1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đối chiếu ngữ nghĩa của các giới từ không gian “OUT, IN, UP, DOWN” trong tiếng anh với “RA, vào, lên, XUỐNG” trong tiếng việt theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận

234 68 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 234
Dung lượng 6,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ các lí do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Đối chiếu ngữ nghĩa của các giới từ không gian “OUT, IN, UP, DOWN” trong tiếng Anh với “RA, VÀO, LÊN, XUỐNG” trong

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Lê Thị Hải Chi

ĐỐI CHIẾU NGỮ NGHĨA CỦA CÁC GIỚI TỪ

KHÔNG GIAN “OUT, IN, UP, DOWN” TRONG

TIẾNG ANH VỚI “RA, VÀO, LÊN, XUỐNG”

TRONG TIẾNG VIỆT THEO CÁCH TIẾP CẬN

CỦA NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS TS NGUYỄN VĂN HIỆP

HÀ NỘI - năm 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sựhướng dẫn của GS TS Nguyễn Văn Hiệp Các tư liệu được sử dụng trong luận án

có xuất xứ rõ ràng Để hoàn thành Luận án này, ngoài các tài liệu tham khảo đã liệt

kê, tôi cam đoan không sao chép các công trình hoặc nghiên cứu của người khác.Những kết quả nghiên cứu được nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 14 tháng 10 năm 2020

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lê Thị Hải Chi

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi vô cùng biết ơn GS TS Nguyễn Văn Hiệp – người đã trực tiếpdành nhiều thời gian tận tình hướng dẫn, cung cấp những thông tin và tài liệu thamkhảo quý báu giúp tôi hoàn thành Luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Viện Từ điển học và Bách khoathư Việt Nam, nơi tôi đang công tác; các thầy cô giáo Khoa Ngôn ngữ học – Họcviện Khoa học Xã hội đã tạo nhiều điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiệnLuận án này

Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến những người thân cùng bạn bè đồngnghiệp, những người luôn cổ vũ, động viên tôi hoàn thiện Luận án này

Hà Nội, ngày 14 tháng 10 năm 2020

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lê Thị Hải Chi

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU ……… 1

1 Tính cấp thiết của đề tài ………. 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án ……… 2

3 Đối tượng, phạm vi và nguồn ngữ liệu nghiên cứu của luận án …………. 4

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án ………. 5

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án ………. 6

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án ……… 6

7 Cơ cấu của luận án ……… 7

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT ……… 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ………. 8

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về ngữ nghĩa của từ và sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của từ 8

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về ngữ nghĩa và sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không gian theo cách tiếp cận truyền thống ………. 14

1.1.3 Tình hình nghiên cứu về ngữ nghĩa và sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không gian theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận 16

1.2 Cơ sở lí thuyết ……… 20

1.2.1 Về ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu và nghiên cứu đối chiếu ngữ nghĩa và tương đương về ngữ nghĩa của từ giữa các ngôn ngữ ……… 20

1.2.2 Ngữ nghĩa của từ và sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của từ theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận ……… 24

1.2.3 Khái quát về giới từ và giới từ không gian trong tiếng Anh và tiếng Việt 31 1.2.4 Một số khái niệm liên quan đến giới từ không gian theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận ……… 35

1.2.5 Vai trò của tri thức bách khoa trong việc hiểu ngữ nghĩa của giới từ không gian ……… 37

Trang 5

1.2.6 Nghiệm thân và giới từ không gian nhìn từ góc độ nghiệm thân ……… 40

Chương 2: NGỮ NGHĨA CỦA CÁC GIỚI TỪ KHÔNG GIAN “OUT, IN,

UP, DOWN” TRONG TIẾNG ANH THEO CÁCH TIẾP CẬN CỦA

2.1 Ngữ nghĩa của giới từ không gian OUT ………. 48

2.1.1 Nghĩa gốc và các nghĩa phái sinh của giới từ không gian OUT ………. 48

2.1.2 Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không gian OUT ………. 51

2.1.3 Sơ đồ tỏa tia của giới từ không gian OUT ……… 58

2.2 Ngữ nghĩa của giới từ không gian IN ………. 59

2.2.1 Nghĩa gốc và các nghĩa phái sinh của giới từ không gian IN …………. 59

2.2.2 Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không gian IN …………. 61

2.2.3 Sơ đồ tỏa tia của giới từ không gian IN ……… 66

2.3.1 Nghĩa gốc và các nghĩa phái sinh của giới từ không gian UP ………… 67

2.3.2 Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không gian UP ………… 69

2.3.3 Sơ đồ tỏa tia của giới từ không gian UP ……… 75

2.4 Ngữ nghĩa của giới từ không gian DOWN ………. 76

2.4.1 Nghĩa gốc và các nghĩa phái sinh của giới từ không gian DOWN ……. 76

2.4.2 Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không gian DOWN ……. 77

2.4.3 Sơ đồ tỏa tia của giới từ không gian DOWN ……… 82

Chương 3: NGỮ NGHĨA CỦA CÁC BIỂU HIỆN TƯƠNG ĐƯƠNG “RA,

VÀO, LÊN, XUỐNG” TRONG TIẾNG VIỆT THEO CÁCH TIẾP CẬN

Trang 6

3.1 Ngữ nghĩa của biểu hiện tương đương RA ………. 85

3.1.1 Các nội dung ý niệm được thể hiện qua biểu hiện tương đương RA … 85

3.1.2 Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của biểu hiện tương đương RA …… 87

3.1.3 Sơ đồ tỏa tia của từ không gian RA ……… 93

3.2 Ngữ nghĩa của biểu hiện tương đương VÀO ……… 94

3.2.1 Các nội dung ý niệm được thể hiện qua biểu hiện tương đương VÀO 94

3.2.2 Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của biểu hiện tương đương VÀO …. 96

3.2.3 Sơ đồ tỏa tia của từ không gian VÀO ……… 103

3.3 Ngữ nghĩa của biểu hiện tương đương LÊN ……… 104

3.3.1 Các nội dung ý niệm được thể hiện qua biểu hiện tương đương LÊN 104

3.3.2 Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của biểu hiện tương đương LÊN … 105

3.3.3 Sơ đồ tỏa tia của từ không gian LÊN ……… 110

3.4 Ngữ nghĩa của biểu hiện tương đương XUỐNG ……… 111

3.4.1 Các nội dung ý niệm được thể hiện qua biểu hiện tương đương

3.4.2 Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của biểu hiện tương đương XUỐNG 112

3.4.3 Sơ đồ tỏa tia của từ không gian XUỐNG ………. 117

Chương 4: ĐỐI CHIẾU NGỮ NGHĨA CỦA CÁC GIỚI TỪ KHÔNG

GIAN “OUT, IN, UP, DOWN” TRONG TIẾNG ANH VỚI CÁC BIỂU

HIỆN TƯƠNG ĐƯƠNG “RA, VÀO, LÊN, XUỐNG” TRONG TIẾNG

4.1 Đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ không gian OUT trong tiếng Anh với

4.1.3 Bảng tổng hợp đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ không gian OUT trong

tiếng Anh với RA trong tiếng Việt ……… 127

Trang 7

4.2 Đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ không gian IN trong tiếng Anh với

VÀO trong tiếng Việt ……… 128

4.2.1 Điểm giống nhau ……… 128

4.2.2 Điểm khác nhau ………. 131

4.2.3 Bảng tổng hợp đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ không gian IN trong tiếng Anh với VÀO trong tiếng Việt ……… 135

4.3 Đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ không gian UP trong tiếng Anh với LÊN trong tiếng Việt ……… 136

4.3.1 Điểm giống nhau ……… 136

4.3.2 Điểm khác nhau ………. 139

4.3.3 Bảng tổng hợp đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ không gian UP trong tiếng Anh với LÊN trong tiếng Việt ………. 141

4.4 Đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ không gian DOWN trong tiếng Anh với XUỐNG trong tiếng Việt ……… 142

4.4.1 Điểm giống nhau ……… 142

4.4.2 Điểm khác nhau ………. 145

4.4.3 Bảng tổng hợp đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ không gian DOWN trong tiếng Anh với XUỐNG trong tiếng Việt ……… 146

Tiểu kết Chương 4 ……… 147

KẾT LUẬN ……… 148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ……… 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 152

PHỤ LỤC ………. 161

PHỤ LỤC 1 – NHỮNG ĐỘNG TỪ ĐI VỚI OUT ……… 162

PHỤ LỤC 2 – NHỮNG ĐỘNG TỪ ĐI VỚI IN ……… 182

PHỤ LỤC 3 – NHỮNG ĐỘNG TỪ ĐI VỚI UP ……… 193

PHỤ LỤC 4 – NHỮNG ĐỘNG TỪ ĐI VỚI DOWN ……… 216

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Mô hình hóa sơ đồ mạng lưới ngữ nghĩa tỏa tia của Evans và

Green ……… 44

Hình 1.2 Mô hình tỏa tia tổng quát về sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không gian ……… 45

Hình 2.1 Sơ đồ tỏa tia của giới từ không gian OUT ……… 58

Hình 2.2 Sơ đồ tỏa tia của giới từ không gian IN ……… 67

Hình 2.3 Sơ đồ tỏa tia của giới từ không gian UP ……… 75

Hình 2.4 Sơ đồ tỏa tia của giới từ không gian DOWN ……… 82

Hình 3.1 Sơ đồ tỏa tia của từ không gian RA ……… 93

Hình 3.2 Sơ đồ tỏa tia của từ không gian VÀO ………. 103

Hình 3.3 Sơ đồ tỏa tia của từ không gian LÊN ……… 110

Hình 3.4 Sơ đồ tỏa tia của từ không gian XUỐNG ……… 117

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Trong hơn ba thập kỉ qua kể từ thời điểm chính thức đánh dấu sự ra đờicủa ngôn ngữ học tri nhận vào năm 1989, qua việc thành lập Hội Ngôn ngữ học Trinhận Quốc tế tại Duisburg (Đức), đã có nhiều công trình được coi là “mẫu mực”, là

“kinh điển” trong việc áp dụng quan điểm tri nhận luận vào nghiên cứu các hiệntượng ngôn ngữ đa dạng, phong phú mà các khuynh hướng ngôn ngữ học trước đóchưa giải quyết thuyết phục, đặc biệt trong địa hạt những biểu đạt liên quan đến cácquan hệ không gian, mở rộng và phát triển ngữ nghĩa dựa trên các quan hệ khônggian Có thể nói, ngữ nghĩa của giới từ không gian theo cách tiếp cận của ngôn ngữhọc tri nhận là một nội dung nghiên cứu vô cùng thú vị và hấp dẫn đối với các nhànghiên cứu chuyên về lĩnh vực ngôn ngữ học tri nhận nói riêng, là đóng góp quantrọng của ngôn ngữ học tri nhận vào lí luận ngôn ngữ học nói chung

1.2 Nghiên cứu những đặc trưng của những trải nghiệm thuộc không gianvới tư cách là những trải nghiệm cơ sở của con người và sự ý niệm hóa các mốiquan hệ thuộc không gian được phản ánh như thế nào trong ngôn ngữ, cụ thể hơn lànghiên cứu vấn đề làm thế nào để các ý niệm thuộc không gian được thiết lập vàphát triển một cách có hệ thống để tạo ra các nghĩa phi không gian Nghiên cứucách định hướng không gian, sự tri nhận không gian thông qua các giới từ khônggian từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận tức là nghiên cứu cách định hướng khônggian, sự tri nhận không gian khách quan được tri giác trong trí não của con người vàđược phản ánh, biểu đạt thông qua các biểu thức chứa giới từ chỉ không gian Từ đóhiểu rõ cách thức mà các đối tượng kết nối với nhau trong các không gian vật chất

và tinh thần như thế nào

1.3 Đề tài dựa vào lí thuyết về sự trải nghiệm mang tính nghiệm thân để

nghiên cứu sâu về vấn đề ngữ nghĩa của một số giới từ không gian gồm “out, in, up,

down” trong tiếng Anh và “ra, vào, lên, xuống” trong tiếng Việt, bởi lẽ các giới từ

không gian thể hiện mối quan hệ cơ bản nhất và có thể nói là phức tạp nhất giữa các

Trang 10

thực thể thông qua sự trải nghiệm trong không gian vật chất, được tri nhận và đượcphản ánh trong ngôn ngữ của người bản ngữ Việc triển khai đề tài minh họa rõ nétviệc dựa vào giả thuyết nghiệm thân để lí giải cho những biểu đạt liên quan đến cácquan hệ không gian, mở rộng và phát triển ngữ nghĩa dựa trên các quan hệ không

gian của các từ trên Chẳng hạn như giới từ không gian out biểu thị tình huống khi

thực thể có hướng di chuyển ra bên ngoài một nơi nào đó hay một vật nào đó trong

There’s a snake crawling out of the cave (Có con rắn đang trườn ra khỏi cái hang)

đến biểu thị tình huống có thể nhìn thấy được trong cách sử dụng The stars come

out (Những ngôi sao ló ra) đến biểu thị tình huống không nhìn thấy được nữa trong

cách sử dụng The candles went out before the strong wind (Những ngọn nến tắt phụt trước cơn gió mạnh),… Hay từ ra biểu thị tình huống khi thực thể có hướng di

chuyển đến một vị trí ở phía bên ngoài, ở nơi rộng hơn trong Chạy ra đường; Lao

ra sân;… đến biểu thị hướng di chuyển về phía Bắc trong cách sử dụng Tôi từ Nghệ

An đi ra Hà Nội đến biểu thị hành động chuyển dịch từ một nơi có thể bị xem là nơi

chật hẹp, tù túng, nơi không có nhiều lựa chọn, cơ hội, kìm hãm những khả năng phát triển của con người đến một nơi được xem là nơi rộng mở, nơi có nhiều lựa chọn và cơ hội nghề nghiệp, cơ hội phát triển và thăng tiến hơn như trong cách sử

dụng Đi ra thành phố kiếm việc; Anh ấy quyết tâm chuyển ra Hà Nội lập nghiệp;…

Kết quả mà luận án đạt được giúp làm rõ thêm về các vấn đề như trên Xuất phát từ

các lí do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Đối chiếu ngữ nghĩa của

các giới từ không gian “OUT, IN, UP, DOWN” trong tiếng Anh với “RA, VÀO, LÊN, XUỐNG” trong tiếng Việt theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận”

và nhận thấy việc thực hiện đề tài là một việc làm cần thiết, mang ý nghĩa khoa học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án: Luận án dựa vào lí thuyết của ngôn

ngữ học tri nhận nói chung và lí thuyết về sự trải nghiệm mang tính nghiệm thân nóiriêng để phân tích, lí giải cơ sở nghiệm thân cho những hướng mở rộng, phát triển

ngữ nghĩa của bốn giới từ không gian “out, in, up, down” trong tiếng Anh và bốn biểu hiện tương đương lần lượt là “ra, vào, lên, xuống” trong tiếng Việt Từ đây,

Trang 11

tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau dựa trên cơ sở nghiệm thân cho những

hướng mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của “out với ra”, “in với vào”, “up với lên”,

“down với xuống” theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận.

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án:

- Hệ thống hóa cơ sở lí thuyết có liên quan đến đối tượng nghiên cứu, cụ thể:Ngôn ngữ học đối chiếu và nghiên cứu đối chiếu ngữ nghĩa của từ giữa các ngônngữ; Ngữ nghĩa của từ và sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của từ theo cách tiếp cậncủa ngôn ngữ học tri nhận; Khái quát về giới từ và giới từ không gian trong tiếngAnh và tiếng Việt; Xác định một số khái niệm cơ bản liên quan đến giới từ khônggian theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận; Vai trò của tri thức bách khoatrong việc hiểu ngữ nghĩa của giới từ không gian; Nghiệm thân và giới từ khônggian nhìn từ góc độ nghiệm thân; Phạm trù tỏa tia

- Diễn giải sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của các giới từ không gian “out,

in, up, down” trong tiếng Anh và “ra, vào, lên, xuống” trong tiếng Việt theo cách

tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận Xây dựng mạng lưới ngữ nghĩa của chúng theo

mô hình tỏa tia

- Đối chiếu ngữ nghĩa của “out với ra”, “in với vào”, “up với lên”, “down với xuống” theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận, phân tích các điểm giống

nhau và các điểm khác nhau về ngữ nghĩa giữa các cặp từ đó theo cách tiếp cận củangôn ngữ học tri nhận

* Các câu hỏi nghiên cứu:

- Cơ sở nghiệm thân nào cho những hướng mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của

bốn giới từ không gian “out, in, up, down” trong tiếng Anh?

- Cơ sở nghiệm thân nào cho những hướng mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của

bốn biểu hiện tương đương “ra, vào, lên, xuống” trong tiếng Việt?

- Có những điểm giống nhau và khác nhau nào dựa trên cơ sở nghiệm thân

cho những hướng mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của “out với ra”, “in với vào”, “up với lên”, “down với xuống” theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận?

Trang 12

3 Đối tượng, phạm vi và nguồn ngữ liệu nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án: là sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của bốn giới từ không gian “out, in, up, down” trong tiếng Anh và bốn biểu hiện tương đương lần lượt là “ra, vào, lên, xuống” trong tiếng Việt trên cơ sở nghiệm thân.

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án: Do dung lượng có hạn nên luận án

giới hạn việc nghiên cứu sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của bốn giới từ không

gian “out, in, up, down” trong tiếng Anh và bốn biểu hiện tương đương lần lượt là

“ra, vào, lên, xuống” trong tiếng Việt cũng như mô hình hóa mạng lưới ngữ nghĩa

theo sơ đồ tỏa tia dựa trên các quá trình nghiệm thân để minh họa rõ hơn cho sự mởrộng, phát triển ngữ nghĩa của các từ này Luận án nghiên cứu tương đương vềnghĩa gốc và sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa dựa trên cơ sở nghiệm thân chứkhông phải tương đương về từ loại

3.3 Nguồn ngữ liệu nghiên cứu của luận án:

Nguồn ngữ liệu nghiên cứu tiếng Anh và tiếng Việt được xây dựng dựa trên

sự tham khảo các cuốn từ điển đơn ngữ, từ điển song ngữ, gồm: Oxford Advanced

Learner’s Dictionary (8th edition) (2010), Oxford Advanced Learner’s Encyclopedic Dictionary (1993), Oxford Advanced Learner’s Dictionary with Vietnamese Translation – Từ điển Song ngữ Anh – Việt (2014), Từ điển Anh – Việt

(1997), Từ điển Anh – Việt (English – Vietnamese Dictionary) (1996), Từ điển Việt

– Anh (1995), Từ điển tiếng Việt (2010), Từ điển tiếng Việt thông dụng (2009), Đại

từ điển tiếng Việt (1999) Cùng với đó là sự tham khảo tại các trang web tra cứu từ

điển chính thống của các nhà xuất bản nổi tiếng (gồm: Nhà xuất bản Đại họcCambridge, Nhà xuất bản Đại học Oxford, Nhà xuất bản Macmillan, Nhà xuất bảnHarperCollins) Bên cạnh đó, nguồn ngữ liệu còn được thu thập từ các trang mạng

xã hội, trong những văn cảnh cụ thể hàng ngày,…

Tất cả các ví dụ tiếng Anh trong nguồn ngữ liệu này được dịch sang tiếngViệt dựa theo các cuốn từ điển song ngữ Anh – Việt Những ví dụ không có dịchthuật thì tác giả luận án tạm dịch sát nghĩa Anh – Việt Cụ thể: các ví dụ tiếng Anh

Trang 13

được in nghiêng, phần dịch tiếng Việt được đặt trong ngoặc đơn ngay sau ví dụtiếng Anh Các ví dụ tiếng Việt cũng được in nghiêng.

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Trong quá trình triển khai Luận án, chúng tôi sử dụng một số phương phápnghiên cứu cụ thể như sau:

4.1 Phương pháp phân tích, miêu tả: Luận án sử dụng phương pháp này

nhằm phân tích, miêu tả một cách khái quát nhất, đầy đủ nhất và cụ thể nhất các vấn

đề được đặt ra Phương pháp này được sử dụng để phân tích và miêu tả ngữ nghĩa,

diễn giải sự mở rộng và phát triển ngữ nghĩa của các giới từ không gian “out, in, up,

down” trong tiếng Anh và “ra, vào, lên, xuống” trong tiếng Việt dựa vào cơ sở tri

nhận nghiệm thân theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận

4.2 Phương pháp phân tích ý niệm: Luận án sử dụng phương pháp này

nhằm phân tích, làm nổi rõ các vấn đề thuộc về ngôn ngữ học tri nhận, giúp nhậndiện các thuộc tính cơ bản thuộc về ý niệm về ngữ nghĩa của một số giới từ khônggian trong tiếng Anh và tiếng Việt, từ đó tìm ra những đặc trưng riêng trong cách ýniệm hóa không gian thông qua các giới từ đó

4.3 Phương pháp phân tích ngữ cảnh: Trong chừng mực nhất định, luận án

sử dụng phương pháp này để phân tích, làm nổi rõ những yếu tố thuộc về ngữ cảnhvăn hóa – xã hội và ngữ cảnh tình huống để nhận biết sự mở rộng và phát triển ngữ

nghĩa dựa trên cơ sở tri nhận nghiệm thân của các giới từ không gian “out, in, up,

down” trong tiếng Anh và “ra, vào, lên, xuống” trong tiếng Việt.

4.4 Phương pháp so sánh đối chiếu: Luận án sử dụng phương pháp này

nhằm đạt được mục đích cuối cùng là đối chiếu để tìm ra điểm tương đồng và khác

biệt về ngữ nghĩa của “out với ra”, “in với vào”, “up với lên”, “down với xuống”

theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận Phương pháp so sánh đối chiếu màluận án lựa chọn là đối chiếu một chiều: xuất phát từ việc miêu tả, phân tích sự mởrộng, phát triển ngữ nghĩa trên cơ sở nghiệm thân của một số giới từ tiếng Anh đểtiến hành miêu tả, phân tích sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của các biểu hiện

Trang 14

tương đương trong tiếng Việt Từ đó, luận án tiến hành đối chiếu để tìm ra những tương đồng và dị biệt được thể hiện ở mỗi ngôn ngữ.

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngữ nghĩa

và sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của một số giới từ không gian trong tiếng Anh

và các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận.Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu gần đây của ngôn ngữ học tri nhận, luận ángóp thêm tiếng nói khẳng định năng lực luận giải của ngôn ngữ học tri nhận về cácvấn đề có liên quan đến sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không giannhư: nghiệm thân và giới từ không gian nhìn từ góc độ nghiệm thân; sự mở rộng,phát triển ngữ nghĩa của các giới từ không gian tạo nên các phạm trù tỏa tia;…

Bên cạnh đó, các kết quả mà luận án đạt được được áp dụng một cách cóhiệu quả vào công việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập tiếng Anh và tiếng Việt

như một ngoại ngữ và bản ngữ, giúp sử dụng các từ “out, in, up, down, ra, vào, lên,

xuống” một cách đúng đắn và dễ dàng hơn.

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

Ýnghĩa về mặt lí luận: Luận án góp phần củng cố và làm rõ thêm một số vấn

đề lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là vai trò của giả thuyết nghiệmthân, từ đó góp phần chứng minh và khẳng định năng lực giải thích ngữ nghĩa củangôn ngữ học tri nhận, góp phần thúc đẩy khuynh hướng nghiên cứu ngữ nghĩa họctri nhận ở Việt Nam, đóng góp cho Việt ngữ học một điển cứu (case study) vềnghiên cứu sự mở rộng và phát triển ngữ nghĩa của một nhóm từ quan trọng trongtiếng Anh và tiếng Việt Việc phân tích, đối chiếu sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩacủa các giới từ không gian trong tiếng Anh và tiếng Việt góp phần làm rõ thêm vềcách định hướng không gian, sự tri nhận không gian của người bản ngữ, ở đây làngười Anh và người Việt, từ đó chỉ ra được mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duythể hiện trong hai cộng đồng người Anh và người Việt

Ýnghĩa về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án được ứng dụng để

giải thích con đường mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không gian trong

Trang 15

tiếng Anh và tiếng Việt nói riêng, giải thích sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của từngữ nói chung Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận án cũng phục vụ cho côngviệc nghiên cứu, giảng dạy và học tập tiếng Anh và tiếng Việt như một ngoại ngữ vàbản ngữ, cung cấp cho giáo viên và người học những hiểu biết cần thiết để chủ độngnắm bắt, hiểu và sử dụng tốt một lớp từ thông dụng, quan trọng trong hai ngôn ngữ,

từ đó, góp phần nâng cao chất lượng biên phiên dịch Việt – Anh, Anh – Việt

7 Cơ cấu của luận án

Đề tài nghiên cứu có phần Mở đầu, 4 chương, phần Kết luận, phần Danh mụcTài liệu tham khảo, và Phụ lục

4 chương cụ thể như sau:

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍTHUYẾT

Chương 2: NGỮ NGHĨA CỦA CÁC GIỚI TỪ KHÔNG GIAN “OUT, IN,

UP, DOWN” TRONG TIẾNG ANH THEO CÁCH TIẾP CẬN CỦA NGÔN NGỮ

HỌC TRI NHẬN

Chương 3: NGỮ NGHĨA CỦA CÁC BIỂU HIỆN TƯƠNG ĐƯƠNG “RA,

VÀO, LÊN, XUỐNG” TRONG TIẾNG VIỆT THEO CÁCH TIẾP CẬN CỦA

NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN

Chương 4: ĐỐI CHIẾU NGỮ NGHĨA CỦA CÁC GIỚI TỪ KHÔNG GIAN

“OUT, IN, UP, DOWN” TRONG TIẾNG ANH VỚI “RA, VÀO, LÊN, XUỐNG”

TRONG TIẾNG VIỆT THEO CÁCH TIẾP CẬN CỦA NGÔN NGỮ HỌC TRINHẬN

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về ngữ nghĩa của từ và sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của từ

1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Vấn đề về ngữ nghĩa của từ được manh nha nghiên cứu từ rất sớm qua một

số bài viết về ngữ nghĩa tiếng Latinh của tác giả Reizig Berary công bố tại Đức vàonăm 1825 mà về sau đã được Fridrich Haase, học trò của ông, tập hợp lại và tái bản

năm 1839 với tên gọi cho môn học là semasiology Hay một số bài báo của Benjamin Humphrey và công trình Metaphisical Etymology (Từ nguyên siêu hình)

xuất bản năm 1850 của Horne Tooke được công bố tại Anh và tên gọi cho bộ môn

này cũng được tác giả đặt là semasiology Nhưng phải đến năm 1877 với sự xuất hiện công trình Essai de Sémantique (Science des significations) (Tiểu luận ngữ

nghĩa (Khoa học về ý nghĩa)) của Michel Bréal thì ngữ nghĩa học mới được công

nhận như là một bộ môn khoa học, công trình này được giới nghiên cứu đánh giá:

“Công trình được xem là bước đầu tiên xác lập ngữ nghĩa học như một bộ môn khoahọc nhân văn” và gọi tên bộ môn khoa học này bằng tiếng Pháp, bản ngữ của

Michel Bréal, là sémantique [59, tr.7]

Dựa vào những thành tựu về lí thuyết ngữ nghĩa học, gắn liền với tên tuổicủa các tác giả và các công trình lớn của họ, tác giả Lê Quang Thiêm [59, tr.13-25]

đã khái lược rất rõ về tiến trình và các khuynh hướng ngữ nghĩa học, trong đó tácgiả đã phân chia tiến trình ngữ nghĩa học ra ba thời kì chính: thời kì tiền cấu trúcluận, thời kì cấu trúc luận và thời kì hậu cấu trúc luận

* Thời kì tiền cấu trúc luận:

Thời kì này bắt đầu từ sự ra đời công trình Essai de Sémantique (Science des

significations) (Tiểu luận ngữ nghĩa (Khoa học về ý nghĩa)) của Michel Bréal vào

cuối thế kỉ XIX kéo dài đến 20 năm đầu của thế kỉ XX, thể hiện rõ nhất ở khu vực

Trang 17

Tây Âu là ở ba nước gồm Pháp, Đức và Anh Những tác giả tiêu biểu ở Pháp sau têntuổi của M Bréal trong thời kì này có thể kể đến là Antoine Meillet, LittréDarmesteter, Ch Bally,…; ở Đức là tên tuổi của Karl Reisig, Friedrich Haase,Agathon Benary, Oskar Hey, Ferdinand Heerdegen,…; ở Anh có thể kể đến nhữngnhà ngữ nghĩa học – kí hiệu học nổi tiếng là Ch Ogden, I Richards, V Lady Welly,

… cùng với các tên tuổi khác như John Horme Took, Richard Ch Trench,Benjamin H Smart, Anchibald H Sayce, Jamas Murray,…

Ở Pháp, M Bréal tiếp cận ngữ nghĩa theo hướng tâm lí học, A Meillet tiếpcận theo hướng xã hội học (hướng nghiên cứu tập trung vào tác động xã hội), L.Darmesteter tiếp cận theo hướng sinh học và Ch Bally tiếp cận theo hướng tu từhọc, việc nghiên cứu nghĩa tập trung vào nghĩa của từ, sự thay đổi nghĩa của từ vàquy luật tương tác tâm lí của sự thay đổi nghĩa Ở Đức, quan điểm ngữ nghĩa họccủa các tác giả chịu ảnh hưởng lớn bởi tư tưởng của những nhà ngôn ngữ học lớn ởĐức trước đó hoặc ở cùng thời như: Kant, Bopp và Humboldt, và ngữ nghĩa học ở

Đức thời kì này được gọi là ngữ nghĩa học lịch sử, bởi vì việc phân tích, diễn giải

các hiện tượng nghĩa bị chi phối mạnh bởi tư tưởng lịch sử, chủ nghĩa lịch sử, phạm

vi nghiên cứu về nghĩa cũng tập trung vào nghĩa từ vựng, lịch sử của sự thay đổinghĩa, nguyên nhân của sự biến đổi nghĩa Chính những nghiên cứu sự biến đổinghĩa theo tư tưởng lịch sử, chủ nghĩa lịch sử và tâm lí xuất hiện ở Đức sớm hơn là

ở Pháp và Anh vì thế có ảnh hưởng tới cả Pháp và Anh, M Bréal cũng chịu mộtphần ảnh hưởng của tư tưởng này, các tác giả ở Anh một mặt chịu ảnh hưởng củaquan điểm lịch sử (tập trung nghiên cứu bình diện thay đổi và nguyên nhân thay đổinghĩa của từ), mặt khác tập trung nghiên cứu sâu và có nhiều kiến giải về các bìnhdiện tín hiệu học tiếp nhận từ Đức và Pháp với các công trình tiêu biểu của Ch.Ogden và I Richards

* Thời kì cấu trúc luận:

Thời kì này bắt đầu khoảng từ sau những năm 20 của thế kỉ XX với sự xuất

hiện công trình được xem là nền móng cho ngôn ngữ học cấu trúc là cuốn Cours de

Linguistique Générale (Giáo trình ngôn ngữ học đại cương) của Ferdinand de

Trang 18

Saussure xuất bản năm 1916 cùng với sự xuất hiện nhiều công trình thuộc tính chấtthời kì tiền cấu trúc luận Những trường phái và tên tuổi lừng danh tại Châu Âu vẫnsống với ngữ nghĩa học thời kì tiền cấu trúc luận với một số công trình theo hướng

cũ, đặc biệt một số công trình về lĩnh vực từ nguyên học, từ vựng – từ điển vẫn tiếptục ra đời Vì thế, thời kì này nên phân thành hai giai đoạn nhỏ: Từ sau những năm

1920 đến 1960 với những công trình nghiên cứu về ngữ nghĩa chưa được xem là cấutrúc luận như của S Ullmann, G Stern, A Schaff, V A Zveghinsev,… và từ sau

1960 đến 1980 với những công trình tiêu biểu cho ngữ nghĩa học cấu trúc (phân biệtvới ngữ nghĩa tiền cấu trúc), nghiên cứu ngữ nghĩa học theo quan điểm tín hiệu học,của một số nhà ngữ nghĩa học tiêu biểu ở Châu Âu như B Pottiez, B Guiraud, G.Leech, K Baldinger, A J Gremas, Ju Apresian, John Lyons, Dirk Geeraerts,…Một nhánh ngữ pháp tạo sinh của N Chomsky như: Ch J Fillmore, J J Katz

Khuynh hướng nghiên cứu ngữ nghĩa thời kì này gắn với tâm lí thực nghiệm

và lôgic toán Ngữ nghĩa học lôgic hay là ngữ nghĩa học hình thức cũng xuất hiện vàphát triển trong thời kì này với các tác giả tên tuổi như: B Russell, A Tarski,

G Frege, R Montague,…

* Thời kì hậu cấu trúc luận:

Thời kì này bắt đầu vào cuối những năm 1950 bằng những báo hiệu với cuộccách mạng tri nhận, hướng nghiên cứu ngữ nghĩa học tri nhận chính thức xuất hiện

từ cuối những năm 1960 và phát triển trong những năm gần đây là hướng nghiêncứu mới đặc trưng cho nghiên cứu về ngữ nghĩa thời kì hậu cấu trúc luận Nguyêntắc chính của cách tiếp cận theo ngữ nghĩa học tri nhận là khi tiến hành miêu tảnghĩa, cần phải miêu tả những cái biểu diễn tinh thần Thời kì này xuất hiện các

công trình tiêu biểu như Metaphors We Live By (Chúng ta sống dựa vào ẩn dụ) của George Lakoff và Mark Johnson xuất bản năm 1980; Women, Fire, and Dangerous

Things: What Categories Reveal about the Mind (Đàn bà, lửa và những vật nguy hiểm: những gì mà các phạm trù tiết lộ về tư duy) của George Lakoff xuất bản năm

1987; Semantics and Cognition (Ngữ nghĩa học và Tri nhận) của Ray Jackendoff

Trang 19

xuất bản năm 1983; Cognitive Linguistics – An Introduction (Dẫn luận Ngôn ngữ

học tri nhận) của Vyvyan Evans và Melanie Green xuất bản năm 2006;…

Như vậy, ngữ nghĩa học tri nhận là tên gọi một khuynh hướng ngữ nghĩa học

có cách tiếp cận lí thuyết phân biệt với các khuynh hướng ngữ nghĩa học cấu trúc vàngữ nghĩa học hình thức Vì đây là một khuynh hướng lí thuyết nên nội dung phạm

vi nghiên cứu theo nghĩa rộng hoặc hẹp khác nhau Theo nghĩa hẹp, ngữ nghĩa họctri nhận được xem như là một bộ phận của ngữ nghĩa học trong ngôn ngữ học nóichung Theo nghĩa rộng, ngữ nghĩa học tri nhận có thể được xem như một cách tiếpcận của ngôn ngữ học và gọi là ngôn ngữ học tri nhận [59, tr.54]

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, ngữ nghĩa học là một chuyên ngành chưa có chiều dày so vớingữ âm học, từ vựng học và ngữ pháp học, và việc nghiên cứu ngữ nghĩa học thuởđầu gắn liền với từ vựng học Vì thế, những nghiên cứu ban đầu về ngữ nghĩa học

chủ yếu được đề cập trong các công trình nghiên cứu về từ vựng học như cuốn Từ

vựng học tiếng Việt hiện đại xuất bản năm 1968 và cuốn Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại xuất bản năm 1976 của tác giả Nguyễn Văn Tu, cuốn Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt xuất bản năm 1981 của tác giả Đỗ Hữu Châu, cuốn Từ vựng học tiếng Việt xuất bản năm 1985 của tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Các công trình nghiên

cứu có liên quan đến ngữ nghĩa học thuở ban đầu này đã đề cập tới bản chất ý nghĩa

từ vựng, các kiểu ý nghĩa từ vựng, các quan hệ ngữ nghĩa, hiện tượng đa nghĩa, hiệntượng chuyển nghĩa, hiện tượng trái nghĩa của từ,… Tuy nhiên, vẫn còn rất hiếmnhững chuyên khảo riêng nghiên cứu về ngữ nghĩa học hay một vấn đề của ngữnghĩa học

Công trình nghiên cứu riêng về ngữ nghĩa học xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam

là cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng của tác giả Đỗ Hữu Châu xuất bản năm 1998,

công trình này chỉ bàn riêng về các vấn đề lí thuyết ngữ nghĩa học Từ đây, ngữnghĩa học dần được quan tâm như một bộ môn độc lập so với các bộ môn ngữ âmhọc, từ vựng học và ngữ pháp học với sự xuất hiện của một số công trình tiêu biểu

như cuốn Ngữ nghĩa học của tác giả Lê Quang Thiêm xuất bản năm 2008, cuốn

Trang 20

Ngữ nghĩa học - Từ bình diện hệ thống đến hoạt động của tác giả Đỗ Việt Hùng

xuất bản năm 2012, cuốn Nghĩa học Việt ngữ của tác giả Nguyễn Thiện Giáp xuất

bản năm 2014,… Các công trình này là những công trình nghiên cứu chuyên sâu,cung cấp tổng quan về tình hình nghiên cứu ngữ nghĩa học với các tri thức chuyênngành, các khuynh hướng, trường phái và phương pháp tiếp cận riêng, đề cập tới líthuyết về sự biến đổi nghĩa của đơn vị từ vựng, bàn về bản chất, nguyên nhân và cơ

sở của quá trình biến đổi nghĩa cũng như phân loại quá trình biến đổi nghĩa,…

Bên cạnh đó cũng xuất hiện những công trình dịch thuật từ các công trình

của các tác giả nước ngoài nghiên cứu về ngữ nghĩa học như cuốn Linguistics

Semantics – An introduction của tác giả John Lyons công bố năm 1995 được tác giả

Nguyễn Văn Hiệp dịch sang tiếng Việt năm 2009 dưới tiêu đề Ngữ nghĩa học Dẫn

luận; cuốn Theories of Lexical Semantics của tác giả Dirk Geeraerts công bố năm

2010 được tác giả Phạm Văn Lam dịch sang tiếng Việt năm 2015 dưới tiêu đề Các

lí thuyết ngữ nghĩa học từ vựng Các công trình này cung cấp một cái nhìn bao quát,

toàn diện và cơ bản về các khuynh hướng lí thuyết chính trong ngữ nghĩa học từvựng, nghiên cứu ngữ nghĩa học trên phổ rộng, từ ngữ nghĩa từ vựng cho đến ngữnghĩa của câu và ngữ nghĩa của phát ngôn

Hướng nghiên cứu ngữ nghĩa học tri nhận bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam năm

1990 qua công trình Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt của tác giả

Nguyễn Lai, có điều ở vào thời điểm đó tác giả chưa dùng thuật ngữ “ngôn ngữ họctri nhận”, công trình này đã lí giải và xác định bản chất ngữ nghĩa, việc mở rộngphẩm chất nghĩa và mở rộng chức năng cú pháp của nhóm động từ chỉ hướng vận

động về phương diện hình thành cũng như phát triển Bài báo Về việc dùng hai

động từ “vào” “ra” để chỉ sự di chuyển đến một địa điểm ở phía Nam hay phía Bắc

của tác giả Nguyễn Tài Cẩn năm 1991 đã phân tích cách dùng hai động từ vào, ra dựa trên sự trải nghiệm không gian của người Việt, hay cuốn Ngữ nghĩa nhóm từ

chỉ hướng vận động trong tiếng Việt hiện đại: quá trình hình thành và phát triển của

tác giả Nguyễn Lai công bố năm 2001 cũng đã đưa ra được các luận điểm quantrọng về ngữ nghĩa học

Trang 21

Có thể nói, người đặt nền móng chính thức cho ngôn ngữ học tri nhận ở Việt

Nam là tác giả Lý Toàn Thắng qua công trình Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lí thuyết

đại cương đến thực tiễn tiếng Việt công bố năm 2005 Tiếp đến là những công trình Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy nghĩ) công bố năm 2007 và Khảo luận ẩn

dụ tri nhận công bố năm 2009 của tác giả Trần Văn Cơ,…

Bên cạnh đó cũng xuất hiện những công trình dịch thuật từ các công trình

của các tác giả nước ngoài nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận như cuốn Cognitive

Linguistics – An Introduction của tác giả David Lee công bố năm 2001 được các tác

giả Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Hoàng An dịch sang tiếng Việt năm 2015 dưới

tiêu đề Dẫn luận Ngôn ngữ học tri nhận.

Ngoài các công trình tiêu biểu này, còn rất nhiều công trình nghiên cứu khácbàn về hiện tượng chuyển nghĩa, biến đổi nghĩa của từ dưới góc nhìn của ngôn ngữ

học tri nhận như bài viết Câu chuyện tiếp tục về nghĩa của những từ đơn tiết của tác

giả Hoàng Tuệ đã phân tích sự biến đổi ngữ nghĩa của những từ đơn tiết thông qua

nghiên cứu trường hợp với từ ăn; luận án Ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của nhóm

tính từ chỉ không gian (trên ngữ liệu Anh – Việt) của tác giả Nguyễn Thị Dự đã khảo

sát ngữ nghĩa và ngữ dụng của những tính từ chỉ kích thước trong tiếng Anh; luận

án Cơ sở tri nhận của hiện tượng chuyển nghĩa tiếng Việt (trên cứ liệu của nhóm từ

định hướng và nhóm từ vị trí, có liên hệ với tiếng Nga) của tác giả Lê Thị Thanh

Tâm đã vận dụng lí thuyết ẩn dụ ý niệm để tìm ra những đặc trưng tư duy của hai

dân tộc qua các ý niệm; luận án Ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của các từ biểu đạt

tình cảm trong tiếng Anh (liên hệ với tiếng Việt) của tác giả Ly Lan đã tìm hiểu quá

trình ý niệm hóa tình cảm cơ bản thông qua các ánh xạ ẩn dụ ý niệm và ánh xạ hoán

dụ ý niệm về tình cảm trên cơ sở ngữ liệu của tiếng Anh và tiếng Việt; luận án Sự

phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận của tác giả Nguyễn Thị Hiền đã miêu tả con đường chuyển nghĩa của

nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt theo lí thuyết của ngôn ngữ học

tri nhận; hay luận án Sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác trong

tiếng Việt trên cơ sở nghiệm thân của tác giả Nguyễn Thị Hạnh Phương đã

Trang 22

dựa vào lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận nói chung cũng như lí thuyết nghiệmthân làm cơ sở để lí giải cho sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giáctrong tiếng Việt;

Như vậy, các công trình được kể đến ở trên đã kế thừa và vận dụng linh hoạtcác lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận như: ý niệm, sự ý niệm hóa, quá trình ýniệm, lí thuyết nghiệm thân, lí thuyết ẩn dụ ý niệm, cấu trúc ý niệm, phạm trù,… đểnghiên cứu nhiều vấn đề khác nhau của tiếng Việt Có thể nói, ngữ nghĩa học đãtừng bước được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam quan tâm và nhữngcông trình của họ đã có những đóng góp quan trọng trong việc đưa tri thức tổngquát về ngữ nghĩa học đến với khoa học ngôn ngữ ở Việt Nam

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về ngữ nghĩa và sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không gian theo cách tiếp cận truyền thống

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Những công trình nghiên cứu về giới từ, giới từ không gian và ngữ nghĩa củagiới từ không gian đã xuất hiện từ rất sớm Chúng ta có thể kể đến công trình sớmnhất đề cập đến giới từ là của Aristotle, một nhà triết học Hy Lạp Aristotle dựa trêncác cơ sở ngữ pháp học và lôgic học để phân chia từ thành từ nối, động từ, danh từ,

… và từ nối mà ông đề cập đến ở đây gồm có từ và giới từ Các học giả của trườngphái Alexandria lại xếp các lớp từ thành tám loại riêng biệt, trong đó có giới từ.Trường phái ngữ pháp truyền thống ở Nga và Liên Xô (cũ) cũng đã nghiên cứu từloại trong một thời gian dài, trong đó có thể kể đến các công trình của M V.Lomonoxop ở thế kỷ 18; A A Reformatkiy, L V Sherba, Iu X Xtepano, A I.Xmirnitxkiy, V M Xolxev,… ở thế kỷ XX [dẫn theo 33, tr.9]

Ở Tây Âu, các nhà ngữ pháp học và ngữ nghĩa học, tiêu biểu là các tác giả

A Gleason, W S Allen, J H Heaton, G Leech, R Quirk, S Greenbaum, J.Svartvik, M A K Halliday, R Huddleston, cũng quan tâm nghiên cứu về giới từ

và đều xếp giới từ vào loại từ chức năng, từ nối, hoặc từ trống [dẫn theo 28, tr.4]

Tác giả Bennett qua công trình Spatial and temporal uses of English

preposition: An Essay in Stratificational Semantics (Các cách sử dụng các giới từ

Trang 23

không gian và thời gian trong tiếng Anh: Một tiểu luận về ngành ngữ nghĩa học phân tầng) công bố năm 1975 đã nghiên cứu về giới từ dựa trên cách tiếp cận theo

cấu trúc – ngữ nghĩa, và dựa trên nguyên tắc “những sự tình của cùng một giới từtrong những cấu trúc khác nhau đều có liên quan nếu có thể với cùng một nghĩa,việc giả định các nghĩa về không gian là cơ bản cho phép các cấu trúc ngữ nghĩahợp lí được thiết lập và một mẫu chung được nhận thấy rõ ở sự xuất hiện các giớitừ” Các tác giả Simon Garrod, Gillian Ferrier và Siobhan Campbell qua bài báo

dưới tiêu đề In and on: investigating the functional geometry of spatial prepositions (In và on: nghiên cứu hình học chức năng của các giới từ không gian) đã chỉ ra

được làm cách nào mà các yếu tố ngữ nghĩa chức năng và hình học có thể tác độnglẫn nhau trong việc xác định các giới từ Năm 1995, tác giả Lyons công bố cuốn

Linguistics Semantics – An Introduction, trong đó khẳng định hai chức năng cơ bản

của giới từ là chức năng cú pháp và chức năng định vị

Như vậy, mặc dầu những công trình nghiên cứu về giới từ, giới từ khônggian và ngữ nghĩa của giới từ không gian đã xuất hiện từ rất sớm nhưng vấn đề nàyvẫn chưa được đào sâu, nghiên cứu kĩ trong giai đoạn này

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, các công trình bàn về giới từ, giới từ không gian và ngữ nghĩacủa giới từ không gian theo cách tiếp cận truyền thống cũng đã xuất hiện Có thể kể

đến các công trình có đề cập đến giới từ trong tiếng Việt như Ngữ pháp tiếng Việt

(Từ loại) của tác giả Đinh Văn Đức công bố năm 1986; Hư từ trong tiếng Việt hiện đại của tác giả Nguyễn Anh Quế công bố năm 1988; Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt của các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến công bố

năm 1997;… Bên cạnh đó, cũng có một số luận án chọn đối tượng nghiên cứu là

giới từ hoặc có liên quan đến giới từ như luận án Quá trình chuyển hóa của một số

thực từ thành giới từ trong tiếng Việt của tác giả Vũ Văn Thi đã phân tích và lí giải

quá trình chuyển hóa thực từ thành hư từ trên cơ sở khảo sát một số giới từ có

nguồn gốc thực từ trong tiếng Việt; luận án Vai trò của hư từ tiếng Việt trong việc

hình thành thông báo – phát ngôn của tác giả Nguyễn Văn Chính cũng đã xem xét

Trang 24

tìm hiểu về vai trò của hư từ tiếng Việt; luận án Nghiên cứu ngữ pháp và ngữ nghĩa

của giới từ tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt của tác giả Nguyễn Cảnh Hoa đã

phân tích giới từ tiếng Anh và giới từ tiếng Việt về mặt hình thức và ý nghĩa, từ đóđối chiếu đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ tiếng Anh với giới từ tiếngViệt để tìm ra những điểm giống nhau và những điểm khác nhau về chức năng ngữpháp, về hoạt động trong lời nói, về vị trí, về cấu tạo và về ngữ nghĩa của giới từtiếng Anh và tiếng Việt trong câu;…

Có thể nói, những công trình xuất hiện thời kì này nghiên cứu về các từ loạinói chung, những công trình riêng nghiên cứu sâu về giới từ, giới từ không gian vàngữ nghĩa của giới từ không gian thì còn rất hiếm

1.1.3 Tình hình nghiên cứu về ngữ nghĩa và sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không gian theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận

1.1.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Những công trình nghiên cứu về giới từ, giới từ không gian và ngữ nghĩa củagiới từ không gian theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận bắt đầu xuất hiện từthời kì hậu cấu trúc luận với cuộc cách mạng tri nhận Chúng ta có thể kể đến các

công trình như Metaphors We Live By (Chúng ta sống dựa vào ẩn dụ) của George

Lakoff và Mark Johnson công bố năm 1980, công trình này nghiên cứu về những ẩn

dụ định hướng thông qua các giới từ cụ thể như up, down,…; cuốn Language and

Spatial Cognition: An Interdisciplinary Study of the Prepositions in English (Ngôn ngữ và sự tri nhận không gian: Một nghiên cứu liên ngành về các giới từ trong tiếng Anh) của tác giả Annette Herskovits công bố năm 1986 đã nghiên cứu một

cách toàn diện về ngữ nghĩa và việc sử dụng các biểu đạt về không gian, sử dụng cả

tư duy ngôn ngữ học và trí tuệ nhân tạo; cuốn The semantics of Prepositions: From

Mental Processing to Natural Language Processing (Ngữ nghĩa của các giới từ: Từ

xử lí tư duy đến xử lí ngôn ngữ tự nhiên) được biên tập bởi Cornelia

Zelinsky-Wibbelt công bố năm 1993 đã xem xét lại vấn đề ngữ nghĩa của một số giới từ từ

góc độ tổng quát hơn; bài viết The semantics of Prepositions (Ngữ nghĩa của các

giới từ) của tác giả Priska-Monika Hottenroth công bố năm 1993 tiếp tục bàn về vấn

Trang 25

đề ngữ nghĩa của giới từ; bài viết The Semantics of Prepositions: From Mental

Processing to Natural Language (Ngữ nghĩa của các giới từ: Từ xử lí tư duy đến ngôn ngữ tự nhiên) của tác giả René Dirven công bố năm 1993 đã phân chia không

gian vật lí và tinh thần thành các phạm trù khái niệm bằng phương tiện các giới từtiếng Anh

Năm 1994, tác giả Gilles Fauconnier công bố cuốn Mental Spaces (Các

không gian tinh thần), công trình đã xây dựng cấu trúc lí thuyết về không gian tinh

thần và cho rằng không gian tinh thần chính là mô hình tri nhận lí tưởng, việc xâydựng các không gian tinh thần và thiết lập những ánh xạ giữa các không gian tinhthần này là hai quá trình chính liên quan đến việc kiến tạo ngữ nghĩa

Năm 2001, tác giả David Lee qua cuốn Cognitive Linguistics – An

Introduction đã đưa ra rất nhiều khái niệm như: sự diễn giải, phối cảnh, đưa ra cận

cảnh, ẩn dụ, khung, phạm trù tỏa tia, và bàn về một số vấn đề có liên quan đến cácgiới từ không gian, mở rộng nghĩa không gian, tính sáng tạo và bản chất của

nghĩa, trong đó có phân tích một số trường hợp cụ thể của các giới từ như: on, at,

out, through, up, (xin xem bản dịch của Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Hoàng An

“Dẫn luận Ngôn ngữ học Tri nhận” Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015).

Công trình Preposition in their Syntactic, Semantic and Pragmatic Context (Giới từ trong ngữ cảnh cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng) của các tác giả S.

Feigenbaum và D Kurzon công bố năm 2002 bàn về ngữ nghĩa của các giới từ liênquan đến ngữ cảnh của chúng

Năm 2003, các tác giả Andrea Tyler và Vyvyan Evans qua cuốn The

Semantics of English Prepositions: Spatial Scenes, Embodied Meaning and Cognition đã phân tích sâu về những trải nghiệm thuộc không gian – vật lí của con

người và cách thức thể hiện sự ý niệm hóa của con người về các quan hệ không giantrong tiếng Anh thông qua các giới từ, phân tích về hàng loạt các nghĩa gắn với các

giới từ không gian tiếng Anh như over, above, under, below, to, for, up, down, và

khẳng định vai trò quan trọng của những trải nghiệm không gian trong việc pháttriển nghĩa nói chung và nghĩa của từ nói riêng (xin xem bản dịch của Lâm Quang

Trang 26

Đông và Nguyễn Minh Hà “Ngữ nghĩa giới từ tiếng Anh: Khung cảnh không gian,

nghĩa nghiệm thân và tri nhận” Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017).

Năm 2006, các tác giả Vyvyan Evans và Melanie Green qua cuốn Cognitive

Linguistics – An Introduction (Dẫn luận ngôn ngữ học tri nhận) đã bàn về lí thuyết

nghiệm thân, cấu trúc ý niệm, lược đồ hình ảnh,… và lấy dẫn chứng qua các giới từ

không gian như in, out,… từ đó mô hình hóa các nghĩa khác nhau của một đơn vị từ

vựng dưới dạng sơ đồ tỏa tia

1.1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Những công trình nghiên cứu trong nước đầu tiên có liên quan đến vấn đềngữ nghĩa của giới từ không gian theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận có

thể kể đến như bài báo Những giới từ không gian: Sự chuyển nghĩa và ẩn dụ (năm

2005) của tác giả Nguyễn Đức Dân đã bước đầu xác định được hiện tượng chuyểnnghĩa của một số giới từ không gian, tuy nhiên bài báo phân tích chưa đầy đủ và

không theo hệ thống của từng từ cụ thể; hai công trình Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lí

thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt công bố năm 2005 và Ngôn ngữ học tri nhận những nội dung quan yếu công bố năm 2015 của tác giả Lý Toàn Thắng cũng

có bàn về một số vấn đề có liên quan đến ngữ nghĩa của các giới từ không gian như

ý niệm, sự ý niệm hóa, cấu trúc ngữ nghĩa, cấu trúc ý niệm, lược đồ hình ảnh,…trong đó tác giả cũng có bàn đến cách định hướng không gian và những cách thứcbiểu đạt chúng trong ngôn ngữ, ngôn ngữ và bản đồ tri nhận không gian, và phân

tích một số trường hợp cụ thể của các giới từ tiếng Anh và tiếng Việt như: out, in,

into, across, through, trên, dưới, trước, sau, trong, ngoài, ra, qua,…; tác giả

Nguyễn Văn Hiệp qua bài báo Ngữ nghĩa của “RA” “VÀO” trong tiếng Việt nhìn

từ góc độ nghiệm thân công bố năm 2013 đã phân tích nghĩa gốc và các nghĩa phái

sinh của từ “ra” và “vào” dựa trên giả thuyết nghiệm thân, và đã tổng kết được cơ

sở nghiệm thân cho những con đường phát triển ngữ nghĩa của từ “ra” và “vào”, tạo

thành một phạm trù lan tỏa với mạng lưới nhiều ý niệm có liên hệ với nhau

Bên cạnh đó cũng đã có một số luận án chọn đối tượng nghiên cứu là giới từkhông gian hoặc có liên quan đến giới từ không gian theo cách tiếp cận của ngôn

Trang 27

ngữ học tri nhận như luận án Nghiên cứu giới từ định vị theo hướng ngữ dụng (trên

cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt) của tác giả Trần Quang Hải có bàn về vấn đề

chuyển nghĩa của các giới từ định vị; luận án Ngữ nghĩa của các giới từ chỉ không

gian trong tiếng Anh (trong sự đối chiếu với tiếng Việt) của tác giả Lê Văn Thanh

nghiên cứu về ngữ nghĩa và ngữ dụng của các giới từ at, on, in trong tiếng Anh dựa

vào cách thức xử lí nghĩa giới từ tiếng Anh của A Herskovits, theo đó mỗi giới từđều có một nghĩa lí tưởng có tính hình học tồn tại trong một thế giới lí tưởng củacác đường, điểm, bề mặt và của các mối quan hệ như: bao hàm, tiếp xúc, giao nhau;

luận án Đối chiếu tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện chuyển đổi ngữ nghĩa của

tác giả Đặng Đức Hoàng đã nghiên cứu về phương thức, cơ chế phổ biến của sựchuyển nghĩa từ vựng tiếng Việt (trong sự đối chiếu với tiếng Anh), từ đó nêu lên

được những đặc trưng văn hóa qua lối tư duy của hai dân tộc; luận án Giới từ trong

thành ngữ tiếng Anh (có so sánh với thành ngữ tiếng Việt) của tác giả Trịnh Thu

Hương nghiên cứu về quá trình phát triển ngữ nghĩa của in, on, at, out trong thành ngữ tiếng Anh và các từ tương đương vào, ra, trong, trên trong thành ngữ tiếng Việt, từ đó so sánh quá trình phát triển ngữ nghĩa và biến đổi từ loại của in, on, at,

out trong thành ngữ tiếng Anh với các từ tương đương vào, ra, trong, trên trong

thành ngữ tiếng Việt, nhấn mạnh vào nghĩa không gian và phi không gian của giới

từ cũng như là nhân tố tạo nên tính súc tích và bóng bẩy của thành ngữ;…

Căn cứ vào kết quả khảo sát, thống kê các tài liệu liên quan trực tiếp đến đềtài như trên, chúng tôi nhận thấy, giới từ không gian là một nhóm từ quan trọngtrong tiếng Anh và tiếng Việt, và trong gần ba thập kỉ qua, vấn đề về ngữ nghĩa củagiới từ không gian theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận đã thu hút đượcnhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu Thực tế cho thấy cũng đã có những côngtrình, bài viết bàn về vấn đề này theo những cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, cáccông trình mới chỉ dừng lại là các công trình bàn về các vấn đề chung chung củagiới từ không gian hay có bàn về ngữ nghĩa, sự chuyển đổi ngữ nghĩa của một sốgiới từ không gian nhưng phân tích chưa đầy đủ và không theo hệ thống của từng từ

cụ thể, mức độ nghiên cứu ở những từ không đều nhau trong mỗi công trình khi có

Trang 28

những từ được khảo sát rất sâu, có những từ mới chỉ được nhận diện một cách kháiquát Cho đến thời điểm hiện tại, theo hiểu biết của chúng tôi, chưa có một côngtrình nghiên cứu riêng nào đề cập tới vấn đề ngữ nghĩa và sự phát triển, mở rộng

ngữ nghĩa của các giới từ không gian là “out, in, up, down” trong tiếng Anh và các biểu hiện tương đương lần lượt là “ra, vào, lên, xuống” trong tiếng Việt, và chưa có công trình nào đối chiếu ngữ nghĩa của “out với ra”, “in với vào”, “up với lên”,

“down với xuống” theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận Chính vì thế, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Đối chiếu ngữ nghĩa của các giới từ không gian

“OUT, IN, UP, DOWN” trong tiếng Anh với “RA, VÀO, LÊN, XUỐNG” trong tiếng Việt theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận” và nhận thấy việc thực

hiện đề tài này là một việc làm cần thiết, mang ý nghĩa khoa học

1.2 Cơ sở lí thuyết

1.2.1 Về ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu và nghiên cứu đối chiếu ngữ nghĩa và tương đương về ngữ nghĩa của từ giữa các ngôn ngữ

1.2.1.1 Về ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu

Thuật ngữ so sánh, đối chiếu thường được dùng để chỉ phương pháp hoặc

phân ngành nghiên cứu lấy đối tượng chủ yếu là hai hay nhiều ngôn ngữ Mục đíchcủa nghiên cứu là làm sáng tỏ những nét giống nhau và khác nhau giữa hai haynhiều ngôn ngữ được đưa ra so sánh, đối chiếu Nguyên tắc nghiên cứu chủ yếu lànguyên tắc đồng đại [58, tr.37]

Trong ngôn ngữ học Anh, lúc đầu người ta dùng phổ biến thuật ngữ so sánh (comparative) để chỉ ngôn ngữ học so sánh (comparative linguistics) trong nghĩa rộng và nghĩa hẹp của từ này; dần dần về sau, thuật ngữ so sánh cũng được dùng để chỉ cả nội dung đối chiếu, và cho đến gần đây, thuật ngữ ngôn ngữ học đối chiếu (contrastive linguistics) mới được dùng với nghĩa của nó một cách phổ biến, tức là

chỉ một phân ngành nghiên cứu riêng – nghiên cứu đối chiếu Ngôn ngữ học đối

chiếu ở Mĩ lúc đầu cũng dùng thuật ngữ comparative – comparison với nội dung đối chiếu; từ 1960 trở lại đây, thuật ngữ contrastive linguistics được dùng phổ biến hơn.

[58, tr.37-38]

Trang 29

Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu đối chiếu giữa các ngôn ngữ đã được bàn

đến trong các công trình như Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ của tác giả Lê Quang Thiêm và Ngôn ngữ học đối chiếu của tác giả Bùi Mạnh Hùng Tác giả Lê

Quang Thiêm cho rằng, nghiên cứu đối chiếu ra đời là từ yêu cầu giảng dạy và họctập ngoại ngữ, và kết quả nghiên cứu sẽ phục vụ tốt hơn cho quá trình đó Bên cạnh

đó, ngôn ngữ học đối chiếu giúp ích rất nhiều cho lí luận ngôn ngữ học và giải quyếtnhững vấn đề đang đặt ra của lí luận ngôn ngữ học như: vấn đề phổ niệm, ngữ phápphổ quát, đặc trưng học, loại hình học,… [58, tr.44-45] Tác giả Bùi Mạnh Hùngcho rằng, ngôn ngữ học đối chiếu ngày càng thu hút được nhiều sự quan tâm củagiới nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ, đặc biệt là những người giảng dạy ngoạingữ, sự quan tâm này xuất phát từ những nỗ lực vượt khỏi cái khuôn khổ thuần túythực hành tiếng để hướng đến việc dạy tiếng có hiệu quả và có chiều sâu hơn trên cơ

sở nghiên cứu những điểm giống nhau và khác nhau giữa tiếng Việt và các ngoạingữ mà họ giảng dạy [31, tr.27] Ngôn ngữ học đối chiếu không những được ứngdụng nhiều vào lĩnh vực giảng dạy và học tập ngoại ngữ mà còn được ứng dụng vàocác lĩnh vực khác của ngôn ngữ học đối chiếu như giáo dục song ngữ, dịch thuật vànghiên cứu về lí luận dịch thuật [31, tr.84-85]

Bằng nghiên cứu đối chiếu, dần dần người ta sẽ phát hiện ra nhiều loại giốngnhau và khác nhau giữa các ngôn ngữ mà chưa được ngôn ngữ học so sánh lịch sử,ngữ vực học và loại hình học nghiên cứu Không bị giới hạn bởi các thiên kiến ngữ

hệ và loại hình, nghiên cứu đối chiếu có nhiệm vụ phát hiện, xác định và nhận diệnnhững điểm giống nhau và khác nhau về cấu trúc, chức năng và hoạt động của cácphương tiện ngôn ngữ được nghiên cứu Tất cả những điều này tạo nên cái đặctrưng của ngôn ngữ học đối chiếu so với các phân ngành khác đã có [58, tr.46-47]

Như vậy, bằng nghiên cứu đối chiếu, mục đích cuối cùng của luận án chính

là tìm ra, xác định rõ và nhận diện những điểm giống nhau và khác nhau về ngữnghĩa được thể hiện qua một số giới từ không gian trong tiếng Anh và các tươngđương trong tiếng Việt theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận

Trang 30

1.2.1.2 Nghiên cứu đối chiếu ngữ nghĩa và tương đương về ngữ nghĩa của

từ giữa các ngôn ngữ

Theo tác giả Lê Quang Thiêm, nghiên cứu đối chiếu ngữ nghĩa của từ giữahai hay nhiều ngôn ngữ là để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau về ngữnghĩa của từ giữa hai hay nhiều ngôn ngữ đó, và để thực hiện điều này thì phải tiếnhành đối chiếu trên bậc các nét nghĩa Giả định rằng, tất cả nội dung nghĩa từ trongnhóm là một tiểu hệ thống, chúng cấu tạo từ các nét nghĩa và các quan hệ, liên hệliên kết những nét nghĩa lại thành các nghĩa và toàn cấu trúc nghĩa của từ, từ đó tiếnhành phân chia nội dung nghĩa thành các nét nghĩa Kết quả thu được qua phân tích

là các nét nghĩa của các từ riêng lẻ Tài liệu phân tích có thể sử dụng kết quả ở các

từ điển tường giải, điều chỉnh và bổ sung chúng theo một phương pháp thống nhất

và kiểm tra lại bằng ngữ liệu thực tế ở các tác phẩm văn học, ở sinh ngữ Phươngthức xác lập các nét nghĩa thực hiện qua sự đối lập các từ và xác lập các dạng thức

từ và loại hình kết hợp trong lời nói (văn bản) Sự đối lập trước hết là một cặp từ,sau đó thực hiện với toàn nhóm Để thấy được mặt đối lập, khác biệt nghĩa, các từluôn luôn phải ở thế đối lập trong một bối cảnh đồng nhất Kết quả thu được vì vậy

có nhiều loại nét nghĩa khác nhau do các phạm vi đối lập đồng nhất khác nhau đưalại Mỗi nghĩa luôn luôn bao gồm trong nó những nét nghĩa đồng nhất và khu biệt.[58, tr.258-259]

Việc tháo gỡ, xác định các nét nghĩa được thực hiện trong quá trình phân tíchđối chiếu nghĩa Nội dung nghĩa của các từ được phân tích triệt để phản ánh qua cácnét nghĩa Nét nghĩa xác lập trong đối lập đồng nhất nêu trên cần được bổ sung, mởrộng thêm qua khảo sát văn bản Chính sau khi lần tìm hết tất cả các nét nghĩa bộc

lộ ở nhiều phạm vi khác nhau trong ngôn ngữ và lời nói, trong quan hệ với hiệnthực và thuần túy ngôn ngữ, chúng ta mới phát hiện hết các nét nghĩa của từ Toàn

bộ nét nghĩa của từ có trong hai ngôn ngữ được phát hiện đã cho ta cơ sở để so sánh,đối chiếu, để xác định cái giống và cái khác giữa các cặp từ, nghĩa và nhóm từ -nghĩa tương ứng [58, tr.260-261]

Trang 31

Theo cách hiểu thông thường, tương đương là “ngang nhau, xấp xỉ nhau” Cơ

sở của các xác định “ngang nhau, xấp xỉ nhau” ở các đơn vị đối chiếu thường có haikhả năng: 1) Nếu các đơn vị đối sánh được xét cả hai mặt như một chỉnh thể (mặt

âm và nghĩa) thì ta có đơn vị tương đương cả hai mặt đó, nó vừa giống nhau về mặt

âm vừa giống nhau về nghĩa, trường hợp này chúng ta có các từ song song, songhành trong các ngôn ngữ; 2) Cơ sở đối sánh chỉ là mặt nghĩa, đây chính là phạm vixác định tương đương mà chúng ta đang bàn, tức cũng có nghĩa là khả năng tươngđương được xác định chủ yếu về mặt nghĩa của đơn vị Nói một cách cụ thể, hai đơn

vị trong hai ngôn ngữ khác nhau được coi là tương đương khi chúng là các đơn vịkhác nhau về mặt vật chất âm thanh nhưng ngang nhau về nghĩa Muốn xác định cáctương đương đòi hỏi phải đi vào tìm các tương ứng nội dung xác định của các đơn

vị Tương đương là ngang bằng nhưng không giống nhau hoàn toàn, không đồngnghĩa Như vậy, tương đương được xác định bằng sự ngang bằng một nội dung xác

định của đơn vị, sự ngang bằng chính là sự trùng nhau ở một phần cơ bản của nội

dung nghĩa xác định các đơn vị tương ứng [58, tr.287-288]

Khi nói về tương đương ở cấp độ từ, ta thấy các mức độ và loại hình tươngđương sau đây: 1) Những đơn vị từ đơn nghĩa và nghĩa của hai ngôn ngữ giốngnhau Những từ này thường là các thuật ngữ có phạm vi sử dụng hạn chế Đây làtrường hợp mà nội dung thuật ngữ hầu như hoàn toàn giống nhau trong hai ngônngữ đối chiếu Một bộ phận nhỏ là những từ thường đơn nghĩa; 2) Những đơn vịtương đương cũng có thể là từ đa nghĩa (thường là những từ 2 nghĩa) Những từnhiều hơn 2 nghĩa rất ít có sự tương đương Ngay trong trường hợp chỉ xét thành tốnội dung là chủ yếu cũng ít gặp tương đương và càng hiếm trường hợp tương đươngbao gồm cả thành tố nội dung lẫn cấu trúc nghĩa; 3) Loại tương đương thường gặp

là tương đương của nội dung một nghĩa cụ thể của từ ở ngôn ngữ gốc với ngôn ngữđối chiếu Thuộc loại tương đương này thường gặp là nghĩa của một từ đơn nghĩavới một trong các nghĩa của từ đa nghĩa Một tiểu loại thứ 2 là tương đương của cácnghĩa cùng loại: cơ bản với cơ bản, phái sinh với phái sinh Và cuối cùng là tương

Trang 32

đương của nghĩa khác loại: cơ bản với không cơ bản, nghĩa đen với nghĩa bóng,…[58, tr.289]

Như vậy, luận án dựa vào lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận để tiến hành

đối chiếu ngữ nghĩa của các giới từ không gian “out, in, up, down” trong tiếng Anh với các biểu hiện tương đương lần lượt là “ra, vào, lên, xuống” trong tiếng Việt, các

biểu hiện tương đương trong tiếng Việt chính là các biểu hiện tương đương về nghĩagốc nghiệm thân của các giới từ không gian trong tiếng Anh

1.2.2 Ngữ nghĩa của từ và sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của từ theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận

1.2.2.1 Ngữ nghĩa của từ theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận

Ngữ nghĩa học hình thức có nhiều cách hiểu khác nhau về bản chất củanghĩa, J Lyons [43, tr.57] đã tổng hợp sáu cách hiểu quan trọng sau đây:

Thuyết quy chiếu hay thuyết sở thị (denotational) cho rằng, nghĩa của một

biểu thức chính là đối tượng mà biểu thức đó chỉ ra (hay biểu thị) hoặc đại diện

Thuyết ý niệm (ideational) hay thuyết tâm lí (mentalistic) cho rằng, nghĩa của

một biểu thức là ý niệm, hay khái niệm, gắn với nó trong tư duy của những ai biết

và hiểu được biểu thức đó

Thuyết hành vi (behaviourist) cho rằng, nghĩa của một biểu thức hoặc là cái

kích thích gợi ra nó hay cái phản ứng mà nó gợi ra, hoặc là sự kết hợp của cả haithứ này trong một tình huống phát ngôn cụ thể

Thuyết nghĩa-là-cách-dùng (meaning-is-use) cho rằng, nghĩa của một biểu thức

được xác định bởi, nếu không nói là đồng nhất với, cách dùng nó trong ngôn ngữ

Thuyết thẩm định (verificationist) cho rằng, nếu một biểu thức có nghĩa thì cái

nghĩa này được xác định bởi chứng cứ lấy từ câu hay mệnh đề chứa biểu thức đó

Thuyết điều kiện chân trị (truth-conditional) cho rằng, nghĩa của một biểu

thức là sự đóng góp của nó vào điều kiện chân trị của câu chứa nó

Cũng theo J Lyons, không có thuyết nào trong số sáu lí thuyết về nghĩa kểtrên tự mình làm thành cơ sở cho một lí thuyết ngữ nghĩa học toàn diện và giàu sứcgiải thích thực tiễn Song mỗi thuyết như vậy đều có đóng góp theo một cách nào

Trang 33

đó, tạo thành tri thức nền cho những ai đang nỗ lực xây dựng một lí thuyết như vậy.[43, tr.57-58] Những cách hiểu khác nhau về bản chất của nghĩa như trên được gọi

là ngữ nghĩa học khách quan – một thứ ngữ nghĩa học dựa vào niềm tin siêu hình cơ

sở: các phạm trù trong hiện thực khách quan tồn tại một cách độc lập với ý thứccùng với những đặc tính và những quan hệ của chúng Tương ứng với quan niệmnhư vậy, các tín hiệu ngôn ngữ là có nghĩa vì rằng chúng liên hệ với những phạmtrù khách quan đó của hiện thực [dẫn theo 59, tr.66]

Ở Việt Nam, vận dụng những thành tựu nghiên cứu về nghĩa vào thực tiễntiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học cũng đã đưa ra nhiều nhận định về nghĩa Có thể

kể đến những nhận định về nghĩa của các tác giả tiêu biểu như sau:

Tác giả Nguyễn Văn Tu là người đầu tiên đề cập đến sơ đồ tam giác nghĩa,viện dẫn cả tam giác nghĩa của tác giả Zveginxev và cho rằng, nghĩa từ vựng của từđược quy định bằng những yếu tố tác động lẫn nhau như: thuộc tính của đối tượng,khái niệm về đối tượng, hệ thống ngôn ngữ giúp cho việc diễn đạt nghĩa [62,tr.105]

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã tổng hợp khá kĩ các quan niệm về nghĩa vàthấy nổi lên hai khuynh hướng: 1) Cho nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đốitượng, khái niệm, sự phản ánh,…); 2) Cho nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan

hệ của từ với đối tượng hoặc quan hệ của từ với khái niệm), tác giả nhận thấy rằng

“những ý kiến cho nghĩa của từ là quan hệ gần gũi với chân lí hơn” “nghĩa của từ làmột đối tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố đơn giản hơn” như sau: “nghĩa sởchỉ”, “nghĩa sở biểu”, “nghĩa sử dụng”, “nghĩa kết cấu” [18, tr.126]

Tác giả Hoàng Văn Hành chấp nhận nghĩa theo cách hiểu “phản ánh của hiệnthực khách quan vào ý thức và được thể hiện ở ngôn ngữ của A I Sminixki, và ápdụng phương pháp phân tích thành tố để xác định cấu trúc nghĩa từ vựng của từ”[dẫn theo 59, tr.84] Tác giả Hoàng Phê quan niệm rằng: (1) Ngữ nghĩa quan hệ trựctiếp với nhận thức và qua nhận thức, quan hệ với hiện thực, nhờ đó ngôn ngữ thựchiện chức năng chủ yếu của nó là công cụ tư duy và công cụ giao tiếp; (2) Nghĩacủa từ cần được nghiên cứu trong mối quan hệ nhiều mặt, không những trong quan

Trang 34

hệ với nhận thức và với hiện thực, mà còn quan hệ với cấu trúc nội tại, cũng nhưtrong quan hệ hệ thống và quan hệ tổ hợp với những nghĩa từ khác trong ngữ, trongcâu, trong lời [dẫn theo 59, tr.84]

Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng, nghĩa của từ là một thực thể tinh thần cùngvới phương diện hình thức lập thành một thể thống nhất gọi là từ, ý nghĩa từ vựngbao gồm bốn thành phần ý nghĩa: ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm, ý nghĩa liênhội và ý nghĩa biểu thái [dẫn theo 59, tr.85]

Tác giả Lê Quang Thiêm cho rằng, nghĩa là một thực thể tinh thần trừu tượngtồn tại trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ để ngôn ngữ thực hiện chức năngcủa công cụ giao tiếp và tư duy cũng như mọi loại chức năng cụ thể đa dạng khác,đặc biệt là trong lời nói, trong văn bản, diễn ngôn Nghĩa là nội dung xác định hìnhthành nhờ chức năng, song không là chức năng riêng rẽ trong hoạt động mà là một

loại chức năng thể hiện qua văn cảnh, nội dung của ngữ nghĩa học bao gồm: ngữ

nghĩa học từ vựng, ngữ nghĩa học ngữ pháp và ngữ nghĩa học ngữ dụng [59,

tr.86-87]

Khác với quan niệm của ngữ nghĩa học hình thức, ngữ nghĩa học tri nhậnquan niệm rằng con người không tới gần được một hiện thực độc lập và vì vậy cấutrúc của hiện thực được phản ánh trong ngôn ngữ là một sản phẩm của trí tuệ conngười Cái chân và cái ngụy ngôn ngữ học phải liên hệ với cách quan sát, diễn dịch,hoàn cảnh mà cách quan sát và diễn dịch hoàn cảnh đó lại được dựa trên cái khungquan niệm của họ và họ dùng ngôn ngữ nào để phản ánh chúng Như vậy, ý nghĩathuộc phạm trù tinh thần, phạm vi ý thức, ngữ nghĩa đề cao vai trò của nhận thức,của sự tri nhận, đề cao sự cảm nhận, hình dung, tưởng tượng trong hình thành, nhậndiện, phân tích nghĩa [59, tr.66-67]

Theo hướng tiếp cận biểu hiện ngữ nghĩa tri nhận, các tín hiệu ngôn ngữ (từ,ngữ, câu) không phải tồn tại với hình thức và nội dung có sẵn để đánh dấu, phản ánhthế giới mà nó hình thành bắt đầu từ ý thức, từ sự hiểu biết, cảm nhận của conngười Một ý niệm, một cảm xúc xuất hiện đòi hỏi một hình thức biểu hiện củangôn ngữ Với tri thức ngôn ngữ học, việc thay một từ, biến một âm, thay đổi trật tự

Trang 35

tổ hợp là thay đổi nghĩa Sự việc bắt đầu từ nghĩa, từ cái được biểu hiện rồi mới cócái biểu hiện Và khi tín hiệu hình thành thì do sử dụng, do sự sáng tạo của ngườinói mà ở nhiều từ ngữ, hình thức không thay đổi nhưng nghĩa lại thay đổi nhiều,nghĩa biến đổi không ngừng, đó là hiện tượng đa nghĩa, là sự chuyển nghĩa, pháttriển nghĩa Trong ngôn ngữ cũng như lời nói, chúng ta cũng thường gặp cùng mộtnội dung, một cái được biểu hiện nhưng lại có nhiều hình thức biểu hiện, chuyểndịch từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác có nhiều hình thức biểu hiện khác nhau,

đó là đồng nghĩa và biến thể phiên dịch [59, tr.67]

Từ những cách hiểu nghĩa theo hướng ngữ nghĩa học tri nhận như trên có thểđưa ra những nhân tố ưu tiên quy định nghĩa không chỉ cho từ mà cho biểu thức

ngôn ngữ nói chung lần lượt như sau: người nói (sử dụng và sáng tạo, sự tri nhận),

chức năng tín hiệu (nhân tố quan trọng nhất), văn cảnh (ngữ cảnh) sử dụng tín hiệu

và hệ thống ngôn ngữ Khi phân tích nghĩa, hướng tri nhận biểu hiện lấy tri thức, lấy

hiểu biết của con người làm trọng, xuất phát từ nhận thức, sự tri nhận mà xác định

sự hình thành, biểu hiện nghĩa, lấy nhân tố người nói và việc sử dụng, tức tri thứcngười nói cá nhân và cộng đồng làm điểm xuất phát Như vậy, nghĩa được coi làmột phẩm chất tinh thần biểu hiện trong tín hiệu ngôn ngữ – nghĩa được dựa trên sựtri nhận định hình ở cấu trúc khái niệm thông tục quy ước hóa Cấu trúc ngữ nghĩatuân theo quy luật tri nhận ánh xạ của những phạm trù tri nhận tinh thần mà conngười đã hình thành từ kinh nghiệm của họ trong quá trình lớn lên và tư duy giaotiếp trong xã hội được biểu hiện bằng phương tiện ngôn ngữ xác định [59, tr.69-71]

1.2.2.2 Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của từ theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận

Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của từ cũng là một trong những nội dungnghiên cứu được quan tâm đặc biệt, các công trình có liên quan đều bàn đến nhữngnguyên nhân dẫn đến sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của từ Tác giả Lê Thị ThanhTâm [50, tr.3-5] đã chỉ ra rằng, hiện nay, trên thế giới việc nghiên cứu hiện tượng

chuyển nghĩa có thể chia theo ba khuynh hướng chính: Khuynh hướng thứ

Trang 36

nhất là nghiên cứu hiện tượng chuyển nghĩa theo quan điểm lôgic học mà người

khởi xướng là Paul, những quan điểm của ông về hiện tượng chuyển nghĩa được thểhiện qua việc lập bảng phân loại lôgic học các hiện tượng chuyển nghĩa, và quabảng phân loại này, ông so sánh các nghĩa trước và sau khi biến đổi, từ đó tìm ra

mối quan hệ lôgic giữa các nghĩa này; Khuynh hướng thứ hai là nghiên cứu sự

chuyển nghĩa theo quan điểm tâm lí học với đại diện tiêu biểu là Wundt, các tác giảtheo khuynh hướng nghiên cứu này cho rằng, sự chuyển nghĩa xuất phát từ tâm lí và

tìm cách lí giải con đường chuyển nghĩa theo quy luật tâm lí; Khuynh hướng thứ ba

là nghiên cứu sự chuyển nghĩa theo quan điểm lịch sử mà tiêu biểu là Wellander,các tác giả theo khuynh hướng nghiên cứu này cho rằng, sự chuyển nghĩa là mộtquá trình lịch sử, và chỉ trưởng thành một cách vừa ý khi được chứng thực trong quátrình thực tế, và với quan niệm này, họ cho rằng, nguyên nhân chủ yếu của hiệntượng chuyển nghĩa là do sự vận động biến đổi của lịch sử xã hội và kết quả của quátrình chuyển nghĩa được bảo lưu trong ý nghĩa mới của từ

Theo Aitchison [dẫn theo 29, tr.9], sự chuyển nghĩa trong tiếng Anh do hainguyên nhân chính: nguyên nhân khách quan (yếu tố xã hội) và nguyên nhân chủquan (do đặc điểm thuộc về bản chất của ngôn ngữ và tâm lí của người sử dụng) F

de Saussure cũng cho rằng: “Phong tục của một dân tộc các tác động đến ngôn ngữ

và mặt khác, trong chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc”

[16, tr.106] Nhiều nhà ngôn ngữ học sau này đồng quan điểm với Aitchison vàSaussure khi cho rằng, ngôn ngữ là thành tố của văn hóa, là phương tiện của vănhóa, là tiền đề cho văn hóa phát triển Ngôn ngữ chính là nơi lưu giữ và thể hiện nétđặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc

Một số quan điểm khác, đại diện là Fromkin, cho rằng có hai nguyên nhânchính dẫn đến hiện tượng biến đổi nghĩa: do sự cấu trúc lại ngôn ngữ khi trẻ họctiếng và sự biến đổi tâm lí của người học ở các giai đoạn, các thế hệ khác nhau [dẫntheo 29, tr.9]

Ở Việt Nam, những vấn đề về nguyên nhân của sự chuyển nghĩa, các quyluật chuyển nghĩa, mối quan hệ giữa các nghĩa, các hướng chuyển nghĩa,… cũng đã

Trang 37

được tập trung luận giải Tác giả Nguyễn Thiện Giáp và Đỗ Hữu Châu cho rằng, sựphát triển nghĩa của từ chủ yếu dựa vào hai phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ vàchuyển nghĩa hoán dụ Tác giả Nguyễn Đức Dân đã bước đầu xác định được hiệntượng chuyển nghĩa từ nghĩa không gian hình học trở thành những nghĩa không giantrừu tượng; quan hệ không gian trở thành quan hệ thời gian; quan hệ không gian trởthành những quan hệ về thuộc tính của các không gian;… [11, tr.42-50] Tác giảNguyễn Lai [37] đã lí giải việc mở rộng ngữ nghĩa của nhóm động từ chỉ hướng vậnđộng có xuất xứ từ động từ, và trong quá trình biến động, do “hư hóa” nghĩa gốc,chúng thay đổi có thể chiếm giữ nhiều vị trí không phải động từ Tác giả Trần

Quang Hải [22] đã kết luận nghĩa của giới từ định vị có 3 loại gồm nghĩa lí tưởng,

nghĩa sử dụng và nghĩa tình huống.

Qua các công trình nghiên cứu, các nhà ngôn ngữ học cũng thừa nhận rằng,trong quá trình mở rộng và phát triển ngữ nghĩa, các nghĩa cũ và nghĩa mới của từ

có mối quan hệ với nhau theo cách nào đó, các nghĩa mới (nghĩa phái sinh) thườngđược nảy sinh trên cơ sở một hay vài nét nghĩa cơ bản trong cấu trúc biểu niệm của

từ Tác giả Đỗ Hữu Châu gọi nét nghĩa cũ, cơ bản đó là nét nghĩa cơ sở và định

nghĩa “Nét nghĩa cơ sở của cấu trúc biểu niệm trung tâm sẽ đảm bảo cho sự thống

nhất giữa các ý nghĩa biểu vật Như thế, các nghĩa biểu vật của một từ tuy khác nhau, tuy đối lập nhau - nhưng giữa chúng vẫn có sự thống nhất trên cơ sở nét nghĩa chung Nói khác đi, các ý nghĩa khác nhau của một từ lập nên một hệ thống ngữ nghĩa trong lòng một từ nhiều nghĩa” [3, tr.133].

Trong quá trình mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của từ, có trường hợp nétnghĩa cơ sở (nghĩa gốc) không còn tồn tại mà chỉ tồn tại các nghĩa mới (nghĩa pháisinh) nhưng thường thì cả nghĩa gốc và nghĩa phái sinh đều cùng tồn tại, cùng hoạtđộng Vì vậy, việc xác định nghĩa gốc và nghĩa phái sinh (nghĩa chuyển) có ý nghĩaquan trọng bởi các nét nghĩa trong nghĩa gốc là căn cứ quan trọng làm cơ sở để tậphợp các nghĩa chuyển và xác định các hướng chuyển nghĩa của từ

Tóm lại, theo cách tiếp cận của ngữ nghĩa học tri nhận (rộng hơn là ngôn ngữhọc tri nhận), ý nghĩa của từ có được không phải là do quan hệ phản ánh (trực tiếp

Trang 38

hoặc gián tiếp) hay biểu hiện các thực thể của thế giới khách quan bên ngoài; mà từ

có nghĩa là vì nó biểu đạt cái ý niệm có trong tâm trí chúng ta về thực thể nào đó Ýnghĩa (được gắn kết với một biểu hiện) liên đới với một biểu diện tinh thần là ýniệm Ý niệm đi ra và đi lên từ (cái) “tri giác/cảm thụ” (hay nói cách khác từ “hìnhảnh tinh thần”) Các ý nghĩa (được mã hóa bởi các biểu hiện) biểu thị cái “thực tạiđược quy chiếu” – tức là một biểu diện tinh thần về thực tại vốn được “môi giới”bởi các hệ thống tri giác và ý niệm của chúng ta và được “thuyết giải” bởi tâm trí

của chúng ta [55, tr.53] Như vậy, sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa thực chất là sự

phát triển ý niệm; cấu trúc ngữ nghĩa về bản chất chính là sự biểu diện của cấu trúc

ý niệm và mạng lưới tỏa tia chính là mô hình phát triển của cấu trúc ý niệm được

biểu hiện qua mạng ngữ nghĩa Cấu trúc ý niệm mang tính tầng bậc, theo đó cấu trúc

tỏa tia cũng mang tính tầng bậc Và bởi vì ý niệm thuộc về tư duy, gắn với sự sáng

tạo của người sử dụng ngôn ngữ trong những ngữ cảnh khác nhau theo những trảinghiệm mang tính nghiệm thân nên không có giới hạn; mạng ngữ nghĩa theo môhình tỏa tia chính vì thế cũng không xác định giới hạn phát triển,…

Theo định hướng này, khi nghiên cứu sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa củacác giới từ không gian trên cơ sở nghiệm thân, ngoài việc xác định các nghĩa như làkết quả của sự phát triển ý niệm, luận án đặt vấn đề tập trung vào diễn giải nhữngtrải nghiệm nghiệm thân như là lí do cho sự hình thành, diễn tiến những con đường

mở rộng, phát triển ngữ nghĩa Miêu tả sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của cácgiới từ không gian trên cơ sở nghiệm thân chính là sự diễn giải những con đườngbiểu diễn tinh thần, cũng là miêu tả sự phát triển của cấu trúc ý niệm trong quá trìnhtương tác trải nghiệm tạo nghĩa theo góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận

Ở đây, cần lưu ý rằng từ vựng – ngữ nghĩa học trước đây đã nghiên cứu sự

mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của các từ (một hiện tượng phổ quát, do quan hệ giữacái biểu đạt và cái được biểu đạt về cơ bản là quan hệ võ đoán và không nhất thiếtphải là 1-1) đã chỉ ra sự khác biệt giữa nghĩa gốc và nghĩa phái sinh, nghĩa đen vànghĩa bóng (hay nghĩa chuyển),… Ngôn ngữ học tri nhận cũng nghiên cứu quá trình

mở rộng, phát triển ngữ nghĩa như vậy, nhưng sự khác biệt mà ngôn ngữ học tri

Trang 39

nhận mang đến chính là lí luận về nghĩa không gian (dựa trên các sơ đồ ý tượng) và

mở rộng nghĩa không gian trên cơ sở nghiệm thân, tạo thành các hệ thống tỏa tia.Đây cũng là điều mà luận án của chúng tôi muốn thực hiện

1.2.3 Khái quát về giới từ và giới từ không gian trong tiếng Anh và tiếng Việt

1.2.3.1 Về giới từ trong tiếng Anh và tiếng Việt

Giới từ trong tiếng Anh và tiếng Việt (cũng như ở tất cả các ngôn ngữ trênthế giới) là một lớp từ thông dụng, quan trọng cả trên phương diện ngữ pháp cũngnhư trong việc tạo nên nghĩa của câu Các tác giả nước ngoài và ở trong nước đãđưa ra nhiều định nghĩa về giới từ, chúng tôi xin nêu ra một số định nghĩa tiêu biểunhư sau: Theo Michael Swan, giới từ là những từ như on, off, of, into, và thường đitheo sau nó là một danh từ hay một đại từ Theo David Thatcher, giới từ là một loại

từ loại dùng để nối hoặc liên hệ một phần của câu, thường là danh từ, hay đại từ,hay động từ dưới hình thức V+ing hay một bổ ngữ (complement) tương đương với

các phần khác của câu hay với cả câu [dẫn theo 33, tr.42] Theo cuốn Oxford

Advanced Learner’s Encyclopedic Dictionary, về mặt ngữ pháp, giới từ được định

nghĩa là từ hoặc nhóm từ (ví dụ: in, from, to, out of, on behalf of) được sử dụng một

cách đặc biệt trước một danh từ hoặc đại từ để chỉ địa điểm, vị trí, thời gian, cách

thức, [104, tr.707] Theo cuốn Oxford Advanced Learner’s Dictionary, giới từ là một từ hay một nhóm từ, như là in, from, to, out of và on behalf of, được sử dụng

trước một danh từ hoặc đại từ để chỉ không gian, vị trí, thời gian hay cách thức [89,tr.1244] Theo tác giả Nguyễn Kim Thản, giới từ là một loại hư từ (trong nhóm quan

hệ từ) có tác dụng nối liên từ phụ (hoặc từ tổ phụ) với từ chính (hoặc từ tổ chính)biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa hai đơn vị đó [dẫn theo 33, tr.51] Theo tác giả VũVăn Thi [57], giới từ là một loại hư từ thuộc nhóm quan hệ từ, có chức năng thểhiện mối quan hệ cú pháp giữa thành phần chính và thành phần phụ trong câu,…

Theo cuốn Từ điển tiếng Việt, giới từ là kết từ dùng để nối hai từ hoặc hai bộ phận câu có quan hệ chính phụ Các từ “bằng”, “của”, “để” trong “nhà bằng gạch”,

“sách của tôi”, “viện cớ để từ chối” là những giới từ trong tiếng Việt [66, tr.526].

Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt, giới từ là từ công cụ dùng để nối kết hai từ, hai bộ

Trang 40

phận có quan hệ chính phụ: Từ “của” trong “sách của tôi” là một giới từ [69,

tr.753]

Nhìn chung, định nghĩa của các tác giả đều có điểm thống nhất, đó là: giới từtrong tiếng Anh và tiếng Việt là từ loại thường đứng trước danh từ hoặc đại từ đểchi phối hay bổ nghĩa cho danh từ hoặc đại từ, thể hiện mối quan hệ với một từ haymột yếu tố khác trong mệnh đề Giới từ không có nghĩa hoàn chỉnh, phải kết hợpvới các từ khác để tạo thành mệnh đề có nghĩa hoàn chỉnh, giới từ thường nối danh

từ với danh từ, danh từ với đại từ, động từ với danh từ, Giới từ thể hiện rất rõ mốiquan hệ ngữ nghĩa về không gian, thời gian, nguyên nhân, mục đích, phương tiện vàcách thức,… Thông qua các giới từ, các cụm từ, các câu có thể kết nối với nhau,thậm chí những văn bản được thể hiện một cách súc tích và ngắn gọn mà không bịlàm mất bớt đi ý nghĩa cũng chính nhờ bởi sử dụng các giới từ

Các loại giới từ thường gặp trong tiếng Anh và tiếng Việt: a) Giới từ chỉkhông gian: được dùng để biểu thị mối quan hệ ngữ nghĩa giữa sự việc, hành động

và địa điểm, hoàn cảnh diễn ra của sự việc, hành động (ví dụ: The book is on the

table (Cuốn sách ở trên bàn); Nhà tôi ở trên đồi; ); b) Giới từ chỉ thời gian: được

dùng để biểu thị mối quan hệ ngữ nghĩa có liên quan tới thời gian diễn ra của sự

việc, hành động (ví dụ: I will meet you after 8 a.m (Tôi sẽ gặp anh sau 8 giờ sáng nhé); Tôi tốt nghiệp đại học sau bốn năm;…); c) Giới từ chỉ nguyên nhân: được

dùng để biểu thị mối quan hệ ngữ nghĩa có liên quan tới nguyên nhân của sự việc,

hành động (ví dụ: Thanks to their help he had overcome the difficulty (Nhờ vào sự giúp đỡ của họ mà anh ta đã khắc phục được khó khăn); Anh ấy thất bại bởi sự

thiếu quyết tâm;…); d) Giới từ chỉ mục đích: được dùng để biểu thị mối quan hệ

ngữ nghĩa có liên quan tới mục đích của sự việc, hành động (ví dụ: He had bought a

new car for his wife (Anh ấy đã mua một chiếc ô tô mới cho vợ anh ấy); Tôi tặng

cho cô ấy một món quà;…); e) Giới từ chỉ phương tiện và cách thức: được dùng để

biểu thị mối quan hệ ngữ nghĩa giữa hành động và phương tiện hay cách thức của

hành động (ví dụ: They are going to travel around the country by car (Họ dự định đi

du lịch khắp đất nước bằng ô tô); Cái ghế này được làm bằng gỗ;…).

Ngày đăng: 29/10/2020, 06:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w