Trong hệ thống đê điều, cống dưới đê đóng một vai trò quan trọng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp bằng cách lấy nước ngoài sông vào đồng và tiêu nước từ đồng ra sông. Nhưng đồng thời, công trình này cũng là mắt xích yếu nhất trong hệ thống này.
Trang 1ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 2 - 2020
13
ĐÁNH GIÁ NGUYÊN NHÂN, GIẢI PHÁP XỬ LÝ SỰ CỐ
CỐNG TẮC GIANG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ
AN TOÀN SAU KHI XỬ LÝ SỰ CỐ NĂM 2012
PHÙNG VĨNH AN, TRẦN QUỐC LĨNH *
NGUYỄN CẢNH THÁI **
Evaluating the reason and remedial measures of the sluice under dike Tăc Giang and results of the investigation and assessement of safety after handling
Abstract: The sluice under dike is an important item in the dike system,
serving the socio-economic development But it is also the most dangerous position on the dike system, where often the incidents of seepage, internal erosion sluice foundation, and seepage through riverbank connection of sluice Currently, most of this problem was handled by Jet Grouting technology The problem is that after these incidents have been handled by this technology, the under sluice works safely or not This paper presents the researched contents through a typical treatment project, Tac Giang -
Ha Nam sluice The content assessed the causes of internal erosion of the sluice foundation and seepage through riverbank connection of sluice, Tac Giang sluice (Ha Nam Province) in 2012 and the solution of treated by JG technology By the way, introduce the results of the investigated and assessed of sluice safety after 4 years from the troubleshooting The evaluation results are a channel of information for reference by state management
Keyword: Sluice under the dike; Internal erosion; Seepage through
foundation sluice; Seepage through riverbank connection of sluice; Construction work incidents
1 MỞ ĐẦU *
Trong hệ thống đê điều, cống dưới đê
đóng một vai trò quan trọng phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp bằng cách lấy nước ngoài
sông vào đồng và tiêu nước từ đồng ra sông
Nhưng đồng thời, công trình này cũng là mắt
xích yếu nhất trong hệ thống này [1], [2]
Cống Tắc Giang - Hà Nam là một cống dưới
đê tương đối lớn trên hệ thống đê sông Hồng,
*
Viện Thuỷ Công
Số, 3 Ngõ 95 Chùa Bộc, Trung Liệt, Đống Đa, Hà Nội
**
Đại học Thủy lợi
175 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội
Email: anphung.vtc@gmail.com
thời điểm xảy ra sự cố chỉ mới bàn giao được
3 năm
Sau khi sự cố thấm, xói ngầm được xử lý năm 2012 đến nay, công trình vận hành bình thường Tuy nhiên, vì chưa có kết quả khảo sát đánh giá an toàn, nên hàng năm vào mùa lụt bão, địa phương vẫn xếp nó vào công trình trọng điểm Để có kết quả đánh giá chính xác về tình trạng của công trình, rút kinh nghiệm cho những công trình khác Bộ KHCN đã cho phép khảo sát, đánh giá thông qua đề tài Độc lập cấp Nhà nước, mã số ĐTĐL.CN -04/16
Trang 22 NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP XỬ
LÝ SỰ CỐ THẤM, XÓI NGẦM NĂM 2012
2.1 Tóm tắt nguyên nhân sự cố và giải
pháp xử lý cống Tắc Giang
Cụm đầu mối cống Tắc Giang được xây
dựng ở huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam [3], [4],
[5] Công trình gồm có, 01 cống lấy nước 3 cửa, mỗi cửa rộng 4,2 m và 01 âu thuyền có
bề rộng B = 8m Khoảng cách giữa tim cống
và âu thuyền là 42 m Khoảng cách mép cống
và mép âu thuyền là 25,4m
Hình 1 Diễn biến sự cố ở trên cống và trong nhà điều hành
Cống được thiết kế với mực nước thiết kế
BĐI = +5,5 m; BĐII = +6,3 m; BĐIII = +7,1
m Địa chất nền tại khu vực công trình gồm có
7 lớp, nhưng công trình chủ yếu làm việc
trong lớp 4 là cát hạt nhỏ, đôi chỗ lẫn vỏ sò,
hến, kết cấu kém chặt - chặt vừa, bão hòa
nước, chiều dày lớp từ 3,5 ÷ 23,5m Đây là
lớp có khả năng chịu tải tốt (ctc= 0,07
KG/cm2, tc = 230), lún trung bình (a1-2 =
0,020 cm2/KG), thấm nước mạnh (k = 7 x10-3
cm/s) Cống Tắc Giang được thiết kế nằm trên
hệ cọc BTCT M300, chiều dài cọc tại thân
cống dài 5m, cọc của tường cánh cống có chiều dài 8m Như vậy, toàn bộ mũi cọc BTCT của thân và tường cánh cống đều nằm lớp 4 cát hạt nhỏ Để xử lý thấm nền cống đã
bố trí cừ thép ở thượng lưu cống với chiều dài
cừ là 10 m, hạ lưu chiều dài cừ là 3 m Phần
đê nối giữa cống và âu ở phía thượng lưu và
hạ lưu được chắn bằng tường bê tông bản chống, có gia cố bằng cọc BTCT M300, nhưng không có cừ chống thấm Cống được thi công vào tháng 10/2007, vận hành từ 11/2009 và bàn giao sử dụng tháng 10/2010
Trang 4Hình 2 Xác định điểm bắt đầu, điểm ra và
phạm vi xói ngầm trên mặt bằng
Sau 3 năm vận hành, đến thời điểm 2 tuần
trước ngày 01/8/2012, đã phát hiện thấy có hiện
tượng nước vẩn đục ở sau cống [5], [6], [7]
Nhưng khi đó, mực nước ở hạ lưu quá cao nên
không ai để ý Vào lúc 5 giờ 30 phút ngày
01/8/2012 đã phát hiện phía hạ lưu tường quặt
sau bể tiêu năng của cống có hiện tượng đùn, sủi mạnh và chỉ sau đó mấy giờ gian nhà để tủ điện điều hành cống bị lún nghiêng, mang cống và mái hạ lưu bờ trái cũng bị sụt Thời điểm sự cố, cửa van cống và âu thuyền đóng, mực nước thượng lưu cao trình +5,0 m, hạ lưu cao trình +2,6 m Một số hình ảnh về diễn biến sự cố như trên hình 1
Theo kết quả rada đất kết hợp với kết quả khoan thăm dò do Tổng Công ty TVXD Thủy lợi Việt Nam (HEC1) cho khu vực tường cánh thượng, hạ lưu cống, đáy cống cho thấy công trình bị xói ngầm nghiêm trọng Dòng xói ngầm bắt đầu từ tường cánh thượng lưu, đoạn giữa và
âu thuyền (sát mép cống) xuyên dọc mang cống đến giữa cống, rồi chuyển hướng sang mang trái
và thoát ra đầu tường cánh hạ lưu trái cống (hình 2) Việc khoan địa chất để đánh giá độ sâu xói ngầm cho phép dựng lại mặt cắt dọc hiện trạng xói ngầm (hình 3)
Hình 3 Mô phỏng hiện trạng xói ngầm đáy cống tại thời điểm sự cố
Kết quả khảo sát cho thấy, toàn bộ đáy cống từ
sân trước đến sân sau đã bị xói rỗng trong phạm vi
nền cát tại khu vực tiếp xúc Sân trước và bản đáy
chưa bị sụp xuống là do các kết cấu này nằm trên
đầu cọc BTCT Gian điều hành bị lún và sụt vì
nằm trong khu vực xói ngầm và không được thiết
kế để nằm trên cọc như các bộ phận khác Như
vậy, kết luận, công trình bị sự cố do nền cống và
mang cống bị xói ngầm nghiêm trọng
Để đánh giá khách quan về nguyên nhân thấm, Bộ Nông Nghiệp và PTNT đã giao cho Trung tâm Khoa học Công nghệ Phát triển Tài nguyên nước và một số chuyên gia đầu ngành xem xét Kết quả tính toán cho thấy, với các tổ hợp mực nước đã xảy ra trong thực tế, công trình ổn định về thấm Trường hợp cực đoan, nếu đặt cống trên nền tự nhiên không xử lý thì các điều kiện về ổn định thấm vẫn bảo đảm nếu
Trang 5ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 2 - 2020
16
khớp nối làm việc bình thường (bao gồm cả
đoạn đê không có tường cừ chống thấm) Việc
phân tích hồ sơ thiết kế, hồ sơ hoàn công và
diễn biến thi công cũng như các hiện tượng đã
xảy ra trong quá trình thi công cho thấy, nguyên
nhân trực tiếp là do lỗi thiết kế một phần nhưng
lý do chủ yếu là do thi công, ngoài ra cũng có
lỗi của chủ đầu tư, tư vấn giám sát [5], [8] Cụ
thể, tư vấn chọn biện pháp thi công là sau khi
đào móng đến cao trình 0.00, dùng cừ đóng từ
cao trình 0.00 cắm mũi cừ vào lớp 6 là lớp đất
có hệ số thấm nhỏ k= 5x10-6 m/s để ngăn ngừa
được hiện tượng cát đùn, cát chảy trong quá
trình đào móng Tuy nhiên, nhà thầu thi công đã
không thực hiện đúng biện pháp như hồ sơ thíết
kế và hồ sơ mời thầu, cụ thể: (1) Không dùng cừ
vây đóng vào lớp thấm ít, mà đã dùng biện pháp
đào rãnh tiêu nước 2 bên mang cống, đóng cọc
tre và phên rơm, vải lọc và bơm lộ thiên Biện
pháp này vừa không thể tiêu khô nhanh vừa gây
ra hiện tượng cát chảy; (2) Đắp đất lấp rãnh tiêu
nước hai bên mang cống và đắp đất mang cống
không đảm bảo chất lượng theo quy định TCVN
8216:2009 Việc xói ngầm này xảy ra từ khi
bơm tiêu nước hố móng, kéo dài và phát triển
đến khi xảy ra sự cố Tất nhiên, do TVTK đã
không quy định chi tiết việc đắp mang cống
Nhóm nghiên cứu, đánh giá nguyên nhân của
Viện Thủy Công [8] về cơ bản cũng đồng ý với
những nhận định trên Tuy nhiên, hiện tượng đã
xảy ra ở cống Tắc Giang cũng như ở một số
cống khác có những điểm nghi vấn chưa được
làm sáng tỏ bằng các tính toán, cụ thể: (1) Khu
vực tiếp giáp giữa mép bên đáy cống và mang
cống (chế độ thấm có áp dưới đáy cống và
không áp ở phần đất đắp mang cống) bao giờ
cũng xuất hiện sụt đất rất nặng, nhưng chưa lý
giải được về mặt lý thuyết một cách thấu đáo
Tại cống Tắc Giang, phần đáy cống được đóng
cừ chống thấm, phần đất đắp tiếp giáp mang
cống không có cừ chống thấm Điểm vào và
điểm ra của dòng thấm xói ngầm bắt đầu ở đây
(hình 2); (2) Đối với các cống có lớp cát trực
tiếp dưới bản đáy cống, nếu xử lý nền bằng cách đóng cọc tre hoặc cọc BTCT thì đều xảy ra sự
cố Vấn đề này hiện nay cũng chưa lý giải được, nhưng nhiều ý kiến cho rằng quá trình đóng cọc
đã làm phá vỡ trạng thái tự nhiên của lớp cát, tạo ra lớp cát mới “xốp” hơn so với lớp cát cũ
Do vậy, khi cống có chênh lệch nước đã làm cho dòng chảy ngày càng phát triển, đến một lúc nào đó sẽ gây ra hiện tượng xói ngầm Tương tự
ở cống Tắc Giang, phần đáy cống và đáy tường cánh được đóng bằng cọc BTCT Đây là những nghi vấn và là những vấn đề khó, hiện nay chưa
có câu trả lời
Ngay khi sự cố xảy ra, Bộ Nông Nghiệp và PTNT đã lập Ban chỉ đạo để trực tiếp chỉ đạo xử
lý sự cố Vì vậy, ngay từ giờ đầu đã triển khai các biện pháp ứng xử khẩn cấp để hạn chế sự
cố, ngăn được dòng thấm từ thượng lưu về hạ lưu, hạn chế tối đa diễn biến theo chiều hướng bất lợi sự cố Cụ thể là giảm chênh lệch mực nước thượng và hạ lưu bằng cách, mở cửa âu thuyền để cân bằng mực nước Sau đó, tiến hành đắp đê quây thượng lưu có khả năng chống lũ trên báo động I, vị trí cách cống 300 m Đồng thời xử lý khu vực lún, sụt bằng bao tải cát và rọ
đá và làm các biển báo để khoanh vùng khu vực
bị sự cố
Hình 4 Bố trí phân đoạn thi công
trên mặt bằng
Trang 6Để xử lý sự cố, nhiều phương án đã được đưa
ra, như sau [3], [4] và [6]: (1) Phương án 1, làm
sân phủ thượng lưu và tầng lọc hạ lưu với mục
đích là kéo dài đường viền thấm theo phương
ngang kết hợp thoát nước Phương án này không
thực hiện ngay được vì thời điểm tháng 8 năm
2012, mực nước sông và đồng rất cao Thời tiết
mưa bão không thể thực hiện việc đắp đê quai
và làm khô toàn bộ hố móng; (2) Phương án 2,
đóng 01 hàng cừ chống thấm ở đáy cống và đáy
âu, nối tiếp hai phía mang cống và cắt qua vùng
bị xói trôi đất Khoan phụt vữa xi măng cát, vữa
xi măng – bentonite theo phương pháp khoan
phụt truyền thống điền đầy khu vực rỗng của
nền và mang cống Đây là biện pháp mong đợi
nhất, nhưng thực tế không thể thi công cừ thép
do vướng các vật cản như đá, rọ đá Sử dụng
búa 4,5 (T) chỉ đóng sâu được 4m, búa 6 T cũng
chỉ xuống được 6m, phương án này thất bại; (3)
Phương án 3, sử dụng tường XMĐ thi công
bằng công nghệ JG Trung Tâm công Trình
Ngầm - Viện Thủy Công với kinh nghiệm xử lý
nhiều sự cố về xói ngầm, sạt trượt đã có ý kiến
từ đầu là sử dụng công nghệ JG, nhưng chưa
được chấp nhận Sau khi việc đóng cừ không
thành công, thì phương án này mới được chấp
nhận Chọn phương án tuyến tường chống thấm
XMĐ trùng với tuyến cừ cũ vì phương án này
có nhiều ưu điểm
Việc thi công xử lý chống thấm được chia làm
2 giai đoạn Trong giai đoạn 1, phải ngăn chặn
được dòng thấm đảm bảo chống lũ năm 2012
bằng cách tạo tuyến chống thấm tại thượng lưu,
từ vai trái cống qua đoạn đê giữa cống và âu
thuyền, kéo dài sang đến hết vai phải âu Trên
mặt bằng nối tiếp với tuyến cừ cũ ở cống và âu,
cừ mới kết nối với tuyến cừ cũ và công trình tạo
thành một tuyến tường chống thấm hoàn chỉnh
bằng cọc XMĐ đường kính 80 cm Đáy tường
XMĐ cao độ -13,5m; đỉnh tường cao độ +5,0m
Trên đỉnh tường XMĐ đắp đất đầm nện lên đến
đỉnh đê Đường kính cọc thông thường là 80 cm
Để đảm bảo kín khít hoàn toàn, khu vực tiếp giáp
với cừ cũ sử dụng cọc XMĐ đường kính 100 cm Trên toàn tuyến phân làm 3 khu vực có yêu cầu
về số hàng cọc khác nhau
Hình 5 Cắt ngang tường chống thấm
Tại những đoạn sụt lún nghiêm trọng có 3 hàng XMĐ, các đoạn còn lại làm 2 hàng cọc XMĐ Công tác thi công được phân thành 2 đợt (xem hình 4): (1) Đợt 1, thi công phần đoạn bên trái cống, phần giữa cống và âu thuyền; (2) Đợt
2, thi công đoạn phía vai phải âu để đảm bảo điều kiện liên tục của tường chống thấm ngang lòng sông Đồng thời với việc thi công tường chống thấm, đã tiến hành công tác bù rỗng nền bằng xi măng trộn cát theo tỷ lệ 100 kg XM PCB 40 trộn với 1m3
cát đen Hỗn hợp này sử dụng máy bơm vữa bê tông áp lực 3 – 7 atm để bơm Sau khi bơm vữa 2 ngày, đặt nút bịt vào lỗ khoan trên bê tông, sau đó ép vữa xi măng áp lực 3 - 5 át với tỷ lệ X/N = 1/1 ÷ 1/2 để lấp đầy khoảng hở đáy bê tông và vật liệu bù nền Khi
đã ổn định thì đổ bê tông M 300 vào vị trí lỗ khoan để bịt hố khoan (xem hình 6)
Hình 6 Sơ họa vùng rỗng đáy cống
bằng khoan kiểm tra
Trang 7ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 2 - 2020
18
Để đảm bảo công trình làm việc bình
thường sau khi xử lý, việc thử tải bắt đầu thực
hiện từ ngày 19/03/2013 đến ngày 06/04/2013,
với chênh mực nước thượng lưu và hạ lưu là
4,92m và duy trì cho đến hết ngày 21/04
Quan trắc từ ngày 19/03/2013 đến hết ngày
21/04/2013 Tiến hành bơm liên tục để duy trì
chênh lệch 4,92 m, vì nước bị thấm ra các
ruộng trũng hai bên kênh dẫn, làm cho mực
nước thượng lưu thay đổi
Hình 7 Mặt bằng bố trí vị trí các giếng
quan trắc
Kết quả quan trắc trên các giếng đo T1, T2,
T3, T4, T5, T6, T7, T11, T12 (có 3 giếng đo bị
hỏng là T8, T9, T10) và hai giếng bổ sung T8-1
và T10-1 Trong đó, vị trí giếng đo T10-1 là đo
mực nước phía sau tường chống thấm bằng XMĐ phía thượng lưu, và giếng T8-1 đo mực nước phía hạ lưu cống (hình 7)
Kết quả quan trắc mực nước trong các giếng quan trắc cho thấy, tường XMĐ làm việc hiệu quả Công trình đảm bảo an toàn về thấm, xói ngầm
3 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ AN TOÀN CÔNG TRÌNH CỐNG TẮC GIANG SAU KHI KHẮC PHỤC SỰ CỐ THẤM, XÓI NGẦM [8]
3.1 Kiểm tra, đánh giá thực địa
Sau khi thi công xử lý xong công trình Tắc Giang năm 2012, hàng năm vào mùa lũ tỉnh
Hà Nam vẫn xếp cống Tắc Giang vào dạng công trình trọng điểm Hơn nữa, cũng có những ý kiến cho rằng, nó chưa đảm bảo an toàn Để làm rõ vấn đề trên, trong khuôn khổ
Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu công nghệ phát hiện sớm nguy cơ sự cố đê sông, đập đất, đá, bê tông trọng lực và đề xuất giải pháp
xử lý” thực hiện năm 2016, cho phép có 02 nội dung nghiên cứu, đánh giá: (1) Khảo sát, đánh giá an toàn thông qua hiện trạng và mực nước quan trắc tại các ống đo áp; (2) Đánh giá bằng phương pháp vật lý với cách đo nồng độ muối khuyếch tán (trình bày trong bài báo khác)
Hình 8 Liên kết giữa các bộ phận kết cấu, tường cánh với thân cống đều rất tốt
Kết quả công tác khảo sát thực địa và đo đạc ở ống đo áp cho thấy:
- Không thấy hiện tượng nổi bọt khí hạ lưu cống, như vậy nền, mang cống ổn định
Trang 8Hình 9 Không có hiện tượng bất thường ở lòng công và đường trên cống
- Các bộ phận kết cấu mới làm như phủ lại
BT mặt thân cống, mặt đường, tiếp giáp giữa
thân cống và BT phủ mặt không có hiện tượng
lún, lệch Điều đó chứng tỏ không có hiện tượng
thẩm lậu, xói ngầm (hình 8; hình 9; hình 10)
- Tường cánh thượng và hạ lưu cống không
có hiện tượng chuyển dịch mới
- Các vị trí ống quan trắc làm việc bình thường, số liệu quan trắc được thu thập tại cống với liệt nhiều năm liền
Hình 10 Không có bất thường nơi tiếp giáp mang cống và mái thượng, hạ cống
3.2 Số liệu quan trắc và so sánh với mô
hình toán
Chọn tổ hợp mực nước: Để có kết luận
cụ thể, nhóm nghiên cứu đã chọn ra một
số tổ hợp bất lợi để tính toán, phân tích (bảng 1)
Bảng 1 Lựa chọn tổ hợp mực nước tính toán
Sơ đồ tính toán và điều kiện biên: Sử dụng
phần mềm SEEP/w trong bộ phần mềm
Geostudio 2007 để tính toán Đối với mặt cắt
mang cống và giữa cống và âu chọn sơ đồ
thấm ổn định không áp, mặt cắt qua đáy cống
chọn sơ đồ thấm ổn định có áp Điều kiện biên thượng, hạ lưu là tổ hợp mực nước ứng với các trường hợp Biên phải, trái và dưới cùng lớp 6 là biên không thấm Hệ số thấm của các lớp đất (bảng 2)
Trang 9ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 2 - 2020
20
Chọn mặt cắt tính toán:
Hình 11 Mặt cắt 1 qua các điểm đo T1, T2,
T3 và T4
Mặt cắt 1: Thấm vòng qua mang cống,
thượng lưu có tường chống thấm bằng cọc xi
măng đất, hạ lưu có tầng lọc ngược, với các vị
trí quan trắc T1, T2, T3, T4 (hình 12)
Mặt cắt 2: Thấm dọc tim cống, với các điểm
đo T5, T6, T11 và T12 (hình 13)
MNTL
MNHL
Bù nền
Lớp 4
Lớp 5 Lớp 6
T12
Hình 12 Mặt cắt 2 qua các điểm đo
T5, T6, T11 và T12
Mặt cắt 3: Mặt cắt qua vai phải cống đoạn
giữa cống và âu, với các điểm đo T10-1, T8-1
(hình 14)
Hình 13 Mặt cắt 3 qua các điểm đo T10-1
và T8-1
Tài liệu sử dụng để tính toán: Sử dụng tài
liệu năm 2012 (bảng 2)
Bảng 2 Hệ số thấm sử dụng để tính toán
TT Lớp đất
Hệ số thấm
(m/s)
Ghi chú
1 Lớp đất đắp
-6
Báo cáo địa chất
2 Lớp đất nền
-5
3 Lớp đất nền
-5
4 Lớp đất nền
-6
đổ nước
lớp -6,0 m
Bố trí thiết bị quan trắc: Bố trí các giếng đo T1, T2, T3, T4, T5, T6, T7, T11, T12, T8-1 và T10-1 (hình 7)
Kết quả tính toán và nhận xét:
- Về Gradient thấm: Kết quả tính toán gradient với các trường hợp 1, 2, 3 tại các mặt cắt tính toán MC 1, MC 2 và MC 3 (bảng 3) Kết quả tính toán cho thấy, vì hạ lưu cống tại
MC 2 có bố trí tầng lọc ngược, vậy theo TCVN gradien thấm cho phép [J] = 0.6; Tại MC 1 và
MC 3 không bố trí tầng lọc nên [J]=0.3 Từ kết quả trong bảng 3 cho thấy, tại MC 1 và MC 3 có
Jmax= 0.08 < [0.3] và Jmax= 0.08 < [0.3] đảm bảo điều kiện an toàn về thấm Tương tự tại MC 2
có Jmax= 0.09 < [0.6] đảm bảo điều kiện an toàn
về thấm
Bảng 3 Kết quả tính toán Gradient tại các mặt cắt với các trường hợp
hợp
Ngày quan trắc
MNTL (m)
MNHL
(m)
J
Trang 101 TH1 5/9/2017 3,0 2,0 1,0 0,04 0,04 0,02
- Về so sánh cột nước quan trắc trong ống đo
áp và cột nước tính toán: Kết quả tính toán cột
nước Htt tại các vị trí T1, T2, T3 và T4 tại mặt
cắt 1, vị trí T5, T6, T11 và T12 tại mặt cắt 2 và
T8-1, T10-1 tại mặt cắt 3 cho các trường hợp TH1, TH2 và TH3 được lấy ra từ phần mềm và
so sánh với cột nước quan trắc Hqt đo được tại vị trí các giếng đo áp (hình 14)
Mặt cắt 3
Hình 14 Vị trí các ống đo áp T1, T2, T3, T4, T5, T6, T8-1, T10-1, T11 và T12 trên các mặt cắt M C1, MC 2 và MC 3
Kết quả so sánh cho thấy, có sự phù hợp
tương đối tốt giữa kết quả quan trắc và kết quả
tính toán (xem hình 15) Riêng tại MC3, do mép
tường thượng lưu và hạ lưu không bố trí thiết bị
quan trắc, nên giá trị cột nước được trình bày
như trong bảng 4
Từ kết quả quan trắc và tính toán cột nước tại
các vị trí giếng quan trắc, có các nhận xét sau:
- Khớp nối ở sân trước làm việc bình
thường, vì áp lực tại các điểm đo ngay phía
trước cừ thượng lưu đều giảm so với cột nước
thượng lưu
- Cừ chống thấm XMĐ làm việc bình
thường, vì áp lực tại các điểm đo ngay phía sau
cừ thượng lưu giảm đáng kể so với phía trước
cừ Liên kết giữa cừ thép cũ và tường xi măng đất đạt yêu cầu vì tại điểm đo T2 và T1 việc suy giảm áp lực theo quy luật
- Công trình đảm bảo an toàn về thấm và xói ngầm