Theo một nghiên cứu của Nguyễn ĐỗHuy và cộng sự 2013 đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em trong bệnh viện đakhoa tỉnh Hải Dương với tỷ lệ suy dinh dưỡng dựa trên các số đo nhân trắc lần
Trang 1NGUYỄN THỊ MINH TRANG
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ TỪ 6 ĐẾN 60 THÁNG TUỔI
VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH NUÔI DƯỠNG TRẺ CỦA BÀ MẸ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Hà Nội – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ MINH TRANG
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ TỪ 6 ĐẾN 60 THÁNG TUỔI
VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH NUÔI DƯỠNG TRẺ CỦA BÀ MẸ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Chuyên ngành: Dinh dưỡng
Mã số: 8720401
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS Nguyễn Quang Dũng
Hà Nội – 2019
MỤC LỤCMỤC LỤC 1
Trang 3DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT 4
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 KHÁI NIỆM VỀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ SUY DINH DƯỠNG3 1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN 11
1.3 KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ NUÔI DƯỠNG TRẺ CỦA BÀ MẸ 16
1.5 VÀI NÉT VỀ TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN PHÚ VANG 24
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 27
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.3 NỘI DUNG VÀ BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 28
2.7 SAI SỐ VÀ CÁCH KHẮC PHỤC 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 36
3.2 TÌNH HÌNH DINH DƯỠNG CỦA TRẺ 37
Nhận xét: 39
3.3 KIẾN THỨC, THỰC HÀNH NUÔI DƯỠNG TRẺ 39
Chương 4 43
DỰ KIẾN BÀN LUẬN 43
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 43
DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
49
PHỤ LỤC 1 50
Trang 5Quỹ Dân số liên hợp quốc (United Nations Population Fund)UNICEF Tổ chức Nhi đồng Liên Hợp Quốc (United Nation Children’s Fund)VDD Viện Dinh dưỡng
WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng là một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển thể chất
và tinh thần của mỗi con người Vấn đề dinh dưỡng càng quan trọng đối với ngườibệnh Suy dinh dưỡng gặp ở bệnh nhân nhập viện thường là sự kết hợp giữa suynhược do bệnh và tiêu thụ không đủ thức ăn đặc biệt hơn so với suy dinh dưỡng đơnthuần Trong năm 2010, ở các bệnh viện trên thế giới, tỉ lệ suy dinh dưỡng dao độngtrong khoảng từ 20% đến 50% tùy theo quốc gia và chuyên khoa [1] Với các nước
có thu nhập cao, tỉ lệ suy dinh dưỡng bệnh viện xoay quanh 30%, Mỹ và các nướcChâu Âu là 31,4%, Úc 32% [2], [3] Ở các nước có thu nhập trung bình, tỉ lệ này có
xu hướng cao hơn: 41,2% ở Cuba và 37,1% ở Ecuador [4], [5]
Suy dinh dưỡng ở trẻ em nhập viện là vấn đề chúng ta cần quan tâm hơn vìkhông chỉ tình trạng bệnh của trẻ xấu đi mà còn ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển
về thể chất và trí tuệ của trẻ Theo nghiên cứu của Moeeni (2012), cho biết trẻ emtại Iran nhập viện có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn so với trẻ em khỏe mạnh trongcùng một cộng đồng với tỷ lệ 25,2% và 3% Trẻ suy dinh dưỡng nghiêm trọng cóthời gian nằm viện dài hơn so với những trẻ có dinh dưỡng bình thường [6]
Tại Việt Nam, kết quả điều tra 30 cụm trên toàn quốc của Viện Dinh DưỡngQuốc Gia năm 2016 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ dưới 5 tuổi là13,8%, suy dinh dưỡng thấp còi là 24,3% [7] Theo một nghiên cứu của Nguyễn ĐỗHuy và cộng sự (2013) đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em trong bệnh viện đakhoa tỉnh Hải Dương với tỷ lệ suy dinh dưỡng dựa trên các số đo nhân trắc lần lượt
là 6,7% (thể nhẹ cân), 26,7% (thể thấp còi) và 6,7% (thể gầy còm) [8] Theo nghiêncứu của Phạm Thị Thu Hương và cộng sự (2015) tại bệnh viện Nhi trung ương kếtquả cho thấy tỷ lệ nhẹ cân là 18,2%, tỷ lệ còi cọc là 22,5%, suy dinh dưỡng cấp tính
là 18,1% [9]
Vòng tròn luẩn quẩn giữa bệnh lý và dinh dưỡng trên một cơ thể chưa pháttriển đầy đủ và hoàn thiện, ảnh hưởng đến quá trình lớn lên và phát triển toàn diệncủa một con người Từ 6 tháng đến 60 tháng là một độ tuổi nhạy cảm đối với sựphát triển của trẻ, sữa mẹ là nguồn thức ăn chính cho trẻ dưới 6 tháng tuổi dần đượcthay thế bằng chế độ ăn bổ sung các loại thực phẩm khác nhau cần thiết Trongkhoảng tuổi này, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ như tình trạngmắc các bệnh nhiễm khuẩn, điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội tại địa phương hay cụ
Trang 7thể là kiến thức, thực hành của người mẹ cho trẻ ăn hàng ngày và chăm sóc trẻ khitrẻ bệnh có thực sự tốt.
Tại cộng đồng, nhiều công trình nghiên cứu về đối tượng là trẻ dưới 5 tuổi đãđược thực hiện và công bố kết quả trên toàn quốc, tuy nhiên nghiên cứu về trẻ nằmviện còn chưa phổ biến Riêng các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế hiệnnay chưa có nhiều nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhi, cũng như tạihuyện Phú Vang Từ những lý do trên cũng như để có bằng chứng khoa học làm cơ
sở trong việc đưa ra các khuyến nghị về dinh dưỡng cho bệnh nhân, chúng tôi thực
hiện đề tài “Tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 6 đến 60 tháng tuổi và kiến thức,
thực hành nuôi dưỡng trẻ của bà mẹ tại trung tâm Y tế huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” với hai mục tiêu:
1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 6 đến 60 tháng tuổi tại trung tâm Y tế huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2019.
2 Khảo sát kiến thức, thực hành nuôi dưỡng trẻ của bà mẹ có trẻ từ 6 đến
60 tháng tuổi tại trung tâm Y tế huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2019.
Trang 8Chương 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 KHÁI NIỆM VỀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ SUY DINH DƯỠNG 1.1.1 Khái niệm tình trạng dinh dưỡng
Dinh dưỡng là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối các thànhphần dinh dưỡng đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể để đảmbảo chức năng sinh lý và tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội [10]
Dinh dưỡng nghĩa là sự hấp thu thực phẩm, liên quan mật thiết với nhu cầucủa cơ thể Dinh dưỡng tốt đồng nghĩa với chế độ ăn uống hợp lý và cân bằng cùngvới sự luyện tập thể dục thường xuyên sẽ là nền tảng của một cơ thể khỏe mạnh.Dinh dưỡng không tốt có thể dẫn đến suy giảm miễn dịch, tăng khả năng mắc bệnh,giảm phát triển thể chất, tinh thần và năng suất lao động [11]
Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc
và hóa sinh, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [12] TTDD làkết quả tác động của một hay nhiều yếu tố như: tình trạng an ninh thực phẩm hộ giađình, điều kiện kinh tế, điều kiện vệ sinh môi trường TTDD tốt phản ảnh sự cânbằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe Khi cơ thể có thiếu hoặc thừa dinhdưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khỏe hoặc vấn đề về dinh dưỡng [13]
1.1.2 Khái niệm suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng là tình trạng mất cân bằng giữa lượng thức ăn ăn vào và nhucầu cơ thể gây ra sự thay đổi về chuyển hóa, suy giảm chức năng và mất khối lượng
cơ thể hoặc là một TTDD trong đó sự thiếu hụt hay mất cân bằng năng lượng,protein và những thành phần khác gây ra những hậu quả bất lợi có thể đo lường đượctrên mô hoặc cơ thể [14]
Suy dinh dưỡng là một thuật ngữ rộng, có thể được sử dụng để mô tả bất kỳ
sự mất cân bằng nào trong dinh dưỡng; đi từ dinh dưỡng quá mức thường thấy ở cácnước phát triển đến thiếu dinh dưỡng ở nhiều nước đang phát triển Suy dinh dưỡng
có thể phát triển do hậu quả của việc thiếu hụt chế độ ăn uống, tăng chuyển hóa liên
Trang 9quan đến tình trạng bệnh, từ các biến chứng thầm lặng của bệnh như hấp thụ kém vàmất chất dinh dưỡng quá mức hoặc do sự kết hợp của nhiều yếu tố nói trên [3].
Gần đây, định nghĩa về suy dinh dưỡng đã được Hiệp hội Dinh dưỡng vàĐường ruột Châu Âu (ESPEN) làm rõ để làm nổi bật sự khác biệt giữa chứng suynhược; mất khối lượng, chức năng cơ và suy dinh dưỡng [15]
Một điều cần quan tâm đó là suy dinh dưỡng có ảnh hưởng tiêu cực đối vớingười nằm viện như là tỷ lệ nhiễm trùng và biến chứng cao hơn, tăng tiêu cơ, vếtthương lâu lành [16], [17], thời gian nằm viện dài hơn và tăng tỷ lệ mắc bệnh và tửvong [3], [18]
Suy dinh dưỡng ở trẻ em là tình trạng cơ thể trẻ không được cung cấp đầy đủnăng lượng và chất đạm từ khẩu phần và các yếu tố vi lượng khác để đảm bảo cho
cơ thể phát triển, lâu dài dẫn đến sự chậm phát triển về thể chất cũng như tinh thầncủa trẻ [19]
1.1.3 Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và bệnh tật ở trẻ em
Trẻ em nếu được chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ sẽ phát triển tốt và ít ốm đaubệnh tật Nhu cầu dinh dưỡng ở trẻ em tính theo trọng lượng của cơ thể cao hơn sovới người lớn do trẻ em là cơ thể đang lớn lên và phát triển nhanh Tuy nhiên sức ăncủa trẻ còn hạn chế, bộ máy tiêu hóa, các chức năng tiêu hóa, hấp thu chưa hoànchỉnh, miễn dịch của trẻ còn hạn chế nên trong thời kỳ “bú sữa, ăn dặm, cai sữa cóthể gây SDD ở trẻ [20]
Mối quan hệ giữa tình trạng dinh dưỡng của một cá thể với các bệnh nhiễmkhuẩn theo hai chiều: thiếu dinh dưỡng làm giảm sức đề kháng của cơ thể, ngược lạinhiễm khuẩn làm trầm trọng thêm tình trạng suy dinh dưỡng sẵn có Đó là một vòngxoắn bệnh lý dinh dưỡng và nhiễm trùng
Tuy nhiên ảnh hưởng của tình trạng dinh dưỡng đối với tiến triển các bệnhnhiễm khuẩn không giống nhau Có những bệnh ảnh hưởng này rất lớn như bệnhlao, tiêu chảy, nhiễm khuẩn, tả, ho gà, nhiễm khuẩn hô hấp, sởi,… Có những bệnhảnh hưởng ở mức độ trung bình như bạch hầu, nhiễm tụ cầu, liên cầu, cúm…Ngược lại có những bệnh rất ít bị ảnh hưởng như uốn ván, thương hàn
Trang 10Phần lớn trẻ em trong 3 tháng đầu được bú sữa mẹ đều phát triển tốt, sau đótình trạng dinh dưỡng bỗng xấu đi một phần do chế độ ăn bổ sung không hợp lý,một phần do mắc các bệnh nhiễm khuẩn lặp đi lặp lại Thiếu protein và năng lượng
có ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống miễn dịch, đặc biệt là miễn dịch qua trung gian
tế bào, các chức phận diệt khuẩn của bạch cầu đa nhân trung tính, bổ thể và bài xuấtcác globulin miễn dịch nhóm IgA [21]
Bệnh nhiễm khuẩn thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi là tiêu chảy và nhiễm khuẩn
hô hấp cấp tính (NKĐHHCT) Nhiễm khuẩn sẽ trầm trọng hơn trên nền trẻ suy dinhdưỡng Nhiễm khuẩn dễ đưa đến SDD do rối loạn tiêu hoá và ngược lại SDD dễ dẫntới nhiễm khuẩn do đề kháng giảm Do đó, trong những mùa có các bệnh nhiễmkhuẩn lưu hành ở mức cao như tiêu chảy, viêm đường hô hấp cấp tính, tỷ lệ SDD cóthể dao động theo và thường cao [22]
Nhiễm khuẩn, đặc biệt là tiêu chảy ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng.Các tổn thương đường tiêu hóa xuất hiện do nhiễm khuẩn dẫn đến giảm hấp thu,đặc biệt các vi chất, làm cho kháng nguyên và các vi khuẩn đi qua nhiều hơn.Nhiễm khuẩn làm tăng hao hụt các chất dinh dưỡng, trẻ ăn kém hơn do giảm ngonmiệng [23], [24]
Tiêu chảy dẫn đến SDD và SDD làm tăng nguy cơ mắc tiêu chảy, ảnh hưởngđến sự tăng trưởng của trẻ Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ Tỷ lệ tửvong do tiêu chảy kéo dài chiếm 30 - 50% các trường hợp tử vong chung Mối liênquan giữa tiêu chảy kéo dài và SDD là gánh nặng về kinh tế đối với các quốc giađang phát triển, trong đó có Việt Nam [25] Phần lớn các trường hợp là tiêu chảykéo cấp dưới 14 ngày và có thể điều trị hiệu quả bằng chế độ dinh dưỡng hợp lý, bổsung kẽm và bù nước, điện giải Tuy nhiên trong số đó khoảng 3 - 20% những đợttiêu chảy cấp ở trẻ dưới 5 tuổi trở thành tiêu chảy kéo dài gây ảnh hưởng đến tìnhtrạng dinh dưỡng của trẻ [26]
Đối với tình trạng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) ở trẻ vớiNKHHCT được định nghĩa là tất cả các trường hợp nhiễm khuẩn (do vi khuẩn hoặcvirus) ở đường hô hấp từ mũi họng cho đến phế nang Thời gian bị bệnh kéo dài
Trang 11không quá 30 ngày [27] Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính làm tăng nguy cơ SDD, đồngthời SDD làm giảm miễn dịch của cơ thể do đó làm giảm khả năng chống lại vikhuẩn và làm tăng khả năng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ Một số nghiên cứucho thấy những trẻ nuôi dưỡng kém có nguy cơ viêm phổi cao hơn rõ rệt so vớinhững trẻ được nuôi dưỡng tốt Những trẻ bị suy dinh dưỡng khi mắc bệnh viêmphổi thì nguy cơ tử vong rất cao [28].
1.1.4 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là quá trình thu thập và phân tích thông tin, sốliệu về tình trạng dinh dưỡng và nhận định tình hình trên cơ sở các thông tin số liệu
đó Để có các nguồn số liệu tin cậy, đánh giá tình hình dinh dưỡng cần được tiếnhành đúng phương pháp và theo một quy trình hợp lý [29]
Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng và mối quan hệ với quá trìnhbệnh tật:
Thời kỳ tiền bệnh lý Thời kỳ bệnh lý
Biểu đồ 1.1 Các giai đoạn của đánh giá tình trạng dinh dưỡng [12]
Cân bằng lương thực,
thực phẩm
Nghiên cứu khẩu phần
Nghiên cứu yếu tố
kinh tế xã hội
Tỷ lệ tử vongNghiên cứu lâm sàng và bệnh tậtNghiên cứu nhân trắc
Nghiên cứu hóa sinh
Giảm
dự trữ
Biểu hiệnkhông đặchiệu
Trang 12Theo mối liên quan giữa sức khỏe và quá trình bệnh tật, các phương phápđánh giá tình trạng dinh dưỡng được phân chia qua 3 giai đoạn:
- Thời kỳ tiền bệnh lý: là giai đoạn bắt đầu thiếu hụt so với nhu cầu nhưng dựtrữ còn bình thường hay giảm nhẹ
- Thời kỳ giảm dự trữ: dự trữ giảm dần đến mức độ cạn kiệt, biểu hiện bằngcác rối loạn sinh lý, sinh hóa
- Thời kỳ bệnh lý: là tình trạng thiếu hụt dẫn đến các biểu hiện không đặc hiệu,bệnh tật và cuối cùng dẫn đến tử vong [30]
Một số phương pháp định lượng chính thường được sử dụng trong đánh giátình trạng dinh dưỡng như:
- Nhân trắc học
- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống
- Các thăm khám thực thể (dấu hiệu lâm sàng), đặc biệt chú ý tới các triệuchứng thiếu dinh dưỡng kín đáo và rõ ràng
- Các xét nghiệm cận lâm sàng chủ yếu là hoá sinh ở dịch thể và các chất bàitiết (máu, nước tiểu ) để phát hiện mức bão hoà chất dinh dưỡng ở các mô, cũngnhư các rối loạn chức phận
- Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụtdinh dưỡng
- Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong để tìm hiểu mối liên quan giữa tình hìnhbệnh tật và tình trạng dinh dưỡng
- Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và sứckhoẻ [13]
Vậy các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng phù hợp làm công cụ thuthập số liệu trong nghiên cứu của chúng tôi bao gồm:
+ Nghiên cứu lâm sàng và bệnh tật
+ Nghiên cứu nhân trắc
+ Nghiên cứu hóa sinh, cận lâm sàng
Trang 13Phương pháp nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kíchthước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng Với ưu điểm đơn giản,
an toàn; có thể đánh giá được các dấu hiệu về tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ
và xác định mức độ suy dinh dưỡng [13]
Qua quá trình thực hiện phương pháp nhân trắc học, chúng ta có thể thu đượccác nhận định kết quả ở trẻ em dựa trên cân nặng - chiều cao – tuổi, cụ thể 3 chỉ tiêunhư sau:
- Cân nặng theo tuổi (CN/T): Là chỉ số được sử dụng sớm nhất và phổ biến
nhất Cách phân loại dựa vào cân nặng theo tuổi tiện dụng cho phép nhận định tìnhtrạng dinh dưỡng nói chung, nhưng không phân biệt được tình trạng thiếu dinhdưỡng mới gần đây hay kéo dài đã lâu Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đề nghị lấyđiểm ngưỡng ở dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD) so với quần thể tham chiếu NCHS(National Center for Health Statistics) trước kia và hiện nay là chuẩn của Tổ chức Y
tế Thế giới (WHO, 2005) để coi là nhẹ cân [12] Nhẹ cân là hậu quả của thiếu dinhdưỡng hiện tại Chỉ số cân nặng theo tuổi nhạy có thể quan sát trong 1 thời gianngắn [26]
- Chiều cao theo tuổi (CC/T): Phản ánh tiền sử dinh dưỡng Chiều cao theo
tuổi thấp phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc thuộc về quá khứ làmcho đứa trẻ bị thấp còi
- Cân nặng theo chiều cao (CN/CC): Là chỉ số đánh giá tình trạng dinh
dưỡng hiện tại Chỉ số này phản ánh tình trạng SDD cấp hay còn gọi “Wasting”.Cân nặng theo chiều cao thấp phản ánh sự không tăng cân hay giảm cân nếu so sánhvới trẻ có cùng chiều cao, chính là phản ánh mức độ thiếu ăn và nhiễm khuẩn là hainguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này [12]
Cách nhận định kết quả:
Muốn nhận định các kết quả nhân trắc cần phải chọn một quần thể thamchiếu để so sánh Do nhận thấy ở trẻ em dưới 5 tuổi, nếu được nuôi dưỡng hợp lý vàđiều kiện sống hợp vệ sinh thì khả năng tăng trưởng không khác nhau theo chủngtộc, Tổ chức Y tế thế giới đã đề nghị lấy quần thể NCHS của Hoa Kỳ làm quần thể
Trang 14tham chiếu Hiện nay việc sử dụng quần thể tham chiếu NCHS để đánh giá tìnhtrạng dinh dưỡng của trẻ em không phù hợp với thực tế vì vậy để đánh giá tìnhtrạng dinh dưỡng của trẻ từ năm 2006 WHO đưa ra “chuẩn tăng trưởng mới ở trẻem” và đề nghị áp dụng trên toàn thế giới [31].
Trong các phần mềm đánh giá tình trạng dinh dưỡng hiện nay, người ta sửdụng SD score hay Z-score tương đương:
Z-score hay SD score =
Bảng 1.1 Đánh giá các chỉ số tăng trưởng theo Z-score
Z-score Các chỉ số tăng trưởng
-3SD→2SD Thấp còi vừa Thiếu cân vừa Gầy còm vừa Gầy còm vừa
< -3SD Thấp còi nặng (4) Thiếu cân nặng Gầy còm nặng Gầy còm nặng(1) Kiểm tra rối loạn nội tiết nếu trẻ em cao bất thường mà không có yếu tố ditruyền
(2) Có thể có lệch lạc về sự tăng trưởng nhưng nên đánh giá với BMI theo tuổihay cân nặng theo chiều cao
(3) Nếu >1 là có nguy cơ nhưng gần đến 2 là có nguy cơ chắc chắn
(4) Khả năng để một trẻ thấp còi trở thành thừa cân
1.3.3 Cách phân loại suy dinh dưỡng
Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế giới, SDD trong cộng đồng được chiathành 3 thể: SDD nhẹ cân, SDD thấp còi và SDD gày còm [32]
Dựa vào các chỉ tiêu nhân trắc: tuổi, giới, cân nặng, chiều cao đo được và sốtrung bình của quần thể tham chiếu WHO 2005 để tính toán các chỉ số Z–score cânnặng theo tuổi (CN/T), Z–score chiều cao theo tuổi (CC/T), Z–score cân nặng theochiều cao (CN/CC) WHO đề nghị lấy điểm ngưỡng dưới 2 độ lệch chuẩn (< 2SD)
so với quần thể tham chiếu WHO 2005 để đánh giá trẻ bị suy dinh dưỡng [31]
Kích thước đo được – Số trung bình của quần thể tham chiếu
Độ lệch chuẩn của quần thể tham chiếu
Trang 15- SDD thể nhẹ cân: CN/T Z-score (WAZ) < - 2SD;
- SDD thể thấp còi: CC/T Z-score (HAZ) < - 2SD;
- SDD thể gầy còm: CN/CC Z-score (WHZ) < - 2SD
1.3.4 Phân loại thiếu máu dinh dưỡng
Địa điểm nghiên cứu là một cơ sở y tế thuận lợi cho chúng tôi có thể đánh giátình trạng dinh dưỡng của trẻ qua các phương pháp đánh giá dựa trên quy trình thămkhám thực thể (dấu hiệu lâm sàng), xét nghiệm cận lâm sàng chủ yếu trên dịch thể
và các chất bài tiết (máu, nước tiểu ) để phát hiện mức bão hoà chất dinh dưỡng.Những phương pháp này hỗ trợ cho phương pháp nhân trắc học giúp phát hiện sớmhơn sự thay đổi về tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Thiếu máu dinh dưỡng: Là tình trạng bệnh lý xảy ra khi hàm lượnghemoglobin (Hb) trong máu xuống thấp hơn bình thường do thiếu một hay nhiềuchất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu, bất kể do nguyên nhân gì Thiếumáu dinh dưỡng ở trẻ em là vấn đề thiếu dinh dưỡng lưu hành rộng rãi trên thế giới,
là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam
Thiếu sắt: Là tình trạng thiếu hụt sắt trong cơ thể, có biểu hiện thiếu máu hoặcchưa có biểu hiện thiếu máu
Thiếu máu do thiếu sắt: Là loại thiếu máu dinh dưỡng hay gặp nhất, xảy racùng một lúc với tình trạng thiếu máu và thiếu sắt Thiếu máu do thiếu sắt có thể kếthợp cùng thiếu axit folic, thiếu vitamin B12 [33]
Phương pháp đánh giá tình trạng thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ em [34]:
Trang 16+ Đầu ngón chân ngón tay sù to gọi là dấu hiệu dùi tróng, móng tay móngchân khum bẹt, có khía, giòn và dễ gãy, tóc thưa dễ rụng, lồng ngực biến dạng hìnhthùng.
- Đánh giá về xét nghiệm
Đánh giá thiếu máu qua định lượng hàm lượng Hb trong máu So sánh kết quảvới giá trị trung bình Hb theo lứa tuổi và giới để xem xét, dựa vào ngưỡng nhậnđịnh thiếu máu dinh dưỡng
Tiêu chuẩn thiếu máu:
+ Không thiếu máu: Hemoglobin > 11g/l
+ Thiếu máu nhẹ: Hem từ 9 - 11 g/l
+ Thiếu máu vừa: Hem từ 6 - 9 g/l
+ Thiếu máu nặng: Hem < 6 g/l
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN
1.2.1 Trên thế giới
Những nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em tại các bệnh viện đã
và đang được nhiều tác giả quan tâm trong vài thập kỷ qua, đối với ở các nước pháttriển và các nước đang phát triển
Cách đây 20 năm, đã có những nghiên cứu quan tâm đến tỷ lệ suy dinhdưỡng ở trẻ em nằm viện và tìm hiểu các phương pháp đánh giá tình trạng dinhdưỡng có thể áp dụng tại cơ sở y tế Nghiên cứu tại Thái Lan (2002) về vấn đề dinhdưỡng ở trẻ nằm viện, với mục tiêu đánh giá dinh dưỡng nhằm xác định nhu cầuchăm sóc dinh dưỡng cụ thể của từng bệnh nhi và tạo điều kiện can thiệp sớm.Nghiên cứu đã cho biết tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em từ 1 đến 15 tuổi tại khoaNhi ở các bệnh viện tại Thái Lan là từ 50 đến 60% Khuyến nghị được đưa ra là nên
sử dụng các chỉ số như chỉ số khối cơ thể (BMI) để thuận tiện cho việc đánh giátình trạng thiếu dinh dưỡng ở trẻ em không chỉ trên cộng đồng mà cũng nên được
ưu tiên áp dụng trên lâm sàng [35]
Trang 17Tại Hà Lan (2010), nghiên cứu nhằm mục đích điều tra tỷ lệ suy dinh dưỡngcủa tất cả trẻ em mới nhập viện ở Hà Lan trong 3 ngày liên tiếp 44 bệnh viện thamgia vào nghiên cứu với tổng cộng có 424 trẻ trong độ tuổi tròn 1 tháng và nằm việntrên 1 ngày được Tuổi trung bình là 3,5 năm và thời gian nằm viện trung bình là 2ngày Nhìn chung, 19% trẻ em bị suy dinh dưỡng cấp tính và/hoặc mãn tính khinhập viện Phân tích hồi quy logistic gồm tuổi, bệnh tiềm ẩn, dân tộc, loại phẫuthuật và loại trung tâm cho thấy mối liên quan đáng kể giữa sự hiện diện của suydinh dưỡng khi nhập viện và bệnh tiềm ẩn (OR = 2,2) Đối với suy dinh dưỡng mãntính cả bệnh tiềm ẩn và dân tộc không da trắng có liên quan đáng kể đến tỷ lệ mắccao hơn (OR = 3,7 và OR = 2,8) Phân tích hồi quy đa biến cho thấy trẻ em bị suydinh dưỡng cấp tính thời gian nằm viện trung bình dài hơn 45% (95%CI 7%-95%)
so với trẻ không bị suy dinh dưỡng Nghiên cứu trên toàn quốc này cho thấy 19%trẻ em nhập viện tại Hà Lan bị suy dinh dưỡng khi nhập viện Tỷ lệ phổ biến caonày nhấn mạnh sự cần thiết phải sàng lọc và điều trị suy dinh dưỡng định kỳ ở trẻnhập viện [36]
Nghiên cứu tại Iran (2012) nhằm xác định tình trạng dinh dưỡng của trẻ emnhập viện tại một bệnh viện hạng 3 của Iran và so sánh các công cụ đánh giá dinhdưỡng trên lâm sàng Kết quả cho biết tỷ lệ thiếu dinh dưỡng ở nhóm bệnh nhân nộitrú là 25,2% và 3% ở nhóm cộng đồng (p <0,0001) Béo phì / thừa cân phổ biến ởnhóm cộng đồng hơn so với bệnh nhân nội trú (22% so với 2,5%: p = 0,04) Trẻ suydinh dưỡng nghiêm trọng có thời gian nằm viện dài hơn so với những trẻ có dinhdưỡng bình thường (p <0,0001) [6]
Tại Vavuniya (2014) một nghiên cứu mô tả cắt ngang đã thực hiện để tìmhiểu các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng ở trẻ nhập viện tại Bệnh viện Đakhoa 1210 trẻ em nhập viện đã được sàng lọc và đánh giá tình trạng dinh dưỡngbằng cách sử dụng các tiêu chuẩn tăng trưởng của WHO về cân nặng theo chiềucao/chiều dài Kết quả thu được là 179 trẻ bị suy dinh dưỡng cấp tính mức độ vừa(14,8%) và 105 trẻ bị suy dinh dưỡng cấp tính mức độ nặng (8,7%) được phát hiện
Tỷ lệ thiếu máu trên trẻ em suy dinh dưỡng ở mức độ nhẹ (32,4%), trung bình
Trang 18(22,2%) và nặng (0,7%) Thiếu máu cao nhất ở trẻ sơ sinh và tỷ lệ hiện mắc giảmkhi tuổi của trẻ càng cao Kết quả cũng tìm ra được suy dinh dưỡng có liên quanđến trình độ học vấn của bà mẹ (p <0,001), tình trạng kinh tế gia đình (p = 0,022) vànghề nghiệp của người mẹ (p = 0,009) [37].
Theo nghiên cứu của Hecht và cộng sự (2015) trên 2567 bệnh nhi từ 1 thángtuổi đến 18 tuổi dựa trên các tiêu chí nhân trắc học và đánh giá mối liên quan vớithời gian nằm viện và tỷ lệ biến chứng đã đưa đến kết quả chỉ số BMI <-2 SDS có ở7,0% bệnh nhân nhập viện với tỷ lệ mắc cao ở trẻ sơ sinh (10,8%) và trẻ từ 1-2 tuổi(8,3%) Suy dinh dưỡng liên quan đến bệnh ở trẻ em nhập viện ở các nước châu Âu
là phổ biến và có liên quan đến thời gian nằm viện và phát sinh các biến chứng, từ
dó tác động lớn đến chi phí điều trị và giảm chất lượng cuộc sống [38]
Tại Chi-lê (2016), theo nghiên cứu của Velandia và cộng sự về khảo sát tìnhtrạng dinh dưỡng của bệnh nhi nhập viện Khảo sát trên đối tượng là trẻ em dưới 17tuổi nhập viện, dựa trên các đặc điểm nhân khẩu học, triệu chứng lâm sàng, kết quảxét nghiệm sinh hoá (albumin, hồng cầu, hemoglobin), thời gian nằm viện và đặcbiệt là phương pháp nhân trắc học Phân loại dinh dưỡng được thể hiện bằng chỉ sốcân nặng/chiều cao (WHO) đối với bệnh nhi dưới 5 tuổi, chỉ số khối cơ thể (BMI),chỉ số chiều cao theo tuổi xác định thể suy dinh dưỡng thấp còi Trong mẫu nghiêncứu gồm 365 trẻ có độ tuổi trung bình là 3,35 năm Tỷ lệ suy dinh dưỡng chiếm3,3%, có nguy cơ về dinh dưỡng chiếm 8%, 15% thừa cân và 10% béo phì Dựatrên chỉ số chiều cao/tuổi có được tỷ lệ thấp còi chiếm 12,9% Và không tìm thấymối liên quan giữa kết quả xét nghiệm sinh hóa và tình trạng dinh dưỡng [39]
Trang 191.2.2 Tại Việt Nam
Trước đây, vấn đề suy dinh dưỡng trẻ em tại cộng đồng đã được sự quan tâm
và tham gia của nhiều ban ngành và tổ chức xã hội thì vấn đề này trong bệnh việnchưa được tiến hành thường xuyên tại bệnh viện Bệnh tật là một trong nhữngnguyên nhân quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ vậynên trong những năm qua một số nghiên cứu được tiến hành về tình trạng dinhdưỡng ở trẻ nằm viện:
Theo nghiên cứu của Vũ Thị Bắc Hà (2006), qua điều tra 1491 trẻ dưới 5 tuổivào khám và điều trị tại bệnh viện Trung ương Huế cho thấy tỷ lệ SDD thể nhẹ cân
là 20,9% trong đó chủ yếu là SDD độ I (16,6%) Tỷ lệ SDD ở trẻ trai (22,9%) caohơn trẻ gái (18%) Nhóm tuổi 36 đến 48 tháng tuổi chiếm 28,2% Tỷ lệ SDD thểthấp còi là 25,8% và SDD thể gầy còm là 10,3% Tác giả tìm thấy mối liên quangiữa suy dinh dưỡng bệnh nhi và một số yếu tố kinh tế xã hội và gia đình như sautrình độ văn hóa bố, mẹ càng thấp thì tỷ lệ SDD của trẻ càng cao, tỷ lệ SDD ở trẻ
mồ côi 27,2% và gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn 27,1% cao hơn trẻ không
mồ côi và hoàn cảnh kinh tế bình thường [40]
Nghiên cứu tại bệnh viện Bạch Mai của Nguyễn Thị Huyền (2016) thực hiệntrên 100 trẻ khoa Nhi Qua thu thập số liệu, kết quả nhận được là tỷ lệ SDD thể nhẹcân ở trẻ dưới 5 tuổi là 26,7%, thể thấp còi chiếm 23,3% và thể gầy còm chiếm23,3% Đánh giá TTDD theo công cụ sàng lọc dinh dưỡng cho bệnh nhân nhi thì có52% có nguy cơ SDD và 48% trong giới hạn bình thường Kết quả nghiên cứu chothấy trẻ trong độ tuổi 1 đến 2 tuổi có tỷ lệ SDD thể nhẹ cân, thấp còi cao nhất(28,6% và 42,9%) SDD thể gầy còm còn chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhóm 3-5 tuổichiếm (26,1%) [41]
Nghiên cứu khác được thực hiện trong khoảng thời gian 1 năm từ tháng9/2017 đến tháng 8/2018 tại khoa Nhi tổng hợp Bệnh viện Đa khoa Xanh pôn, đã có
120 trẻ được chẩn đoán suy dinh dưỡng trong số 2856 trẻ dưới 5 tuổi chiếm tỷ lệ4,2% kèm theo các bệnh như viêm phổi, tiêu chảy, tay chân miệng, thủy đậu, Trong đó tỷ lệ trẻ trai bị suy dinh dưỡng nhiều hơn trẻ gái với tỷ lệ 1,4/1
Trang 20Với lứa tuổi có tỷ lệ SDD cao nhất là từ 6 tháng đến 1 tuổi (63,6%) SDD thểnhẹ cân là chủ yếu với tỷ lệ 88,3% Bệnh kèm theo của nhóm trẻ SDD đứng hàngđầu là các bệnh về hô hấp, tiêu chảy cấp đứng thứ hai [42].
Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 330 đối tượng trẻ từ 6 đến 60 tháng tuổiđược điều trị tại Khoa Nhi - Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương từ tháng 5 đếntháng 11 năm 2009 của Nguyễn Đỗ Huy và cộng sự nhằm mục tiêu so sánh giữađánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em trong bệnh viện bằng phương pháp đo cácchỉ số nhân trắc và đánh giá nguy cơ dinh dưỡng bằng công cụ đánh giá tổng thểchủ quan (Subjective Global Assessment - SGA) Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo đánhgiá bằng các chỉ số nhân trắc (cân nặng, chiều cao) theo tuổi thấp hơn nhiều sovới tỷ lệ này khi đánh giá bằng phương pháp SGA Tỷ lệ SDD dựa trên các chỉ sốnhân trắc lần lượt là 6,7% (cân nặng/tuổi), 26,7% (chiều cao/tuổi) và 6,7% (cânnặng/chiều cao), trong khi có tới 42,7% trẻ em khi nhập viện có tỷ lệ SDD theophương pháp SGA Theo phương pháp nhân trắc, không có sự khác biệt ở cả ba thểsuy dinh dưỡng: nhẹ cân, thấp còi và gầy còm (p > 0,05) nhưng có sự khác biệt vềsuy dinh dưỡng theo phương pháp SGA giữa nhóm trẻ dưới 24 tháng và trên 24tháng tuổi (p < 0,05) [8] Nghiên cứu của Phạm Thị Thu Hương và cộng sự (2015)nhằm xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân nằm viện tại bệnh viện Nhi trungương Điều tra đã được tiến hành ở 337 trẻ, từ 6 tháng đến 15 tuổi, điều trị tại khoa
Hô Hấp, Tim mạch, Thần kinh, Huyết học Tương tự nghiên cứu của Nguyễn ĐỗHuy (2013), tác giả đã đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa trên hai phương pháp là
đo các chỉ số nhân trắc (cân nặng, chiều cao) và đánh giá nguy cơ dinh dưỡng bằngcông cụ SGA Kết quả cho thấy: Tỷ lệ nhẹ cân là 18,2%, tỷ lệ còi cọc là 22,5%, suydinh dưỡng cấp tính là 18,1%, trong khi thừa cân chỉ 1,5% Đối với công cụ SGA đãxác định được 43,1% trẻ có nguy cơ dinh dưỡng trong đó chủ yếu suy dinh dưỡngnhẹ và vừa chiếm 92,4% Nguy cơ dinh dưỡng theo SGA cao nhất ở khoa Timmạch, Huyết học Trong suốt thời gian nằm viện có 51% bệnh nhân sụt cân [9]
Trang 211.3.1 Kiến thức, thực hành nuôi dưỡng trẻ
1.3.1.1 Nuôi trẻ ăn bổ sung hợp lý
Chế độ dinh dưỡng của trẻ từ 12 tháng đến 36 tháng tuổi có vai trò quan trọng với
sự phát triển thể chất, tinh thần và khả năng đề kháng với bệnh tật Trong độ tuổi này trẻphát triển rất nhanh cả về thể lực lẫn trí tuệ, nếu được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt trẻ sẽkhỏe mạnh, thông minh, ít bệnh tật Khi chế độ dinh dưỡng của trẻ không đáp ứng đủ nhucầu của cơ thể, trẻ dễ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng, thiếu vi chất dinh dưỡng, ảnh hưởngphát triển thể chất, tinh thần và tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, Nhiều vấn đề sức khỏe,bệnh tật của trẻ có thể phòng và cải thiện được nếu chế độ ăn được điều chỉnh đúng, kịpthời [43]
Từ sau 6 tháng tuổi (tức từ ngày 180 trở đi), tốc độ tăng trưởng của trẻ tăng lênnhiều, sữa mẹ không còn cung cấp đủ năng lượng cho nhu cầu của trẻ, vậy nên Tổ chức Y
tế Thế giới đã khuyến cáo rằng trẻ em nên được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6tháng đầu và bắt đầu cho ăn bổ sung từ sau 6 tháng [44]
Ăn bổ sung: nghĩa là cho ăn thêm các thức ăn khác (như bột, cháo, cơm, rau, hoa
quả, trứng, thịt, cá, tôm,… ) ngoài sữa mẹ [45] Các thức ăn và chất lỏng thêm này đượcgọi là thức ăn bổ sung vì chúng bổ sung cho sữa mẹ, chứ không hoàn toàn thay thế đượcsữa mẹ để cung cấp đủ chất dinh dưỡng Thức ăn bổ sung phải là các loại thực phẩm giàudinh dưỡng và đủ về mặt số lượng để trẻ có thể tiếp tục phát triển [46]
Ăn bổ sung hợp lý: là cho trẻ ăn các loại thức ăn khác ngoài bú sữa mẹ theo đúng
độ tuổi (từ sau 6 tháng, tức là từ tròn 180 ngày trở đi); đủ về số lượng, chất lượng; cânđối giữa thành phần các chất dinh dưỡng và được chế biến theo đúng phương pháp [45]
Trẻ nhỏ đặc biệt dễ bị tổn thương trong giai đoạn chuyển tiếp từ giai đoạn bú mẹsang giai đoạn ăn bổ sung [46] Do vậy, cần có những nguyên tắc giúp cho việc đảm bảonhu cầu dinh dưỡng của trẻ:
- Đa dạng các loại thực phẩm: Mỗi nhóm thức ăn có thể cung cấp nhiều chất dinh
dưỡng khác nhau Tuy vậy, một nhóm thức ăn đơn độc hoặc bất kỳ một thức ăn nào, dùđược gọi là tốt hay quý, cũng không thể cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho
Trang 22bữa Cần đảm bảo cho trẻ được ăn đủ tám nhóm thực phẩm trong ngày, gồm có:
+ Nhóm củ quả có màu sẫm, màu cam, đỏ hoặc rau tươi có màu xanh thẫm
+ Nhóm rau, rễ, củ khác, quả chín và rau gia vị
+ Nhóm dầu/mỡ và bơ
- Số lượng và số bữa ăn bổ sung hợp lý: Trẻ đang lớn mỗi ngày cần 3 bữa chính
và các bữa phụ Lượng thức ăn tăng dần theo tuổi của trẻ Thức ăn đặc đến độ giữ được ởtrên thìa sẽ cung cấp nhiều năng lượng cho trẻ hơn Các thực phẩm nguồn gốc động vậtrất tốt cho trẻ, giúp trẻ phát triển khoẻ mạnh và năng động Tập cho trẻ ăn ít muối vàđường ngọt từ khi mới ăn dặm
- Cho trẻ nhỏ ăn đúng cách: khuyến khích, kiên trì và giúp cho trẻ ăn tích cực
khuyến khích đứa trẻ tiêu thụ thức ăn bằng cách sử dụng tay, thìa hoặc tự ăn theo từnglứa tuổi
- Khuyến khích trẻ ăn khi trẻ bệnh: cho trẻ ăn thêm khi trẻ khỏi bệnh sẽ giúp trẻ
hồi phục nhanh chóng [45], [46], [47]
1.3.1.2 Chăm sóc trẻ bệnh [48]
Khi bị bệnh, trẻ cần nhiều năng lượng và chất dinh dưỡng để giúp cơ thể chống lạibệnh tật Nếu trẻ không được cung cấp đủ dinh dưỡng thì trẻ sẽ giảm cân, gầy yếu vàchậm lớn Trong giai đoạn này thông thường trẻ chỉ thích bú mẹ, không thích ăn thứckhác và quan niệm của một số bà mẹ là kiêng một số loại thức ăn đối với trẻ nhưngkhông nên như vậy, cần truyền đạt cho bà mẹ những thông điệp về chăm sóc trẻ như sau:
- Kiên trì, khuyến khích trẻ ăn, uống
- Cho trẻ ăn nhiều bữa, mỗi bữa một ít
- Cho trẻ ăn thức ăn trẻ thích
Trang 23- Tiếp tục cho bú mẹ nếu trẻ chưa đến tuổi cai sữa, trẻ bệnh thường bú mẹ nhiềuhơn.
Đối với trẻ bị tiêu chảy, việc bù dịch cho trẻ là quan trọng nhất vậy nên mẹ nêncung cấp nhiều dịch hơn bình thường cho trẻ đề bù lại lượng dịch mất qua phân và nôn.Ngay tại nhà cần cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường có thể bù cả nước và điện giảimất đi như Oresol (ORS), nước súp, nước cháo, nước gạo rang, nước cơm và nước đunsôi để nguội Cho trẻ uống khi nào trẻ muốn và tiếp tục bù dịch bằng đường uống đến khihết tiêu chảy Đối với trẻ nhỏ dưới 2 tuổi chưa tự đòi uống nước được mà trẻ biểu hiệndấu hiệu khát nước bằng sự kích thích khó chịu Vì vậy, cần phải cho trẻ uống nước đểđánh giá xem trẻ có khát và muốn uống nước không Khi trẻ không muốn uống nữa nghĩa
+ Cần cho thêm dầu mỡ để tăng thêm năng lượng của khẩu phần
+ Cho trẻ ăn thêm các loại quả chín hoặc nước quả như chuối, cam, chanh, xoài,nước dừa, đu đủ…để tăng lượng kali
+ Không dùng các loại nước giải khát công nghiệp, nước ngọt có ga và các loạithức ăn có nhiều đường vì chúng làm tăng tiêu chảy
+ Tránh cho trẻ ăn các loại thực phẩm có nhiều chất xơ như rau thô, tinh bộtnguyên hạt (ngô, đỗ…) vì khó tiêu hóa
+ Cho trẻ ăn thức ăn mềm, nấu kỹ, dễ tiêu hóa và cho ăn ngay sau khi nấu đểđảm bảo vệ sinh, giảm nguy cơ bội nhiễm Nếu phải cho trẻ ăn những thức ăn đã đượcnấu sẵn thì cần phải đun sôi lại trước khi cho ăn
+ Số lượng và số lần ăn: Cần cho trẻ ăn đầy đủ khi bị tiêu chảy, khuyến khích dỗdành cho trẻ ăn nhiều càng tốt Cứ 3-4 giờ cho trẻ ăn một lần, cho ăn khoảng 6 lần trongngày Cho trẻ ăn ít và nhiều lần thì tốt hơn là ăn nhiều nhưng ít lần
Trang 24dấu hiệu nguy hiểm của trẻ để đưa trẻ tới cơ sở y tế kịp thời
Các dấu hiệu cần đưa trẻ đi khám ngay tại cơ sở y tế đó là: Thở nhanh, khó thở,sốt cao, bú kém/không uống được, trẻ mệt hơn
Bên cạnh đó bà mẹ cần chăm sóc trẻ, cho trẻ ăn bổ sung đúng cách để tình trạngcủa trẻ nhanh chóng hồi phục đồng thời không để trẻ giảm cân, trẻ bị suy dinh dưỡng dobệnh kéo dài hoặc tái phát nhiều lần
- Vệ sinh đúng cách: Bà mẹ cần giữ ấm cho trẻ, cho trẻ nằm ở nơi ấm nhưngthoáng mát, mặc ấm vào mùa đông và thoáng vào mùa hè Làm sạch và thông mũi cho trẻbằng khăn và gạc mềm, dùng thuốc nhỏ mũi cho trẻ Giữ gìn vệ sinh răng miệng mắtthường xuyên cho trẻ
- Cho trẻ ăn đúng cách khi trẻ bệnh:
+ Trẻ nhỏ còn bú mẹ: Cho trẻ bú nhiều lần hơn và thời gian mỗi lần bú lâu hơnbình thường Nếu trẻ không ngậm bú được, người mẹ cần vắt sữa vào cốc rồi dùng thìacho trẻ uống
+ Trẻ lớn hơn đã ăn bổ sung: Nên cho ăn các loại thức ăn mềm, đa dạng, dễ tiêuhóa và chia thành nhiều bữa nhỏ Cần thay đổi thức ăn và cho trẻ ăn những loại thức ăntrẻ thích để khuyến khích trẻ ăn được nhiều, kích thích sự thèm ăn
+ Cho trẻ uống nhiều nước, nước hoa quả tươi và ăn thêm hoa quả để bù lạilượng nước bị mất do trẻ bị sốt và bổ sung thêm vitamin A (đặc biệt đối với trẻ suy dinhdưỡng), vitamin C cho trẻ
- Chỉ dùng kháng sinh cho trẻ khi có chỉ định của bác sĩ
1.3.2 Tình hình nuôi dưỡng trẻ trong độ tuổi từ 6 tháng đến 60 tháng tuổi
1.3.2.1 Tình hình trên thế giới
Trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu tìm hiểu về thực hành chăm sóc trẻ nhỏtrong đó có thực hành ăn bổ sung và xu hướng thường cho thấy trẻ được ăn bổ sung trước
6 tháng tuổi khá phổ biến ở nhiều nước thuộc châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á
Nghiên cứu tại Indonesia trong 3 năm (2004 - 2007) đã cho biết trong số nhữngđứa trẻ được nuôi bằng sữa mẹ và không cho con bú, tỷ lệ cao (87,3%) trẻ đã được cho ăn
Trang 25thực phẩm trở lên tăng theo tuổi từ 47,7% (6-11 tháng) đến 84,2% (18-23 tháng) Hơnmột nửa (53,0%) trẻ từ 6 đến 23 tháng tuổi được cho ăn từ 2 đến 4 lần trở lên trong ngày.Tuy nhiên khi kết hợp hai tiêu chí về đa dạng bữa ăn bổ sung và tần số bữa ăn hàng ngày
để tính tỷ lệ trẻ có bữa ăn tối thiểu chấp nhận được thì chỉ có 44,9% trẻ em 6 – 23 thángđáp ứng tiêu chí này [49]
Một nghiên cứu nhằm mục đích so sánh việc thực hành cho ăn bổ sung ở trẻ từ
6-23 tháng tuổi trên năm quốc gia Nam Á (2012) gồm Bangladesh, Ấn Độ, Nepal, Pakistan
và Sri Lanka đã công bố kết quả rằng sự đa dạng thực phẩm trong chế độ ăn của nhóm trẻ
là đối tượng tham gia nghiên cứu dao động từ 15% ở Ấn Độ, Nepal (34%) và Bangladesh(42%) đến 71% ở Sri Lanka Chế độ ăn tối thiểu chấp nhận được ở trẻ bú mẹ là 9% ở Ấn
Độ, 32% ở Nepal, 40% ở Bangladesh và 68% ở Sri Lanka Các yếu tố quyết định đếnthực hành nuôi dưỡng bổ sung trên tất cả các quốc gia là trình độ học vấn của bà mẹ vàkinh tế hộ gia đình Nhìn chung ở tất cả các nước Nam Á, thực hành ăn bổ sung ở trẻ từ6-23 tháng tuổi cần được cải thiện [50]
Sau gần 10 năm trở lại, các nghiên cứu về thực hành nuôi dưỡng trẻ vẫn rất đượcquan tâm Tại Ethiopia (2016), một đất nước thuộc Bắc Phi khảo sát các bà mẹ có trẻ từ 6đến 24 tháng tuổi đang điều điều trị tại bệnh viện cho kết quả là 37,2% đã thực hành cho
ăn bổ sung phù hợp, đáp ứng sự đa dạng thực phẩm, tần suất bữa ăn tối thiểu, tiếp tục chocon bú và bắt đầu cho ăn bổ sung vào thời điểm khuyến nghị của tổ chức y tế thế giới(WHO) [51] Một nghiên cứu khác tại đất nước này khảo sát trên 421 trẻ trong cùng độtuổi tại cộng đồng (2017) đã cho biết tỷ lệ trẻ được ăn bổ sung phù hợp với độ tuổi là55,9% và yếu tố liên quan đến vấn đề này là sự thiếu kiến thức, yếu tố kinh tế gia đình,khoảng sinh ngắn và trình độ học vấn của người mẹ [52]
Hiện tại các nước trên thế giới vẫn đã và đang cố gắng tìm hiểu xoay quanh vấn đềthực hành cho trẻ ăn bổ sung hợp lý tuy nhiên có nhiều khía cạnh mới lạ được các chuyêngia xem xét và nghiên cứu chuyên sâu hơn Tại Hà Lan (2019), một nghiên cứu nhằmmục đích điều tra các yếu tố liên quan đến việc cho trẻ ăn bổ sung sớm (trước 4 thángtuổi) và các yếu tố liên quan đến việc trẻ tiêu thụ thực phẩm không được khuyến nghị,
Trang 26được cho ăn bổ sung trước 4 tháng tuổi Đáng ngạc nhiên là tại thời điểm 6 tháng tuổi,20,2% trẻ đã được cho uống nước ngọt và 16,5% được ăn đồ ăn nhẹ hàng ngày [53] Đểtìm hiểu mối liên quan giữa thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ với tình trạngsức khỏe và dinh dưỡng ở trẻ từ 0 đến 23 tháng tuổi và điều tra các yếu tố dự đoán về chế
độ ăn tối thiểu chấp nhận được bằng Khảo sát sức khỏe và nhân khẩu học Bangladesh(2019) Các mô hình hồi quy logistic nhị phân được thực hiện để đánh giá mối liên quangiữa thực hành cho ăn bổ sung và sức khỏe trẻ em Khoảng 55% bà mẹ cho con bú hoàntoàn bằng sữa mẹ; 65% trẻ được ăn thức ăn từ lỏng đến đặc; và 27% đạt đa dạng thựcphẩm trong chế độ ăn Khoảng 64% trẻ em nhận được tần suất bữa ăn theo khuyến nghị
và 23% đạt được chế độ ăn chấp nhận tối thiểu Bắt đầu sớm và tiếp tục cho con bú cóliên quan đáng kể đến việc giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở trẻ nhỏ Những phát hiện củanghiên cứu đã tạo ra bằng chứng bắt buộc liên quan đến sự đa dạng trong chế độ ăn uống,các yếu tố liên quan và kết quả sức khỏe của trẻ [54]
1.3.2.2 Tình hình tại Việt Nam
Bộ Y tế đã khuyến cáo rằng trẻ em cần được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu vàbắt đầu ăn bổ sung từ khi trẻ tròn 6 tháng tuổi Tuy nhiên, hiện nay các bà mẹ thường có
xu hướng cho con ăn bổ sung sớm hơn so với khuyến nghị [55]
Cũng như nhiều nước đang phát triển trên thế giới và các nước trong khu vực,nhiều nghiên cứu tại Việt Nam cũng chỉ ra kết quả tương tự về việc thực hành ăn bổ sungcủa trẻ Nhiều gia đình trẻ đã không thực hiện đúng quy cách cho trẻ ăn bổ sung cả vềthời điểm cho ăn bổ sung, số lượng và chất lượng bữa ăn bổ sung
Theo điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ tháng 12, 2011 tại Việt Namcủa Tổng cục thống kê (GSO) phối hợp Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) và QuỹDân số liên hợp quốc (UNFPA) cho biết tỷ lệ trẻ em được bú sữa mẹ hoàn toàn dưới 6tháng là 17%, tỷ lệ trẻ em 6 – 8 tháng tuổi được cho ăn thức ăn cứng, vừa và mềm là50,4%, 58,5% tỷ lệ trẻ em 6 – 23 tháng tuổi có số lần ăn tối thiểu chấp nhận được và tỷ lệtrẻ em được ăn theo chế độ phù hợp với độ tuổi là 33,5% [56]
Trang 27mối liên quan giữa tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ nhập viện đã cho biết có 99% trẻ đượcnuôi bằng sữa mẹ Tỷ lệ SDD ở trẻ được bú mẹ là 20,8%, thấp hơn so với trẻ không được
bú mẹ (26,7%) Chỉ có 56,4% trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu 37,9 % trẻđược ăn bổ sung sớm trước 4 tháng tuổi nên tỷ lệ SDD ở nhóm trẻ này khá cao (31,5%0.10,3% trẻ cai sữa trước 12 tháng, đặc biệt trong đó có 34 trường hợp cai sữa trước 6tháng tuổi [40]
Nghiên cứu của Cao Thị Thu Hương và cộng sự được tiến hành hai lần trong năm
2008 và 2010 trên đối tượng bà mẹ ở 2 tỉnh Quảng Ngãi và Phú Thọ, nhằm đánh giá sựthay đổi về thực hành cho trẻ ăn bổ sung và tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-23 tháng tuổidưới tác động của truyền thông giáo dục dinh dưỡng trong thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ.Kết quả nghiên cứu cho thấy sau 2 năm can thiệp truyền thông giáo dục đã có tác độngcải thiện về thực hành cho trẻ ăn bổ sung của bà mẹ cũng như tình trạng dinh dưỡng củatrẻ 6-23 tháng tuổi tại các địa bàn nghiên cứu với tỷ lệ đa dạng hóa thực phẩm cho trẻtăng từ 29,1% lên 85,4% (p<0,001); các chỉ số Z-score cân nặng theo tuổi, Z-score chiềucao theo tuổi cao hơn so với trước Tỷ lệ trẻ SDD nhẹ cân giảm từ 13,0% xuống 4,7%(p<0,05) và tỷ lệ thấp còi giảm từ 24,1% xuống 16,7% (p<0,001) Tỷ lệ thiếu máu giảm
từ 38,4% xuống 23,9% (p<0,001) [57]
Nghiên cứu can thiệp của Nguyễn Lân (2012) tại Phổ Yên, Thái Nguyên cho thấy
tỷ lệ các bà mẹ cho con ăn bổ sung sớm rất cao: có tới 4,5% số trẻ ăn bổ sung trong thángđầu, 13,5% ăn trong thời gian 1-2 tháng tuổi, trong 4 tháng đầu có tới 88,9% số trẻ đã ăn
bổ sung Chỉ có 2/322 bà mẹ (0,7%) cho con ăn bổ sung trong thời gian từ 5-6 tháng tuổi[58]
Hiệu quả của các nghiên cứu can thiệp bằng truyền thông giáo dục dinh dưỡng và
hỗ trợ bổ sung vi chất qua các loại thực phẩm được ghi nhận góp phần giảm tỷ lệ trẻ SDD
và cần được phổ biến thực hiện trong cộng đồng Tuy vậy một số khu vực xa xôi nghèokhó, việc tiếp cận với giáo dục khó khăn và điều kiện kinh tế tác động lớn lên đời sốngcủa người dân thì kiến thức và thực hành nuôi dưỡng trẻ vẫn còn hạn chế
Trang 28dân tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My thuộc tỉnh Quảng Nam cho thấy một số kết quả vềkiến thức chung về cho trẻ ăn bổ sung chỉ đạt 19,9%, trong đó hiểu biết về thời điểm ăn
bổ sung chiếm 33,2%, hiểu biết về 4 nhóm thực phẩm sẵn có chiếm 20,1% Về thực hành
ăn bổ sung sớm ở trẻ nhỏ khi có tới 68,8% bà mẹ cho trẻ ăn bổ sung trước 6 tháng tuổi,chỉ có 20,3% bữa ăn của trẻ được bà mẹ cho ăn có đầy đủ 4 nhóm thực phẩm hàng ngày,vậy nên tỷ lệ thực hành đúng về cho trẻ ăn bổ sung khá thấp (13,8%) [59]
Theo kết quả của nghiên cứu năm 2013 trên 330 trẻ dưới 5 tuổi và các bà mẹ tạihuyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái nhằm mục tiêu đánh giá kiến thức, thực hành chăm sóc trẻcủa các bà mẹ và tình trạng dinh dưỡng của trẻ cho thấy 75,1% các bà mẹ có kiến thứcđúng là nên cho con mình bú ngay trong vòng giờ đầu sau khi sinh, tuy nhiên chỉ có37,3% bà mẹ thực hành đúng Kiến thức và thực hành đúng về thời gian cho trẻ bú sữa
mẹ hoàn toàn khá cao (81% và 19%) tuy nhiên đối với cho ăn bổ sung khi trẻ trên 6 thángkiến thức chỉ đạt 52,8% và 33,9% bà mẹ thực hành đúng Chỉ có 16,8% số trẻ được theodõi cân nặng định kỳ hàng tháng và 36,4% trẻ được theo dõi cân nặng 3 tháng/lần Gầnmột nửa số trẻ tham gia nghiên cứu được đi tiêm chủng đầy đủ theo lịch (48,4%) [60]
Nghiên cứu của Nguyễn Anh Vũ và cộng sự tại huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên đưanhằm mục tiêu mô tả kiến thức và thực hành nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ của bà mẹ có con
từ 12 - 24 tháng tuổi Trong tổng số 330 trẻ 12 – 23 tháng tuổi (lứa tuổi được khuyến cáocần được duy trì nuôi con bằng sữa mẹ), độ tuổi của trẻ tại thời điểm cai sữa trung bình là15,1 ± 4,6 tháng Tìm hiểu về kiến thức và thực hành cho trẻ ăn bổ sung, kết quả cho thấy
có hơn một nửa số bà mẹ biết rằng cần cho trẻ ăn bổ sung vào thời điểm khi trẻ được 6-9tháng tuổi chiếm 68,5% Tuy nhiên, thực tế tỷ lệ bà mẹ thực hành cho trẻ ăn bổ sung tạithời điểm trẻ 6-9 tháng tuổi lại khá thấp, chỉ đạt 19,4% Đa phần bà mẹ cho trẻ ăn bổsung khi trẻ chưa đầy 6 tháng tuổi, chiếm 80% Trẻ trong nhóm nghiên cứu được gia đìnhcho ăn khá nhiều bữa, bao gồm cả bữa chính và bữa phụ, hầu hết trẻ được ăn 3 chính và 2bữa phụ Hơn nửa số trẻ (52,7%) được ăn 4 nhóm thực phẩm trong một ngày trước thờiđiểm điều tra Đối với việc chăm sóc trẻ ốm, có 30/42 trẻ bị tiêu chảy (chiếm 71,4%)được các bà mẹ và người chăm sóc trẻ giữ con tại nhà để tự điều trị trẻ bị tiêu chảy Trong
Trang 29điều trị Vậy nên tỷ lệ số trẻ được sử dụng Oresol để điều trị trong số trẻ bị tiêu chảy kháthấp, chỉ có 18/42 trẻ (40,9%) Các bà mẹ thường cho trẻ bú như bình thường hoặc nhiềuhơn (85,7%) Đa số các bà mẹ kiêng không cho con ăn chất tanh: tôm, cá, cua, dầu mỡ(70,5%) Tại thời điểm điều tra cũng có đến 164 trẻ trong tổng số 330 trẻ nghiên cứu mắcNKHHCT trong 2 tuần qua (chiếm 49,7%) Thời gian trung bình cho mỗi lần mắcNKHHCT kéo dài 7,8 ± 6,0 ngày Khi trẻ bị NKHHCT có 104/164 (63,4%) trẻ được điềutrị tại nhà và chỉ có 36,6% số trẻ được đưa tới cơ sở y tế để được khám, tư vấn và điều trị[24], [61].
Thực trạng ăn bổ sung cho trẻ trên 6 tháng tuổi tại một số nước trong khu vựccũng như trên thế giới, trong đó có Việt Nam có xu hướng khá tương đồng nhau Trẻthường được ăn bổ sung sớm chiếm tỷ lệ cao Chất lượng bữa ăn bổ sung và số lượng cácbữa ăn của trẻ chưa đáp ứng theo khuyến nghị, trẻ không được ăn đa dạng các loại thựcphẩm thường là chỉ một đến hai loại trong bữa ăn bổ sung còn khá phổ biến ở Việt Nam
và các nước đang phát triển khác Do đó cần phải có những giải pháp để tăng số lượngcũng như chất lượng bữa ăn bổ sung, xây dựng một chế độ dinh dưỡng hợp lý, dựa trênnguồn thực phẩm sẵn có tại địa phương là giải pháp cần thiết và bền vững góp phầnphòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em
1.5 VÀI NÉT VỀ TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN PHÚ VANG
Trung tâm Y tế huyện Phú Vang được thành lập theo quyết định số 11/QĐ-UBND ngày
15 tháng 10 năm 1990 của Ủy ban nhân dân huyện Phú Vang, sau khi chia lại địa giới hànhchính giữa hai huyện Hương Thủy và Phú Vang trước đây gọi là huyện Hương Phú Phú Vang
là huyện đồng bằng ven biển chạy dọc theo đầm phá Tam giang gồm 18 xã, 2 thị trấn với tổngdân số 192 ngàn dân Trung tâm Y tế huyện Phú Vang là đơn vị sự nghiệp công lập, nhiệm vụchính là khám bệnh, chữa bệnh, chăm lo bảo vệ sức khoẻ nhân dân và phòng chống dịch bệnhtrên địa bàn huyện
Trung tâm Y tế huyện Phú Vang ngay từ khi mới chia huyện tháng 10 năm 1990, cơ sởvật chất, nơi khám bệnh và điều trị, trang thiết bị còn thiếu, đội ngủ y bác sĩ không đủ, với chỉtiêu kế hoạch 50 giường bệnh, công suất sử dụng giường bệnh hàng năm chỉ đạt 50 đến 60%
Trang 30Đa, nhưng trang thiết bị, nhân lực còn thiếu các chuyên khoa sâu, hoạt động khám chữa bệnhcầm chừng.
Xác định được mục tiêu phấn đấu đưa bệnh viện đi vào hoạt động ngày càng có hiệuquả hơn, Ban Giám đốc đã xây dựng kế hoạch đào tạo đội ngủ Y bác sĩ có trình độ chuyênmôn cao để đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân, ngoài ra còn mời các chuyên giađầu ngành của bệnh viện Trung ương Huế, Trường Đại học Y Dược Huế về cầm tay chỉ việctừng bước chuyển giao kỹ thuật cho đội ngũ y bác sĩ, Trung tâm Y tế không ngừng cải tiến chấtlượng dịch vụ y tế, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị như Siêu âm, nội soi, X quang đẩymạnh hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe đến tận người dân, thành lập tổ chăm sóckhách hàng hướng dẫn cho bệnh nhân lấy số tự động, thực hiện thủ tục hành chính trong khámbệnh theo mô hình một cửa, các phòng khám bênh đều có điều hòa, trang bị đầy đủ ghế ngồichờ khám bệnh, tạo môi trường xanh, sạch, đẹp đã thu hút bệnh nhân đến khám và điều trịngày càng đông
Đến nay đội ngũ y bác sĩ có hơn 320 viên chức, trong đó các khoa/phòng thuộc Trungtâm Y tế có 185 viên chức, số bác sĩ có trình độ sau đại học chiếm 90%, số lượng viên chứctrạm y tế xã, thị trấn có 135 viên chức, trong đó có 28 bác sĩ và đầy đủ các chức danh theo quyđịnh của Bộ Y tế Tại các khoa, phòng thuộc Trung tâm Y tế chỉ tiêu trên giao 100 giườngbệnh; nhưng thực kê lên đến 250 giường; bệnh nhân đến khám bệnh hàng ngày trung bình từ
600 đến 800 bệnh nhân; công suất sử dụng giường bệnh hàng năm vượt từ 160-175%; năm
2014 được xếp lên hạng Bệnh viện hạng II thuộc Trung tâm Y tế huyện Phú Vang trực thuộc
Sở Y tế, đây là bệnh viện hạng II tuyến huyện đầu tiên của tỉnh thực hiện chức năng nhiệm vụkhám bệnh, chữa bệnh cho hơn 192 ngàn dân trong huyện và một số bệnh nhân vùng lân cậnthuộc
Tại Trung tâm Y tế huyện Phú Vang, thống kê được số lượt bệnh nhi đến khámtrong năm 2016 là 12.185 lượt và năm 2017 là 14.245 lượt bệnh, tổng số bệnh nhi nhậpviện điều trị nội trú của năm 2017 cũng cao hơn so với năm 2016 là 647 bệnh nhi Bêncạnh đó, trung tâm đã thành lập khoa Dinh dưỡng nhưng công tác đánh giá dinh dưỡng
Trang 31gần đây và còn gặp khá nhiều khó khăn.
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Theo mục tiêu 1: Trẻ em từ 6 đến 60 tháng tuổi được điều trị nội trú tại khoaNhi trung tâm y tế huyện Phú Vang
- Theo mục tiêu 2: Người mẹ/người chăm sóc trẻ chính của trẻ đang có mặttại địa điểm trong thời gian nghiên cứu
2.1.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Theo mục tiêu 1:
+ Những trẻ từ 6 đến 60 tháng tuổi tại khoa Nhi trung tâm y tế huyện PhúVang chuẩn bị ra viện
- Theo mục tiêu 2:
+ Người thường xuyên cho trẻ ăn hàng ngày, trực tiếp chăm sóc trẻ
+ Người chăm sóc trẻ tỉnh táo hoàn toàn, có đủ khả năng tiếp xúc, trả lờicác câu hỏi và đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Theo mục tiêu 1:
+ Đối tượng không xác định được chỉ số nhân trắc: phù, khiếm khuyết các
bộ phận cơ thể, cong vẹo cột sống, không đo được chiều cao và cân nặng
+ Trẻ không được đồng ý tham gia nghiên cứu của người giám hộ
- Theo mục tiêu 2:
+ Người chăm sóc trẻ trong tình trạng không tỉnh táo, sức khỏe không chophép trả lời những câu hỏi của người khảo sát
+ Người từ chối tham gia nghiên cứu
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Nhi, trung tâm y tế huyện Phú Vang thuộctỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 33Thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 10/2019 đến tháng 12/2019.
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang
) 1
(
d
p p
Theo số liệu thống kê của Viện Dinh Dưỡng về tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới
5 tuổi tại tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2017 cho biết thể nhẹ cân 11,6% và thể thấp còi24,3% [62], ta tính được:
+ Cỡ mẫu nghiên cứu thể nhẹ cân:
2.3 NỘI DUNG VÀ BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU
2.3.1 Nội dung nghiên cứu
2.3.1.1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng thông qua cân nặng, chiều cao của trẻ