Mối tương quan giữa chẩn đoán lâm sàng và giá trị các xét nghiệm trực tiếp tìm nấm bằng KOH 20% và xét nghiệm nuôi cấy, định danh chủng nấm gây bệnh ở móng bằng phương pháp thông thường.
Trang 1NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NẤM MÓNG VÀ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG
VÀ CHẨN ĐOÁN VI SINH BỆNH NẤM MÓNG
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NẤM MÓNG VÀ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG
VÀ CHẨN ĐOÁN VI SINH BỆNH NẤM MÓNG
Chuyên ngành : Da liễu
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
HÀ NỘI – 2018
Trang 3: Microsporum canis
: Parker ink
: Trichophyton rubrum
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Nhắc lại giải phẫu - sinh lý quanh móng và móng 3
1.2 Một số chủng nấm gây bệnh móng thường gặp 6
1.2.1 Nấm sợi 6
1.2.2 Nấm men 10
1.3 Nấm móng 13
1.3.1 Lâm sàng 13
1.3.2 Cận lâm sàng 14
1.3.3 Chẩn đoán bệnh nấm móng 15
1.3.4 Biến chứng 16
1.3.5 Các phương pháp phát hiện nấm 16
1.3.6 Điều trị 16
1.3.7 Tình hình nấm móng ở Việt Nam và trên thế giới 19
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
2.2 Đối tượng nghiên cứu 20
2.3 Thiết kế nghiên cứu 20
2.4 Sơ đồ nghiên cứu 20
2.5 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 20
2.5.1 Cỡ mẫu 20
2.5.2 Cách chọn mẫu 21
2.6 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 21
2.7 Kỹ thuật thu thập số liệu 22
2.7.1.Vật liệu nghiên cứu 22
Trang 52.8.2 Cách khắc phục 26
2.9 Quản lý và phân tích dữ liệu 26
2.10 Đạo Đức Nghiên cứu 27
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Các yếu tố liên quan, đặc điểm lâm sàng bệnh nấm móng 28
3.1.1 Các yếu tố liên quan 28
3.1.2 Đặc điểm lâm sàng 30
3.1.2 Đặc điểm lâm sàng 31
3.2 Đánh giá mối tương quan giữa đặc điểm lâm sàng với giá trị chẩn đoán bệnh nấm móng bằng xét nghiệm soi trực tiếp bằng KOH 20% và nuôi cấy định loại chủng nấm 34
3.2.1 Chủng nấm gây bệnh 35
CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 40
4.1 Các yếu tố liên quan, đặc điểm lâm sàng bệnh nấm móng 40
4.2 Mối tương quan giữa chẩn đoán lâm sàng và giá trị các xét nghiệm trực tiếp tìm nấm bằng KOH 20% và xét nghiệm nuôi cấy, định danh chủng nấm gây bệnh ở móng bằng phương pháp thông thường 40
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 41
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ 42
DỰ TRÙ KINH PHÍ 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Bảng 3.2: Phân bố bệnh theo giới 28
Bảng 3.3: Phân bố bệnh nấm móng theo nghề nghiệp 29
Bảng 3.4 Phân bố bệnh theo địa dư 29
Bảng 3.5 Đặc điểm các yếu tố liên quan 29
Bảng 3.6 Hoàn cảnh xuất hiện của bệnh nấm móng 30
Bảng 3.7 Thời gian mắc bệnh 30
Bảng 3.8: Thói quen sinh hoạt và bệnh nấm móng 30
Bảng 3.9: Liên quan giữa tăng tiết mồ hôi bàn tay, bàn chân và bệnh nấm móng 31
Bảng 3.10: Tình hình nhiễm nấm ở thành viên trong gia đình 31
Bảng 3.11: Triệu chứng cơ năng 31
Bảng 3.12 Tổn thương cơ bản của bệnh nấm móng 32
Bảng 3.13 Vị trí tổn thương móng 32
Bảng 3.14: Vị trí móng tay, móng chân nhiễm nấm (n) 32
Bảng 3.15: Vị trí móng nhiễm nấm 33
Bảng 3.16: Màu sắc móng 34
Bảng 3.17 Kết quả xét nghiệm vi sinh của nhóm nghiên cứu 34
Bảng 3.18 Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị của xét nghiệm âm tính, giá trị của xét nghiệm dương tính 34
Bảng 3.19 Tương quan giữa kết quả xét nghiệm vi sinh/ màu sắc móng 35
Bảng 3.20.Tương quan giữa kết quả xét nghiệm vi sinh/ Tổn thương cơ bản 35
Bảng 3.21 Các chủng nấm móng/Hình thái tổn thương 36
Bảng 3.22 Định loại chủng nấm gây bệnh theo nuôi cấy 36
Bảng 3.23 Chủng nấm gây bệnh theo tuổi, giới, địa dư 37
Bảng 3.24 Tương quan giữa chủng nấm gây bệnh với nghề nghệp 38
Bảng 3.25 Tương qua giữa chủng nấm gây bệnh với một số yếu tố nguy cơ 38
Bảng 3.26 Tương quan giữa loại nấm gây bệnh và vị trí các móng tổn thương 39
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ cấu tạo móng 3
Trang 8Một số yếu tố nguy cơ mắc nấm móng bao gồm nghề nghiệp, khí hậu,môi trường tiếp xúc, các bệnh lí suy giảm miễn dịch Các nghiên cứu cho thấynấm móng hay gặp hơn ở những người đái tháo đường, người sử dụng cácthuốc suy giảm miễn dịch Nghề nghiệp cũng là một yếu tố có ảnh hưởngquan trọng đến bệnh nấm móng Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ nấm móng ở vậnđộng viên cao hơn 1-5 lần so với người bình thường do thường xuyên có sựvận động, va chạm và sang chấn [4-5].
Bệnh nấm móng có thể gây nên do các chủng nấm khác nhau, có thể do
nấm sợi (dermatophyte), nấm men (yeast) hoặc nấm mốc (mold) Tuy nhiên,
mỗi chủng nấm khác nhau thì vị trí tổn thương, đặc điểm lâm sàng cũng khácnhau
Bệnh nấm móng có tổn thương lâm sàng đa dạng, nấm móng có thể gâynên tổn thương ở bờ tự do, bờ bên, bề mặt móng, hay bờ gần của móng Việcchẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng và xét nghiệm soi tươi bằng KOH 20 %
Kỹ thuật xét nghiệm này đơn giản, dễ thực hiện, chi phi thấp Tuy nhiên, việcđịnh loại nấm phải dựa vào nuôi cấy Kỹ thuật nuôi cấy và định loại nấm vôcùng quan trọng vì tác dụng của thuốc kháng nấm thay đổi phụ thuộc vàotừng tác nhân gây bệnh Việc lựa chọn thuốc kháng nấm đúng loại, đúng phổtác dụng nếu tác nhân gây bệnh được xác định chính xác Hai kỹ thuật này đã
Trang 9được thực hiện chủ yếu ở viện Da Liễu Trung Ương để giúp việc chẩn đoánxác định bệnh nấm móng nhưng chưa có nghiên cứu nào đánh giá và so sánhgiá trị của hai phương pháp này Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, một số yếu tố liên quan của bệnh nấm móng và mối tương quan giữa chẩn đoán lâm sàng và chẩn đoán vi sinh bệnh nấm móng” tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 6/2018 -
6/2019 nhằm các mục tiêu sau:
1 Khảo sát đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan của bệnh nấm móng.
2 Đánh giá mối tương quan giữa chẩn đoán lâm sàng và giá trị các xét nghiệm trực tiếp tìm nấm bằng KOH 20% và xét nghiệm nuôi cấy, định danh chủng nấm gây bệnh ở móng bằng phương pháp thông thường.
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nhắc lại giải phẫu - sinh lý quanh móng và móng
Móng gồm 4 bờ, nếp da quanh móng gồm 3 bờ là: bờ sau và 2 bờ bênchèn vào một cái rãnh hình móng ngựa gọi là rãnh quanh móng Rãnh nàyđược hình thành do sự gấp của da Nếp gấp ở sau vùng gốc móng gọi là nếpgấp trên móng, nếp gấp hai bên gọi là nếp gấp bên Bờ thứ 4 ở phía đầu ngón
còn gọi là bờ tự do móng mọc dài ra liên tục [4], [5]
Hình 1.1: Sơ đồ cấu tạo móng [4]
1 Gốc móng, 2 Thân móng, 3 Mầm móng, 4 Giường móng, 5 Bản móng Nếp gấp vùng gốc móng dài chừng 1-2mm phủ mặt móng Vùng da ngay
dưới bờ tự do của móng, có một khe gọi là khe dưới móng với đặc điểmkhông có đường vân tay và tuyến bã Nếp gấp da hai bên móng liên tục vớinếp gấp da gốc móng phủ lên xung quanh móng và gắn trực tiếp với mặt trênbản móng nó rất khít không cho nước thoát ra Đồng thời có nhiệm vụ bảo vệkhông cho các tác nhân bệnh lý như: nấm, vi khuẩn và chất kích thích gây dịứng xâm nhập vào tổ chức móng đặc biệt là mầm móng Do vậy khi biểu mô
Trang 11tách ra khỏi mặt móng thì đặc tính chống nước của nó bị mất tạo điều kiệncho các vi sinh vật và yếu tố kích thích tràn vào tích tụ hoặc phát triển có khả
năng gây bệnh Vài loài nấm nhất là Candida xâm nhập vào móng theo lộ
trình này Khi đó nếp da quanh móng bị sưng lên và tách ra khỏi mặt móng,thương tổn lan rộng thậm chí ra xung quanh, hiện tượng này gọi là viêmquanh móng Vòng lẩn quẩn của quá trình viêm do nhiễm nấm và vi khuẩnđược hình thành gọi là viêm quanh móng mạn tính dần dần dẫn đến nấmmóng Quá trình viêm này sẽ phá hủy mặt móng gần và làm chậm quá trìnhtái gắn kết của biểu bì với mặt móng [6], [7]
Bản móng (cái móng) có cấu tạo rộng gần giống hình chữ nhật dày 0,5
đến 0,75mm Móng là những miếng sừng dẹt lợp mặt lưng của đầu ngón tay
và ngón chân Độ dày cái móng đều và có rễ hình vát Móng có 2 tầng, tầngtrên rất dày tạo bởi mầm móng còn tầng dưới rất mỏng Bản móng nằm tựatrên giường móng một cách vững chắc ngoại trừ gốc sau và bên Phần móng
bị nếp gấp trên móng che khuất gọi là rễ móng, phần lộ ra ngoài gọi là thânmóng Phần gốc móng có hình bán nguyệt trắng gọi là liềm móng Liềmmóng có mặt hầu hết ngón tay cái và ngón chân cái, còn các ngón khác thìmột phần hoặc toàn bộ liềm móng được nếp da gốc móng bao phủ Nguyênnhân liềm móng có màu trắng chưa được rõ ràng nhưng dường như do hai yếutố:
- Do quá trình sừng hóa chưa hoàn chỉnh của bản móng
- Do biểu mô chất căn bản dầy làm mờ đi màu hồng của nguồn máucung cấp ở bên dưới
Giữa móng và khe đầu ngón có một cái khe gọi là khe dưới móng [4], [7], [8]
Trang 12Hình dáng bờ tự do của bản móng tương đương đường viền xa của liềmmóng Từ bờ xa liềm móng đến bờ tự do của móng bình thường có màu hồng
do biểu hiện màu máu ở dưới móng khi ta quan sát qua bản móng
Dưới cái móng là lớp biểu bì tiếp nối với biểu bì quanh móng bởi nếpgấp trên móng và nếp gấp bên Phần biểu bì dưới thân móng gọi là giườngmóng, biểu bì ở dưới rễ móng gọi là mầm móng
Đặc điểm mầm móng là lớp sinh sản và là lớp Malpighi khá dày Những
tế bào ở mầm móng phát triển từ đáy mầm ra thân móng và dẹt đi biến thành
lá sừng đắp thêm vào mặt dưới của móng Quá trình này nhờ vào sự phân chianhân và sự đông đặc của bào tương để hình thành lớp sừng dẹt và chắc [4],[5], [9], [10], [11]
Giường móng: gồm toàn bộ lớp biểu mô dưới bản móng, giàu mạch máu
nuôi dưỡng từ cung động mạch bắt nguồn từ động mạch ngón tay Từ lâungười ta cho rằng thuốc chỉ có thể đến móng bằng cách ngấm vào chấtKeratin khi móng mọc dài ra, nhưng gần đây người ta nhận thấy điều này làkhông đúng Hiện nay người ta thấy rằng sự cấp máu cho giường móng chophép thuốc khuếch tán vào tất cả các phần của móng không như trước đây chorằng chỉ ngấm vào rễ móng [5] Ngoài ra mạch máu vùng trung bì phía dướicòn tham gia điều hòa nhiệt độ bình thường ở đầu ngón
Mặc dù không có sự thay đổi sinh lý chính biểu hiện giữa mặt bụng củabản móng và lớp biểu mô giường móng ở nơi tiếp giáp, nhưng bề mặt của hainơi này gắn chặt đến nỗi khi dùng sức mạnh để kéo nhổ móng ra thì khôngtách được bản móng và giường móng cũng như giường móng với trung bì bêndưới Sự liên kết này được xen như là kết quả của các bện chéo tổ chức giữatrung bì và thượng bì của giường móng
Trang 13Cấu tạo bản móng liên quan đến chất cơ bản của tổ chức xung quanhmóng Nguồn cung cấp tế bào sừng được tạo ra từ rễ móng, đặc biệt mô dướiliềm móng cung cấp cho phần bụng móng.
Bản móng: mọc liên tục từ gốc móng ra phía ngoài theo chiều dọc đến
bờ tự do Hàng ngày móng tay mọc dài khoảng 0,1mm còn móng chân chỉmọc dài bằng 1/3-1/2 độ dài mọc móng tay Do vậy khi móng bị nhổ thời gian
để móng mọc trở lại hoàn chỉnh dạng ban đầu ở móng tay khoảng 6 tháng cònmóng chân khoảng 12-18 tháng đó là cơ sở để ta điều trị và theo dỏi khi móng
bị tổn thương bởi nấm Chức năng quan trọng của móng là bảo vệ xương đầungón và tham gia chức năng xúc giác do lưới mạch thần kinh biểu mô tậncùng giường móng Ngoài ra, móng còn tạo dáng, dùng để gãi và cầm giữnhững đồ vật nhỏ Do vậy khi móng bị tổn thương vì các nguyên nhân khácnhau đặc biệt là nấm móng sẽ tác động đến tâm lý, thẩm mỹ và nghề nghiệpcủa bệnh nhân [12], [13]
1.2 Một số chủng nấm gây bệnh móng thường gặp
Nấm móng là nhiễm trùng ở móng do nấm bao gồm nấm sợi
(dermatophytes), nấm mốc (nondermatophyte moulds) và nấm men (chủ yếu
là các loài nấm Candida) Nấm móng chiếm tới 30% các chẩn đoán bệnh nấm
nông Thông thường nấm móng chân chiếm 80% các trường hợp nấm móng,
và hầu hết (trên 90% trường hợp) là do Trichophyton rubrum gây ra.
1.2.1 Nấm sợi (Dermatophytes)
Bệnh nấm sợi bao gồm các bệnh nấm ở lông, tóc, móng và da người Có
3 giống (genus) thường gây bệnh là Trichophyton, Microsporum và
Epidermophyton Chủng M canis gây bệnh nấm da đầu và liên quan đến vật
nuôi (như chó, mèo) trong gia đình, có thể gặp ở nhiều vùng trên thế giới
T violaceum có ở Đông Âu, Châu Phi, Châu Á, Nam Mỹ T rubrum là
nguyên nhân gây bệnh ở nhiều vùng trên cơ thể như kẽ chân, móng, bẹn, thân
Trang 14Hiện nay bệnh nấm da do T.rubrum gây ra gặp tương đối nhiều, ở cả hai giới
nam và nữ, thường ở đối tượng đi giầy cao cổ, giày kín mũi trong thời giandài hoặc sử dụng bể bơi công cộng [14]
Ngày nay danh từ Tinea dùng để chỉ các bệnh nấm nông Tùy theo vị trí
mà có tên gọi khác nhau [15], [16]
- Tinea capitis : nấm tóc, chỉ tổn thương ở da đầu, kết hợp với tổnthương tóc
- Tinea barbae : nấm ở râu
- Tinea corporis : nấm da thân mình hay da nhẵn
- Tinea cruris : nấm vùng đùi, bẹn và sinh dục
- Tinea pedis : nấm ở chân
- Tinea manum : nấm ở tay
- Tinea unguium : nấm móng
1.2.1.1 Bệnh nguyên
Trichophyton, Microsporum, Epidermophyton là 3 giống gây ra bệnh
nấm móng Trichophyton, Microsporum có rất nhiều loài gây bệnh, còn
Epidermophyton chỉ có 1 loài gây bệnh là E floccosum [15], [16].
Tùy theo nguồn gốc ký sinh tự nhiên của các loài mà chúng được chia làm
ba nhóm: nhóm lây từ người sang người (Anthropophilic), nhóm lây từ động vậtsang người (Zoophilic) và nhóm lây từ đất sang người (Geophilic) [16], [17]
a) Đặc điểm, hình thái của nấm
Nấm ký sinh gây bệnh cho người là một thực vật không có chất diệp lục
để tự tổng hợp chất dinh dưỡng cho mình nên sống nhờ vào vật chủ khác.Muốn ký sinh được, các tác nhân gây bệnh phải trụ bám vào chủ thể và phải
có điều kiện thích hợp, thuận lợi thì mới phát triển để gây bệnh [18]
* Cấu tạo
Tế bào nấm gồm màng dày cellulose hoặc chitin, trong đó có nhân vànguyên sinh chất Nấm phát triển nhờ các men như cellulose, protease, catalase,
Trang 15oxydase Ở môi trường giàu dinh dưỡng nấm sợi phân chia nhánh chằng chịt tạothành từng tảng nấm hay bè nấm Trên cơ thể người, nấm sau khi bám vào da sẽphát triển bằng cách phân chia tế bào làm sợi nấm dài ra và lan ra theo hướng litâm do chất dinh dưỡng ở ngoài phong phú hơn Khi gặp môi trường khôngthuận lợi các sợi nấm có thể kết tụ lại với nhau thành củ tròn.
* Sinh sản
Phương thức sinh sản của nấm là bằng bào tử Đó cũng là nguồn lâytruyền của nấm Có hai loại bào tử: bào tử hữu tính và bào tử vô tính, hìnhdạng rất khác nhau (bào tử trứng, bao, đốt, chồi, áo, đính ) nhưng đều có khảnăng chống đỡ với ngoại cảnh Trên một búi nấm có thể có cả bào tử hữu tínhlẫn vô tính [19]
b) Yếu tố ảnh hưởng đến quá trình gây bệnh của nấm
* Độ pH
Ảnh hưởng rất nhiều đến sự xâm nhập của nấm vào cơ thể Trên cơthể, độ pH thay đổi tùy từng vùng khác nhau như ở vùng da đầu, ngực, taythì độ pH dao động từ 4,5 - 5,9 Vùng bẹn, nách từ 6,0 - 6,8 Trong khi nấmphát triển thuận lợi ở độ pH 5,9 - 7,2 do vậy vùng nếp gấp như bẹn, náchrất hay nhiễm nấm Ngoài ra, pH da còn thay đổi theo độ tuổi, tuổi nhỏ thì
pH da acid hơn, còn tuổi thanh thiếu niên thì pH kiềm hơn, dao động trongkhoảng 6,1 - 6,4 [16], [20]
* Nhiệt độ và độ ẩm
Hầu hết các nấm gây bệnh đều phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ từ25-30oC và độ ẩm trên 70% Sự liên quan của nhiệt độ, độ ẩm với sự pháttriển nấm đã được chứng minh bởi Nonomiya và cộng sự bằng cách quan sát
sự xâm nhập của T mentagrophytes vào lớp sừng Khi độ ẩm 100% với nhiệt
độ 35oC và 27oC thì chỉ 2 ngày nấm đã xâm nhập được, nhưng ở 15oC thì phảingày thứ 4 Khi độ ẩm 90% ở 35oC thì nấm xâm nhập ngày thứ 4, còn ở 27oCthì ngày thứ 7 Còn độ ẩm 80% thì ở 35oC và 27oC sau 7 ngày, nấm mới xâm
Trang 16nhập được.
* Rối loạn chuyển hóa đường
Sự phát triển gây bệnh của nấm có vai trò của rối loạn nội tiết, rối loạnchuyển hóa đường đã được các tác giả nước ngoài như I.I Unova (1954),K.A Fbazabe (1971) và trong nước như Nguyễn Thị Đào nghiên cứu [20]
c) Nguồn lây
Nấm sợi thường bám vào lớp sừng của da, móng, tóc để gây bệnh Cácchủng nấm này có nguồn gốc từ người, súc vật và đất Các chủng nấm cónguồn gốc từ người gây bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó là từ động vật và từđất [18], [21]
Chủng nấm có nguồn gốc từ người sang người (Anthropophilic) gồm có
T rubrum, T tonsurans, T violaceum, M audouinii, E floccosum,
T schoenleinii Sự lây truyền thường gián tiếp qua các vật dụng đã bị nhiễm
bẩn như áo, quần, giày dép, bể tắm đã bị nhiễm nấm Lây trực tiếp từ ngườibệnh sang người lành qua tiếp xúc, từ bố mẹ sang con trong gia đình ít hơn[15], [16], [22]
Chủng nấm có nguồn gốc từ súc vật sang người (Zoophilic) như M.
canis, M gallinae, M nanum, T mentagrophytes Các chủng nấm này thường
ký sinh trên vật chủ nhất định (chó, mèo, trâu, bò, ngựa, lợn, chuột ) và từ đólây bệnh cho người
Chủng nấm có nguồn gốc từ đất sang người (Geophilic): M gypseum,
M praecox, có mặt hầu hết ở các nước trên thế giới.
Trang 171.2.1.2 Bệnh sinh
Để gây bệnh, các bào tử nấm đầu tiên phải bám được vào lớp sừng của da,lông, tóc hoặc móng Quá trình này xảy ra nhanh nhất là 3-4 giờ sau khi bào tửtiếp xúc vào lớp sừng và phụ thuộc điều kiện nóng, ẩm, hiếu khí, các yếu tốkháng nấm, mà không phụ thuộc vào loài nấm gây bệnh [16], [24], [25], [26].Tiếp theo các bào tử nấm sẽ xâm nhập vào lớp sừng nhờ nó tiết ra nhiềuloại men tiêu protein Mặc dù vậy, khả năng hoạt động của men proteinasekhác nhau theo từng chủng nấm Có chủng gây bệnh được ở móng nhưng
không gây bệnh được ở tóc như E floccosum, còn T rubrum hiếm gây bệnh ở
tóc mà chủ yếu là ở da và móng Quá trình xâm nhập gây bệnh cũng phụthuộc vào sự đáp ứng của cơ thể đối với các chủng nấm Quá trình này có sựtham gia của nhiều yếu tố sau [27]
- Da là hàng rào vật lý ngăn cản sự xâm nhập của nấm làm cho nấm khóbám để phát triển và gây bệnh
- Huyết thanh có các yếu tố ức chế sự phát triển của nấm [28]
- Các tế bào như: tế bào nội mô, tế bào Langerhans, tế bào Mast, hạchLympho, cũng góp phần chống lại sự xâm nhập của nấm
- Hệ thống miễn dịch trung gian tế bào cũng đóng góp phần quan trọngtrong quá trình gây bệnh Ở những bệnh nhân bị nhiễm HIV, hay giảm CD4
tự phát đã làm tăng sự nhiễm bệnh nấm và bệnh thường là mạn tính, khóđiều trị [29]
1.2.2 Nấm men
Nấm men có cấu tạo đơn bào, sinh sản bằng hình thức nảy chồi, hìnhtròn hoặc bầu dục, kích thước 3-15µm
1.2.2.1 Candida
Candida là một loại nấm men tồn tại khá phổ biến trong thiên nhiên, ký
sinh trên người và súc vật Ngày nay, Candida là một trong những nguyên
Trang 18nhân gây bệnh thường gặp và là một chi của nấm men [30].
Nấm men (Yeast, Levure) là tên gọi thông thường của nhóm nấm có đặcđiểm là:
- Tồn tại ở trạng thái đơn bào thường là tế bào hình tròn hay hình tráixoan Kích thước nấm men thường lớn gấp 10 lần vi khuẩn
- Sinh sản theo phương thức nảy chồi do một chồi nhỏ thường mọc lên ởphần cực của tế bào nấm Chồi này phình to ra và hình thành một tế bào concuối cùng tách ra khỏi tế bào mẹ Ở vài loài nấm men các tế bào chồi này kéodài ra, có loài tế bào men dính vào nhau tạo chuỗi thành dạng giả sợi
Candida sinh sản theo lối vô tính bào tử áo hay bào tử màng dày thường mọc
ở đỉnh các giả sợi
- Thành tế bào nấm men có chứa mannan
- Nhiều loại có khả năng thích nghi với môi trường có đường cao
Nấm men phân bố rộng rãi trong thiên nhiên nhất là môi trường có chứađường, chẳng hạn như hoa quả, rau dưa, mật mía, rỉ đường, mật ong, trong đấtruộng mía và vườn trái cây [8], [30], [31], [32]
* Một số đặc điểm về hình thái và sinh lý của nấm Candida
Candida là loài nấm men có hình trái xoan, hình cầu, đường kính từ
3-6µm sinh sản bằng cách nảy chồi Hình thái nấm không màu, vách ngăn rộngnhiều khi chỉ thấy sợi tơ Xét nghiệm soi tươi ở da, niêm mạc, móng và mô
dưới kính hiển vi thì nấm Candida có dạng hình trái xoan, hình cầu, nảy chồi
hình số 8
Đối với C.albicans ở mẫu bệnh phẩm da quanh móng và móng quan sát
trực tiếp dưới kính hiển vi có dạng hình trái xoan, thành dày, nảy chồi dạnghẹp và thường kèm dạng sợi mảnh, giả sợi
Bình thường Candida sống hoại sinh trên da, nó thực sự gây bệnh khi
qua da và niêm mạc động vật máu nóng Ở người bình thường có thể tìm thấy
Trang 19Candida trong họng, bộ phận tiêu hóa, âm đạo Còn trên da hiếm khi thấy
ngoại trừ vùng nếp kẽ Nó gây bệnh cho người khi sự bảo vệ của cơ thể giảm
và có yếu tố thuận lợi cho sự xâm nhập của nấm Khi đó, Candida không
những phát triển trên bề mặt da mà còn xuyên sâu xuống dưới gây viêm da,nếu da quanh móng có thể dẫn đến nấm móng Ray và cộng sự chứng minh
rằng C albicans và C stellatoidea có khả năng xâm nhập vào kẽ nứt lớp sừng
của da gây tình trạng viêm [22] Một số tác giả khác cũng chứng minh và
nhận thấy Candida có sự khác nhau về độc tính gây bệnh của các chủng.
Nguyên nhân quan trọng ban đầu là sự kết dính của nấm vào tế bào biểu mô
rồi xâm nhập vào trong tế bào sừng do nấm Candida tạo ra một loại men phân
hủy protein đặc hiệu [5], [8], [22]
Khi da bị tổn thương vì nhiều lý do khác nhau thì nấm có cơ hội xâmnhập và phát triển Hệ vi khuẩn chí bình thường và sự toàn vẹn của da và đặcbiệt là vai trò miễn dịch qua trung gian tế bào có tác dụng bảo vệ da loại trừnấm [22], [23] Với những thành tựu nghiên cứu về miễn dịch học nấm datrong những năm gần đây các tác giả đã cho thấy rằng miễn dịch trung gian tếbào có vai trò đặc biệt trong bệnh nấm da, đáp ứng này có tác dụng loại trừnấm Cụ thể những người có tăng tính nhạy cảm loại hình chậm rõ rệt thìbệnh khỏi nhanh, còn những người không có hoặc thiếu hụt miễn dịch tế bàothì bệnh dai dẳng, dễ tái phát [23]
Đó là những yếu tố quan trọng chống lại sự xâm nhập nấm vào cơ thể
Có nhiều ý kiến cho rằng nhiễm Candida thường gặp ở người dùng thuốc
kháng sinh, corticoide kéo dài, mắc bệnh hệ thống, suy giảm miễn dịch, suydinh dưỡng, đặc biệt những người thiếu hụt lympho T như bệnh nhân AIDS
dễ mắc Candida nông lan tỏa, nặng điều trị khó [8], [31]
1.2.2.2 Malassezia
Là nấm men ưa lipid, ngoại trừ một số loài như M.pachydermatis gây
Trang 20bệnh chủ yếu ở động vật, còn lại một số loài gây bệnh móng và một số loài
khác gây bệnh cơ quan, hệ thống Malassezia có cấu tạo đơn bào và sinh sản
bằng hình thức nảy chồi Tuy nhiên, một số loài có cấu tạo đa bào như
M.globosa, loài này có phương thức sinh sản hữu tính tức là chúng có khả
năng giao phối kết hợp giữa giao tử đực và giao tử cái Chúng thích nghi, sinhsản và phát triển hàng loạt Đồng thời di truyền những đặc tính của loài qua cácthế hệ Vì vậy, thế hệ sau luôn mang nhiều đặc tính về khả năng thích nghi và đềkháng với các yếu tố đào thải nấm từ chính cơ thể hoặc từ môi trường tự nhiên
Do đó, loài M.globosa mang tính chọn lọc tự nhiên rất cao, mà loài nấm này tồn
tại ở vi hệ rất nhiều và là căn nguyên gây bệnh chủ yếu [33], [34], [35]
1.3 Nấm móng
1.3.1 Lâm sàng
Nấm móng được chia thành các thể lâm sàng như sau:
- Loại tổn thương ở phần bên và phần xa dưới móng (distal and lateralsubungual onychomycosis - DLSO): đây là loại thường gặp nhất gây loạndưỡng móng
- Loại trắng bề mặt móng (superficial white onychomycosis - SWO)
- Loại tổn thương phần gốc dưới móng (proximal subungualonychomycosis - PSO): xuất phát từ phần gần của móng
- Loại nấm móng do Candida (candidal onychomycosis) và loạn dưỡng
móng toàn bộ (total dystrophic onychomycosis)
Căn nguyên thường do các chủng nấm Epidermophyton, Microsporum,
Trichophyton Để phân biệt nấm móng gây ra bởi một chủng nấm với các
chủng khác là rất khó Tuy nhiên có thể phân thành các nhóm:
+ Móng dày sừng: móng dày sừng, dưới móng có khối sừng mủn
+ Móng teo: móng bị mủn, mòn dần từ bờ tự do đến chân móng
+ Hình thái bình thường: móng bình thường có màu trắng đục hoặcmàu vàng
Trang 211.3.1.1 Nấm móng do Trichophyton rubrum: thường bắt đầu chậm và âm ỉ,
tổn thương một hoặc nhiều móng, có thể nấm móng đơn thuần hoặc phối hợpvới thương tổn da tay, chân Bắt đầu với chấm trắng ở bờ tự do của móng,dần dần móng dày lên, mủn, vàng bẩn, dễ gãy, bên dưới móng có một khốisừng mủn
1.3.1.2 Nấm móng do Trichophyton mentagrophyte: cũng bắt đầu từ bề mặt
móng, thường không kèm viêm quanh móng Thương tổn bắt đầu với vảy da
ở rìa móng tay Dần dần bàn móng cũng bị liên quan, móng xuất hiện chấmtrắng nhỏ, màu như bột phấn
1.3.1.3 Nấm móng do Trichophyton violaceum: cũng bắt đầu từ bề mặt móng,
không có biểu hiện viêm quanh móng
1.3.1.4 Nấm móng do Candida albicans: thường biểu hiện viêm quanh móng.
Bệnh bắt đầu từ gốc móng, đôi khi có mủ ở gốc móng Lớp da xung quanhmóng, sưng nề đau nhức Móng trở nên đen, sần sùi, tách khỏi bàn móng.Viêm quanh móng do Candida thường gặp ở móng tay, ít gặp ở móng chân.Bệnh gặp nhiều ở người làm nghề nội trợ, làm đậu phụ
1.3.2 Cận lâm sàng
1.3.2.1 Soi trực tiếp bằng dung dịch KOH 20%
Dùng dao cùn cạo móng tổn thương đặt lên lam kính Nhỏ một đến haigiọt dung dịch KOH 20% lên lam, hơ nóng nhẹ qua ngọn lửa đèn cồn Quansát dưới kính hiển vi ở vật kính 10 và 40, thấy hình ảnh sợi nấm hay đoạn sợinấm có thành tế bào đậm, bào tương đục, dày, mềm mại Ngoài ra còn có thểthấy bào tử nấm
(Lưu ý: thương tổn đang bôi thuốc phải ngừng bôi từ 3-5 ngày mới xét
Cơ chế tác dụng của KOH 20% và KOH 20% kết hợp Parker ink
1.3.2.2 Nuôi cấy
Trang 22Môi trường cơ bản để nuôi cấy nấm là Sabouraud Bằng phương phápxét nghiệm trực tiếp dưới kính hiển vi chỉ cho biết có nấm hay không nhưngkhông thể biết đó là loài nấm gì, vì vậy cần phải tiếp tục nuôi cấy để phân lậpnấm và định danh Môi trường hay dùng nhất là môi trường Sabouraud,thường nuôi cấy ở nhiệt độ phòng, sau 1-2 tuần quan sát sự phát triển củanấm có thể xác định loài Trên thực tế tỉ lệ giữa triệu chứng lâm sàng, kếtquả soi trực tiếp và nuôi cấy là 3:2:1 (3 trường hợp có triệu chứng lâmsàng, soi trực tiếp dương tính 2 và nuôi cấy dương tính 1).
+ Soi trực tiếp bằng dung dịch KOH 20%
+ Nuôi cấy và định loại
+ Các xét nghiệm khác:
1.3.3.2 Chẩn đoán phân biệt
* Không có viêm quanh móng
- Viêm quanh móng do vi trùng: thường do các loại vi khuẩn hiếu khí, kỵ
khí hoặc phối hợp cả hai với nấm Candida Các vi khuẩn phân lập được trong viêm quang móng thường do tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn, E.coli đặc biệt viêm quang móng do Pseudomonas khi tổn thương móng hay có màu xanh Tính
chất này đã chỉ điểm cho các thầy thuốc xét nghiệm tìm vi khuẩn đó Viêm
Trang 23quanh móng do tụ cầu thường gây đau và có mủ.
- Vẩy nến mủ đầu chi: vảy nến mủ khu trú ở đầu ngón tay, đầu ngónchân còn gọi là viêm da đầu chi liên tục của Hallopeau Thương tổn xuất hiện
là các mụn mủ vô khuẩn ở nếp da quanh móng và dưới móng Mụn mủ cómàu trắng kem khác với mụn mủ do vi khuẩn có màu vàng Nếu nặng móng
bị tách hoàn toàn khỏi nếp da quanh móng
1.3.5.1 Xét nghiệm soi trực tiếp tìm nấm bằng KOH 20%
1.3.5.2 Nuôi cấy, phân lập nấm
Phương pháp xét nghiệm trực tiếp soi bệnh phẩm dưới kính hiển vi chỉcho biết có nấm hay không nhưng không thể biết đó là loài nấm gì, vì vậy cầnphải tiếp tục nuôi cấy để phân lập nấm và định danh Môi trường hay dùngnhất là môi trường Sabouraud, thường nuôi cấy ở nhiệt độ phòng, sau 1-2tuần quan sát sự phát triển của nấm có thể xác định loài
1.3.5.3 Một số phương pháp khác: Mô bệnh học (sinh thiết nhuộm HE,
nhuộm PAS), PCR tìm nấm
1.3.6 Điều trị [11]
Có rất nhiều phương pháp điều trị nấm móng, bao gồm: điều trị tại chỗ,điều trị toàn thân, kết hợp giữa toàn thân và bôi tại chỗ Ngoài ra còn một sốphương pháp khác như sử dụng laser, ánh sáng, hay phẫu thuật
1.3.6.1 Điều trị tại chỗ
Do cấu trúc của móng rất cứng, nhỏ, với lớp sừng dày như một rào cảnđối với sự khuyếch tán thuốc bôi vào móng Ngoài ra do đặc điểm cấu tạo của
Trang 24móng, ngăn cản hầu hết hấp thụ mỡ có trọng lượng phân tử cao Lượng thuốcngấm vào móng có thể giảm đi 1000 lần vì vậy hiệu quả điều trị tại chỗthường thấp Tuy nhiên điều trị tại chỗ có tác dụng tốt trong một số trườnghợp nhiễm nấm móng mức độ nhẹ, trung bình hay có chống chỉ định đối vớithuốc chống nấm đường toàn thân.
Chỉ định:
- Biểu hiện trắng bề mặt móng (SWO), ngoại trừ dải ngang hay nhiễm trùng
- Giai đoạn sớm của DLSO khi dưới 80% diện tích móng bị tổn thương,không bao gồm vùng matrix móng
- Chống chỉ định với thuốc chống nấm đường uống
Một số thuốc điều trị
1 Amorolfine: có tác dụng thông qua ức chế enzym delta -14 reductase
và delta 8 và delta-7 isomerase, làm ức chế tổng hợp ergosterol Có tác dụng
trên candida và T mentagrohytes Thường dùng dưới dạng sơn 5%, dùng 1-2
lần/tuần trong 6-12 tháng
2 Tioconazole: là thuốc chống nấm dạng dung dịch, có nồng độ 28%, có
tác dụng đạt hiệu quả trên xét nghiệm và trên lâm sàng ở 22% số bệnh nhân
3 Một số thuốc chống nấm tại chỗ khác
Efinaconazole 10%: gần đây được sử dụng có hiệu quả trên xét nghiệm
là 50% và 15% có cải thiện hoàn toàn về lâm sàng [20] Ngoài ra còn có một
số thuốc chống nấm khác như butenafine, biffonazole, acid salicylic, dầu hoa
hướng dương được sử dụng, nhưng không có dữ liệu hỗ trợ cho việc sử dụngđơn thuần trong điều trị nấm móng
1.3.6.2 Điều trị toàn thân
Trang 25Điều trị toàn thân được sử dụng rộng rãi trong điều trị nấm móng Những
thuốc chính được sử dụng là allylamine terbinafine và triazole itraconazole.
Griseofulvin cũng là thuốc cho phép sử dụng điều trị nấm móng, nhưng ít
được sử dụng hơn Fluconazole không được cho phép sử dụng trong điều trị nấm móng, nhưng có thể được sử dụng như lựa chọn thứ 3 Ketoconazol có
hiệu quả nhưng tăng nguy cơ nhiễm độc gan, khi điều trị kéo dài
Một số thuốc
Griseofulvin: Mức độ khuyến cáo C, mức độ bằng chứng 2+.
Tác dụng điều trị 30- 40% đạt được xét nghiệm nấm âm tính đối với nấm
móng chân Tác dụng này thấp hơn ở người so với itraconazol và terbinnafin.
Terbinafin: Mức độ khuyến cáo A, mức độ bằng chứng 1+
Terbinafin có phổ chống nấm rộng, hiệu quả tốt trong điều trị nấm sợi,
nhưng hiệu quả thấp hơn nhóm azole đối với candida
Tác dụng phụ ít gặp như rối loạn tiêu hóa, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, rốiloạn vị giác, nổi ban, mày đay, một số trường hợp liên quan nhiễm độc gan.Chống chỉ định trong trường hợp suy gan, suy thận
Fluconazole: mức độ khuyến cáo B, mức độ bằng chứng 2++
Được sử dụng khi chống chỉ định với itraconazol hay terbinafin Hiệu quả thấp hơn Itraconazole và terbinafin.
Nhóm Azole khác cũng được sử dụng nhưng mức độ bằng chứng, hiệuquả thấp
1.3.6.3 Một số phương pháp điều trị khác
Phẫu thuật lấy bỏ móng bị tổn thương, sau đấy điều trị tại chỗ: hiệu quảthấp, không được khuyến cáo dựa trên bằng chứng lâm sàng [21]
Can thiệp cơ học loại bỏ tổn thương có thể được áp dụng để loại bỏ ổ tập
trung sợi nấm (dermatophytoma) ở giữa bản móng và giường móng.
Trang 26Gần đây, trong một thử nghiệm lâm sàng, phương pháp quang động học(PDT) cho những cải thiện lâm sàng đạt được là 44,3% sau 12 tháng, giảmxuống 36,6% trong 18 tháng Tuy nhiên, những bằng chứng lâm sàng hiệnnay, PDT không được khuyến cáo điều trị nấm móng [22].
Laser diod có bước sóng 870 và 930 nm, hay laser Nd- YAG bước sóng
1064 nm cũng chỉ ra có hiệu quả trong điều trị nấm móng, nhưng hiện naychưa được khuyến cáo [23]
1.3.7 Tình hình nấm móng ở Việt Nam và trên thế giới
Nấm móng là một trong những bệnh ngoài da thường gặp trên thế giớicũng như ở Việt Nam
Trong một nghiên cứu ở Hy Lạp năm 2002, tác giả Koussidou cho rằngbệnh nấm móng chiếm 20% trong số bệnh da và hoa liễu [36] Ở Bulgarie,các tác giả Grigorief và Penel năm 1970 đã khám 590 bệnh nhân nấm thấy có
152 người bị nấm móng, chiếm tỷ lệ 25,8% Ở Roumanie, từ năm 1962 đến
1967 Alteras đã phân lập được 2.150 chủng nấm ở nhiều vị trí khác nhau,trong ấy thì tổn thương móng tay và móng chân chiếm khoảng 65% Ở Pháp,tác giả Graciansky cùng cộng sự (1962) cũng nhận thấy bệnh nấm móng gây
nên do Trichophyton rubrum chiếm tỷ lệ khá cao Tác giả Liên Xô
Pentkobskaia (1958) trong bệnh nấm ở chân, thấy thương tổn móng chânchiếm tỷ lệ 82,6% Ở Việt Nam, bệnh nấm móng chiếm tỷ lệ khoảng 10,3%trong tổng số các bệnh nấm [2]
Trang 282.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Da liễu Trung ương
Thời gian thu thập số liệu dự kiến: từ tháng 6/2018 đến tháng 4/2019
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Gồm toàn bộ bệnh nhân được chẩn đoán là nấm móng dựa trên lâm sàngtại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 6/2018 - 04/2019
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4 Sơ đồ nghiên cứu
Chọn lựa bệnh nhân phù hợp với điều kiện lựa chọn
Hỏi, khám và thu thập số liệu trước xét nghiệm
Lấy mẫu xét nghiệm
Hỏi, khám và thu thập số liệu sau xét nghiệm
Tổng kết, xử lý số liệu và kết luận
2.5 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
2.5.1 Cỡ mẫu
Gồm toàn bộ bệnh nhân được chẩn đoán là nấm móng dựa trên lâm sàngđến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 6/2018 - 04/2018