1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KẾT QUẢ SOI NIỆU QUẢN đặt SONDE JJ TRONG điều TRỊ THẬN ứ nước DO tắc NGHẼN TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

57 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, không phải trường hợp nào nguyên nhâncũng được chẩn đoán chính xác ngay và không phải bệnh nhân nào cũng chophép giải quyết nguyên nhân gây bệnh bằng phẫu th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

LÊ VĂN HÙNG

KẾT QUẢ SOI NIỆU QUẢN ĐẶT SONDE JJ

TRONG ĐIỀU TRỊ THẬN Ứ NƯỚC

DO TẮC NGHẼN TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

LÊ VĂN HÙNG

KẾT QUẢ SOI NIỆU QUẢN ĐẶT SONDE JJ TRONG ĐIỀU TRỊ THẬN Ứ NƯỚC DO TẮC NGHẼN

TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Chuyên ngành : NGOẠI KHOA

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Trần Hiếu Học

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Sơ lược về giải phẫu thận, niệu quản .3

1.1.1.Thận 3

1.1.2.Niệu quản 5

1.2 Sinh lý đường tiết niệu trên 6

1.2.1 Sinh lý bài tiết nước tiểu 6

1.2.2 Sự lưu chuyển của nước tiểu 6

1.2.3 Áp lực trong đường bài xuất trên 7

1.2.4 Tính chất co bóp 7

1.2.5 Vai trò của hệ thần kinh trong hoạt động sinh lý của đường bài xuất 8

1.3 Những tổn thương tại thận do tắc nghẽn đường tiết niệu trên .8

1.3.1 Sinh lý bệnh của tắc nghẽn đường tiết niệu trên 8

1.3.2 Giải phẫu bệnh trong tắc nghẽn đường tiết niệu trên 9

1.4 Bệnh thận ứ nước 9

1.4.1 Một số nguyên nhân gây ứ nước 10

1.4.2 Sinh lý bệnh của ứ nước 11

1.4.3 Chẩn đoán thận ứ nước 11

1.4.4 Chỉ định điều trị thận ứ nước do tắc nghẽn .15

1.5 Sonde niệu quản 16

1.5.1 Chỉ định 16

1.5.2 Đặc điểm các loại sonde niệu quản 17

1.5.3 Quy trình đặt sonde niệu quản .19

1.5.4 Biến chứng .20

1.6 Các nghiên cứu về đặt stent JJ trong điều trị thận ứ nước do tắc nghẽn trên thế giới và Việt Nam 22

Trang 4

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 24

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 24

2.1.3 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân 24

2.1.4 Tiêu chuẩn loại trừ 24

2.2 Phương pháp nghiên cứu 25

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 25

2.2.2 Mẫu nghiên cứu 25

2.2.3 Sơ đồ tiến hành nghiên cứu 26

2.2.4 Các tiêu chuẩn phân loại áp dụng trong nghiên cứu 27

2.3 Đặt sonde JJ niệu quản 28

2.3.1 Kĩ thuật đặt sonde JJ niệu quản 28

2.3.2 Một số tiêu chí đánh giá 29

2.4 Sai số và cách khống chế sai số 29

2.5 Quản lý, phân tích số liệu 30

2.6 Đạo đức nghiên cứu 30

CHƯƠNG 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 31

3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo giới 31

3.1.2 Phân bố bệnh nhân theo tuổi 31

3.2 Đặc điểm lâm sàng 32

3.2.1 Triệu chứng lâm sàng khi vào viện 32

3.2.2 Các nguyên nhân gây tắc nghẽn đường tiết niệu trên 33

3.2.3 Phân tầng nguy cơ nhiễm khuẩn 33

3.3 Đặc điểm cận lâm sàng 34

Trang 5

3.3.3 Kết quả ure, creatinin của BN khi vào viện 34

3.3.4 Xét nghiệm nước tiểu của bệnh nhân khi nhập viện 35

3.3.5 Kết quả nuôi cấy nước tiểu khi vào viện 35

3.3.6 Kết quả chụp hệ tiết niệu không chuẩn bị 36

3.3.7 Kết quả siêu âm thận, hệ tiết niệu khi vào viện 36

3.4 Đánh giá kết quả đặt sonde JJ niệu quản 37

3.4.1 Kỹ thuật đặt sonde JJ niệu quản 37

3.4.2 Đặc điểm dịch dẫn lưu 37

3.4.3 Biến chứng đặt stent JJ niệu quản 38

3.5 Thời gian nằm viện sau khi đặt stent JJ 38

3.6 Đánh giá khả năng phục hồi chức năng thận 38

3.6.1 So sánh nồng độ Ure máu trước và sau đặt stent JJ 38

3.6.2 So sánh nồng độ Creatinin máu trước và sau đặt stent JJ 38

3.6.3 So sánh mức lọc cầu thận trước và sau đặt stent JJ 38

3.7 Đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn sau khi đặt stent JJ 39

CHƯƠNG 4 DỰ KIẾN BÀN LUẬN 40

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 40

4.2 Đặc điểm lâm sàng 40

4.3 Đặc điểm cận lâm sàng 40

4.4 Đánh giá kết quả đặt sonde niệu quản trong điều trị thận ứ nước do tắc nghẽn 40

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi 31

Bảng 3.2 Một số triệu chứng lâm sàng của nhóm nghiên cứu 32

Bảng 3.3 Nguyên nhân gây tắc nghẽn đường tiết niệu trên của nhóm nghiên cứu 33

Bảng 3.4 Phân tầng nguy cơ nhiễm khuẩn 33

Bảng 3.5 CRP và bạch cầu máu của bệnh nhân khi vào viện 34

Bảng 3.6 Ure và Creatinin máu của bệnh nhân khi vào viện 34

Bảng 3.7 Kết quả xét nghiệm nước tiểu của bệnh nhân khi nhập viện 35

Bảng 3.8 Phân độ ứ nước thận trên siêu âm 36

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thận ứ nước là hậu quả của tắc nghẽn đường tiết niệu làm cho đài thậnrồi bể thận có thể cả niệu quản giãn dần ra dẫn đến kích thước thận to lên sovới bình thường [1]

Trong thời gian đầu thận bị ứ nước cấp tính, chức năng thận có thể vẫnđược bảo tồn nếu tình trạng tắc nghẽn được giải quyết sớm Tuy nhiên nếutình trạng tắc nghẽn kéo dài và không được giải quyết sẽ dẫn đến mức lọc cầuthận suy giảm mà hậu quả cuối cùng là tiến triển đến bệnh thận mạn tính giaiđoạn cuối và cần phải điều trị thay thế thận như lọc máu, lọc màng bụng vàghép thận [1]

Hiện tại, chi phí cho các phương pháp điều trị thay thế thận đang làgánh nặng cho tất cả các quốc gia Do đó phát hiện sớm, chẩn đoán chính xácnguyên nhân và điều trị kịp thời sẽ giảm bớt tỷ lệ bệnh thận mạn tính có thểtiến triển đến suy thận không hồi phục là vấn đề rất cần sự quan tâm của cácnhà lâm sàng thận học [1]

Điều trị thận ứ nước quan trọng nhất là giải quyết nguyên nhân gây ratình trạng tắc nghẽn Tuy nhiên, không phải trường hợp nào nguyên nhâncũng được chẩn đoán chính xác ngay và không phải bệnh nhân nào cũng chophép giải quyết nguyên nhân gây bệnh bằng phẫu thuật ngay do thể trạng yếu,

do hội chứng ure máu cao Chính vì vậy việc giải quyết nguyên nhân tắcnghẽn tạm thời bằng những kỹ thuật xâm lấn tối thiểu mang lại những hiệuquả khá khả quan: bảo tồn được chức năng thận, giải quyết được tình trạngnhiễm trùng tại chỗ, ngăn chặn khả năng nhiễm trùng lan rộng hơn như nhiễmtrùng máu, kéo dài thời gian để nâng thể trạng cho bệnh nhân từ đó tạo điềukiện cho việc giải quyết nguyên nhân Những trường hợp nguyên nhân khôngthể giải quyết được nhiều bệnh nhân đã phải lựa chọn việc dẫn lưu tạm thời

Trang 8

thành biện pháp lâu dài để tránh việc phải lọc máu ngắt quãng [1]

Dẫn lưu thận qua da và nội soi đặt sonde niệu quản là hai phương phápđược lựa chọn Trong khi dẫn lưu thận qua da có ưu điểm là tránh được gây

mê toàn thân Thủ thuật này thường được thực hiện bởi một bác sĩ chẩn đoánhình ảnh Việc nội soi đặt sonde niệu quản ngược dòng được thực hiện bởimột bác sĩ tiết niệu trong điều kiện gây mê cho phép dẫn lưu theo đường niệu,xuất viện sớm hơn và cho phép can thiệp sỏi niệu quản sau này, nếu cần Việcnội soi đặt sonde đặc biệt được lựa chọn trong các trường hợp bệnh nhânkhông có chỉ định dẫn lưu thận qua da như bệnh nhân có bệnh toàn thân nặng,rối loạn đông máu [2], [3]

Tại Bệnh Viện Bạch Mai, phương pháp nội soi đặt sonde JJ trong cáctrường hợp thận ứ nước do tắc nghẽn đã được áp dụng trong thời gian gầnđây, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá kết quả của việc đặt sonde

JJ trong điều trị thận ứ nước do tắc nghẽn

Vì thế chúng tôi thực hiện đề tài “ Kết quả soi niệu quản đặt sonde

JJ trong điều trị thận ứ nước do tắc nghẽn tại Bệnh Viện Bạch Mai ”

với mục tiêu:

1 Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân thận ứ nước do tắc nghẽn được đặt sonde JJ tại Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 6/2018-6/2019

2 Đánh giá kết quả soi niệu quản đặt sonde JJ trong điều trị thận ứ nước do tắc nghẽn tại Bệnh Viện Bạch Mai.

Trang 9

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sơ lược về giải phẫu thận, niệu quản [4]

1.1.1.Thận

Vị trí, hình thể ngoài

Bình thường mỗi người có 2 thận nằm sau phúc mạc ở hố sườn thắtlưng, dọc theo bờ ngoài cơ đái và theo hướng nghiêng chếch vào giữa tươngứng từ xương sườn 11 đến mỏm ngang đốt sống thắt lưng 3 Thận trái cao hơnthận phải khoảng 1 cm

Thận hình bầu dục dài khoảng 12 cm, rộng 6 cm, dầy 3 cm, cân nặngkhoảng 120 – 150 gam

Hình 1.1 Hình thể ngoài thận, niệu quản nhìn trước [5]

Liên quan của thận: Thận phải liên quan với gan ở trước bởi khoangMorison, với túi mật, tá tràng và góc đại tràng phải Thận trái liên quan với

Trang 10

lách ở phía trên, đuôi tụy ở phía trước, phía trong với dạ dày Thận di độngtheo nhịp thở khi hít vào thận có thể hạ thấp xuống 2 – 3 cm.

Về cấu trúc thận gồm 2 phần nhu mô thận và đài bể thận:

1.1.1.1 Nhu mô thận

Gồm có phần vỏ ở ngoài và tủy ở trong Nhu mô thận được tạo thành từcác Nephron Mỗi thận có khoảng 1,2 triệu Nephron Mỗi nephron gồmcó: cầu thận có chức năng lọc, các ống lượn và quai Henle có chức năng táihấpthu và đào thải

Vùng vỏ dầy 5 mm đến sát đáy tháp thận (tháp Malpighi) và các cột thận(cột Bertin) Vỏ thận có các cầu thận và các ống lượn

Tủy thận được tạo thành bởi các tháp thận chứa các ống góp, quai Henlevà các mạch máu

1.1.1.3 Mạch máu thận

* Động mạch thận

Tách ra từ động mạch chủ bụng ngang đốt sống L1 Động mạch thậnnằm sau tĩnh mạch đến rốn thận thì lách lên phía trên tĩnh mạch Tại rốn thận,động mạch thận chia thành động mạch trước bể thận và sau bể thận, mỗingành lại chia 3 – 4 nhánh để chạy vào thận Các động mạch phía trước bểthận cấp máu cho toàn bộ thận, động mạch sau bể thận chỉ cấp máu cho thùy

Trang 11

sau của thận Có trường hợp động mạch thận cực dưới vắt ngang qua niệuquản chèn ép niệu quản gây ứ nước thận và việc chẩn đoán nguyên nhân rấtkhó khăn thường nhầm với hẹp khúc nối bể thận - niệu quản.

Về giải phẫu, niệu quản chia thành 3 đoạn: trên, giữa, dưới Đoạn gầngồm niệu quản từ bể thận tới bờ trên xương cùng Đoạn giữa nằm giữa bờ trênvà dưới xương cùng và đoạn xa kéo dài từ bờ dưới xuong cùng tới bàngquang Niệu quản cũng có thể được chia thành đoạn bụng và đoạn chậu, vớiđoạn bụng nằm giữa bể thận và chỗ chia động mạch chậu, đoạn chậu nằmdưới chỗ chia động mạch chậu tới bàng quang

Thành niệu quản gồm lớp biểu mô ở trong cùng, lớp đáy, lớp cơ dọc ởtrong, lớp cơ vòng ở ngoài và lớp thanh mạc Lớp cơ đảm nhiệm chức năngtạo nhu động niệu quản Lớp thanh mạc bao gồm mô liên kết lỏng lẻo vàmạch máu, bạch huyết chạy dọc niệu quản

Bình thường niệu quản có 3 chỗ hẹp, đây là 3 vị trí rất quan trọng trênlâm sàng khi tiến hành nội soi niệu quản cũng như đặt sonde Chỗ hẹp đầu

Trang 12

tiên là vị trí nối bể thận niệu quản Tiếp đến là chỗ niệu quản bắt ngang quađộng mạch chậu Cuối cùng là khi niệu quản đổ vào bàng quang.

Trường hợp niệu quản đôi một phần hay hoàn toàn gây khó khăn trongquá trình đặt sonde Tỷ lẹ niệu quản đôi là 1/125

1.2 Sinh lý đường tiết niệu trên [6]

Đường tiết niệu trên là đường dẫn nước tiểu đi từ ống góp đổ vào đàithận, qua bể thận, xuống niệu quản trước khi đổ vào bàng quang Nhờ vào cấutrúc giải phẫu của thành đường niệu từ đài thận, bể thận, niệu quản tạo thànhđường đi một chiều của dòng nước tiểu nên nước tiểu được dẫn theo mộtchiều từ trên xuống dưới mà không bị trào ngược trở lại

1.2.1 Sinh lý bài tiết nước tiểu

Thận có chức năng bài tiết từ máu ra nước tiểu các thành phần chuyểnhóa của protein, ure, acid uric, creatinin và các chất nitơ khác, cùng một sốsản phẩm chuyển hóa trung gian, các chất hữu cơ như acid lactic, các thểcetonic, một phần các muối vô cơ NaCl, KCl, PO4 , các chất lạ xâm nhậpvào cơ thể và nước

Quá trình hình thành và bài tiết nước tiểu nhờ vào chức năng lọc của cầuthận và chức năng bài tiết, tái hấp thu của ống thận

1.2.2 Sự lưu chuyển của nước tiểu

Nước tiểu được sinh ra thu gom từ ống góp đổ vào đài thận Từ đây nướctiểu được di chuyển giãn cách xuống dưới do hoạt động co bóp của thành ốngdẫn niệu Sự lưu chuyển của nước tiểu xuôi dòng ở đài thận xuống niệu quản:bình thường các nhóm đài thận là khoang ảo không có thể tích để bảo vệ nhu

mô thận và nước tiểu khi vào các đài thận sẽ được lưu chuyển ngay, khôngphải là nơi trữ nước tiểu Nước tiểu khi đã xuống đài thận không trào ngược

Trang 13

trở lại ống góp do các cơ thắt một chiều sẽ đóng lại không cho trào ngược Ởđoạn này mỗi phút có từ 10 – 12 chuyển động co bóp để nước tiểu xuống bểthận Đoạn tiếp nối bể thận niệu quản thông thường đóng , khi bể thận đủnước14 tiểu sẽ kích thích cơ co bóp, lúc này cơ thắt đài bể thận đóng lại, đoạnbể thận niệu quản mở ra Bể thận co bóp 3 – 5 lần/ phút nhưng chỉ 1/3 số lần

co bóp đi tới niệu quản Sau đó, nước tiểu từ bể thận xuống niệu quản, đoạntiếp nối bể thận – niệu quản đóng lại, sóng nhu động đẩy nước tiểu đi, đoạnniệu quản phía trên luôn khép ngăn cản nước tiểu trào ngược Tốc độ củasóng nhu động từ 2 – 6 cm/phút

1.2.3 Áp lực trong đường bài xuất trên

Người ta ghi nhận có 2 loại áp lực khác nhau từ đài thận đến đoạn nốiniệu quản bàng quang:

- Áp lực cơ bản (trung bình khoảng 5 cm H20) không thay đổi trong suốtchiều dài của đường bài xuất

- Áp lực đẩy nước tiểu thay đổi theo từng đoạn khoảng 15 cm H20 ở bểthận và tăng tới 40 cm H20 ở đoạn nối niệu quản - bàng quang

1.2.4 Tính chất co bóp

- Đường bài niệu có tính chất chun giãn và khả năng co bóp Sự điều hòanhịp của nhu động niệu quản đòi hỏi sự toàn vẹn của phần đầu đường bàixuất Sự hoạt động nhịp nhàng di chuyển nước tiểu trong ống dẫn là nhờ sựvận động của hệ thống cơ thắt và các thớ cơ tạo nên thành ống tiết niệu Sựhoạt động này phụ thuộc vào bàng quang đầy hay rỗng nước tiểu, có cản trởđường tiết niệu hay không Khi có vật cản trên đường tiết niệu, áp lực cầnthiết đẩy nước tiểu cao, nước tiểu phía trên bị ứ đọng lại, hoạt động cơ thắtgiảm, trương lực cơ giảm và nếu vật cản bít tắc hoàn toàn đường niệu thìtrương lực cơ càng mất đi và dần dần sự co bóp cơ thành ống dẫn mất hẳn,

Trang 14

đường ống dẫn niệu giãn và mất trương lực gây ứ nước ở thận và niệu quản.Hiện tượng này có thể hồi phục nếu nguyên nhân ứ tắc được giải quyết sớm.

1.2.5 Vai trò của hệ thần kinh trong hoạt động sinh lý của đường bài xuất

Người ta nhận thấy sự phong phú của các đầu mút thần kinh giao cảm ởthành ống Sự nhạy cảm với kích thích Adrenergique của niệu quản chứng tỏvai trò của hệ thần kinh lên hệ thống điều nhịp

Kích thích thần kinh tạng, đám rối thận thấy tăng nhu động của niệuquản 1/3 trên

1.3 Những tổn thương tại thận do tắc nghẽn đường tiết niệu trên [1]

1.3.1 Sinh lý bệnh của tắc nghẽn đường tiết niệu trên

Trong tắc nghẽn đường tiết niệu trên, dù ở niệu quản cũng sẽ gây ứ nướcniệu quản và đài bể thận Ứ nước gây tăng áp lực làm đài bể thận giãn, nhu

mô thận bị ép dẹt lại Khi có nhiễm khuẩn tiết niệu kèm theo làm cho nhu môthận bị phá hủy và xơ hóa nhanh

Năm 1934, Hinman nghiên cứu xác định thời gian tắc niệu quản và ảnhhưởng đến chức năng thận trên thực nghiệm Thí nghiệm tiến hành trên chósau khi thắt niệu quản một bên 2 tuần thì khi tiến hành phục hồi lưu thôngniệu quản thắt và cắt thận bên đối diện, chức năng thận bên thắt niệu quảnphục hồi gần như bình thường Sau thắt 3 tuần cũng tiến hành như vậy thìthận phục hồi 50% chức năng và sau 6 tuần thận suy không phục hồi được.Khác với sự tắc nghẽn hoàn toàn, trong trường hợp tắc nghẽn một phầnbể thận sẽ bị phình to, có thể chứa đến 2 – 3 lít nước tiểu, tuy nhiên cấu trúcvà chức năng vỏ thận lại được bảo tồn tương đối Dòng máu qua thận, mứclọc cầu thận chỉ giảm nhẹ hoặc vừa Tuy nhiên tiến triển theo thời gian dài,hậu quả cuối cùng của thận ứ nước, ứ mủ là suy thận không hồi phục, do cácđơn vị chức năng của thận xơ teo

Trang 15

1.3.2 Giải phẫu bệnh trong tắc nghẽn đường tiết niệu trên [7], [8]

1.3.2.1 Đại thể

Tắc nghẽn đường tiết niệu trên, nếu tắc hoàn toàn gây nên giãn đài bểthận tăng dần trong những tuần đầu Trọng lượng của thận tăng do phù nềthậm chí có khi tổ chức thận teo đi Sau 4 – 8 tuần trọng lượng nhu mô thậngiảm đi do sự teo ưu thế hơn sự phù nề Thận bị teo nhìn có màu xanh đencho những vùng thiếu máu, hoại tử và tắc mạch

1.3.2.1 Vi thể

Sự thay đổi vi thể tăng dần trong thận ứ nước đã được chứng minh trênchó (Hinman và Morison 1924) trên thỏ (Demming 1951, Hinman 1945,Davis 1959) Trong những ngày đầu tiên của tắc nghẽn các nhu mô thận bị dẹtlại cùng ống lượn xa giãn Một số ngày sau ống lượn xa giãn ra và teo dần đi.Ngày thứ 14 thấy giãn tăng dần của ống góp và ống lượn xa cùng sự teo đicủa biểu mô lát của ống lượn gần Ngày thứ 28 độ dầy của tủy thận chỉ còn50% cùng sự tiếp tục teo đi và giãn của ống lượn gần và ống góp Vùng vỏmỏng hơn cùng sự teo đi của ống lượn gần Sau tám tuần nhu mô còn dầy 1

cm, còn tổ chức liên kết và tiểu cầu thận sau 28 ngày tắc ghi nhận có sự thayđổi của tiểu cầu thận

1.4 Bệnh thận ứ nước [9], [10]

Thận ứ nước là hậu quả của tắc đường dẫn niệu trong thận hoặc ngoàithận, làm cho đài bể thận và niệu quản giãn to chứa đầy nước tiểu kèm theocó teo nhu mô thận

Trong những giờ đầu và 1 – 2 tuần đầu thận bị ứ nước cấp tính, chứcnăng thận vẫn được bảo tồn, khi tình trạng tắc nghẽn kéo dài thận sẽ bị ứnước mãn tính dẫn đến suy chức năng thận mạn tính Nếu có kết hợp nhiễmkhuẩn nặng sinh mủ thận sẽ bị ứ mủ

Trang 16

Tắc đường dẫn niệu có thể một phần hoặc hoàn toàn, một bên hoặc haibên Tắc đường dẫn niệu 2 bên hoặc một bên ở BN chỉ có một thận tiên lượngnặng hơn ở BN có 2 thận Tắc đường dẫn niệu kết hợp với nhiễm khuẩn đedọa đến chức năng thận nhiều hơn là không có nhiễm khuẩn.

Ở trẻ em, tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ là ngang nhau Ở người lớn độtuổi từ 20 – 60 thì nữ giới mắc nhiều hơn nam chủ yếu do thai sản và ung thư

tử cung, trên 60 tuổi thì nam nhiều hơn nữ do các bệnh về tiền liệt tuyến

1.4.1 Một số nguyên nhân gây ứ nước

Thận ứ nước có thể do những cản trở cơ học từ bên trong hoặc bên ngoàicũng như những tổn thương chức năng đơn thuần không liên quan đến sự tắcnghẽn cố định trong hệ thống dẫn niệu

Tắc cơ học có thể gặp ở bất cứ đoạn nào của đường dẫn niệu, từ đài thậnđến lỗ ngoài của niệu đạo, những nơi hẹp như khúc nối bể thận niệu quản vàniệu quản bàng quang, lỗ niệu quản, cổ bàng quang là những vị trí thường haybị tắc Khi tắc nghẽn ở phía trên bàng quang gây ra thận ứ nước và giãn niệuquản một bên, tắc từ bàng quang trở xuống sẽ gây thận ứ nước hai bên

Ở trẻ em các dị tật bẩm sinh chiếm ưu thế bao gồm hẹp khúc nối bể thậnniệu quản, niệu quản sau tĩnh mạch chủ, van niệu đạo sau

Ở người lớn, tắc nghẽn đường tiểu chủ yếu do các nguyên nhân mắc phảinhư:

+ Sỏi thận, sỏi niệu quản là nguyên nhân hay gặp, ngoài ra còn có cácnguyên nhân khác như hẹp niệu quản, u niệu quản, cục máu đông

+ Do chấn thương niệu quản trong phẫu thuật ở vùng chậu hoặc đạitràng

+ Các khối u bên ngoài chèn ép vào niệu quản như ung thư cổ tử cunghay đại tràng, u lympho sau phúc mạc, viêm nhiễm quanh niệu quản

Trang 17

+ Xơ hóa sau phúc mạc là một quá trình chưa rõ nguyên nhân thườnggặp ở đàn ông trung niên và thường dẫn đến tắc niệu quản 2 bên

+ Hồi lưu bàng quang niệu quản hay xảy ra ở trẻ em hơn ở người lớn vàcó thể dẫn đến niệu quản ứ nước hoặc thận ứ nước ở một bên hoặc cả 2 bên

1.4.2 Sinh lý bệnh của ứ nước

Ngay sau khi bị tắc áp suất ở ống thận và bể thận tăng cao gây giãn bểthận và ống thận làm núm thận dẹt lại Hậu quả của hiện tượng này sẽ làm:

- Giảm mức lọc cầu thận

- Phá hủy phức hợp liên kết giữa các tế bào ống thận

- Ức chế tái hấp thu natri, kali và sự bài tiết ion hydro ở ống lượn xa

- Thận tăng tiết renin gây tăng huyết áp

- Thận tăng sản xuất Thromboxan A2 gây co mạch thận

Do những biến loạn về cơ giới, nội tiết, thận bị thiếu máu nặng, nhiềunephron chức năng ngừng hoạt động Các nephron còn lại giảm mức lọc,giảm khả năng tái hấp thu natri, kali, hydro, giảm khả năng cô đặc của ốngthận Ống thận bị teo dần, tủy thận bị hủy hoại, chức năng thận bị giảm sút vàthận suy sẽ không hồi phục

1.4.3 Chẩn đoán thận ứ nước

1.4.3.1 Chẩn đoán thận ứ nước

1.4.3.1.1 Lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng thận ứ nước, ứ mủ thường nghèo nàn tùy thuộc vàosự tắc nghẽn là cấp tính hay mạn tính, tắc một bên hay hai bên, vị trí tắc thấphay cao, có nhiễm khuẩn kết hợp hay chỉ ứ nước đơn thuần Nhiều trường hợpbệnh tiến triển âm thầm chỉ tình cờ phát hiện khi siêu âm hay khám sức khỏe

Trang 18

định kì, hoặc bệnh nhân đi khám vì bệnh khác như nhiễm khuẩn tiết niệu, suythận.

Nhìn chung triệu chứng hay gặp nhất là đau mỏi, tức hông lưng do đài bểthận, bao thận bị căng giãn Đau thường khởi phát khu trú ở vùng mạng sườnhay hông lưng rồi lan xuống, ra sau Có thể đau 2 bên do tắc nghẽn cả 2 bênvà đau tăng lên khi có nhiễm trùng niệu

Sốt là triệu chứng thường gặp có lúc rét run từng đợt, là những dấu hiệuchỉ xuất hiện khi có nhiễm khuẩn

Bệnh nhân có thể bị rối loạn tiểu tiện: Đái buốt, đái rắt, đái máu, đái đụcnếu có nhiễm khuẩn kèm theo

Thay đổi số lượng nước tiểu: Lượng nước tiểu có thể tăng > 2 lít/ ngày

do rối loạn chức năng cô đặc nước tiểu, hoặc có khi bệnh nhân bị thiểu niệu <500ml/ngày, vô niệu < 100 ml/ 24h do tắc nghẽn niệu quản hoàn toàn cả haibên

Tăng huyết áp: Khoảng 30% bệnh nhân bị tăng huyết áp khi thận bị ứnước, huyết áp chỉ tăng nhẹ hoặc trung bình do thận tăng tiết renin hoặc cóthể do giữ muối giữ nước

Trong trường hợp bệnh nhân đã có biểu hiện của suy thận mạn có thể cóphù, da xanh, niêm mạc nhợt biểu hiện một tình trạng thiếu máu

Khối thận to là dấu hiệu thường gặp, do giãn đài bể thận làm thận to lêncó thể phát hiện được qua khám lâm sàng

1.4.3.1.2 Cận lâm sàng

Một số phương pháp giúp cho việc chẩn đoán xác định

Cùng với sự tiến bộ của khoa học hiện đại nói chung và ngành chẩn đoánhình ảnh nói riêng việc chẩn đoán xác định cũng như chẩn đoán nguyên nhân

Trang 19

thận ứ nước trở nên dễ dàng Tùy theo từng tình trạng bệnh, điều kiện kinh tế,trang thiết bị Y tế mà có thể ứng dụng các phương pháp chẩn đoán hình ảnhsao cho phù hợp, đi từ đơn giản đến phức tạp.

Chẩn đoán hình ảnh trong tắc nghẽn đường tiết niệu trên có giá trị quyếtđịnh chẩn đoán, thái độ xử trí và chỉ định điều trị

* Chụp hệ tiết niệu không chuẩn bị

Thường được đặt ra đầu tiên để xác định nguyên nhân tắc nghẽn, trênphim X quang chuẩn có thể thấy được bóng thận to, sỏi cản quang ở thận,niệu quản, bàng quang Cần thụt đại tràng cho bệnh nhân trước khi chụp đểtránh các hình ảnh nhầm lẫn do bã thức ăn, bóng hơi của đại tràng

Phát hiện được hơn 90% sỏi tiết niệu cản quang gây tắc đường tiết niệutrên, đặc biệt với hình dạng sỏi tròn như trứng chim ở thận và niệu quản làdấu hiệu gợi ý rất quan trọng hướng tới việc phát hiện dị tật bẩm sinh kết hợp

* Siêu âm hệ tiết niệu

Là phương pháp tin cậy và hiệu quả để thăm dò thận, là phương phápkhông xâm lấn, không sử dụng thuốc cản quang, đơn giản, rẻ tiền, có thể lặplại nhiều lần và còn cho phép hướng dẫn chọc dò dẫn lưu thận

Trong thận ứ nước siêu âm cho phép đánh giá kích thước thận, độ dầycủa nhu mô, mức độ ứ nước thận, tình trạng dịch ứ đục hay đồng nhất, pháthiện được một số nguyên nhân tắc nghẽn như sỏi, khối u đường tiết niệu haybên ngoài chèn ép vào, các dị dạng bẩm sinh ở đường tiết niệu Tuy nhiên,hạn chế của siêu âm: khó đánh giá được toàn bộ niệu quản

* Chụp cắt lớp vi tính (Computerized Tomogaphy Scan – CT Scan)Chụp CT scan có độ nhậy cao 95 – 98% và độ đặc hiệu 96 – 100% Nó đặcbiệt chính xác trong chẩn đoán ứ nước thận – niệu quản, vị trí giãn, độ dầycủa thành niệu quản, vị trí, kích thước sỏi, dấu hiệu của tắc nghẽn có thể được

Trang 20

đánh giá mà không cần thuốc cản quang Chụp CT Scan cho phép chẩn đoáncác bệnh lý khác như khối u sau phúc mạc, khối u vùng tiểu khung, xơ hóasau phúc mạc, hạch di căn ung thư… một cách chính xác CT Scan còn hướngdẫn cho chọc dò thận an toàn và hiệu quả.

*Phương pháp thăm dò chức năng thận (Chụp xạ hình chức năng thậnbằng Tc - 99m – DTPA)

Chỉ định xạ hình chức năng thận trong những trường hợp sau:

- Đánh giá chức năng 2 thận hoặc từng thận riêng rẽ

- Đánh giá và theo dõi các bệnh lý ở thận như: Tăng huyết áp do thận,viêm đài bể thận, viêm cầu thận, hoại tử ống thận, suy thận cấp, suy thậnmạn…

- Đánh giá và theo dõi tắc đường tiết niệu

- Nghi thận 1 bên

- Chấn thương thận

- Khối bất thường trong thận (u thận, nang thận)

- Hẹp động mạch thận

- Đánh giá và theo dõi hình thể, chức năng thận sau ghép thận

Chống chỉ định:

- Bệnh nhân đang dùng các thuốc ức chế men chuyển

- Bệnh nhân đang có thai hoặc cho con bú.24

Xạ hình chức năng thận là 1 kỹ thuật chẩn đoán đơn giản, dễ tiến hành,rất có giá trị trong các bệnh lý của thận, không chỉ cung cấp các thông tin vềchức năng riêng rẽ của từng thận qua phân tích định lượng và định tính màcòn cho các thông tin về vị trí, kích thước và giải phẫu thận Xét nghiệm nàycũng rất có ích trong trường hợp bệnh nhân mẫn cảm với thuốc cản quang cóiod hoặc ure máu cao mà không thể chụp X quang được

Trang 21

1.4.4 Chỉ định điều trị thận ứ nước do tắc nghẽn [1], [7]

Tùy thuộc vào tình trạng thận ứ nước, ứ mủ ở độ nào, nguyên nhân gây ứnước và chức năng thận mà có phương pháp điều trị khác nhau nhưng nguyêntắc chung là loại bỏ yếu tố gây tắc nghẽn như phẫu thuật mổ lấy sỏi, tạo hìnhcác dị dạng bẩm sinh…

1.4.4.1 Điều trị bảo tồn

Khi thận đối diện có nguy cơ không bảo đảm được chức năng bài tiếthoặc thận bị bệnh còn có phần nào phục hồi nên cố gắng điều trị bảo tồn, giảiquyết nguyên nhân gây ứ tắc đường niệu

Có thể áp dụng các phương pháp sau đây:

- Dẫn lưu thận tạm thời không lấy sỏi

- Dẫn lưu thận kết hợp với lấy sỏi

- Dẫn lưu thận kết hợp tạo hình

- Lấy sỏi đơn thuần…

1.4.4.2 Chỉ định cắt thận

Khi thận bị phá hủy nhiều hoặc mất chức năng hoàn toàn, phẫu thuật cắtbỏ thận là phương pháp tốt nhất và tránh cho bệnh nhân có biến chứng Tuynhiên trước khi cắt thận cần cân nhắc:

- Nếu đánh giá thận bên bệnh còn chức năng bằng 1/3 thận bên lành hoặctrong trường hợp thận bên lành cũng bị tổn thương, chức năng kém thì cân25nhắc điều trị bảo tồn Vì như vậy tổng thể chức năng thận cả hai bên còn đượcbảo vệ tốt hơn

- Trường hợp thận bị bệnh là thận duy nhất phải cân nhắc không đượccắt thận vội vã

Trang 22

1.5 Sonde niệu quản

Sonde niệu quản là một trong những phương pháp thường được sử dụngnhất bởi các chuyên gia thận tiết niệu Sonde niệu quản được đặt dưới hướngdẫn của nội soi bàng quang tại phòng mổ Sonde niệu quản giúp giải phóngtắc nghẽn, thúc đẩy quá trình lành niệu quản sau phẫu thuật và hỗ trợ xác địnhniệu quản trong quá trình phẫu thuật khung chậu [11], [12]

1.5.1 Chỉ định

Sonde niệu quản thiết lập lại hoặc duy trì tình trạng mở của niệu quản.Sonde niệu quản gián tiếp làm giãn niệu quản, nước tiểu chảy qua cả trungtâm và xung quanh sonde, tạo thuận lợi cho sự di chuyển của các mảnh vụn.Ban đầu, đặt sonde làm tăng nhu động niệu quản, tuy nhiên theo thời gian, tầnsuất và biên độ nhu động niệu quản sẽ giảm dần [3], [12], [13] Chỉ định đặtsonde niệu quản trong các trường hợp sau:

Tắc nghẽn niệu quản [14], [15], [16], [17]

Tắc nghẽn niệu quản do sỏi thận, u hoặc xơ hóa sau phúc mạc có thể đikèm hoặc không kèm theo nhiễm khuẩn tiết niệu, suy thận Bệnh nhân tắc nghẽncó nhiễm trùng đường tiểu cần giải phóng chèn éo bằng cách đặt sonde niêuquản hoặc dẫn lưu thận qua da Cả hai phương pháp đều làm giảm tắc nghẽn vànhiễm trùng Hai thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên so sánh hai phương pháp thấyrằng không có sự khác nhau về tỷ lệ hồi phục sau đặt dẫn lưu

Sonde niệu quản thường được lựa chọn đầu tiên vì nó ít xâm lấn và tỷ lệchảy máu thấp hơn so với phương pháp đặt dẫn lưu thận qua da Tuy nhiêntrong những trường hợp không thể đặt dẫn lưu qua nội soi hoặc bệnh nhân cầnđiều trị tán sỏi qua da trong tương lai thì dẫn lưu thận qua da lại dược ưu tiênlựa chọn

Nối niệu quản

Sonde được đặt sau phẫu thuật nối niệu quản để thúc đẩy sự tái tạo vàđảm bảo dòng chảy liên tục Phẫu thuật niệu quản được thực hiện trong

Trang 23

trường hợp: chấn thương niệu quản, phẫu thuật thận, ghép thận…

Dự phòng [18], [19]

Sonde niệu quản dự phòng được đặt:

Trước khi tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL) nếu bệnh nhân có sỏi lơn > 1,5

cm để tránh tắc nghẽn niệu quản

Sau khi nội soi niệu quản phức tạp: phòng viêm và nề niệu quản

Trước phẫu thuật ví dụ: phẫu thuật hệ sinh dục, phẫu thuật trực tràngđại tràng sigma, phẫu thuật động mạch chậu: xác định niệu quản trong quátrình phẫu thuật

Một nghiên cứu toàn cầu tren 10000 bệnh nhân sỏi niệu quản hoặc sỏithận, đặt sonde niệu quả trước phẫu thuật làm tăng tỷ lệ hết sỏi ( 79,6% với72,9%) và giảm tỷ lệ biến chứng ( 10,6% so với 13,2%) [20]

Đặt sonde dự phòng thường quy không được khuyến cáo sau nội soi niệuquản thông thường, bệnh nhân và bác sĩ sẽ cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ

1.5.2 Đặc điểm các loại sonde niệu quản [21] [17], [22], [23], [24], [25], [26], [27]

Sonde niệu quản là một ống với rất nhiều lỗ bên cạnh Hai đầu của sondeđược thiết kế cuộn xoắn để tránh di lệch sonde

Thiết kế sonde nhằm mục đích tạo sự thoải mái cho bệnh nhân, dễ điềukhiển sonde và giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu Sử dụng dây nối với đầudưới của sonde tạo thuận lợi trong việc rút sonde mà không cần phải nội soibàng quang

1.5.2.1 Chất liệu

Trong quá trình phát triển sonde, có rất nhiều chất liệu được sử dụng.Đầu tiên, sonde được làm từ hợp chất polyethylene và polyurethane, tuy nhiênchất liệu này quá cứng, khiến bệnh nhân không thoải mái, gây tổn thương,loét niêm mạc niệu quản

Silicone là chất trơ, linh hoạt và dẻo, do đó là một trong những chất phù

Trang 24

hợp để làm sonde Tuy nhiên silicone có xu hướng méo mó khi bị đè ép vàthỉnh thoảng khó đưa qua chỗ hẹp

Sonde sinh học sẽ bị tiêu đi từ từ và lý tưởng là sẽ làm giảm nhu cầu rútsonde Tuy nhiên, sự tiêu không hoàn toàn sonde có thể gây ra tắc niệu quảnvà trở thành tác nhân gây nhiễm khuẩn tiết niệu

Sonde kim loại dược sử dụng để làm giảm tắc nghẽn khi cần lực xoáy đểduy trì sự mở của niệu quản, đặc biệt trong trường hợp nguyên nhân do u, cóthể gây chít hẹp từ bên trong hoặc đè ép từ ngoài Sonde kim loại có thểchống lại đè ép từ ngoài tốt hơn sonde thông thường

Bốn loại sonde kim loại được sử dụng bao gồm: tự giãn nở, giãn nở bằngbóng, sonde phủ thuốc và sonde giãn nở bằng nhiệt Sonde tự giản nở hoặcgiãn nở bằng bóng được dùng ngắn ngày Sonde phủ thuốc và sonde giãn nhởbằng nhiệt đang được sử dụng hiện nay có thể lưu dài ngày

1.5.2.2 Lớp phủ

Sonde thường được phủ một lớp để tăng chức năng, tăng khả năng dungnạp của bệnh nhân và giảm tỷ lệ biến chứng Hydrogel, một polymer chốngnước thường được dùng Lớp áp này làm giảm tỷ lệ lắng động, tăng thời gian

sử dụng của sonde Một số chất khác được dùng để phủ sonde: heparin, bạcnitrate, ofloxacin

1.5.2.3 Kích cỡ, hình dáng

Thiết kế sonde thường gặp nhất có hai đầu cuộn xoắn để hạn chế di lệchsonde Những loại sonde khác gồm: sonde không xoắn, sonde có đuôi Sondecó đuôi mềm, móc xa có đường kính bé hơn được thiết kế để giảm thiểu kíchthích bàng quang

Chiều dài sonde phụ thuộc vào chiều cao bệnh nhân Sonde 24 hoặc 26

cm thường được sử dụng cho người lớn

Đường kính sonde từ 4-7 Fr, hay dùng nhất là 6 Fr

Trang 25

1.5.3 Quy trình đặt sonde niệu quản [28] [29], [30], [31], [32]

1.5.3.1 Chuẩn bị

Aspirin, liệu pháp chống ngưng tập tiểu cầu, chống đông không cầndùng trước khi đặt sonde Phân tích nước tiểu trước khi đặt và sau khi rútsonde vì sonde gây tăng nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu có thể dẫn tới nhiễmkhuẩn huyết Với những bệnh nhân phân tích nước tiểu dương tính, can thiệptiết niệu sẽ bị hoãn loại cho tới khi điều trị kháng sinh thích hợp phân tíchnước tiểu âm tính

Kháng sinh: dự phòng nhiễm trùng được khuyến cáo cho tất cả các thủthuật có nội soi bàng quang bao gồm đặt sonde niệu quản để giảm thiểu nguy

cơ nhiễm trùng Không có bằng chứng trực tiếp ủng hộ dự phòng khác sinhtrước đặt sonde niệu quản

Khuyến cáo dùng kháng sinh:

- Bệnh nhân có phân tích nước tiểu hoặc cấy nước tiểu đặc biệt có dấuhiệu lâm sàng gợi ý Kỹ thuật nên được trì hoãn cho tới khi được điều trị thíchhợp

- Thông thường, liều duy nhất fluoroquinolone trước khi thực hiện kỹthuật một giờ

Trang 26

1.5.3.3 Kỹ thuật rút sonde

Với sonde có dây, bệnh nhân có thể tự rút tại nhà hoặc tới cơ sở y tế.Với sonde không có dây, bệnh nhân cần tới cơ sở y tế để rút sonde Đặt tư thế bệnh nhân thích hợp

Nội soi bàng quang

Xác định đầu dưới của sonde

1.5.4 Biến chứng [33], [34], [35], [36], [37], [38]

1.5.4.1 Tiểu máu: Tiểu máu vi thể gặp ở hầu hết bệnh nhân đặt sonde niệu

quản Trong một số trường hợp, tiểu máu thoáng qua có thể gặp Nguyênnhân là do kích thích niêm mạc bàng quang và sẽ được giải quyết sau khi rútsonde

1.5.4.2 Nhiễm khuẩn tiết niệu

Bệnh nhân đặt sonde niệu quản có nguy cơ bị nhiễm khuẩn tiết niệu.Trước khi đặt hoặc rút sonde, tất cả bệnh nhân nên được dùng kháng sinh dựphòng để giảm nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu Khi có triệu chứng nhiễmtrùng sau đặt sonde, kháng sinh được sử dụng để điều trị khác với kháng sinhdự phòng

Được coi như một dị vật, sonde niệu quản thường mang theo vi khuẩn

Vi khuẩn từ sonde niệu quản thường xảy ra sau khoảng 2 tuần đặt sonde vàbiểu hiện trước khi có vi khuẩn trong nước tiểu Liệu trình điều trị kháng sinhngắn ( 2-3 ngày) làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn sonde Tuy nhiên dùng kháng

Trang 27

sinh dài ngày không có lợi ích cho những trường hợp nhiễm khuẩn khôngtriệu chứng

Rút sonde sớm là yếu tốt quan trọng ngăn ngừa biến chứng nhiễm trùngsonde do thời gian lưu sonde dài liên quan tới tăng nguy cơ nhiễm khuẩn tiếtniệu và nhiễm khuẩn huyết Bệnh nhân đái tháo đường và suy thận mạn cónguy cơ cao nhiễm khuẩn tiết niệu và những bệnh nhân này nên lưu sondetrong thời gian ngắn hơn và theo dõi cẩn thận biến chứng nhiễm trùng

1.5.4.3 Di lệch sonde

Sonde được thiết kế với hai đầu cuộn xoắn giúp giảm thiểu nguy cơ dilệch sonde Tỷ lệ di lệch sonde khoảng 4% Chiều dài sonde không thích hợplà nguyên nhân thường gặp nhất dầy di lệch sonde ở đầu gần, yêu cầu nội soiniệu quản để đặt lại sonde Phải lựa chọn sonde kích cỡ phù hợp với vị tríchính xác: hai cuộn xoắn nằm tại ví trí bể thận và bàng quang

Bệnh nhân thường có triệu chứng của tắc nghẽn đường tiểu biểu hiệnđau hông lưng hoặc nhiễm khuẩn tiết niệu Khi nghi ngờ di lệch sonde, cầnchụp phim bụng không chuẩn bị để xác định vị trí sonde

Quản lý sonde bị lắng đọng

Lắng đọng thường xuất hiện của đầu gần và đầu xa của sonde Phimbụng tư thế nằm ngửa được chỉ định trước khi rút sonde để xác định vùnglắng đọng ở những bệnh nhân lưu sonde dài ngày Nếu xuất hiện vùng lắng

Trang 28

đọng cần rút sonde có gây mê

1.6 Các nghiên cứu về đặt stent JJ trong điều trị thận ứ nước do tắc nghẽn trên thế giới và Việt Nam

1.6.1 Thế giới

Mặc dù việc đặt stent JJ niệu quản đã được thực hiện từ năm 1967, việcđánh giá kết quả của việc đặt sonde JJ dẫn lưu thận trong các trường hợp thận

ứ nước do tắc nghẽn vẫn chưa được nghiên cứu một cách rộng rãi

Đánh giá đặt sonde niệu quản có thành công hay không thường dựa vào kếtquả sớm và kết quả muộn Tỷ lệ thành công của đặt sonde niệu quản thường ởkhoảng 84,6-100% bao gồm cả các trường hợp tắc nghẽn do trong hay ngoài niệuquản Tỷ lệ thất bại thay đổi tuỳ theo loại sonde, với 16-44% thất bại cho sondepolymer và 0-44% thất bại cho sonde bằng kim loại [39], [14]

Cũng như việc đánh giá tỷ lệ đặt sonde niệu quản thành công hay không,việc đánh giá biến chứng của đặt sonde niệu quản cũng dựa trên thời giansớm hay muộn Goldsmith và cộng sự báo cáo 3 trong số 25 trường hợp ghinhận biến chứng chảy máu sau đặt sonde niệu quản bằng kim loại Di lệchsonde niệu quản thường xảy ra 1-4% ở tất cả các loại sonde niệu quản, di lệchđầu xa thường hay xảy ra hơn đầu gần (3-4% so với 2%) Khoảng 70% bệnhnhân sau khi đặt sonde niệu quản xuất hiện triệu chứng đau cần thuốc giảmđau hỗ trợ, trong đó 15% xuất hiện cơn đau quặn thận [14], [21], [40]

Biến chứng muộn ghi nhận sau hàng tuần, hàng tháng của việc đặt sondeniệu quản bao gồm nhiễm trùng, khó khăn trong việc thay thế sonde niệuquản, hư hỏng sonde niệu quản [14]

1.6.2 Việt Nam

Tại Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá kết quả của việc đặtstent JJ trong điều trị thận ứ nước

Ngày đăng: 28/10/2020, 08:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Fiuk J., Bao Y., Calleary J.G. và cộng sự. (2015). The use of internal stents in chronic ureteral obstruction. J Urol, 193(4), 1092–1100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Urol
Tác giả: Fiuk J., Bao Y., Calleary J.G. và cộng sự
Năm: 2015
15. Sountoulides P., Pardalidis N., và Sofikitis N. (2010). Endourologic management of malignant ureteral obstruction: indications, results, and quality-of-life issues. J Endourol, 24(1), 129–142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Endourol
Tác giả: Sountoulides P., Pardalidis N., và Sofikitis N
Năm: 2010
16. Borofsky M.S., Walter D., Shah O. và cộng sự. (2013). Surgical decompression is associated with decreased mortality in patients with sepsis and ureteral calculi. J Urol, 189(3), 946–951 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Urol
Tác giả: Borofsky M.S., Walter D., Shah O. và cộng sự
Năm: 2013
17. Izumi K., Mizokami A., Maeda Y. và cộng sự. (2011). Current outcome of patients with ureteral stents for the management of malignant ureteral obstruction. J Urol, 185(2), 556–561 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Urol
Tác giả: Izumi K., Mizokami A., Maeda Y. và cộng sự
Năm: 2011
18. Chandhoke P.S., Barqawi A.Z., Wernecke C. và cộng sự. (2002). A randomized outcomes trial of ureteral stents for extracorporeal shock wave lithotripsy of solitary kidney or proximal ureteral stones. J Urol, 167(5), 1981–1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Urol
Tác giả: Chandhoke P.S., Barqawi A.Z., Wernecke C. và cộng sự
Năm: 2002
19. Venkatesh R., Landman J., Minor S.D. và cộng sự. (2005). Impact of a double-pigtail stent on ureteral peristalsis in the porcine model: initial studies using a novel implantable magnetic sensor. J Endourol, 19(2), 170–176 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Endourol
Tác giả: Venkatesh R., Landman J., Minor S.D. và cộng sự
Năm: 2005
20. Assimos D., Crisci A., Culkin D. và cộng sự. (2016). Preoperative JJ stent placement in ureteric and renal stone treatment: results from the Clinical Research Office of Endourological Society (CROES) ureteroscopy (URS) Global Study. BJU Int, 117(4), 648–654 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BJU Int
Tác giả: Assimos D., Crisci A., Culkin D. và cộng sự
Năm: 2016
21. Liatsikos E.N., Karnabatidis D., Katsanos K. và cộng sự. (2009).Ureteral metal stents: 10-year experience with malignant ureteral obstruction treatment. J Urol, 182(6), 2613–2618 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Urol
Tác giả: Liatsikos E.N., Karnabatidis D., Katsanos K. và cộng sự
Năm: 2009
23. Sountoulides P., Kaplan A., Kaufmann O.G. và cộng sự. (2010). Current status of metal stents for managing malignant ureteric obstruction. BJU Int, 105(8), 1066–1072 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BJUInt
Tác giả: Sountoulides P., Kaplan A., Kaufmann O.G. và cộng sự
Năm: 2010
24. Modi A.P., Ritch C.R., Arend D. và cộng sự. (2010). Multicenter experience with metallic ureteral stents for malignant and chronic benign ureteral obstruction. J Endourol, 24(7), 1189–1193 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Endourol
Tác giả: Modi A.P., Ritch C.R., Arend D. và cộng sự
Năm: 2010
25. Goldsmith Z.G., Wang A.J., Baủez L.L. và cộng sự. (2012). Outcomes of metallic stents for malignant ureteral obstruction. J Urol, 188(3), 851–855 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Urol
Tác giả: Goldsmith Z.G., Wang A.J., Baủez L.L. và cộng sự
Năm: 2012
26. Hendlin K., Korman E., và Monga M. (2012). New metallic ureteral stents: improved tensile strength and resistance to extrinsic compression.J Endourol, 26(3), 271–274 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Endourol
Tác giả: Hendlin K., Korman E., và Monga M
Năm: 2012
27. Lingeman J.E., Schulsinger D.A., và Kuo R.L. (2003). Phase I trial of a temporary ureteral drainage stent. J Endourol, 17(3), 169–171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Endourol
Tác giả: Lingeman J.E., Schulsinger D.A., và Kuo R.L
Năm: 2003
28. Wolf Jr J.S., Bennett C.J., Dmochowski R.R. và cộng sự. (2008). Best practice policy statement on urologic surgery antimicrobial prophylaxis.J Urol, 179(4), 1379–1390 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Urol
Tác giả: Wolf Jr J.S., Bennett C.J., Dmochowski R.R. và cộng sự
Năm: 2008
29. Christiano A.P., Hollowell C.M.P., Kim H. và cộng sự. (2000). Double- blind randomized comparison of single-dose ciprofloxacin versus intravenous cefazolin in patients undergoing outpatient endourologic surgery. Urology, 55(2), 182–185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urology
Tác giả: Christiano A.P., Hollowell C.M.P., Kim H. và cộng sự
Năm: 2000
30. Sivalingam S., Tamm-Daniels I., và Nakada S.Y. (2013). Office-based ureteral stent placement under local anesthesia for obstructing stones is safe and efficacious. Urology, 81(3), 498–502 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urology
Tác giả: Sivalingam S., Tamm-Daniels I., và Nakada S.Y
Năm: 2013
32. Nourparvar P., Leung A., Shrewsberry A.B. và cộng sự. (2016). Safety and efficacy of ureteral stent placement at the bedside using local anesthesia. J Urol, 195(6), 1886–1890 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Urol
Tác giả: Nourparvar P., Leung A., Shrewsberry A.B. và cộng sự
Năm: 2016
33. Falahatkar S., Hemmati H., và Gholamjani Moghaddam K. (2012).Intracaval migration: an uncommon complication of ureteral Double-J stent placement. J Endourol, 26(2), 119–121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Endourol
Tác giả: Falahatkar S., Hemmati H., và Gholamjani Moghaddam K
Năm: 2012
34. Paick S.H., Park H.K., Oh S.-J. và cộng sự. (2003). Characteristics of bacterial colonization and urinary tract infection after indwelling of double-J ureteral stent. Urology, 62(2), 214–217 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urology
Tác giả: Paick S.H., Park H.K., Oh S.-J. và cộng sự
Năm: 2003
35. Kehinde E.O., Rotimi V.O., Al-Hunayan A. và cộng sự. (2004).Bacteriology of urinary tract infection associated with indwelling J ureteral stents. J Endourol, 18(9), 891–896 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Endourol
Tác giả: Kehinde E.O., Rotimi V.O., Al-Hunayan A. và cộng sự
Năm: 2004

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w