Phương pháp phân tích Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình xem xét, lý giải các vấn đề có tính chất lý luận và thực tiễn, từ đó rút ra những kết luận xác đáng làm tiền
Trang 11
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong khóa luận là trung thực, khách quan và chưa từng được công
bố trong bất kì một công trình nào khác
Đồng Hới, tháng 05 năm 2015
Tác giả
Tô Thu Thành
Trang 22
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Trường Đại học Quảng Bình và các thầy cô trong khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non đã truyền đạt cho em những kiến thức cơ bản trong suốt ba năm học tại trường Đó là hành trang quý giá để
em tự tin, vững vàng hơn trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp sau này của mình
Em xin đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Th.S Trương Thị Thanh Thoài người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, và động viên để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Qua đây em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các em học sinh Trường Tiểu học Bắc Nghĩa – Đồng Hới – Quảng Bình Cảm ơn các bạn trong tập thể lớp CĐGD Tiểu học B, những người thân yêu trong gia đình đã động viên khích lệ và tạo điều kiện cho em rất nhiều trong thời gian học tập và thực hiện khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn ! Quảng Bình, tháng 5 năm 2015
Tô Thu Thành
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 41
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
Lời cảm ơn ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Giả thiết khoa học 6
8 Đóng góp mới của khóa luận 6
9 Cấu trúc của đề tài 6
Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC SINH LỚP 5 VIẾT VĂN TẢ NGƯỜI 8
1.1.1 Đặc trưng văn tả người và việc dạy văn tả người 8
1.1.2 Cơ chế của hoạt động tạo lập văn bản và việc dạy học sinh lớp 5 viết văn tả người 13
1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý, năng lực sử dụng ngôn ngữ của học sinh lớp 5 với việc dạy văn tả người 17
1.2.Cơ sở thực tiễn của việc dạy học sinh lớp 5 viết văn tả người 24
1.2.1 Về mục tiêu, chương trình dạy học văn tả người ở lớp 5 22
1.2.2 Về việc dạy học văn tả người cho học sinh lớp 5 ở trường tiểu học 24
1.2.3 Định hướng về việc dạy học sinh lớp 5 viết văn tả người 29
Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG VIẾTVĂN TẢ NGƯỜI CHO HỌC SINH LỚP 5 33
2.1 Các biện pháp giúp học sinh nắm bắt những đặc trưng của văn tả người 32 Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 52
2.2 Các biện pháp phát triển nhận thức, hình thành tình cảm, cảm xúc cho học sinh
trong quá trình viết văn tả người 37
2.3 Ra đề văn phù hợp với học sinh lớp 5 43
2.4 Các biện pháp giúp học sinh sử dụng từ ngữ trong viết văn tả người 46
2.5 Dạy học sinh tạo lập văn bản khi viết văn tả người 53
2.6 Khích lệ sự sáng tạo của học sinh thông qua hoạt động chấm bài và trả bài 64
Chương 3 : THỰC NGHIỆM DẠY HỌC 75
3.1 Mục đích thực nghiệm 71
3.2 Đối tượng , địa bàn và thời gian thực nghiệm 71
3.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 72
3.4 Nội dung thực nghiệm 73
3.5 Kết quả thực nghiệm 73
3.6 Kết luận chung về thực nghiệm 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
Trang 6giáo dục phải “đi tắt đón đầu” nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, nhu
cầu đào tạo ra những con người có trình độ, năng động sáng tạo trong thời đại đổi mới Nước ta cũng đã và đang tiếp tục đổi mới giáo dục và đổi mới theo tinh thần của đại hội VI, Nghị quyết Trung ương V (khóa 7), Nghị quyết Hội nghị Trung ương II
(khóa 8), cũng như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX theo phương châm “giáo dục
là quốc sách hàng đầu” Giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, là động lực, mục tiêu cho
sự phát triển bền vững của xã hội
Theo điều 28, Luật giáo dục 2005: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo cho học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh” Do đó, đổi mới giáo dục là vấn đề có tính cấp
bách và cần thiết trong sự nghiệp giảng dạy và học tập nhằm nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc Tiểu học đóng vai trò là tiền đề, nền tảng
Vì vậy, phải chú trọng chăm lo hình thành cho các em những tri thức ban đầu đúng đắn, vững chắc để làm cơ sở cho những bậc học cao hơn, góp phần phát triển đạo đức, trí tuệ, hình thành nhân cách con người mới
Trong chương trình Tiểu học, môn tiếng Việt là một trong hai môn chính có vai trò rất quan trọng Dạy tiếng Việt ở Tiểu học tạo cho học sinh kỹ năng sử dụng tiếng Việt thành thạo để sử dụng trong học tập, giao tiếp; cung cấp cho học sinh những hiểu biết phong phú về tiếng Việt, mở mang kiến thức về tự nhiên, xã hội, văn hóa của dân tộc Việt Nam và nước ngoài Môn tiếng Việt gồm có bảy phân Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 7Học các tiết tập làm văn, học sinh cũng được tiếp cận với với vẻ đẹp của con người qua các bài văn, đoạn văn điển hình Khi phân tích đề học sinh lại có dịp hướng tới cái chân thiện mỹ được hướng đến trong các đề bài Mỗi đề văn là một cơ hội để học sinh thể hiện mối quan hệ, tình cảm của mình đối với đối tượng, nhân vật mà mình miêu tả
Khi nói đến phân môn tập làm văn, thì viết văn, hành văn chính là cái đích cuối cùng, cái đích cao nhất của việc học môn tiếng Việt Đối với học sinh Tiểu học, biết nói đúng, viết đúng diễn đạt mạch lạc đã khó, để nói hay, có cảm xúc, giàu hình ảnh lại càng khó hơn Cái khó ấy chính là cái đích của phân môn TLV đòi hỏi mỗi học sinh cần đạt tới
1.3 Chương trình TLV ở Tiểu học chủ yếu là dạy văn miêu tả bao gồm : văn tả người, văn tả cảnh, văn tả cây cối ,văn tả đồ vật, văn tả con vật Trong đó văn tả người
là thể loại khó nhất đối với học sinh Ở văn tả người, học sinh khó có thể diễn đạt sự khác biệt rõ giữa mắt, mũi, miệng, tóc của người này và người khác Vậy nên các em thường diễn đạt trùng lặp từ ngữ, ý và cả câu Chính vì thế, tiết học văn tả người thường thiếu sự sinh động, hấp dẫn học sinh bởi các em thường thụ động nghe thầy cô cung cấp vốn từ ngữ, ý và cả cách diễn đạt câu sao cho hay, trôi chảy, biểu cảm hơn
Vì vậy, việc đổi mới trong dạy văn tả người để thu hút học sinh nhằm giúp cho tiết học sinh động hơn là điều hết sức cần thiết trong giảng dạy
Từ việc tìm hiểu nội dung chương trình TLV lớp 5 chúng tôi nhận thấy văn tả người là một dạng văn gần gũi và chiếm khối lượng lớn trong phân phối chương trình TLV lớp 5, điều này chứng tỏ đây là một dạng bài khá là quen thuộc đối với các em nhưng không phải vì thế mà tất cả các em đều viết hay Qua tìm hiểu thực tế cho thấy, kết quả viết văn tả người ở Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng còn nhiều vấn đề
Trang 83
bất cập so với yêu cầu đặt ra của một bài văn tả người, các em còn nhiều sự lúng túng trước một đề văn, còn thiếu hiểu biết về đối tượng miêu tả và chưa biết cách để diễn đạt điều mà mình muốn tả Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là người giáo viên chưa truyền thụ được cho học sinh những yêu cầu cần thiết, đặc trưng nhất của một bài
văn tả người Mặt khác một số giáo viên chưa có được cái “tâm” trong cách truyền thụ
bài bởi văn tả người là một dạng văn đòi hỏi phải có tình cảm thì bài viết mới chân thực được
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “ Một số biện
pháp rèn kỹ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5” làm đề tài nghiên cứu với
mong muốn cụ thể hóa một phần nội dung dạy học vào thực tế, góp phần thực hiện yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học phân môn TLV nói chung và văn
tả người trong chương trình TLV lớp 5 nói riêng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phân môn TLV được chia thành nhiều kiểu bài khác nhau, mỗi kiểu bài có vị trí và vai trò nhất định trong việc cung cấp kiến thức cho các em Đối với phân môn TLV ở Tiểu học, văn miêu tả và đặc biệt văn tả người có vị trí đặc biệt quan trọng Thực tế, hiện nay có rất nhiều nhà giáo dục đã tiến hành các công trình nghiên cứu rèn kĩ năng làm văn trong đó có văn miêu tả, để nâng cao chất lượng bài văn cho HS
Trong các tài liệu “Bồi dưỡng giáo viên” (NXB GD – 2004, 2005, 2006), đã đề
cập đến một số yêu cầu cơ cơ bản về kiến thức, kĩ năng mà HS cần phải nắm được trong phân môn TLV Qua đó đề xuất các biện pháp dạy học TLV theo nội dung khá đa dạng và phong phú cho GV tiểu học
Cuốn “Rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt” (giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học
hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12/2) của Tác giả Đào Ngọc – Nguyễn Đăng Ninh
đã đưa ra cách cảm thụ văn bản cho HS
Cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học” (tài liệu đào tạo giáo viên -
2007 của Bộ GD và ĐT), dự án phát triển GV tiểu học đã tổ chức biên soạn các môđun đào tạo giáo dục trong đó có nêu ra các phương pháp dạy học cũng như quy trình dạy học phân môn TLV theo chương trình sách giáo khoa ở tiểu học
Cuốn “Dạy văn cho học sinh tiểu học” (NXB GD-1997), tác giả Hoàng Bình
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 94
đã có những đề xuất giúp GV tiểu học để hướng dẫn HS cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học
Cuốn Văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả ở tiểu học (Nhà xuất
bản Giáo dục - 1996) , tác giả Nguyễn Trí đã đề cập đến cách dạy văn miêu tả trong chương trình Tiểu học
Trong các tài liệu trên đây, các tác giả đã đề cập đến vấn đề dạy học phân môn TLV trên phương diện vị trí, nhiệm vụ, nội dung chương trình, phương pháp dạy học nói chung và văn miêu tả, cũng như văn tả người nói riêng nhưng chưa đi sâu nghiên cứu việc rèn kỹ năng viết văn tả người ở một khối lớp cụ thể
Những công trình nghiên cứu trên là những tiền đề quan trọng để chúng tôi lựa
chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5”
làm vấn đề nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu
Văn tả người là một dạng bài văn khó nhất trong tất cả các kiểu bài thuộc thể loại văn miêu tả, đồng thời kiểu bài này trong thực tế ở các trường Tiểu học vẫn chưa được các em chú trọng nên chất lượng bài viết chưa cao, biểu hiện cụ thể đó
là các em còn thụ thuộc nhiều vào các tài liệu tham khảo, tình trạng viết văn khô khan, kém hấp dẫn Nhất là ở trường Tiểu học vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, miền núi
Thực hiện đề tài, chúng tôi mong đề xuất được các biện pháp từ đó rèn luyện kỹ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Một số biện pháp rèn kỹ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5
Phạm vi nghiên cứu:
Các dạng văn tả người ở lớp 5:
+ Tả người thân trong gia đình
+ Tả những người ngoài xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến HS
Trang 105
Trong đó tập trung chú ý miêu tả về ngoại hình và tính tình thông qua các hoạt động của đối tượng được tả
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu các tài liệu liên quan để tìm ra cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Tìm hiểu và phân tích thực trạng của vấn đề nghiên cứu từ đó để đưa ra các biện pháp cụ thể, phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay của vấn đề nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong khóa luận, chúng tôi đã kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
6.1 Phương pháp phân tích
Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình xem xét, lý giải các vấn
đề có tính chất lý luận và thực tiễn, từ đó rút ra những kết luận xác đáng làm tiền đề cho việc đưa ra các biện pháp rèn luyện kỹ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5
một cách phù hợp nhất
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Thực tiễn phương pháp dạy học liên quan đến đề tài này bao gồm:
+ Về mục tiêu, chương trình dạy học văn tả người ở lớp 5
+ Về việc dạy học văn tả người cho học sinh lớp 5 ở trường tiểu học hiện nay + Định hướng về việc dạy học sinh lớp 5 viết văn tả người
Để nắm được tình hình thực tiễn, ngoài việc dự giờ, quan sát hoạt động dạy học chúng tôi còn khảo sát kết quả viết văn tả người của học sinh, soạn phiếu điều tra dành cho giáo viên và học sinh gồm các câu hỏi về những vấn đề mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu, rồi xử lý kết quả điều tra đó
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này được sử dụng trong khâu hoàn tất quá trình nghiên cứu nhằm xem xét, xác nhận tính đúng đắn , hợp lý, tính khả thi của các biện pháp mà tác giả đề xuất trong đề tài Loại thực nghiệm cơ bản được tác giả sử dụng là :
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 116
+ Thực nghiệm kiểm tra, đánh giá (thực nghiệm dạy học) nhằm kiểm chứng, đánh giá việc ứng dụng các biện pháp của khóa luận vào các tiết dạy cụ thể trong giờ TLV lớp 5
7 Giả thiết khoa học
Đề tài đưa ra các biện pháp với mục đích rèn kỹ năng viết văn tả người cho HS lớp 5 dựa trên việc phân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn Nếu các biện pháp chúng tôi đưa ra chúng minh được tính khả thi sẽ góp phần rèn luyện và nâng cao kỹ năng làm văn tả người cho HS lớp 5 nói riêng và góp phần nâng cao hiệu quả dạy học phân môn TLV nói chung
8 Đóng góp mới của khóa luận
Những đóng góp mới của khóa luận thể hiện ở mấy điểm cơ bản sau:
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy học phân môn tiếng Việt nói chung, góp phần làm phong phú thêm lý luận dạy học phân môn TLV và văn tả người trong nhà trường tiểu học nói riêng, qua việc xây dựng cơ sở khoa học của các biện pháp rèn kỹ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5
- Đề xuất các biện pháp rèn kỹ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5 mang tính chiến lược giúp học sinh có cơ hội luyện tập kỹ năng quan sát, kỹ năng phân tích
đề, tìm hiểu đề, kỹ năng viết câu đoạn, bài văn hoàn chỉnh, kỹ năng truyền tải được những tình cảm của bản thân dành cho đối tượng vào bài viết của mình, làm cho bài viết mang đậm tính chân thực, giàu xúc cảm và lôi cuốn trái tim người đọc
Như vậy những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Việt , đặc biệt là văn tả người, đồng thời đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non trong quá trình nghiên cứu, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm Mặt khác giáo viên Tiểu học có thể dùng làm tài liệu cho bản thân trong quá trình dạy học văn tả người ở Tiểu học
9 Cấu trúc của đề tài
Đề tài gồm những phần cơ bản sau :
Phần mở đầu: lý do chọn đề tài, lịch sử nghiên cứu đề tài, mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, giả thiết khoa học, đóng góp mới của đề tài, bố cục của đề tài
Trang 12Ở phần phụ lục giới thiệu phiếu điều tra về thực trạng dạy học văn tả người ở lớp
5, phiếu bài tập dùng trong thực nghiệm, giáo án thực nghiệm, đề bài kiểm tra dùng trong thực nghiệm kiểm tra đánh giá (thực nghiệm dạy học)
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 138
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC SINH LỚP 5 VIẾT VĂN TẢ NGƯỜI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Đặc trưng văn tả người và việc dạy văn tả người
1.1.1.1 Đặc trưng của văn tả người
a, Khái niệm văn miêu tả
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: “Miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người.”
Như vậy, miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm cho người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật,
sự việc như nó vốn có trong đời sống Một bài văn miêu tả hay không những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện được trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết với đối tượng được miêu tả Bởi vì trong thực tế, không ai tả mà để tả, mà thường tả để gửi gắm suy nghĩ, cảm xúc, sự đánh giá, những tình cảm yêu ghét cụ thể của mình Các bài văn miêu tả ở Tiểu học chỉ yêu cầu tả những đối tượng mà học sinh yêu mến, thích thú Vì vậy, qua bài làm của mình, các em phải gửi gắm tình yêu thương với những gì mình miêu tả
b, Khái niệm văn tả người
Tả người là dạng bài TLV yêu cầu học sinh dùng từ ngữ để tái hiện lại hình ảnh, tính cách của một con người với các trạng thái và tính cách của người đó, nhằm giúp người đọc, người nghe như đang được tận mắt nhìn thấy đối tượng được tả dần hiện ra qua từng con chữ
Vì vậy khi làm văn tả người điều quan trọng là phải biết quan sát và dẫn ra được những nét tính cách đặc trưng, những hoạt động tiêu biểu nhất của đối tượng được
miêu tả
Để làm nổi bật đặc điểm của một bài văn tả người, người viết cần:
Trang 14Xét trên bình diện của một tác phẩm văn chương thì nhân vật con người trong các
tác phẩm luôn được các nhà văn xây dựng một cách có chủ định, đó chính là “đứa con tinh thần” của họ, họ trân trọng và nâng niu như một báu vật, bởi đó chính là tất cả tâm
tư, tình cảm và cách nhìn nhận, đánh giá của họ về con người của xã hội đương thời, đọc tác phẩm văn chương ta nhận ra mình qua mỗi nhân vật ở từng ngõ ngách nội tâm, hiểu đúng hơn và hiểu nhiều hơn về cái thế giới tinh thần phong phú bí ẩn bị bề ngoài bao phủ Bởi vậy nên khi miêu tả diện mạo, tính cách và hoạt động của một con người
cụ thể trong tác phẩm của mình các nhà văn không đơn thuẩn chỉ là miêu tả để tả mà thông qua việc miêu tả diện mạo bên ngoài của nhân vật, nhà văn làm nổi bật được những nét đẹp ẩn chứa bên trong tâm hồn họ, từ đó làm nổi bật nét tính cách đặc trưng tiêu biểu của nhân vật mình xây dựng Đồng thời từ đó các nhà văn miêu tả những hành động cụ thể phù hợp gắn liền với nét ngoại hình và tính tình của các nhân vật Mặt khác thông qua việc miêu tả hình ảnh của con người trong các tác phẩm của mình, các nhà văn khái quát những quy luật cuộc sống của con người, thể hiện những hiểu biết, những ước ao và kì vọng về con người Nhà văn sáng tạo ra con người trong tác phẩm của họ là để thể hiện những đối tượng nhất định trong xã hội và quan niệm về các đối tượng đó Từ đó thể hiện các phẩm chất xã hội lịch sử của con người qua các đặc điểm cá nhân, gắn liền với phẩm chất tâm sinh lí của con người
Để hiểu rõ hơn về điều này chúng ta cùng thưởng thức đoạn văn sau:
Trong bài văn tả “Hạng A Cháng” ( SGK Tiếng Việt lớp 5 – tập 1 – trang 119)
Khi tả một thanh niên Mèo khỏe mạnh, nhà văn Ma Văn Kháng viết:
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 1510
“A Cháng người đẹp thật Mười tám tuổi, ngực nở vòng cung, da đỏ như lim, bắp tay bắp chân rắn như trác gụ Vóc cao, vai rộng, người đứng thẳng như cột đá trời trồng”
Như vậy chỉ qua việc miêu tả một vài chi tiết về ngoại hình mang tính lựa chọn tinh tế, tác giả đã đem đến cho chúng ta một ấn tượng riêng về vẻ đẹp rắn chắc của một thanh niên miền núi
Hay cô Chấm trong tác phẩm của nhà văn Đào Vũ:
Trong bài văn tả “Cô Chấm” (sách Tiếng Việt 5- tập 1- trang 156) nhà văn Đào
Vũ đã viết: “Chấm không phải là cô con gái đẹp, nhưng là người mà ai đã gặp thì không thể lẫn lộn với bất cứ một người nào khác.”
“Chấm cứ như một cây xương rồng Cây xương rồng chặt ngang chặt dọc, chỉ cần cắm nó xuống đất, đất cằn cũng được, nó sẽ sống và sẽ lớn lên Chấm thì cần cơm
Đọc đoạn văn tả người con gái tên Chấm của nhà văn Đào Vũ, người đọc chúng
ta cảm nhận được vẻ đẹp rất riêng, có cái gì đó rất đặc biệt bởi theo nhà văn thì “Chấm không phải là cô con gái đẹp, nhưng là người mà ai đã gặp thì không thể lẫn lộn với bất cứ một người nào khác”, rồi người đọc lại bắt gặp cái riêng của cô Chấm từ mái tóc
đỏ quạnh và không bao giờ dài được, từ đôi lông mày không tỉa bao giờ, từ hình ảnh
một cô gái khỏe mạnh, rắn chắc “như một cây xương rồng” , bắt gặp bản chất mộc mạc của một cô gái nông thôn “Chấm mộc mạc như hòn đất” Đúng là những chi tiết miêu
tả ấy không thể nào dùng được nếu tả như đó là tả vẻ đẹp của người con gái thị thành Như vậy để học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của con người qua ngôn ngữ của các
nhà văn trong văn tả người từ các tác phẩm, người giáo viên đóng một vai trò hết sức
quan trọng đó là: Giúp học sinh tiếp cận với những giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật
Trang 1611
của văn mẫu Tìm hiểu được ngôn ngữ nghệ thuật qua sự chuyển hoá các lớp nghĩa tinh
tế Học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn ngữ, vẻ đẹp của hình ảnh, có được những hiểu biết về con người cũng như cuộc sống xung quanh các em Từ đó, các em chuyển kiến thức đã tiếp nhận thành năng lực sử dụng tiếng Việt Sau đó đưa vốn tiếng Việt áp dụng vào thực tiễn khi viết văn tả người Vì kiến thức Tiếng Việt chỉ thực sự có ích với
HS khi nó được vận dụng vào thực tế tiếp nhận và tạo lập văn bản
Văn tả người trong bài văn của học sinh Tiểu học
Đối với học sinh Tiểu học khi viết một bài văn tả người thì hình ảnh con người
mà các em xây dựng khác xa so với hình ảnh con người trong các tác phẩm văn chương, bởi các em còn nhỏ chưa suy nghĩ nhiều và chưa thể có được những cái nhìn sâu sắc về đối tượng miêu tả như các nhà văn Văn tả người ở Tiểu học chỉ dừng lại ở
mức độ khái quát về ngoại hình, tính tình và hoạt động của “một con người” Đối
tượng miêu tả của các em luôn gần gũi, gắn liền với cuộc sống hằng ngày của các em,
có ảnh hưởng trực tiếp tới các em, ngôn ngữ miêu tả mà các em sử dụng là đơn gản, dễ hiểu và không yêu cầu quá cao Các em chỉ cần đáp ứng được những yêu cầu cơ bản và đặc trưng nhất của một bài văn tả người, đồng thời thể hiện được những cái nhìn ban đầu của mình về đối tượng, thể hiện được những tình cảm, bộc lộ xúc cảm của mình dành cho đối tượng vào bài văn làm cho bài văn đậm chất “chân thực” Làm được như vậy xem như các em đã đạt được yêu cầu của một bài văn tả người
Để hiểu rõ hơn chúng ta cùng đến với một bài văn tả bác nông dân của một học sinh để thấy được những đặc trưng nêu trên :
“Em sinh ra ở một miền quê yêu dấu Ở đó có biết bao người nông dân đã phải một nắng hai sương hăng say lao động, song người mà cả xóm phải nể phục về tài cày ruộng đó chính là bác Hải Rất may cho emvào sáng chủ nhật vừa rồi em đã được xem bác cày ruộng
Chao ôi, bác Hải cày ruộng mới giỏi làm sao! Em phải thốt lên như vậy khi vừa nhìn thấy bác Bác quả xứng đáng với lời khen của mọi người Trông cách bác cày ruộng, em nghĩ khó ai có thể làm được như bác
Hôm ấy, một mình bác cày một cái ruộng to ơi là to Công việc bác làm khá vất
vả song em thấy bác làm thật đơn giản và dẽ dàng làm sao!
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 1712
Bác Hải vẫn đang hăng say cày, thấy hai mẹ con đứng trên bờ bác vừa nói vừa cười chào :"Hai mẹ con đi đâu đấy?" rồi lại xăm xăm cày Bác Hải năm nay ngót năm mươi tuổi "Cái tuổi làm hùng hục như trâu bò" Bác có thân hình to khỏe, người lực lưỡng Quần nâu sắn cao, áo lính bạc mầu Bắp chân bắp tay quần quật, nước da màu nâu sẫm đúng là vóc dáng của một con người quanh năm chân lấm tay bùn quen giầm mưa dãi nắng Con trâu mộng to béo, da đen nhánh kéo cày đi trước Bác Hải nắm dây thường điều khiển , tay phải cầm đốc cày theo sau Đường cày thẳng tăm tắp Bác nhoai người ra phía trước, đến đầu bờ, bác nhấc cày lên cho trâu quay lại rồi cày tiếp
Ôi, bác nhấc cày nhẹ nhàng như không Vừa cày bác vừa cất tiếng "Vắt, diệt, họ" để
"bảo" trâu Bác chia ruộng thành nhiều luống Những luống cày úp sát vào nhau trông thật đẹp Ôi, bác cày trông thật thiện nghệ, trâu và người mải miết cặm cụi làm việc Chẳng mấy chốc những luống cày màu nâu óng ánh dưới nắng tháng mười Mặt trời lên cao dần, lưng bác ướt đẫm mồ hôi mà vẫn say sưa làm việc Không biết mệt mỏi
Em thật cảm ơn những người nông dân như bác Với sự khéo léo và cần mẫn đã làm nên những mùa màng bội thu, mang lại sự ấm no ,niềm vui hạnh phúc cho con người”
Như vậy qua việc miêu tả hình ảnh bác nông dân đang cày ruộng ta các em đã làm nổi bật được nét tiêu biểu về ngoại hình cũng như tính cần cù, bản chất mộc mạc
của một người nông dân ngày đêm chân lấm tay bùn gắn bó với công việc cày cấy
1.1.1.2 Kết luận sư phạm
Từ việc tìm hiểu các khái niệm liên quan và việc phân tích các đặc trưng của văn
tả ngưởi có thể thấy việc nắm vững được khái niệm, đặc trưng của một bài văn tả người là rất cần thiết Nắm được đặc điểm cơ bản sẽ tránh được việc viết văn lạc đề, tránh được việc lấy râu ông nọ chắp cằm bà kia Văn miêu tả trong chương trình lớp 5 gồm nhiều kiểu bài khác nhau, nếu không nắm chắc được từng loại thì sẽ dẫn đến tình trạng lạc đề Là một giáo viên Tiểu học, chúng tôi tin rằng không một ai chưa từng một
lần nghe qua bài văn tả ông nội, trong đó có câu: “ nhà em có nuôi một ông nội, ông nội em có tứ chi” Như vậy học sinh đã không xác định được những chi tiết nào là
dùng để tả người những chi tiết nào là tả con vật, các em dễ bị lẫn lộn giữa các kiểu bài văn với nhau Điều này sẽ trở thành một thảm họa cho ngành giáo dục Yêu cầu đặt ra
Trang 1813
ở đây là giáo viên phải làm sao để học sinh xác định và nắm chắc được điều đó và vận dụng vào bài viết của mình một cách hợp lý nhất Muốn vậy người giáo viên cần giúp cho học sinh có một cái nhìn toàn diện về việc nắm đặc trưng cơ bản của văn tả người
để không bị nhầm lẫn một cách đáng tiếc
1.1.2 Cơ chế của hoạt động tạo lập văn bản và việc dạy học sinh lớp 5 viết văn tả người
1.1.2.1 Cơ chế của hoạt động tạo lập văn bản
TLV được hiểu là tập sản sinh ngôn bản, dạy TLV là dạy các kiến thức và kỹ năng giúp học sinh tạo lập, sản sinh ra ngôn bản Nhiệm vụ cơ bản của phân môn TLV
là giúp học sinh tạo ra được các ngôn bản nói và viết theo các phong cách chức năng ngôn ngữ, hình thành và phát triển năng lực tạo lập ngôn bản – một năng lực được tổng hợp từ các kỹ năng bộ phận như : xác định mục đích nói, lập ý, triển khai ý thành lời ( dạng nói, viết bằng câu, đoạn, bài)
Để làm rõ hơn về vấn đề này, trước hết, cần khẳng định :
* Dạy TLV là dạy một hoạt động
Công việc đầu tiên của dạy học TLV cho học sinh nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng là tạo ra động cơ, nhu cầu nói năng, kích thích học sinh tham gia vào hoạt động giao tiếp ( nói, viết) Vì cũng như các hoạt động tâm lý khác, hoạt động lời nói chỉ chỉ nảy sinh khi có động cơ nói năng
Các giai đoạn của hoạt động lời nói và kỹ năng làm văn Theo A.N.Lê-ôn-chép “để giao tiếp được trọn vẹn về mặt nguyên tắc thì con người phải nắm được hàng loạt các kỹ năng:
Một là: phải định hướng nhanh chóng và đúng đắn trong các điều kiện giao tiếp Hai là: phải biết lập đúng chương trình lời nói của mình, lựa chọn nội dung giao tiếp một cách đúng đắn
Ba là: phải tìm được phương tiện hợp lý để truyền đạt những nội dung đó
Bốn là: phải đảm bảo mối liên hệ qua lại
Nếu như một mắt xích của hoạt động giao tiếp bị phá huỷ thì người nói không thể
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 1914
đạt được kết quả giao tiếp như mong đợi, kết quả đó sẽ không hiệu quả”
Như vậy, theo A.N.Lê-ôn-chép, hoạt động lời nói là một cấu trúc động bao gồm bốn giai đoạn:định hướng, lập chương trình, hiện thực hóa chương trình và kiểm tra Cấu trúc này đã được vận dụng triệt để khi xây dựng hệ thống kỹ năng làm văn Theo
đó, các kỹ năng làm văn tương ứng được hình thành là :
+ Ứng với giai đoạn định hướng là kỹ năng xác định đề bài, giới hạn đề bài và kỹ năng xác định tư tưởng cơ bản của bài viết
+ Ứng với giai đoạn lập chương trình là kỹ năng lập ý, tìm ý, xây dựng dàn ý Việc làm này sẽ giúp học sinh trình bày bài nói (viết) một cách đầy đủ, mạch lạc, có lôgic Khi lập dàn ý, phải sắp xếp được ý chủ đạo và sắp sếp ý theo một trình tự nhất định
+ Ứng với giai đoạn hiện thực hoá chương trình là kỹ năng nói (viết) thành bài, bao gồm các kỹ năng bộ phận như: dùng từ, đặt câu, viết đoạn, viết bài + Ứng với giai đoạn kiểm tra kết quả là nhóm kỹ năng phát hiện lỗi - lỗi chính
tả, lỗi dùng từ, lỗi dựng câu và kỹ năng chữa lỗi
Các nhân tố của hoạt động lời nói và dạy học tập làm văn
Các nhân tố của hoạt động lời nói và các dạng lời nói cũng tác động tích cực đến quá trình tổ chức dạy học các kiểu bài TLV
Việc chỉ ra các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp có ý nghĩa lớn trong việc dạy học TLV Hoạt động nói năng không thể có hiệu quả nếu không tính đến những nhân tố này Đây là những căn cứ để đánh giá chất lượng một ngôn bản: Có lựa chọn với vai nói không ? Có lựa chọn đúng phương tiện giao tiếp không ? Có đạt được mục đích giao tiếp không…?
Sự hiểu biết về hoạt động lời nói đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được các đề bài gắn với tình huống giao tiếp, tổ chức các giờ học TLV làm sao để cho học sinh có nhu cầu giao tiếp
Khi nghiên cứu hoạt động lời nói, người ta thấy rằng cái kích thích hành vi nói là cái gì đó nằm ngoài ngôn ngữ Chính vì vậy, xét đến tận cùng, dạy TLV không phải bắt đầu từ hoạt động ngôn ngữ, từ sự tổ chức hoạt động ngôn ngữ mà phải bắt đầu
Trang 20Các dạng thức của lời nói
Lời nói được chia thành hai dạng đó là : lời nói miệng ( khẩu ngữ) và lời nói viết (bút ngữ) Tương ứng với hai dạng thức cơ bản của lời nói, kỹ năng tập làm văn được chia thành kỹ năng nói và kỹ năng viết
+ Dạy kỹ năng nói trong phân môn TLV : luyện nói là một nội dung quan trọng của phân môn TLV Các giờ TLV nói có nhiệm vụ luyện cho học sinh khả năng độc thoại để trình bày ý tưởng về các vấn đề khác nhau trong các thể loại văn Hoạt động luyện nói được sử dụng trong các bài dạy giúp học sinh tìm ý, triển khai ý thành lời Bằng cách trả lời các câu hỏi, học sinh đề xuất những ý kiến chính, chọn lựa ngôn từ để diễn đạt các ý Loại bài tập luyện nói theo dàn bài cũng là một đặc trưng của phân môn TLV
+ Căn cứ vào hoạt động giao tiếp hai dạng nói được xác lập là đối thoại và độc thoại Trong dạy học TLV cho học sinh kỹ năng nói đối thoại cũng được chú trọng trong quá trình tổ chức và lựa chọn hình thức học tập tích cực Học sinh có thể trao đổi, làm việc theo nhóm để hoạch định một nội dung mà giáo viên đề xuất hay tranh luận
về một tình huống dạy học được nêu ra trong đề bài
+ Dạy kỹ năng viết văn trong phân môn TLV: Kỹ năng viết trong phân môn TLV cần được so sánh với kỹ năng viết trong phân môn tập viết Viết trong phân môn TLV
là viết ở mức độ cao, cần nắm vững một hệ thống kỹ năng đa dạng : + Kỹ năng xác định yêu cầu đề bài
+ Kỹ năng tìm ý, lập ý + Kỹ năng phát triển ý + Kỹ năng diễn ý thành câu, đoạn, bài
+ Kỹ năng liên kết văn bản Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 2116
+ Kỹ năng hiệu chỉnh văn bản
Đồng thời học sinh cũng cần nắm được đặc trưng các phong cách chức năng ngôn ngữ, vốn hiểu biết của mình về đề tài bài viết
+ Kỹ năng viết trong phân môn TLV cũng được hình thành và phát triển theo từng giai đoạn Lớp 2,3 chủ yếu luyện các kỹ năng bộ phận; lớp 4,5 luyện kỹ năng làm bài văn theo các thể tài gắn bó và cần thiết trong hoạt động giao tiếp của học sinh, tương ứng với các mức độ kỹ năng này là các dạng bài tập căn bản:
Bài tập tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý gắn với từng loại văn bản
Bài tập xây dựng đoạn, viết bài theo các loại văn bản
Ngữ pháp văn bản và việc ứng dụng vào dạy học TLV
Những yếu tố và đặc trưng cơ bản của văn bản ảnh hưởng rất lớn đến dạy học TLV nói chung và văn tả người nói riêng
+ Tính thống nhất của văn bản : thể hiện trên hai phương diện là liên kết nội dung
và liên kết hình thức ảnh hưởng rất lớn đến việc tìm hiểu, định hướng và rèn kỹ năng tìm ý, lập dàn ý
+ Đặc trưng về nghĩa, cấu trúc đoạn văn cũng là yếu tố được khai thác, vận dụng vào dạy học TLV
+ Trong chương trình tiếng Việt hiện hành, đoạn có thể xem là đơn vị trung tâm của dạy học TLV Về chức năng, có các kiểu dạng : đoạn mở bài, đoạn thân bài, đoạn kết bài Để tăng cường rèn luyện kỹ năng tạo lập, sản sinh ngôn bản cho học sinh, nội dung dạy học TLV còn đề cập đến các dạng thức đoạn : mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp, kết bài mở rộng và kết bài không mở rộng
Như vậy để có thể dạy tốt các bài văn miêu tả ở Tiểu học nói chung và văn tả người cho học sinh lớp 5 nói riêng, giáo viên cần vận dụng các tri thức về TLV, trong
đó cần phải nắm chắc các hiểu biết chi tiết về văn tả người về ngôn ngữ, về đề tài, tư tưởng Các tri thức này góp phần chỉ ra nội dung luyện tập của các kỹ năng làm văn Nói cách khác, có các hiểu biết về loại thể văn học, giáo viên mới hiểu rõ tính đặc thù của từng kỹ năng trong từng kiểu văn Để “vẽ được bằng lời” giáo viên phải dạy học sinh tìm ý trong bài văn tả người bằng cách dạy quan sát và ghi chép các nhận xét
Trang 2217
Giáo viên phải hướng dẫn học sinh biết vận dụng các giác quan để quan sát, biết lựa chọn vị trí và thời gian quan sát, biết liên tưởng, tưởng tượng khi nhận xét sự vật và diễn đạt điều quan sát được một cách gợi cảm, gợi tả, tức là có hình ảnh và cảm xúcqua từng câu, từng đoạn và từng bài văn
1.1.2.2 Kết luận sư phạm
Qua việc tìm hiểu về cơ chế hoạt động tạo lập văn bản và việc dạy học sinh lớp 5 viết văn tả người thông qua việc phân tích một số cơ sở khoa học chi phối một cách trực tiếp đến dạy học TLV chúng tôi nhận thấy muốn cho học sinh viết tốt một bài văn miêu tả nói chung và bài văn tả người nói riêng thì người giáo viên trong quá trình dạy học phải luôn nhớ rằng dạy văn là dạy một hoạt động để nhằm tạo được động cơ, nhu cầu nói năng, kích thích học sinh giao tiếp, phải nắm được một cách chính xác các giai đoạn của hoạt động lời nói để hình thành và rèn luyện cho các em được các kỹ năng liên quan, nắm được các dạng thức của lời nói, các đặc trưng của văn bản đồng thời nắm vững ngữ pháp văn bản và việc ứng dụng vào dạy học TLV để nhằm nâng cao chất lượng dạy học TLV nói chung, văn tả người nói riêng
1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý, năng lực sử dụng ngôn ngữ của học sinh lớp 5 với việc dạy văn tả người
Hiện nay, với quan điểm dạy học hướng vào người học thì việc hiểu đối tượng mà người thầy đang tác động vào là điều vô cùng cần thiết, không chỉ cho công việc dạy học, mà cho cả công tác giáo dục
Những năm qua, các trường phổ thông đã thực hiện khá tốt các cuộc vận động:
“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, do đó chất lượng GD-ĐT có những chuyển biến rõ rệt, đặc biệt là phát huy được tính chủ động, tích cực, linh hoạt, sáng tạo của người dạy – người học Tuy nhiên, chất lượng dạy học ở một số giáo viên còn thấp, phương pháp còn nặng về truyền thụ lý thuyết Một số giáo viên quá chú trọng thực hiện việc truyền đạt kiến thức mà ít quan tâm đến bản thân người học Việc giáo viên không nắm vững tâm lý, trình độ nhận thức người học, nhầm “đối tượng” vẫn còn xảy ra ở một bộ phận giáo viên và dẫn đến dạy học không sát, chất lượng còn hạn chế Do đó đối với người dạy, trong quá trình dạy học cần phải nắm vững một số đặc điểm chính sau đây : Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 23Về tri giác : Ở lứa tuổi lớp 4,5 tri giác của học sinh có phát triển rõ rệt so với tri
giác của học sinh các lớp 1, 2, 3 Các em đã biết xác định mục đích của việc tri giác – tri giác có chủ định Các em đã bước đầu biết phân tích, suy luận, và ở lứa tuổi này tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, học sinh thích quan sát các sự vật hiện tượng sặc sỡ và hấp dẫn Tuy nhiên về cơ bản tri giác của học sinh lớp 5 thiên về tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và không chủ động
Từ đặc điểm này chúng tôi nhận thấy khi dạy học sinh viết văn tả người, cần đặt các em vào mối quan hệ cụ thể với đối tượng, khi xây dựng các biện pháp phải giúp các em xác định được mục đích viết văn, phân tích, suy luận những chi tiết đặc trưng khi tri giác về đối tượng miêu tả, và phải làm sao để các em lồng được cảm xúc của mình vào việc phân tích đối tượng
Về mặt chú ý : Ở lứa tuổi cuối của bậc Tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ
chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định
Căn cứ vào đặc điểm chú ý của học sinh, người giáo viên khi dạy học sinh viết văn cần phát huy một cách tích cực các đặc điểm này của các em, vì khi viết văn nhất
là văn tả người thì chú ý đóng vai trò quan trọng, có chú ý tốt trong quá trình quan sát thì các em sẽ nhận ra được những đặc điểm cơ bản về người được tả, có chú ý trong quá trình phân tích, lập dàn ý, quá trình lập luận thì bài viết sẽ đạt kết quả cao Cũng căn cứ vào đặc điểm này người giáo viên khi ra bài tập cho học sinh viết văn cần giới hạn về mặt thời gian để các em chú ý và hoàn thành một cách tốt nhất các bài tập đó, tránh tình trạng để quá lâu các em sẽ “viết dài - viết dai - dẫn đến viết dại”
Trang 2419
Việc tiếp nhận và tạo lập ngôn bản trong một bài văn rất cần ở học sinh khả năng
tư duy và tưởng tượng
Tư duy ở học sinh các lớp đầu cấp Tiểu học mang tính trực quan cụ thể, càng về
cuối cấp học, tư duy các em chuyển dần từ cảm tính sang tư duy trừu tượng khái quát trên cơ sở phân tích tổng hợp Tuy nhiên khả năng suy đoán của các em còn nhiều hạn chế
Tưởng tượng của học sinh các lớp đầu bậc Tiểu học còn đơn giản, chưa bền
vững, càng về cuối cấp hình ảnh của các em bền vững và gần với thực tế hơn, đặc biệt lúc này các em đã có khả năng tưởng tượng dựa trên tri giác từ trước và ngôn ngữ, đồng thời tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi xúc
cảm, tình cảm, những sự việc, hiện tượng đều gắn liền với những rung động tình cảm
của các em
Từ đặc điểm tư duy tưởng tượng của học sinh lớp 5 chúng ta có thể thấy nếu các
em sử dụng tốt thao tác tư duy tưởng tượng trong khi học và viết văn tả người một cách
đa dạng và phong phú để xây dựng hình tượng của người được tả thì bài văn sẽ đạt hiệu quả cao Bên cạnh đó còn có thể phát triển ở các em tính sáng tạo Tuy nhiên đặc điểm này cũng đặt ra cho người giáo viên một yêu cầu khi dạy học sinh viết văn tả người đó là phải biến những kiến thức khô khan trong SGK thành những hình ảnh có cảm xúc, đưa ra cho các em các đề văn có đối tượng gần gũi và sát với thực tế cuộc sống hằng ngày, đặt ra các câu hỏi mang tính gợi mở, giúp các em cảm nhận được cái hay của văn tả người, làm dậy lên ở các em những tình cảm chân thực và gần gũi với đối tượng được tả
1.1.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ
Hầu hết học sinh Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Đặc biệt trong phân môn tập làm văn năng lực ngôn ngữ của trẻ được biểu hiện rõ rệt nhất, từ Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 25vẻ, nghe ve/ Nghe vè miêu tả/ Tả người phải nhớ/ Giới thiệu tả ai?/ Dáng điệu, tóc tai/ Đôi môi, cặp mắt/ Cái mũi, làn da/ Áo quần, giọng nói/ Cử chỉ, ngoại hình/ Hành động, tính tình/ Có gì tả hết/ Khi đến phần kết/ Cảm xúc dâng trào/ Yêu mến thế nào/ Phải nêu cho rõ/ Nghe vẻ, nghe ve/ Nghe vè để nhớ!” Chắc chắn chỉ cần đọc “Bài vè
tả người” vài lần, học sinh sẽ thuộc để vận dụng, đồng thời còn gây được hứng thú cho các em khi bước vào tiết học văn tả người
Ngoài ra giáo viên có thể trau dồi vốn ngốn ngữ và tạo cơ hội cho các em thể hiện năng lực hành văn của mình qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp , tổ chức các cuộc thi
kể truyện đọc thơ, viết truyện, cuộc thi viết về người mẹ (cô) trong dịp mừng ngày 8/3
Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng
1.1.3.3 Đặc điểm tình cảm
Đặc điểm nổi bật nhất là đời sống tình cảm của học sinh Tiểu học là các em đang
ở lứa tuổi ngây thơ, trong trắng, rất dễ xúc cảm trước hiện thực, rất dễ hình thành những tình cảm tốt đẹp Các em dễ xúc cảm mạnh, đã có ấn tượng khá sâu sắc và khá bền vững Các em sống nhiều bằng tình cảm và bị ảnh hưởng nhiều bởi tình cảm Tình cảm của các em mang tính cụ thể , trực tiếp và giàu cảm xúc Nó không chỉ biểu hiện trong đời sống thường ngày đối với mọi người xung quanh mà còn trong cả hoạt động trí tuệ, các em tiếp thu kiến thức không đơn thuần bằng lý trí, mà còn dựa nhiều vào cảm tính và đượm màu sắc tình cảm, các em dễ bị “lây” những cảm xúc của người khác Tình cảm của các em đã có nội dung phong phú và bền vững hơn ở các lớp dưới
Trang 2621
Những tình cảm cao cấp đang hình thành Đặc biệt tình cảm gia đình giữ vài trò khá quan trọng nhiều khi lòng yêu thương cha mẹ trở thành động cơ học tập của các em Những tình cảm đạo đức, thẩm mĩ thường gắn với những sự vật cụ thể, gần gũi với các
em Ở lứa tuổi này các em đã bộc lộ cơ bản rõ ràng về tình cảm và xúc cảm của mình dành cho một đối tượng nào đó
Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh lớp 5 trong việc dạy học sinh viết văn tả người cần ở người giáo viên sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đến với các đối tượng miêu tả gần gũi trong cuộc sống hằng ngày
Từ đó các em sẽ bộc lộ một cách rõ ràng về tình cảm và xúc cảm của mình dành cho đối tượng miêu tả trong bài viết Đặc biệt phải luôn củng cố tình cảm cho các em thông qua các hoạt động cụ thể của bản thân như việc đối xử của giáo viên đối với những người xung quanh, hoặc tổ chức cho các em tham gia trò chơi nhập vai, đóng các tình huống cụ thể để các em có cơ hội bộc lộ tình cảm của mình trong các hoàn cảnh cụ thể
1.1.3.4 Đặc điểm hứng thú của học sinh lớp 5
Hứng thú có vai trò to lớn đối với hoạt động của con người nói chung và hoạt động nhận thức nói riêng Hứng thú làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức, làm nảy sinh khát vọng hành động say mê, sáng tạo, năng suất làm việc ở mỗi người Trong hoạt động học tập, hứng thú là yếu tố quan trọng thôi thúc người học nắm bắt tri thức một cách nhanh hơn, sâu sắc hơn, khi có hứng thú học tập một môn học nào đó, học sinh sẽ say mê nghiên cứu, học tập, việc lĩnh hội tri thức trở nên dễ dàng hơn và ngược
lại Như đại văn hào Macxim Gooki khái quát : “Tài năng nói cho cùng là tình yêu đối với công việc” Do đó, việc tạo hứng thú cho người học là một yếu tố cần thiết Có
hứng thú học sinh sẽ say mê học tập, tìm tòi kiến thức như vậy sẽ đem lại kết quả cao trong học tập
Đối với việc dạy học sinh viết văn tả người thì việc khơi dậy trong các em hứng thú viết văn là rất quan trọng, vì văn tả người nó không đơn thuần giống như các kiểu bài văn khác, có hứng thú thì các em mới say mê quan sát, nhìn nhận và ghi nhớ có chủ định các đặc điểm cơ bản về đối tượng , có hứng thú các em sẽ hăng say khám phá, tìm tòi và phát hiện những nét nổi bật về nội tâm của đối tượng để từ đó thể hiện cái nhìn của mình về đối tượng và xác định tình cảm của bản thân dành cho đối tượng từ đó làm Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 2722
cho bài văn có cảm xúc và đi vào lòng người đọc một cách tự nhiên Ngược lại nếu học sinh không có hứng thú thì bài viết của học sinh sẽ không đảm bảo tính chân thực và các em chỉ viết với tư tưởng là viết cho xong, như vậy bài văn sẽ không đảm bảo được mục tiêu cần có của một bài văn tả người
Ngoài các đặc điểm chính nêu trên thì tâm sinh lý học sinh lớp 5 còn có những đặc điểm khác dù không mang tính nổi trội nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập văn tả người của học sinh như đặc điểm trí nhớ, đặc điểm về ý chí Có trí nhớ tốt các em sẽ nhớ lâu được các đặc điểm về đối tượng trong quá trình quan sát và tri giác, nắm được điều này, người giáo viên khi dạy học sinh viết văn tả người phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản đối tượng miêu tả, giúp các em xác định đâu là đặc điểm quan trọng, nét tiêu biểu của đối tượng miêu tả mà mình cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ, đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học sinh lớp 5 viết văn tả người
1.2.1 Về mục tiêu, chương trình dạy học văn tả người ở lớp 5
1.2.1.1 Mục tiêu
a Kiến thức
- Học sinh nắm được cấu tạo ba phần của một bài văn tả người
- Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý cho một đề văn tả người
- Nêu được những chi tiết tiêu biểu, đặc sắc về ngoại hình và tính tình và các hoạt động của nhân vật trong bài văn, đoạn văn mẫu
- Biết vận dụng những hiểu biết về cấu tạo của bài văn tả người để lập dàn ý chi tiết miêu tả một người thân trong gia đình – một dàn ý với những ý riêng
- Biết tìm ra được mối quan hệ giữa các chi tiết miêu tả ngoại hình của nhân vật với nhau, giữa các chi tiết miêu tả ngoại hình với việc thể hiện tính cách
- Dựa trên các kết quả quan sát và dàn ý đã có để viết một đoạn văn, bài văn
- Trang bị kiến thức và rèn luyện kỹ năng làm văn cho học sinh
- Góp phần cùng với các môn học khác cung cấp cho HS các kiến thức tổng hợp
Trang 2823
về văn hóa, tự nhiên và xã hội
b Kỹ năng
- Rèn luyện kỹ năng làm văn cho học sinh
- Rèn kỹ năng quan sát, óc tưởng tượng, tư duy, sáng tạo
- Rèn kỹ năng tổng hợp, phân tích đối tượng miêu tả
c Thái độ
- Góp phần bồi dưỡng tình cảm gia đình, cách nhìn nhận và đánh giá đối với cộng đồng, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học sinh
- Bồi dưỡng cho học sinh thêm yêu thích phân môn TLV nói chung và văn tả người nói riêng
1.1.3.2 Nội dung chương trình TLV lớp 5
Chương trình TLV lớp 5 được thiết kế tổng cộng 69 tiết/ năm Trong đó, văn tả
người có 13 tiết được phân bố như sau:
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 2924
HỆ THỐNG NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH TLV TẢ NGƯỜI LỚP 5
(học kỳ I và học kỳ II)
Tuần 12 Tiết 1 Cấu tạo của bài văn tả cảnh
Tiết 2 Luyện tập tả người (quan sát và lựa chọn) Tuần 13 Tiết 1, 2: Luyện tập tả người (tả ngoại hình)
Tuần 15 Tiết 1,2 :Luyện tập tả người ( tả hoạt động)
Tuần 16 Tiết 1 Tả người ( kiểm tra viết)
Tuần 17 Tiết 1 :Trả bài văn tả người
Tuần 19 Tiết 1 : Luyện tập tả người ( dựng đoạn văn mở đầu)
Tiết 2 : Luyện tập tả người ( dựng đoạn văn kết bài) Tuần 20 Tiết 1 : Tả người ( kiểm tra viết)
Tuần 21 Tiết 2 : Trả bài văn tả người
Tuần 33 Tiết 1 : Ôn tập tả người
Tiết 2 : Tả người ( kiểm tra viết) Tuần 34 Tiết 2 : Trả bài văn tả người
1.2.2 Về việc dạy học văn tả người cho học sinh lớp 5 ở trường tiểu học
Nhìn chung hiện nay, trong các trường Tiểu học một thực trạng chung của các em học sinh khi học phân môn tập làm văn đó là các em còn lúng túng trước một đề bài tập làm văn, từ khâu lập dàn ý đến khâu sáng tạo văn bản, nguyên nhân có từ rất nhiều phía, tuy nhiên một trong những nguyên nhân chính đó là khâu rèn kỹ năng thực hành tiếng Việt chưa được chú ý đúng mức, các em còn thụ động trước cách giải quyết các yêu cầu mà đề bài nêu ra, thụ động tiếp thu bài văn mẫu, mặt khác trong cuộc sống, các
em chưa có ý thức tích lũy tri thức, làm giàu vốn từ phục vụ cho việc thành công của
Trang 30ở phần mở đầu, nhiệm vụ của phân môn TLV là rèn cho học sinh kỹ năng sản sinh ngôn bản và hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức mà phân môn tiếng Việt khác
đã hình thành Nhưng trên thực tế phân môn này vẫn chưa được nhiều giáo viên chú trọng quan tâm
Qua tìm hiểu dự giờ trao đổi với giáo viên chúng tôi nhận thấy hầu hết các giáo viên tham gia dạy lớp 5 đều có quá trình dạy học lâu năm nên tích lũy được nhiều kiến thức và kinh nghiệm tương đối vững chắc Nhưng để dạy tốt phân môn TLV nói chung và cụ thể văn tả người nói riêng việc nhận thức được tầm quan trọng của phân môn đó là cần thiết Qua khảo sát các giáo viên đã và đang dạy lớp 5 chúng tôi nhận thấy nhận thức của giáo viên về vai trò của văn tả người chưa cao, mỗi giáo viên có một quan điểm và nhận thức khác nhau về phân môn TLV Tuy nhiên, chúng ta phải khẳng định rằng, phân môn TLV giúp các em rèn khả năng quan sát, miêu tả, tư duy trừu tượng Vì vậy, giáo viên không thể xem nhẹ hay lơ là quá trình dạy học
Khi tổ chức giảng dạy bài học văn tả người, giáo viên chủ yếu tuân thủ SGK và
sự gợi ý hướng dẫn giảng dạy SGV, ít giáo viên quan tâm đến việc xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ chỉ ngoại hình, tính tình và hoạt động của con người mà chỉ bó hẹp trong phạm vi của SGV Ít giáo viên xây dựng các đề văn nhỏ để rèn luyện khả năng quan sát, lập dàn ý, khả năng viết câu, đoạn trong bài văn
Trong quá trình dạy học việc sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học một cách linh hoạt là rất cần thiết bởi không có phương pháp dạy học nào là vạn năng nên khi
tiến hành khảo sát giáo viên chúng tôi đưa ra câu hỏi “ Khi dạy tập làm văn thầy (cô) thường sử dụng các biện pháp dạy học nào ?” thì đa số các giáo viên đều đưa ra các
biện pháp tạo hứng thú ở học sinh như: Trau dồi vốn từ, rèn kỹ năng quan sát, luyện viết câu văn, đoạn văn sao cho liên kết được các ý, đoạn…Tuy nhiên, việc vận dụng nó như thế nào trong giờ dạy mới mang lại hiệu quả cao là điều còn có khá nhiều giáo viên Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 3126
lúng túng
Với phân môn TLV nói chung và văn tả người nói riêng thì việc xây dựng các đề văn gây hứng thú cho học sinh là cần thiết, với câu hỏi để rèn luyện khả năng làm văn cho các em thầy (cô) có thường xuyên đưa gắn liền với thực tế cuộc sống nhằm kích thích hứng thú của các em không thì đa số giáo viên trả lời là có, một bộ phận nhỏ trả lời là không do nhận thức của họ về văn tả người chưa đầy đủ
Tiếp đến là vấn đề sau khi ra đề văn cho học sinh, giáo viên hầu như khoán trắng cho các em viết mà không quan tâm đến việc định hướng cho các em trước khi làm bài
vì ngoài việc hướng dẫn các em quan sát, tìm ý, lập dàn ý, viết câu viết đoạn ở các tiết học trước thì việc nhắc lại đường đi nước bước cho các em trước khi làm bài là rất cần thiết, vì khi có được hướng đi cho một bài văn các em sẽ có cảm hứng viết bài và bài viết sẽ đạt kết quả cao Sau khi học sinh viết bài xong, giáo viên nhận xét hay hay không hay mà không quan tâm đi sâu nhận xét về bài viết của các em để tìm ra được
ưu điểm của các em trong bài viết nhằm tạo cho các em một tâm lý hồ hởi, vì tâm lý học sinh bao giờ cũng muốn được khen Qua dự giờ các giờ dạy văn tả người ở trường Tiểu học Bắc Nghĩa – Đồng Hới – Quảng Bình, cảm nhận chung của chúng tôi
về giờ dạy văn tả người là chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, và giờ dạy chưa thực sự linh hoạt
Trong quá trình dạy học luôn có những thuận lợi và khó khăn vì vậy chúng tôi đã
đưa ra câu hỏi “Thầy (cô) có thể cho biết những thuận lợi và khó khăn trong quá trình giảng dạy phân môn Tập làm văn là gì?” Thì kết quả thu được là:
- Thuận lợi:
+ Nhà trường luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện công tác chuyên môn nhằm nâng cao tay nghề cho giáo viên
+ Tổ chuyên môn đã tổ chức chuyên đề dạy học TLV lớp 5
+ GV đều được trang bị đầy đủ SGK, SGV, sách tham khảo…
+ Đối tượng tả khá gần gũi với học sinh ( người thân trong gia đình, người ngoài xã hội có ảnh hưởng nhất định tới đời sống của trẻ)
+ Đặc điểm tâm lý của học sinh có tâm hồn trong sáng, ngây thơ, giàu cảm xúc
và sức sáng tạo Thế giới của các em là thế giới cổ tích Các em thường có xu hướng
Trang 3227
đem những đặc điểm của các nhân vật trong cổ tích để miêu tả vào nhân vật của mình Những nhân vật đó là những người người bạn thân thiết gần gũi mà các em có thể tâm tư, chia sẻ tình cảm của mình Đặc điểm tâm lý này rất thuận lợi cho việc khơi gợi cho các em những cảm xúc miêu tả thú vị, bất ngờ…
- Khó khăn:
+ Lên lớp 5, học sinh mới bắt đầu học cách lập dàn ý, dựng đoạn và viết bài văn tả người thành một bài văn hoàn chỉnh Hơn nữa, khả năng ngôn ngữ của các em còn hạn chế
Mỗi bài văn tả người muốn hay lại đòi hỏi khả năng tưởng tượng và sử dụng ngôn ngữ diễn đạt thật sinh động Thực tế cho thấy, đa số học sinh lớp 5 viết văn tả người chưa hay, sắp xếp ý còn lộn xộn, lủng củng, hình ảnh của đối tượng trong bài văn còn chưa gợi tả, ít liên tưởng và đôi khi các em còn lẫn lộn giữa các loại văn khác nhau hoặc chỉ là sao chép một cách giống hệt bài văn mẫu
+ Văn tả người là dạng bài khó dạy và khó học nhất trong các dạng của văn miêu
tả và khó đạt hiệu quả cao đã là nhận thức chung của giáo viên dạy lớp 5
+ Trường thuộc vùng ven thành phố nên điều kiện kinh tế chưa cao, cả giáo viên
và gia đình học sinh đều còn nhiều khó khăn về kinh tế nên ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả dạy học
Như vậy ta có thể thấy việc rèn luyện kĩ năng viết văn tả người là một quá trình lâu dài, trong một lớp học bao giờ cũng có những học sinh tiến bộ rất nhanh song bên cạnh cũng có những học sinh tiến bộ rất chậm đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì
Có những biện pháp khắc phục lỗi viết văn, viết văn giàu cảm xúc, rèn kỹ năng viết văn tả người cho học sinh được coi là tích cực nhưng nếu người giáo viên không kiên trì và áp dụng một cách máy móc, không có chiều sâu thì kết quả thu lại sẽ không cao, thậm chí có thể là thất bại Hiệu quả của các biện pháp này phụ thuộc vào các yếu
tố chủ quan và khách quan, trong đó chủ yếu nói tới ý thức dạy của giáo viên và ý thức học của học sinh
Nếu một lớp học mà giáo viên tận tình giảng dạy, có trình độ kiến thức và chuyên môn cao, thường xuyên tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm để tìm ra được những biện pháp tích cực áp dụngvào việc giảng dạy của mình để thu lại kết quả cao nhưng bên cạnh Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 33có cần hỗ trợ tương tác qua lại giữa giáo viên và học sinh thì mới có kết quả cao
1.1.2.2 Về việc học
Nhận thức và quan điểm của học sinh về văn tả người
Về phía học sinh qua khảo sát và qua việc dự giờ cho thấy, nhìn chung các em có hứng thú khi tham gia học và viết văn tả người nhưng số lượng đó không cao, khi
chúng tôi đưa ra câu hỏi: “Em có thích học văn tả người không?” thì có 57,1% học
sinh trả lời là có, 28,6% trả lời bình thường, 14,2% là không thích Mỗi kiểu bài văn
đều mang lại cho các em những cảm nhận khác nhau Khi được hỏi: “Em thích học kiểu bài văn nào nhất?” 28,6% các em cho rằng thích học văn tả người, 14,3% thích
học văn tả cảnh, 21,4% các em cho rằng thích học văn tả cây cối, 14,3 % các em cho rằng thích học văn tả con vật, và 21,4 % các em cho rằng thích học văn tả đồ vật
Điều đó chứng tỏ rằng, các em đã ý thức được phần nào tầm quan trọng của văn
tả người nhưng chưa thực sự yêu thích kiểu bài này Một số bộ phận học sinh khi viết văn tả người và làm các bài tập liên quan các em viết với thái độ thụ động, bắt buộc và viết cho có bài
Có hứng thú học tập nhưng để viết được văn hay và cách tả người độc đáo thì tài liệu học tập cũng đóng một vai trò quan trọng Qua điều tra tác giả thấy rằng, 100% học sinh đến trường đều có đủ SGK tiếng Việt, còn các tài liệu tham khảo khác như bài văn hay, bài văn mẫu thuộc chương trình lớp 5 các em sử dụng phổ biến (chiếm khoảng 64,3%)
Để học tốt phân môn TLV, ngoài giờ học trên lớp, học sinh phải thường xuyên
Trang 34Với câu hỏi “Khi viết bài tập làm văn các em có tham khảo tài liệu tham khác vào bài viết của mình không?” có 40% học sinh trả lời thường xuyên sử dụng tài
liệu tham khảo vào bài viết của mình, 45,7% là thỉnh thoảng sử dụng và một tỷ lệ nhỏ khoảng 14,3% học sinh trả lời rằng không bao giờ sử dụng tài liệu tham khảo vào bài viết của mình Con số này tuy không lớn nhưng điều đó cũng ảnh hưởng tới hiệu quả dạy học phân môn TLV nói riêng, các phân môn khác trong chương trình tiếng Việt nói chung Bởi vậy, giáo dục ý thức tự giác trong dạy học dạng viết văn tả người cho các em cũng gặp phải không ít những khó khăn đó là:
Sự phân hóa giữa các học sinh trong một lớp và giữa các lớp về khả năng nhận thức Có em học tốt và vận dụng những hiểu biết vào học tập rất hiệu quả Tuy nhiên,
số lượng này không nhiều, còn rất nhiều em khả năng hiểu biết và vận dụng còn yếu Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy và sáng tạo của các em trong quá trình viết văn
1.2.3 Định hướng về việc dạy học sinh lớp 5 viết văn tả người
Từ việc nắm mục tiêu và nội dung chương trình văn tả người ở lớp 5 chúng tôi nhận thấy chương trình văn tả người ở lớp 5 về cơ bản đã cung cấp cho học sinh được những mục tiêu cơ bản về kiến thức, kỹ năng và thái độ nhưng đa số các tiết TLV tả người tập trung chủ yếu ở chương trình của học kỳ 1 chưa phân bố đều đặn ở cả hai học kỳ nên các em còn gặp nhiều khó khăn trong việc nhớ lại những kiến thức cơ bản của văn tả người, điều này đòi hỏi người giáo viên khi dạy các bài dạy văn tả người cần Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 35Đồng thời qua khảo sát về tình hình nhận thức của học sinh lớp 5 về văn tả người cũng như việc phân tích kết quả thu được từ phiếu khảo sát dành cho học sinh chúng tôi nhận thấy thực trạng học văn tả người của học sinh lớp 5 còn nhiều vấn đề bất cập Thực trạng này cho thấy người giáo viên cần cần phải chấn chỉnh lại cách dạy của mình, trong có đó việc đưa ra các biện pháp rèn kỹ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5 làm sao để tạo ra những sản phẩm có hiệu quả nhất Mỗi giáo viên phải luôn canh cánh trong lòng rằng vì sao số lượng học sinh giỏi tập làm văn ít ỏi, đếm trên đầu ngón tay như vậy, trong khi tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của chúng ta, các em lúc chưa tròn một tuổi đã biết nói, năm sáu tuổi đã biết đọc, đã biết viết tiếng Việt ? Chúng ta đã tự hào tiếng Việt ta phong phú, giàu hình ảnh, đa dạng về nghĩa, có sức biểu cảm sâu sắc Bên cạnh đó đối tượng của các em trong các đề văn tả người luôn gần gũi với các em, nhưng một thực tế đáng buồn lòng là các em học sinh đa số đã biến các bài văn tả người thành văn kể, liệt kê một cách khô khan, nghèo nàn về từ, diễn đạt rườm rà tối nghĩa, không có cảm xúc Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy - học văn miêu
tả và nhất là văn tả người cho học sinh lớp 5? Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên là một quá trình và cũng là mục đích cần hướng đến của các kỹ sư tâm hồn
Những kết quả nghiên cứu ở chương 1 đã mở ra cho chúng tôi một phương hướng tích cực hợp lý trong việc nghiên cứu và đưa ra các biện pháp rèn kỹ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5 Hệ thống các biện pháp mà chúng tôi đưa ra sẽ hướng vào việc giúp các em nắm bắt được những đặc trưng cơ bản cũng như rèn luyện các kỹ
Trang 3631
năng cơ bản (kỹ năng quan sát, tìm ý, lập dàn ý, viết câu, đoạn, bài) của một bài văn tả người, bồi dưỡng cho các em về tình cảm và xúc cảm, hướng cho các em cách nhìn nhận về một đối tượng miêu tả, giúp các em tích cực hóa được vốn từ chỉ ngoại hình, nội tâm bên trong cũng như hoạt động của một con người cụ thể, đồng thời góp phần phát triển trí tưởng tượng, óc sáng tạo, biết phân biệt đúng - sai, xấu - tốt, phải - trái, từ
đó nuôi dưỡng tâm hồn các em vươn lên chân - thiện – mĩ Để hiện thực hóa mục đích này, chúng tôi sẽ đưa ra các biện pháp phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 5, tạo cho các em có cơ hội phát huy hết khả năng của mình trong quá trình viết văn Qua việc đưa ra các biện pháp rèn kỹ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5 ở chương 2 chúng tôi hi vọng sẽ góp phần thiết thực nhằm cải tạo chất lượng viết văn tả người cho học sinh lớp 5 ở trường Tiểu học
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 3732
Chương 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG VIẾT VĂN TẢ NGƯỜI CHO HỌC SINH LỚP 5 2.1 Các biện pháp giúp học sinh nắm bắt những đặc trưng của văn tả người
2.1.1 Cung cấp văn mẫu
Một trong những biện pháp đầu tiên để giúp học sinh nắm được các đặc trưng của văn tả người là cung cấp cho học sinh văn mẫu
Về vấn đề lựa chọn văn mẫu thì có thể là giáo viên đưa ra một hệ thống các bài văn mẫu để sau đó học sinh phân tích Cũng có thể là giáo viên yêu cầu học sinh tìm và dẫn chứng ra các bài văn mẫu cụ thể có trong và ngoài chương trình sau đó học sinh tiến hành phân tích dựa trên các ngữ liệu trong văn mẫu, để từ đó tìm ra các đặc trưng của văn mẫu khái quát lên thành đặc trưng của văn tả người nhằm phục vụ cho việc dạy học sinh viết văn tả người Văn mẫu ở đây bao gồm các bài văn và các tác phẩm văn học có nội dung liên quan đến văn tả người
Người giáo viên và học sinh khi sử dụng văn mẫu phải hết sức cẩn thận Một bài văn mẫu tả người lý tưởng phải đáp ứng được nhiều dữ kiện để hình thành khái niệm lý thuyết về cấu tạo, đặc trưng của một bài văn tả người, đảm bảo được về nội dung tư tưởng, tình cảm cũng như giá trị thẩm mỹ và giá trị văn học
Khi lựa chọn các văn bản mẫu cần chú ý lựa chọn các mẫu có chứa đựng yếu tố tả người cụ thể rõ ràng nhất, văn bản mẫu phải có sự hấp dẫn và lôi cuốn giúp học sinh hứng thú và sáng tạo khi tạo lập văn bản khác dựa theo mẫu, đồng thời mẫu phải ngắn gọn, đảm bảo tính thẩm mỹ, đảm bảo cho việc giáo dục học sinh biết nhận thức, đánh giá cái đẹp trong văn bản và phải phù hợp với tâm lý của học sinh lứa tuổi lớp 5, gần gũi với học sinh để các em có thể dễ dàng nhận thức Và một điểm cần chú ý trong khi
sử dụng văn mẫu là chỉ dùng văn mẫu để tham khảo chứ không được rập khuôn theo mẫu khi viết bất kỳ thể loại văn nào, nhất là đối với bài văn tả người thì lại càng không thể, vì về cơ bản ta có thể khẳng định trên thế giới này không ai giống ai một cách hoàn toàn và tình cảm của mỗi người dành cho một người là hoàn toàn không giống nhau Người giáo viên khi dạy học sinh viết văn tả người nên hướng dẫn trẻ cách sử dụng văn mẫu như tài liệu tham khảo, học cách bố cục, triển khai vấn đề chứ không phải bê
Trang 3833
nguyên văn mẫu ra viết lại Và không được phép học thuộc và viết y chang bài văn mẫu theo kiểu rập khuôn máy móc vì như vây sẽ bóp nghẹt tư duy sáng tạo của các em Ngoài ra, vốn từ của các em bị bó hẹp trong khuôn khổ bài văn mẫu, khi gặp những đề khác chưa được đọc, được làm, các em sẽ không biết triển khai hoặc viết rất ngô nghê Ngoài ra trong quá trình lựa chọn và cung cấp văn mẫu, người giáo viên cũng cần căn cứ vào trình độ của học sinh để lựa chọn và cung cấp những mẫu văn tả người phù hợp để học sinh dễ dàng phân tích và cảm thụ
2.1.2 Hướng dẫn học sinh cảm thụ văn mẫu và nắm bắt đặc trưng văn tả người
Để học sinh có thể nắm bắt được những kiến thức phong phú, có thể nhận biết và nắm bắt được những đặc trưng của văn tả người qua các văn bản mẫu thì yêu cầu đặt ra
là các em cần phải cảm thụ được một cách tổng quát về văn bản mẫu đó Mà muốn cảm thụ được thì trước tiên các em cần phải phân tích dựa trên các ngữ liệu có sẵn để hiểu được ngôn ngữ của văn tả người trong văn chương, phân tích để cảm thụ được cái hay, cái đẹp, cái riêng của mỗi con người trong mỗi tác phẩm, và phân tích để tìm ra cấu tạo chung nhất của một bài văn tả người, để tìm ra được những đặc trưng của nó Trên thực
tế qua việc tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học, ta có thể thấy được, học sinh Tiểu học dễ dàng cảm nhận và tiếp thu cái hay, cái mới qua sách vở nhất là qua các tác phẩm văn học, các em dễ có những cảm xúc thẩm mỹ xoay quanh cái đẹp của con người trong xã hội qua các bài văn, đoạn văn mẫu Vì vậy muốn học sinh cảm thụ tốt và có hứng thú học tập thì phải có đề tài hay
Ví dụ : Khi đưa ra văn bản mẫu về hình tượng của chàng trai họ Hạng trong bài văn tả Hạng A Cháng của nhà văn Ma Văn Kháng Bằng việc hướng dẫn các em đọc hiểu và phân tích tác phẩm dựa trên các câu hỏi trong SGK, để từ đó các em rút ra được cấu tạo chung của bài văn tả người
“Nhìn thân hình cân đối của Hạng A Cháng tất cả các cụ già trong làng đều tấm tắc
A Cháng trông như một con ngựa tơ hai tuổi, chân chạy qua chín mười khe mà không biết mệt, khỏe quá, đẹp quá !
A Cháng ười đẹp thật Mười tám tuổi, ngực nở vòng cung, da đỏ như lim, bắp tay bắp chân rắn như trác gụ Vóc cao, vai rộng, người đứng thẳng như cột đá trời trồng
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Trang 3934
Nhưng phải nhìn Hạng A Cháng cày mới thấy hết vẻ đẹp của anh Anh đến chuồng trâu dắt con trâu béo nhất, khỏe nhất Người vác cày ra ruộng A Cháng đeo cày, cái cày của người Hmông to nặng lắm, cày bằng gỗ tốt màu đen, vòng như hình cánh cung, ôm lấy bộ ngực nở Trông anh hùng dũng như một chàng hiệp sĩ cổ đeo cung ra trận Tới nương, A Cháng mắc cày xong, quát một tiếng “Mổng”và bây giờ chỉ chăm chăm nhìn vào công việc Hai tay A Cháng nắm đốc cày, mắt nhìn thế ruộng, nhìn đường cày, thân hình nhoài thành một đường cong mềm mại khi qua trái, lúc tạt phải theo đường cày uốn vòng trên hình ruộng bậc thang như một mảnh trăng lưỡi liềm Lại có lúc được sá cày thẳng, người anh rạp hẳn xuống, đôi chân xoải dài hoặc băm những bước ngắn, gấp gấp
Sức lực tràn trề của A Cháng là niềm tự hào của dòng họ Hạng, một dòng họ Hmông đang định cư ở chân núi Tơ Bo.”
Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích thông qua hệ thống câu hỏi trong SGK: Xác định phần mở bài và cho biết tác giả giới thiệu Hạng A Cháng bằng cách nào?
+ Tác giả giới thiệu Hạng A Cháng bằng cách đưa ra lời nhận xét của các cụ già trong làng về thân hình khỏe, đẹp của A Cháng
Ngoại hình của A Cháng có những điểm gì nổi bật
+ Đó là ngực nở vòng cung; da đỏ như lim; bắp tay bắp chân rắn nhưng vóc cao, vai rộng, người đứng thẳng như cái cột trời trồng; A Cháng trông hùng dũng như một chàng hiệp sĩ cổ đeo cung ra trận
Qua đoạn văn miêu tả hoạt động của A Cháng em thấy A Cháng là người như thế nào ?
+ A Cháng là một người lao động vừa khỏe khoắn lại vừa điềm đạm, luôn cần cù, say mê lao động, tập trung cao độ đến mức không biết mệt
Tìm phần kết bài và nêu ý chính của nó?
+ từ sức lực tràn trề chân núi Tơ Bo
Ý chính: Ca ngợi vẻ khỏe khoắn, sức lực tràn trề của A Cháng đồng thời giói thiệu về dòng họ Hạng sống ở chân núi Tơ Bo
Trang 4035
Từ bài văn trên nhận xét về cấu tạo của bài văn tả người?
Bố cục của một bài văn tả người thường có 3 phần như sau:
- Mở bài: giới thiệu về người định tả
- Kết bài : nêu cảm nghĩ về người được tả
Ngoài hệ thống câu hỏi chính có trong SGK, giáo viên có thể gợi ý hoặc chính giáo viên đưa ra các câu hỏi phụ nhằm khơi gợi hứng thú và cảm xúc trong các em đối với tác phẩm đó
Ví dụ với đoạn văn tả Hạng A Cháng như trên thì giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi phụ như :
Nêu những hình ảnh so sánh có trong đoạn văn và tác dụng của nó ? Nêu những từ ghép được sử dụng trong đoạn văn và tác dụng của nó ? Đọc xong đoạn văn này em có cảm xúc gì ?
Sau khi nắm được cấu tạo của bài văn tả người, HS luyện tập quan sát và chọn lọc chi tiết Thông qua việc phân tích văn mẫu để giúp học sinh tìm hiểu cách nhận biết những chi tiết tiêu biểu về hình dáng hoạt động của một con người từ đó các em sẽ vận dụng những hiểu biết về việc chọn lọc chi tiết khi quan sát, miêu tả người để quan sát
và ghi lại ngoại hình, hoạt động của đối tượng mà học sinh sẽ tả
Ví dụ 1: Đọc bài văn sau và ghi lại những đặc điểm ngoại hình nổi bật của người
bà (Bà Tôi - Tiếng Việt 5- Tập 1 – trang 122)
Sau khi học sinh đã học được cách quan sát và chọn lọc chi tiết từ văn mẫu thì bước tiếp theo giáo viên phải giúp học sinh tìm ra mối kiên hệ giữa việc miêu tả ngoại hình với việc thể hiện tính cách nhân vật
Ket-noi.com kho tai lieu mien phi