị có khả năng thích ứngcao với nước biển dâng
Hình 8: Tình trạng ngập lụt do triều cường tại TPHCM
Thiếu hụt nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt dẫn đến việc khai thác quámức và không thể kiểm soát môi trường của việc khai thác nước ngầm Hiện tượngnhiễm mặn và ô nhiễm nước ngầm gia tăng Tài nguyên nước đang chịu thêm nguy cơsuy giảm do hạn hán ngày một tăng ở một số vùng, miền Khó khăn này sẽ ảnh hưởngđến nông nghiệp, cung cấp nước ở nông thôn, thành thị và sản xuất điện Chế độ mưathay đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọng vào mùa mưa, và hạn hán vào mùa khô, gâykhó khăn cho việc cấp nước và tăng mâu thuẫn trong sử dụng nước Trên các sông lớn
Trang 23như sông Hồng và sông Cửu Long, xu hướng giảm nhiều hơn đối với dòng chảy năm
và dòng chảy kiệt; xu thế tăng nhiều hơn đối với dòng chảy lũ
Biến đổi khí hậu cũng đang tác động đến nuôi trồng thủy sản, trong đó nhiệt độđóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của sinh vật nóichung và các loài thủy - hải sản nói riêng
Hiện tượng nước biển dâng và ngập mặn gia tăng dẫn đến các hậu quả sau:Nước mặn lấn sâu vào nội địa, làm mất nơi sinh sống thích hợp của một số loài thuỷsản nước ngọt Rừng ngập mặn hiện có bị thu hẹp, ảnh hưởng đến nơi cư trú của một
số loài thuỷ sản Khả năng cố định chất hữu cơ của hệ sinh thái rong biển giảm, dẫnđến giảm nguồn cung cấp sản phẩm quang hợp và chất dinh dưỡng cho sinh vật đáy
Do vậy, chất lượng môi trường sống của nhiều loại thuỷ sản xấu đi - Nước biển dânglàm cho chế độ thuỷ lý, thuỷ hoá và thuỷ sinh xấu đi Kết quả là các quần xã hiện hữuthay đổi cấu trúc và thành phần, trữ lượng giảm sút
Nhiệt độ tăng cũng dẫn đến một số hậu quả: Gây ra hiện tượng phân tầng nhiệt
độ rõ rệt trong thuỷ vực nước đứng, ảnh hưởng đến quá trình sinh sống của sinh vật.Một số loài di chuyển lên phía Bắc hoặc xuống sâu hơn làm thay đổi cơ cấu phân bốthuỷ sinh vật theo chiều sâu Quá trình quang hoá và phân huỷ các chất hữu cơ nhanhhơn, ảnh hưởng đến nguồn thức ăn của sinh vật Các sinh vật tiêu tốn nhiều nănglượng hơn cho quá trình hô hấp cũng như các hoạt động sống khác làm giảm năng suất
và chất lượng thuỷ sản Suy thoái và phá huỷ các rạn san hô, thay đổi quá trình sinh lý,sinh hoá diễn ra trong mối quan hệ cộng sinh giữa san hô và tảo Nhiệt độ tăng làmcho nguồn thuỷ, hải sản bị phân tán Các loài cá cận nhiệt đới có giá trị kinh tế cao bịgiảm đi hoặc mất hẳn Cá ở các rạn san hô đa phần bị tiêu diệt
Cường độ và lượng mưa lớn làm cho nồng độ muối giảm đi trong một thời giandẫn đến sinh vật nước lợ và ven bờ, đặc biệt là nhuyễn thể hai vỏ (nghêu, ngao, sò…)
bị chết hàng loạt do không chống chịu nổi với nồng độ muối thay đổi Các loài thựcvật nổi, mắt xích đầu tiên của chuỗi thức ăn cho động vật nổi bị huỷ diệt, làm giảmmạnh động vật nổi, do đó làm giảm nguồn thức ăn chủ yếu của các động vật tầng giữa
và tầng trên
Thay đổi nhiệt độ còn là điều kiện phát sinh của nhiều loài dịch bệnh xảy ra.Dịch bệnh xảy ra và lan truyền rất nhanh và rộng, nên mức độ rủi ro rất lớn Mựcnước biển, nhiệt độ nước biển, độ mặn, tốc độ và hướng gió, bề dày của lớp trầm tích
sẽ ảnh hưởng lớn tới sinh vật sống trong đó, ảnh hưởng đến nơi sinh sống, khả năngcung cấp thức ăn cho cá
Xói lở bờ biển và nguy cơ ngập chìm vùng đất thấp ven bờ là một đe dọa nguyhiểm Theo kịch bản dâng cao mực nước biển Việt Nam [5], đến 2050 nước biển sẽ
23
Trang 24dâng cao thêm 33 cm, theo quy luật động lực sóng, chiều rộng bãi biển cát bị xói lở sẽ
là 330 m- 3300 m, nơi tập trung cơ sở hạ tầng du lịch và nghề nuôi trồng và chế biếnthủy sản, nơi cư trú của hàng vạn hộ gia đình sẽ bị sóng phá hủy Tình trạng còn có thểnguy hiểm hơn nếu mực nước biển dâng cao thêm 1,0 m theo dự báo của các nhà khoahọc Anh
3.4 Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên rừng và hệ sinh thái tự nhiên
Biến đổi khí hậu với sự tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa và nước biển dângảnh hưởng đến thảm thực vật rừng và hệ sinh thái rừng theo nhiều chiều hướng khácnhau Phân bố ranh giới các kiểu rừng nguyên sinh cũng như rừng thứ sinh có thể dịchchuyển Sinh thái bị nhiễu loạn dẫn đến nguồn lợi đa dạng sinh học bị cắt giảm, điềunày sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của một số đông dân chúng dựa chủyếu vào nông nghiệp và nguồn lợi tự nhiên
Do biến đổi khí hậu, hệ sinh thái rừng bị ảnh hưởng theo các chiều hướng khácnhau: Nước biển dâng lên làm giảm diện tích rừng ngập mặn hiện có, tác động xấu đếnrừng tràm và rừng trồng trên đất bị nhiễm phèn ở các tỉnh Nam Bộ Nhiệt độ cao kếthợp với ánh sáng dồi dào thúc đẩy quá trình quang hợp dẫn đến tăng cường quá trìnhđồng hoá của cây xanh Tuy vậy, chỉ số tăng trưởng sinh khối của cây rừng có thểgiảm do độ ẩm giảm Nguy cơ tiệt chủng của động vật và thực vật gia tăng, một số loàiđộng, thực vật quý hiếm có thể bị suy kiệt Nhiệt độ và mức độ khô hạn gia tăng làmtăng nguy cơ cháy rừng, phát triển sâu bệnh, dịch bệnh…
Các khu sinh thái trống rỗng hoặc kiệt quệ do bđkh tạo tiền đề cho các loàingoại lai có khả năng thích nghi tốt hơn xâm nhập Trong số đó, có thể có những loàicây trồng hay vật nuôi biến đổi gen (GMO) chưa được kiểm định về tính an toàn sinhhọc, được người dân hay các công ty giống vật nuôi cây trồng nhập vào mà cơ quankiểm dịch động thực vật khó bề kiểm soát hết Biến đổi khí hậu đang ngày càng tácđộng đến các hệ sinh thái biển, làm giảm nguồn lợi cá biển Hiện tượng san hô chếthàng loạt trong những năm qua do một số nguyên nhân trong đó có nguyên nhân donhiệt độ ở các vùng biển đã tăng lên
Đa dạng sinh học là cơ sở quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển củacác quốc gia Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trước sự tác động của biến đổi khíhậu toàn cầu, đa dạng sinh học đã và đang bị ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng.Theo Báo cáo triển vọng Môi trường toàn cầu của Liên Hợp Quốc 2007, thì biến đổikhí hậu đang gây ra tình trạng suy thoái môi trường trên phạm vi toàn cầu, đòi hỏi thếgiới phải hành động nhanh chóng hơn bao giờ hết Đối với Việt Nam - một trong
Trang 25những nước được dự báo sẽ bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu thì có lẽ vấn đềbảo vệ đa dạng sinh học cần phải được quan tâm triệt để.
Trong thiên nhiên, đa dạng sinh học, nhất là các hệ sinh thái rừng nhiệt đới lànơi chủ yếu tích luỹ trở lại nguồn khí CO2 phát thải ra, để tạo thành chất hữu cơ Trongkhi đó, chúng ta lại đã và đang chặt phá rừng để phát triển nông nghiệp, mở rộng chănnuôi, xây dựng nhà cửa, đô thị Sự tàn phá rừng, không những gây mất cân bằng sinhthái ở nước ta mà còn làm giảm khả năng hấp thụ CO2 và gián tiếp làm tăng thêm lư-ợng khí CO2 phát thải vào khí quyển, góp phần làm cho biến đổi khí hậu toàn cầu tăngnhanh Như vậy, sự giảm sút đa dạng sinh học, nhất là giảm sút diện tích rừng đã thúcđẩy sự gia tăng biến đổi khí hậu toàn cầu, nhưng ngược lại sự nóng lên toàn cầu cũng
đã ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của các loài sinh vật và đa dạng sinh học
Ngoài những tư liệu về sự thay đổi nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển,Báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (IPCC) đãtrình bày những kết quả nghiên cứu tại sao nhiệt độ Trái Đất thay đổi đã ảnh hưởngđến khí hậu, các đặc điểm vật lý và diễn thế các đặc điểm đó của Trái Đất, đến nơisống của các loài sinh vật và đến sự phát triển kinh tế của chúng ta Báo cáo cũng đãđưa ra kết luận là nhiệt độ Trái Đất trong thế kỷ XX đã tăng lên trung bình 0,7oC làmcho nhiều vùng băng hà, diện tích phủ tuyết, vùng băng vĩnh cửu đã bị tan chảy, dẫnđến mực nước biển dâng lên Nhiều dấu hiệu đã cho thấy tác động của biến đổi khí hậuđang ảnh hưởng ngày một sâu, rộng đến các hệ sinh thái Vùng phân bố của các loài
đó thay đổi: nhiều loài cây, côn trùng, chim và cá đã chuyển dịch lên phía Bắc và lêncác vùng cao hơn; nhiều loài thực vật nở hoa sớm hơn, nhiều loài chim đã bắt đầu mùa
di cư sớm hơn, nhiều loài động vật đã vào mùa sinh sản sớm hơn, nhiều loài côn trùng
đã xuất hiện sớm hơn ở Bắc bán cầu, san hô bị chết trắng ngày càng nhiều Như vậy,các loài sinh vật muốn phát triển một cách bình thường cần phải có một môi trườngsống phù hợp, tương đối ổn định về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, đất đai, thức ăn, nguồnnước và cộng đồng các loài sinh vật trong nơi sống đó Chỉ một trong những nhân tốcủa môi trường sống bị biến đổi, sự phát triển của một loài sinh vật nào đó sẽ bị ảnhhưởng, thậm chí có thể bị diệt vong, tùy thuộc vào mức độ biến đổi nhiều hay ít
Theo dự báo, nếu không có biện pháp hữu hiệu để giảm bớt lượng khí nhà kính,nhiệt độ Trái Đất sẽ tăng thêm từ 1,8o C đến 6,4o C vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăngthêm 5 - 10%, băng ở hai cực và trên các núi cao sẽ tan chảy nhiều hơn, mực nướcbiển sẽ dâng lên khoảng 70 - 100cm và tất nhiên nhiều hiện tượng khí hậu cực đoantheo đó sẽ diễn ra với mức độ khó lường trước được cả về tần số và mức độ Nướcbiển dâng sẽ gây nên xói mòn bờ biển, ngập lụt vùng ven bờ, làm suy thoái đất ngập n-ước, nước mặn xâm nhập, giết chết các loài thực vật, động vật nước ngọt Tại những
25
Trang 26vùng mà biến đổi khí hậu làm tăng cường độ mưa, thì nước mưa sẽ làm tăng xói mònđất, lũ lụt, sụt lở đất đá và có thể gây ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng của cácthuỷ vực, làm ô nhiễm nguồn nước Tất cả những hiện tượng đó đều ảnh hưởng đếncác loài sinh vật và tài nguyên sinh vật, làm cho nhiều hệ sinh thái bị suy thoái, gâykhó khăn cho sự phát triển kinh tế và xã hội
Hai vùng đồng bằng lớn và đồng bằng ven biển nước ta, trong đó có rừng ngậpmặn và hệ thống đất ngập nước rất giàu có về các loài sinh vật, là những hệ sinh tháirất nhạy cảm, dễ bị tổn thương Mực nước biển dâng lên cùng với cường độ của bão tố
sẽ làm thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nước, làmsuy thoái và đe dọa sự sống còn của rừng ngập mặn và các loài sinh vật đa dạng trong
đó Khi mực nước biển dâng cao, khoảng một nửa trong số 68 khu đất ngập nước cótầm quan trọng quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng; nước mặn sẽ xâm nhập sâu vào nội địa,giết chết nhiều loài động, thực vật nước ngọt, ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt chosinh hoạt và hệ thống trồng trọt của nhiều vùng 36 khu bảo tồn, trong đó có 8 vườnquốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽ nằm trong khu vực bị ngập
Hình 9: Một vạt rừng phòng hộ đang đứng trước nguy cơ bị sóng biển cuốn trôi tại xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Ảnh: An Hiếu/TTXVN
Hệ sinh thái biển sẽ bị tổn thương Các rạn san hô là nơi sinh sống của nhiềuloài sinh vật biển quan trọng, là lá chắn chống xói mòn bờ biển và bảo vệ rừng ngậpmặn sẽ bị suy thoái do nhiệt độ nước biển tăng, đồng thời mưa nhiều làm cho nước bị
ô nhiễm phù sa và có thể cả các hoá chất nông nghiệp từ cửa sông đổ ra Nhiệt độ tăng
Trang 27Suy giảm chất lượng không khí
Suy giảm ozon tầng bình lưu đa dạng sinh Suy giảm sự
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
làm nguồn thủy, hải sản bị phân tán Các loài cá nhiệt đới (kém giá trị kinh tế trừ cángừ) tăng lên, các loài cá cận nhiệt đới giá trị kinh tế cao giảm
Các thay đổi diễn ra trong các hệ thống vật lý, hệ sinh học và hệ thống kinh tế
xã hội, đe dọa sự phát triển, đe dọa cuộc sống của tất cả các loài, các hệ sinh thái Biếnđổi khí hậu, với các hệ quả của nó như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, xói mòn và sụt lởđất sẽ thúc đẩy cho sự suy thoái đa dạng sinh học nhanh hơn, trầm trọng hơn, nhất lànhững hệ sinh thái rừng nhiệt đới không còn nguyên vẹn và một số loài đang nguycấp với số lượng cá thể ít, cũng vì thế mà sẽ tăng nguy cơ diệt chủng của động thựcvật, làm biến mất các nguồn gen quí hiếm, bệnh dịch mới có thể phát sinh
Ngoài ra biến đổi khí hậu còn tác động đến các lĩnh vực khác: năng lượng, giaothông vận tải, công nghiệp- xây dựng, văn hoá, thể thao, du lịch, thương mại và dịch
vụ
Hình 10 Tác động giữa BĐKH và suy giảm tài nguyên tự nhiên, KT-XH
Nguồn : Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu - Đại học Cần Thơ
27
Trang 28BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG
Diện tích canh tác
và năng suất giảm
An ninh lương thực
bị đe doạ
Nghèo đói, dịch bệnh gia tăng
Tài nguyên tự nhiên bị xâm
hại Di dân từ nông thôn lên thành thị
Rừng bị suy kiệt và không bền
vững Biến động tiêu cực về kinh tế - xã hội
Ô nhiễm và suy giảm chất lượng cuộc sống
Hình 1.2 - Chuỗi dây chuyền tác động của hiện tượng BĐKH – nước biển dâng lên hệ
sinh thái, sản xuất và đời sống
Nguồn : Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu - Đại học Cần Thơ
3.4 Thực tiễn về biến đổi khí hậu trên thế giới và ở Việt Nam
3.4.1 Biến đổi khí hậu trên thế giới
Những công trình nghiên cứu trong suốt 20 năm của Nhóm chuyên gia liên
chính phủ về biến đổi khí hậu (Intergovernmental Panel on Climate Change – IPCC), thuộc Tổ chức Khí tượng Thế giới (World Meterological Organization – WMO), đã
góp phần quan trọng làm thức tỉnh dư luận thế giới trước hiện thực và các hệ quả của
Trang 29vấn đề này, và do đó đã được tôn vinh với giải Nobel hoà bình trao cho IPCC năm
2007
Khí hậu biến đổi do Trái Đất bị hâm nóng vì hiệu ứng nhà kính tăng quá mứcquân bình tự nhiên khiến các sông băng trên các núi cao và nhất là vùng quanh nămbăng giá ở Bắc và Nam Cực tan dần, làm mặt biển dâng cao hơn, tới lúc nào đó sẽngập chìm và xoá khỏi bản đồ những hòn đảo và những vùng đất thấp của một sốnước Ngoài ra, thời tiết cũng bị biến loạn, thiên tai xảy ra thường xuyên hơn và vớicường độ cao hơn, lụt lội và hạn hán kéo dài hơn, như thực tế một số nước đã chothấy Do biến đổi khí hậu, đất đai còn bị huỷ hoại vì sa mạc hoá, mặn hoá, xói mòn,ngập chìm - tất cả những triệu chứng này đã bắt đầu hiện rõ - với viễn tượng rất đáng
sợ của một hiện tượng "tị nạn môi trường" với những luồng di dân khổng lồ, làm căngthẳng quan hệ giữa các nước
Bên cạnh những nguy cơ của mưa gió trái mùa, thiên tai gây tác hại mùa màng,gây đói kém, việc mặt biển dâng cao là một mối lo âu lớn, vì trong nhiều nước, nhữngvùng ven biển bị đe doạ trực tiếp thường là nơi tập trung đông đảo dân chúng và lànhững vùng kinh tế, văn hoá quan trọng
3.4.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Theo số liệu quan trắc của Trung tâm khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu ởViệt Nam có thể thấy rõ qua các biểu hiện đáng lưu ý sau :
* Nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1951-2017)
- Nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam đã tăng lên 0,70C
- Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961-2000) cao hơn trungbình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931-1960) là 0,60C
- Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991-2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HồChí Minh đều cao hơn nhiệt độ trung bình của thập kỷ 1931-1940 lần lượt là 0,8 ; 0,4
và 0,60C
- Năm 2017, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình củathập kỷ 1931-1940 là 0,8 – 1,30C và cao hơn thập kỷ 1991-2000 là 0,4 -0,50C
- Dự báo nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 30C vào năm 2100
* Lượng mưa: Trên từng địa điểm thì xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình
năm trong 9 thập kỷ qua (1911-2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùngkhác nhau, có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống
- Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ
1981-1990 và chỉ còn gần một nửa (khoảng 15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây
29