Tính mới và những đóng góp của đề tài Luận văn giúp góp phần làm rõ bối cảnh ra đời, quá trình phát triển và thay đổi của mô hình nhà nước này đối với sự phát triển của kinh tế, chính t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG MINH TUẤN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Phương Thảo
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN 6
1.1 Lịch sử 6
1.2 Khái niệm 8
1.3 Đặc điểm 11
1.4 Phân loại 18
CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 22
2.1 Nhà nước kiến tạo phát triển ở một số quốc gia điển hình 22
2.1.1 Nhật Bản 22
2.1.2 Singapore 30
2.1.3 Trung Quốc 35
2.1.4 Các quốc gia Châu Phi – Mỹ Latinh 38
2.1.5 Các quốc gia Bắc Âu 40
2.2 Bài học thành công và thất bại 47
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM 57
3.1 Cơ sở xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam 57
3.2 Các khó khăn, thách thức và giải pháp xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam 61
3.2.1 Về chính trị 62
3.2.2 Về pháp luật 70
3.2.3 Về kinh tế - xã hội 73
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Từ 2009, thuật ngữ “Nhà nước/Chính phủ kiến tạo phát triển” bắt đầu được nhắc đến và bàn luận trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học Trong diễn văn của Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2011 - 2016 đã khẳng định “Phải chuyển mạnh từ Nhà nước điều hành nền kinh tế sang Nhà nước kiến tạo phát triển” và gần đây nhất là tuyên bố và nỗ lực của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc về
“Xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, Chính phủ hành động, Chính phủ phục vụ, Chính phủ liêm chính”
Tuy nhiên, trên thực tế những sai lầm trong điều hành và quản lý của nhà nước trong một số lĩnh vực gây nhiều hậu quả nghiêm trọng cho kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, gây mất lòng tin của nhân dân Sự sai lầm trong định hướng phát triển đối với nhiều lĩnh vực đã đặt ra vấn đề cần xác định lại vai trò mô hình kiến tạo phát triển của Nhà nước khiến cho những nghiên cứu cũng như đưa vào áp dụng thực tế về vấn đề này càng trở nên bức thiết Vì
những lí do trên, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Mô hình nhà nước kiến tạo phát triển và một số kinh nghiệm có thể áp dụng ở Việt Nam hiện nay”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu, phân tích một số nhà nước theo mô hình kiến tạo phát triển, nhận xét những ưu và nhược điểm, thực tế thay đổi và hoạt động của Nhà nước Việt Nam hiện nay theo định hướng Nhà nước kiến tạo phát triển
2.2 Mục tiêu cụ thể
Trên cơ sở những lý luận chung và thực tiễn tổ chức và hoạt động của Nhà nước trong vai trò quản trị thành công theo mô hình Nhà nước kiến tạo
Trang 6phát triển của Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc, Phần Lan…, luận văn phân tích bối cảnh, những mặt thuận lợi cũng như thách thức đối với Việt Nam khi lựa chọn theo mô hình quản trị này Luận văn cũng đưa ra kết luận cụ thể về tính khả thi và phù hợp của mô hình Nhà nước kiến tạo đối với quản trị nhà nước ở Việt Nam đồng thời đề xuất những giải pháp đảm bảo cho việc áp dụng thành công mô hình này
3 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn giúp góp phần làm rõ bối cảnh ra đời, quá trình phát triển và thay đổi của mô hình nhà nước này đối với sự phát triển của kinh tế, chính trị,
xã hội; những yếu tố dẫn đến thành công trong việc áp dụng mô hình nhà nước kiến tạo phát triển; phân tích những điểm điều kiện và bối cảnh ra đời của mô hình này trên thế giới để đối chiếu với Việt Nam, phân tích những điểm phù hợp, những thách thức trong việc áp dụng mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam hiện nay Qua đó, đề xuất một số phương pháp và
cách thức áp dụng mô hình Nhà nước phát triển
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển trên thế giới Luận văn nêu vấn đề cần nghiên cứu và trả lời câu hỏi: thế nào là nhà nước kiến tạo phát triển? Bối cảnh ra đời, bản chất và đặc điểm của nhà nước kiến tạo phát triển? Nhà nước kiến tạo phát triển phù hợp với bối cảnh, điều kiện nào? Xu hướng thay đổi, phát triển của mô hình này? Tại sao nhiều các quốc gia đã từng trải nghiệm với mô hình này đã từ bỏ, thay đổi hoặc chuyển sang mô hình khác? Liệu mô hình còn phù hợp trên thực tế? Phân tích đặc điểm của nhà nước Việt Nam hiện nay Việt Nam nên vận dụng những điều gì
và như thế nào? Để trả lời câu hỏi trên một cách khoa học cần sự nghiên cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu của nhiều nhà tư tưởng, học giả trên thế giới, đồng thời nghiên cứu việc áp dụng mô hình này trên thực tế tại một số
Trang 7nước để rút những đánh giá, nhận xét về ưu điểm, hạn chế và việc vận dụng đối với các nước khác, xu thế phát triển của nhà nước trong tương lai
5 Tổng quan tài liệu
Có rất nhiều công trình, tài liệu cả trong nước và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này Tại nước ngoài một số tác phẩm như: The Origin of Power, Prosperity, and Poverty: Why Nations Fails (Nguồn gốc của quyền lực, thịnh vượng và nghèo khó: Tại sao các quốc gia thất bại), Acemoglu D và Robinson J, Randon House, 2012; “China As A Developmental State”, Andrzej Bolesta (2007), Montenegrin Journal of Economics vol 3, no 5, p 105-111; The Developmental State in History and in the Twentieth Century, Bagchi A K (2003), Regency Publications, New Delhi; MITI and the Japanese Miracle, The Growth of Industrial Policy 1925-1975, Chalmers Johnson (1982), Stanford University Press; „Political institutions and economic performance: The government-business relationship in Japan, South Korea and Taiwan‟,
in Asian Economic Development: Present and Future, tr 73-89; “How to „do‟
a developmental state: Political, Chang & Ha Joon (2010)… Các tài liệu này làm rõ quá trình hình thành cũng như định nghĩa khái niệm Nhà nước kiến tạo, một số mô hình Nhà nước kiến tạo điển hình trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…
Tại Việt Nam, rất nhiều luận văn, bài viết về vấn đề này hoặc có liên
quan như: Nhà nước kiến tạo phát triển – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nguyễn Thùy Dương (2017), Luận văn Thạc sĩ Luật học; Mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển: lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam, Nguyễn Thị Hải Hà (2017), Luận văn Thạc sĩ Luật học; Chính phủ kiến tạo – từ góc nhìn ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nguyễn Thị Minh Hà, Tạp chí Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ, Số 7/2017, tr 49-53; Mô hình chính phủ kiến tạo - cách tiếp cận từ thế giới đến Việt Nam, Nguyễn Thị Thu Hoà và Vũ Thị Loan,
Trang 8Tạp chí Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ, Số 4/2018, tr 73-78; Chính phủ kiến tạo - từ góc nhìn đến mô hình tiếp cận, Phạm Quỳnh Liên, Tạp chí Quản lý nhà nước, Học viện Hành chính Quốc gia, Số 4/2018, tr 34-38; Một số vấn
đề về mô hình chính phủ kiến tạo phát triển, Phạm Hồng Thái,Tạp chí Tổ
chức nhà nước, Bộ Nội vụ, Số 8/2017, tr.7-12… Các tài liệu này cũng khái quát quá trình hình thành cũng như đưa ra định nghĩa khái niệm Nhà nước kiến tạo, đồng thời nghiên cứu vấn đề này theo các cách tiếp cận khác nhau qua đó đưa ra một số khuyến nghị về việc áp dụng mô hình này vào Việt Nam hiện nay
Đề tài “Mô hình nhà nước kiến tạo phát triển và một số kinh nghiệm có thể áp dụng ở Việt Nam hiện nay” là đề tài mới của người viết Luận văn đi
theo hướng nghiên cứu thực tiễn về bản chất mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển tại một số nước trên thế giới; tiếp cận tác động và yêu cầu để theo đuổi
mô hình này nhằm phát huy vai trò của Nhà nước trong việc kiến tạo phát triển xã hội và đất nước trong giai đoạn hiện nay; phân tích, nhận định điều kiện trên thực tế ở Việt Nam hiện nay đồng thời phân tích, nhận định xu thế phát triển của “mô hình chính phủ kiến tạo phát triển”; đưa ra khuyến nghị đối với Nhà nước trong việc hoạch định chính sách, đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước Việt Nam hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Bài tìm hiểu cách tiếp cận của một số quốc gia trong sự so sánh, đối chiếu với cách tiếp cận về Nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam, đề xuất những ý kiến cá nhân hoặc tham khảo kiến nghị những yêu cầu cần thiết trong việc Nhà nước Việt Nam theo đuổi mô hình này Dựa trên mục tiêu của đề tài là rút ra giải pháp, các phương pháp được sử dụng chủ yếu là tổng hợp, so sánh, phân tích trong quá trình nghiên cứu Từ tổng hợp các nguồn thông tin, sau đó các tác giả tiến hành phân tích để tìm ra nguyên nhân, điều
Trang 9kiện, hoàn cảnh của những nước áp dụng mô hình này, chỉ ra những thách thức khó khăn đối với Việt Nam và đi đến đề xuất những ý kiến đóng góp đối với Việt Nam hiện nay
7 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu về quá trình hình thành khái niệm trên thế giới cũng như quá trình thâm nhập vào Việt Nam; đồng thời phân tích sự hình thành, đặc trưng và điều kiện vận hành mô hình nhà nước kiến tạo phát triển ở Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc … cũng như kinh nghiệm thực tế tại một số nước khác có liên quan đến thực hiện một số vai trò, đặc điểm của mô hình nhà nước này Đồng thời trình bày những hiểu biết, nhận định xu thế phát triển, áp dụng của mô hình này trên thế giới Chỉ ra thuận lợi, khó khăn, thách thức và khả năng áp dụng mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển để đưa ra những khuyến nghị đối với Việt Nam hiện nay
Trang 10Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC
KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN 1.1 Lịch sử
“Nhà nước kiến tạo phát triển” là cụm từ được chuyển dịch ý nghĩa của
từ “developmental state” - được giới học thuật quốc tế sử dụng một cách phổ biến trong mấy thập kỷ gần đây để chỉ một mô hình phát triển nhà nước mang đặc thù của một số quốc gia Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, ) Giới học thuật quốc tế có sự thống nhất cao khi thừa nhận “developmental state” là thuật ngữ lần đầu tiên được nêu ra bởi Chalmers Johnson, trong cuốn “MITI và Sự thần
kỳ Nhật Bản: Chính sách tăng trưởng công nghiệp giai đoạn 1925-1975” (MITI and the Japanese Miracle: The Growth of Industrial Policy 1925-1975), xuất bản năm 1982 Trong cuốn sách này, Chalmers Johnson đã phân tích những yếu tố dẫn đến “sự thần kỳ Nhật Bản” - mà đặc biệt thể hiện trong quá trình khôi phục, phát triển kinh tế rất thành công của nước này từ đống tro tàn sau Chiến tranh thế giới thứ Hai Ông đã sử dụng thuật ngữ “developmental state” để chỉ mô hình phát triển mà Nhà nước Nhật Bản đã áp dụng trong giai đoạn đó (và xa hơn nữa là từ thời kỳ Minh trị)
Theo quan điểm của Chalmers Johnson, “developmental state” là “… cách viết tắt của một mạng lưới liền mạch về chính trị, quan chức, và uy thế của tiền bạc giúp tạo nên đời sống kinh tế ở các nền tư bản Đông Bắc Á” Ông thừa nhận rằng, “một trong những mục đích chính trong việc mở đầu ý tưởng về nhà nước kiến tạo phát triển tư bản… là để vượt qua sự tương phản giữa nền kinh tế Hoa Kỳ (điển hình của mô hình kinh tế tư bản thị trường tự do) và Liên bang Xô viết (điển hình của mô hình kinh tế kế hoạch tập trung)”
“Developmental state” sau đó đã trở thành một thuật ngữ phổ biến trong giới nghiên cứu khi phân tích chính sách kinh tế của các quốc gia trên
Trang 11thế giới trong thời kỳ hiện đại Nó cũng được sử dụng trong nhiều báo cáo, văn kiện của các cơ quan Liên hiệp quốc (đặc biệt là UNDP) và nhiều tổ chức quốc tế khác
Trong thực tế, quan điểm về vai trò can thiệp và định hướng phát triển kinh tế của nhà nước đã hình thành từ cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, gắn liền với các lý thuyết về chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa tiền tệ và
an ninh quốc gia
Chính phủ kiến tạo phát triển có thể được lý thuyết hóa một cách cụ thể bằng học thuyết Keynes: nền kinh tế luôn luôn bất ổn, đầy biến động và cung cầu có thể đạt được một trạng thái cân bằng nhưng không đảm bảo toàn dụng nhân công Cách giải quyết cho vấn đề này là: thay thế sự thiếu hụt trong đầu tư tư nhân bằng đầu tư công với những thâm hụt tài chính được cân nhắc kỹ lưỡng
Rất nhiều minh chứng cho thấy sự can thiệp có hiệu quả của nhà nước vào sự phát triển của kinh tế xã hội trong lịch sử:
Tại châu Âu, sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế nước Đức trong giai đoạn từ thời kỳ đen tối năm 1947, trong vòng chưa đầy một thập niên nước Đức đã trở thành trung tâm kinh tế của Châu Âu và khẳng định vững chắc vai trò của mình là đầu tàu phát triển kinh tế của cả Châu Âu, dưới sự bảo hộ của Thủ tướng Adenauer và Bộ trưởng kinh tế Erhard Nhà nước tạo ra – và ở mức độ nào đó là kiểm soát – một mạng lưới các tổ chức xung quanh các đỉnh cao chỉ huy Nền kinh tế được điều hành theo một chế độ quản lý tay ba giữa chính phủ, doanh nghiệp và lao động Bản chất độc đáo của hệ thống phối hợp này chính là Ban giám sát – gồm các đại diện từ cả ba khu vực trên Ở Pháp
và Anh, nhà nước nắm quyền kiểm soát các ngành kinh tế quan trọng để đảm bảo sự thịnh vượng chung
Nhìn sang châu Á, sau khi giành được độc lập tháng 8 năm 1947, Ấn
Trang 12Độ – thuộc địa lớn nhất thế giới, vùng đất trung tâm của Đế quốc Anh – phải đối phó với vấn đề nghèo đói, chia rẽ về tôn giáo Với sự lãnh đạo của Nehru,
Ấn Độ lựa chọn con đường Nhà nước nắm quyền kiểm soát và lập kế hoạch phát triển kinh tế Khu vực công sẽ giữ vị trí trung tâm trong tầm nhìn tổng thể về nền kinh tế kế hoạch theo kiểu Ấn Độ Sự lựa chọn kinh tế của Ấn Độ phản ánh sự tin tưởng vững chắc vào chủ nghĩa duy lý, khả năng dự đoán, tính định lượng và tính kế hoạch Những lựa chọn này đã thể hiện quan điểm kinh tế thống trị thời đó với những dự định tốt đẹp nhất ban đầu, các nhà kinh
tế học và các tổ chức kinh tế đang truyền bá tư tưởng đó trên toàn thế giới Với một cách nhìn khác, quan điểm chủ đạo này được tóm tắt trong một điểm duy nhất: Nhà nước sẽ phải tạo ra sự phát triển Cách tiếp cận sẽ có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài với toàn bộ các nước đang phát triển Thời điểm cực thịnh đạt được vào những năm 1970, khi các nước thế giới thứ Ba dường như đang trên đường giành chiến thắng trong cuộc đối đầu với các nước giàu trước khi những ảo mộng chiến thắng này tan vỡ
Ở Việt Nam, trong mấy năm gần đây thuật ngữ “nhà nước kiến tạo phát triển” được sử dụng khá phổ biến, cả trên các diễn đàn học thuật và trong các hoạt động của Nhà nước Thuật ngữ “nhà nước kiến tạo phát triển” được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đưa ra lần đầu tiên năm 2011 và được coi là một định hướng chiến lược trong hoàn thiện hệ thống chính trị của nước ta
1.2 Khái niệm
Có nhiều quan niệm về nhà nước kiến tạo phát triển: tiếp cận từ chức năng và phương thức tổ chức, nhà nước kiến tạo phát triển có bộ máy hành chính chuyên nghiệp, giữ mối hợp tác chặt chẽ với khu vực tư để nhằm tới chuyển đổi kinh tế quốc gia Nói cách khác, đó là nhà nước có sự kết nối giữa chính phủ và doanh nghiệp Từ góc độ ra quyết định: nhà nước kiến tạo phát triển là một nhà nước mạnh – cứng rắn, cơ quan nhà nước sẵn sàng áp dụng
Trang 13các mệnh lệnh cứng rắn cho doanh nghiệp – thay vì biện pháp mềm như vận động chính sách Từ góc độ tài chính, đó là nhà nước có khuynh hướng tư bản: môi trường kinh tế chủ yếu là khối tư bản giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước…
Nhà nước kiến tạo phát triển không phải là một kiểu nhà nước
Một số học giả cho rằng từ góc độ quản trị quốc gia, hoàn toàn có thể coi đó là một mô hình nhà nước, giống như mô hình nhà nước thị trường tự
do (hay nhà nước điều tiết), nhà nước kế hoạch hoá tập trung, nhà nước phúc lợi… Trong thực tế, để làm rõ các đặc trưng của nhà nước kiến tạo phát triển, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thường so sánh với các mô hình nhà nước khác như đã nêu
Có tác giả lập luận rằng, việc đặt nhà nước kiến tạo phát triển nằm giữa
mô hình nhà nước thị trường tự do và mô hình nhà nước kế hoạch hoá tập trung có nghĩa là nó không mang tính chất của cả nhà nước TBCN và nhà nước XHCN Về mặt lý luận, nhận định đó là chính xác, bởi như đã đề cập, khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển chỉ một mô hình quản trị chứ không phải là một kiểu nhà nước, vì thế nó có tính “trung lập” cả về yếu tố giai cấp
và chế độ kinh tế Trong thực tế, quá trình chuyển đổi hậu XHCN ở một số quốc gia Đông Âu, ví dụ như Ba Lan, cho thấy không cần thiết phải là thiết lập một hệ thống kinh tế theo kiểu chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa xã hội, mà
là một hệ thống gồm có thị trường có khả năng phát triển kinh tế - xã hội nhanh và (duy trì) ổn định phúc lợi XHCN [2]
Tuy nhiên, một số học giả khác cho rằng, xét về bản chất, nhà nước kiến tạo phát triển là nhà nước can thiệp Đây là mô hình đối lập với nhà nước thị trường tự do; trong mô hình này, nhà nước can thiệp vào các hoạt động kinh tế để khắc phục và hạn chế những khiếm khuyết của thị trường và thúc đẩy sự công bằng và phúc lợi của các nhóm xã hội Sở dĩ nhà nước kiến tạo
Trang 14phát triển mang bản chất của nhà nước can thiệp vì nó: “…là sự biểu hiện của một tiêu chuẩn hoặc khát vọng đạo đức sử dụng quyền lực can thiệp của nhà nước để hướng dẫn đầu tư theo cách thúc đẩy tầm nhìn liên kết nhất định nền kinh tế quốc gia” Một tác giả khác lý giải, điều này đơn giản là bởi phát triển kinh tế là cốt lõi của một nhà nước kiến tạo phát triển, và yếu tố đó “… đòi hỏi nhà nước cần tạo ra và điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế và chính trị mà
có thể hỗ trợ sự công nghiệp hóa liên tục”
“Nhà nước kiến tạo” là khái niệm để chỉ một kiểu hệ thống quản trị quốc gia mà không phải là khái niệm chỉ để nói riêng về nhà nước
Hệ thống này đặt ra yêu cầu về vai trò chủ động của chủ thể quản lý, điều hành, hướng tới nhu cầu cải tạo môi trường quản trị, bảo đảm sự nhanh nhạy, linh hoạt về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động và cao hơn thế là linh hoạt cả trong việc xác định và thay đổi mục tiêu, nhiệm vụ của chủ thể, vừa kiến tạo bên trong chính mình, vừa kiến tạo môi trường mà
nó đang vận hành, luôn đòi hỏi khả năng nắm bắt kiểm soát “số phận” thực tế của các quyết định đã được đưa ra trong quá trình quản lý, điều hành Theo các nhà nghiên cứu thì hệ thống quản trị kiến tạo là hệ thống có khả năng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quản trị hiện đại và đặc biệt thích hợp, cần thiết đối với các quốc gia đang phát triển khi mà môi trường quản trị, đối tượng quản trị ở đó chưa ổn định, đang thay đổi
Như vậy, “nhà nước kiến tạo” cần được hiểu là một kiểu tiếp cận chung
có tính phương pháp luận và định hướng cho các hệ thống quản trị quốc gia
Tiếp cận nhà nước kiến tạo phát triển từ hai góc độ chính: “ý thức
hệ hướng tới sự phát triển” và “cấu trúc thể chế về mặt chính trị & hành chính để hiện thực hoá các chính sách phát triển của nó”
Theo UNDP, đây cũng chính là hai đặc điểm cơ bản của nhà nước kiến tạo phát triển, đó là: “Dựa trên một tư tưởng về sự phát triển” đồng thời “có
Trang 15những sắp xếp thể chế với các nguyên tắc và tiêu chuẩn mà có thể hỗ trợ các quá trình phát triển” Cụ thể có ý kiến cho rằng “nhà nước kiến tạo phát triển
là một nhà nước có quyền lực và được tổ chức hợp lý để đạt được các mục tiêu phát triển của nó” Một ý kiến khác cũng có quan điểm tương tự, khi cho đây là nhà nước có năng lực thiết kế và thực thi các mục tiêu phát triển của nó theo cách thức áp đặt và chuyên chế nhằm tạo ra sự tăng trưởng kinh tế Theo một tác giả khác, nhà nước kiến tạo phát triển hàm ý một “nhà nước cứng rắn” xét về phương diện can thiệp vào hoạt động kinh tế, thể hiện việc nó không chỉ điều chỉnh, định hướng mà còn giám sát và kiểm soát nền kinh tế Vincent Wei-cheng Wang – một nhà nghiên cứu có tên tuổi trên lĩnh vực này – thì xác định, nhà nước kiến tạo phát triển là một nhà nước đặt ưu tiên hàng đầu cho phát triển kinh tế; để đạt mục tiêu đó, nhà nước tích cực can thiệp vào thị trường, thông qua việc định hướng, đặt ra quy tắc, điều phối, phân bổ nguồn lực và sử dụng những công cụ chính sách đa dạng khác [15, tr.11]
Từ đó tác giả đưa ra khái niệm: “Nhà nước kiến tạo phát triển là một kiểu hệ thống quản trị quốc gia, thông qua hoạt động quản trị, dựa vào quyền lực của mình mà từ đó nhà nước can thiệp, định hướng, quy định, điều phối
và tổ chức thực hiện các hoạt động xã hội (tùy theo các mức độ) nhằm đạt
được các mục tiêu phát triển đã đặt ra”
- Có sự hợp tác chặt chẽ giữa khu vực công và tư (nhà nước và doanh
Trang 16nghiệp) Sự hợp tác đó được bảo đảm và giám sát thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách (ví dụ: MITI của Nhật Bản)
- Nhà nước đầu tư mạnh mẽ và liên tục vào giáo dục, y tế và thực hiện các chính sách nhằm bảo đảm công bằng xã hội
- Có một Chính phủ mạnh, thậm chí chuyên chế, tuy nhiên phải nắm rõ
và tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường [2]
Bên cạnh đó, theo UNDP, những đặc điểm cụ thể của nhà nước kiến tạo phát triển bao gồm:
a) Bộ máy quan liêu mạnh, có thẩm quyền, không bị chính trị hoá, được tách biệt và không bị ảnh hưởng bởi các cuộc bầu cử và các
áp lực kinh doanh;
b) Giới lãnh đạo mạnh mẽ, có tầm nhìn xa trông rộng, có khả năng (không nhất thiết phải là độc đoán, chuyên chế) và có cam kết lớn; c) Kế hoạch phát triển quốc gia hiệu quả;
d) Khả năng điều phối các hoạt động kinh tế và các nguồn lực; e) Hỗ trợ tầng lớp doanh nhân của quốc gia, mà sẽ phát triển thành giai cấp tư sản của quốc gia;
f) Tập trung vào nâng cao năng lực con người bằng cách đầu tư vào các chính sách xã hội để thúc đẩy giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, nhà
ở, và các cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội khác;
g) Có niềm tin và sự tự tin vào việc xây dựng các định chế và tiêu chuẩn như pháp quyền, công lý, ổn định chính trị, và hòa bình để đảm bảo “sự tin tưởng thị trường”
Các quan điểm đều cho thấy nhà nước kiến tạo phát triển các đặc điểm khái quát đó như năng lực quản trị nhà nước tốt, hướng tới mục tiêu chung của toàn thể dân tộc, mà biểu hiện thực tế nổi bật là sự tự chủ và độc lập đối với mọi lợi ích nhóm, bao gồm cả các lợi ích của các chủ thể nước ngoài
Trang 17Theo quan điểm cá nhân, các yếu tố khái quát này được phát triển và cụ thể hóa qua 04 luận điểm lý thuyết chính yếu
Nhà nước kiến tạo phát triển có tầm nhìn phát triển nhất quán và xuyên suốt
Nhấn mạnh về tính chính trị của nhà nước kiến tạo phát triển Một
trong các đòi hỏi quan trọng nhất chính là về lãnh đạo chính trị Nhà nước
kiến tạo phát triển cần có một đội ngũ lãnh đạo chính trị có tầm nhìn phát triển, vì bản thân việc “chủ động dẫn dắt” đòi hỏi phải có một tầm nhìn xuyên suốt, nhất quán và tập trung vào các mục tiêu phát triển của toàn bộ quốc gia, tức là một tầm nhìn chung, được chia sẻ và ủng hộ rộng rãi của toàn đất nước Tầm nhìn như vậy cũng là hệ tiêu chí cho việc thảo luận và xác định các ưu tiên chính sách, quy tụ nguồn lực tập trung cho đột phá trong các điều kiện cạnh tranh khắc nghiệt với các nước có những lợi thế khổng lồ vì đi trước và hiện đang chiếm lĩnh các vị trí thống trị
Quan trọng hơn, tầm nhìn phát triển như vậy cho phép sự quy tụ, đoàn
kết vì nó cung cấp nền tảng tư tưởng và hệ giá trị cho các liên minh chính trị
nhằm giữ được môi trường chính trị ổn định cũng như khả năng tập trung quyền lực cho các thể chế nhà nước đóng vai trò then chốt trong điều phối chiến lược kinh tế dài hạn, điều mà vốn không dễ dàng được chấp nhận do các lợi ích ngắn hạn ngăn cản
Trong các nghiên cứu lý thuyết cũng như kinh nghiệm của các nhà nước kiến tạo phát triển, đặc biệt tại các nước công nghiệp mới Đông Á, sự xuất hiện của tầng lớp lãnh đạo chính trị như vậy thường xuất hiện do 3 yếu tố quan trọng sau:
1- Có sự cam kết được chia sẻ giữa các nhóm có quan điểm chính trị khác nhau;
2- Nguồn lực, tài nguyên quốc gia hạn hẹp;
Trang 183- Có những mối đe dọa nghiêm trọng về an ninh quốc gia và tổn vong của dân tộc
Cũng có những ý kiến khác về chi tiết, nhưng về căn bản đều lập luận xoay quanh việc xuất hiện tầng lớp lãnh đạo chính trị tinh hoa, dám quyết đoán và có sự ưu tiên rõ rệt trong chính sách đều chỉ có thể xuất hiện trong điều kiện xã hội chưa có các sức ép dân chủ rộng tãi, tức là sức ép của rất nhiều tầng lớp bên dưới về việc phải tính đến lợi ích ngắn hạn, ngay lập tức của mình Đây cũng là một đặc điểm quan trọng của cấu trúc xã hội và đặc điểm chính trị cụ thể mang tính lịch sử
Khi nhìn nhận toàn bộ sự phức tạp, khó lường của các tương tác chính trị như vậy, luận điểm về tầm nhìn chính trị này thực ra chính là luận điểm về
sự tồn tại của ý chí chính trị chung, mạnh mẽ, làm nền tảng cho việc xây dựng một nhà nước kiến tạo phát triển
Bộ máy quản lý, hành chính hiệu quả và trung lập
Nói về tính kỹ trị của các thể chế nhà nước Vì các cơ quan của nhà nước với các con người cụ thể của chúng đóng vai trò lớn (có quyền lực lớn) trong việc xác định ưu tiên chính sách cũng như trong việc thực hiện các ưu tiên đó, bộ máy quản lý nhà nước vừa có tính chuyên nghiệp và năng lực phân tích cao, vừa xuất phát từ lợi ích phát triển chung của quốc gia và không bị chi phối bởi các lợi ích nhóm
Có thể thấy nếu chức năng cốt lõi của lãnh đạo chính trị đưa ra tầm nhìn, tư tưởng và hệ giá trị chủ đạo thì các nhà quản lý kỹ trị phải có sự tinh thông nghề nghiệp và sự khách quan, không thiên vị trong việc thực hiện tầm nhìn và chuyển tải các giá trị chung đó
Trong những nghiên cứu trường hợp thức tế, các nhà nước kiến tạo phát triển thành công đều có đội ngũ công chức hành chính xuất sắc mà nổi bật là 3 đặc điểm sau:
Trang 191- Hệ thống tuyển dụng dựa trên năng lực chuyên môn (thi tuyển công khai); 2- Hệ thống khuyến khích sự thăng tiến nghề nghiệp (chính sách đãi ngộ như lương, bảo hiểm,…)
3- Hệ thống đảm bảo sự tôn vinh và thẩm quyền chính đáng của các công chức nhà nước
Bộ máy quản lý hành chính như vậy mới có thể đảm nhận được 3 chức năng cốt lõi của nhà nước kiến tạo phát triển: Có khả năng lập các kế hoạch phát triển dài hạn và thực thi; Không bị chi phối bởi lợi ích nhóm; Có khả năng thuyết phục, huy động khu vực tư tập trung nguồn lực, cũng như trừng phạt các công ty không tuân thủ các tiêu chí, ưu tiên chính sách mà nhà nước chủ động đặt ra
Cả 3 chức năng cốt lõi của bộ máy quản lý, hành chính trong nhà nước kiến tạo phát triển như vậy là khác xa so với trong mô hình nhà nước thị trường tự do Điểm khác biệt căn bản ở đây là đặt niềm tin vào vai trò chủ động của nhà nước và hiệu quả của kế hoạch thay cho niềm tin vào sự hợp lý, hiệu quả của thị trường cạnh tranh
Trong cách nhìn của chủ nghĩa Tân tự do, nhà nước chỉ can thiệp vào
“các thất bại của thị trường” mà hàng hóa công, độc quyền, bất đối xứng thông tin và ngoại ứng là các trường hợp kinh điển Tuy nhiên, cũng theo quan điểm của chủ nghĩa này, sự bất bình đẳng sẽ là điều bình thường và thậm chí là điều cần thiết cho “hiệu quả của thị trường” vì nó trừng phạt các công ty yếu kém và tưởng thưởng cho các công ty hiệu quả, sáng tạo Nói cách khác, sự bất bình đẳng trong phân bổ thu nhập chính là cơ chế thúc đẩy sáng tạo và phát triển, không phải là sự thất bại của thị trường và đương nhiên không cần sự can thiệp của Nhà nước Mọi sự can thiệp của Nhà nước, ngoại trừ trong các “thất bại” mà hệ tư tưởng này định nghĩa, đều được coi là làm méo mó và làm giảm hiệu quả các hoạt động kinh tế
Trang 20Ngoài ra, cần thấy rằng ngay cả khi thị trường “thất bại” thì Nhà nước cũng chưa chắc đã làm tốt hơn, và cần phải cân nhắc việc sống chung với
“thất bại của thị trường”, vì có thể còn tốt hơn so với “thất bại của Nhà nước” Như vậy, vấn đề trung tâm của nhà nước kiến tạo phát triển là cần phải tránh các thất bại của Nhà nước, thể hiện qua các hiện tượng như tham nhũng, lãng phí, tư lợi và duy ý chí Nhà nước kiến tạo phát triển cần phải làm được các chức năng trên tốt hơn và hiệu quả hơn so với thị trường
Quan hệ hành chính – dân sự hòa hợp
Vì mọi kết quả cuối cùng đều xoay quanh các doanh nghiệp, do vậy nhà nước kiến tạo phát triển cần có các chính sách công và thiết lập các hệ thống chế định để khuyến khích các đơn vị có hiệu quả và trừng phạt những đơn vị không có hiệu quả Sự can thiệp, điều chỉnh và các chính sách pháp luật của Nhà nước cần phải đặt lợi ích sản xuất của các doanh nghiệp làm ưu tiên, với một nguyên tắc trung tâm là tập trung thúc đẩy hiệu quả sản xuất của khu vực tư nhân
Quan hệ công – tư hữu hảo như vậy có thể được thực hiện qua một loạt công cụ như bảo hộ mậu dịch, chính sách miễn giảm thuế, trợ giúp vốn… một cách chọn lọc và nhất quán với tầm nhìn chiến lược Ở một số quốc gia, mở rộng các công cụ này sang cả các lĩnh vực như tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), đào tạo nghề bảo hiểm xã hội Những chính sách bảo trợ và xây dựng các thể chế phòng ngừa rủi ro cũng là những công cụ quan trọng để đẩy mạnh các doanh nghiệp khởi nghiệp, vốn dựa trên các phát minh, ý tưởng sáng tạo mới, tuy hàm chứa nhiều rủi ro nhưng cũng có thể mang lại các hiệu quả kinh doanh rất lớn
Điểm cốt lõi ở đây là mối quan hệ hữu hảo, cùng có lợi cho cả quốc gia cũng như cho từng doanh nghiệp
Trang 21Quản trị hiệu quả và công bằng
Nhà nước kiến tạo phát triển trong khi tập trung vào phát triển kinh tế đồng thời cũng khắc phục sự bất bình đẳng, tạo dựng được sự đồng thuận xã hội và chia sẻ rộng rãi các thành quả phát triển Các nhà nước kiến tạo phát triển Đông Á đều đã làm tốt vấn đề này vì Chính phủ các nước này đã tính tới vấn đề bất bình đẳng từ rất sớm và có các chính sách thích hợp để khiến sự phát triển kinh tế đi đôi với quá trình khắc phục sự bình đẳng
Có hai yếu tố nổi bật cần nhìn nhận khi xem xét thành công của các nhà nước kiến tạo phát triển Đông Á:
- Tầng lớp lãnh đạo, trong khi nắm giữ quyền lực tập trung, đã cam kết mạnh mẽ về xóa đói giảm nghèo, và quan tâm đến việc này từ những giai đoạn đầu của sự phát triển Sự quan tâm này được tích hợp vào các chính sách
xã hội đưa đến sự phân phối tương đối bình đẳng, mức độ thất nghiệp thấp và tốc độ giảm nghèo nhanh
- Tầng lớp lãnh đạo cũng đưa phát triển kinh tế thành một tiêu chí cốt lõi nhất của hiệu quả lãnh đạo và là cơ sở cho tính chính đáng chính trị của giới cầm quyền Đây chính là cơ sở của liên minh chính trị rộng rãi – sự liên minh trên cơ sở tăng trưởng kinh tế và lợi ích phát triển chung Chính cơ sở này đã đảm bảo sự ổn định chính trị trong thời gian dài
Johnson cho rằng, ở các nước Đông Á, tính chính đáng chính trị không dựa vào 3 dạng thức truyền thống lịch sử, hợp pháp – duy lý, và sức cuốn hút
cá nhân mà là một kiểu riêng, đó là tính chính đáng cải cách Tính chính đáng cải cách tức là lãnh đạo chính trị được người dân tự nguyện tuân theo do hiệu quả của cải cách hay đổi mới Tính chính đáng như vậy không dựa trên quá trình cầm quyền mà dựa vào kết quả của sự quản trị mà hai trụ cột là tăng trưởng kinh tế và sự bình đẳng trong thu nhập
Trang 22Nhà nước kiến tạo phát triển truyền thống là một mô hình có nguồn gốc
từ Đông Á vào cuối thế kỷ XX Đặc điểm cơ bản của mô hình nhà nước này
là vai trò can thiệp, lập kế hoạch và điều hành một cách sâu rộng nền kinh tế Tuy nhiên, lý thuyết này có những điều chỉnh để phù hợp với sự thay đổi của bối cảnh chính trị, kinh tế và xã hội Điểm mấu chốt của sự thay đổi đó chính
là xu hướng giảm dần vai trò can thiệp của nhà nước đối với nền kinh tế Xét dưới góc độ này, có thể phân làm 3 phiên bản chủ yếu: phiên bản can thiệp mạnh; phiên bản can thiệp tương đối; phiên bản can thiệp hạn chế
Phiên bản nhà nước kiến tạo phát triển can thiệp mạnh
Nhà nước kiến tạo đề cao sự can thiệp mạnh của nhà nước đối với nền kinh tế là nhà nước kiến tạo phát triển cổ điển được xác lập ở một số quốc gia
và vùng lãnh thổ Đông Á (như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) từ những thập
kỷ sau của thế kỷ XX cho đến trước cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính diễn
ra Trên cơ sở thực tiễn ở Nhật Bản, Chalmers Johnson (1982) lần đầu tiên đưa ra khái niệm “nhà nước kiến tạo” (developmental state) với nghĩa là một
Trang 23nhà nước tập trung cho phát triển kinh tế và thực hiện các biện pháp, chính sách kinh tế cần thiết để đạt được mục tiêu đó
Việc đề cao sự can thiệp của nhà nước kiến tạo phát triển vào nền kinh
tế cho phép phân biệt mô hình nhà nước kiến tạo phát triển với mô hình nhà nước điều tiết (regulatory) - nhà nước nhấn mạnh cạnh tranh thị trường và sự điều chỉnh, tức can thiệp không toàn diện, có lựa chọn của nhà nước Nhà nước điều tiết là nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu thông qua các cơ quan nhà nước được trao quyền lực để thực thi các chuẩn mực của nền kinh tế nhằm bảo vệ công chúng trước các hạn chế, tiêu cực của thị trường, như tình trạng độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh và các hình thức lạm dụng quyền lực thị trường khác, cũng như bằng cách cung cấp các dịch vụ công cộng (như an ninh quốc gia, giáo dục, ý tế công cộng) mà thị trường không thể làm được Trong khi đó, nhà nước kiến tạo phát triển lại can thiệp trực tiếp và sâu hơn vào nền kinh tế thông qua các biện pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp mới, giảm sự xáo trộn do sự thay đổi đầu tư và lợi ích từ các nền công nghiệp cũ sang các nền công nghiệp mới
Vai trò can thiệp của nhà nước bao gồm cả định hướng mục tiêu phát triển như công nghiệp hóa, định hướng xuất khẩu và kết nối các cơ quan nhà nước lẫn các doanh nghiệp tư nhân để đạt được các mục tiêu đó, chính vì thế đây được coi như là phiên bản mạnh của nhà nước kiến tạo phát triển Mặc dù
đề cao sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, nhà nước kiến tạo phát triển
cổ điển can thiệp hạn chế hơn so nhà nước theo chủ nghĩa phát triển cổ điển (classic developmentalism) và đặc biệt so với nhà nước kế hoạch hóa tập trung theo mô hình xã hội chủ nghĩa Một điểm khác nữa của nhà nước kiến tạo phát triển với hai mô hình nhà nước trên còn ở chỗ, nhà nước này vẫn đề cao tự do hóa và mở cửa thị trường nội địa với nền kinh tế thế giới
Trang 24Phiên bản nhà nước kiến tạo phát triển can thiệp tương đối (can thiệp mềm dẻo)
Các lý thuyết mới về kinh tế sau này đã điều chỉnh nhà nước kiến tạo phát triển theo hướng giảm dần mức độ can thiệp của nhà nước đối với nền kinh tế ở những mức độ khác nhau, từ can thiệp mềm dẻo cho tới can thiệp hạn chế Các nhà nước kiến tạo phát triển sau này không can thiệp sâu rộng vào nền kinh tế như nhà nước kiến tạo phát triển cổ điển, thay vào đó nhà nước thực thi các chính sách mang tính định hướng nền kinh tế, bao gồm: dựa
cơ bản vào nền kinh tế tư nhân như là nhà đầu tư thay vì sở hữu nhà nước; chấp nhận vai trò cơ bản của nhà nước trong việc chỉ đạo đầu tư, phối hợp các
dự án và cung cấp thông tin đặc biệt trong các dự án có nhiều đầu vào và lợi nhuận dài hạn; sự hợp tác và trao đổi sâu rộng giữa lĩnh vực công và tư; đẩy mạnh xuất khẩu và mở cửa tương đối cho nhập khẩu; quan tâm trực tiếp đến các doanh nghiệp, sự đổi mới và sự phát triển các sản phẩm mới thay vì phụ thuộc vào công nghệ và bí quyết nhập khẩu; thúc đẩy sản xuất nội địa thay vì đầu tư trực tiếp nước ngoài; chú trọng nâng cao khả năng cạnh tranh thay vì bảo trợ, hỗ trợ cho các doanh nghiệp tư nhân; tư nhân hóa hoặc hợp tác công
tư trong việc cung cấp các dịch vụ công; thúc đẩy các thị trường vốn và tài chính trong nước để thu hút và phân bổ nguồn lực; chú trọng các bảo đảm xã hội bao gồm các nỗ lực giảm bất bình đẳng, duy trì tinh thần đoàn kết và bảo
vệ chống lại một số chi phí tái cấu trúc; các chương trình phúc lợi kèm điều kiện làm việc của người thụ hưởng hoặc đầu tư vào nguồn nhân lực
Phiên bản nhà nước kiến tạo phát triển can thiệp hạn chế
Theo cách tiếp cận của lý thuyết kinh tế học thể chế mới và lý thuyết phát triển năng lực, vai trò can thiệp của nhà nước chỉ chủ yếu tập trung vào việc nâng cao năng lực của nhà nước để thúc đẩy các hoạt động của thị trường thông qua các biện pháp bảo đảm trật tự xã hội, giảm tính bất định trong nền
Trang 25kinh tế, giảm bất đối xứng thông tin, giảm chi phí giao dịch cho thị trường Điểm căn bản của các lý thuyết này là hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế Có thể thấy rằng, mô hình nhà nước kiến tạo phát triển đang dần chuyển dịch theo hướng mô hình nhà nước điều tiết Sự thay đồi nhận thức về vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế phần nào có nguyên nhân từ cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á năm 1997 Tuy nhiên, có nhiều sự thay đổi khác liên quan ảnh hưởng tới quan điểm này như sự thay đổi về bối cảnh dân chủ chuyển đổi thiết lập nhà nước pháp quyền cũng như quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Dưới góc độ kinh tế, có nhiều vấn đề mới nảy sinh dẫn đến cần phải xem xét lại vai trò can thiệp của nhà nước như: các thị trường không hoàn hảo; sự thất bại của thị trường; vai trò xây dựng các chiến lược phát triển; tạo dựng các mạng lưới kết nối (đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế); sáng kiến phát triển nền kinh tế
Trang 26Chương 2
MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN
TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 2.1 Nhà nước kiến tạo phát triển ở một số quốc gia điển hình
2.1.1 Nhật Bản
Nhật Bản ban hành bản Hiến pháp đầu tiên vào năm 1889 dựa theo
mô hình của châu Âu (Hiến pháp thời Minh Trị) Hiến pháp 1889 đã tuyên
bố và công nhận các quyền tự do khác nhau và quyền của con người, ví dụ như quyền tham gia chính trị đã được công nhận Mô hình lưỡng viện và chính phủ lập hiến đã được thành lập vào năm 1890 Việc ban hành Hiến pháp theo mô hình của châu Âu thay thế cho thiết chế Samurai của thời Tokugawa đã cho thấy sự cần thiết của việc xây dựng nhà nước Nhật Bản trở thành một quốc gia hùng mạnh và giàu có đủ để xếp hạng so với các quốc gia phương Tây
Vào năm 1885, Hirofumi Itoh đã thành lập hệ thống nội các hiện đại Ông đã xóa bỏ nội các truyền thống và Thiên Hoàng đã bổ nhiệm ông là Thủ tướng đầu tiên của Nhật Bản Thủ tướng và các thành viên của nội các đã nỗ lực xây dựng một nhà nước hiện đại Theo Hiến pháp, tất cả các đạo luật đều phải do Nghị viện ban hành và Nội các không có quyền được ban hành các đạo luật hạn chế các quyền dân sự nếu như không có các đạo luật có liên quan của Nghị viện cho phép (ủy quyền lập pháp)
Trong thời kỳ Minh Trị, Nhật Bản thúc đẩy giao thương quốc tế và là quốc gia xuất khẩu tơ lụa lớn trên thế giới, có khả năng nhập các công nghệ của châu Âu Nhờ vậy, họ đã có những thay đổi, sáng chế để xây dựng một nền công nghiệp cạnh tranh Đồng thời, trong thời kỳ này, Nhật Bản đã bước đầu xây dựng một hệ thống pháp luật và tư pháp hiện đại thông qua việc ban hành hàng loạt đạo luật cơ bản như Bộ luật Dân sự, Luật về Ngân hàng nhà
Trang 27nước, Luật Cải cách thuế đất Thời kỳ Minh Trị, chính phủ đại diện được điều hành bởi các đảng chính trị thông qua bầu cử và cai trị bởi Thiên hoàng Theo thể chế này, Nhật Bản được đánh giá là quốc gia dân chủ hơn Trung Quốc và Singapore Tuy nhiên, Hiến pháp thời Minh Trị không đảm bảo sự độc lập giữa các cơ quan nhà nước, đó là Nội các, Nghị viện và Tư pháp, bởi các cơ quan này đều phụ thuộc vào Thiên hoàng Bộ máy tư pháp được coi như là một phần quyền hành pháp của Thiên hoàng thông qua việc thực hiện quyền bổ nhiệm thẩm phán, và hơn nữa, cơ quan hành pháp nắm quyền kiểm soát cơ quan tư pháp [17] Nội các chịu trách nhiệm trước Thiên hoàng và có nhiều quyền lực hơn Nghị viện
Thất bại của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai và Thiên hoàng Hirohito đã chấp nhận Tuyên bố Potsdam vào ngày 15/8/1945 Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản bị chiếm đóng bởi lực lượng nước ngoài
và ý tưởng xây dựng một nhà nước dân chủ, hòa bình của Nhật Bản được thực hiện theo quan điểm của Tướng Douglas MacArthur (Mỹ), được bắt đầu từ việc hủy bỏ hay sửa đổi hoàn toàn Hiến pháp Minh Trị [17]
Tháng 10/1946, Chính phủ của Shigero Yoshida và Nghị viện đã ban hành Hiến pháp mới, trong đó có sự chuyển giao quyền cai trị cho nhân dân
và Thiên Hoàng chỉ còn là biểu tượng của quốc gia Hiến pháp năm 1946 của Nhật Bản đã xây dựng một mô hình nhà nước Nhật Bản hiện đại, theo nguyên tắc tam quyền phân lập, được quy định cụ thể như sau: Nghị viện là cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước và là cơ quan ban hành luật (Điều 41); Quyền hành pháp thuộc về Nội các (Điều 65); Quyền tư pháp thuộc về Tòa án tối cao, tất cả các thẩm phán độc lập trong xét xử và chỉ tuân theo/ràng buộc bởi Hiến pháp và pháp luật (Điều 76) Đây là những quy định cơ bản làm nền tảng cho tổ chức và hoạt động của nhà nước hiện đại Nhật Bản
Nhật Bản nằm dưới sự chiếm đóng của Mỹ từ năm 1945 đến năm 1951
Trang 28Trong giai đoạn này, chính sách chiếm đóng Nhật Bản của Mỹ đã thay đổi đáng kể Nền kinh tế của Nhật Bản đã phục hồi trong giai đoạn 1945-1954 và phát triển cao độ từ năm 1955 đến năm 1973 là nhờ sự can thiệp sâu và mạnh
mẽ của Chính phủ trong việc điều tiết nền kinh tế, hay mô hình nhà nước kiến tạo phát triển, chủ yếu là về công nghiệp
Quá trình xây dựng và phát triển nhà nước kiến tạo ở Nhật Bản, thể hiện rõ thông qua vị trí, vai trò của Nội các Nhật Bản trong việc thực hiện chức năng hành pháp, điều hành, xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa
Nhà nước kiến tạo phát triển là mô hình nhà nước trong đó khẳng định vai trò quan trọng của nhà nước đối với việc điều tiết nền kinh tế vĩ
mô, đảm bảo sự cân bằng giữa sự can thiệp của nhà nước phù hợp với quy luật vận hành của nền kinh tế thị trường, điều tiết nền kinh tế, thực hiện các chính sách quản lý Yêu cầu chung của việc xây dựng nền kinh tế thị trường đó là sự chuyển đổi từ nhà nước điều hành nền kinh tế sang nhà nước kiến tạo phát triển
Kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc xây dựng nhà nước kiến tạo sẽ được tập trung nghiên cứu thông qua việc phân tích vai trò điều hành của Chính phủ Nhật Bản, mô hình tổ chức bộ máy, các quy định của pháp luật đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế và hội nhập, toàn cầu hóa
Thứ nhất, xây dựng bộ máy hành chính tinh gọn, hoạt động có hiệu lực,
hiệu quả và tiết kiệm Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước của Nhật Bản tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập Nguyên tắc này đảm bảo vị trí độc lập tương đối của Nội các trong việc điều hành các công việc của quốc gia Trong những năm gần đây, các học giả về hành chính học đều nhận thấy một
xu hướng mới trong quản lý hành chính nhà nước và câu hỏi cũng đặt ra đối với Nhật Bản là: liệu nền hành chính Nhật Bản có thể đối phó được với các
Trang 29thách thức mới của quản lý hành chính trong thế kỷ XXI không? Những đặc điểm đặc thù của nền hành chính Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đó là: thiết chế, chính sách, quản lý và đã sử dụng các đặc điểm của nền hành chính công truyền thống, đó là: sự tự chủ, kiểm soát trực tiếp, tính đồng nhất, tính chịu trách nhiệm của cấp dưới đối với cấp trên, các tiêu chuẩn về xây dựng thủ tục hành chính và các dịch vụ phi chính trị Nhật Bản đã tiến hành nhiều cuộc cải cách hành chính nhằm mục tiêu xây dựng một nền hành chính theo đúng tiêu chuẩn của quản lý hành chính mới trong thế kỷ XXI đó là: 1- Nâng cao tính độc lập của các thiết chế hành chính: thông qua việc tinh giảm biên chế 25% (2010), buộc 99 trường đại học công lập thực hiện cổ phần hóa Điểm đáng chú ý là Nhật Bản đã tiến hành phân chia thành hai hệ thống cơ quan: cơ quan ban hành chính sách và cơ quan thực thi chính sách
để tiến hành tinh giảm biên chế, xây dựng cơ chế tự chủ của các cơ quan không dựa trên tiêu chí lợi nhuận mà dựa trên tiêu chí hiệu quả Do đó, xây dựng một thiết chế độc lập là tiêu chuẩn đầu tiên trong cải cách hành chính của Nhật Bản; 2- Hệ thống đánh giá chính sách được bắt đầu thực hiện ở Nhật Bản vào năm 2001 và được quy định bởi Luật Đánh giá chính sách (2002) Nhật Bản đã thành lập ủy ban Đánh giá chính sách và tính độc lập của các thiết chế hành chính trực thuộc Bộ Quản lý hành chính, Nội vụ, Thông tin truyền thông Tất cả các thành viên của ủy ban này đều làm việc bán thời gian
để đưa ra các đề xuất, kiến nghị cho Chính phủ và các bộ, ngành liên quan
Với mục tiêu xây dựng bộ máy chính phủ gọn nhẹ, hiệu quả, minh bạch, cơ cấu chính phủ được thu gọn từ 24 bộ xuống còn 12 bộ, cơ cấu bên trong của các bộ cũng được thu gọn (ban hành Luật Tổ chức lại các bộ và các
tổ chức được ban hành năm 1998) Cùng với đó là tăng cường vai trò kiểm soát của trung ương đối với hoạt động của chính quyền địa phương, Chính phủ trao thêm thẩm quyền cho các cơ quan trực tiếp tham mưu cho Thủ tướng
Trang 30để thực hiện chức năng điều hành và giám sát trong đó có việc đưa một loạt các cơ quan về trực thuộc Văn phòng Nội các (Cục Phòng vệ, Cơ quan Giám sát tài chính, Cục Nhân sự quốc gia, Cục An toàn công cộng quốc gia)
Như vậy, nhà nước kiến tạo và phát triển cần phải được bắt đầu từ một
bộ máy hành chính gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, tiết kiệm
Thứ hai, nhà nước chỉ đóng vai trò, điều hành nền kinh tế Vai trò của
nhà nước trong phát triển kinh tế cần phải được đẩy mạnh thông qua việc giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của Chính phủ/bộ máy hành chính vào nền kinh tế Nhật Bản đã đẩy mạnh tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước từ những năm 1980 cùng với việc chuyển giao công nghệ từ khu vực công sang khu vực tư đề khuyến khích các doanh nghiệp tư trở thành những tập đoàn kinh tế lớn đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường Nhà nước chủ yêu tập trung vào chức năng thúc đẩy công nghiệp hóa và phát triển nông nghiệp Thực hiện chức năng này sẽ tạo ra vai trò kiến tạo của chính phủ trong việc ban hành các chính sách thúc đẩy nhanh chóng các lợi thế cạnh tranh: nguồn nhân lực công nghệ sáng tạo kỹ thuật cao Vai trò của Chính phủ và các bộ,
cơ quan được thay đổi thông qua việc thành lập các tổ chức độc lập với bộ máy hành chính (các viện nghiên cứu, bệnh viện nhà nước, bảo tàng, in ấn, bảo hiểm xuất nhập khẩu, kiểm định, đăng kiểm) Bộ máy hành chính sẽ không trực tiếp thực thi chính sách mà chuyển sang một hình thức tổ chức hợp tác mới Các tổ chức độc lập này được đảm bào quyền tự chủ và giám đốc điều hành có thể được tuyển dụng từ khu vực tư nhân (không phải công chức nhà nước)
Nhật Bản đã mạnh mẽ tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước từ những năm 1980 để giảm bớt gánh nặng về tài chính cho ngân sách nhà nước, đảm bảo bộ máy hành chính chỉ thực hiện chức năng điều hành nền kinh tế và giảm bớt vai trò của nhà nước trong hoạt động kinh tế, phát triển
Trang 31quan hệ hợp tác công tư Để giảm bớt gánh nặng cho Chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ công, Nhật Bản đã tích cực tiến hành tư nhân hóa (xã hội hóa) thông qua việc phát huy vai trò của các tổ chức tư nhân, tổ chức xã hội trong việc tham gia cung cấp dịch vụ công Điển hình là Nhật Bản đã ban hành Luật Thúc đẩy các hoạt động phi lợi nhuận năm 1998 là một bước đánh dấu cho sự phát triền, vì luật này bào đảm địa vị pháp lý của người dân và các
tổ chức tình nguyện trong việc thực hiện các hoạt động phi lợi nhuận (NPO) Các tổ chức phi lợi nhuận ở Nhật Bản đã tăng lên đáng kể và thực hiện hoạt động đa dạng, trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: y tế, bảo hiểm, giáo dục, môi trường, và hợp tác quốc tế Bên cạnh đó luật Dân sự của Nhật Bản cũng
đã quy định về hoạt động hợp tác có lợi ích công (Điều 34), thể hiện mối quan
hệ “đối tác” giữa Nhà nước với các tổ chức phi lợi nhuận Điều quan trọng là phải quản lý được chất lượng của các dịch vụ công do các tổ chức phi lợi nhuận thực hiện dựa vào nguồn ngân sách của Nhà nước Do vậy, cần phải đảm bảo được sự công khai, minh bạch của các tổ chức cung cấp dịch vụ công Nhật Bản đã đảm bảo các cơ chế, chính sách của Nhà nước tạo ra một khuôn khổ pháp lý để đảm bảo sự cạnh tranh công bằng, kích thích mọi công dân và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế - xã hội cùng tham gia khởi nghiệp, phát triển và đóng góp cho sự thịnh vượng chung của quốc gia
Thứ ba, Nhật Bản xây dựng hệ thống công chức chuyên nghiệp dựa
trên chế độ trọng dụng nhân tài Để Nhật Bản có được vị trí như ngày nay là nhờ có sự góp sức to lớn của đội ngũ công chức Nhật Bản Công chức Nhật Bản là những người phục vụ nhân dân Họ là những người xây dựng và thực thi các chính sách làm sao để đảm bảo đời sống cho người dân và mang đến
sự hài lòng cho người dân Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng là một trong các quốc gia có tỷ lệ tham nhũng thấp nhất Điều đó chứng tỏ rằng nền hành chính của Nhật Bản trong sạch, hạn chế được sự lạm quyền và quy định rõ ràng về chế
Trang 32độ chịu trách nhiệm của cán bộ công chức [19, pp.28] Ví dụ, Luật Quy định
về đạo đức công vụ quốc gia đã được soạn thảo năm 2000 nhằm hạn chế việc lạm quyền của công chức Luật này nhằm bảo đảm niềm tin của công chúng đối với các dịch vụ công, ngăn chặn các hoạt động tạo ra sự nghi ngờ hoặc không tin cậy chống lại sự công bằng của thực hiện nhiệm vụ bằng cách quy định các biện pháp góp phần duy trì đạo đức liên quan đến nhiệm vụ của công chức nhà nước Việc tuyển dụng công chức được dựa trên nguyên tắc tài đức đối với tất cả các chức danh của hệ thống công chức, bao gồm cả chức danh thứ trưởng Công chức được tuyển dụng thông qua hình thức thi tuyển cạnh tranh và được đào tạo dài hạn trong hệ thống cơ quan của Chính phủ [3] Đặc biệt là pháp luật Nhật Bản đã có những quy định đặc thù đối với công chức thông thường trong việc tham gia vào các hoạt động chính trị như: 1- công chức không được xin, nhận hoặc thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm mục đích xin hoặc nhận bất kỳ lợi ích nào cho các đảng phái chính trị hoặc vì mục đích chính trị Ngoài việc thực hiện quyền bầu cử, công chức không được tham gia vào bất kỳ các hoạt động chính trị nào do cơ quan nhân sự quốc gia quy định; 2- không công chức nào là ứng cử viên cho các cơ quan bầu cử; 3- không công chức nào là nhân viên, cố vấn chính trị hoặc thành viên với vai trò tương
tự của bất kỳ đảng phái hoặc tổ chức chính trị nào Quy định này góp phần đảm bảo cho công chức chuyên tâm vào công tác chuyên môn, thực hiện nhiệm vụ công vụ được giao
Thứ tư, xây dựng hệ thống chính sách và pháp luật thống nhất, toàn
diện Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc đề ra các chính sách mang tính định hướng phát triển, tạo môi trường và điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc
tế Do đó, việc xây dựng hệ thống chính sách và pháp luật thống nhất, toàn diện là một trong những điều kiện đảm bảo vị trí, vai trò lãnh đạo của nhà
Trang 33nước, đảm bảo điều kiện cho sự phát triển kinh tế Nhật Bản đã tiến hành xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thông qua việc ban hành các đạo luật quan trọng như: Luật Thủ tục hành chính năm 1993, Luật Công khai thông tin năm 1999 với mục tiêu đảm bảo sự công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong xử lý hành chính của các chủ thể quản lý nhà nước, giữa các bên tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước Nhật Bản cũng đã thành lập Hội đồng cải cách tư pháp (1999-2001) với 3 mục tiêu cải cách chính đó là: 1- Xây dựng hệ thống tư pháp đáp ứng những mong đợi của công chúng; 2- Nâng cao chất lượng và số lượng của đội ngũ hành nghề luật; 3- Bảo đảm niềm tin của công chúng đối với hệ thống tư pháp thông qua việc đảm bảo sự tham gia rộng rãi của người dân vào hệ thống tư pháp [18, pp.29] Bên cạnh
đó, để đảm bảo cho các văn bản pháp luật được thống nhất, Nhật Bản đã quy định thẩm quyền cho Tòa án tối cao là tòa án có thẩm quyền quyết định cuối cùng về tính hợp hiến của bất kỳ luật, quyết định, chỉ thị hoặc các hoạt động công vụ Ngoài ra, để đảm bảo chất lượng của các văn bản pháp luật do cơ quan hành pháp ban hành (hạn chế các văn bản vi hiến và trái pháp luật), Nhật Bản thành lập Văn phòng lập pháp của Nội các (Chính phủ) Văn phòng này được thành lập với tư cách độc lập để kiểm tra tính hợp pháp, hợp hiến của các dự thảo luật, các nghị quyết
Như vậy, đảm bảo tính thống nhất, toàn diện của hệ thống pháp luật và cải cách tư pháp là một trong những điều kiện đảm bảo cho nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều hành, tạo môi trường thuận lợi, ổn định để phát triển kinh tế Chuyển sang nhà nước kiến tạo phát triển là một cách thay đổi
tư duy về mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường Nhà nước kiến tạo cần phải tập trung vào việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách cho đầu tư phát triển, bảo đảm các điều kiện cần thiết để khuyến khích các bộ
Trang 34phận trong nền kinh tế phát triển hết tiềm năng và hạn chế sự can thiệp vào nền kinh tế bằng những mệnh lệnh hành chính
Thứ năm, đẩy mạnh việc chuyển đổi từ Chính phủ điều hành sang
Chính phủ kiến tạo Một trong những nội dung trọng tâm của Nhà nước kiến tạo hay Chính phủ kiến tạo đó là xác định rõ vai trò điều hành của Chính phủ trong nền kinh tế và quản lý nhà nước Chính phủ cần tập trung vào các hoạt động mang tính chất vĩ mô, đó là hoạch định chính sách, ban hành các kế hoạch, chiến lược, chương trình phát triển kinh tế dài hạn Nhật Bản đã ban hành Luật Thúc đẩy phân cấp quản lý năm 1995 và Luật Chính quyền địa phương tự trị (Local Autonomy) để giảm bớt gánh nặng công việc cho Nội các Nội các giảm bớt các công việc điều hành mang tính sự vụ hành chính hàng ngày để tập trung vào hoạt động hoạch định chính sách đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế
Nhật Bản thường được xem là một ví dụ thành công của mô hình nhà nước kiến tạo phát triển trong đó khẳng định rõ vai trò của Nội các trong điều hành phát triển kinh tế Có thể nói mô hình nhà nước kiến tạo phát triển không phải là một mô hình nhà nước mới, đó chỉ là sự thay đổi cách thức vận hành, vai trò của bộ máy nhà nước đó, đặc biệt là bộ máy hành pháp nắm vai trò quan trọng trong điều tiết kinh tế vĩ mô Nhà nước kiến tạo phát triển đảm bảo cân bằng giữa sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế và quá trình tự vận động của nền kinh tế thị trường Việt Nam là quốc gia có nền công nghiệp hóa muộn do đó việc xây dưng nhà nước kiến tạo phát triển sẽ đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững Nhà nước nắm vai trò trung tâm trong quá trình phát triển kinh tế và cần phải thay đổi mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường
2.1.2 Singapore
* Bối cảnh lịch sử
Những năm 1965, sau khi ý định hợp nhất với Malaysia không thành,
Trang 35Singapore phải đối mặt với đầy rẫy các vấn đề, quốc gia bị thu nhỏ còn thành phố - quốc gia Singapore, dân số chưa đầy 3 triệu, trình độ dân trí thấp, 75% dân số là người Hoa còn lại là những người Malaysia và Ấn Độ chẳng có ý thức gì về bản sắc dân tộc Tình hình xã hội rối ren, hỗn loạn khiến triển vọng của đất nước thêm mờ mịt Đối mặt với giai đoạn cực kỳ khó khăn và nhiều thử thách; tại Singapore ngoài cơ sở vật chất hạn chế, thì chỉ có hai nguồn lực
để đối phó với bất trắc phía trước có thể xảy ra với đất nước này là: người dân
và sự lãnh đạo Singapore đã tìm ra những tài năng tuyệt vời đưa đất nước vượt qua những giai đoạn cam go nhất Lý Quang Diệu với sự kết hợp khác thường của: một nhà lãnh đạo có khả năng thu hút quần chúng, một chính khách khôn khéo và sắc sảo, một nhà kỹ trị tuyệt vời, biết nhìn xa trông rộng
Và với ông “muốn xây dựng một đất nước, anh cần phải có sự say mê và lòng nhiệt tình” Tiến sĩ Goh Keng Swee – kiến trúc sư kinh tế, người đã thiết kế
hệ thống tổ chức đem lại sự phát triển “thần kỳ” của Singapore đã nói: “Bí quyết của thành công không phải là vấn đề lập kế hoạch mà là năng lực thích ứng với những tình thế luôn thay đổi” Hệ thống mà ông Lee và ông Goh mang đến cho nhà nước một vai trò dẫn dắt vững chắc nền kinh tế
* Đặc trưng nhà nước kiến tạo phát triển Singapore
Tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển đồng thời nhà nước đưa ra những quyết định lựa chọn đầu tư:
Trước tiên, Singapore tạo ra một môi trường mang lại tăng trưởng kinh
tế - lạm phát thấp, những cơ chế ổn định và có thể dự đoán trước để giới kinh doanh và người nước ngoài dựa vào đó mà hoạt động, một tỷ lệ tiết kiệm cao,
ý thức chống tham nhũng, một môi trường kinh doanh thân thiện
Singapore kêu gọi những tập đoàn đa quốc gia, các công ty tài chính công nghệ hàng đầu đầu tư, bởi vì những tập đoàn này ngoài mang theo vốn đầu tư phát triển kinh tế, tạo ra cơ hội việc làm còn mang theo công nghệ, kỹ
Trang 36năng và sự tiếp cận thị trường Việc lựa chọn các nhà đầu tư dựa trên việc duyệt kỹ những lợi ích họ sẽ mang đến và lĩnh vực hoạt động, công việc này được thực hiện một cách cẩn trọng Nếu thỏa mãn những tiêu chí như công ty
ổn định, có công nghệ cao và có ý định đầu tư làm ăn bền vững thì dự án được phê duyệt Bên cạnh đó, Singapore cũng cần có những dự án được nhiều người biết đến, vì chúng sẽ góp phần xây dựng một thương hiệu Singapore - bao gồm chất lượng, độ tin cậy và một mức độ thuận lợi dành cho các nhà đầu
tư nước ngoài
Trong những năm 1970, Singapore được hưởng lợi lớn nhờ những biến động trong cuộc Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc, sự kiện này đã thúc đẩy các tập đoàn đa quốc gia rút khỏi HongKong và Đài Loan, thay vào đó họ chuyển đến Singapore, là nơi xa Trung Quốc hơn Chính phủ đã cố gắng hết sức tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các công ty nước ngoài, từ đầu tư cơ sở hạ tầng cho đến việc điều chỉnh lại các chương trình giáo dục theo nhu cầu của các công ty đó
Nhận thức được vị thế của đất nước
Khi ông Lý Quang Diệu lên làm thủ tướng, đất nước Singapore một đất nước không tài nguyên thiên nhiên và do đó theo ông “chúng tôi (Singapore) phải có trí tưởng tượng và tầm nhìn để sử dụng những công nghệ đã xuất hiện
và tạo cho mình một tương lai”
Vực dậy tinh thần dân tộc, khắc phục những yếu kém của người dân Singapore đặc biệt chú trọng đến giáo dục, tuy nhiên họ yêu cầu người dân phải trả phí ít nhiều cho công cuộc này, ít ra là ở cấp đại học Không có gì ở Singapore được miễn phí Năm 1968, nước này chưa đào tạo được kỹ sư nào, còn hiện nay mục tiêu mỗi năm có 20.000 người tốt nghiệp Trong suốt tiến trình hiện đại hóa, chính phủ luôn là người tích cực tạo mọi điều kiện thuận lợi Chính phủ là người tuân theo lịch trình đề ra, là người lập kế hoạch dài
Trang 37hạn, một nhà chiến lược có vị thế đặc biệt và là người quản lý các nguồn lực Một nhóm nhỏ các quan chức ưu tú, được lựa chọn theo tài năng, đã quản lý toàn bộ hệ thống Cảm giác về tình trạng lung lay ngay tức khắc, tầm cỡ nhỏ bé của đất nước, sự thành công đang phơi bày ra trước mắt, Lý Quang Diệu với tư cách là người huy động và cũng là người thực hiện – tất
cả đã tạo nên một sự đồng thuận quốc gia, một mục đích chung, một sự phối hợp có hiệu quả Singapore trông giống như một công ty cố kết chặt chẽ Tổng thể lúc đó ngay cả viên Tổng Thư ký Hội đồng các Công đoàn cũng là thành viên Nội các
Tuy nhiên, sự chi phối của nhà nước chỉ là phần nào Bởi cũng trong thời
kỳ ấy, Singapore đã cam kết mạnh mẽ với thương mại quốc tế - trong một kỷ nguyên khi chủ trương thay thế nhập khẩu và bảo hộ vẫn là phương thức chủ yếu Cả ông Lý Quang Diệu và ông Goh (Phó thủ tướng) đều rất có ý thức về quy mô nhỏ bé của Singapore, theo họ, vì quá nhỏ nên càng không thể làm ăn một mình được Họ tìm cách neo chặt Singapore vào nền kinh tế thế giới
Nuôi dưỡng, thu hút, gìn giữ và trọng dụng nhân tài
Nuôi dưỡng và thu hút nhân tài là vấn đề luôn luôn được nhiều nước trên thế giới chú trọng Một điều hiển nhiên mà bất cứ nhà nước nào phải hiểu được rằng: nhân tài là tài sản quý báu nhất của mỗi quốc gia Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng chú trọng và thực hiện có hiệu quả
Năm 1971, Singapore bắt đầu tuyển chọn những sinh viên có năng lực nhất vào Lực lượng Vũ trang Singapore (viết tắt tên tiếng Anh là SAF); trao cho họ những học bổng du học của các trường đại học của Anh Họ được đào tạo những lớp chính khóa về nhân văn, khoa học, kỹ thuật hoặc chuyên môn Ngoài nhận được học bổng để trang trải chi phí ăn ở và nhu cầu sinh hoạt, họ còn được đầy đủ lương bổng như một trung úy Họ phải ký cam kết phục vụ 8 năm sau khi tốt nghiệp
Trang 38Tại Singapore nạn thiếu hụt nhân tài trở nên tồi tệ vào những năm
1970, khi mà khoảng 5% những người có trình độ ra đi Có nhiều người di dân vì họ cảm thấy họ không thành công nếu chỉ với trình độ chuyên môn mà
họ có được Để đối phó với tình trạng chảy máu chất xám, Singapore đã đưa
ra những chiến lược thu hút và gìn giữ nhân tài Những năm 1980, họ thành lập hai ủy ban, một có nhiệm vụ giúp các nhân tài làm đúng nghề nghiệp đã được đào tạo và một ủy ban có nhiệm vụ kết nối những nhân tài này thành một xã hội Với sự giúp đỡ của các nhà tư vấn cho sinh viên của các đoàn đặc phái Anh, Mỹ, Úc, New Zealand và Canada, các nhân viên các ủy ban này tìm gặp các sinh viên châu Á có triển vọng ở các trường đại học để thu hút họ về làm việc tại Singapore Họ tập trung vào việc thu hút và tuyển dụng các sinh viên châu Á vì Singapore đã tạo ra một xã hội châu Á với mức sống cao và chất lượng hơn các quốc gia của họ, họ cũng sẽ dễ dàng bị đồng hóa vào xã hội Singapore Ngoài ra, Singapore còn chủ động đề nghị việc làm trước khi
họ tốt nghiệp, dựa trên thành tích học tập của họ Do đó, những năm 1990, Singapore đặt niềm tin vào những nhân viên trẻ, thông minh, năng động và mạnh mẽ, … Chọn ra những sinh viên xuất sắc hàng đầu từ những nhóm sinh viên ưu tú nhất mỗi năm và gửi họ đến các trường đại học nổi tiếng ở Anh, Canada, Úc, Đức, Pháp, New Zealand và Mỹ để đào tạo họ trở thành những nhà doanh nghiệp xây dựng thành công các công ty có khả năng cạnh tranh với các công ty nước ngoài trong nhiều lĩnh vực Các công ty này đã mọc lên với sự bảo trợ của các bộ và bộ trưởng Khi công ty đã thành công, chuyển đổi những công ty độc quyền nhà nước thành những công ty độc lập, không nằm dưới sự kiểm soát của các bộ, trở thành những công ty hiệu quả, cạnh tranh và đạt được lợi nhuận
Chính phủ thành lập các trung tâm đào thợ công nhân, thợ máy dưới hình thức tài trợ hoặc liên kết với một số công ty để đảm bảo lực lượng lao động có chất lượng, đạt tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp nước ngoài
Trang 39Lý Quang Diệu đã nói rằng: “Thế giới không nợ chúng ta sinh kế Chúng ta không thể sống bằng cái bát đi xin.”
2.1.3 Trung Quốc
* Lịch sử ra đời của mô hình chính phủ kiến tạo phát triển tại Trung Quốc
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc trong thời kỳ kế hoạch tập trung đã ưu tiên cao cho việc công nghiệp hóa nhanh chóng Thực tế cho thấy, sản lượng công nghiệp tăng 10,5%/năm từ năm 1952-1978 Mặt khác, GDP bình quân đầu người thực tế chỉ tăng 3,0% mỗi năm Đặc biệt, chi tiêu bình quân đầu người thực tế của các hộ gia đình nông thôn – chiếm hơn 80% dân số cả nước - chỉ tăng bình quân 1,4% mỗi năm trong những năm từ 1952-1978, và người dân vẫn còn bị ảnh hưởng từ hậu quả của nạn đói và cuộc cải cách văn hóa trong suốt thời kỳ quá độ [20] Trung Quốc không có mục đích hay các chính sách rõ ràng để trở thành một nhà nước kiến tạo trong thời kỳ kế hoạch tập trung
Vào năm 1976, các mục tiêu từ chính trị đến kinh tế đều được xây dựng lại Chính phủ định hướng cải cách kinh tế vì ba nguyên nhân Đầu tiên và quan trọng nhất, mất đi tính chính đáng chính trị (political legitimacy) trong suốt những năm đình trệ kinh tế và biến động chính trị đã đòi hỏi phải cải thiện mức sống để phục hồi và củng cố sự ủng hộ cho Đảng Cộng sản Trung Quốc Bên cạnh đó, sự thịnh vượng của phương Tây và sự trỗi dậy của một số nền kinh tế Đông Á tạo áp lực lên chính quyền Trung Quốc Nếu các nước đó
có thể đạt được tăng trưởng lớn bằng cách thúc đẩy thị trường và thực hiện các chính sách mở cửa nền kinh tế, liệu Trung Quốc có thể thành công hơn nếu sử dụng các chính sách tương tự? Đồng thời, những rối loạn do Cải cách văn hóa mang lại đang làm suy yếu chế độ kế hoạch tập trung Do đó, chính quyền lâm thời đã bắt đầu tiến hành hai chương trình cải cách lớn: cải cách kinh tế và cải cách chính trị; cải cách nhà nước và đảng Hệ thống chính quyền được hiện đại hóa bằng cách đề cử các chuyên gia tốt hơn thông qua
Trang 40việc sử dụng bằng cấp giáo dục, đào tạo cán bộ và một hệ thống khuyến khích khen thưởng các mục tiêu của nhà nước và đánh giá kết quả hoạt động trong việc thúc đẩy sự nghiệp Vì vậy, các quan chức đảng và chính quyền bao gồm
cả các nhà quản lý sở hữu các doanh nghiệp (SOEs) được tu dưỡng để đạt được các mục tiêu của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó trọng tâm là mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Trung Quốc coi phục vụ nhân dân là tôn chỉ của Đảng và là chức năng
cơ bản của chính phủ Trung Quốc Do đó, Chính phủ Trung Quốc đã dựa vào
lý luận nhà nước của chủ nghĩa Mác Lê Nin để xây dựng mô hình chính phủ kiến tạo phát triển “vì nhân dân phục vụ” Trong điều kiện cải cách, mở cửa
và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mô hình quản lý truyền thống ngày càng không phù hợp với nhu cầu phát triển nhanh chóng của kinh tế và xã hội, xây dựng một chính phủ phục vụ là yêu cầu tất yếu của việc xây dựng một xã hội hài hòa nhằm thực hiện kế hoạch toàn diện của Đảng Cộng sản Trung Quốc: phát triển kinh tế lành mạnh, thúc đẩy sự hòa hợp xã hội và tạo ra cơ sở vật chất, thực hiện đầy đủ các chức năng dịch
vụ công cộng và quản lý xã hội, phát triển mạnh chủ trương xã hội và các tiện ích công cộng, cung cấp ngày càng tốt hơn hàng hóa và dịch vụ công cho quần chúng nhân dân, không ngừng tăng cường quản lý xã hội và bảo vệ công bằng, trật tự và ổn định xã hội
* Mô hình chính phủ kiến tạo phát triển theo hướng Chính phủ phục vụ tại Trung Quốc
Nhà nước kiến tạo phát triển Trung Quốc dựa trên một giải pháp thành công cho vấn đề chủ sở hữu và người đại diện Chính quyền trung ương giải quyết vấn đề chủ sở hữu và người đại diện bằng cách đưa ra các ưu đãi cho các công chức ở mọi cấp bậc trong chính phủ để hướng tới mục tiêu kinh tế Những mục tiêu đó về cơ bản là đạt được tăng trưởng kinh tế nhanh chóng