Tác động của hoạt động kinh doanh nhập khẩu Ta xem xét tác động của hoạt động kinh doanh nhập nhẩu với 3 đối tượng đó là với nền kinh tế quốc dân, với doanh nghiệp và với người tiêu dùng
Trang 1KHÁI LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP DƯỢC PHẨM
1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU
1.1.1 Thế nào là hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Nhập khẩu là một hoạt động kinh doanh quốc tế vượt ra khỏi phạm vimột quốc gia Có thể nói, hoạt động kinh doanh nhập khảu là hoạt động muabán hàng hóa hoặc dịch vụ từ nước ngòai để tái sản xuất hoặc phục vụ nhu cầutrong nước nhằm mục đích thu lợi
Như vậy, nhập khẩu là việc mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ từ các tổchức kinh tế, các công ty nước ngoài để tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu đótrên thị trường nội địa hoặc tái xuất khẩu nhằm thu lợi nhuận và nối liền sảnxuất với tiêu dùng
1.1.2 Tác động của hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Ta xem xét tác động của hoạt động kinh doanh nhập nhẩu với 3 đối tượng
đó là với nền kinh tế quốc dân, với doanh nghiệp và với người tiêu dùng để thấy
rõ hơn những tác động tích cực và các tác động tiêu cực của hoạt động kinhdoanh nhập khẩu
1.1.2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân
1.1.2.1.1 Tác động tích cực
Nhập khẩu hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội Nhu cầu xã
hội hiện nay rất đa dạng vì thế chất lượng, mẫu mã, giá cả, … của các sản phẩmcàng đa dạng bao nhiêu càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội bấy nhiêu.Hoạt động nhập khẩu đã là cách tốt nhất hiện nay để tăng mức thỏa mãn nhu
Trang 2cầu của người tiêu dùng do hàng hóa được nhập về nhiều và trên thị trường hiệnnay có đa dạng hơn về chủng loại các mặt hàng.
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là nhân tố tác động tích cực đến quá trình sản xuất, kinh doanh dịch vụ của cả nền kinh tế Tại sao lại có thể nói
như vậy là do nhập khẩu tăng sẽ làm cho hàng hóa tự sản xuất trong nước buộcphải cải tiến kỹ thuật, sử dụng mẫu mã hình thức ưu mắt hơn thì mới có thểcạnh tranh được với hàng hóa nhập ngoại Đồng thời, hoạt động kinh doanhdịch vụ trong nước cũng sẽ phát triển hơn do những sản phẩm phục vụ cho kinhdoanh dịch vụ được cung cấp đầy đủ, tiện nghi và hiện đại hơn
Hoạt động này còn làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông
qua việc đóng thuế nhập khẩu Theo số liệu thống kê, nguồn thu thuế nhập khẩuluôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước Giai đoạn từ 1992đến 1998, có những năm tỷ lệ đạt 26% tổng thu Giai đoạn 1999 – 2004, do phảicắt giảm để thực hiện cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập, tỷ trọng có giảm
đi những vẫn chiếm 15,9% Nếu tính cả thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặcbiệt từ hàng nhập khẩu thì tỷ trọng thu từ hàng hóa nhập khẩu giai đoạn này đạtrất cao (31,1%)
Góp phần tạo việc làm cho một bộ phận người lao động, giảm gánh nặng
thất nghiệp cho xã hội Hiện nay, một bộ phận lớn người lao động đang làmviệc trong lịnh vực nhập khẩu và các lĩnh vực liên quan khác như thuế quan,ngân hàng, …
1.1.2.1.2 Tác động tiêu cực
Nếu các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu định hướng không rõ ràng
có thể gây nên khủng hoảng thừa hoặc thiếu cho nền kinh tế Khủng hoảng
thừa trong trường hợp doanh nghiệp dự đoán nhiều hơn sức mua của thị trường
và hàng hóa nhập về ồ ạt sẽ làm cho hàng hóa không tiêu thụ được do cung lớnhơn cầu Như trường hợp của Trung Quốc vào năm 2005 đã bị lâm vào tình
Trang 3trạng khủng hoảng thừa khi mà lượng xe hơi tồn kho của Trung Quốc lên tới
600 nghìn chiếc, điện thoại di động tồn kho hơn 20 triệu chiếc cùng với 900 mặthàng khác có nguy cơ khủng hoảng thừa Như vậy, khủng hoảng thừa sẽ làmcho nền kinh tế giảm sút và hiệu quả kinh doanh không được như mong muốn.Bên cạnh đó, tác động của khủng hoảng thiếu cũng mang lại nhiều mặt tiêu cựccho nền kinh tế Khi mà các nhà kinh doanh nhập khẩu không tính toán đúngnhu cầu của thị trường, hàng hóa nhập về quá ít sẽ làm cho giá cả leo thang rấtnhanh do cung không đáp ứng nổi cầu Một trường hợp điển hình đó là ở AiCập thời gian từ đầu tháng 3/2008 đến nay đang có hiện tượng khủng hoảngthiếu bánh mỳ nghiêm trọng Chính phủ đã phải cho nhập khẩu thêm bộ mỳ vàtrợ giá các lò bánh giảm bớt tình trạng thường xuyên xảy ra chen lấn, tranhchấp, giành giật nhau để mua được bánh Như vậy, hoạt động kinh doanh nhậpkhẩu nếu không đựơc định hướng đúng sẽ rất dễ gây ra khủng hoảng thừa hoặckhủng hoảng thiếu làm thiệt hại cho nền kinh tế
1.1.2.2 Đối với doanh nghiệp
Để đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu thì các cán bộ phải thay đổi tư duy theo hướng chuyên môn hóa để đáp ứng được quan hệ quốc tế mới có hiệu quả
trong vấn đề kinh doanh nhập khẩu Các doanh nghiệp cần chú trọng vấn đề tạochữ tín Các phòng ban phải tự vận động để nâng cao nghiệp vụ kinh doanhnhập khẩu, tăng thêm sự hiểu biết về luật pháp, thông lệ trong thương mại quốc
Trang 4tế Chính những yếu tố bắt buộc đó đã làm cho trình độ của các cán bộ đượcnâng cao.
Cơ sở vật chất cũng phải thay đổi với điều kiện của hoạt động kinh doanh nhập khẩu theo hướng tốt hơn Để doanh nghiệp được cấp giấy phép
nhập khẩu nhất là đối với các mặt hàng dược phẩm, thì buộc các doanh nghiệpphải có các xưởng đạt tiêu chuẩn GMP, các máy tính nối mạng, … Như vậy, để
có hoạt động nhập khẩu buộc các doanh nghiệp phải có cơ sở vật chất hiện đạihơn từ đó doanh nghiệp sẽ có hướng sản xuất hàng hóa với tiêu chuẩn tốt hơn
1.1.2.2.2 Tác động tiêu cực
Nếu doanh nghiệp không xác định được nhu cầu, chủng loại, số lượng
hàng hóa thì dễ gây thua lỗ Lúc này hoạt động nhập khẩu nghiễm nhiên trở
thành gánh nặng đối với doanh nghiệp Nguyên nhân có thể do thuốc quá hạn sửdụng, bị tồn kho quá lâu mà không tiêu thụ được hoặc việc nhập những loạinguyên liệu không phù hợp với năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trongnước
Các doanh nghiệp không nhạy bén với xu thế phát triển của toàn cầu sẽ
gây thất thoát về tài chính Ví dụ trong trường hợp điển hình đó là giá trị hàng
hóa đang tăng lên thì doanh nghiệp nhập vào và khi giá hàng hóa đang xuốngthì lại không nhập Hoặc trong trường hợp có sự biến động tỷ giá, khi đồngngoại tệ tăng, đồng nội tệ giảm giá là lúc doanh nghiệp không nên nhập khẩuhàng hóa nhưng nếu không nắm được rõ quá trình tăng giảm của tỷ giá thìdoanh nghiệp rất dễ bị thất thoát về mặt tài chính ngay ở khâu đầu tiên
Nếu doanh nghiệp không xác định tốt được nhu cầu của thị trường thì sẽ
làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp Cụ thể là trong trường hợp tháng
11/2007 khi mà thị trường đang rất cần thuốc để … dịch tiêu chảy nhưng đếntận tháng 1/2008 doanh nghiệp mới nhập khẩu hàng về trong khi đó các doanhnghiệp khác đã tung thuốc ra tiêu thụ trên thị trường Lúc này doanh nghiệp đã
Trang 5nhập khẩu chậm hơn các doanh nghiệp khác và việc nhập khẩu thuốc chậmbỗng nhiên trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp khi mà lượng thuốc nhập vềkhông còn tiêu thụ được nhiều trên thị trường.
1.1.2.3 Đối với người tiêu dùng
1.1.2.3.1 Tác động tích cực
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu giúp đảm bảo được quyền lợi của người tiêu dùng Người tiêu dùng có thể lựa chọn mặt hàng theo ý muốn Họ có
thêm nhiều sự lựa chọn, có thể dùng mặt hàng tốt nhất với cùng một giá thành
Người tiêu dùng được đáp ứng nhu cầu nhanh và cấp thiết Điều này
càng thể hiện rõ hơn ở lĩnh vưc y tế Lượng thuốc sản xuất trong nước hiện naychưa đủ để đáp ứng cho người tiêu dùng Một con số rõ nhất đấy là hiện naytrong các bệnh viện lượng thuốc ngoại chiếm tới 65% các chỉ định của bác sĩ,nhiều nhất là đối với những bệnh nhân ngoại trú Như vậy, nếu không có lượngthuốc lớn từ hoạt động nhập khẩu sẽ không thể đáp ứng được ngay nhu cầu củacác bệnh nhân đặc biệt trong các trường hợp cấp cứu
1.1.2.3.2 Tác động tiêu cực
Có thể người tiêu dùng phải chịu giá cả quá cao nếu đó là hình thức
nhập khẩu độc quyền tương đối Một ví dụ để nói về hiện tượng độc quyềntương đối trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu đó là: nếu có dịch SAT thìdoanh nghiệp nào nhập khẩu về trước thì có thể nâng giá thành lên cao, trongtrường hợp này cung < cầu, cung không đáp ứng nổi cho cầu sẽ gây nên việctăng giá đột ngột Người tiêu dùng khi đó sẽ phải bỏ ra lượng tiền lớn hơn sovới giá trị thực tế họ phải bỏ ra để nhận được các lợi ích mà họ cần
1.2 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm và bản chất của HQKD
Trang 6Mục đích chung của các công ty, doanh nghiệp khi tham gia vào hoạtđộng kinh doanh thì họ đều có mục đích chung là tối đa hoá lợi nhuận Vậy, vớinhững nguồn lực hạn chế như: Trình độ nguồn nhân lực, khả năng vốn và côngnghệ,… làm sao có thể mang lại lợi nhuận cao nhất? Để lý giải điều này, người
Rõ rang, quan niệm này đã thể hiện sự không hợp lý về HQKD
HQKD là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí
Quan niệm này phản ánh mối quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả đạtđược và chi phí phải bỏ ra để đạt được kết quả đó Việc xem xét mối quan hệ đócho biết một đơn vị chi phí tăng them tạo ra được bao nhiêu đơn vị kết quả Tuynhiên, quan niệm này còn nhiều bất cập, đó là chỉ xét tới phần kết quả và chi phítăng them mà không đề cập đến kết quả và chi phí ban đầu Do vậy quan niệmnày chỉ đánh giá được hiệu quả của hoạt động bổ sung mà không đánh giá đượctoàn bộ hiệu quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp HQKD được sosánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra
Quan niệm này phản ánh HQKD chính là lợi nhuận thu được từ hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Mối quan hệ bản chất của HQKD đã được
đề cập đến, có cả kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Tuy nhiên,
Trang 7quan niệm này chưa thể hiện được tương quan về lượngvà về chất giữa kết quả
và chi phí Điều đó thể hiện khi các hoạt động kinh doanh cùng tạo ra một mứclợi nhuận, nhưng thời gian để đạt mức lợi nhuận đó, quy mô của các hoạt độngkinh doanh là khác nhau, như vậy chưa thể nói được rằng HQKD giữa các hoạtđộng đố là giống nhau được
HQKD là mối quan hệ giữa sự vận động của kết quả với sự vận động của chi phí đồng thời phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất
Quan niệm này đã phản ảnh được trình độ sử dụng các nguồn lực sảnxuất của doanh nghiệp thông qua mối tương quan về lượng và về chất giữa kếtquả và chi phí, sự vận động của kết quả và sự vận động của chi phí
Như vậy, quan niệm thứ tư là quan niệm đúng đắn và đầy đủ hơn cả Tóm
lại, ta có thể đưa ra khái niệm HQKD như sau: HQKD là phạm trù phản ánh
mối quan hệ giữa sự vận động của kết quả của hoạt động kinh doanh với sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó, phản ảnh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp để thực hiện ở mức cao nhất các mục tiêu kinh tế - xã hội với chi phí thấp nhất.
Mặt định tính: Mức độ hiệu quả kinh doanh là những nỗ lực của doanhnghiệp và phản ánh trình độ quản lý của doanh nghiệp đồng thời gắn những nỗlực đó với việc đáp ứng các mực tiêu và yêu cầu của doanh nghiệp và của xã hội
về kinh tế, chính trị và xã hội
Mặt định lượng: hiệu quả kinh doanh biểu hiện tương quan so sánh giữakết quả thu được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Hiệu quả kinh doanhchỉ có được khi kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra
1.2.2 Phân loại hiệu quả kinh doanh
1.2.2.1 Căn cứ vào phương pháp tính hiệu quả
Trang 8Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối: phạm trù chỉ lượng hiệu quả của từngphương án, từng thời kỳ kinh doanh, từng doanh nghiệp bằng cách lấy chênhlệch giữa kết quả kinh doanh và chi phí tạo ra kết quả đó.
Tổng lợi nhuận = Tổng kết quả - Tổng chi phíHiệu quả kinh doanh tương đối: phạm trù phản ánh trình độ sử dụng cácnguồn lực sản xuất của doanh nghiệp
H1= KQ/CP hoặc H2 = CP/KQ
1.2.2.2 Căn cứ vào phạm vi tính toán hiệu quả
Hiệu quả kinh doanh tổng hợp: Hiệu quả kinh doanh được tính chung chotoàn doanh nghiệp, chó các bộ phận trong doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh bộ phận: là hiệu quả kinh doanh tính riêng cho từng
bộ phận của doanh nghiệp hoặc từng yếu tố sản xuất
1.2.2.3 Căn cứ vào thời gian mang lại hiệu quả
Hiệu quả trước mắt: là hiệu quả kinh doanh được xét trong khoảng thờigian ngắn, mang lại ngay khi thực hiện hoạt động kinh doanh
Hiệu quả lâu dài: là hiệu quả được xét trong khoảng thời gian dài, manglại sau khi thực hiện hoạt động kinh doanh trong một thời gian nhất định
1.2.2.4 Căn cứ vào đối tượng xem xét hiệu quả
Hiệu quả kinh doanh trực tiếp: hiệu quả do chính việc thực hiện hoạtđộng kinh doanh đó mang lại
Hiệu quả kinh doanh gián tiếp: hiệu quả do một hoạt động kinh doanhkhác mang lại
1.2.2.5 Căn cứ vào khía cạnh khác của hiệu quả
Hiệu quả tài chính: hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp về mặt kinh tếtài chính được biểu hiện qua các chỉ tiêu thu chi trực tiếp của doanh nghiệp
Trang 9Hiệu quả chính trị xã hội: hiệu quả kinh doanh về khía cạnh chính trị
-xã hội
1.2.2.6 Căn cứ vào phạm vi của hoạt động thương mại
Hiệu quả kinh doanh nội thương: hiệu quả do hoạt động kinh doanh nộiđịa mang lại
Hiệu quả kinh doanh ngoại thương: hiệu quả do hoạt động kinh doanhquốc tế mang lại
1.2.3 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.3.1 Chỉ tiêu lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Chỉ tiêu lợi nhuận:
Trong cơ chế thị trường, lợi nhuận (P) vừa được coi là nhân tố để tính toán hiệuquả kinh tế, vừa được coi là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của doanh nghiệp Chỉtiêu này được tính theo công thức:
P = D – ( Z + th + TT)Trong đó:
P: Lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh
D: Doanh thu tiêu thụ trong 1 kỳ kinh doanh
Z: Giá thành sản phẩm trong 1 kỳ kinh doanh
Th: Các loại thuế phải nộp sau mỗi kỳ
TT: Các tổn thất sau mỗi kỳ kinh doanh
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận: Chỉ tiêu này được tính theo hai cách:
Pdt = Tổng P/Tổng D hoặc Pcp = Tổng P/Tổng CP
1.2.3.2 Chỉ tiêu mức vốn hao phí cho 1 đơn vị sản phẩm
Trang 10Chỉ tiêu này được tính theo công thức
S = V/Q ( Tổng vốn/sản lượng)Trong đó:
1.2.3.3 Thời hạn thu hồi vốn đầu tư
Chỉ tiêu này được tính toán căn cứ vào mức lợi nhuận thu được sau mỗi
kỳ kinh doanh và do đó, nó cho biết rõ hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư saukhi đã được vật hoá Thời hạn thu hồi vốn đầu tư phản ảnh khoảng thời gian màvốn đầu tư dần dần được thu hồi lại sau mỗi kỳ kinh doanh và được xác địnhtheo công thức sau:
Tv = Vđt/P ( tổng vốn đầu tư trong thời kỳ kinh doanh/lợi nhuận sau mỗi
kỳ kinh doanh)
Trong đó:
Tv: Thời hạn thu hồi vốn đầu tư
P: Lợi nhuận thu được sau mỗi kỳ kinh doanh
Vđt: Tổng số vốn đầu tư chu kỳ kinh doanh đó
Chỉ tiêu này cho thấy thời hạn thu hồi vốn đầu tư mà càng ngắn thì hiệuquả sử dụng vốn đầu tư sẽ càng cao và ngược lại
1.2.3.4 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Trang 11Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của doanh nghiệp, người ta còndùng chỉ tiêu hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (E).
E = P/Vđt
Chỉ tiêu này nói lên khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư
1.2.3.5 Chỉ tiêu năng suất lao động
Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
W=Q/L ( khối lượng sản phẩm hàng hóa/số lượng lao động bình quân)Trong đó:
W: Năng suất lao động bình quân của kỳ kinh doanh
Q: Khối lượng sản phẩm hàng hoá được tạo ra trong kỳ kinh doanh
L: Số lượng lao động bình quân của kỳ kinh doanh hoặc lượng thời gianlao động bình quân của kỳ kinh doanh
Chỉ tiêu cho ta biết khối lượng sản phẩm hàng hoá được tạo ra trên đầungười Chỉ tiêu này càng cao thị hiệu quả kinh doanh cũng càng lớn
1.2.4 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp
1.2.4.1 Đối với người lao động
Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp có ýnghĩa quan trọng đối với người lao động Thông qua việc kinh doanh nhập khẩu
có hiệu quả sẽ nâng cao được mức lương của người lao động trong doanhnghiệp từ đó giúp họ thỏa mãn được các nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần.Bên cạnh đó, nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn đòi hỏi người lao động phảihọc tập và nâng cao kiến thức về xuất nhập khẩu, sự biến động tỷ giá , … từ đólàm tăng kiến thức về nghiệp vụ xuất nhập khẩu cho người lao động
1.2.4.2 Đối với doanh nghiệp
Trang 12Vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu góp phần tạo ra lợinhuận cho doanh nghiệp từ đó có thể tái đầu tư sản xuất, mở rộng quy mô hoạtđộng của doanh nghiệp, nâng cao trình độ sản xuất, trình độ quản lý cho ngườilao động Thêm nữa, nâng cao hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với nâng caothương hiệu của doanh nghiệp đối với khách hàng trong nước cũng như bạnhàng quốc tế Như vậy có thể nói việc nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp
1.2.4.3 Đối với xã hội
Nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp có ý nghĩaquan trọng đối với xã hội Một mặt hoạt động này đóng góp thêm vào ngân sáchNhà nước, giúp nền kinh tế phát triển theo hướng tích cực Mặt khác, nó tạothêm việc làm mới cho người lao động, việc làm ở đây không chỉ bó hẹp tronghoạt động kinh doanh nhập khẩu mà còn các công việc khác liên quan đến hoạtđộng kinh doanh nhập khẩu như vận tải, luật, thuế quan, ngân hàng,…
1.3 HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP 1.3.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp là một phạm trù phảnánh chất lượng của hoạt động kinh doanh nhập khẩu trong phạm vi doanhnghiệp Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu là phạm trù phản ánh mối quan hệ giữa
sự vận động của kết quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu với chi phí tạo rakết quả đó
Kết quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu là toàn bộ những thành quả
mà doanh nghiệp thu được sau một quá trình kinh doanh như: sản lượng, giá trịhàng hóa, doanh thu tiêu thụ hàng nhập khẩu, …
Còn chi phí của hoạt động kinh doanh nhập khẩu là biểu hiện bằng tiềncủa tất cả các khoản chi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: chiphí tiền lương, thuê mặt bằng kinh doanh, chi phí bán hàng, chi phí giao dịch
Trang 13Do đó, hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp đạt được hiệuquả cao nhất khi kết quả đạt được là tối đa với chi phí bỏ ra là tối thiểu
1.3.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp
1.3.2.1 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh nhập khẩu tổng hợp
1.3.2.1.1 Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh nhập khẩu tổng hợp tuyệt đối
Trong thực tế, để xem xét đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh, trướctiên người ta thường chú ý đến lợi nhuận Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
có tính tổng hợp phản ảnh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Lợi nhuậngiúp cho doanh nghiệp có thể tồn tại trên thị trường và tái sản xuất mở rộng hoạtđộng kinh doanh Tối đa hoá lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng của mỗidoanh nghiệp Chỉ tiêu lợi nhuận của hoạt động kinh doanh nhập khẩu đượctính toán như sau:
LNnk = DTnk – CPnk
Trong đó:
LNnk: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu
DTnk: Doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu
CPnk: Chi phí hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Tuy nhiên, lợi nhuận mới chỉ phản ánh đựơc lượng hiệu quả thu đựơc từhoạt động kinh doanh mà chưa phản ánh được trình độ sử dụng các chi phí,nguồn lực sản xuất để tạo ra hiệu quả đó
1.3.2.1.2 Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh nhập khẩu tương đối
Các chỉ tiêu kinh doanh nhập khẩu tương đối bao gồm các chỉ tiêu vềdoanh lợi của vốn kinh doanh nhập khẩu, doanh lợi theo chi phí kinh doanhnhập khẩu, doanh lợi của doanh thu bán hàng nhập khẩu
Doanh lợi của vốn kinh doanh nhập khẩu