Trong một số nghiên cứu được tiến hành trên nạn nhân TNGT, chấnthương ngực là loại hình thường gặp chỉ sau chấn thương sọ não và chi thể,tần suất gặp có thể thay đổi: thấy ở 44,2% nạn nh
Trang 1ĐÀM HẢI SƠN
NGHI£N CøU H×NH TH¸I TæN TH¦¥NG PHæI QUA GI¸M §ÞNH Y PH¸P TR£N NH÷NG N¹N NH¢N CHÕT DO TAI N¹N GIAO TH¤NG §¦êNG Bé
Chuyên ngành: Bác sỹ Đa khoa
Trang 2người thầy đã luôn quan tâm, chỉ bảo và dìu dắt em tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này Em xin chân thành cám ơn tới TS.BS Lưu Sỹ Hùng, Trưởng Bộ môn Y pháp Trường Đại học Y Hà Nội, người thầy đã dành nhiều thời gian và tâm huyết góp ý cũng như tạo mọi điều kiện tốt nhất để em có thể hoàn thiện nghiên cứu này.
Em xin gửi tới toàn thế các thầy cô và các anh, chị kỹ thuật viên tại Bộ môn Y Pháp Trường Đại học Y Hà Nội lời cảm ơn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, chia sẻ và giúp đỡ nhiệt tình cho em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận Em xin chân thành cảm ơn các bác sĩ và các anh chị kỹ thuật viên khoa Giải phẫu bệnh - Bệnh viện Việt Đức đã tạo điều kiện cho em thu thập số liệu trong suốt thời gian qua.
Em xin cảm ơn Phòng Đào tạo Đại học Trường Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập, hoàn thành khóa luận.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn sát cánh, động viên em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Đàm Hải Sơn
LỜI CAM ĐOAN
Trang 3thông đường bộ” là hoàn toàn do em thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS.
Nguyễn Đức Nhự Các số liệu và kết quả trong nghiên cứu là trung thực vàchưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2018
Trang 51.1.2 Tại Việt Nam 4
1.2 Các nghiên cứu về CTNK và tổn thương phổi do TNGT đường bộ trên thế giới và Việt Nam 5
1.2.1 Trên thế giới 5
1.2.2 Tại Việt Nam 7
1.3 Đặc điểm giải phẫu của ngực - phổi, cơ chế chấn thương 8
1.3.1 Đặc điểm giải phẫu 8
1.3.2 Cơ chế chấn thương 11
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.1.1.Đối tượng nghiên cứu 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 18
2.2.2 Cỡ mẫu 19
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 19
2.2.4 Các chỉ số nghiên cứu 19
2.2.5 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
2.2.6 Phương pháp phân tích số liệu 20
2.3 Cách thức tiến hành nghiên cứu 20
2.3.1 Nghiên cứu hồi cứu 20
2.3.2 Lựa chọn nạn nhân 21
2.3.3 Nhập thông tin vào phiếu nghiên cứu 21
2.3.4 Lập phần mềm nhập các số liệu 21
2.3.5 Phân tích kết quả 21
2.4 Sai số và cách khống chế 21
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu 21
Trang 6giao thông đường bộ 22
3.2.Đặc điểm tổn thương thành ngực 24
3.3 Các hình thái tổn thương phổi 26
3.4 Mối liên quan giữa tổn thương phổi và tổn thương thành ngực 28
3.4.1 Mối liên quan giữa tổn thương phổi với các tổn thương phần mềm 28
3.4.2 Mối liên quan giữa tổn thương phổi với các xương thành ngực 32
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 35
4.1 Một số yếu tố dịch tễ tử vong do tai nạn giao thông đường bộ 35
4.1.1 Tuổi, giới 35
4.1.2 Loại phương tiện gây tai nạn giao thông 36
4.1.3 Phân bố theo thời gian tử vong 37
4.1.4 Nguyên nhân tử vong 37
4.2 Đặc điểm tổn thương thành ngực 38
4.2.1.Sây sát da 38
4.2.2 Rách da thành ngực 39
4.2.3 Vân lốp ô tô 40
4.2.4 Biến dạng lồng ngực 41
4.3 Tổn thương thành ngực bên trong 41
4.4 Đặc điểm tổn thương phổi 43
4.4.1 Tổn thương đụng dập/ tụ máu phổi 43
4.4.2 Tổn thương dập nát/rách phổi 44
4.4.3 Tổn thương khí phế quản 44
4.4.4 Chảy máu đường thở 45
4.4.5 Tràn máu tràn khí màng phổi 46
4.4.6 Phù phổi, xẹp phổi 46
Trang 74.5.2 Liên quan giữa tổn thương phổi với các xương thành ngực 48
KẾT LUẬN 50 KIẾN NGHỊ 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 3.2 Phân bố các loại phương tiện gây tai nạn giao thông 23
Bảng 3.3 Phân bố theo thời gian tử vong 23
Bảng 3.4 Nguyên nhân tử vong 24
Bảng 3.5 Đặc điểm tổn thương bên ngoài: 24
Bảng 3.6 Đặc điểm tổn thương phổi trên đại thể 26
Bảng 3.7 Tổn thương đụng dập, tụ máu phổi 27
Bảng 3.8 Tràn máu tràn khí màng phổi 28
Bảng 3.9 Liên quan giữa tổn thương phổi với tổn thương phần mềm 28
Bảng 3.10 Liên quan giữa sây sát ở da thành ngực với các tổn thương ở phổi 29
Bảng 3.11 Liên quan giữa rách da ở da thành ngực với các tổn thương ở phổi 30
Bảng 3.12 Liên quan giữa tụ máu ở da thành ngực với các tổn thương ở phổi 31
Bảng 3.13 Liên quan giữa vân lốp ô tô ở da thành ngực với các tổn thương ở phổi 32
Bảng 3.14 Tổn thương phổi với tổn thương xương thành ngực 32
Bảng 3.15 Liên quan giữa tổn thương xương sườn với tổn thương ở phổi 33
Bảng 3.16 Liên quan giữa tổn thương xương ức với tổn thương ở phổi 34
Trang 9Biểu đồ 3.1 Phân bố nạn nhân theo nhóm tuổi 22
Biểu đồ 3.2 Đặc điểm tổn thương phần mềm 25
Biểu đồ 3.3 Đặc điểm tổn thương xương thành ngực 25
Biểu đồ 3.4 Thủng rách nhu mô phổi 27
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Mỗi năm, trên Thế giới TNGT gây ra cái chết của 1,2 triệu người, hàngtriệu người bị thương và chung sống suốt đời với những hệ lụy lâu dài về sứckhỏe Đồng thời nó cũng là nguyên nhân gây tử vong số một ở nhóm ngườitrẻ tuổi[1] Bên cạnh thiệt hại về người, thiệt hại về kinh tế do TNGT không
hề nhỏ, trung bình chiếm 3% tổng sản phẩm quốc dân của các quốc gia [2]
Trong một số nghiên cứu được tiến hành trên nạn nhân TNGT, chấnthương ngực là loại hình thường gặp chỉ sau chấn thương sọ não và chi thể,tần suất gặp có thể thay đổi: thấy ở 44,2% nạn nhân tại khu vực NorthwesternTanzania[3], 19,6% nạn nhân ở Qatar [4]
Phổi là cơ quan dễ bị thương tổn khi có chấn thương ngực, các trườnghợp chấn thương phổi do vật tày thường có tỉ lệ tử vong cao hơn vết thươngxuyên thủng phổi[4] Những thể bệnh CTNK thường gặp là: TM-TKMP,TMMP, mảng sườn di động [5] Những tổn thương phổi này có thể đe dọađến tính mạng nạn nhân nếu không được xử trí nhanh chóng Do đó việc nhậnđịnh cơ chế tai nạn, thăm khám lâm sàng giúp định hướng hình thái tổnthương để đưa ra quyết định kịp thời là hết sức quan trọng với tính mạng củangười gặp nạn
Đặc điểm tổn thương thành ngực có mối liên quan nhất định với tổnthương tạng bên trong, ví dụ: gãy xương sườn 1 kèm gãy xương sườn 2, 3cần lưu ý tới tổn thương các cơ quan trung thất cao (khí quản, động mạch chủ,tim, màng tim); gãy các xương sườn 8, 9, 10, 11, 12 (xương sườn phía dưới)
có thể đi kèm tổn thương trong bụng [6] Tuy nhiên, có những yếu tố làm thayđổi mối liên quan này, như trong CTNK ở trẻ nhỏ, các tạng trong hố ngực và
ổ bụng vẫn có thể bị tổn thương ngay cả khi không tìm thấy gãy xương sườn,điều này được giải thích là do lồng ngực của chúng có khả năng đàn hồi tốt
Trang 11hơn so với người lớn; ở người già thì ngược lại, xương sườn dễ gãy do loãngxương hay sự cốt hóa sụn sườn, gây thương tích nặng nề bên trong [4] Vậynên việc nghiên cứu làm rõ thêm mối liên quan này và các tác nhân làm thayđôi nó là thực sự cần thiết, trợ giúp cho bác sĩ lâm sàng không bỏ sót thươngtổn, nâng cao hiệu quả điều trị, góp phần giảm tỉ lệ tử vong, di chứng cho nạnnhân TNGT, giảm gánh nặng cho xã hội.
Ở nước ta, nghiên cứu lâm sàng về đặc điểm tổn thương, hiệu quả củacác phương pháp điều trị chấn thương ngực cũng như tổn thương phổi do cácnguyên nhân khác nhau khá phong phú Nếu như các nhà lâm sàng nghiêncứu dựa trên biểu hiện lâm sàng và đáp ứng với điều trị của bệnh nhân thìchuyên gia Giải phẫu bệnh – Y pháp với thế mạnh về phẫu tích tổn thương,quan sát cả đại thể và vi thể từ đó đưa ra cơ chế gây thương tích, nhận địnhchính xác nguyên nhân tử vong Hai lĩnh vực có liên quan mật thiết, khôngthể tách rời trong công tác bảo vệ sức khỏe cộng đồng.Tuy nhiên, nghiên cứu
về chủ đề này trong Giải phẫu bệnh - Y pháp, do tai nạn giao thông và đặcbiệt, về một số mối liên quan giữa tổn thương thành ngực với tổn thương phổicòn ít
Chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu hình thái tổn thương phổi
qua giám định Y pháp trên những nạn nhân chết do tai nạn giao thông đường bộ” nhắm tới hai mục tiêu:
1 Mô tả hình thái học tổn thương phổi ở các nạn nhân tử vong do TNGT đường bộ.
2 Phân tích mối liên quan giữa tổn thương phổi và tổn thương thành ngực.
Trang 12(1896-và 96% số trẻ bị chết mỗi năm do TNGT [7].
Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á là hai khu vực có số người chết
do TNGT cao nhất thế giới với trung bình hàng năm ở mỗi nơi có trên300.000 người thiệt mạng, chiếm hơn 50% tổng số người chết vì TNGT trêntoàn thế giới [8]
Theo WHO, mỗi năm thế giới có khoảng 1,2 triệu người chết vì TNGT.90% số tử vong này xảy ra tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình mặc
dù các nước này chỉ sở hữu xấp xỉ 1/2 số phương tiện giao thông của thế giới.Một nửa số nạn nhân này là “người tham gia giao thông dễ bị tổn thương”,bao gồm: người đi bộ, người đi xe đạp, người đi xe máy Nếu không có canthiệp thích đáng, TNGT sẽ tiếp tục tăng và được dự báo sẽ xếp thứ 7 trong cácnguyên nhân hàng đầu gây tử vong vào năm 2030 [2]
Theo số liệu thống kê năm 2002 của Tổ chức y tế thế giới (WHO) vàngân hàng thế giới (WB), tỷ lệ tử vong do TNGT cao nhất là 28,3 ở Châu Phi(tính trên 100.000 dân), các nước phía đông Địa Trung Hải là 26,3, khu vựcĐông Nam Á 19,0, các nước có thu nhập cao tại châu Âu là 11 Trung bình cứ
1 người chết vì TNGT thì có 15 người bị thương nặng cần phải điều trị tại cơ
sở y tế và 70 người bị thương nhẹ [9]
Trang 13Bên cạnh số tử vong trên, hằng năm TNGT còn để lại di chứng khônghồi phục cho 20-50 triệu người Điều đó gây gánh nặng kinh tế trầm trọng chonạn nhân, gia đình của họ và quốc gia, thiệt hại tương đương 3% tổng sảnphẩm quốc gia, ở một số nước thu nhập thấp và trung bình giá trị này lên đến5% [2].
Thiệt hại kinh tế do TNGT trên thế giới khoảng 518 tỷ đôla/năm, chiếmkhoảng 1% GNP với những nước có thu nhập thấp, 1,5%GNP ở các nước cómức thu nhập trung bình và 2%GNP với các nước có thu nhập cao TNGTcòn tác động trực tiếp tới lực lượng lao động chính ở các nước đang phát triểnnăm 1998 có 51% số người thiệt mạng và 59% số người bị tàn tật do TNGT
là lao động chính trong mỗi gia đình và xã hội[10] Theo Siegel.J [11] thiệthại kinh tế do TNGT gây ra tại nước Mỹ trong năm 2002 chiếm 2,3% tổngngân sách, tương đương 230 tỷ đô la
1.1.2 Tại Việt Nam
Với hệ thống giao thông đường bộ có chiều dài hơn 2 triệu Km nhưngphần lớn không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, chưa đáp ứng được nhu cầugiao thông trong thời kỳ phát triển kinh tế với số lượng các phương tiện giaothông cơ giới ngày càng gia tăng Theo số liệu của Ủy ban an toàn giao thôngquốc gia (UBATGTQG), năm 2001 cả nước có hơn 8 triệu xe máy đến cuốinăm 2006 đã có 18,4 triệu xe máy được đăng ký trên toàn quốc, được đánhgiá là quốc gia có tỷ lệ xe máy/người dân cao nhất thế giới (Báo cáo tại hộinghị APEC5/2006) [12]
Năm 2013 Việt Nam có 40.790.841 phương tiện giao thông đã quađăng kí, trong đó xe mô tô 2 hoặc 3 bánh chiếm số lượng lớn nhất với38.643.091 chiếc, kế tiếp là 798.592 ô tô hoặc xe 4 bánh Nước ta đã có hệthống luật đảm bảo an toàn giao thông, phương tiện liên lạc và cấp cứu nạnnhân các vụ TNGT, tuy nhiên chưa áp dụng tiêu chuẩn về phương tiện an
Trang 14toàn Cả nước có 22.419 người chết vì tai nạn giao thông Tỉ lệ tai nạn giaothông còn cao 24,5/100.000 dân (trung bình thế giới là 17,4), gây thiệt hại vềkinh tế khoảng 2,9% GDP [1].
Theo ủy ban An toàn giao thông quốc gia, năm 2016 (tính từ
16-12-2015 đến 15-12-2016), cả nước ta xảy ra 21.598 vụ TNGT, làm chết 8.685người, bị thương 19.280 người So với cùng kì năm 2015, giảm 1.261 vụ(giảm 5,52%), giảm 43 người chết (giảm 0,49%), giảm 1.792 người bị thương(giảm 8,5%) Đa phần các vụ tai nạn xảy ra là do ý thức của người tham giagiao thông (chiếm 71,6%) [13]
Theo Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia năm 2017, toàn quốc xảy ra20.080 vụ tai nạn giao thông làm chết 8.729 người, bị thương 17.040 người
So với 12 tháng năm 2016, tai nạn giao thông giảm cả về số lượng giảm 1.509
vụ (giảm 6,99%), số người chết giảm 406 người (giảm 4.67%) số người bịthương giảm 2.240 người (giảm 11.62%) [14]
Như vậy từ năm 2013 đến 2017, số tử vong do TNGT giảm rõ rệt trên
cả ba tiêu chí về số vụ và số người thiệt mạng và số người bị thương nhưngvẫn còn rất cao, cần có những biện pháp cải thiện tình hình Năm 2018 chủ đề
an toàn giao thông là “An toàn giao thông cho trẻ em”, với việc lấy trẻ em làmục tiêu và là động lực xây dựng văn hóa giao thông cho toàn xã hội, cùngvới việc tiếp tục xác định mục tiêu giảm tai nạn giao thông từ 5-10% trên cả 3tiêu chí: đặc biệt phải nỗ lực giảm tỷ lệ thương vong do tai nạn giao thông ởtrẻ em 10% so với năm 2017
1.2 Các nghiên cứu về CTNK và tổn thương phổi do TNGT đường bộ trên thế giới và Việt Nam.
1.2.1 Trên thế giới.
Trước thế kỷ 20, nạn nhân bị CTN chủ yếu là những người lính trongchiến tranh, một số ít nạn nhân trong các vụ án mạng, rất hiếm gặp CTN do
Trang 15TNGT Đến những năm giữa thập kỷ 50 và 60 của thế kỷ 20, với sự ra đời củacác loại xe ô tô tốc độ cao và hình thành hệ thống đường cao tốc ở nhữngnước công nghiệp phát triển đã làm số vụ TNGT tăng nhanh trong đó số nạnnhân bị CTN tăng lên đáng kể [15].
Tại Mỹ: Nghiên cứu của Locicero và Mattox (1989) đã ghi nhận trungbình hàng nằm ở nước Mỹ có 150.000 người chết vì chấn thương, trong đóCTN là nguyên nhân gây tử vong cho khoảng 25% tổng số nạn nhân tử vong
do tai nạn thương tích, CTN cũng là yếu tố phối hợp gây tử vong của 50%tổng số nạn nhân tử vong do chấn thương[16] Nghiên cứu của Devitt JH năm
1991 cho kết quả tỷ lệ tử vong ở những nạn nhân phải nhập viện vì CTN là62,5% [17]
Nghiên cứu về đặc điểm và kết quả điều trị của 1678 nạn nhân TNGT ởTanzania năm 2011 do Chalya Phillipo L và cộng sự đã chỉ ra tuổi hay gặpnhất là 21-30 chiếm 52,1%; tỉ lệ nam/nữ là 2,1/1; xe máy có liên quan đến58,8% các vụ tai nạn; chấn thương ngực gặp ở 44,2% trường hợp, đứng sau ,chấn thương chi, đầu và bụng[18], Nghiên cứu của Mohammed Seid và cộng
sự ở 230 nạn nhân TNGT tại Ethiopia năm 2013 cho kết quả tương tự, nhómtuổi lao động chiếm tỉ lệ lớn 46%; nam chiếm 71,7%, tỉ lệ nam/nữ là 2,6/1;chấn thương hay gặp nhất theo thứ tự là: đầu, chi thể, cột sống và ngực.Nhưng phương tiện hay gây TNGT ở đây thường là xe khách 16,5%; taxi14,8%; xe máy chỉ gây 4,8% số vụ tai nạn [19]
20% là con số được đưa ra về tỉ lệ CTNK của nạn nhân TNGT đường
bộ được tiếp nhận vào trung tâm chấn thương bệnh viện Hamad, Quatar từnăm 2008 - 2011 trong một nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và thời gian tửvong của nạn nhân TNGT đường bộ trên nhóm xe máy, xe máy - đi bộ.Nghiên cứu này được tiến hành trên 5118 nạn nhân, nó cũng chỉ ra nam giới
Trang 16chiếm phần đông 92%; 15% nạn nhân có CTNK tử vong trong vòng 24h đầu
kể từ khi tai nạn xảy ra [20]
Năm 2014, nghiên cứu Pháp y của Reddy và cộng sự trên 100 nạn nhânchết do TNGT đường bộ về hình thái tổn thương ngực - bụng cho thấy 71 nạnnhân có tổn thương khung sườn, trong đó gẫy xương sườn là hình thái haygặp nhất với 63,3%; gãy xương vai đứng số hai với 19,7% Phổi là tạng hay bịtổn thương nhất trong lồng ngực, gặp ở 92,3% trường hợp, sau đó là timchiếm 7,6% Trong các hình thái tổn thương phổi 79,1% có rách phổi; tiếpđến là 20,8% giập phổi [21]
1.2.2 Tại Việt Nam
Lịch sử Năm 1986, tác giả Cao Văn Thịnh trình bày “Nghiên cứuthương tổn thành ngực trong CTNK và các phương pháp điều trị thương tổnđó” đã kết luận TNGT là nguyên nhân hàng đầu, chiếm 60,8% nguyên nhângây CTNK Gãy xương sườn là hình thái hay gặp nhất của gãy khung xươnglồng ngực (90%); 18,8% trong số này có mảng sườn di động Tổn thương bêntrong hay gặp nhất là TM-TKMP chiếm 76,6% Bụng và sọ não là hai vùnghay có tổn thương phối họp với ngực nhất, tổn thương ngực - bụng chiếm22,5%; ngực - sọ não chiếm 20,9% số xương sườn gãy không có ý nghĩa tiêntượng bệnh nhân[6],
Năm 2006, Nguyễn Trường Giang và cộng sự nghiên cứu về đặc điểmchấn thương ngực trong đa chấn thương, cho biết TNGT là nguyên nhân hàngđầu chiếm 81,3%; trong đó hay gặp nhất là loại hình xe máy - ô tô (39,1%); vịtrí tổn thương hay gặp lần lượt là: chi thể, sọ não, ngực xếp thứ ba (42,0%).TK-TMMP (92,9%); giập rách và tụ máu nhu mô phổi (20,3%) là hình tháihay gặp, rách vỡ phế quản lớn ít gặp (0,78%) [22]
Trang 17Trong 139 trường hợp CTNK được tiếp nhận tại bệnh viện 103 trong 3năm (2002 - 2005), nghiên cứu của Đặng Ngọc Hùng và đồng nghiệp kết luậnđại đa số các trường hợp này có gãy xương sườn (93,5%), sau xương sườn thìxương đòn hay gặp thứ hai (14,3%), xương ức ít gặp hơn 1,4% Xương sườn
số 7, số 6 hay bị gãy nhất (lần lượt là 50,4% và 49,6%) Cung sườn sau hay bịgãy nhất, tiếp đến là cung bên, tần suất gặp lần lượt là 62,6% và 23% Tỉ lệbệnh nhân có tổn thương KMP nói chung là 63,3% [23]
Năm 2009, theo tác giả Lưu Sỹ Hùng trong “Nghiên cứu hình thái củachấn thương ngực trên nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông đường bộ quagiám định y pháp”, sây sát da là tổn thương hay gặp nhất trong các hình tháitổn thương bên ngoài của thành ngực (75,3%); với tổn thương bên trong thànhngực, tụ máu cơ hay gặp nhất, thứ đến là gãy xương sườn; gãy xương đòn,xương ức ít gặp hơn, tần suất gặp lần lượt là 65,7%; 57,3%; 16,1%; 13,3%.Các hình thái tổn thương của phổi rất đa dạng và phức tạp, hay gặp nhất là tổnthương đụng giập tụ máu nhu mô phổi (59,9%), rách phổi (45,7%), và cácbiến chứng của tổn thương thành ngực và phổi như TMMP (57,6%), xẹp phổi(29,4%), TM-TKMP (23,8%) Trong các nạn nhân có tổn thương ngực doTNGT, 99% là CTNK, vết thương ngực chiếm 1% còn lại Không có mối liênquan có ý nghĩa thống kê nào ở ngưỡng 95% giữa vết sây sát da, tụ máu ởthành ngực với các loại hình tổn thương hay gặp ở thành ngực và các tạngtrong lồng ngực [24]
1.3 Đặc điểm giải phẫu của ngực - phổi, cơ chế chấn thương.
1.3.1 Đặc điểm giải phẫu
Ngực gồm thành ngực và khoang ngực; khoang ngực chứa các tạngngực
Thành ngực xương được che phủ trên mặt ngoài bởi da và các cơ gắn
Trang 18đai vai với thân; mặt trong được lót bởi màng phổi thành.
Thành ngực được tạo nên ở phía sau bởi đoạn ngực của cột sống, ởtrước bởi xương ức và các sụn sườn, ở bên bởi các xương sườn và các khoanggian sườn; và ở dưới bởi cơ hoành, cơ ngăn cách khoang ngực với khoangbụng
Phổi là cơ quan chính của hệ hô hấp, nơi xảy ra sự trao đổi khí giữamôi trường bên ngoài và cơ thể Mỗi người có hai phổi nằm trong hai hố phổi;khoảng nằm ở giữa hai hố phổi gọi là trung thất Phổi là một tạng xốp và đànhồi nên thể tích của nó thay đổi nhiều theo lượng khí chứa bên trong Mỗiphổi có một đỉnh, một đáy và ba mặt ngăn cách nhau bằng các bờ; nó trônggần giống một nửa hình nón Phổi phải có 3 thùy trên, giữa, và dưới ngăncách nhau bởi khe chếch và khe ngang Phổi trái được chia làm 2 thùy trên vàdưới, được ngăn cách bởi khe chếch Phế quản gốc bên phải rộng hơn, ngắn
và thẳng đứng hơn so với phế quản gốc bên trái 2,5cm Các mặt phổi: Mặtsườn (costal surface) nhẵn và lồi áp vào mặt trong của lồng ngực, có các vết
ấn lõm của xương sườn Phần sau của mặt sườn áp vào phía bên của cột sốngngực, trong rãnh phổi của lồng ngực, và được gọi là phần cột sống (vertebralpart) Mặt trung thất (mediastinal surface), hay mặt trong, lõm sâu do có ấntim Ở sau-trên ấn tim là một vùng hình vợt gọi là rốn phổi Rốn là nơi cácthành phần tạo nên phổi đi vào và đi ra khỏi phổi Ở ngoài phổi, các thànhphần này tạo nên cuống phổi, Màng phổi tạng bọc mặt trung thất tới rốn phổithì quặt vào bọc cuống phổi và liên tiếp với màng phổi thành Phần màng phổibọc rốn và cuống phổi còn kéo dài xuống dưới tạo nên dây chằng phổi Mặthoành (diaphragmatic surface) hay bề mặt của đáy phổi (có thể coi đáy làvùng thấp của phổi), lõm, úp lên cơ hoành, qua cơ hoành liên quan với mặttrên của gan Mủ của áp xe gan có thể võ qua cơ hoành lên ổ màng phổi
Trang 19Riêng phổi trái còn liên quan qua cơ hoành với đáy vị và tỳ Ngoài các mặtnói trên, phổi còn có các mặt gian thùy được ngăn cách bởi các khe gian thùy.
Hình 1.1: Giải phẫu phổi và khoang ngực
Đỉnh phổi: Đỉnh tròn, nhô vào nền cổ qua lỗ trên của lồng ngực
Các bờ của phổi: Phổi có hai bờ, bờ trước và bờ dưới Bờ trước(anterior border) là bờ sắc ngăn cách mặt sườn với mặt trung thất và trùm lênmàng ngoài tim Phần dưới bờ trước phổi trái có khuyết tim Bờ dưới (inferiorborder) vây quanh mặt hoành và gồm hai đoạn: đoạn thẳng ở trong ngăn cáchmặt hoành với mặt trung thất, đoạn cong ở ngoài ngăn cách mặt hoành vớimặt sườn
Cấu tạo của phổi Phổi được tạo nên từ toàn bộ các nhánh phân chiatrong phổi của phế quản chính, động mạch và tĩnh mạch phổi, động mạch vàtĩnh mạch phế quản, bạch huyết và các sợi thần kinh của đám rối phổi; mô
Trang 20liên kết xen kẽ giữa các thành phần trên và bao quanh phổi Khí quản đi từ bờdưới sụn nhẫn, ngang mức đốt sống cổ thứ sáu, tới ngang mức góc ức Haiphế quản chính phải và trái tách ra từ khí quản ở ngang mức đốt sống ngực IV
và tạo với nhau một góc 70° Mỗi phế quản chính khi vào phổi sẽ phân chianhỏ dần tới phế nang Có hai động mạch phổi phải và trái tách ra từ thân độngmạch phổi Các lưới mao mạch quanh phế nang tập trung dần để đổ vào cáctĩnh mạch quanh tiểu thùy, các tĩnh mạch nhỏ hơp nên các tĩnh mạch lớn dần,cuối cùng tạo thành hai tĩnh mạch phổi trên và dưới ở mỗi bên và đổ vào tâmnhĩ trái Động mạch nuôi dưỡng cho cây phế quản và mô phổi là các nhánhphế quản, nhánh của động mạch chủ ngực Tĩnh mạch phế quản Các tĩnhmạch sâu dẫn máu từ trong phổi đổ vào tĩnh mạch phổi, còn các tĩnh mạchnông dẫn máu từ phế quản ngoài phổi và màng phổi tạng đổ vào tĩnh mạchđơn và bán đơn phụ
Màng phổi là một bao thanh mạc kín bọc lấy phổi Bao này gồm hai lá:màng phổi tạng và màng phổi thành, giữa hai lá là một khoang tiềm tàng gọi
là ổ màng phổi (pleural cavity) Bình thường hai lá của màng phổi áp sát nhau
và chỉ tách xa nhau khi có dịch (tràn dịch màng phổi) hoặc khí (TKMP) trànvào Màng phổi tạng (visceral pleura) là lá thanh mạc bao bọc và dính chặtvào nhu mô phổi, lách cả vào khe gian thùy để bọc cả các mặt gian thùy phổi
Ở quanh rốn phổi, màng phổi tạng quặt lại liên tiếp với màng phổithành Màng phổi thành (parietal pleural) là thành phần màng phổi phủ mặttrong lồng ngực (phần sườn - costal part), mặt trên cơ hoành (phần hoành -diaphragmatic part) và mặt bên của trung thất (phần trung thất - mediastemalpart) [25]
1.3.2 Cơ chế chấn thương.
Do những đặc điểm về cấu tạo giải phẫu của lồng ngực nên cơ chếCTN ở nạn nhân bị TNGT cũng có những đặc điểm riêng như:
Trang 21- Chấn thương thành ngực
- Chấn thương các tạng trong lồng ngực
Trong chấn thương các tạng trong lồng ngực Theo Westaby.S, Braylay N vànhiều tác giả cho rằng tốc độ xe tại thời điểm va chạm là yếu tố quan trọngnhất gây tổn thương các tạng trong lồng ngực nạn nhân theo một trong 3 cơchế chính sau [26], [27], [28]
1.3.2.1 Va đập với tốc độ cao (tổn thương giảm tốc độ đột ngột)
Nếu lồng ngực bị tác động mạnh, đột ngột theo chiều trước sau như bị
va đập trực tiếp vào vòng tay lái, thành xe, thành ghế, sẽ làm cho ĐMC vớicột máu trong lòng mạch rung lắc, giằng xé thành mạch với lực rất mạnh, cóthể gây rách thành mạch ở những vị trí cố định như quai ĐMC hoặc ở những
vị trí thành động mạch chủ gắn vào thành ngực sau sát với cột sống
Nhánh phế quản gốc nằm dưới quai động mạch chủ cũng rất dễ bị tổnthương theo cơ chế tương tự Lực tác động vào phía bên thành ngực trong khigiảm tốc độ đột ngột thường làm gẫy các xương sườn thấp, với các tổnthương kèm theo là đụng dập và rách nhu mô phổi
1.3.2.2 Va đập với tốc độ thấp
Va đập trực tiếp vào thành ngực với tốc độ thấp thường gây ra nhữngtổn thương khu trú tại nơi bị tác động như vết xây sát, rách da, bầm tụ máu,gãy xương sườn, xương ức, xương bả vai, tổn thương nhu mô phổi, đụng dập
cơ tim hoặc tràn khí màng phổi
Lực tác động vào thành ngực theo 3 chiều hướng chính là (1) theochiều trước-sau, (2) từ phía bên và (3) qua cơ hoành Nếu lồng ngực bị tácđộng theo chiều trước sau sẽ gây tổn thương quai động mạch chủ ở vị trí sátđưới động mạch dưới đòn trái
Trang 221.3.2.3 Tổn thương do đè ép
Được định nghĩa là tổn thương làm mất cấu trúc giải phẫu bình thườngcủa thành ngực và các tạng trong lồng ngực Lực tác động phải liên tục trongmột khoảng thời gian nhất định để gây nên tổn thương, phần lớn nạn nhân bị
đè ép vào vùng ngực phải chịu thêm nhiều chấn thương phối hợp khác nhưgãy nhiều xương sườn, tràn máu tràn khí màng phổi, đụng dập phổi, tổnthương tim và cơ hoành, quai động mạch chủ vv…
Do phổi có khả năng co giãn, luôn có xu hướng nở ra dưới tác động của
áp lực âm tính trong khoang màng phổi nên khi có tổn thương màng phổi vàrách vỡ phế nang, không khí sẽ tràn vào khoang màng phổi gây TKMP [25]
Khí ở trung thất cũng có thể ngấm vào mô liên kết sau phúc mạc hoặccác khoang ngoài phúc mạc khác, khi áp lực tại trung thất quá lớn có thể gâyrách màng phổi ở gần sát trung thất và gây tràn khí màng phổi
Bất kì thương tích nào ở thành ngực, bề mặt phổi mà gây tổn thươngđến mạch máu và màng phổi đều có thể dẫn tới TMMP Động mạch liên sườnhay động mạch ngực trong (ít gặp hơn) có thể chảy máu vào KMP, nhưnglượng máu lớn nhất đến từ mạch lớn trong phổi và trung thất Rốn phổi có thể
bị rách hay xuyên thủng bởi các vết thương gây ra bằng dao Một nguồn máu
rõ ràng nữa chính là quả tim, cho dù có sự hao hụt máu trong khoang màngngoài tim trước khi vào khoang ngực Vài lít máu có thể tích tụ trong khoangngực ở dạng lỏng hay máu cục, và thường là hỗn họp của cả hai Tử vong cóthể xảy ra vì mất thể tích tuần hoàn, ngay cả khi có tương đối ít máu mất rabên ngoài cơ thể
Cho dù nguồn chảy máu là gì, chảy máu sau chết cũng góp thêm mộtthể tích đáng kể vào lượng máu thấy trong phẫu tích ngực Do sự dao độnglớn trong quá trình đông máu - tan máu, phần nhiều máu tìm thấy trong lúc
Trang 23mổ tử thi có thể không ở đó tại thời điểm tử vong Việc định lượng máu rỉthêm ra sau chết là không thể, nhưng sẽ không họp lí khi võ đoán về lượngmáu mất trước tử vong.
Nhiễm trùng theo sau vết thương ngực không hay gặp trong thực hànhPháp y, vì hầu hết tử vong do mất máu xảy ra trong thời gian tương đối ngắntrước khi các nhiễm trùng hệ quả có thể được tạo thành Các trường hợp sựsống kéo dài hơn, điều trị y học hiệu quả đã ngăn chặn nhiễm trùng thứ phát.Tuy nhiên, viêm tế bào, viêm màng phổi và ngay cả ứ mủ màng phổi có thểvẫn xảy ra, đặc biệt do vũ khí bẩn hay vải, dị vật bên ngoài bị đưa vào vếtthương Nhiễm trùng có thể có nhiều loại, nhưng Tụ cầu, Proteus, Coliforms
và Clostridium perfringens là các tác nhân thường gặp [29]
- KMP dẫn khí vào KMP nhưng không tạo ra TKMP dưới áp lực, loại nàykhông cho bọt khí khi thả phổi vào nước trong giám định Pháp y Loại thứhai, TKMP dưới áp lực, lỗ thông cũng ở màng phổi (hiếm khi ở thành ngực),
nó hoạt động như một cái van, khí bị hút vào KMP trong thì hít vào mà khôngthoát ra được khi thở ra, phổi bị co rúm về rốn của nó, trung thất bị đẩy vềphía đối diện, thể này có thể gây rối loạn nghiêm trọng về tuần hoàn, hô hấp
và dẫn đến tử vong Loại này có thể được quan sát khi giám định Pháp y bởithao tác chọc thủng khoang liên sườn trong nước Loại thứ ba, lỗ thông ởthành ngực, không khí lưu thông tự do với môi trường bên ngoài theo nhịp hô
Trang 24hấp, có thể quan sát được phì phò khí máu, thường gặp loại này trong quânđội, nó bị trầm trọng hơn bởi chảy máu và nhiễm trùng.
Các tổn thương tại phổi
Bầm giập (bruise) phổi thường gặp ở cả tổn thương hở hay kín củangực Bất kì lực tác động nào đáng kể lên ngực cũng có thể làm giập bề mặthay phần sâu hơn của phổi Tổn thương có thể ngay dưới vùng chịu tác độnghoặc ở bên đối diện Thương tích do giảm tốc độ thường gặp trong ngã hayTNGT, thường ở mặt sau bên, nơi xảy ra bầm giập dưới màng phổi theo mộtđường dọc, theo rãnh cạnh sống Hình dáng của xương sườn có thể bị in lênphần màng phổi của nhu mô bị giập Bầm giập có thể nặng đến mức hìnhthành các nang máu, các nang này có thể vỡ máu và khí vào KMP
Trong tất cả các trường hợp tổn thương phổi nghiêm trọng, phần trungtâm của phổi thường chảy máu, đôi khi đủ để tạo thành khối máu kèm với pháhủy nhu mô phổi Osbom đã mô tả tình trạng “giập như kẹp panh” (pincercontusions) của phổi, khi mà bờ dưới phổi bị mở rộng và như bị nhốt tronggóc sườn hoành chật hẹp [29]
Cấu trúc phổi bình thường có khả năng chun giãn nhất định khi ngựcchịu một lực mạnh tác động, lúc đó, nếu đường dẫn khí bị đóng, áp lực trongphế nang sẽ tăng lên cho đến khi vượt quá sự chun giãn này, dẫn đến vỡ vàchảy máu phế nang Osborn đề cập đến “tổn thương giập phổi đối vị”(contrecoup contusions) xảy ra ở mặt sau của phổi, cơ chế là do lực tác động
từ phía trước và phía bên của khung sườn, phế nang ở khu vực này không hấpthụ được lực và truyền tới phế nang ở mặt sau phổi - một khu vực tương đối
cố định do nằm cạnh cột sống, gây ra tổn thương giập phổi tại đây Tổnthương này nếu là đơn thuần thì sẽ nhanh chóng hồi phục mà không để lại sẹotrong vòng 48h và biến mất hoàn toàn vài ngày sau đó [30]
Trang 25Lực nghiến tác động lên ngực sẽ làm gãy nhiều xương sườn, sụn sườn,xương ức và làm rách phổi (laceration) Lực này tác động lên các tạng trongkhoang ngực và ép quá mức xuống nhu mô phổi Rách phổi có thể nhỏ vànhiều vị trí hoặc lớn và đơn độc [30] Rách phổi có thể xảy ra với vết thương
do vật tù gây nên, ngay cả thùy phổi hay một phần của thùy có thể bị rời ra.Rốn phổi có thể rách và dây chằng phổi dưới rốn thường là khu vực chảymáu Mạch máu rốn phổi, đặc biệt tĩnh mạch phổi, hay các mạch ngoại vikhác có thể bị đứt, gây ra chảy máu trong phổi hay chảy máu trung thất [29]
Nạn nhân bị xe chèn qua hay bị đè dưới một ô tô bị lật ngược hay mộtbức tường đổ thường đối mặt với tổn thương vỡ nát phổi (bursting rupture)
Cơ chế là lực nén mạnh tác động lên ngực trong khi nắp thanh quản đóng làmtăng áp lực trong phế nang và phế quản cho đến khi chúng vỡ ra, gây chảymáu trong phổi, TKMP Ở người trưởng thành, lực tác động từ phía trước gâygãy xương sườn, xương ức, sụn sườn; trong khi lực tương tự tác động từ phíasau sẽ hướng xương sườn và cột sống gãy vào KMP Ở trẻ em, vị thành niên
và người trưởng thành trẻ tuổi có khung sườn chun giãn sẽ làm giảm khả nănggãy xương [30]
Xẹp phổi là do phế nang bị xẹp lại, phổi không nở ra được, không traođổi khí, gây nhiều hậu quả nặng nề Các yếu tố gây xẹp phổi: TM-TKMP đèđẩy làm xẹp nhu mô phổi; co rúm nhu mô do mất áp lực âm KMP; tràn máu,tăng tiết đờm dãi trong phế quản làm tắc các phế quản, phổi không nở ra được[5]
Phù phổi là hậu quả của chấn thương ngực Trong giám định Pháp y,phù phổi có ý nghĩa là phản ứng của cơ thể với tổn thương và cũng là căn cứ
để nhận định nạn nhân còn sống thêm một khoảng thời gian sau tai nạn [24]
Đứt vỡ khí phế quản
Trang 26Theo Devitt JH và cộng sự [17], tổn thương rách vỡ khí phế quản doTNGT hiếm gặp, khoảng dưới 1% tổng số nạn nhân bị CTN nặng Phế quảnđược bảo vệ rất tốt bởi các lớp cơ vùng cổ, cột sống do đó có thể chịu đựngđược với những chấn thương nhẹ và lực va đập nhỏ Đứt vỡ khí quản đoạnngực hoặc phế quản thường xảy ra khi có lực nén rất mạnh tác động vàongực Vùng hay gặp nhất là trong phạm vi 2,5 cm tính từ carina đặc biệt haygặp ở phế quản chính Hiếm khi đứt vỡ xảy ra đồng thời ở khí quản đoạnngực và phế quản chính 30% nạn nhân này có gãy cung trước xương sườn 2
và xương sườn 3 Winter và Baum đã tống họp lại các cơ chế gây vỡ khí phếquản: (1) lực ép mạnh phế quản chính vào cột sống; (2) lực nén trực tiếp vàoxương ức khi nắp thanh môn đóng; (3) áp lực đường thở tăng lên đột ngột gâyhiệu ứng nổ vỡ trong thì thở ra gắng sức với nắp thanh môn đóng; (4) lực kéotác động vào khu vực trạc ba khí phế quản, sự dịch chuyển ngược chiều củaphổi trong lồng ngực so với sự cố định tương đối của khí - phế quản Thường
có sự kết họp của các cơ chế để gây ra tổn thương này [30]
Trang 27CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1.Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên 74 nạn nhân tử vong do TNGT đường
bộ có tổn thương phổi, qua giám định Y pháp trong 03 năm từ 01/01/2015đến 30/8/2017 tại khoa Giải phẫu bệnh-Pháp y Bệnh viện Việt Đức
2.1.1.1 Tiêu chuẩn chọn nhóm nghiên cứu
- Là những nạn nhân tử vong do TNGT đường bộ.
- Có mổ tử thi, được chẩn đoán tử vong có tổn thương phổi trong bệnh
cảnh chấn thương ngực đơn thuần hoặc chấn thương ngực kèm chấn thượngbụng, chấn thương sọ não hoặc đa chấn thương
- Có đầy đủ hồ sơ giám định Y pháp: các đối tượng được khai thác đầy
đủ các thông tin về họ tên, tuổi, giới, nghề nghiệp, hoàn cảnh xảy ra
2.1.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ khỏi nghiên cứu
- Các trường hợp đang trong giai đoạn điều tra.
- Các trường hợp không mổ tử thi (chỉ khám ngoài)
- Nạn nhân không có tổn thương phổi trong bản giám định Y pháp
- Những trường hợp không có đầy đủ hồ sơ giám định và những trường
hợp không khai thác được đủ các thông tin cá nhân
- Nạn nhân do tai nạn đường sắt, đường thủy….
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Trang 282.2.2 Cỡ mẫu
Nghiên cứu mô tả hồi cứu tất cả các hồ sơ giám định Y pháp phù hợpvới tiêu chuẩn nghiên cứu từ ngày 01/01/2015 đến 30/8/2017 Tổng số 74trường hợp
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Theo phiếu nghiên cứu được thiết kế phù hợp với trường hợp chết dotai nạn giao thông đường bộ có CTN
2.2.4 Các chỉ số nghiên cứu
- Các chỉ số liên quan đến yếu tố dịch tễ
+ Giới: nam- nữ
+ Tuổi: được chia thành các nhóm tuổi từ dưới ≤ 14 tuổi, từ 15-29 tuổi,
từ 30-44 tuổi, từ 45-59 tuổi, và ≥ 60 tuổi
+ Loại phương tiện gây tai nạn giao thông: Ô tô – Ô tô; Ô tô – Xe
máy; Ô tô – Bộ hành; Xe máy – Xe máy; Các phương tiện khác…
+ Phân bố theo thời gian tử vong: Trong vòng 30 phút; Từ 30 đến 3giờ; Sau 3 giờ
+ Nguyên nhân tử vong: CTN đơn thuần; CTN và CTB; CTN vàCTSN; CTN trong ĐCT
- Đặc điểm tổn thương ngực:
+ Đặc điểm tổn thương bên ngoài: được phân theo vị trí và đặc điểm của vết sây sát da, vết rách da, vết vân lốp xe ô tô, và biến dạng thành ngực
+ Tổn thương phần mềm: Tụ máu cơ thành ngực, lóc da cơ thàng ngực
- Đặc điểm tổn thương bên trong:
+ Đặc điểm tổn thương xương:
Trang 29+ Đặc điểm tổn thương phổi:
- Mối liên quan giữa tổn thương phổi và tổn thương thành ngực:
Các bảng, biểu đồ thể hiện mối liên quan giữa dấu vết thương tích để lại trênthành ngực, tổn thương xương thành ngực với tổn thương phổi
2.2.5 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Tại Bộ môn Y pháp Trường Đại học Y Hà Nội, khoa Giải phẫu bệnh
-Bệnh viện Việt Đức
- Thời gian: Từ 11/2017 - 4/2018.
2.2.6 Phương pháp phân tích số liệu
- Thống kê các yếu tố dịch tễ của trường hợp nghiên cứu.
- Phân tích các đặc điểm tổn thương và nguyên nhân gây tử vong của các
trường hợp nghiên cứu
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Stata 12.0
2.3 Cách thức tiến hành nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu hồi cứu
Hồi cứu những hồ sơ giám định tại Bộ môn Y pháp - Trường Đại học Y
Hà Nội, Khoa Giải phẫu bệnh - Bệnh viện Việt Đức Thu thập thông tin theophiếu nghiên cứu thiết kế từ trước
- Lựa chọn hồ sơ theo tiêu chuẩn chọn lựa
- Nghiên cứu cẩn thận, tỉ mỉ ghi chép theo bệnh án nghiên cứu thiết kếsẵn
- Thu thập thông tin liên quan dịch tễ: tuổi, giới, địa điểm tử vong,…
- Tổn thương được thu thập từ bản kết luận giám định pháp y
- Nghiên cứu lại hình ảnh lưu trữ
Trang 30- Phân tích số liệu liên quan đến dịch tễ.
- Phân tích tổn thương và nguyên nhân tử vong
2.4 Sai số và cách khống chế
- Sai số được khống chế bằng các tiêu chuẩn chọn lựa đối tượng theotiêu chuẩn
- Sai số trong quá trình thu thập số liệu được thống kê bằng cách:
+ Phiếu nghiên cứu được thiết kế và thử nghiệm trước khi nghiên cứu+ Người lấy mẫu đảm bảo chính xác, tỉ mỉ những thông tin được lưu lạitrong hồ sơ đúng theo yêu cầu của đề tài
+ Số liệu được thu thập và xử lý nghiêm túc, chính xác
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu
- Tiến hành nghiên cứu với tinh thần trung thực
- Nghiên cứu nhằm nêu lên các đặc điểm dấu hiệu ngoài, tổn thươngtrong và nguyên nhân tử vong trên những trường hợp tử vong do tai nạn giaothông đường bộ
- Các thông tin liên quan đến đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật, chỉphục vụ cho mục đích nghiên cứu
Trang 31CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Các yếu tố dịch tễ liên quan đến những trường hợp tử vong do tai nạn giao thông đường bộ
Bảng 3.1 Phân bố theo giới
≤14 tuổi 15-29 tuổi 30-44 tuổi 45-59 tuổi ≥60 tuổi
Biểu đồ 3.1 Phân bố nạn nhân theo nhóm tuổi Nhận xét: Đa số nạn nhân thuộc độ tuổi 15-59 (66/74 nạn nhân, tương ứng
89,2%) Nhóm 15-29 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất 37,8% (28/74 nạn nhân) Nhómtuổi ≤ chiếm tỷ lệ ít nhất 2,7%
Trang 32Bảng 3.2 Phân bố các loại phương tiện gây tai nạn giao thông
Nhận xét: Loại hình tai nạn ô tô – xe máy chiếm tỉ lệ cao nhất ( 68,9%) Ô tô
– Bộ hành chiếm tỷ lệ ít nhất 1.4% Số vụ TNGT liên quan đến ô tô là 55 vụchiếm 74,3%
Bảng 3.3 Phân bố theo thời gian tử vong
Nhận xét: Phần đông nạn nhân tử vong trong vòng 30 phút đầu kể từ sau tai
nạn (52,7%); chỉ có 17,6% nạn nhân tử vong sau 3 giờ
Bảng 3.4 Nguyên nhân tử vong Nguyên nhân tử vong Số lượng Tỉ lệ %
Trang 33CTN và CTB 25 33,8
Nhận xét: ĐCT, CTSN và CTB là nguyên nhân gây tử vong ở nạn nhân bị
TNGT có CTN ( 87,8%) Trong đó ĐCT là nguyên nhân hàng đầu chiếm48,6% Tử vong do CTN đơn thuần là 12,2%
Nhận xét: Các hình thái tổn thương bên ngoài rất đa dạng, nhẹ nhất là vết
xây sát da, tụ máu thành ngực và nặng nhất là biến dạng cơ thể Hay gặp nhất
là xây sát da thành ngực, chiếm tỷ lệ 98,6%
Trang 34Bầm
máu d
a thà
nh ngực
Biểu đồ 3.2 Đặc điểm tổn thương phần mềm
Nhận xét: Các tổn thương phần mềm của ngực đa dạng từ nhẹ đến nặng.
Bầm máu da thành ngực hay gặp nhất chiếm 82,4% Tổn thương hỗn hợpphần mềm cũng chiếm tỷ lệ cao 81,1%
Biểu đồ 3.3 Đặc điểm tổn thương xương thành ngực
Nhận xét: Gãy xương sườn là hình thái hay gặp nhất trong tổn thương bên
trong thành ngực chiếm 77% Trong các xương lồng ngực, tổn thương đadạng nhiều xương trong đó xương vai ít gặp chiếm 1,4%