Tôi xin cam đoan khóa luận: “Đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trường tiểu học Thị Trấn Chi Nê, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình” là công trình nghiên cứu của bản t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
HOÀNG THỊ HUỆ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN CHI NÊ,
HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
HÀ NỘI, THÁNG 6 NĂM 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
HOÀNG THỊ HUỆ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN CHI NÊ,
HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
Ngành : Quản lý tài nguyên và môi trường
Mã ngành : 7850101
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: THS BÙI THỊ THU TRANG
HÀ NỘI, THÁNG 6 NĂM 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Hoàng Thị Huệ
Mã số sinh viên: 1611100788
Hiện đang là sinh viên lớp ĐH6QM3 – Khoa Môi trường – Trường Đại học Tàinguyên và Môi trường Hà Nội
Tôi xin cam đoan khóa luận: “Đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường
cho học sinh trường tiểu học Thị Trấn Chi Nê, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình” là
công trình nghiên cứu của bản thân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS BùiThị Thu Trang Các số liệu, tài liệu trong khóa luận được thu thập một cách trung thực
và có cơ sở
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Huệ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập ở giảng đường đại học, em đã luôn nhận được sựquan tâm, giúp đỡ, động viên, chia sẻ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè, giúp emvững vàng hơn trong chuyên môn, trưởng thành hơn trong cuộc sống Đặc biệt là trongquá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Tài nguyên và Môitrường đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt 4 năm học Đặc biệt,
em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Môi trường, những người đãcung cấp cho em những kiến thức chuyên ngành với tri thức và tâm huyết của mình.Tận tình giảng dạy và trong thời gian vừa qua đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp
em trong việc học tập và rèn luyện bản thân tại trường Cũng như đã hết sức tạo điềukiện để em có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới ThS Bùi Thị Thu Trang - giảng viên khoaMôi trường, trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã định hướng và trựctiếp hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình em thực hiện khóa luận
Và đặc biệt em xin cảm ơn ban giám hiệu, các cán bộ, giáo viên trường tiểu họcThị Trấn Chi Nê đã tạo điều kiện thuận lợi, tận tình giúp đỡ và đóng góp ý kiến quýbáu cho em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Cuối cùng, em xin cảm ơn những người thân yêu trong gia đình, bố mẹ và bạn bè
đã luôn động viên, cổ vũ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong quá trình học tập
và thực hiện khóa luận
Với tinh thần làm việc nghiêm túc, nỗ lực học hỏi và phấn đấu của bản thân, đếnnay em đã hoàn thành đúng tiến độ của khóa luận Trong quá trình thực hiện khóaluận, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy em rất mong nhận được sựgóp ý của các thầy cô và những người có chuyên môn trong lĩnh vực giáo dục môitrường để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2020
Sinh viên
Hoàng Thị Huệ
Trang 5MỤC LỤ
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
YMỞ ĐẦU 1
1.Đặt vấn đề 1
2.Mục tiêu nghiêm cứu 3
3 Nội dung nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan về giáo dục bảo vệ môi trường 4
1.1.1 Lịch sử ra đời và sự phát triển giáo dục môi trường trên thế giới và ở Việt Nam 4 1.1.2 Các khái niệm liên quan tới giáo dục bảo vệ môi trường [5] 9
1.1.3 Mục đích, vai trò, tầm quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường 10
1.1.4 Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường [11] 13
1.1.5 Yêu cầu của giáo dục môi trường [9] 14
1.2 Tổng quan về giáo dục bảo vệ môi trường trong trường tiểu học 14
1.2.1 Mục tiêu và vai trò của giáo dục bảo vệ môi trường trong trường tiểu học 14
1.2.2 Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học 15
1.2.3 Nguyên tắc giáo dục BVMT trong trường học [9] 17
1.2.4 Phương pháp giáo dục BVMT trong trường học [8] 17
1.3 Tổng quan một số nghiên cứu, dự án về nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học [9] 18
1.3.1 Trên thế giới 18
1.3.2 Tại Việt Nam 20
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 24
2.2 Phương pháp nghiên cứu 24
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
Trang 63.1 Hiện trạng hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại trường Tiểu học Thị Trấn Chi
Nê 27
3.1.1 Cơ sở vật chất, trang thiết bị được sử dụng cho việc giáo dục bảo vệ môi trường 28
3.1.2 Kế hoạch thực hiện mô hình “Nói không với rác thải nhựa” năm hoạc 2019 -2020 của phòng Giáo Dục và Đào Tạo Lạc Thủy trường tiểu học thị trấn Chi Nê 29
3.1.3 Phương pháp giảng dạy và các nội dung học tập về bảo vệ môi trường đã được áp dụng tại trường tiểu học Thị Trấn Chi Nê 32
3.2 Nhận thức của các em học sinh tại trường Tiểu học Thị Trấn Chi Nê về môi trường và bảo vệ môi trường 37
3.3.1 Giải pháp cho nhà trường 46
3.3.2 Giải pháp đối với cán bộ, giáo viên 47
3.3.3 Giải pháp đối với gia đình 50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
1.Kết luận 52
2.Kiến nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GDTH: Giáo dục tiểu học
môi trường Châu Âu)
Resources (Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên)
trường Liên Hợp Quốc)
Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc)
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Đội ngũ cán bộ giáo viên và nhân viên 22Bảng 1.2: Danh sách học sinh các khối lớp 22
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Cổng trường Tiểu học Thị Trấn Chi Nê 27 Hình 3.2 Một góc sân trường, trường tiểu học thị trấn Chi Nê 28Hình 3.3 Góc thiên nhiên và sáng tạo của học sinh 29Hình 3.4 Hình ảnh giao lưu Tuyên Truyền Viên Giỏi Chúng Em BVMT chủ đề: “NóiKhông Với Rác Thải Nhựa” 32Hình 3.5: Biểu đồ thể hiện sự yêu thích của học sinh về các hoạt động giáo dục bảo vệmôi trường 38Hình 3.6: Biểu đồ thể hiện kỹ năng BVMT đối với học sinh lớp 5 38Hình 3.7: Biểu đồ thể hiện sự yêu thích của học sinh về các hoạt động giáo dục bảo vệmôi trường 40Hình 3.8: Biểu đồ thể hiện kỹ năng BVMT đối với học sinh lớp 4 41Hình 3.9: Biểu đồ đánh giá hiệu quả một số kỹ năng BVMT đối với học sinh thôngqua giáo viên 42Hình 3.10: Biểu đồ thể hiện chất lượng môi trường xung quanh của Trường Tiểu họcThị Trấn Chi Nê 43
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Từ khi xuất hiện trên trái đất, con người đã gắn bó với thiên nhiên, nhờ có laođộng con người đã chủ động khai thác tài nguyên thiên nhiên để duy trì cuộc sống củamình Trong quá trình lao động và sản xuất con người đã cải tạo thiên nhiên, nhưng xãhội ngày càng phát triển không tránh khỏi sự tàn phá thiên nhiên gây nên tình trạngkhủng hoảng sinh thái Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đang là chủ đề nóng trêncác mặt báo và nhận được rất nhiều sự quan tâm của người dân Do chất lượng cuộcsống ngày càng cao, nhu cầu xã hội ngày càng tăng cũng là lúc vấn đề môi trường, bảo
vệ môi trường được quan tâm một cách đặc biệt Nó có tầm quan trọng đối với đờisống con người và sự phát triển kinh tế, xã hội, cũng như mỗi cá nhân Môi trườnghiện tại đang có sự thay đổi bất lợi, tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do cáchoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra ngày càng trở nên nghiêm trọng,
đe dọa trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như sự tồn tại, phát triển của các thế
hệ hiện tại và tương lai
Ý thức là một yếu tố quyết định cho việc tạo nên thành công của việc bảo vệ môitrường Sự thiếu ý thức và thờ ơ của con người đã khiến môi trường ngày càng trở nên
tệ hại hơn Nhiều người cho rằng những việc mình làm là quá nhỏ bé, không đủ để làmhại môi trường Một số người lại cho rằng việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm củanhà nước, của các cấp chính quyền,…trong khi số khác lại nghĩ rằng việc môi trường
đã bị ô nhiễm thì làm gì cũng “chẳng ăn thua”, và ô nhiễm môi trường cũng không ảnhhưởng đến mình nhiều Và chính những suy nghĩ như này sẽ ảnh hưởng không nhỏđến việc giáo dục cũng như tư duy bảo vệ môi trường của các thế hệ trẻ về sau Ngườilớn không làm gương để giáo dục cho trẻ em Việc phá hoại môi trường của một ngườichỉ ảnh hưởng nhỏ nhưng nếu góp nhiều người lại thì rất lớn Chính vì vậy, phải đẩymạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội tạo ra sự chuyểnbiến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường
Một trong những biện pháp có hiệu quả lâu dài và quan trọng nhất là phải giáodục ý thức bảo vệ môi trường cho thế hệ trẻ, những người chủ tương lai của đất nước,những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường Ở nước ta, vấn đề giáo dục môi trườngcũng là mối quan tâm sâu sắc của Đảng, nhà nước và hệ thống nhà trường Nghị quyết
IV hội nghị lần thứ tư của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về những vấn đềcấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, ngày 14/01/1993 đã đề
ra nhiệm vụ: “ Đẩy mạnh giáo dục pháp luật, đạo đức, thẩm mỹ, dân số rèn luyện thểchất cho học sinh”
Trang 11Muốn thay đổi được nhận thức sâu sắc về hành vi, cách xử sự sai trái của conngười đối với một vấn đề nào đó thì điều quan trọng là thời gian Bởi quá trình pháttriển, hình thành nên nhân cách của con người từ khi còn nhỏ có ảnh hưởng sâu sắcđến nhận thức khi trưởng thành Vì vậy, giáo dục có tầm quan trọng rất lớn đối với đờisống con người, nhất là ở tuổi Tiểu học Đặc biệt là trẻ 6 – 11 tuổi đang ở những bướcphát triển mạnh về nhận thức, tư duy, về ngôn ngữ, về tình cảm Có biết bao điều mới
lạ, hấp dẫn, trẻ tò mò muốn biết, muốn được khám phá, cho nên giáo dục Tiểu học đãgóp phần không nhỏ vào việc giáo dục thế hệ trẻ Cấp tiểu học là cấp học nền móng, là
cơ sở, là cấp học phổ cập của hệ thống giáo dục, được trang bị đầy đủ hành trang, kiếnthức, nhận thức về môi trường sẽ là một lực lượng hùng hùng trong mọi hoạt độngtuyên truyền, cải thiện bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên của đất nước Môitrường tiểu học được nhà trường bắt đầu hình thành tri thức, kỹ năng và thái độ cơ bản
về tự nhiên, xã hội, bản thân qua các hoạt động học tập và giáo dục kết hợp giữa cảnhà trường với gia đình Giáo dục Tiểu học chiếm vị trí quan trọng, mở đầu trong hệthống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho việc hình thành và hoàn thiện nhân cáchcon người, tạo điều kiện cho trẻ lĩnh hội được các kinh nghiệm xã hội, tiếp thu các giátrị truyền thống dân tộc
Trường tiểu học Thị Trấn Chi Nê là ngôi trường “Đạt chuẩn quốc gia Mức I và
đang được kiểm định Mức độ III” Là một trong những ngôi trường với đội ngũ giáo
viên có trình độ chuyên được đào tạo khác nhau, có năng lực, kinh nghiệm chuyênmôn vững vàng, tận tụy với công việc, phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với nghề, cóphong cách ứng xử thân thiện với học sinh và phụ huynh học sinh Là nơi đã có nhiềuthế hệ học sinh trưởng thành hơn qua các khóa học Nhà trường luôn giữ mối quan hệchặt chẽ với chính quyền, nhân dân, phụ huynh nơi công tác Bên cạnh những kiếnthức văn hóa nhà trường thường xuyên phối hợp tổ chức các hoạt động ngoại khóagiúp các em học sinh thư giãn sau những giờ học mệt mỏi Tổ chức hoạt động thamquan các danh lam thắng cảnh, viện bảo tàng, di tích lịch sử nhằm giáo dục truyềnthống quê hương đất nước, góp phần giúp các em biết thêm nhiều thông tin bổ ích Vớimục tiêu quan tâm giáo dục toàn diện Trường tiểu học Thị Trấn Chi Nê luôn chú trọngviệc đưa các hoạt động dạy và học các kiến thức về môi trường và bảo vệ môi trườngvào chương trình đào tạo cho học sinh là vô cùng cần thiết
Nhận thức được ý nghĩa sâu sắc và tầm quan trọng của vấn đề giáo dục môitrường đối với học sinh Tiểu học, thế hệ tương lai của đất nước nên em đã lựa chọn đề
tài để làm khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường
cho học sinh Trường Tiểu học Thị Trấn Chi Nê, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình”
để làm khóa luận tốt nghiệp
Trang 122 Mục tiêu nghiêm cứu.
- Đánh giá được hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại TrườngTiểu học Thị Trấn Chi Nê
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt độnggiáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại Trường Tiểu học Thị Trấn Chi Nê
3 Nội dung nghiên cứu.
- Đánh giá hiện trạng hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường của học sinh tạitrường Tiểu học Thị Trấn Chi Nê
- Đánh giá nhận thức của học sinh trường Tiểu học Thị Trấn Chi Nê về môitrường
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chương trình giáo dục bảo vệmôi trường tại trường Tiểu học Thị Trấn Chi Nê
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về giáo dục bảo vệ môi trường
1.1.1 Lịch sử ra đời và sự phát triển giáo dục môi trường trên thế giới và ở Việt Nam
a Lịch sử và sự phát triển giáo dục môi trường trên thế giới [5]
Môi trường là một vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm của toàn thế giới.Trong mấy chục năm trở lại đây, sự phát triển kinh tế ồ ạt dưới các tác động của cáchmạng khoa học kỹ thuật và sự gia tăng dân số quá nhanh đã làm cho môi trường bịbiến đổi chưa từng thấy Nhiều nguồn tài nguyên bị vắt kiệt, nhiều hệ sinh thái bị tànphá mạnh, nhiều cân bằng trong tự nhiên bị rồi loạn Môi trường lâm vào khủng hoảngvới quy mô toàn cầu, trở thành nguy cơ thực sự đối với cuộc sống hiện tại và sự tồnvong của xã hội trong tương lai Để bảo vệ cái nôi sinh thành của mình, con ngườiphải thực hiện hàng loạt các vấn đề phức tạp, trong đó có vấn đề giáo dục môi trường(GDMT) GDMT là một trong những biện pháp có hiệu quả nhất, giúp con người cónhận thức đúng trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệmôi trường
Năm 1960, hai từ “giáo dục” và “môi trường” được chính thức kết hợp với nhaulần đầu tiên Khái niệm GDMT được hình thành ở nước Anh là nhờ ở Sir PatrickGeddes, một giáo sư thực vật học người Scotland Ông đã chỉ ra mối liên hệ quantrọng giữa chất lượng môi trường với chất lượng giáo dục vào khoảng năm 1982.Năm 1970 Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên(IUNC) đã định nghĩa GDMT là quá trình nhận biết các giá trị và làm sáng tỏ các kháiniện sáng tỏ khác nhằm phát triển các kỹ năng và quan điểm cần thiết để hiểu và đánhgiá được sự quan hệ và tương tác giữa con người, nền văn hóa và thế giới vật chất baoquanh GDMT đồng thời cũng thực hiện quyết định đưa ra bộ quy tắc ứng xử vớinhững vấn đề liên quan đến đặc tính môi trường [9]
Năm 1972 chương trình chương trình GDMT quốc tế (IEEP) ra đời tại một hộithảo ở Belyrade Hội thảo đưa ra bản tuyên bố Liên chính phủ lần đầu tiên về GDMT.Các mục đích, mục tiêu, những khái niệm cốt yếu và những nguyên tắc hướng dẫn củachương trình được đưa ra vào một văn kiện của hội thảo có tên là: “Hiến chươngBelyrade – một hệ thống nguyên tắc toàn cầu cho GDMT” Một tập hợp các mục tiêungắn gọn, bao quát GDMT đực đưa ra tại Belyrade có thể tóm tắt như sau:
chính trị, sinh thái giữa nông thôn và thành phố
Trang 14 Cung cấp cho mỗi cá nhân những cơ hội tiếp thu kiến thức những giá trị, quanniệm, trách nhiệm và những kỹ năng cần thiết nhằm bảo vệ và cải tạo môi trường.
chức, cũng như toàn xã hội
Năm 1977 hội nghị liên chính phủ lần đầu tiên về GDMT do UNESCO tổ chứctại Tbilisi, Liên Xô đã có 66 thành viên các nước tham dự Hội nghị đưa ra các ý kiếnđóng góp bảo vệ cho việc áp dụng rộng rãi hơn nữa GDMT trong chương trình giáodục chính thức và không chính thức Sự kiện quan trọng này và những công bố liêntiếp theo dự kiến hội nghị đã tiếp xúc đóng góp cho hệ thông nguyên tắc của sự pháttriển GDMT trên toàn thế giới ngày nay Hội nghị Liên chính phủ về GDMT được tổchức ở Tbilisi (Liên Xô cũ) chính thức tán thành định nghĩa và các nguyên tắc củaGDMT Đây là một trong những văn kiện có ý nghĩa quan trọng nhất quan tâm tới vấn
đề bảo tồn và GDMT trên toàn thế giới Chiến lược bảo tồn thế giới đã công bố (IUCN1980) Văn kiện cốt yếu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ gìn tài nguyênthông qua “Sự phát triển mang tính chất duy trì” và ý nghĩa mối quan hệ tương tácgiữa bảo tồn và phát triển Năm 1980, Chiến lược Bảo tồn Thế giới kêu gọi một “đạođức” mới trong xã hội loài người, nghĩa là con người hãy chung sống hài hoà với thếgiới tự nhiên
Năm 1984 lần đầu tiên trong lịch sử, tại cuộc họp Liên hiệp quốc tế về bảo vệmôi trường (BVMT) và tài nguyên thiên nhiên (TNTN) ở Pari, thuật ngữ “Giáo dụcmôi trường” được sử dụng Tiếp theo đó có rất nhiều cố gắng để định nghĩa thuật ngữnày [9]
Từ năm 1986 trở đi, các hoạt động quốc tế tiếp tục bổ sung, đóng góp cho chiếnlược bảo tồn thế giới, giải quyết những vấn đề về GDMT, đạo đức và văn hóa [9]Năm 1987, đánh dấu 10 năm kỷ niệm Hội nghị Tbilisi Và cùng năm 1987 Hộinghị thế giới lần thứ hai về GDMT do UNESCO và UNEP phối hợp tổ chức ở trong sốnhững sáng kiến đầu tiên đã bị thất bại Sau Hội nghị này, các hoạt động hiện trườngbùng nổ Các hiệp hội được thành lập ở rất nhiều nước khác nhau và mọi nỗ lực đều đitheo định hướng “suy nghĩ ở cấp toàn cầu và hành động ở cấp địa phương”
Năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh về Trái đất được tổ chức ở Rio de Janeiro,Brazil Hội thảo trên một phạm vi rộng về các đề tài và vấn đề môi trường có nhiềucông bố dành cho GDMT thông qua suốt văn kiện một trong những kết quả chính củahội nghị là sự nhất trí rằng phát triển và giáo dục và môi trường phải là một bộ phậnthống nhất của quá trình học tập ở cả hai dạng chính thức và không chính thức Và một
dự kiến được đưa ra là mọi chính phủ phải nỗ lực phấn đấu để cập nhập hóa hoặc
Trang 15chuẩn bị các chiến lược nhằm mục đích kết hợp môi trường và phát triển thành vấn đềchung tâm để đưa vào tất cả các cấp giáo dục.
Mốc quan trọng cuối cùng trên quy mô toàn cầu là Hội nghị Thượng đỉnh Thếgiới về Phát triển Bền vững (PTBV) tổ chức ở Johannesburg, Nam Phi năm 2002 Hộinghị thống nhất: Mục đích của GDMT giờ đây đã trở thành việc theo đuổi của tất cảcác hoạt động giáo dục [6]
b Tình hình giáo dục môi trường ở Việt Nam [9]
Ở Việt Nam, từ năm 1966 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào Tếttrồng cây để giữ gìn làm đẹp môi trường sống Cho đến nay phong tròa này vẫn đượcduy trì
Năm 1991, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chương trình trồng cây phát triển giáodục - đào tào và BVMT (1991 – 1995)
Đến cuối năm 1992 với sự ra đời của mạng lưới GDMT Việt Nam trong khuônkhổ chương trình môi trường Liên Hợp quốc (UNEP), mạng lưới đào tạo môi trườngbậc đại học khu vực Châu Á, Thái Bình Dương (NETTLAP), đã đánh dấu bước ngoặtlớn trong công tác GDMT ở Việt Nam
Năm 1999 Mạng lưới đã tham gia xây dựng đề án “Đưa ra GDMT vào hệ thốnggiáo dục quốc dân” trình Chính Phủ nhằm thực hiện chỉ thị 36-CT/TW của Ban chấphành Trung ương Đảng về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳcông nghiêp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Trong kế hoạch hành động quốc gia về môi trường và phát triển bền vững củaViệt Nam giai đoạn 1996 – 2000, GDMT được ghi nhận như một bộ phận cấu thành
Từ năm 1995, dự án GDMT trong nhà trường phổ thông Việt Nam của Bộ Giáodục và Đào tạo do UNDP tài trợ đã nhắm vào mục tiêu cơ bản:
tại Việt Nam
những nội dung và phương pháp GDMT vào các chương trình đào tạo giáo viên
cho các bậc học, cấp học và trình độ đào tạo
Trang 16 Tổ chức chỉ đạo việc đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học và quản lý về lĩnh vựcmôi trường đề đảm bảo nguồn nhân lực cho việc nghiên cứu quản lý thực hiệncông nghệ bảo vệ môi trường, PTBV đất nước.
Đặc biệt gần đây nhất, tháng 8 - 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số153/2004/ QĐ – TT về việc ban hành Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam gồm
5 phần:
tiên nhằm PTBV
Ở các trường Đại học, GDMT được coi như một nội dung quan trọng trong cácgiáo trình Con người và Môi trường: Dân số, Tài nguyên, Môi trường Ở các khoa:Sinh học, Địa lý, Hóa học của các trường Đại học sư phạm đã có các môn học về môitrường
Ngày 31/01/2005 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra chỉ thị về tăng cườngcông tác giáo dục bảo vệ môi trường bằng các hình thức phù hợp và thông qua hoạtđộng ngoại khóa, giờ lên lớp, xây dựng mô hình nhà trường xanh – sạch – đẹp phù hợpvới các vùng miền [12]
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Chỉ thị 02/2005/CT-BGDĐT ngày 31tháng 01 năm 2005 về việc “Tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường”; Chỉthị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/07/2008 về việc phát động phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giaiđoạn 2008-2013 [12]
c Một số thành tựu giáo dục môi trường trên thế giới [9]
Tại Đức, chương trình “ Tìm hiểu đất nước” trong bậc tiểu học Các cấp học từtrung học trở lên thì nội dung GDMT được gắn hữu cơ vào chương trình học Sinh học
và Địa lý
Tại Bungari, cấu tạo chương trình khoa học ở cấp 1, cấp 2, cấp 3 theo tư tưởngchủ đạo “ con người và Môi Trường” Trong chương trình cấp 1 có hẳn một môn riêngbiệt là “Kiến thức về Môi trường” cung cấp cho học sinh nội dung đơn giản nhưng rất
cơ bản về môi trường xung quanh như: nhà trường, làng mạc, thôn xóm, địa phương,giao thông, đường xá, vườn cây, nước, rừng, nước, lửa, động vật có ích, có hại, Chương trình học sinh cấp 2 biên soạn theo quan điểm: “Tìm hiểu môi trường từ gầnđến xa” như môi trường thôn xóm, sinh vật đồng ruộng,…
Trang 17Tại Nhật, trọng tâm của GDMT là chống ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe, nội dungnày được lồng ghép vào các môn học đặc biệt là môn sinh học và địa lý.
Tại Indonesia người ta đã thiết lập các trung tâm nghiêm cứu về môi trường trongcác học viện Các trung tâm này là nơi cung cấp các chuyên gia cho việc nghiên cứu,đào tạo cho các công việc khác có liên quan đến khoa học môi trường ở các cấp quốcgia và khu vực Tuy nhiên ở các vùng sâu vùng xa thì trình độ dân trí môi trường chưađược cao
Tại Malaysia, các trường đại học đã có mối liên kết với các học viện trong vàngoài nước để đào tạo các chuyên gia về môi trường Một số trường đại học đã tổ chứccác khóa chính trị, các khóa học ngoại khóa về môi trường cho hầu hết các sinh viên ởcác ngành khác nhau Trình độ môi trường của người dân Malaysia khá cao
Tại Singapore, các chương trình giảng dạy môi trường ở các trường đại học tổnghợp, đại học bách hóa Học viện giáo dục được tiến hành tốt nhất Việc giáo dục vềmôi trường được các quy định về pháp luật đi kèm Các trường đại học thành lập các
ủy ban để cố vấn cho chính phủ về mặt môi trường nhằm đưa ra những chính sách,những chủ chương kịp thời và thích hợp Ngoài ra nhà trường còn tập trung vào các dự
án “Dự án thành phố sạch và xanh”, “Nguồn gốc của ô nhiễm không khí và sự kiểmsoát nó”, “Quản lý chất thải nguy hiểm”, …
Tại Philipines, hầu hết các trường đại học đều có khoa học hay chỉ ít cũng có một
bộ môn môi trường Ở đây đào tạo tạo cả chuyên nghành tài nguyên, môi trường sinhthái lẫn công nghệ môi trường Là một đất nước chịu nhiều thiên tai nên Philipines rấtchú trọng giáo dục các sự cố môi trường và phòng chống
Tại Thái lan nơi có trường AIT là nguồn cung cấp và đào tạo các kỹ thuật viên vềmôi trường, giáo dục ở cấp học sau trung học bao gồm đào tạo chuyên nghiệp vàchuyên gia môi trường cũng được xúc tiến mạnh mẽ Hầu hết các trường đại học ởThái Lan đều có quyền cấp bằng cư nhân hoạc thạc sĩ về môi trường Một số trườngcòn có cả chương trình đào tạo tiến sĩ trong lĩnh vực này Tuy nhiên người Thái Lan
vốn sợ rằng, trong tương lai gần sẽ có một sự cung cấp quá dư các nhà môi trường
được đào tạo một các tổng quát mà thiếu hẳn những chuyên gia chuyên trong lĩnh vựcmôi trường học Các báo cáo của các chuyên gia Thái ở hội nghị GDMT cho rằng:
“Thái Lan cần có nỗ lực hơn nữa để đưa giáo dục vào đào tạo, huấn luyện GDMT vàocác chương trình học hiện hành dành cho tất cả các ngành học mà họ sắp tốt nghiệp cóliên quan đến sự phát triển”
Tuy hình thức và phương pháp GDMT ở các nước có sự khác nhau nhưng đều đãkhẳng định sự cần thiết và tính cấp bách của việc giáo dục môi trường trong nhàtrường và trong cộng đồng xã hội Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất họp tại RioJaneiro ( Braxin ) năm 1992 đã xác định chiến lược hành động cho loài người về môi
Trang 18trường và phát triển môi trường ở thế kỷ 21, trong đó có hành động xem xét lại tìnhhình GDMT vùa đưa GDMT vào chương trình giáo dục cho tất cả các lớp và ở các cấphọc Đây cũng là một trong những mục tiêu chủ yếu của chương trình GDMT quốc tế(IEEP) của UNESCO và UNEP Sau hội nghị này tất cả các nước xem lại tình hìnhGDMT ở quốc gia mình và xây dựng những mô hình giáo dục mới phù hợp nhằmnâng cao hiệu quả.
1.1.2 Các khái niệm liên quan tới giáo dục bảo vệ môi trường [5]
Năm 1970, hội nghị quốc tế về GDMT trong Chương trình học đường do IUCN/
UNESCO tổ chức tại Nevada, Mỹ đã thông qua định nghĩa sau về GDMT: “Là quá
trình thừa nhận giá trị và làm rõ khái niệm để xây dựng những kỹ năng và thái độ cần thiết giúp hiểu biết và đánh giá đúng mối tương quan giữa con người với nền văn hóa
và môi trường lý sinh xung quanh mình GDMT cũng tạo cơ hội cho việc thực hành để
ra quyết định và tự hình thành quy tắc ứng xử trước những vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường” (IUCN,1970).
Năm 1975, Martin bắt đầu cố gắng thay đổi một số hiểu biết về môi trường.Trong định nghĩa của ông, chủ yếu nhấn mạnh đến khía cạnh chính trị trong GDMT,cũng như đến đạo lý và giá trị Trên bình diện quốc tế, thuật ngữ “giáo dục môitrường” đã được sử dụng ở Stockholm năm 1972 tại Hội nghị toàn cầu lần thứ nhất vềMôi trường nhân văn Nhưng chỉ đến Hội nghị ở Belgrade nó mới được định nghĩatrên quy mô toàn cầu Kể từ đó, cộng đồng quốc tế thừa nhận định nghĩa về GDMT
“GDMT là quá trình nhằm phát triển một cộng đồng dân cư có nhận thức rõ ràng và
quan tâm đến toàn bộ môi trường cùng những vấn đề liên quan, có kiến thức, kỹ năng, động cơ và cam kết để có thể làm việc độc lập hoặc hợp tác với người khác nhằm tìm
ra giải pháp cho những vấn đề hiện có và phòng chống những vấn đề có thể xảy ra trong tương lai”.
Năm 1977, tại Hội nghị liên chính phủ lần thứ nhất về GDMT tại Tbilisi, Grudia,
Nga đã định nghĩa: “GDMT là một quá trình để tạo dựng cho con người những nhận thức
và mối quan tâm đến môi trường và các vấn đề môi trường, sao cho mỗi người đều có đầy đủ kiến thức thái độ, ý thức, kỹ năng để có thể hành động một cách độc lập hoặc phối hợp nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề c ó thể nảy sinh trong tương lai”.
Năm 1993, Hiệp hội GDMT Bắc Mỹ thông qua khái niệm: “GDMT là một quá
trình giúp người học tiếp thu kiến thức, kỹ năng và những kinh nghiệm môi trường tích cực để có thể phát triển vấn đề, đáng giá lợi ích và rủi ro, đưa ra những quyết định thông tin đầy đủ và thực hiện những hành động có trách nhiệm nhằm đạt được và duy trì chất lượng môi trường”.
Hội nghị ở Belgrade nó mới được định nghĩa trên quy mô toàn cầu Kể từ đó,
cộng đồng quốc tế thừa nhận định nghĩa về GDMT “Giáo dục môi trường là quá trình
Trang 19nhằm phát triển một cộng đồng dân cư có nhận thức rõ ràng và quan tâm đến toàn bộ môi trường cùng những vấn đề liên quan, có kiến thức, kỹ năng, động cơ và cam kết
để có thể làm việc độc lập hoặc hợp tác với người khác nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề hiện có và phòng chống những vấn đề có thể xảy ra trong tương lai”.
Đến năm 2000, Jonathon Wigley đưa ra khái niệm: “GDMT là một quá trình
phát triển những tình huống dạy/học hiệu quả giúp người dạy và học tham gia giải quyết những vấn đề môi trường liên quan, đồng thời tìm ra một số lối sống có trách nhiệm và được thông tin đầy đủ”.
Sau đây là một định nghĩa tương đối mới về GDMT có khả năng giải quyết đượcnhững thách thức đối với PTBV:
“GDMT là một quá trình phát triển những tình huống dạy/học hữu ích giúp
người dạy và người học tham gia giải quyết những vấn đề môi trường có ảnh hưởng đến họ và tìm ra những câu trả lời dẫn đến một lối sống có trách nhiệm, được thông tin đầy đủ”.
Điều quan trọng là cần nhận thấy rằng trong tất cả những định nghĩa khác nhaunày, có một số điểm cơ bản chung có tính cố hữu
Thứ nhất, GDMT là một một quá trình diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn,
ở nhiều địa điểm khác nhau, thông qua những kinh nghiệm khác nhau và bằng nhữngphương thức khác nhau
Thứ hai, rằng GDMT nhằm thay đổi hành vi.
Thứ ba, rằng khung cảnh học tập là bản thân môi trường và những vấn đề có
trong thực tế
Thứ tư, rằng GDMT bao gồm giải quyết vấn đề và ra quyết định về cách sống.
Nói một cách gián tiếp, nhờ tập trung vào phát triển kỹ năng, những định nghĩa này
muốn nói rằng việc học phải tập trung người học và lấy hành động làm cơ sở
1.1.3 Mục đích, vai trò, tầm quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường
a Mục đích giáo dục bảo vệ môi trường
Theo Hiến chương Belgrade về GDMT toàn cầu: “Mục đích của GDMT là làm
cho con người hiểu biết và có trách nhiệm về môi trường và các vẫn đề môi trường có
đủ kiến thức, kỹ năng, động cơ và trách nhiệm trong những việc làm của cá nhân hay tập thể nhằm giải quyết các vẫn đề môi trường hiện nay cũng như ngăn chặn các vấn
đề sẽ nảy sinh trong tương lai”.
Hội nghị quốc tế về Giáo dục môi trường của Liên hợp quốc tổ chức tại Tbilisi
vào năm 1977 đã đưa ra khái niệm: “Mục đích của GDMT là làm cho cá nhân và
các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường
Trang 20nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế
và văn hóa; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường”.
b Vai trò giáo dục bảo vệ môi trường [1]
Giáo dục là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và có tính bềnvững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu BVMT và PTBV đất nước
Đích quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) không chỉ làm cho
mọi người hiểu rõ sự cần thiết phải BVMT mà quan trọng là phải có thói quen, hành viứng xử thân thiện, văn minh, lịch sự với môi trường
Giáo dục môi trường không phân biệt giáo dục cho đông đảo nhân dân, giáodục trong các trường phổ thông, giáo dục đại học hay trung học chuyên nghiệp đềunhằm mục tiêu đem lại cho các đối tượng được giáo dục có cơ hội: [11]
Hiểu biết bản chất của các vấn đề môi trường: tính phức tạp, quan hệ nhiềumặt, nhiều chiều, tính hạn chế của tài nguyên thiên nhiên và khả năng chịu tải của môitrường, mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển, giữa môi trường địaphương, vùng, quốc gia với môi trường khu vực và toàn cầu Mục tiêu này thực chất làtrang bị cho các đối tượng được giáo dục các Kiến thức về môi trường
Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường như một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển, đối với bản thân họ cũng như đốivới cộng đồng, quốc gia của họ và quốc tế, từ đó có thái độ, cách ứng xử đúng đắntrước các vấn đề môi trường, xây dựng cho mình quan niệm đúng đắn về ý thức tráchnhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành các kỹ năng thu thập số liệu và phát triển
sự đánh giá thẩm mỹ Mục tiêu này có định hướng xây dựng Thái độ, cách đối xử thânthiện với môi trường
Có tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực trong việclựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lý và khôn ngoancác nguồn tài nguyên thiên nhiên, để họ có thể tham gia hiệu quả vào việc phòng ngừa
và giải quyết các vấn đề môi trường cụ thể nơi họ ở và làm việc Đây là mục tiêu vềkhả năng
Trang 21c Tầm quan trọng của GDMT [9]
Năm 1987, tại Hội nghị về môi trường ở Moscow do UNEP và UNESCO đồng tổ
chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng của giáo dục môi trường: “Nếu không nâng
cao được sự hiểu biết của công chúng về những mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng môi trường với quá trình cung ứng liên tục các nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt được những mối nguy cơ về môi trường ở các địa phương cũng như trên toàn thế giới Bởi vì, hành động của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động cơ này lại tùy thuộc vào chính nhận thức và trình độ hiểu biết của họ.
Do đó, giáo dục môi trường là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu biết về môi trường” [11]
Con người là một thành phần của môi trường và là chủ thể BVMT Ý thức, thái
độ, hành vi ứng xử với môi trường là một trong các yếu tố nhân cách của người laođộng Chức năng chủ tổng quát nhất và cao quý nhất của giáo dục là “trồng người”,rèn luyện phát triển nhân cách người lao động Thật vậy, giáo dục, đặc biệt là giáo dục
có hệ thống trong nhà trường đóng vai trò quyết định đối với việc hình thành tư cáchcông dân, cách ứng xử đối với xã hội, đối với môi trường của mỗi cá nhân Một khicon người có những hiểu biết về mối quan hệ nhân quả giữa môi trường và phát triểnkinh tế - xã hội, giữa môi trường với sự tồn tại của xã hội, giữa môi trường với chínhcuộc sống của mình thỉ trong mọi hành động thì họ sẽ nâng niu và ứng xử thân thiệnvới môi trường vì mục tiêu PTBV Mọi thành viên trong cộng đồng xã hội đều có quan
hệ với nhau và quan hệ trực tiếp tới môi trường Tất cả đều có trách nhiệm trước môitrường Tuy nhiên, chỉ có giáo dục, với hệ thống nhà trường của tất cả các cấp học, bậchọc, với thiết chế chặt chẽ mới có thể tác động một cách rộng rãi lên các thành viêncủa xã hội Chính vì vậy, giáo dục là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tếnhất và có tính bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu BVMT và PTBVđất nước
Đích quan trọng của giáo dục BVMT không chỉ làm cho mọi người hiểu rõ sựcan thiết phải BVMT mà quam trọng là phải có thói quen, hành vi ứng xử thân thiện,văn minh, lịch sự với môi trường Điều này phải trong một quá trình lâu dài và phảibắt đầu ngay từ tuổi thơ ấu, từ gia đình tới nhà trường, từ trường mầm non cho đếnnhững năm học ở nhà trường phổ thông, các học sinh luôn được tiếp xúc với thiênnhiên sinh động, tươi đẹp,… Việc hình thành tình yêu thiên nhiên, sống thân thiện hoàđồng với thiên nhiên, quan tâm đến thế giới xung quanh, có thói quen sống ngăn nắp,
vệ sinh của học sinh một mặt phù thuộc vào tố chất của từng em, mặt khác – hết sứcquan trọng và mang tính chất quyết định – lại phụ thuộc vào nội dung và cách thứcgiáo dục của chúng ta, bởi giáo dục có vai trò quyết định đến việc hình thành nhân
Trang 22cách và năng lực của người học Giáo dục BVMT phải được đưa vào nhà trường phổthông nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về môi trường và BVMT, bồi dưỡng tìnhyêu thiên nhiên, bồi dưỡng những xúc cảm, xây dựng cái thiện trong mỗi con người,hình thành thói quen, kỹ năng sống BVMT.
1.1.4 Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường [11]
Đối với giáo dục mần non: cung cấp cho tẻ em hiểu biết ban đầu về môi trường.Biết cách sống tích cực với môi trường Giáo dục mầm non nằm trong hệ thống giáodục quốc dân, là cơ sở quan trọng đặt nền móng ban đầu cho việc hình thành nhâncách con người Việt Nam Giai đoạn từ 0 – 6 tuổi là giai đoạn rất quan trọng trongcuộc đời mỗi con người Trong giai đoạn này, trẻ phát triển rất nhanh về mặt thể chất,nhận thức, tình cảm Các mối quan hệ xã hội, những nét tính cách, phẩm chất và cácnăng lực chung nếu không được hình thành ở trẻ trong lứa tuổi này, thì khó có cơ hộihình thành ở lứa tuổi sau Hiện nay, cả nước có trên 10.000 trường mẫu giáo, mầm nonvới gần 3 triệu trẻ em và trên 15.000 giáo viên Một lực lượng khá đông đảo sẽ đượctrang bị những kiến thức, kỹ năng về môi trường và bảo vệ môi trường nếu đưa giáodục bảo vệ môi trường vào trường mầm non
Đối với giáo dục tiểu học: trang bị kiến thức cơ bản phù hợp với độ tuổi và tâm lýcủa học sinh về các yếu tố môi trường Tiểu học là bậc học cơ bản, là cơ sở ban đầuhết sức quan trọng cho việc đào tạo trẻ em trở thành công dân tốt cho đất nước Mụcđích quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường không chỉ làm cho các em hiểu rõ tầmquan trọng của bảo vệ môi trường mà quan trọng là phải hình thành thói quen, hành viứng xử thân thiện với môi trường Nếu ở cấp học này các em chưa hình thành đượctình yêu thiên nhiên, sống hòa đồng với thiên nhiên, quan tâm tới thế giới xung quanh,
có thói quen sống ngăn nắp, vệ sinh thì ở các cấp sau khó có thể bù đắp được Vì vậy,nội dung và cách thức bảo vệ môi trường trong trường tiểu học mang tính quyết địnhđối với việc hình thành những phẩm chất đó
Đối với giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông: trang thiết bị nhữngkiến thức về sinh thái học, mối quan hệ giữa con người và môi trường Ở cấp học này,nội dung giáo dục môi trường phải được coi là nội dung chính thống, có hệ thống, cóchất lượng và phải hiệu quả Cách thức đưa vào chương trình phổ thông và phươngthức đào tạo có thể mềm dẻo nhưng việc đánh giá kết quả phải được đặt ra một cáchtương xứng với tầm quan trọng của vấn đề Cần phải giúp cho các em tự mình chiếmlĩnh được tri thức, kỹ năng và tự thân các học sinh xác định thái độ phái đối xử đúngđắn với thiên nhiên như chính ngôi nhà của mình
Đối với giáo dục bảo vệ môi trường ở bậc đại học và sau đại học có thể đượcthực hiện theo 3 phương thức:
Trang 23 Tiến hành như một môn học mới, hoặc một chuyên đề mới được đưa vàochương trình: Phương thức này tương đối rõ ràng, đơn giản, nhưng gặp khó khăn dochương trình đào tạo đang có không còn thời lượng cho môn học mới.
liên ngành, không đòi hỏi việc sắp xếp lại khung chương trình Tuy nhiên lại gặp khókhăn lớn là phải đào tạo giáo viên mới và huấn luyện bồi dưỡng giáo viên đương chức
về mục tiêu, nội dung và phương pháp lồng ghép
vận dụng để giải quyết khó khăn về quỹ thời gian học tập của học sinh Giáo dục ngoạikhóa có ưu điểm là sinh động, dễ gắn liền với thực tế, vừa cung cấp được kiến thức, kỹnăng, vừa có tác dụng rèn luyện nhận thức, thái độ Tuy nhiên có khó khăn là khôngliên tục, không hệ thống và bị động với nhiều nhân tố bên ngoài
1.1.5 Yêu cầu của giáo dục môi trường [9]
Kết hợp trang bị tri thức với giáo dục đạo đức môi trường
Đặt GDMT trong mối quan hệ đa ngành, giải quyết vấn đề dưới sự kết hợp đalĩnh vực
Hình thức giáo dục phải đa dạng, phong phú, kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết vàminh họa thực tế, mô hình, hình thức phù hợp lứa tuổi, nhận thức, kết hợp giáo dụcnhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
Đảm bảo giáo dục ứng xử môi trường theo quy định của pháp luật và các côngước quốc tế về BVMT
Đảm bảo kết hợp các yếu tố kinh tế, xã hội và chính trị trong GDMT, xem môitrường như một tổng thể tự nhiên và có một mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố kinh
tế và xã hội Đặt sự phát triển của cà nhân và cộng đồng trong môi trường tự nhiêntrong lành
Xem xét các vấn đề môi trường theo nhiều phạm vi: địa phương, quốc gia và toàn cầu.Chú trọng vào môi trường hiện hữu cũng như những thay đổi trong tương lai.Động viên sự kết hợp hành động BVMT địa phương và sau đó là những đóng góp giảiquyết các vấn đề môi trường ở tầm quốc gia và toàn cầu
Chú ý khía cạnh môi trường trong giáo dục phát triển
1.2 Tổng quan về giáo dục bảo vệ môi trường trong trường tiểu học
1.2.1 Mục tiêu và vai trò của giáo dục bảo vệ môi trường trong trường tiểu học
a Mục tiêu giáo dục BVMT trong trường học [4]
Giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học nhằm:
Trang 24Làm cho học sinh bước đầu biết và hiểu: Các thành phần môi trường gồm đất,nước, không khí, ánh sáng, động vật, thực vật và quan hệ giữa chúng; mối quan hệgiữa con người và các thành phần môi trường; ô nhiễm môi trường; biện pháp bảo vệmôi trường xung quanh (nhà ở, trường, lớp học, thôn xóm, bản làng, phố phường, )Học sinh bước đầu có khả năng: Tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường phùhợp với lứa tuổi (trồng, chăm sóc cây, làm cho môi trường xanh – sạch – đẹp), sốnghòa hợp, gần gũi, thân thiện với tự nhiên Sống tiết kiệm, ngăn nắp, vệ sinh, chia sẻ,hợp tác Yêu quý thiên nhiên, gia đình, trường lớp, đất nước Thân thiện với môitrường, quan tâm đến môi trường xung quanh.
b Vai trò của giáo dục BVMT trong trường tiểu học [10]
Tiểu học là bậc học cơ bản, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng cho việc đào tạocác em trở thành công dân tốt cho đất nước
Mục đích quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường không chỉ làm cho các emhiểu rõ tầm quan trọng của bảo vệ môi trường mà quan trọng là phải hình thành thóiquen, hành vi ứng xử văn minh, thân thiện với môi trường
Nội dung và cách thức giáo dục bảo vệ môi trường trong trường tiểu học mangtính quyết định đối với việc hình thành những phẩm chất tình yêu thiên nhiên, sốnghòa đồng với thiên nhiên, quan tâm tới thế giới xung quanh, có thói quen sống ngănnắp, vệ sinh
1.2.2 Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học
Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học ở Việt Nam đượclồng ghép, tích hợp trong các môn học và đưa vào nội dung hoạt động giáo dục ngoàigiờ lên lớp với lượng kiến thức phù hợp Quan tâm đến môi trường địa phương, thiếtthực cải thiện môi trường, hình thành và phát triển thói quen ứng xử thiên nhiên vớimôi trường [3]
* Tích hợp, lồng ghép bảo vệ môi trường qua các môn học có 3 mức độ:
Mức độ toàn phần, mức độ bộ phận, mức độ liên hệ Giáo dục bảo vệ môi trường
là một quá trình lâu dài, cần được bắt đầu từ mẫu giáo và được tiếp tục ở cấp phổthông cũng như trong cuộc sống sau này Để chuyển tải được nội dung giáo dục bảo vệmôi trường tới học sinh một cách hiệu quả cần lựa chọn các phương pháp giáo dụcphải xuất phát từ quan điểm tiếp cận trong giáo dục bảo vệ môi trường Đó là giáo dục
về môi trường, giáo dục trong môi trường và giáo dục vì môi trường
Giáo dục về môi trường: Nhằm trang bị những hiểu biết, kiến thức của bộ mônkhoa học về môi trường, những hiểu biết về tác động của con người tới môi trường,những phương pháp nghiên cứu, các biện pháp đánh giá tác động và xử lý sự cố môi trường
Trang 25Giáo dục trong môi trường: Là xem môi trường thiên nhiên hoặc nhân tạo nhưmột phương tiện, một môi trường để giảng dạy và học tập Nói cách khác là cần phảidạy và học gắn với môi trường một cách sinh động và đa dạng.
Giáo dục vì môi trường: Nhằm giáo dục được ý thức, thái độ, các chuẩn mực,hành vi ứng xử đúng đắn với môi trường Hình thành và phát triển, rèn luyện các kỹnăng cơ bản, cần thiết cho những quyết định đúng đắn trong hành động bảo vệ môitrường
* Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường qua hoạt động ngoài giờ lên lớp:
Trong chương trình Tiểu học hoạt động ngoài giờ lên lớp được quy định mỗituần ít nhất 1 tiết Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường có thể được lồng ghép vàonhững buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt đội Căn cứ vào những chủ đề chung cho toàn bộbậc học, chương trình giáo dục bảo vệ môi trường được quy định cho các khối lớptheo hai mức độ: Các lớp 1,2,3 và các lớp 4,5
Giáo dục bảo vệ môi trường qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh Tiểuhọc gồm có các chủ đề sau:
+ Ngôi nhà của em: Nhà cửa sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp sẽ ảnh hưởng tốt đếnsức khỏe con người Vì vậy, các em phải biết thường xuyên tự giác giữ gìn nhà cửasạch sẽ, gọn gàng, giữ gìn và sử dụng cẩn thận các đồ dùng gia đình, trồng và chămsóc cây, con vật nuôi trong gia đình
+ Mái trường thân yêu của em: Các em cần biết những điều nên làm và khôngnên làm trong bảo vệ giữ gìn môi trường, yêu quý giữ gìn bảo vệ môi trường nhàtrường, thực hiện quy định bảo vệ cảnh quan môi trường, tích cực tham gia các hoạtđộng giữ gìn trường lớp xanh – sạch – đẹp
+ Em yêu thiên nhiên: Con người sinh sống trong thiên nhiên và là một bộ phậncủa thiên nhiên, phá hoại thiên nhiên, môi trường tự nhiên xung quanh sẽ gây tác hạiđối với cuộc sống con người Vì vậy, các em cần biết cảm nhận, yêu quý vẻ đẹp củathiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên, tham gia trồng và chăm sóc cây xanh, chăm sóc yêuquý những con vật nuôi
+ Vì sao môi trường bị ô nhiễm: Nhận biết và chỉ ra một số nguyên nhân gây ônhiễm môi trường đến con người và các sinh vật khác, thực hiện những hành động cụthể để tránh làm ô nhiễm môi trường
+ Tiết kiệm trong tiêu dùng: Biết tiết kiệm là góp phần bảo vệ môi trường, quýtrọng các đồ dùng, tài sản thiên nhiên, sản phẩm lao động, tiết kiệm sử dụng hợp lý các
đồ dùng trong sinh hoạt, học tập, biết phân loại tận dụng phế thải
Giáo dục bảo vệ môi trường là một nội dung giáo dục trong trường Tiểu học Do
đó, đặc thù giáo dục bảo vệ môi trường có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học đa
Trang 26dạng như thảo luận nhóm, trò chơi, phương pháp dự án, đóng vai, đồng thời giáo dụcbảo vệ môi trường còn sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù của các môn học [4]
1.2.3 Nguyên tắc giáo dục BVMT trong trường học [9]
Đảm bảo mục tiêu giáo dục BVMT phải phù hợp với mục tiêu đào tạo của cấphọc, bậc học, góp phần thục hiện mục tiêu đào tạo của giáo dục nói chung
Nội dung giáo dục BVMT phải chú trọng các vấn đề thực hành, trên cơ sở đóhình thành các kỹ năng, phương pháp hành động cụ thể để học sinh có thể tham gia cóhiệu quả vào các hoạt động BVMT của địa phương, của đất nước phù hợp với lứa tuổi.Phương pháp giáo dục BVMT nhằm tạo điều kiện cho người học chủ động thamgia vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho học sinh phát hiện các vấn đề môi trường vàtìm ra hướng giải quyết vấn đề dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viênvào quátrình học tập, tạo cơ hội cho học sinh phát triển về vấn đề môi trường
Tận dụng các cơ hội để giáo dục BVMT nhưng phải đảm bảo kiến thức cơ bảncủa môn học, tính logic của nội dung và không làm quá tải kiến thức và tăng thời giancủa bài học
1.2.4 Phương pháp giáo dục BVMT trong trường học [8]
Tích hợp và lồng ghép: GDBVMT là giáo dục tổng thể nhằm trang bị những
kiến thức về môi trường cho học sinh – sinh viên, những kiến thức về môi trườngthông qua từng môn học và chương trình riêng phù hợp với từng đối tượng Việc giáodục này chủ yếu dựa theo phương thức lồng ghép và liên hệ trong các nội dung giảngdạy của các môn học
Tính phù hợp ở từng bậc học: Nội dung GDBVMT là việc cung cấp những
thông tin về môi trường cùng những biện pháp BVMT cần được cung cấp theo những cáchthức phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của từng nhóm đối tượng; nội dungGDBVMT cần là giáo dục trong môi trường và vì môi trường; GDBVMT là nhìn thấy rõtrách nhiệm và rèn luyện kỹ năng để BVMT
Tính tổng hợp và đa dạng: Trong đời sống xã hội, những nhân tố tự nhiên và
nhân tố xã hội luôn luôn có những tác động qua lại và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sốngsinh hoạt của mỗi cá nhân và của cộng đồng dân cư; do đó, nội dung GDBVMT không chỉbao hàm các nội dung về môi trường tự nhiên mà còn phải bao hàm cả môi trường xã hộihay còn gọi là môi trường nhân văn
Tính hành động thực tiễn: GDBVMT không chỉ giúp học sinh - sinh viên có
thêm nhận thức, hiểu biết cần thiết để BVMT, mà còn phải biết vận dụng các nguyên
lý, nguyên tắc vào ngay các vấn đề cụ thể, phải biết làm điều gì đó cho môi trườngxung quanh, nghĩa là GDBVMT phải được tiến hành bằng cả phương thức lẫn hànhđộng thực tiễn
Trang 27Tính hợp tác, liên hệ và điểm nhân ra diện rộng: “GDBVMT là dạy người học
biết cách ứng xử và hành động vì môi trường Vì vậy, cần tận dụng các phương thứchợp tác giữa người dạy và người học, giữa nhà trường với xã hội trong quá trình giáodục Đồng thời hướng người học vận dụng ngay hiểu biết để tham gia vào quá trìnhgiải quyết các vấn đề về môi trường”
Tóm lại: Phương pháp giảng dạy của giáo viên về môi trường cần có hai nét chính:
Thứ nhất: Sự thành thạo phương pháp lấy người học làm trung tâm
Thứ hai: Mỗi giáo viên đều là một nhà môi trường trong giảng dạy lĩnh vựcchuyên môn của mình
1.3 Tổng quan một số nghiên cứu, dự án về nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học [9]
1.3.1 Trên thế giới
Nghiên cứu chương trình chăm sóc - giáo dục học sinh cấp độ tiểu học của một
số nước (Úc, Hàn Quốc, Nga, Singapore ) cho thấy các nước này đều quan tâm đếnviệc GDBVMT cho học sinh ngay từ lứa tuổi nhỏ Với mục đích hình thành ở các emnhững giá trị và phẩm chất môi trường như: hiểu về môi trường, yêu quý môi trường,tôn trọng, chăm sóc, giữ gìn và BVMT, có thái độ hài hoà đối với thế giới tự nhiên,chương trình của các nước đều có nội dung giáo dục về môi trường và BVMT như: [1]Tại Đức, chương trình “Tìm hiểu đất nước” trong bậc tiểu học Các cấp học từtrung học trở lên thì nội dung GDMT được gắn hữu cơ vào chương trình sinh học vàđịa lý
Tại Indonesia người ta đã thiết lập các trung tâm nghiêm cứu về môi trườngtrong các học viện Các trung tâm này là các nơi cung cấp các chuyên gia cho việcnghiên cứu, đào tạo cho các công việc khác có liên quan đến khoa học môi trường ởcác cấp quốc gia và khu vực
Ở Bungari, trong chương trình cấp 1 có hẳn một môn riêng biệt là “Kiến thức vềmôi trường”, cung cấp cho học sinh nội dung đơn giản nhưng rất cơ bản về môi trườngxung quanh như: nhà trường, làng mạc, thôn xóm, địa phương, đường xá, giao thông,vườn cây, rừng, động vật có ích có hại
Ở Singapore, chương trình GDBVMT cho học sinh tiểu học bao gồm các chủ đềchính: Nhận thức về môi trường trong những năm tháng tuổi thơ, khám phá môitrường xung quanh, khám phá cơ chế hoạt động của các sinh vật, hiện tượng và tìmhiểu sự trưởng thành của sự thay đổi
Tại Nhật Bản Năm 1991, Bộ Giáo dục, Khoa học, Thể thao và Du lịch Nhật Bản
đã xây dựng thành công cuốn hướng dẫn giáo dục môi trường Tại Nhật Bản người ta
Trang 28xây dựng câu lạc bộ môi trường dành riêng cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở(Junior-Eco-Club).
Chương trình GDTH của Hàn Quốc: Chương trình của Hàn quốc được xây dựngtheo cách tiếp cận phát triển, nên rất chú trọng hình thành cho học sinh những hành vi
trong các lĩnh vực khác nhau của chương trình Chương trình có các nội dung giáoGDBVMT sau đây:
Hiểu được giá trị của môi trường trong lành
Quan tâm đến môi trường xung quanh, quan tâm BVMT, vệ sinh môitrường
Sống tiết kiệm: dùng điện nước một cách tiết kiệm, bảo vệ các thiết bị
Phân loại rác, biết làm thế nào để giảm rác thải
Quan tâm và tái tạo lại những thứ có thể sử dụng
Chuẩn bị đối phó với sự ô nhiễm môi trường và thảm hoạ thiên nhiên: có
sự hiểu biết để sống trong môi trường ô nhiễm Dự đoán thảm hoạ thiên nhiên vàsẵn sàng đối phó
Chương trình GDTH của Úc: Chương trình của Úc không đưa ra nội dung
GDBVMT rõ ràng như ở chương trình của Hàn Quốc Nội dung GDBVMT được tích hợp một cách tự nhiên vào chương trình chăm sóc - giáo dục học sinh Chương trình
quan tâm đến việc xây dựng các môi trường cho các em được hoạt động, trong đó cómôi trường sinh thái và các nguyên - vật liệu để học sinh hoạt động sáng tạo
* Môi trường sinh thái: gồm một số nội dung sau:
phương, cây có vỏ cứng, cây có hoa
sát các côn trùng
đã qua sử dụng (lốp xe, ống tròn ) để các em hoạt động
* Các nguyên - vật liệu để các em hoạt động sáng tạo: qua sử dụng để các em
làm đồ dùng, đồ chơi và trong hoạt động tạo hình
Chương trình GDTH của Nga: Quan tâm đến giáo dục sinh thái cho học sinh.
Nội dung giáo dục bao gồm:
Trang 29 Sự đa dạng sinh học: Mối quan hệ tương hỗ giữa các cơ thể sống trong môitrường sinh thái của chúng.
của con người
tế Vấn đề ô nhiễm môi trường Bảo vệ và khôi phục đa dạng sinh học
Với quan điểm các em học thông qua các hoạt động trải nghiệm và tìm tòi khámphá, chương trình đưa ra các dạng hoạt động sau đây của học sinh trong giáo dục sinhthái: chơi đóng vai; hoạt động thực tiễn; hoạt động sáng tạo; tiếp xúc với môi trường,với các đối tượng của thế giới động, thực vật; thí nghiệm; hoạt động lời nói; quan sát;
1.3.2 Tại Việt Nam
Dự án giáo dục dân số VIE/94/P01, chu kì 1994 - 1996 đã nghiên cứu việc tíchhợp nội dung giáo dục môi trường vào chương trình giáo dục các cấp học
Luận án tiến sĩ triết học của tác giả Nguyễn Việt Thanh “Giáo dục ý thức bảo vệ
môi trường cho học sinh tiểu học ở việt nam hiện nay” Luận án được thực hiện dựa
sự phát triển xã hội, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chínhsách pháp luật của Nhà nước và các kết quả điều tra nghiên cứu của các nhà khoa họctrong và ngoài nước có liên quan đến nội dung được đề cập trong luận án Nội dungcủa luận án:
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Những vấn đề lý luận chung về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học
sinh tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Thực trạng và những vấn đề đặt ra của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trườngcho học sinh tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Luận văn thạc sĩ khoa học của tác giả Đặng Thị Hồng Nhung “Nghiên cứu xâydựng và lồng ghép nội dung giáo dục môi trường vào chương trình đào tạo cho họcsinh tại trường tiểu học quốc tế OLYMP khu đô thị Trung Văn – Hà Nội” Sau khi
chương trình giáo dục của cấp độ tiểu học:
Nội dung GDBVMT được thực hiện cho tất cả các khối tiểu học từ lớp 1 đếnlớp 5, thì học sinh lớp 1, 2, 3 có nhận thức và hiểu biết về vấn đề BVMT ở mức độgiản đơn hơn
Tuy nhiên, tỷ lệ học sinh có ý thức giữ gìn vệ sinh chung, cất đồ dùng học tậpđúng nơi quy định ở tất cả các lứa tuổi đều đã tăng lên nhiều so với trước khi tôi thực
Trang 30hiện chương trình; học sinh biết sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đặc biệt tăng từ60% - 100% (đối với lớp 4,5) Ngoài ra, các em đã nhận biết và phân loại rác tăng từ
60 – 90% (đối với lớp 4, 5) và 40% - 70% (đối với lớp 1, 2, 3)
Học sinh đã biết giúp đỡ gia đình, hứng thú tham gia làm các công việc nhẹnhàng như quét nhà, tưới cây, chăm sóc, bảo vệ cây xanh; ngoài ra các em còn biếthành vi nào của mọi người là BVMT hay phá hoại môi trường
Giáo viên và phụ huynh học sinh đã có kiến thức về môi trường hiện nay vàbiết BVMT ở mức độ nào đó, từ đó mọi người quan tâm tới việc giáo dục các emBVMT nhiều hơn qua những sự vật, sự việc diễn ra trong cuộc sống hàng ngày
Luận văn thạc sĩ của tác giả Cao Hữu Công “Biện pháp quản lý hoạt động giáodục bảo vệ môi trường cho học sinh các trường tiểu học quận Hải Châu, thành phố ĐãNẵng” Nội dung của nghiên cứu:
Nghiên cứu lý luận về hoạt động GDBVMT cho học sinh tiểu học
Khảo sát thực trạng hoạt động GDBVMT và các biện pháp quản lý hoạt độngGDBVMT cho học sinh các trường tiểu học quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDBVMT cho học sinh các trườngtiểu học quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Tài liệu “Một số nội dung cơ bản về lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường trongtrường tiểu học” năm 2009 Với nội dung:
GDBVMT thông qua lồng ghép nội dung vào các môn học
GDBVMT thông qua lồng ghép nội dung vào các hoạt động GDNGLL và cáchoạt động tập thể
GDBVMT qua chỉ đạo thực hiện công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng
độ tuổi
GDBVMT qua chỉ đạo xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia
GDBVMT thông qua xây dựng môi trường học tập bạn hữu trẻ em
GDBVMT thông qua giáo dục quyền và bổn phận của trẻ em
Bộ GD&ĐT cũng yêu cầu các đợn vị đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ bảo vệmôi trường năm 2017 và ước thực hiện năm 2018, phân tích, đánh giá các mặt được, chưađược, khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện cũng như kiến nghị và đề xuất cácgiải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục bảo vệ môi trường
Sách: quyển 1 là Biển, đảo với cuộc sống của chúng ta Quyển 2 là Giáo dục
bảo vệ môi trường biển, đảo Việt Nam qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (Tài
liệu hướng dẫn giáo viên Tiểu học) chủ biên: phó giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Tuyết Nga
ngoài giờ lên lớp” gồm hai phần:
Trang 31 Phần một: Những vấn đề chung Phần này cung cấp cho giáo viên một số kiếnthức về biển, đảo Việt Nam và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường biển, đảo; đồngthời trang bị cho giáo viên những phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt độnggiáo dục ngoài giờ lên lớp có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường biển, đảo ViệtNam.
Phần hai: Gợi ý một số mô đun tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.Phần này giới thiệu 24 mô đun tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có nộidung giáo dục bảo vệ môi trường biển, đảo với 6 loại hình được tổ chức ở trong vàngoài nhà trường
Công ty Honda Việt Nam vừa phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo phát độngsân chơi “Ý tưởng Trẻ thơ” năm 2019 dành cho học sinh tiểu học trên phạm vi cảnước, với chủ đề mới xoay quanh bảo vệ môi trường và an toàn giao thông đã gâyđược tiếng vang trong toàn xã hội
1.4 Giới thiệu và tổng quan một số hoạt động giáo dục nghiên cứu về địa bàn nghiên cứu
- Giới thiệu trường Tiểu Học Thị Trấn Chi Nê
Đối với điểm nghiên cứu của khóa luận là Trường Tiểu học Thị Trấn Chi Nê,Huyện Lạc Thủy, Tỉnh Hòa Bình trong năm học 2019 – 2020 bao gồm đội ngũ cán bộgiáo viên và học sinh được thống kê dưới bảng 1.1 và 1.2:
Bảng 1.1: Đội ngũ cán bộ giáo viên và
nhân viên
Trang 32- Một số hoạt động giáo dục môi trường đã được thực hiện tại trường tiểu học thị trấn Chi Nê như:
+ Giáo viên dạy lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học có phầnhọc liên quan đến môi trường
+ Tổ chức các cuộc thi giành cho giáo viên: cuộc thi Chống rác thải nhựa, thi Chấmvườn rau trải nghiệm, Trang trí cầu thang, Tết trồng cây
+ Tổ chức các hoạt động, cuộc thi cho học sinh: Thi trình diễn thời trang với nội dungbảo về môi trường, Nhà trường không rác thải nhựa, Một phút sạch trường, Thi chấm lớp(trang trí với nội dung xanh-sạch-đẹp)
Như vậy, nhà trường đã có một số hoạt động GDBVMT được lồng ghép hoặctriển khai theo nhiều hình thức khác Tuy nhiên để các em có những nhận thức sâu vềBVMT, tự giác thực hiện thì vẫn còn nhiều bạn chưa làm được Do vậy, đề tài này đãnghiên cứu về thực trạng hoạt động GDBVMT và để đưa ra một số giải pháp để nângcao chất lượng các hoạt động GDBVMT cho học sinh tiểu học, nhằm truyền đạt thêmcho các em những kiến thức về môi trường, cùng các em định hướng những cách gópphần BVMT thiết thực nhất, vừa với sức của mình
Trang 33CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Học sinh khối 4 và khối 5 trường Tiểu học Thị Trấn Chi Nê.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Trường Tiểu học Thị Trấn Chi Nê, Thị Trấn Chi Nê, HuyệnLạc Thủy, Tỉnh Hòa Bình
+ Về thời gian: Từ 10/02/2020 – 20/06/2020
2.2 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp thu thập và kế thừa số liệu
- Khóa luận sử dụng phương pháp này nhằm xác định, phân tích, đánh giá vàtổng hợp các dữ liệu có liên quan đến trường tiểu học Thị Trấn Chi Nê thông qua cácthông tin, số liệu đã thu thập được từ các nguồn khác nhau
- Khóa luận đã thu thập và kế thừa chọn lọc một số cơ sở dữ liệu có liên quannhư:
+ Các giáo trình có nội dung về GDBVMT cho học sinh ở lứa tuổi tiểu học, cácnghiên cứu về vấn đề tương tự trước đây
+ Các thông tin trên các website về việc đánh giá tâm lí của học sinh, về nhậnthức của các em ngay từ lứa tuổi tiểu học có ảnh hưởng đến khi trưởng thành
+ Các tài liệu từ thư viện Trường Tiểu học Thị Trấn Chi Nê
+ Các thông tin được lấy từ Cơ sở dữ liệu nghành Giáo Dục và Đào Tạo của BộGiáo Dục và Đào Tạo
+ Các thông tin từ cổng thông tin điện tử Trường tiểu học Thị Trấn Chi Nê:http://thchine.pgdlacthuy.edu.vn/
+ Các tài liệu phục vụ cho quá trình GDBVMT tại Trường Tiểu học Thị TrấnChi Nê như các sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên về giáo án giảng dạy các nộidung có liên quan đến chủ đề BVMT từ các tổ chuyên môn các khối lớp
Từ đó làm cơ sở lý luận khoa học cho việc trình bày tổng quan và đánh giá hiệntrạng hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại trường Tiểu học Thị Trấn Chi Nê
b Phương pháp khảo sát thực địa
- Quan sát, đánh giá một cách trực quan về môi trường xung quanh, môi trườnghọc tập, chất lượng các đồ dùng dành cho hoạt động giảng dạy - học tập và các hoạt độnggiáo dục ngoài giờ lên lớp về BVMT tại khu vực nghiên cứu
- Quan sát các hành vi BVMT của các em trong mọi hoạt động học tập, vui chơidiễn ra trong trường
Trang 34- Địa điểm khảo sát:
+ Sân trường (việc bố trí cây xanh, bồn hoa cây cảnh, thùng đựng rác, các dụng
cụ tưới cây, chăm sóc cây xanh, thái độ và hành vi của giáo viên và học sinh khi sinhhoạt tại khu vực sân trường…)
+ Khu phòng học của học sinh (diện tích phòng học; cách trang trí, bố trí góc họctập, góc trưng bày sản phẩm của học sinh; thái độ và hành vi của giáo viên, học sinhtrong lớp học )
+ Khu nhà hiệu bộ
+ Khu vệ sinh của học sinh và cán bộ, giáo viên
c Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra sử dụng bảng hỏi được nghiên cứu này sử dụng để thu thậpcác thông tin nhằm đánh giá sự hiểu biết các kiến thức chung về môi trường hiện nay,các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường đã và đang thực hiện tại trường Tiểu họcThị Trấn Chi Nê cũng như khả năng nhận thức và hình thành ý thức cho các em họcsinh về BVMT
Bộ câu hỏi điều tra được lập trước khi tiến hành điều tra Lập 2 mẫu phiếu điềutra cho 2 nhóm đối tượng được lựa chọn điều tra: Cán bộ, giáo viên và học sinh khối4,5 của trường Lí do chọn đối tượng này là: đây là 2 nhóm đối trượng có tầm hiểubiết, nhận thức rõ ràng, có khả năng đọc hiểu và làm phiếu điều tra và hành vi của 2nhóm đối tượng này có ảnh hưởng không nhỏ tới phần lớn bộ phận học sinh và phụhuynh học sinh có con em đang học tập tại trường
Để đảm bảo mức độ tin cậy của nghiên cứu, việc lựa chọn số lượng mẫu phiếuđiều tra là rất quan trọng Trong nghiên cứu này, cỡ mẫu được lựa chọn là: Tiến hànhphát chủ đích 20 phiếu cho cán bộ, giáo viên và thu về 20 phiếu; phát 40 phiếu cho họcsinh lớp 4 (thu về 40 phiếu); 40 phiếu cho học sinh lớp 5 (thu về 40 phiếu)
d Phương pháp chuyên gia
Khóa luận tiếp thu những ý kiến đóng góp của những người có chuyên môn vềlĩnh vực nghiên cứu để nhận định khách quan nhất các thông tin, dữ liệu và hoàn thiệnhơn các nội dung của khóa luận
Trong quá trình làm khóa luận tốt nghiệp, tham khảo ý kiến đóng góp của cácthầy cô hướng dẫn về nội dung khóa luận và phiếu điều tra để hoàn thiện hơn nội dungnghiên cứu
Trang 35Nghiên cứu đã tham khảo ý kiến của:
nguyên và Môi trường Hà Nội người trực tiếp hướng dẫn đề tài tốt nghiệp này
trường Hà Nội
c Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
Phương pháp này được khóa luận dùng để tổng hợp, xử lí các số liệu, chỉ tiêu thuthập được Sử dụng các phần mềm phổ biến như: Word, Exel để tổng hợp và lượnghóa những dữ liệu, số liệu thu thập được một cách có hệ thống theo từng nội dung cụthể Từ những số liệu rời rạc thông qua các bảng phỏng vấn tổng hợp thành nhữngbảng biểu thống kê, biểu đồ qua đó đánh giá có hệ thống tình hình giáo dục bảo vệ môitrường cho học sinh trường Tiểu học Thị Trấn Chi Nê
Trang 37CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Hiện trạng hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại trường Tiểu học Thị Trấn Chi Nê
Trường Tiểu Học thị Trấn Chi Nê ở 227, Quốc lộ 21, Thị Trấn Chi Nê, HuyệnLạc Thủy, Tỉnh Hòa Bình Với đường giao thông thuận tiện cho việc đi lại và đưa đónhọc sinh Qua khảo sát sơ bộ chất lượng môi trường xung quanh điểm nghiên cứu nhậnthấy: trường học nằm trong một ngõ cách ngã tư một đoạn khoảng 15m, cách trục đườnggiao thông chính khoảng một cây số nên ít nhiều tránh được ảnh hưởng bởi bụi và tiếng
ồn Hằng ngày, trong trường có người dọn dẹp vệ sinh chung đảm bảo môi trường sạch
sẽ, bên ngoài cổng trường cũng được dọn dẹp, cây xanh được trồng theo hàng lối và chămsóc cẩn thận, khu vui chơi của các em cũng rất gần gũi với thiên nhiên, đảm bảo cho họcsinh một môi trường học tập tốt
Hình 3.1 Cổng trường Tiểu học Thị Trấn Chi Nê
Trang 383.1.1 Cơ sở vật chất, trang thiết bị được sử dụng cho việc giáo dục bảo vệ môi trường
Theo thông tin từ anh Hoàng Minh Trường - nhân viên công nghệ thông tintrường Tiểu học Thị Trấn Chi Nê, trường được xây dựng với tổng diện tích là 6707,8
3 phòng làm việc của ban giám hiệu, 6 phòng chức năng, một số công trình đang thicông và có nhu cầu xây thêm như: nhà đa năng, phòng thiết bị, phòng học bộ mônkhác, phòng nội trú học sinh,… để đảm bảo cho các em học sinh một khuôn viên họctập hàng đầu
Hơn nữa, nhà trường còn thiết kế riêng một khu bãi tập dành riêng để cho họcsinh học tập các bộ môn đặc thù như giáo dục thể chất, đảm bảo an toàn trong học tậpcho các em
Hình 3.2 Một góc sân trường, trường tiểu học thị trấn Chi Nê
Khu vui chơi ngoài trời được thiết kế đẹp với những bồn hoa trước các toàn nhà,nhiều cây xanh chủ yếu là cây hoa phượng, bãi cỏ Đặc biệt là trên những bước tường
ở ngoài lớp học, cầu thang được vẽ cảnh thiên nhiên, cảnh vui chơi học tập, đem lạicho các em cảm giác hòa mình vào thiên nhiên sau mỗi giờ học trên lớp
Khu lớp học cực kỳ đẹp mắt được trang trí bằng những chậu hoa trước cửa lớphọc Bước vào mỗi lớp học đều có góc thiên nhiên do cô giáo và các em học sinh sángtạo, có những bảng nội quy, bảng 10 bước học tập cùng rất nhiều tranh trang trí Tronglớp có kệ sánh dành riêng cho giáo viên và học sinh Cuối lớp học được treo nhữngquyển sổ báo tường, quyển sổ kế hoạch học tập của lớp, quyển ghi những việc làmtốt, đem lại môi trường học tập lý tưởng cho các em học sinh trên lớp Các lớp họcđược trang bị đồ dùng để phục vụ cho việc giảng dạy và học tập
Trường có một phòng đọc “Sách là ngọn cờ vẫy gọi nhân loại hướng tới lươngtai” được bày biện bởi những kệ sách, những lọ hoa, chậu cây, ở đây có rất nhiềuloại sách được nhà trường sưu tầm dành cho các em học sinh Sau mỗi tiết học, các em
có thể đến phòng đọc tìm sách, truyện, để đọc Điều này cực kỳ bổ ích cho học sinh,giúp các em thích khám phá, tìm hiểu xung quanh, những điều các em chưa biết
Trang 39
Hình 3.3 Góc thiên nhiên và sáng tạo của học sinh
3.1.2 Kế hoạch thực hiện mô hình “Nói không với rác thải nhựa” năm hoạc 2019
- 2020 của phòng Giáo Dục và Đào Tạo Lạc Thủy trường tiểu học thị trấn Chi Nê
Trong kế hoạch thực hiện mô hình “Nói không với rác thải nhựa” năm học 2019
-2020 của phòng Giáo Dục và Đào Tạo Lạc Thủy trường Tiểu Học Thị Trấn Chi Nê.Nhà trường đã lên kế hoạch tổng thể với chủ đề thực hiện mô hình “Nói không với rácthải nhựa” sau đó nhà trường sẽ thực hiện những kế hoạch nhỏ, tách nội dung ra thànhnhiều mảng, nhiều hình thức trong năm học để các em từ từ tiếp cận, từ từ hiểu sâuđược về rác thải nhựa Kế hoạch này được cô Mai Thị Kim Hoa – Phó hiệu trưởng nhàtrường cung cấp
bảo vệ môi trường với chủ đề “Nhà trường nói không với rác thải nhựa” Hưởng ứngphong trào thi đua trào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 năm học 2019-2020
Trang 40- Mục đích:
+ Trang bị cho học sinh biết được Rác thải nhựa đang là vấn đề nhức nhối manglại tính toàn cầu Đặc biệt trng bối cảnh tác động, ảnh hưởng của rác thải nhựa ngàycàng gia tăng Nhận thức tác động của sự ô nhiễm môi trường đối với cuộc sống củachúng ta là rất nặng nề, nó đe dạo trực tiếp đến sức khỏe của mỗi chúng ta
+ Việc bảo vệ môi trường bao gồm những hoạt động giữ cho môi trường tronglành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng hệ sinh thái Ngăn chặn khắc phục các hậu quả gâyảnh hưởng đến môi trường xung quanh Ngay từ bây giờ phải hình thành ý thức, thóiquen “Nói không với rác thải nhựa” với mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi trong xã hội Đặcbiệt là tác động mạnh mẽ tới các thế hệ trẻ Bởi vậy “Nói không với rác thải nhựa” bắtđầu từ trong chính các nhà trường Có như vệ thì việc ý nghĩa của việc bảo vệ môitrường mới tồn tại trong suy nghĩ của mỗi chúng ta
+ Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình vàphát triển về năng lực và phẩm chất
+ Đẩy mạnh phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tíchcực”, đồng thời có sự thống nhất cao ciệc tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho họcsinh tiểu học trong toàn cấp học
- Yêu cầu:
+ Huy động được các em học sinh trong nhà trường tích cực tham gia buổi giaolưu Chúng em bảo vệ môi trường chủ đề “Nói không với rác thải nhực” Môi lớp thànhlập ít nhất một đội tuyên truyền viên tham gia giao lưu bằng hình thức sân khấu hóa:
hò vè, kịch, trình diễn thời trang, với tinh thần đoàn kết, nhiệt tình, sáng tạo
+ Tổ chức hiệu quả, vui tươi, tiết kiệm phù hợp với điều kiện thực tế của nhàtrường và công đoàn trường, tránh lãng phí, phô trương, hình thức
- Nội dung tham gia giao lưu: Trong điều kiện thực tế và cơ sở vật chất của nhà
trường Nhà trường tổ chức buổi giao lưu: Chúng em bảo vệ môi trường chủ đề “Nóikhông với rác thải nhựa”
- Hình thức thi giao lưu:
+ Các đội tuyên truyền viên tham gia giao lưu dưới hình thức sân khấu hóa như:
hò vè, kịch, trình diễn thời trang,
+ Thời gian giao lưu của mỗi đội là 5 phút, tối đa là 10 phút
+ Nhạc đệm của các lớp giáo viên chủ nhiệm đăng ký với ban tổ chức ngày14/11/2019 (Liên hệ trực tiếp đồng chí Vũ Trọng Đại giáo viên âm nhạc)
- Giải thưởng:
+ Khối 1: Giải: 1 nhất; 1 nhì; 1 ba; 1 khuyến khích
+ Khối 2: Giải: 1 nhất; 1 nhì; 2 ba; 1 khuyến kích